1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu nâng cao trình độ thể lực cho nam vận động viên bóng đá lứa tuổi 15 16, câu lạc bộ bóng đá SHB đà nẵng

245 194 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 245
Dung lượng 14,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bảng Nội dung bảng Trang 1.1 Phân chia các giai đoạn huấn luyện theo quy trình đào tạo 1.2 Phân chia các giai đoạn huấn luyện theo quy trình đào tạo 1.3 Lượng vận động và quãng nghỉ và

Trang 2

VIỆN KHOA HỌC THỂ DỤC THỂ THAO

- -

NGUYỄN THÁI BỀN

NGHIÊN CỨU NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ THỂ LỰC

CHO NAM VẬN ĐỘNG VIÊN BÓNG ĐÁ LỨA TUỔI 15-16,

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các nội dung và số liệu nghiên cứu là trung thực, kết quả nghiên cứu của luận án chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào

TÁC GIẢ

Nguyễn Thái Bền

Trang 4

Trang

Trang bìa

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các từ viết tắt

Danh mục biểu bảng

Danh mục biểu đồ, sơ đồ, hình ảnh

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 6

1.1 Đặc điểm và vai trò của thể lực trong bóng đá hiện đại 6

1.2 Đặc điểm hoạt động thể lực của vận động viên bóng đá 10

1.3 Mối quan hệ của việc phát triển các tố chất thể lực trong quá trình huấn luyện thể thao 11

1.4 Đặc điểm các tố chất thể lực đặc trưng và phương pháp huấn luyện thể lực cho vận động viên bóng đá 14

1.4.1 Hệ thống trao đổi chất ưa khí và năng lực vận động 15

1.4.2 Hệ thống trao đổi chất yếm khí và năng lực vận động 15

1.4.3 Yêu cầu về thể lực trong bóng đá 16

1.4.4 Phương pháp huấn luyện tố chất sức bền 21

1.4.5 Phương pháp huấn luyện tố chất sức mạnh tốc độ 27

1.4.6 Phương pháp huấn luyện tố chất sức bền tốc độ 29

1.4.7 Phương pháp huấn luyện tố chất sức mạnh bền 30

1.5 Đào tạo vận động viên bóng đá, quá trình huấn luyện nhiều năm 31

1.5.1 Các giai đoạn trong huấn luyện thể thao 31

1.5.2 Các giai đoạn trong huấn luyện bóng đá 32

1.5.3 Nhiệm vụ huấn luyện vận động viên bóng đá nam lứa tuổi 15– 16 34

1.6 Đặc điểm chương trình huấn luyện cho nam vận động viên bóng đá lứa tuổi 15-16 36

Trang 5

1.6.2 Nội dung chương trình huấn luyện cho vận động viên bóng đá

lứa tuổi 15-16 37

1.6.3 Nội dung huấn luyện thể lực 38

1.7 Một số phương pháp huấn luyện thể lực trong thể thao 40

1.7.1 Phương pháp tập luyện liên tục 42

1.7.2 Phương pháp tập luyện trò chơi tốc độ 43

1.7.3 Phương pháp tập luyện giãn cách 43

1.7.4 Phương pháp tập luyện vòng tròn 44

1.7.5 Phương pháp tập luyện với phụ trọng 45

1.7.6 Phương pháp sử dụng các bài tập dẫn xuất đàn hồi 47

1.8 Một số công trình nghiên cứu về trình độ thể lực của các vận động viên bóng đá 48

1.8.1 Về đánh giá trình độ thể lực của vận động viên bóng đá 48

1.8.2 Một số công trình nghiên cứu về trình độ thể lực của vận động viên bóng đá ở Việt Nam 49

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 53

2.1 Đối tượng, khách thể nghiên cứu 53

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu: 53

2.1.2 Khách thể nghiên cứu: 53

2.2 Phương pháp nghiên cứu 53

2.2.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu 53

2.2.2 Phương pháp quan sát sư phạm 53

2.2.3 Phương pháp phỏng vấn 54

2.2.4 Phương pháp kiểm tra y học 54

2.2.5 Phương pháp kiểm tra sư phạm 55

2.2.6 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 59

2.2.7 Phương pháp toán học thống kê 60

2.3 Tổ chức nghiên cứu 61

Trang 6

2.3.2 Thời gian nghiên cứu 61

2.3.3 Địa điểm nghiên cứu 61

2.3.4 Trang thiết bị, dụng cụ nghiên cứu 61

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 62

3.1 Đánh giá thực trạng chương trình huấn luyện và trình độ thể lực của nam vận động viên bóng đá lứa tuổi 15-16, câu lạc bộ SHB Đà Nẵng 62

3.1.1 Thực trạng chương trình huấn luyện thể lực cho nam vận động viên bóng đá lứa tuổi 15-16, câu lạc bộ bóng đá SHB Đà Nẵng 62

3.1.2 Thực trạng về các bài tập thể lực hiện nay được áp dụng cho nam vận động viên bóng đá lứa tuổi 15-16, câu lạc bộ bóng đá SHB Đà Nẵng 69

3.1.3 Xác định các tố chất thể lực đặc trưng đối với nam vận động viên bóng đá lứa tuổi 15-16 74

3.1.4 Lựa chọn test đánh giá trình độ thể lực của nam vận động viên bóng đá lứa tuổi 15-16 78

3.1.5 Xây dựng thang điểm xếp loại cho các test đánh giá trình độ thể lực cho nam vận động viên bóng đá lứa tuổi 15-16 87

3.1.6 Thực trạng về trình độ thể lực của nam vận động viên bóng đá lứa tuổi 15-16, câu lạc bộ bóng đá SHB Đà Nẵng 90

3.1.7 Bàn luận kết quả nghiên cứu thực trạng về chương trình, kế hoạch huấn luyện và trình độ thể lực của nam vận động viên bóng đá lứa tuổi 15-16, câu lạc bộ SHB Đà Nẵng 92

3.2 Lựa chọn và ứng dụng bài tập nâng cao trình độ thể lực cho nam vận động viên bóng đá lứa tuổi 15-16, câu lạc bộ bóng đá SHB Đà Nẵng 100

3.2.1 Cơ sở lựa chọn bài tập nâng cao trình độ thể lực cho nam vận động viên bóng đá lứa tuổi 15-16 100

Trang 7

viên bóng đá lứa tuổi 15-16 102 3.2.3 Tổ chức thực nghiệm với các bài tập đã lựa chọn cho vận động

viên bóng đá lứa tuổi 15-16, câu lạc bộ bóng đá SHB Đà Nẵng 107 3.2.4 Bàn luận kết quả nghiên cứu về lựa chọn các bài tập nâng cao

trình độ thể lực cho nam vận động viên bóng đá trẻ lứa tuổi

15-16 110

3.3 Đánh giá hiệu quả các bài tập đã lựa chọn để nâng cao trình độ

thể lực cho nam vận động viên bóng đá lứa tuổi 15-16, câu lạc

bộ bóng đá SHB Đà Nẵng 115

3.3.1 Kết quả kiểm tra trước thực nghiệm về trình độ thể lực cho

nam vận động viên bóng đá lứa tuổi 15-16 115 3.3.2 Kết quả kiểm tra sau 03 tháng thực nghiệm về trình độ thể lực

cho nam vận động viên bóng đá lứa tuổi 15-16 121 3.3.3 Kết quả kiểm tra sau 06 tháng thực nghiệm về trình độ thể lực

cho nam vận động viên bóng đá lứa tuổi 15-16 123 3.3.4 Kết quả kiểm tra sau 09 tháng thực nghiệm về trình độ thể lực

cho nam vận động viên bóng đá lứa tuổi 15-16 126 3.3.5 Đánh giá trình độ thể lực của các vận động viên bóng đá lứa

tuổi 15-16, câu lạc bộ bóng đá SHB Đà Nẵng sau thực nghiệm

và trong Giải bóng đá vô địch U17 quốc gia năm 2016 135 3.3.6 Bàn luận về hiệu quả các bài tập phát triển thể lực cho nam

vận động viên bóng đá lứa tuổi 15-16 140

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 145 Danh mục công trình khoa học đã công bố liên quan đến luận án

Danh mục Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 8

Bảng Nội dung bảng Trang

1.1 Phân chia các giai đoạn huấn luyện theo quy trình đào tạo

1.2 Phân chia các giai đoạn huấn luyện theo quy trình đào tạo

1.3 Lượng vận động và quãng nghỉ và hệ cung cấp năng

1.4 Ảnh hưởng của lượng vận động và quãng nghỉ đến sự

phát triển các tố chất thể lực trong tập luyện thể thao 47

1.5 Mức độ căng thẳng cơ bắp và thời gian cần để hồi phục

3.1 Khảo sát thực trạng về chương trình, kế hoạch huấn luyện

tại một số trung tâm đào tạo VĐV bóng đá trẻ (năm 2015) 63

3.2 Khảo sát về trình độ của các HLV đào tạo trẻ tại trung

3.3

Kết quả phỏng vấn các HLV về quan điểm sử dụng bài

tập trong huấn luyện cho VĐV bóng đá lứa tuổi 15-16

Tỷ lệ huấn luyện thể lực trong huấn luyện cho nam VĐV

bóng đá lứa tuổi 15-16 trong các giai đoạn huấn luyện

(n=43)

73

3.6

Việc sử dụng các nhóm bài tập huấn luyện thể lực cho

nam VĐV bóng đá lứa tuổi 15-16 ở các giai đoạn huấn

Trang 9

3.7 SHB Đà Nẵng trong 4 trận đấu tại giải Bóng đá U17 quốc

gia năm 2015

75

3.8 Kết quả phỏng vấn về mức độ quan trọng của các tố chất

3.9 Kết quả phỏng vấn lựa chọn test đánh giá thể lực cho nam

VĐV bóng đá lứa tuổi 15-16 (n=43)

Sau trang

80 3.10 Các test được lựa chọn qua phương pháp phỏng vấn 81

3.11

Kết quả kiểm tra xác định độ tin cậy của các test đã lựa

chọn đánh giá trình độ thể lực cho nam VĐV bóng đá lứa

tuổi 15-16 (n=18)

82

3.12

Xác định tính thông báo của các test đã lựa chọn đánh giá

thể lực với hiệu suất thi đấu của nam VĐV bóng đá lứa

tuổi 15-16 (n=18)

85

3.13

Mối quan hệ giữa các test sư phạm và các chỉ số chức

năng tuần hoàn và hô hấp của VĐV bóng đá lứa tuổi

Trang 10

lứa tuổi 15 và 16

3.20 Thực trạng trình độ thể lực của nam vận động viên bóng

3.21 Kết quả phỏng vấn lựa chọn bài tập phát triển thể lực cho

nam VĐV bóng đá lứa tuổi 15-16 (n=79)

Sau trang

102

3.22 Lựa chọn nhóm bài tập cho mỗi giai đoạn huấn luyện

3.23 So sánh kết quả kiểm tra của 2 nhóm thực nghiệm và đối

3.24 So sánh kết quả kiểm tra của 2 nhóm thực nghiệm và đối

3.25

So sánh kết quả kiểm tra các chỉ số chức năng tuần hoàn,

hô hấp của 2 nhóm thực nghiệm và đối chứng lứa tuổi 15

trước thực nghiệm

149

3.26

So sánh kết quả kiểm tra các chỉ số chức năng tuần hoàn,

hô hấp của 2 nhóm thực nghiệm và đối chứng lứa tuổi 16

trước thực nghiệm

149

3.27 Xếp loại về trình độ thể lực cho các VĐV bóng đá lứa tuổi

3.28 So sánh kết quả kiểm tra của 2 nhóm thực nghiệm và đối

3.29 So sánh kết quả kiểm tra của 2 nhóm thực nghiệm và đối

3.30 So sánh kết quả kiểm tra của 2 nhóm thực nghiệm và đối

3.31 So sánh kết quả kiểm tra của 2 nhóm thực nghiệm và đối

Trang 11

chứng lứa tuổi 15 sau 09 tháng thực nghiệm

3.33 So sánh kết quả kiểm tra của 2 nhóm thực nghiệm và đối

3.34 So sánh kết quả kiểm tra của nhóm thực nghiệm trước và

sau thực nghiệm của VĐV bóng đá lứa tuổi 15 (n=10) 130

3.35 So sánh kết quả kiểm tra của nhóm đối chứng trước và sau

3.36 So sánh kết quả kiểm tra của nhóm thực nghiệm trước và

sau thực nghiệm của VĐV bóng đá lứa tuổi 16 (n=8) 132

3.37 So sánh kết quả kiểm tra của nhóm đối chứng trước và sau

3.38

So sánh kết quả kiểm tra các chỉ số chức năng tuần hoàn,

hô hấp của 2 nhóm thực nghiệm và đối chứng lứa tuổi 15

sau thực nghiệm

134

3.39

So sánh kết quả kiểm tra các chỉ số chức năng tuần hoàn,

hô hấp của 2 nhóm thực nghiệm và đối chứng lứa tuổi 16

sau thực nghiệm

135

3.40 Xếp loại về trình độ thể lực cho các VĐV bóng đá lứa tuổi

3.41 Xếp loại về trình độ thể lực cho các VĐV bóng đá lứa tuổi

3.42 Kết quả thống kê các số liệu chuyên môn của các VĐV

Trang 12

Biểu

1.2 Quãng đường di chuyển của một tiền vệ trong suốt trận đấu 17 1.3 Diễn biến mạch đập của cầu thủ trong suốt trận đấu 18 1.4 Nồng độ acid lactic trong một trận đấu của cầu thủ bóng đá 19

1.5 Sự sản sinh năng lượng và các tố chất thể lực đặc trưng

3.1 Thực trạng phân loại trình độ thể lực của nam VĐV bóng

3.5 So sánh kết quả kiểm tra của 2 nhóm thực nghiệm và đối

3.6 So sánh kết quả kiểm tra của 2 nhóm thực nghiệm và đối

3.7 So sánh kết quả kiểm tra của 2 nhóm sau thực nghiệm 128 3.8 So sánh kết quả kiểm tra của 2 nhóm sau thực nghiệm 129

Trang 13

ATP : Adenosine triphosphate

HLTT : Huấn luyện thể thao

HLV : Huấn luyện viên

HSTĐ : Hiệu suất thi đấu

min, ’ : Phút

Reps : Repetitions (số lần lặp lại)

RM : Repetition max (số lần lặp lại tối đa)

Trang 14

MỞ ĐẦU

Thể dục thể thao ngày nay đã trở thành một bộ phận không thể thiếu của cuộc sống Với những gì mà thể thao nước nhà đã đạt được, xứng đáng để ngành thể dục thể thao luôn là một trong những lĩnh vực quan trọng của xã hội Cùng với sự phát triển của đất nước, ngành Thể dục thể thao nước ta đã và đang từng bước khẳng định vị trí, vai trò của mình tương xứng với sự phát triển kinh tế, văn hoá xã hội của nước nhà Quyết định số 2198/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ ngày 03/12/2010 phê duyệt chiến lược phát triển thể dục, thể thao Việt Nam

đến năm 2020, trong đó đã nêu rõ: … “Đổi mới cơ chế tổ chức, nội dung tuyển chọn và đào tạo tài năng thể thao thành tích cao theo định hướng chuyên nghiệp; tăng cường nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao cho công tác đào tạo tài năng thể thao thành tích cao; ưu tiên đầu tư các môn thể thao, VĐV thể thao trọng điểm; tiến hành chuẩn hoá cơ sở vật chất, kỹ thuật, tập huấn đội tuyển quốc gia, đào tạo VĐV trẻ cấp tỉnh, ngành; củng cố phát triển bóng đá nam chuyên nghiệp và bóng đá nữ…” [62].

Thể thao nước nhà đang ngày một phát triển cao, thành tích của thể thao đỉnh cao cũng đã phần nào xích lại gần hơn so với thành tích chung của thể thao thế giới Bên cạnh sự phát triển chung của thể thao nước nhà, bóng đá trong những năm qua đã có những bước phát triển đáng kể Được thể hiện qua các kỳ Sea Games, giải vô địch bóng đá Đông Nam Á (AFF Cup), hay giải bóng đá vô địch châu Á, kể các các giải đấu dành cho các lứa tuổi trẻ như U19; U21… đội tuyển bóng đá Việt Nam đã đạt được những thành tích đáng khích lệ, luôn là một trong những đội tranh chấp huy chương trong khu vực Bóng đá trong nước đã dần chuyển theo mô hình hoạt động chuyên nghiệp một cách hoàn thiện hơn Qua

đó thì khâu đào tạo trẻ luôn là điều kiện bắt buộc và là một trong những ưu tiên hàng đầu cho bất kỳ một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp nào Ngày 08/3/2013,

Trang 15

Thủ tướng chính phủ đã ra Quyết định số 419/QĐ-TTg phê duyệt chiến lược phát triển bóng đá Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, đã nêu rõ:

“Đổi mới, hoàn thiện hệ thống tuyển chọn, đào tạo VĐV bóng đá

Xây dựng, ban hành bộ tiêu chí đánh giá năng khiếu bóng đá (các độ tuổi

từ 7 - 11 tuổi và từ 12 - 15 tuổi), làm căn cứ để tổ chức kiểm tra, tuyển chọn năng khiếu bóng đá trên phạm vi toàn quốc, kịp thời phát hiện, bồi dưỡng, phát triển tài năng bóng đá

Hình thành học viện bóng đá tại các câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp, tuyển chọn và đào tạo VĐV bóng đá trẻ ở các lứa tuổi

Hoàn thiện hệ thống thi đấu bóng đá trẻ lứa tuổi (U11, U13, U15, U17, U19, U21) theo phương thức xã hội hóa; phát hiện và bổ sung lực lượng VĐV cho các đội tuyển trẻ”… [63]

Công tác đào tạo VĐV bóng đá trẻ thực sự đang là một phần vô cùng cấp thiết nhằm đào tạo, bồi dưỡng và tuyển chọn, bổ sung cho những tuyến trên Tuy nhiên công tác đào tạo bóng đá trẻ trong những năm qua đã được quan tâm đáng

kể, tuy nhiên còn thiếu tính hệ thống và đồng bộ Từ công tác tuyển chọn, xây dựng chương trình, kế hoạch đào tạo huấn luyện, quản lý huấn luyện … ở mỗi đơn vị thực hiện tự phát là chính, không đồng nhất Trong khi đối tượng này cần được đào tạo, sàng lọc một cách khoa học về mọi mặt, trong đó thể lực phải luôn được coi trọng Thực tiễn cho thấy, các đội tuyển bóng đá của Việt Nam từ đội tuyển quốc gia cho đến các lứa tuổi khi thi đấu quốc tế thì luôn thua kém về mặt thể lực so với đối thủ

Chương trình, kế hoạch huấn luyện là một yếu tố vô cùng quan trọng trong

tổ chức đào tạo, để đạt được hiệu quả cao trong huấn luyện nhất thiết cần phải xây dựng và ứng dụng chương trình huấn luyện có chu kỳ một cách chặt chẽ, khoa học, hiện đại và đạt hiệu quả cao Hiện nay có rất nhiều trung tâm đào tạo bóng đá trẻ, nổi bật như Hà Nội, Đà Nẵng, Sông Lam Nghệ An, Quỹ phát triển bóng đá

Trang 16

Việt Nam (PVF), Hoàng Anh Gia Lai, Viettel… Tuy nhiên chương trình huấn luyện được áp dụng chưa phải là theo chu kỳ mà chỉ tổ chức đào tạo, huấn luyện một cách đại trà, qua đó lựa chọn những vận động viên tốt để tiếp tục đào tạo Điều này sẽ không thể phát triển vận động viên một cách tốt nhất, mà trong huấn luyện cần căn cứ vào thời gian thi đấu để xây dựng chương trình mang tính chu

kỳ, qua đó chuẩn bị các điều kiện tốt nhất cho thi đấu

Các nghiên cứu nhằm xây dựng hệ thống lý luận và thực tiễn trong công tác đào tạo huấn luyện VĐV bóng đá, đã có sự đóng góp rất đáng trân trọng của nhiều nhà khoa học, chuyên gia, nhà chuyên môn có kinh nghiệm ở nước ta như:

Lê Bửu (1983); Nguyễn Thiệt Tình (1982, 1991); Phạm Ngọc Viễn (1992, 1999); Phạm Quang (1989, 1994); Trần Quốc Tuấn – Nguyễn Thế Truyền (2004); Nguyễn Đăng Chiêu (2004); Nguyễn Đức Nhâm (2005); Phạm Xuân Thành (2007) Hay gần đây, Trần Duy Hòa (2012) đã nghiên cứu về sức bền cho nam VĐV bóng đá lứa tuổi 11-13; Võ Văn Quyết (2016) nghiên cứu phát triển sức mạnh tốc độ cho VĐV bóng đá lứa tuổi 16-17… Tuy nhiên, phần lớn các chuyên gia chỉ định hướng và hướng dẫn phương pháp huấn luyện thể lực, xác định các tiêu chí tuyển chọn, đánh giá ban đầu…, chưa nghiên cứu về các tiêu chí đánh giá, nâng cao trình độ thể lực theo từng lứa tuổi, từng giai đoạn đào tạo…

Giai đoạn chuyên môn hóa sâu thường được bắt đầu từ lứa tuổi 15-16, đây cũng là giai đoạn có sự phân định rõ ràng về sự chuyên môn hóa trong mỗi cầu thủ, theo vị trí và đặc điểm mỗi vị trí trong thi đấu Chính vì vậy mà việc hoàn thiện các tố chất thể lực ở giai đoạn này là đặc biệt quan trọng để đáp ứng những yêu cầu mới về mặt kỹ chiến thuật, thể lực, tâm lý cho một giai đoạn huấn luyện sâu hơn Để nâng cao trình độ thể lực một cách hợp lý đòi hỏi phải dựa trên cơ sở khoa học, trong đó có việc xây dựng các phương pháp, bài tập nâng cao thể lực phù hợp với đặc điểm lứa tuổi, đặc điểm về kỹ - chiến thuật, đặc điểm của mỗi chu kì, giai đoạn huấn luyện, đặc điểm phát triển thể lực chung và chuyên môn,

Trang 17

đặc điểm phù hợp của mỗi vận động viên bóng đá trẻ với từng vị trí thi đấu nhất định là vô cùng quan trọng, tạo tiền đề cho những giai đoạn huấn luyện tiếp theo Với mong muốn góp phần hoàn thiện và nâng cao công tác huấn luyện nói chung cũng như huấn luyện thể lực cho VĐV bóng đá trẻ nói riêng, tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài:

Nghiên cứu nâng cao trình độ thể lực cho nam vận động viên bóng đá lứa tuổi 15 – 16, câu lạc bộ bóng đá SHB Đà Nẵng

Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở đánh giá thực trạng về công tác huấn luyện thể lực cũng như trình

độ thể lực của các VĐV bóng đá trẻ trong tập luyện và thi đấu, đề tài đã nghiên cứu hệ thống bài tập theo các giai đoạn huấn luyện của chu kỳ năm về các tố chất thể lực và xây dựng kế hoạch huấn luyện ứng dụng thực nghiệm nhằm nâng cao trình độ thể lực cho nam VĐV bóng đá lứa tuổi 15-16, câu lạc bộ bóng đá SHB

Đà Nẵng Mục đích của công tác nghiên cứu là góp phần hoàn thiện, phát triển và

bổ sung về mặt lý luận và thực tiễn cho công tác huấn luyện nhằm nâng cao trình

độ thể lực đối với các VĐV bóng đá lứa tuổi 15-16

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu 1: Đánh giá thực trạng chương trình huấn luyện và trình độ thể lực

của nam VĐV bóng đá lứa tuổi 15-16, câu lạc bộ bóng đá SHB Đà Nẵng

Thực trạng chương trình huấn luyện thể lực cho nam VĐV bóng đá lứa tuổi 15-16, câu lạc bộ bóng đá SHB Đà Nẵng

Thực trạng về các bài tập thể lực hiện nay được áp dụng cho nam VĐV bóng đá lứa tuổi 15-16, câu lạc bộ bóng đá SHB Đà Nẵng

Xác định các tố chất thể lực đặc trưng của VĐV bóng đá nói chung và các VĐV trẻ lứa tuổi 15-16 nói riêng

Lựa chọn test đánh giá trình độ thể lực của nam VĐV bóng đá lứa tuổi 15-16

Trang 18

Thực trạng về trình độ thể lực của nam VĐV bóng đá lứa tuổi 15-16, câu lạc bộ bóng đá SHB Đà Nẵng

Các yếu tố ảnh hưởng đến việc tập luyện nâng cao trình độ thể lực cho nam VĐV bóng đá lứa tuổi 15-16, câu lạc bộ bóng đá SHB Đà Nẵng

Mục tiêu 2: Lựa chọn và dứng dụng bài tập nâng cao trình độ thể lực cho

nam VĐV bóng đá lứa tuổi 15-16

Lựa chọn bài tập nâng cao trình độ thể lực cho nam VĐV bóng đá lứa tuổi 15-16

Xây dựng kế hoạch huấn luyện thể lực cho nam VĐV bóng đá lứa tuổi 15-16

Tổ chức thực nghiệm sư phạm với các bài tập và kế hoạch huấn luyện nhằm nâng cao trình độ thể lực cho nam VĐV bóng đá lứa tuổi 15-16

Mục tiêu 3: Đánh giá hiệu quả các bài tập đã lựa chọn để nâng cao trình độ

thể lực đối với nam VĐV bóng đá lứa tuổi 15-16, câu lạc bộ bóng đá SHB Đà Nẵng

So sánh sự khác biệt về trình độ thể lực giữa nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng trước thực nghiệm; sau 3 tháng, 6 tháng và 9 tháng thực nghiệm Đánh giá trình độ thể lực của nam VĐV bóng đá lứa tuổi 15-16 trong thực tiễn thi đấu tại giải bóng đá lứa tuổi U17 quốc gia

Giả thuyết khoa học của luận án:

Thể lực là một trong những yếu tố thành phần quan trọng của trình độ huấn luyện thể thao của các vận động viên bóng đá Trình độ huấn luyện thể lực của VĐV bóng đá trẻ sẽ được phát triển đúng hướng và phù hợp với giai đoạn đào tạo chuyên môn hóa sâu (lứa tuổi 15-16) nếu được huấn luyện một cách khoa học, theo chương trình kế hoạch huấn luyện năm, thông qua hệ thống các bài tập phát triển thể lực có định tính và định lượng (khối lượng và cường độ)

Trang 19

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Đặc điểm và vai trò của thể lực trong bóng đá hiện đại

Bóng đá là môn thể thao mang tính chiến đấu và tính đối kháng quyết liệt Trong các cuộc tranh tài ở các trận bóng đá đỉnh cao, luôn có nhiều kịch tính diễn

ra với cường độ cao, đối kháng trực tiếp, một bên đẩy cao tốc độ trận đấu nhằm giành chiến thắng, một bên quyết liệt tranh cướp bóng mong kiểm soát thế trận… tất cả được diễn ra liên tục trong một thời gian dài của trận đấu 90 phút, thậm chí

120 phút Trong một trận thi đấu với trình độ cao, số lần va chạm, xô đẩy nhau té ngã, tranh cướp không dưới cả trăm lần đối với VĐV cả hai đội, qua đó mới thấy

sự tranh đấu quyết liệt để giành chiến thắng [3]

Bóng đá là môn thể thao có những hoạt động vận động đặc trưng với các động tác kỹ thuật sử dụng bằng chân nhiều và phức tạp, đồng thời lại diễn ra trong thời gian dài với hàng loạt các yếu tố cấu thành như: kỹ thuật, chiến thuật, thể lực, tâm lý, v.v… đòi hỏi phải qua một quá trình khổ luyện lâu dài

Qua tổng hợp và phân tích, có thể nhận thấy bóng đá hiện đại có những đặc điểm như sau:

Thứ nhất: bóng đá hiện đại là sự dồi dào và sung mãn về thể lực: Nếu như

những tiến bộ kỹ thuật cá nhân đã tạo điều kiện cho toàn đội ngày một hoàn chỉnh và biến hoá về hình thái chiến thuật, tổ chức được những đợt tấn công hiệu quả hơn thì chính sự phát triển các tố chất thể lực là cơ sở của quá trình hoàn thiện các kỹ thuật bóng đá Ngược lại những yêu cầu của sự biến hoá về chiến thuật lại thúc đẩy việc nâng cao chất lượng kỹ thuật và đòi hỏi những khả năng thể lực tương ứng của cầu thủ

Qua tham khảo các tài liệu của các tác giả trong và ngoài nước cho thấy: Trung bình một trận đấu một cầu thủ di chuyển từ 12 đến 15 km, trong đó di chuyển với tốc độ cao từ 1300 m - 1500 m Thời gian chạy trung bình của trung phong là 23 phút 37 giây, tiền đạo biên là 22 phút 07 giây, tiền vệ là 28 phút 27

Trang 20

giây, trung vệ 22 phút 45 giây, hậu vệ biên 20 phút 45 giây Số lần chạy trung bình của một cầu thủ trong một trận đấu là 132 - 180 lần (cao nhất là trung phong và thấp nhất là hậu vệ biên) Số lần di chuyển nhanh có bóng và không bóng trung bình 36 - 56 lần Tranh cướp bóng từ 14 – 42 lần, bật cao đánh đầu

từ 02 – 16 lần … Với nhịp điệu hiện nay, bóng đá theo phương hướng tổng lực

có thể những chỉ số đó còn đòi hỏi ở mức độ cao hơn [1], [72]

Như vậy, với lối chơi tổng lực của bóng đá hiện đại: phòng thủ không phải

là nhiệm vụ riêng của hậu vệ, tranh cướp bóng – cản phá bóng giữa sân không còn là nhiệm vụ riêng của tiền vệ, tấn công làm bàn không chỉ là nhiệm vụ riêng của tiền đạo, mà tất cả cầu thủ phải tham gia phòng thủ chặt và tấn công nhanh, làm tính đối kháng trận đấu trở nên càng gay gắt, kịch liệt hơn, dẫn đến lượng vận động càng lớn, thậm chí đến tột đỉnh và huy động triệt để thể lực mới tạo ra được những đường chuyền kiến thiết bóng hiệu quả, sự di chuyển và phối hợp hiểu ý để giành thế chủ động và chiến thắng

Từ đó chúng ta thấy, càng nâng lên trình độ cao, bóng đá càng đòi hỏi những phẩm chất thể lực tuyệt vời với sự nhanh nhẹn, dẻo dai, bền bỉ và khéo léo Những yêu cầu về thể lực là vô cùng cần thiết đối với xu hướng phát triển bóng

đá hiện đại và cũng là cơ sở để hoàn chỉnh các mặt kỹ thuật, chiến thuật Bởi thế trong công tác huấn luyện các đội bóng đá ở bất kỳ trình độ nào, nội dung huấn luyện thể lực giữ vị trí vô cùng quan trọng và đòi hỏi tỷ lệ thời gian thích đáng

Thứ hai: bóng đá hiện đại là trình độ kỹ thuật cao, điêu luyện:

Đó là khả năng xử lý bóng trong các tình huống thi đấu khác nhau, di chuyển hợp lý nhằm giữ quyền kiểm soát bóng dưới áp lực lớn, nhịp độ cao, khả năng điều chỉnh trong các tình huống thi đấu Kỹ thuật được coi là phương tiện để đạt đến mục đích, một mặt của lối chơi mang ý nghĩa quyết định khi nó được thực hiện với tốc độ cao trong tranh cướp, đột phá và dứt điểm

Tính hiệu quả của kỹ thuật được xác định bởi độ chính xác của động tác kỹ thuật do các cầu thủ thực hiện Tính nhẹ nhàng khi thực hiện động tác cho thấy khả năng tiết kiệm hoá chức năng tối đa của các cầu thủ Do năng lượng bị tiêu

Trang 21

hao ít nên các VĐV có trình độ cao có thể hoạt động với cường độ lớn trong một thời gian dài mà hiệu quả thi đấu vẫn không bị giảm sút Do đó trong quá trình huấn luyện, các HLV đã không ngừng hoàn thiện kỹ thuật cho các cầu thủ

Thứ ba: bóng đá hiện đại là hoạt động trí tuệ phát triển cao gắn liền với tư tưởng chiến thuật hiện đại: Chiến thuật thi đấu bóng đá ngày nay đa dạng và

phức tạp, đòi hỏi VĐV phát triển toàn diện hơn do các thách thức phải vượt qua trong trận đấu ngày càng lớn Trước đây, trong hệ thống chiến thuật WM mỗi VĐV có một nhiệm vụ cụ thể cho vị trí thi đấu của mình trên sân Ngày nay, ranh giới các vị trí, phạm vi hoạt động của các VĐV trên sân đã được mở rộng VĐV phải tham gia vào các hoạt động tấn công, phòng thủ tích cực ngay từ đầu nhằm tạo ưu thế về người cả trong tấn công và phòng thủ [1], [55], [75]

Bóng đá hiện đại đòi hỏi ở mỗi VĐV có năng lực tổ chức, thông minh, nhanh nhẹn, nhạy bén với mọi tình huống nảy sinh, có thể đảm nhiệm mọi vị trí Mặt khác, các VĐV ngoài trình độ kỹ thuật điêu luyện và các tố chất thể lực toàn diện thì cần phải phát triển tri thức ở mức độ cao Trong bóng đá tri thức luôn gắn liền với tư duy chiến thuật, tư duy của cầu thủ bóng đá gắn liền với hành động và trực tiếp tri giác các hình ảnh trực quan (tình huống thi đấu) trong điều kiện hạn hẹp về thời gian, căng thẳng về thể chất, tâm lý đồng thời gắn liền với những dự đoán về các sự kiện xảy ra

Quá trình tư duy chiến thuật của VĐV bóng đá là hoạt động trí tuệ phức tạp

và được đặc trưng bởi một số tính chất nhất định: Tốc độ, tính linh hoạt, tính mục đích, tính độc lập, tính sâu sắc…

Tư duy chiến thuật của các cầu thủ luôn luôn mang màu sắc và cảm xúc nhất định Hiệu quả của tư duy chiến thuật phụ thuộc trực tiếp vào độ lớn và cường độ của những nỗ lực ý chí Đồng thời, kết quả của tư duy chiến thuật phụ thuộc vào trình độ kỹ - chiến thuật, thể lực, tâm lý của VĐV

Tóm lại: Để đáp ứng được yêu cầu thi đấu bóng đá hiện đại, hơn bao giờ

hết đòi hỏi ở các cầu thủ khả năng toàn diện, mà thể lực đóng vai trò bản lề, then chốt, trên cơ sở đó để phát triển kỹ thuật, chiến thuật và tâm lý thi đấu

Trang 22

Về thể lực: Để có thể hoạt động tích cực, hiệu quả và chủ động cả trong

phòng thủ lẫn tấn công suốt 90 phút (cũng có thể là 120 phút hoặc hơn) của trận đấu, hơn bao giờ hết đòi hỏi ở mỗi cầu thủ phải có một thể lực sung mãn Muốn giành được lợi thế trong suốt trận đấu trước đối thủ thì cầu thủ phải có duy trì được sự mạnh mẽ, nhanh nhẹn, khéo léo, bền bỉ… hơn đối phương cho tới cuối trận đấu Ngày nay, trong một trận đấu, những cầu thủ trình độ cao phải di chuyển tới 12 – 15 km, trong đó tới 80% là chạy và với hơn 80 lần bứt phá tốc

độ cao Muốn phát huy tốt khả năng kỹ thuật, chiến thuật trong thi đấu, đòi hỏi cầu thủ phải được chuẩn bị thật tốt và toàn diện về thể lực Thể lực là nền tảng cho mọi hoạt động trong bóng đá, khi được trang bị một nền tảng thể lực đầy đủ, toàn diện thì VĐV sẽ luôn tự tin để phô diễn hết kỹ năng chơi bóng, tư duy chiến thuật của bản thân với một tâm lý luôn sẵn sàng, đồng thời sẽ giúp cho hệ thần kinh luôn hoạt động hiệu quả trong mọi phương án xử lý tình huống của trận đấu

Về kỹ thuật: Cầu thủ phải có khả năng điều khiển, kiểm soát được quả

bóng bằng nhiều bộ phận cơ thể, từ đôi chân đến đầu, ngực… (kể cả đôi tay như đối với thủ môn hay ném biên) Phải có khả năng làm chủ quả bóng trong lối chơi nhanh và thường xuyên bị đối phương gây áp lực Phải biết chuyền bóng, dẫn bóng, sút cầu môn… khi có điều kiện ở bất cứ vị trí nào trong tấn công, cũng như phải biết cản phá và thu hồi bóng trong phòng thủ

Về chiến thuật: Đòi hỏi cầu thủ phải biết tư duy chiến thuật nhanh, do yêu

cầu phải liên tục hoán đổi vị trí khác nhau trong tấn công và phòng ngự với lối chơi nhanh nên đòi hỏi cầu thủ phải chuẩn bị đa dạng về chiến thuật Với nhịp

độ thi đấu luôn khẩn trương, phải linh hoạt trong di chuyển, đòi hỏi cầu thủ phải nhanh chóng tìm ra giải pháp chiến thuật hợp lý cho mình và cho đồng đội

Về tâm lý: Sự ổn định về tâm lý, vững vàng về tinh thần, luôn luôn bình

tĩnh và biết kiềm chế, cũng như ý thức kỷ luật thi đấu cao luôn đảm bảo cho thành công trong thi đấu bóng đá [20], [23]

Trang 23

Như vậy VĐV bóng đá đỉnh cao phải hội tụ đầy đủ các yếu tố: thể lực, kỹ thuật, chiến thuật và tâm lý mà trong đó thể lực đóng vai trò đặc biệt quan trọng, then chốt Điều này phải được trang bị đầy đủ ngay trong giai đoạn huấn luyện ở lứa tuổi 15-16, đây là giai đoạn rất phù hợp để phát triển cho VĐV một nền tảng

thể lực sung mãn nhằm chuẩn bị tốt giai đoạn phát triển chuyên môn tiếp theo

1.2 Đặc điểm hoạt động thể lực của vận động viên bóng đá

Bóng đá là môn thể thao đối kháng trực tiếp giữa hai đội bóng thay phiên nhau tấn công và phòng thủ Đặc điểm nổi bật của bóng đá hiện đại là tập luyện

và thi đấu với khối lượng và cường độ vận động lớn trong thời gian dài, điều đó tác động mạnh mẽ đến cơ thể VĐV Trong suốt 90 phút, thậm chí 120 phút thi đấu, VĐV bóng đá di chuyển tổng cộng từ 12.000 - 15.000 m, bao gồm các hình thức chạy, đi xen kẽ, chạy nước rút cự ly ngắn, chạy tốc độ trung bình, chạy chậm, đi bộ, đứng yên [11], [44]

Van Gool và cộng sự đã nghiên cứu trên 7 cầu thủ bóng đá, kết quả cho thấy: Tổng quãng đường mỗi cầu thủ di chuyển trung bình là 10225 (±580m) Trong đó có 42,9% cường độ thấp, 42,6% cường độ trung bình và 7,5% cường

độ cao Trong suốt hiệp 1 tổng quãng đường di chuyển nhiều hơn 444m so với hiệp 2 Trung bình nhịp tim trong suốt hiệp 1 là 169 lần/phút; ở hiệp 2 giá trị trung bình là 165 lần/phút Điều này tương đương với thứ tự là 86,7% và 84,4% nhịp tim tối đa Trong suốt trận đấu cầu thủ đã làm việc vào khoảng 75% hoạt động ưa khí của họ Dựa vào cự ly chạy trong trận đấu và đặc điểm kỹ thuật cá nhân đã phân tích được lượng vận động của VĐV trong một trận đấu và các dạng chuyển hoá năng lượng khác nhau [88]

Đặc điểm loại hình vận động trong bóng đá là vận động hỗn hợp, trong đó

có dạng vận động với công suất cực đại trong thời gian ngắn và lặp lại nhiều lần trong suốt 90 phút thi đấu Nếu đội bóng có đẳng cấp càng cao thì tỷ lệ phần trăm của khối lượng vận động với tốc độ cực đại càng lớn Việc huy động sức mạnh và tốc độ tập trung vào chạy nước rút trong thời gian ngắn nên phải chú ý đến khả năng duy trì sức bền chuyên môn của VĐV

Trang 24

Theo Jens Bangsbo (2006) về sự biến đổi nồng độ axit lactic (AL) của VĐV bóng đá trong suốt trận đấu cho thấy:

Nồng độ axit lactic đều đạt trên 4mmol/l trong suốt trận đấu, chứng tỏ năng lượng do chuyển hoá yếm khí chiếm ưu thế so với chuyển hoá ưa khí

Chuyển hoá yếm khí lactat xảy ra mạnh ở đầu hiệp 1 và cuối hiệp 2

Nồng độ axit lactic cực đại vượt quá 12mmol/l

Lượng vận động suốt trận đấu ổn định dưới cực đại

Khi vận động ngắt quãng với công suất cực đại hoặc cận cực đại gluco giảm ở phút thứ 9 - 10, trong bóng đá glucose giảm vào cuối trận đấu Glucose

là một trong các yếu tố tham gia vào hoạt động của nơron thần kinh cơ và cần phải có đủ glucose trong quá trình hoạt động thần kinh tâm lý cho VĐV khi thi đấu Điều này đảm bảo cho quá trình dẫn truyền xung động thần kinh Khi dự trữ glucogen trong cơ và glucose trong máu cao, sự tập trung chú ý và tư duy sẽ nhanh và chính xác hơn Đây là một trong những điều kiện để giảm bớt các yếu

tố căng thẳng (stress) sinh học [8]

Chuyển hoá ưa khí được đánh giá là nguồn cung cấp năng lượng có hiệu suất cao đối với VĐV bóng đá Nhờ đó, nồng độ axit lactic trong máu của VĐV trong thi đấu không tăng lên quá mức (12mmol/l) so với các môn tốc độ khác (có thể lên đến 16 - 24 mmol/l) Tomat A và cộng sự (1973) qua nghiên cứu hoạt động bóng đá cho thấy:

Đặc điểm nổi bật nhất với bóng đá là cự ly chạy tối đa khoảng trên 10 km trong thời gian 90 - 120 phút

Khả năng hấp thụ oxy tối đa (VO2Max) đạt 80% và điều này tuỳ theo cự ly chạy của VĐV

Quá trình chuyển hoá diễn ra đa dạng và đan xen lẫn nhau [67]

1.3 Mối quan hệ của việc phát triển các tố chất thể lực trong quá trình huấn luyện thể thao

Huấn luyện thể lực cho VĐV là quá trình sư phạm nhằm phát triển và giáo dục các tố chất thể lực: nhanh, mạnh, bền và khéo léo

Trang 25

Phát triển các tố chất thể lực có nghĩa là tăng cường và mở rộng khả năng giới hạn của các tố chất thể lực trong thực tiễn hoạt động thể thao Đó là kết quả của việc đưa lượng vận động với cường độ cao vào trong quá trình tập luyện Giáo dục các tố chất thể lực là nhằm biến các tố chất đó vào thực tiễn ý thức của VĐV; trên cơ sở đó họ có thể điều khiển được tất cả các tố chất thể lực phù hợp với nhiệm vụ vận động đề ra [50]

Trong quá trình huấn luyện thể thao (HLTT), việc giáo dục các tố chất thể lực luôn được coi là vấn đề tiên quyết, đây là một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng

nó quyết định sự tiến bộ tiếp theo của người tập ở tất cả các mặt khác nhau như:

Kỹ năng và kỹ xảo vận động; nâng cao khả năng hoạt động thể lực và hoàn thiện

kỹ chiến thuật thể thao; rèn luyện khả năng tâm lý, ý chí và sức khỏe vì vậy việc phát triển các tố chất thể lực một cách toàn diện là nhiệm vụ bắt buộc trong HLTT chuyên nghiệp Các tố chất thể lực của con người (sức nhanh, sức mạnh, sức bền, khéo léo, mềm dẻo ) có mối quan hệ biện chứng, thống nhất và ràng buộc chặt chẽ với nhau Với nguyên lý có tính quy luật là: Sự phát triển cực hạn của một năng lực thể chất nào đó chỉ có được trên cơ sở nâng cao các khả năng chức phận chung của toàn cơ thể, vì vậy khi sử dụng các phương tiện, phương pháp, điều kiện chuyên môn để phát triển các tố chất thể lực người ta thường xem xét dưới ba góc độ cơ bản sau:

Sự phát triển các tố chất thể lực của cơ thể con người mang tính thống nhất,

sự phát triển của một tố chất thể lực nào đó luôn chịu sự ảnh hưởng của các tố chất thể lực khác Vấn đề này có thể giải thích bởi hai nguyên nhân chủ yếu Một là, sự thống nhất của cơ thể và mối liên hệ qua lại của tất cả các cơ quan hệ thống và chức phận trong quá trình hoạt động và phát triển Mặc dù mỗi tố chất thể lực đòi hỏi những tương quan riêng biệt về sự phát triển tố chất thể lực đặc thù của mình, nhưng có một quy luật chung luôn luôn chi phối là: chỉ có thể có

sự phát triển tối đa của một tố chất nào đó trong điều kiện nâng cao mọi khả năng chức phận của cơ thể Hai là sự phát triển một cách tương ứng của các tố chất thể lực khác và sự tác động tương hỗ giữa chúng luôn diễn ra theo quy luật

Trang 26

Nghĩa là ở mỗi một trình độ tập luyện khác nhau trong quá trình hoàn thiện, các

tố chất thể lực luôn phát triển một cách tương ứng phù hợp với giai đoạn hoặc thời kỳ huấn luyện đó Trong HLTT các môn thể thao đòi hỏi sự phát triển toàn diện các tố chất thể lực như: sức nhanh, sức mạnh, sức bền, khéo léo, mềm dẻo thì việc giáo dục các tố chất thể lực đó càng đặc biệt phải chú ý

Sự phát triển tương hỗ giữa các tố chất thể lực và sự “chuyển” lẫn nhau giữa chúng cũng được thể hiện một cách rất rõ nét Tất cả các tố chất thể lực của VĐV có quan hệ hữu cơ với nhau và nằm trong sự tác động tương hỗ không ngừng Cơ sở của nó là cơ chế tính toàn vẹn tất cả các biểu hiện tâm lý của VĐV Sự tác động tương hỗ giữa các tố chất vận động được thể hiện dưới dạng chuyển hóa Thực tiễn đã chứng minh là sự nỗ lực cơ bắp (sức mạnh) được tiếp thu sâu sẽ làm tăng độ chính xác thực hiện các hoạt động của VĐV, hay nói cách khác là sự phát triển sức bền của VĐV đó Trình độ điều khiển có ý thức cao các biểu hiện tố chất sức mạnh và tốc độ sẽ tạo ra tố chất khéo léo Trên cơ

sở này các biểu hiện tối đa của tất cả các tố chất thể lực của VĐV được mở rộng rất nhiều [82]

Trong mỗi buổi tập riêng biệt người ta thường sắp xếp các bài tập phát triển các tố chất thể lực theo trình tự SM - SN - SB hoặc SN - SM - SB vào phần cơ bản của buổi tập, trong hệ thống các buổi tập thường xếp các bài tập SN - SM vào ngày đầu ngay sau ngày nghỉ, các bài tập sức bền vào những ngày tiếp theo của tuần tập luyện

Sự hạn chế lẫn nhau trong việc phát triển các tố chất thể lực trong quá trình

huấn luyện được xem xét dưới góc độ sinh lý học như sau:

Cơ chế cung cấp năng lượng cho hoạt động là cơ chế yếm khí, cơ chế ưa khí hay cơ chế yếm khí và ưa khí hỗn hợp

Hệ thần kinh điều khiển hoạt động của cơ thể và chế độ co cơ là động lực, tĩnh lực hay động tĩnh lực hỗn hợp [21]

Pharaphen, nhà sinh lý học người Nga đã dựa trên cơ chế hoạt động của cơ

và đặc điểm cung cấp năng lượng cho hoạt động thể lực để chia các bài tập

Trang 27

thành bốn vùng cường độ khác nhau là; 1- vùng cường độ cực hạn; 2- vùng cường độ dưới cực hạn; 3- vùng cường độ lớn; 4- vùng cường độ trung bình Quá trình giáo dục các tố chất thể lực huấn luyện viên phải hiểu rõ đặc tính sinh lý của các bài tập trong các vùng cường độ để sử dụng các phương pháp khác nhau cho có hiệu quả, các bài tập nằm ở vùng cường độ cực hạn luôn được tiến hành trước các bài tập ở vùng cường độ trung bình, các bài tập ở vùng cường độ trung bình làm cơ sở cho các bài tập ở vùng cường độ cực hạn

Dưới góc độ sư phạm sự hạn chế này có thể hiểu là sự chuyển các kỹ xảo vận động trong quá trình tập luyện, đó là sự chuyển tốt hay chuyển xấu các kỹ xảo vận động Các kỹ xảo vận động có cấu trúc gần giống nhau về hình thức và nội dung trong quá trình tập luyện luôn có sự “chuyển tốt” Ngược lại các động tác có sự giống nhau ở các giai đoạn chuẩn bị và có sự khác nhau ở các khâu chủ yếu sẽ có sự cản trở và “chuyển xấu” lẫn nhau nếu ta cho học các kỹ xảo đó đồng thời với nhau [33]

Từ phân tích trên cho thấy sự phát triển các tố chất thể lực có mối liên hệ biện chứng mật thiết với nhau, giữa chúng luôn có quy luật nhất định, huấn luyện viên thể thao phải nắm vững để vận dụng vào quá trình giảng dạy và huấn luyện, giải quyết được nhiệm vụ của quá trình giáo dục thể chất và huấn luyện thể thao đã đề ra

1.4 Đặc điểm các tố chất thể lực đặc trưng và phương pháp huấn luyện thể lực cho vận động viên bóng đá

Bóng đá là môn thể thao đối kháng trực tiếp, với sự tranh chấp quyết liệt, mạnh mẽ của hai đội trên sân và hoạt động trong thời gian dài 90 phút, có thể là

120 phút hoặc hơn nữa Điều đó đòi hỏi VĐV bóng đá phải có một nền tảng thể lực sung mãn, dẻo dai; đồng thời phải duy trì và phát huy một cách tổng hợp tất

cả các tố chất thể lực trong suốt thời gian trận đấu

Khi đào tạo VĐV bóng đá, việc chuẩn bị một nền tảng thể lực tốt luôn là bản lề cho việc phát triển các yếu tố khác như kỹ thuật, chiến thuật hay tâm lý Mặt khác huấn luyện viên phải phát triển một cách tổng hợp các tố chất thể lực

Trang 28

như sức nhanh, sức mạnh, sức bền, khéo léo và mềm dẻo bằng một chương trình huấn luyện thể lực kết hợp kỹ thuật, chiến thuật, tâm lý một cách khoa học, dựa trên những đặc điểm về tâm lý, sinh lý phù hợp với vị trí thi đấu của VĐV [1] Theo Jens Bangsbo: Bóng đá là môn thể thao đòi hỏi cao về thể lực Một cầu thủ đỉnh cao phải thực hiện hết một quãng đường là 11-12 km trong một trận đấu, trong đó anh ta phải thay đổi cường độ vận động tới 1300 lần Tuy nhiên khoảng thời gian mà cầu thủ tiếp xúc với quả bóng trong một trận đấu chỉ được vài phút [8]

1.4.1 Hệ thống trao đổi chất ưa khí và năng lực vận động

Năng lượng oxy hóa glucose và glycogen:

Tổng lượng dự trữ glycogen trong cơ bắp là 365mmol/kg cơ bắp khô, khi oxy hóa có thể sản sinh ra năng lượng đủ tái tổng hợp 13.000mmol ATP/kg cơ bắp Tốc

độ oxy hóa và công suất ưa khí của glucose và glycogen gần gấp 2 lần công suất ưa khí của mỡ và acid béo nhưng chỉ bằng ½ công suất yếm khí của bản thân nó và ¼ công suất của phosphagene, sau 3 phút mới đạt công suất tối đa, tương ứng với thời gian cần thiết để hệ tuần hoàn và hô hấp đạt được mức độ họat động ổn định Thời gian có thể cung cấp năng lượng cho những họat động thể lực với tốc độ ưa khí tối

đa trong khoảng 1 – 2 giờ và tốc độ 70% VO2max trong nhiều giờ

Năng lượng oxy hóa của mỡ và acid béo:

Mỡ và acid béo trong cơ bắp của vận động viên có lượng dự trữ lớn nhất,

có khả năng cung cấp cho quá trình tái tổng hợp ATP với số lượng không hạn chế trong những hoạt động kéo dài nhiều giờ đến nhiều ngày Tuy vậy, tốc độ oxy hóa và công suất ưa khí của mỡ rất thấp, chỉ bằng ½ công suất oxy hóa glucose và 1/8 tốc độ phân giải của ATP, sau 30 phút mới đạt công suất tối đa

Nó chỉ thích hợp với vai trò là nguồn năng lượng bổ sung khi các nguồn năng lượng khác đã sắp cạn kiệt trong những thời điểm thi đấu kéo dài như sang hiệp phụ, đá luân lưu để phân định thắng thua, …

1.4.2 Hệ thống trao đổi chất yếm khí và năng lực vận động

Năng lựợng phosphagene:

Bao gồm 2 hợp chất mang năng lượng là ATP và CP, thuộc hệ năng lượng yếm khí phi lactat (không sản sinh acid lactic khi phân giải) Hệ phosphagene có

Trang 29

lượng dự trữ thấp nhất nhưng lại có tốc độ và công suất phân giải cao nhất Thời gian để đạt đến công suất tối đa chưa đến 1 giây và thời gian tối đa có thể cung cấp năng lượng cho những hoạt động với cường độ cực hạn của cả ATP và CP chỉ trong khoảng 6 - 8 giây là cạn kiệt

Hệ phosphagene lại là nguồn cung cấp năng lượng chủ yếu và có hiệu quả cao cho những động tác mà kỹ chiến thuật đòi hỏi tốc độ tối đa, sức mạnh tốc độ tối đa (sức mạnh bộc phát) kéo dài không quá 6 – 8 giây, ví dụ như những động tác sút bóng, xoạc bóng, bật nhảy đánh đầu…

Năng lượng glycolyzis:

Là hệ cung cấp năng lượng yếm khí do quá trình phân giải của đường glucoze

và glycogen cho cơ thể hoạt động Đặc điểm chủ yếu của quá trình đường phân yếm khí là tạo ra acid lactic, vì vậy hệ glycolyzis cũng còn gọi là hệ yếm khí lactat Tổng dự trữ glucogen trong toàn bộ cơ bắp tương đương 1030 mmol ATP, công suất yếm khí tối đa so với công suất của ATP thì chỉ bằng ½ và phải sau 5 giây mới đạt công suất tối đa, thời gian tối đa mà hệ glycolyzis có thể cung cấp năng lượng với công suất cực đại là 2 – 3 phút Điều này có nghĩa là khi ATP và

CP trong cơ bắp đã cạn kiệt, cần huy động năng lượng đường phân yếm khí thì tốc

độ vận động sẽ giảm đi so với tốc độ cực đại của hệ phosphagene

Tuy nhiên trong thực tiễn hoạt động thể thao gần như không có cự ly hoặc môn nào huy động đơn độc một hệ năng lượng mà thường là năng lượng hỗn hợp của 2 hoặc 3 hệ cùng cung cấp Năng lượng hỗn hợp phosphagene – glycolyzis có thể tạo ra công suất gần bằng ATP, CP và đủ để cung cấp năng lượng cho những họat động kéo dài từ 15 đến 30 giây thuộc vùng cường độ cực hạn và từ 3 – 5 phút thuộc vùng cường độ dưới cực hạn Vì vậy, hệ năng lượng hỗn hợp phosphagene – glycolyzis đã thực sự là cơ sở vật chất quyết định năng lực vận động và thành tích của vận động viên nhiều môn thể thao chu kỳ và phi chu kỳ

1.4.3 Yêu cầu về thể lực trong bóng đá

Bóng đá là môn thể thao đòi hỏi nhiều thể lực Nó được chỉ ra bằng việc những cầu thủ đỉnh cao phải di chuyển quảng đường gần 12 km trong suốt trận đấu

và thực hiện xấp xỉ khoảng 1.300 lần thay đổi cường độ hoạt động Tuy nhiên, thời gian kiểm soát bóng của cầu thủ trong trận đấu chỉ giới hạn trong vài phút

Trang 30

Quãng đường di chuyển một trận đấu

Mét

Thời gian (phút)

Biểu đồ 1.1 Hoạt động của một tiền vệ trong suốt trận đấu

Những giá trị này chỉ ra ở cả về thời gian và quãng đường di chuyển trong những hoạt động khác nhau Ví dụ như đi bộ khoảng 3,1km, chạy nhẹ khoảng 2,5km trong khi chạy tốc độ cao khoảng 900m, và chạy nước rút chỉ 700m trong trận đấu

Biểu đồ 1.2 Quãng đường di chuyển của một tiền vệ trong suốt trận đấu

Hoạt động trong trận đấu

Trang 31

Biểu đồ 1.3 Diễn biến mạch đập của cầu thủ trong suốt trận đấu

Mạch tối đa của cầu thủ ở vào khoảng 185 lần/ phút và mạch trung bình trong hiệp 1 là 173 lần / phút và hiệp 2 là 169 lần / phút

Hệ thống năng lượng ưa khí cung cấp năng lượng lớn nhất được sử dụng trong trận đấu Nó được minh họa bằng việc liên quan đến mạch đập trong suốt trận đấu Mạch đập và nhiệt độ cơ thể đo được chỉ ra rằng cầu thủ đỉnh cao có cường độ vận động trung bình xấp xỉ khoảng 70% mạch tối đa Nhiều hoạt động

ở cường độ cao, duy trì trong 90 phút, vì vậy, hệ vận chuyển oxy và tố chất sức bền phải được yêu cầu cao cho cơ hoạt động

Sản sinh năng lượng yếm khí là rất quan trọng vì nó được cần cho hoạt động ngắn ở cường độ cao như xoạc bóng, đổi hướng hay bật nhảy Trong suốt trận đấu, cầu thủ ở trình độ cao thực hiện trung bình khoảng 30 lần chạy nước rút, kéo dài khoảng 2 giây Năng lượng sản sinh cho việc chạy nước rút được lấy

từ nguồn cơ bản từ việc phá vỡ cao năng lượng phosphats, đồng thời, nó được phục hồi nhanh trong thời gian ngắn Trong suốt giai đoạn hoạt động ở cường độ cao, năng lượng cũng được cung cấp bởi quá trình yếm khí có acid lactic được chỉ ra bằng tỷ lệ acid lactic cao trong máu suốt trận đấu

Trang 32

Biểu đồ 1.4 Nồng độ acid lactic trong một trận đấu của cầu thủ bóng đá

Hoạt động ở cường độ thấp, năng lượng sản sinh trong cơ gần như toàn bộ

từ quá trình ưa khí Trong những hoạt động ở cường độ cao, năng lượng ưa khí được sản sinh một cách giới hạn và phần năng lượng quan trọng được dùng để cung cấp năng lượng là yếm khí

Biểu đồ 1.5 Sự sản sinh năng lượng và các tố chất thể lực đặc trưng trong

thi đấu bóng đá

Trang 33

Như vậy: Dựa trên cơ chế chuyển hóa năng lượng, điều mà được cho là quan trọng nhất, việc huấn luyện thể lực trong bóng đá có thể được chia thành các thành phần như trong biểu đồ 1.5

Trong suốt trận đấu hoặc buổi tập, cường độ hoạt động của cầu thủ thường xuyên được thay đổi Ở một vài giai đoạn, năng lượng hầu hết được cung cấp một cách chọn lọc thông qua hệ thống ưa khí, trong khi đó tại những thời điểm khác, phần lớn năng lượng được sản sinh thông qua hệ thống yếm khí Từ những nghiên cứu như trên, luận án xác định những tố chất thể lực đặc trưng để thông qua đó làm nền tảng cho quá trình xây dựng kế hoạch huấn luyện thể lực cho VĐV bóng đá lứa tuổi 15-16

Sơ đồ 1.1 Hệ thống huấn luyện thể lực cho VĐV bóng đá

Như vậy, trong giai đoạn huấn luyện VĐV bóng đá lứa tuổi 15-16, cần tập trung phát triển các tố chất thể lực đặc trưng như sau:

Tố chất sức bền

Tố chất sức mạnh tốc độ

Trang 34

Tố chất sức bền tốc độ

Tố chất sức mạnh bền

Thực tiễn cho thấy các tố chất thể lực có mối liên hệ mật thiết với nhau, để phát triển tố chất này thì cũng có những ảnh hưởng tích cực cho các tố chất khác, do vậy việc phát triển các tố chất thể lực đặc trưng như trên cũng sẽ có những ảnh hưởng tích cực đến các tố chất thể lực khác [8]

1.4.4 Phương pháp huấn luyện tố chất sức bền

Trong các hoạt động thể thao nói chung, bóng đá nói riêng, khi nói đến các

tố chất thể lực là nói đến 5 tố chất cơ bản gồm: sức bền, sức nhanh, sức mạnh, mềm dẻo, khéo léo Tuy nhiên đối với hoạt động môn bóng đá tố chất sức bền được làm nền tảng để phát triển các tố chất thể lực khác

Khái niệm về tố chất sức bền cũng đã được nhiều tác giả đề cập dưới những quan điểm khác nhau như lý luận, y sinh, tâm lý Diên Phong cho rằng:

“Tố chất sức bền là năng lực của cơ thể chịu đựng mệt mỏi sản sinh trong quá trình hoạt động” Căn cứ vào sự khác nhau của đặc trưng hoạt động, mệt mỏi có thể phân ra: mệt mỏi về trí lực và mệt mỏi về phương diện cảm giác, mệt mỏi về thể xác (thể lực) và mệt mỏi về tinh thần (tình cảm) Sự mệt mỏi về thể xác được tạo ra bởi sự hoạt động của cơ bắp có một ý nghĩa trong quá trình huấn luyện thể thao Tố chất sức bền ở đây chủ yếu nói lên khả năng khắc phục sự mệt mỏi của

cơ thể trong quá trình hoạt động thể thao [52]

Theo D Harre cho rằng: “Sức bền được hiểu là khả năng chống lại sự mệt mỏi của vận động viên Sức bền đảm bảo cho VĐV đạt được một trình độ nhất định (tốc độ, dùng lực, nhịp độ chơi hoặc thi đấu, sử dụng sức lực) trong thời gian vận động kéo dài của thi đấu tương ứng khả năng huấn luyện của mình Sức bền còn đảm bảo chất lượng động tác cao và giải quyết hoàn hảo các hành vi kỹ

- chiến thuật tới cuối cuộc chơi và khi vượt qua một khối lượng vận động lớn trong tập luyện” [30], sức bền không những là nhân tố xác định và ảnh hưởng lớn đến thành tích thi đấu mà còn là một nhân tố xác định sự ham thích tập luyện

và khả năng chịu đựng lượng vận động (LVĐ) của VĐV

Trang 35

Sức bền thể hiện dưới dạng kéo dài thời gian hoạt động ở một cường độ nhất định đến khi xuất hiện những dấu hiệu đầu tiên của sự mệt mỏi, cũng như giảm khả năng hoạt động khi bắt đầu mệt mỏi, và cuối cùng dẫn đến sự ngừng vận động Sức bền được đo bằng thời gian thực hiện vận động đến khi phải dừng lại (thời gian ngưỡng – tng)

Sức bền (tng, phút) = Dự trữ năng lượng (J)/tốc độ tiêu hao năng lượng (J/phút)

Có nghĩa là sức bền được xác định bằng thời gian hoạt động ở cường độ đã định đến khi hết hoàn toàn năng lượng dự trữ có thể có được

Sự thể hiện cụ thể của sức bền mang tính đặc thù và phụ thuộc vào nguồn năng lượng từ quá trình trao đổi chất khác nhau Do ở trong cơ chế có 3 nguồn năng lượng (phi lactac, gluco phân, ưa khí) Vì vậy sự biếu hiện chung của sức bền có thể xem như kết hợp các chỉ số cường độ, dung lượng và hiệu quả các nguồn trên [10], [39]

Theo Nguyễn Văn Trạch và Vũ Chung Thủy, sức bền là năng lực chống lại

sự mệt mỏi khi hoàn thành động tác về bài tập [68]

Theo Nguyễn Toán và Phạm Danh Tốn, Sức bền là năng lực thực hiện một hoạt động với cường độ cho trước, hay là năng lực duy trì khả năng vận động trong một thời gian dài nhất mà cơ thể có thể chịu đựng được Do hoạt động đó cuối cùng cũng là giới hạn bởi sự xuất hiện của mệt mỏi trong một hoạt động nào đó [66]

Theo N.A Butovich, Sức bền là tố chất vận động, nhờ vào tố chất đó con người có khả năng thực hiện những hoạt động thể lực nhất định trong một thời gian dài, không mệt mỏi Trên cơ sở sinh học, việc phát triển sức bền nằm trong trạng thái nâng cao sự chống đỡ mệt mỏi của cơ thể Muốn tạo được khả năng này, các chức năng của cơ thể phải được hoàn thiện để có thể quen dần với những hoạt động trong điều kiện khó khăn khi các nhóm cơ bắp làm việc với cường độ cao trong thời gian dài [13]

Theo Lưu Quang Hiệp và Phạm Thị Uyên cho rằng: Sức bền là khả năng thực hiện lâu dài hoạt động cơ bắp toàn thân hoàn toàn hoặc chủ yếu mang tính

Trang 36

ưa khí như chạy 1.500m trở lên, đi bộ thể thao, đua xe đạp đường dài, bơi từ 400m trở lên, v.v…[32]

Sức bền phụ thuộc vào: một là khả năng hấp thụ oxy tối đa (VO2 max) của

cơ thể; hai là khả năng duy trì lâu dài mức độ hấp thụ oxy cao

Mức độ hấp thụ oxy tối đa của một người quyết định khả năng làm việc trong điều kiện ưa khí của họ VO2 max càng cao thì công suất hoạt động ưa khí tối đa sẽ càng lớn Ngoài ra, VO2 max càng cao thì cơ thể thực hiện hoạt động

ưa khí càng dễ dàng, vì vậy càng được lâu hơn Như vậy, về bản chất sức bền chính là khả năng hấp thụ oxy tối đa của cơ thể [9]

Như vậy, qua những khái niệm trên các nhà khoa học đưa ra khái niệm sức bền ở những góc độ khác nhau nhưng đều có chung một quan điểm, sức bền là chỉ năng lực của cơ thể khắc phục sự mệt mỏi sản sinh trong quá trình hoạt động; mệt mỏi làm sự giảm sút tạm thời năng lực hoạt động do cơ thể hoạt động tạo ra

Những nhân tố ảnh hưởng đến sức bền

Tố chất sức bền có mối liên hệ chặt chẽ với các tố chất khác của vận động viên, nó là năng lực đa nhận tố Những nhân tố ảnh hưởng đến nó ngoài cấu trúc

tổ chức cơ thể bẩm sinh như tỷ lệ cấu thành sợi cơ màu sẫm, màu sáng của cơ bắp

và đặc trưng thần kinh ra, còn có những nhân tố ảnh hưởng sau:

Đặc trưng cá tính tâm lý của vận động viên: Tính ham thích và động cơ hoạt động của vận động viên như: tính chủ động, tính kiên trì, mức độ nỗ lực, tính ổn định tâm lý của vận động viên, đối với các hoạt động sẽ diễn ra và các phẩm chất ý chí khác đều có ảnh hưởng trực tiếp đến sức bền

Năng lực chức năng trao đổi năng lượng khi cơ thể hoạt động: Khi cơ thể hoạt động, việc cung cấp năng lượng, việc đảm bảo trao đổi năng lượng cũng như năng lượng thu được, đó là một chức năng của hệ thống cung cấp năng lượng Trong đó việc tích trữ các loại năng lượng của cơ thể vận động viên, việc tiến hành và huy động quá trình trao đổi năng lượng, v.v… đối với tố chất sức bền cũng có sự ảnh hưởng rất lớn

Tính ổn định chức năng cơ thể: Tính ổn định chức năng cơ thể giúp cho các

hệ thống trong cơ thể khi mệt mỏi phát triển, môi trường bên trong cơ thể phát sinh

Trang 37

sự thay đổi, thì tính tích cực của chức năng vẫn duy trì được ở mức độ cần thiết

Sự tiết kiệm hóa chức năng cơ thể, sự hoàn thiện về nhịp điệu và sự phân phối hợp lý sức mạnh: Sự tiết kiệm hóa chức năng chủ yếu biểu hiện ở chỗ: cùng với sự gia tăng trình độ huấn luyện, sự giảm tiêu phí năng lượng trong một đơn vị thời gian hoạt động; việc hoàn thiện về nhịp điệu có thể làm giảm tối thiểu năng lượng hao phí không cần thiết; việc phân bố hợp lý sức mạnh thì có thể nâng cao mức lợi dụng và hiệu suất của năng lượng Tất cả những điều này trực tiếp quyết định hiệu suất sử dụng năng lượng dự trữ của cơ thể

Rất nhiều chỉ tiêu trong các nhân tố nói trên có thể dùng để đánh giá đến chất lượng, số lượng và tỷ trọng sức bền trong các môn thể thao Ví dụ: có thể dùng rất nhiều chỉ tiêu về năng lực ưa khí và yếm khí của cơ thể để phân biệt sự cấu tạo thành năng lượng cung ứng và đặc trưng chức năng của nó Như lượng oxy cần thiết lớn nhất khi hoạt động (VO2max), thời gian cực hạn khi đạt

VO2max, ngưỡng vô dưỡng không có oxy (anaerobic), nồng độ acid lactic khi tiến hành nợ dưỡng, v.v… [6], [53]

Quan điểm của các nhà khoa học như Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn: Sức bền trong hoạt động bị chi phối bởi rất nhiều nhân tố Do đó để phát triển tố chất sức bền cần phải giải quyết hàng loạt các nhiệm vụ nhằm hoàn thiện và nâng cao nhân tố đó [66]

Tóm lại, những nhân tố sau đây chi phối đáng kể đến sức bền: kỹ thuật thể thao hợp lý, đặc trưng cá tính tâm lý trong nỗ lực chống lại sự mệt mỏi của VĐV, khả năng hoạt động của hệ thống hô hấp và tuần hoàn, tính tiết kiệm của quá trình trao đổi chất, sự phối hợp hài hòa trong các hoạt động của các chức năng sinh lý, khả năng hoạt động ưa khí hay độ lớn của lượng oxy trong đơn vị thời gian, mức

độ nguồn dự trữ năng lượng và khả năng huy động của nó trong cơ thể Với tính chất đặc thù của tố chất sức bền trong hoạt động thi đấu bóng đá, rõ ràng sức bền trong bóng đá chịu ảnh hưởng và sự chi phối của hầu hết các yếu tố

Đặc điểm tố chất sức bền của vận động viên bóng đá

Sức bền trong hoạt động bóng đá nói riêng và sức bền trong các môn bóng nói chung gọi là “sức bền thi đấu”, sức bền này được quyết định bởi các nhân tố

Trang 38

như: Khi thi đấu động tác không có tiêu chuẩn thống nhất, đồng thời phương thức động tác cũng như số lượng quá lớn không thể dự đoán, tính toán trước được; cũng không thể dự đoán chính xác lượng vận động chịu tải trong thi đấu, thậm chí tổng thời gian thi đấu cũng không thể dự đoán chính xác Do đó, đối với các môn thể thao này cần có sức bền dự trữ tương đối lớn Đặc tính loại môn thể thao này là có những động tác có cường độ cực hạn (ví dụ như di chuyển tăng tốc đột ngột, đổi hướng, v.v…)

Nó đặt ra yêu cầu tương đối cao đối với hệ cung cấp năng lượng yếm khí; mặt khác do động tác tích cực tiến hành thay đổi với thời gian nghỉ giữa tương ứng, đồng thời tổng khối lượng rất lớn, từ đó có yêu cầu rất lớn đối đối với hệ cung cấp năng lượng ưa khí Ví dụ: vận động viên cấp cao môn bóng trên băng trong lúc thi đấu có mức bình quân VO2 max tiếp cần 90% lượng oxy cần thiết lớn nhất của một người, nó dao động từ 75 – 100% [6]

Từ góc độ chuyên môn mà xem xét thì sức bền lại có thể chia thành sức bền chung và sức bền chuyên môn Trong bất kỳ một môn thể thao nào, sức bền vẫn là năng lực đa nhân tố Do đó sức bền chung của vận động viên là tương đối

so với sức bền chuyên môn mà thôi, nó là sự tổng hợp đặc trưng các loại cơ năng của cơ thể vận động viên Đặc trưng các cơ năng nói ở đây không có ý chỉ đối với một bộ phận đặc biệt cần của hoạt động chuyên môn nào đó Nhìn chung sức bền chung có các đặc điểm sau đây: thời gian duy trì hoạt động lâu dài, hoạt động liên tục, cường độ không lớn lắm, các nhóm cơ đều tham gia hoạt động, hệ thống tim mạch có sự đảm bảo tương đối tốt

Trong thực tiễn không thể đem sức bền chung đổ đồng như nhau với sức bền

ưa khí một cách đơn giản Chỉ có thể coi nó như cơ sở của sức bền chuyên môn và

nó biểu hiện trên nhiều phương diện Sức bền chuyên môn chỉ có năng lực chức năng cơ thể được động viên tới mức tối đa cho thành tích chuyên môn sâu trong điều kiện có phụ tải chuyên môn, là năng lực chống lại sự mệt mỏi cực lớn [4], [5] Những hoạt động bóng đá đỉnh cao như vậy luôn đòi hỏi cầu thủ có nền tảng thể lực dồi dào, sung mãn, để có thể thực hiện hiệu quả ý đồ kỹ thuật cá nhân, chiến thuật đồng đội trong suốt trận đấu nhằm đạt được thắng lợi cao nhất

Trang 39

Hoạt động thi đấu trong bóng đá được diễn ra liên tục trong tấn công lẫn phòng thủ với nhiều nhịp độ khác nhau, hoạt động trong khoảng thời gian dài từ

90 phút đến 120 phút của trận đấu và nó luôn diễn ra ở sức bền ưa khí và sức bền yếm khí Chính vì vậy đòi hỏi cầu thủ phải có một thể lực dồi dào mà nền tảng là tố chất sức bền Ngày nay, trong một trận đấu các cầu thủ di chuyển từ

12 km đến 15 km, trong đó thời gian hoạt động chiếm từ 60 phút đến 80 phút Theo tham khảo tài liệu của Liên đoàn bóng đá Thế giới (FIFA, 2014), thời gian hoạt động với các hoạt động: Thời gian tiếp xúc bóng dưới 3 phút; số lần quay (90 độ hoặc hơn) khoảng 400 - 450 lần; tổng chiều dài quãng đường di chuyển trung bình 10,9 km, trong đó đi bộ khoảng 3 - 4 km, chạy chậm và chạy lúp xúp khoảng 4 - 6 km, chạy nhanh và chạy nước rút khoảng 0,7 – 1,1 km, chạy lùi khoảng 300m Như vậy quãng đường VĐV hoạt động với cường độ trung bình (đi

bộ và chạy chậm) là 7 - 10 km, trong khi đó chạy nhanh (tốc độ) và chạy nước rút (sức bền tốc độ) là 0,6 - 1km Hay nói cách khác hoạt động sức bền ưa khí chiếm tỷ lệ khá cao trong một trận đấu Tương ứng trong một trận đấu, nhịp tim của cầu thủ khoảng 150 - 190 nhịp/phút, tương đương đạt 70% – 80% nhịp tim cực đại; Trung bình 165 - 170 nhịp/phút Khi thi đấu lượng đường gluco trong cơ giảm nhanh chóng Acid laictic trong máu tăng lên đến 12 milimol/lit, tính trung bình

7 milimol/lit Cầu thủ mất khoảng 1.600 - 1.800 kcal và giảm trọng lượng cơ thể

từ 1 - 4 kg [86]

Hệ thống sản sinh năng lượng ưa khí đã cung cấp một lượng lớn năng lượng cho cơ thể trong quá trình thi đấu Nhịp tim báo cho ta thấy vận động viên bóng đá lúc tham gia thi đấu tiêu thụ lượng oxy đạt 70% lượng tiêu thụ oxy cực đại Chính vì thế khi vận động ở cường độ cao trong 90 phút, đòi hỏi hệ thống vận chuyển oxy hoạt động cao và sức bền cơ bản rất lớn [27]

Đối với hoạt động thi đấu của vận động viên bóng đá, cả hai nguồn sản sinh năng lượng ưa khí và yếm khí rất quan trọng

Sức bền cũng phụ thuộc rất nhiều vào sự tích lũy năng lượng của quá trình vận động, chủ yếu là ở khả năng duy trì lực của cơ, điều này được cải thiện qua các bài tập kỹ thuật nâng cao với bóng, và phụ thuộc vào khả năng thả lỏng cơ,

Trang 40

dù trong tình huống thi đấu căng thẳng Cầu thủ không có kỹ thuật tốt thì không

đễ sử dụng tiềm năng của hai nguồn năng lượng này

Sự sản sinh năng lượng ưa khí và yếm khí, cho phép cầu thủ duy trì khả năng thi đấu tốt suốt trận đấu, đặc biệt liên quan đến tốc độ, sự phối hợp và sức bền Khi đạt được mức độ đó, có thể nói rằng vận động viên đó có khả năng thi đấu ở cường độ cao [17]

Tóm lại, nguồn cung cấp năng lượng cho tố chất sức bền của hoạt động thi đấu bóng đá có hai hệ thống chính là hệ thống năng lượng yếm khí và ưa khí Đối với nguồn năng lượng yếm khí là ATP và CP, glucogen sử dụng trong thời gian từ vài giây đến tối đa 120 giây Đối với nguồn năng lượng ưa khí chủ yếu glucose và acid béo tự do có thể sử dụng từ vài phút đến vài chục phút

1.4.5 Phương pháp huấn luyện tố chất sức mạnh tốc độ

Sức mạnh tốc độ (SMTĐ) là sức mạnh được sinh ra trong các động tác nhanh SMTĐ là hình thức co rút cơ bắp thường thấy, không thể thiếu trong hoạt động vận động thể thao, nên đây là yếu tố cơ bản, xuyên suốt trong toàn bộ quá trình phát triển sức mạnh của VĐV nhiều môn thể thao

Khái niệm và các quan điểm về SMTĐ rất đa dạng Sau đây chúng tôi nêu một số quan điểm cơ bản như sau:

Theo Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn: SMTĐ là sức mạnh được sản sinh ra trong các động tác nhanh [66]

Theo D Harre: SMTĐ là khả năng khắc phục lực cản với tốc độ co cơ cao [30] Theo Bompa: SMTĐ là khả năng của hệ thống thần kinh cơ sản sinh ra một lực lớn nhất trong một thời gian ngắn nhất Tác giả cũng cho rằng SMTĐ là sản phẩm của hai năng lực sức mạnh và tốc độ, và được xem là khả năng phát lực tối

đa trong thời gian ngắn nhất [11]

Theo Nôvicốp A.D và Mátvêép L.P: SMTĐ là năng lực biểu hiện trị số sức mạnh lớn nhất trong một thời gian ngắn nhất [49]

Như vậy, qua quan điểm của các tác giả cho thấy SMTĐ gồm có thành tố cấu thành, liên quan hữu cơ, thống nhất với nhau là sức mạnh và tốc độ, vì thế muốn phát triển SMTĐ phải phát triển cả hai thành tố này trong một thể hữu cơ,

Ngày đăng: 20/11/2018, 11:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w