Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng t
Trang 1MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU 1
B NỘI DUNG 2
I Khái quát chung về chế định tài sản riêng của vợ, chồng 2
1.1 Một số khái niệm chung 2
1.2 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển chế định tài sản riêng của vợ, chồng trong Pháp luật Việt Nam 4
1.3 Những lý do mà pháp luật phải ghi nhận tài sản riêng của vợ, chồng và quyền được có tài sản riêng của vợ, chồng9 1.4 Ý nghĩa của việc ghi nhận tài sản riêng và quyền được có tài sản riêng của vợ, chồng 10
II Những quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về tài sản riêng của vợ, chồng 10
2.1 Cơ sở pháp lý của việc quy định tài sản riêng, quyền có tài sản riêng của vợ, chồng 10
2.2 Căn cứ để xác định tài sản riêng của vợ, chồng 11
2.3 Quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản riêng 15 2.4 Nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung 17
III Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện chế định tài sản riêng của vợ và chồng 18
3.1 Thực tiễn áp dụng 18
3.2 Kiến nghị hoàn thiện chế định tài sản riêng 19
C KẾT LUẬN 20
Trang 2A MỞ ĐẦU
Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng conngười, là môi trường quan trọng hình thành và giáo dục nhâncách, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Giađình được hình thành từ nhiều quan hệ khác nhau gồm quan hệhôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng Tuynhiên, gia đình được hình thành từ quan hệ hôn nhân chiếm đại
đa số trong đời sống hiện nay
Nội dung của quan hệ pháp luật giữa vợ và chồng bao gồmquyền và nghĩa vụ về nhân thân; quyền và nghĩa vụ về tài sản.Đối với gia đình hiện đại, sự gắn bó giữa vợ chồng là một điềurất quan trọng, tuy nhiên để có thể hướng tới một hôn nhân ổnđịnh, lâu dài, bền vững thì vấn đề cần phải quan tâm đến chính
là đời sống vật chất, tiền bạc, tài sản của vợ chồng Vì vậy, cácđiều luật quy định về chế độ tài sản giữa vợ và chồng đóng vaitrò hết sức quan trọng và là một chế định pháp lý không thểthiếu trong Luật Hôn nhân và gia đình
Mặt khác, Lênin đã từng nói rằng: “Bản chất con người làtổng hòa các mối quan hệ xã hội Do đó, mỗi một cá nhân trong
xã hội không chỉ gắn bó với gia đình của mình mà còn thể hiệntính độc lập trong cộng đồng với tư cách là thành viên của xãhội Những quan hệ xã hội độc lập này về mặt nào đó cần phảidựa trên những điều kiện vật chất nhất định Do đó, Luật Hônnhân và gia đình Việt Nam bên cạnh việc quy định tài sản chungcủa vợ chồng còn thừa nhận quyền được có tài sản riêng của
vợ, chồng Việc quy định về tài sản riêng của vợ chồng trongLuật Hôn nhân và gia đình Việt Nam là một điều cần thiết để
Trang 3bảo vệ quyền lợi của mỗi cá nhân đồng thời là cơ sở giải quyếtnhững tranh chấp có thể xảy ra trong thực tế.
Chính vì lẽ đó, trong phạm vi bài tiểu luận này em xin đềcập, phân tích quá trình hình thành và phát triển của chế địnhtài sản riêng của vợ chồng trong lịch sử, đồng thời phân tích chếđịnh tài sản riêng trong Luật Hôn nhân và gia đình hiện hành –Luật Hôn nhân và gia đình 2014
Theo nghĩa từ điển, tài sản được hiểu là “của cải, vật chất
dùng vào mục đích sản xuất và tiêu dùng” Theo Điều 105 Bộ
luật dân sự 2015 (BLDS 2015): “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có
giá và quyền tài sản”; “Tài sản bao gồm bất động sản và động sản Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai”.
1.1.2 Chế độ tài sản giữa vợ và chồng
Chế độ tài giữa vợ và chồng là toàn bộ những quy định vềviệc xác định tài sản chung, tài sản riêng, quyền và nghĩa vụ đốivới tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng, các thành viênkhác trong gia đình và người thứ ba ngay tình
Trang 4Luật Hôn nhân và gia đình 2014 ra đời lần đầu tiên ghinhận 2 chế độ tài sản giữa vợ và chồng, đó là: Chế độ tài sảntheo thỏa thuận và Chế độ tài sản theo luật định.
Chế độ tài sản giữa vợ và chồng được thực hiện theo
Nguyên tắc chung được quy định tại Điều 29 Luật Hôn nhân
và gia đình 2014 (Luật HNGĐ 2014) như sau:
“1 Vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập.
2 Vợ, chồng có nghĩa vụ bảo đảm điều kiện để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình.
3 Việc thực hiện quyền, nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng
mà xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, chồng, gia đình và của người khác thì phải bồi thường”.
1.1.3 Tài sản riêng của vợ, chồng
Điều 43 Luật HNGĐ 2014 quy định Tài sản riêng của vợ,
chồng như sau:
“1 Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người
có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các Điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ chồng và tài sản khác theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.
Trang 52 Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ chồng Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 33 và Khoản 1 Điều 40 của Luật này.”
1.2 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển chế định tài sản riêng của vợ, chồng trong Pháp luật Việt Nam
1.2.1 Thời kỳ phong kiến
Lịch sử Việt Nam gắn liền với chế độ Phong kiến kéo dàihàng nghìn năm, pháp luật nước ta thời kỳ này chịu ảnh hưởngrất lớn của tư tưởng Nho giáo với quan niệm “trọng nam khinhnữ”, “xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”, “ngũ luân”,… Những
tư tưởng này đã đi sâu vào trong tiềm thức của người dân ViệtNam
Nếu xét đến cả một thời kỳ phong kiến, nói chung phápluật nước ta thời kỳ này vẫn chưa có một văn bản pháp luật nàoquy định một cách cụ thể và rõ ràng về tài sản riêng, quyềnđược có tài sản riêng của vợ và chồng Bởi lẽ chính tư tưởng Nhogiáo “trọng nam khinh nữ” cho rằng người chồng là người trụcột trong gia đình, là chủ của gia đình nên đồng thời cũng là chủ
sở hữu các tài sản trong gia đình, có mọi quyền quyết định đốivới những tài sản đó vì lợi ích của gia đình nên hệ thống phápluật không đề cập đến tài sản chung hay riêng của vợ, chồngtrong thời kỳ hôn nhân
Tuy nhiên, trong một thời kỳ phong kiến này, đã có một vài
Bộ luật đề cập đến chế độ tài sản giữa vợ chồng, quyền được cótài sản riêng của vợ, chồng Điển hình có thể kể đến là Bộ Quốctriều Hình luật, Bộ luật này đã thiết lập một chế độ tài sảntương đối bình đẳng giữa vợ và chồng Quyền bình đẳng thể
Trang 6hiện qua các quyền sở hữu tài sản chung và tài sản riêng của
vợ, chồng
Đối với tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân, Bộ Quốc triềuHình luật đã thừa nhận vợ chồng đều có quyền sở hữu với tàisản riêng Tài sản riêng của vợ, chồng là tài sản có trước khi kếthôn, được thừa kế từ gia đình của mỗi người Đối với tài sảnnày, vợ chồng đều có quyền sở hữu riêng, mặc dù tài sản nàyđược quản lý chung bởi vợ chồng và các lợi tức có được từ tàisản đó mang lại là tài sản chung Như vậy, có thể hiểu rằng nếu
là tài sản riêng của vợ, chồng thì cả hai đều có quyền chiếmhữu, sử dụng trong thời kỳ hôn nhân nhưng không có quyềnđịnh đoạt đối với tài sản riêng của người khác Do đó khi họ lyhôn thì tài sản riêng của ai vẫn thuộc về người đó, họ có quyềnmang theo trừ trường hợp ly hôn do vợ gian dâm Việc thừanhận vợ có quyền sở hữu tài sản riêng chính là điểm đặc sắccủa pháp luật phong kiến nhà Lê, điều này đã tạo cho người vợ
có vị thế ngang bằng nhất định với người chồng
Ở Nam kỳ, Bộ luật được ban hành sớm nhất ở Việt Nam
thời kỳ Pháp thuộc là Bộ dân luật giản yếu (năm 1883) được ápdụng ở Miền Nam, không thừa nhận người vợ có tài sản riêng,pháp luật quy định “tất cả tài sản trong gia đình đều thuộcquyền sở hữu và quyền quản lý của người chồng trong thời kỳ
Trang 7hôn nhân cũng như sau khi người vợ chết Trong trường hợpngười vợ chết thì chồng là chủ sở hữu đối với toàn bộ tài sảncủa gia đình do hiệu lực của hôn nhân chứ không phải là hưởnggia tài từ người vợ, nhưng nếu người chồng chết trước thì người
vợ có quyền hưởng dụng thu lợi trên toàn bộ tài sản của giađình khi còn ở goá” Tuy nhiên án lệ lại công nhận trong một sốtrường hợp người vợ có thể có quyền có tài sản riêng, bao gồm:các đồ tư trang, tài sản được gia đình tặng cho hoặc được thừa
kế, bất động sản đã ghi rõ tên vợ là chủ sở hữu trong sổ địachính nhưng sau đó những án lệ này lại chuyển sang khôngcông nhận quyền này của người vợ
Ở Bắc kỳ và Trung kỳ, do ảnh hưởng của Bộ luật dân sự
Pháp (1804) nến trong hai Bộ luật là Bộ dân luật Bắc kỳ và Bộdân luật Trung kỳ quy định “Vợ chồng có thể có tài sản riêng từtrước khi kết hôn, nhưng kể từ khi kết hôn và trong thời kỳ hônnhân thì các tài sản riêng đó (bao gồm cả bất động sản và độngsản) được hợp nhất thành khối tài sản chung của vợ chồng Tuynhiên đó chỉ là sự hợp nhất tạm thời trong thời kỳ hôn nhân, chỉ
có những tài sản do hai vợ chồng làm ra trong thời ky hôn nhânmới là tài sản chung chính thức”
Ngoài ra ở hai Bộ luật này còn có quy định, “Sau khi chồngchết, người vợ góa mà kết hôn với người khác sẽ mất quyền giatrưởng, phải đi khỏi gia đình, chỉ được mang theo tài sản riêng
và chỉ có quyền nhận một nửa khối tài sản chung của vợ chồngnếu chồng không có con (Điều 360 Bộ dân luật Bắc kỳ và Điều
369 Bộ dân luật Trung kỳ) “Nếu không có tài sản riêng thìngười vợ góa kết hôn lại có thể được hội đồng gia tộc bên chồngcấp cho một ít tài sản thuộc khối tài sản chung tùy theo công
Trang 8sức đóng góp của người vợ vào khối tài sản ấy” (Điều 359 Bộdân luật Trung kỳ) Như vậy, trong các Bộ luật trên, quyền cótài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng không trực tiếp được nhắcđến như một điều luật độc lập.
1.2.3 Trong Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam giai đoạn
1955 – 1975
Ở Miền Bắc, sau thành công của Cách mạng tháng Tám,
Nhà nước ta đã có nhiều nỗ lực trong việc xây dựng hệ thốngpháp luật, trong đó có pháp luật điều chỉnh về lĩnh vực hônnhân và gia đình Thời kỳ này, đạo luật đầu tiên của Nhà nước
ta về hôn nhân và gia đình đã được ban hành, đó là Luật Hôn
nhân và gia đình năm 1959 Tại Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình 1959 quy định: “Vợ chồng đều có quyền sở hữu,
hưởng thụ và sử dụng ngang nhau đối với tài sản có trước và sau khi cưới” Như vậy quy định này thể hiện rằng: toàn bộ tài
sản của vợ chồng dù có trước khi kết hôn hoặc tạo ra trong thời
kỳ hôn nhân, dù vợ, chồng được tặng cho riêng, được thừa kếriêng hoặc cả hai vợ chồng được tặng cho chung hay được thừathừa kế chung không phân biệt nguồn gốc tài sản và công sứcđóng góp đều thuộc khối tài sản chung của hai vợ chồng Dođiều kiện hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ (hầu hết các tư liệu sảnxuất đều thuộc sở hữu Nhà nước hoặc được tập thể hóa, sở hữu
tư nhân chỉ bao gồm các tư liệu tiêu dùng) nên Luật Hôn nhân
và gia đình 1959 không ghi nhận quyền có tài sản riêng của mỗibên vợ chồng cũng như quyền chia tài sản chung khi hôn nhâncòn tồn tại
Ở Miền Nam, từ năm 1954 – 1975, Miền Nam Việt Nam
nằm dưới chế độ ngụy quyền Sài Gòn, bên cạnh việc ghi nhận
Trang 9tài sản chung của vợ chồng trong hệ thống pháp luật, còn có
những quy định về tài sản riêng cụ thể tại Điều 55 Sắc luật số 15/64 và Điều 152 BLDS 1972 đã dự liệu cho mỗi bên vợ
chồng có một khối tài sản riêng bao gồm: “Những bất động sản thuộc quyền sở hữu của mỗi bên vợ, chồng khi kết hôn (tức là các bất động sản mà vợ hay chồng đã có từ trước khi kết hôn); Những bất động sản mà mỗi bên vợ, chồng có được trong thời
kỳ hôn nhân do được tặng cho riêng hoặc thừa kế riêng”.
1.2.4 Trong Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam từ năm 1976 đến nay
Đất nước thống nhất, đòi hỏi phải có hệ thống pháp luậtthống nhất Trong hoàn cảnh kinh tế - xã hội có nhiều biếnđộng, Luật Hôn nhân và gia đình 1959 không còn phù hợp.Trước tình hình đó, Nhà nước ta trong giai đoạn này đã banhành 3 đạo luật: Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, Luật Hônnhân và gia đình năm 2000, Luật Hôn nhân và gia đình năm
2014 (Đạo luật hiện hành)
Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 ra đời trong thời
kỳ đổi mới đất nước, Luật này đã quy định đầy đủ về nghĩa vụ,quyền nhân thân và tài sản vợ, chồng Luật Hôn nhân và giađình năm 1986 tiếp tục thừa nhận trên nguyên tắc tài sản của
vợ chồng là tài sản chung và được sử dụng vì lợi ích chung củagia đình, quy định cụ thể hơn những tài sản nào được coi là tàisản chung, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sảnchung đó Điểm mới của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 làthừa nhận quyền có tài sản riêng và quyền định đoạt tài sảnriêng của vợ, chồng, quy định việc chia tài sản khi hôn nhân còn
tồn tại Theo Điều 16 Luật Hôn nhân và gia đình năm
Trang 101986: “Vợ chồng có quyền có tài sản riêng, bao gồm các tài
sản mà vợ, chồng có được từ trước khi kết hôn, các tài sản mà
vợ hoặc chồng được tặng cho riêng hay được thừa kế riêng trong thời kỳ hôn nhân, người vợ hoặc chồng có tài sản riêng có quyền nhập hay không nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng”.
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 ra đời trong bối
cảnh Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 không còn phù hợpvới sự vận động của quan hệ hôn nhân và gia đình trong sựphát triển của nền kinh tế và sự giao lưu quốc tế Kế thừa vàphát triển các quy định về tài sản riêng của vợ, chồng trongLuật Hôn nhân và gia đình năm 1986 (Điều 16), Luật Hôn nhân
và gia đình năm 2000 đã quy định chế độ sở hữu đối với tài sản
riêng của vợ, chồng cụ thể hơn Điều 32 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã khẳng định:
“1 Vợ chồng có quyền có tài sản riêng.
Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại Khoản 1 Điều 29 và Điều 30 của Luật này; đồ dùng, tư trang cá nhân.
2 Vợ chồng có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung”
Điều 33, 29, 30 của Luật này còn quy định cụ thể về chiếmhữu, sử dụng, định đoạt riêng của mỗi bên vợ chồng, về việcchia tài sản chung của vợ chồng khi hôn nhân còn tồn tại:
“Trong trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng thì hoa lợi,
Trang 11lợi tức phát sinh từ tài sản đã được chia thuộc sở hữu riêng của mỗi người”.
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (Đạo luật hiện
hành) ra đời trong bối cảnh đất nước bước sang giai đoạn pháttriển mới, quan hệ hôn nhân gia đình có nhiều thay đổi, trongkhi đó Luật Hôn nhân và gia đình 2000 bộc lộ nhiều điểm hạnchế, bất hợp lý Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 lần đầutiên ghi nhận chế độ tài sản theo thỏa thuận Theo đó, trongvăn bản chế độ tài sản theo thỏa thuận (được lập trước khi kếthôn), vợ chồng có thể thỏa thuận với nhau tài sản nào là tài sảnriêng và tài sản nào là tài sản chung Đối với những trường hợp
vợ chồng không thỏa thuận đối với những tài sản đó (thỏa thuậnkhông đầy đủ) hoặc vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản theo luậtđịnh thì Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã kế thừa nhữngquy định về tài sản riêng của vợ chồng trong Luật Hôn nhân và
gia đình 2000, Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình năm
2014 quy định đầy đủ, cụ thể hơn như sau:
“1 Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người
có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các Điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ chồng và tài sản khác theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.
2 Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ chồng Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 33 và Khoản 1 Điều 40 của Luật này.”
Trang 12Ngoài ra, Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 đã quy định cụ
thể hơn về việc Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng
(Điều 44), Nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ chồng (Điều 45)
và Nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung (Điều
46).
1.3 Những lý do mà pháp luật phải ghi nhận tài sản riêng của vợ, chồng và quyền được có tài sản riêng của
vợ, chồng
Thứ nhất, do sự phát triển của nền kinh tế mà khối tài sản
của mỗi người không ngừng tăng lên, theo đó nhu cầu độc lập
về tài sản riêng của mỗi người cũng tăng lên do nhu cầu phục
vụ đời sống riêng, nghề nghiệp, sinh hoạt cá nhân, tham gia cáchoạt động xã hội khác,… Do đó, nếu chỉ quy định chế độ tài sảnchung của vợ chồng mà không quy định tài sản riêng sẽ gâycản trở đến nhu cầu chính đáng của họ Trên thực tế, xảy ra rấtnhiều tình trạng vợ, chồng giúp đỡ người thân, bạn bè,… phảidấu diếm vì không muốn mang tiếng động chạm vào tài sảnchung
Thứ hai, nếu trước khi kết hôn mà mỗi bên vợ, chồng tạo
được một khối tài sản lớn do chính lao động của mình mà cóđược Đến khi kết hôn theo luật định nếu trở thành tài sảnchung của vợ chồng, nghĩa là người kia đương nhiên trở thànhchủ sở hữu của tài sản đó Điều này dẫn đến mâu thuẫn vớinguyên tắc Xác lập quyền sở hữu đối với tài sản của Bộ luật dân
sự (Điều 170 BLDS 2005 – vì Luật Hôn nhân và gia đình 2014 rađời trước khi BLDS 2015 có hiệu lực thi hành nên phải căn cứvào BLDS 2005)
Thứ ba, việc xác định tài sản có được trước khi cưới là tài
sản chung của vợ chồng như những đạo luật trước đây dẫn đến
Trang 13khuynh hướng xấu khi hình thành quan hệ hôn nhân Điều nàydẫn đến việc không ít trường hợp kết hôn vì tiền tài, không xuấtphát từ tình yêu chân chính, do đó không chỉ vi phạm về điềukiện kết hôn mà còn tác động xấu đến mục đích nguyên thủycủa hôn nhân và gia đình,
Thứ tư, khi người thân, bạn bè của một trong hai bên vợ
chồng chỉ tặng cho riêng, để lại thừa kế riêng cho người đónhưng nếu tất cả đều trở thành tài sản chung như quy định củanhững đạo luật trước đây thì sẽ trái với nguyện vọng, ý chí củanhững người tặng cho, để lại tài sản thừa kế, xâm phạm đến lợiích của người nhận cũng như nguyên tắc tự nguyện, tự do ý chícủa BLDS
1.4 Ý nghĩa của việc ghi nhận tài sản riêng và quyền được có tài sản riêng của vợ, chồng
Thứ nhất, việc ghi nhận cho vợ, chồng có tài sản riêng đã
tạo ra được cơ sở pháp lý vững chắc cho vợ, chồng chủ độngtham gia vào các giao dịch dân sự, bảo đảm thỏa mãn nhu cầuvật chất, tinh thần của vợ, chồng và của các thành viên kháctrong gia đình
Thứ hai, pháp luật đã phân định rõ quyền và nghĩa vụ của
vợ, chồng trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sảnriêng giúp minh bạch hóa các giao dịch dân sự mà mỗi bên vợ,chồng tham gia Qua đó, pháp luật đã tạo ra cơ sở pháp lý rõràng để giải quyết những tranh chấp liên quan đến tài sản của
vợ chồng, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của các bêncũng như người thứ ba ngay tình
Thứ ba, việc ghi nhận tài sản riêng của vợ, chồng hạn chế
được tình trạng kết hôn vì vật chất, không xuất phát từ tình cảm
Trang 14chân thành từ hai bên vợ, chồng Qua đó, đảm bảo phát huyđược vai trò, chức năng quan trọng của gia đình trong xã hội.
II Những quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm
2014 về tài sản riêng của vợ, chồng
2.1 Cơ sở pháp lý của việc quy định tài sản riêng, quyền
có tài sản riêng của vợ, chồng
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về tài sảnriêng của vợ, chồng; quyền có tài sản riêng của vợ, chồng căn
cứ vào những cơ sở pháp lý sau:
Thứ nhất, Điều 16 Hiến pháp 2013 ghi nhận: “Mọi người
đều bình đẳng trước pháp luật”, Điều 26 Hiến pháp 2013 khẳng định: “Nam, nữ bình đẳng về mọi mặt Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới” Hiến pháp 2013 còn
thừa nhận cá nhân có quyền có tài sản hợp pháp tại Điều 32:
“Mọi người có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp hoặc các tổ chức kinh tế khác”; “Quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ”.
Trước khi kết hôn, hai bên nam nữ là những công dân bìnhthường của xã hội Theo tính chất nghề nghiệp, mỗi người tạo ratài sản của mình thông qua thu nhập hợp pháp, sức lao độngcủa mình và đều thuộc quyền sở hữu của mỗi bên vợ, chồng.Đảng và Nhà nước ta thông qua pháp luật đã khuyến khích, tạođiều kiện bằng nhiều biện pháp cho công dân tạo ra thu nhập,tài sản làm giàu cho chính bản thân, gia đình và xã hội Chính vì
lí do đó, những văn bản luật đã cụ thể hóa Hiến pháp quy định
về bảo đảm sở hữu riêng của công dân