1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Trong công cuộc đổi mới nước ta hiện nay viêc làm và các chính sách việc làm đang là vấn đề nóng bỏng và không kém ph

11 111 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 121 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó cũng cần có những biện pháp giải quyết việc làm điều đó sẽ kích thích sự học hỏi của toàn xã hội Do cơ cấu ngành không phù hợp: Ngày nay khi mà nền kinh tế thị trường không c

Trang 1

ĐỀ TÀI:

MỞ ĐẦU

Trong công cuộc đổi mới nước ta hiện nay viêc làm và các chính sách việc làm đang là vấn đề nóng bỏng và không kém phần bức bách đang được toàn xã hội quan tâm

Đất nước ta đang trong quá trình chuyển sang nền kinh tế phát triển, đơì sống nhân dân cũng như vấn đề việc làm đang được toàn xã hội quan tâm Trong đó thất nghiệp được chính phủ quan tâm giải quyết hang đầu

I,NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN THẤT NGHIỆP

1, Thất nghiệp là gì?

Trên thực tế có rất nhiều loại hình thất nghiệp, c hung ta không thể đưa ra một định nghĩa cụ thể nào về thất nghiệp, song đây là một vấn đề lan giải cần được thảo luận và trên thực tế đã đưa ra nhiều loại thất nghiệp khác nhau

2, Các loại thất nghiệp

Thất nghiệp là một hiện tượng cần phải được phân loại để hiểu rõ vấn đề thất nghiệp được phân loại theo các tiêu thức chủ yếu sau đây:

2.1, Phân theo loại hình thất nghiệp

Thất nghiệp là mọt gánh nặng, nhưng gang nặng đó rơi vào bộ phân dân cư nào, ngành nghề nào, giới tuổi nào Cần biết những điều đó để hiểu rõ đặc điểm, đặc tính, mức độ tác hại của nó đến nền kinh tế, các vấn đề liên quan

Thất nghiệp chia theo giới tính( nam, nữ)

Thất nghiệp chia theo lứa tuổi( tuổi, nghề)

Thất nghiệp chia theo vùng lánh thổ( thành thị, nông thôn)

Thất nghiệp chia theo ngành nghề( ngành kinh tế, nông nghiệp…)

Thất nghiệp chia theo dân tộc, chủng tộc

2.2, Phân loại theo lí do thất nghiệp

Do bỏ việc: tự ý xin thôi việc vì những lí do khác nhau như cho rằng lương thấp, không hợp nghề, hợp vùng

Do mất việc: các cho thôi việc do những khó khăn trong kinh doanh

Do mới vào: lần đầu bổ xung vào lực lượng lao động nhưng chưa tìm được việc làm( thanh niên đến tuổi lao động, đang tìm kiếm việc, sinh viên tốt nghiệp đang chờ công tác…)

Quay lại: những người đã rời khỏi lực lượng lao động nay muốn quay lại làm việc nhưng vẫn chưa tìm được việc làm

Trang 2

Như vậy thất nghiệp là con số mang tính thời điểm, nó có thể luôn biến đổi không nghừng theo thời gian Thất nghiệp kéo dài thường xảy ra trong nền kinh

tế trì trệ kém phát triển và khủng hoảng

2.3, Phân loại theo nguồn gốc thất nghiệp

2.3.1, Thất nghiệp tạm thời.

Thất nghiệp tạm thời xảy ra khi có sự mất cân đối cung cầu giữa các thị trường lao động( giữa các ngành nghề, khu vực…) loại này gắn liền với sự biến động của cơ cấu kinh tế và khả năng điểu chỉnh cung của các thị trường lao động Khi sự lao động này là kéo dài, nạn thất nghiệp trở nên trầm trọng và kéo dài

2.3.2, Thất nghiệp cơ cấu

Thất nghiệp cơ cấu sảy ra khi có sự mất cân đối cung cầu giữa thị trường lao động( giữa các ngành nghề, khu vực…) loại này gắn liền với sự biến động cơ cấu kinh tế và khả năng cung của thị trường lao động Khi sự lao động này là mạnh và kéo dài, nạn thất nghiệp trở nên trầm trọng và kéo dài

2.3.3, Thất nghiệp do thiếu hụt

Do sự suy giảm tổng cầu Loại này còn được gọi là thất nghiệp chu kì bởi ở các nền kinh

tế thị trường, nó gắn liền với thời kì suy thoái của chu kì kinh doanh, xảy ra ở khắp mọi nơi mọi nghành nghề.

2.4, Thất nghiệp do yếu tố ngoài thị trường

Nó xảy ra khi tiền lương được ấn định bởi các lực lượng thị trường và cao hơn mức cân bằng thực tế của thị trường lao động

II,Vấn đề việc làm ở Việt Nam

Việt Nam luôn chú trọng và ưu tiên phần vốn ngân sách nhà nước cho chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm Kết quả đầu tư ngân sách nhà nước đối với chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm như sau: Năm 2006 ngân sách nhà nước đầu tư cho chương trình là 265 tỷ đồng; năm 2007 là 300 tỷ đồng; năm 2008 là 327 tỷ đồng; năm 2009 là

413 tỷ đồng

Vốn ngân sách nhà nước cho chương trình việc làm tăng đều qua các năm, trong đó bổ sung quỹ vốn vay giải quyết việc làm hàng năm tăng khá: năm 2006 bổ sung quỹ vốn vay giải quyết việc làm là 235.000 triệu đồng; năm 2007: 250.000 triệu đồng; năm 2008: 250.000 triệu đồng; năm 2009: 313.000 triệu đồng

Năm 2006- 2007 tạo việc làm cho hơn 3,2 triệu lao động, ước tính năm 2008 tạo việc làm cho 1,615 triệu lao động (đạt 95% kế hoạch) Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị hàng năm đều

Trang 3

giảm (năm 2006: 5,1%; năm 2007: 4,91%, năm 2008: ước đạt 4,9%) Tỷ lệ thiếu việc làm

ở nông thôn giảm dần (năm 2006: 5,86%; năm 2007: 5,79%, năm 2008: ước đạt 5,75%) Nguồn nhân lực Việt Nam chưa đạt yêu cầu và còn yếu so với các nước trong khu vực

Tỷ lệ lao động được đào tạo của nước ta tuy vẫn tăng đều qua các năm nhưng đến nay vẫn chỉ đạt 24% tổng lao động (tỷ lệ tương ứng của các nước trong khu vực là 50%) Tỷ

lệ đào tạo lao động có bằng cấp còn thấp (tăng khoảng 7,3%/năm) và chưa tương ứng với nhu cầu lao động có đào tạo cho phát triển kinh tế Cơ cấu đào tạo theo ngành nghề, theo trình độ còn nhiều bất cập Chất lượng thấp làm lao động Việt Nam mất thế cạnh tranh, ngay cả ở thị trường lao động nội địa Với chất lượng nguồn nhân lực như hiện tại, khi hội nhập với thị trường lao động quốc tế, lao động Việt Nam sẽ mất lợi thế và phải chấp nhận nhiều thiệt thòi

Năng suất lao động của Việt Nam hiện tại còn thấp, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế còn hạn chế Trong các năm 2006- 2008, năng suất lao động chung của nền kinh tế tăng

từ 22,5 lên 26,5 triệu đồng/năm Trong điều kiện tốc độ tăng trưởng kinh tế trong 2 năm đầu của kế hoạch 2006- 2010 là tương đối khả quan nhưng năng suất lao động của nền kinh tế vẫn không được cải thiện nhiều thì sự chững lại của tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2008 và có thể cả trong một vài năm tiếp theo sẽ còn làm chậm hơn nữa tốc độ tăng của năng suất lao động

Về xuất khẩu lao động: Trong 10 tháng qua, cả nước đã đưa được khoảng 72.500 lao động đi làm việc ở nước ngoài, đạt khoảng 85,0% kế hoạch năm Trong khi đó, rất nhiều người chuyển nguyện vọng sang các nước châu Âu, úc, Canada, Mỹ, Hàn Quốc… Chưa bao giờ hoạt động xuất khẩu lao động lại ở trong tình trạng phân hoá thị trường và nguồn lao động mạnh mẽ như hiện nay…

III,NGUYÊN NHÂN CHÍNH DẪN ĐẾN THẤT NGHIỆP Ở NƯỚC TA

Khi nền kinh tế ngày càng phát triển, các phát minh khoa học kĩ thuật nhiều…không

có nghĩa là không có thất nghiệp nó không tỉ lệ với thất nghiệp Việt Nam chúng ta có thể nói là nước có tỉ lệ thất nghiệp khá cao đặc biệt là độ tuổi lao động Nguyên nhân chủ yếu là do đâu mà ra?

Nguyên nhân khủng hoảng kinh tế dẫn đến thất nghiệp ai cũng rõ

Do đồng tiến trong khu vực mất giá, hàng hóa của họ c ó sức cạnh tranh hơn, sản phẩm của Việt Nam không xuất khẩu được Các nước sử dxuncg lao động Việt Nam như là Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan…gặp nhiều khó khăn, ngưng nhận người làm khiến cho thị trường thất nghiệp trong nước ngày càng trầm trọng

Do trình độ học vấn Bởi lẽ con người không nhận thức được công việc phù hợp với mình, cũng do trình độ học vấn mà khả năng nhận thức việc làm còn hạn chế Hơn nữa trõng thời buổi kinh tế thị trường như ngày nay, mắc j dù chính phủ và nhà nước ta đã có rất nhiều biện pháp cho các ngành nghề, tạo công ăn việc làm như: mở cửa để đầu tư vốn cũng như khoa học kĩ thuật vào Việt Nam Song do nhận thức về máy móc các thiết bị điều khiển máy móc còn hạn chế, mắt khác khi chọn nhân viên nào làm việc thì khâu tuyển chọn thường là do người nước ngoài tuyển chọn họ lại cần chúng ta có trình độ, học vấn nhất định như trình độ văn hóa, trình độ ngoại ngữ….Để khắc phục tình trạng này thì nhà nước phải có chủ trương đào tạo, mọi người phải có trình độ văn hóa nhất định, phù hợp với nền kinh tế thị trường hiện nay Khuyến khích tất cả mọi tầng lớp, có

Trang 4

chính sách ưu tiên với gia đình khó khăn, các dân tộc thiểu số, vùng sâu vùng xa hoặc trợ cấp một phần nào đó về ngân sách Bên cạnh đó cũng cần có những biện pháp giải quyết việc làm điều đó sẽ kích thích sự học hỏi của toàn xã hội

Do cơ cấu ngành không phù hợp:

Ngày nay khi mà nền kinh tế thị trường không còn chế độ quan liêu bao cấp, thì các doanh nghiệp nhà nước cũng như tư nhân ngày càng phát triển đã đạt được nhiều thành tựu trên nhiều lĩnh vực Song bên cạnh đó thì tỉ lệ thất nghiệp vẫn còn khá cao đó là do đâu?

Phải chăng đó là cơ cấu ngành nghề chưa phù hợp, cũng như mức lương chưa phù hợp với công việc Chính vì thế mà nhà nước ta phải có sự phân bố ngành nghề phù hợp hơn nữa, đưa ra mức thu nhập phù hợp với từng ngành, từng nghề, có những chính sách ưu tiên, khuyến khích mở ra các cuộc thi đua, có những phần thưởng khuyên khích các công nhân, doanh nghiệp phát triển hơn nữa Khuyến khích phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ, có thể đầu tư vốn cho doanh nghiệp có nhu cầu về vay vốn để mở rộng sản xuất, mua các thiết bị máy móc

Như chúng ta đã biết tỉ lệ dân số nước ta tăng nhanh so với khu vực cũng như trên thế giới, đứng thứ 1 khu vực và thứ 4 thế giới về tỉ lệ sinh đẻ Dân số ngày càng tăng mà diện tích đất ngày càng giảm, như vậy tỉ lệ thất nghiệp ngày càng cao Tuy nhiên nhà nước ta đã có những biện pháp kế hoạch hóa gia đình nhưng do nhân dân chưa có ý thức nên tỉ lệ sinh còn cao Dân số tăng nhanh cũng dẫn đến tình trạng như sự quan tâm, cũng như giáo dục con cái cũng giảm các điều kiện về ăn uống sinh hoạt không được tốt đặc biệt là vùng nông thôn, miền núi cần chính phủ, nhà nước quan tâm hơn nữa Nó dẫn tới tình trạng trẻ em không được tới trường

Làm tăng tỉ lệ mù chữ, tỉ lệ thất nghiệp cao

Nhưng nhờ sự quan tâm của chính phủ mà các chính sách cũng như các biện pháp giải quyết đã phần nào giải quyết được tình trạng thất nghiệp

Trong 8 tháng đầu năm, cả nước giải quyết việc làm cho khoảng 1.045,6 nghìn lao động, đạt 65,35% kế hoạch năm Trong đó, tạo việc làm trong nước là 994 nghìn người, đạt 65,6% kế hoạch; xuất khẩu lao động 51,6 nghìn người, đạt 60,7% kế hoạch Ước tính cả năm 2010, số lao động giải quyết việc làm đạt 1,605 triệu người, bằng 100,31% kế hoạch và tăng 6,64% so với thực hiện năm 2009 Riêng chỉ tiêu xuất khẩu lao động, ước đạt 80 nghìn người, chỉ đạt 94,12% so với kế hoạch Năm 2011, tổng số lao động trong độ tuổi có khoảng 57,73 triệu người, trong đó số lao động đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân khoảng 50,3 triệu người Chỉ tiêu mà Chính phủ dự kiến trong năm 2011 là giải quyết việc làm cho 1,6 triệu người; trong đó tạo việc làm trong nước 1.513 nghìn người, đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài 87 nghìn người Tỷ lệ thất nghiệp thành thị sẽ giảm xuống 4,5% trên tổng số

Cũng theo báo cáo của Chính phủ, nhờ thực hiện đồng bộ nhiều chính sách và giải pháp,

tỷ lệ hộ nghèo cả nước đang tiếp tục giảm xuống

Theo số liệu ước tính của Tổng cục Thống kê tỷ lệ hộ nghèo từ 12,1% năm 2009 giảm xuống 10,6% năm 2010 Trong đó, 5 tỉnh, thành có tỷ lệ hộ nghèo dưới 1% và không còn

hộ nghèo theo chuẩn quốc gia là Tp.HCM, Đà Nẵng, Khánh Hòa, Bà Rịa - Vũng Tàu,

Trang 5

Bình Dương; 62 huyện nghèo nhất nước đã cơ bản hoàn thành công tác xoá nhà dột nát

Năm 2011, Chính phủ đưa ra chỉ tiêu dự kiến giảm tỷ lệ hộ nghèo 2% theo chuẩn nghèo mới; riêng 62 huyện nghèo giảm 4%

IV, GIẢI PHÁP MÀ CHÍNH PHỦ ĐƯA RA

Một là, hoàn thiện thể chế thị trường lao động theo định hướng xã hội chủ nghĩa; nghiên

cứu, xây dựng và ban hành các văn bản, cơ chế, chính sách theo hướng tiếp cận với chuẩn mực chung của quốc tế về lao động, việc làm và thị trường lao động, phù hợp các thông lệ và cam kết quốc tế của Việt Nam trong hội nhập; đẩy mạnh cải cách hành chính theo hướng minh bạch, công khai và đơn giản; tăng cường phân cấp, nâng cao trách nhiệm của chính quyền địa phương nhằm tạo hành lang pháp lý cho hoạt động trong lĩnh vực lao động - việc làm

Hai là, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong nước và quốc tế cho đầu

tư phát triển, nhất là những vùng, ngành, lĩnh vực có khả năng thu hút nhiều lao động như: các vùng kinh tế động lực, trọng điểm ở 3 miền, khu vực dân doanh, trước hết là các doanh nghiệp vừa và nhỏ; kinh tế trang trại, hợp tác xã, làng nghề, xã nghề tiểu thủ công nghiệp ; khu vực dịch vụ, nhất là các dịch vụ thu hút nhiều lao động kết hợp khai thác tiềm năng, thế mạnh của đất nước và con người Việt Nam Chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế và lao động nông thôn theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa để tạo thêm nhiều việc làm tại chỗ, góp phần giảm bớt áp lực về lao động ra các thành phố làm việc

Ba là, tăng cường sự hỗ trợ của Nhà nước trong giải quyết việc làm và phát triển thị

trường lao động thông qua việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm đến năm 2010, thực hiện lồng ghép có hiệu quả Chương trình với các chương trình mục tiêu quốc gia khác (về giáo dục - đào tạo, về giảm nghèo ) và các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt trên địa bàn cấp tỉnh, thành phố Quan tâm công tác đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, coi đây là một trong những giải pháp góp phần tạo việc làm cho người lao động

Bốn là, hoàn thiện và phát triển thị trường lao động, góp phần vào việc hình thành

đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Trong đó, tập trung vào các nội dung như: xây dựng và hoàn thiện hệ thống thông tin thị trường lao động nhằm phổ biến rộng rãi cho mọi đối tượng có nhu cầu; phát triển đồng bộ hệ thống giao dịch trên thị trường theo hướng quy hoạch tổng thể hệ thống trung tâm giới thiệu việc làm và các cơ sở giới thiệu việc làm, đầu tư nâng cao năng lực các trung tâm, xây dựng 3 trung tâm ở 3 vùng kinh tế trọng điểm đạt tiêu chuẩn, đa dạng hóa các "kênh" giao dịch trên thị trường lao động; tổ chức thường xuyên, định kỳ các sàn giao dịch việc làm để có thể kết nối hoạt động giao dịch trên phạm vi toàn quốc

Năm là, nâng cao chất lượng nguồn lao động cả về trình độ học vấn và trình độ

chuyên môn kỹ thuật, kỹ năng tay nghề; thực hiện liên thông giữa các cấp trình độ; giáo dục - đào tạo theo định hướng gắn với cầu lao động, đồng thời, nâng cao hiểu biết về pháp luật, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp và nâng cao thể lực đảm bảo cung cấp đội ngũ lao động có chất lượng cả về thể lực và trí lực, đáp ứng yêu cầu của nền sản xuất công nghiệp Đây là một quá trình lâu dài với nhiều cơ chế, chính sách thích hợp, đòi hỏi

có sự tham gia của tất cả các cấp, các ngành và phải thực hiện ngay từ bậc học phổ thông

Sáu là, hoàn thiện và phát triển hệ thống an sinh xã hội Hội nhập kinh tế, Việt Nam

phải mở cửa thị trường, thực hiện theo các quy luật của thị trường, kèm theo đó là chúng

Trang 6

ta sẽ đối mặt với những tác động tiêu cực từ thị trường, nhất là trong vấn đề xã hội Vì vậy, hệ thống an sinh xã hội là một công cụ quan trọng để góp phần ngăn ngừa và hạn chế những tiêu cực này Trong thời gian tới, hệ thống an sinh xã hội cần tập trung vào các chính sách đối với lao động nông thôn bị mất việc làm, thiếu việc làm do quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa, đối với lao động dôi dư và các chính sách về bảo hiểm xã hội, đặc biệt là bảo hiểm thất nghiệp, tạo cơ hội cho mọi đối tượng đều được hưởng thành quả

từ hội nhập, thực hiện mục tiêu phát triển vì con người của Đảng ta

Bẩy là, Hỗ trợ giải quyết việc làm cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống

khó khăn

MỘT SỐ CHÍNH SÁCH KHÁC

a)Lập quỹ quốc gia về giải quyết việc làm từ các nguồn: Trích một tỉ lệ nhất định trong ngân sách Nhà nước; một phần từ nguồn thu do đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài;

từ sự trợ giúp của các Tổ chức quốc tế hoặc Chính phủ các nước cho giải quyết việc làm

Quỹ được sử dụng trên nguyên tắc bảo tồn và tăng lên; trước hết, cho vay với lãi suất nâng đỡ hoặc bảo tồn giá trị cho vay đối với hộ tư nhân, hộ gia đình, cá nhân, doanh nghiệp tạo được chỗ làm việc mới hoặc thu hút thêm lao động; trợ giúp cho các chương trình, dự án tạo việc làm; các trung tâm dạy nghề và dịch vụ việc làm; trung tâm áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và chuyển giao công nghệ sử dụng nhiều lao động Hàng năm

Bộ Lao động - Thương binh và xã hội cùng Bộ Tài chính, Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước tính toán nguồn quỹ trình Hội đồng Bộ trưởng quyết định

b) Xây dựng chương trình việc làm gắn với Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm và 5 năm, trong đó cần xác định rõ mục tiêu, nội dung Dự án đầu tư, hiệu quả kinh

tế, các điều kiện thực hiện

c) Bổ sung và sửa đổi một số chính sách cụ thể khuyến khích các lĩnh vực, các doanh nghiệp, các hộ gia đình và cá nhân tạo thêm chỗ làm việc mới, thu hút thêm lao động, trước hết là các chính sách định canh, định cư và di dân xây dựng các Vùng kinh tế - xã hội mới; phát triển kinh tế hộ gia đình ỏ nông thôn; phát triển kinh tế quy mô nhỏ và linh hoạt ở thành thị; chính sách tự do di chuyển lao động và hành nghề; chính sách và việc làm thích hợp đối với thương binh và người tàn tật; chính sách phát triển hình thức thanh niên xung phong làm kinh tế; hình thức hội, hiệp hội làm kinh tế; hình thức giáo dục cải tạo gắn với dạy nghề và tạo việc làm cho các đối tượng tệ nạn xã hội; chính sách cho vay với lãi suất nâng đỡ hoặc bảo toàn vốn, miễn giảm thuế đối với những hộ mới đăng ký kinh doanh thời kỳ đầu v.v

Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với các Bộ, ngành liên quan tổ chức nghiên cứu và trình Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng quyết định trong quý II năm 1992

d) Ngoài hệ thống đào tạo, hướng nghiệp và dạy nghề chính quy cần mở rộng và phát triển các trung tâm dạy nghề và dịch vụ việc làm ở một số ngành

Phương hướng phát triển trong vài năm tới

Các chỉ tiêu kinh tế

Trang 7

* Đưa cơ sở

* Giảm tỷ lệ sinh bình quân hằng năm 0,5%, tốc độ tăng dân số vào năm 2005 khoảng 1,2 %

* Toạ việc làm, giải quyết thêm việc làm cho khoảng7,5 triệu lao động , bình quân1,5 triệu lao động / năm:nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên 30 %vào năm 2005

* Cơ bản xoá đói,giảm nghèo xuống còn 10 % vào năm 2005

* Giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng xuống còn 22 -25 % vào năm 2005 Dự báo về lao động và việc làm

Theo tính toán ban đầu,số lao động cần giải quyết việc làm trong 5 năm 2001 - 2005 là

15 triệu người,bao gồm lao động mới tăng thêm mỗi năm khoảng1,3 triệu và số lao động chưa được giải quyết việc làm từ 5 năm trước chuyển sang trong đó nông thôn khoảng12,5 triệu người,ở thành thị khoảng 2, 5 triệu người

Trong năm tới,dự tính thu hút và đào tạo việc làm cho trên khoảng7,5 triệu lao động trong các ngành kinh tế xã hội,bình quân mỗi năm khoảng trên 1,5 triệu người trong đó ;

* Ở khu vực nông thôn, với việc chuyển đổi mạnh cơ cấu sản xuất,mùa vụ , cây trồng,vật nuôi: phát triển đa dạng các ngành nghề tronh lĩnh vực công nghiệp,dịch vụ

dự kiến có thể thu hút và tạo thêm việc làm cho khoảng trên 9 triệu lao động,đưa số lao động có việc làm ở nông thôn vào năm 2005 khoảng 28 triệu người

* Ở khu vực thành thị ,dự kiến trong 5 năm có thể thu hút và tạo việc làm thêm khoảng1,78 triệu người trong các ngành sản xuất công nghiệp, xây dựng và dịch vụ,đưa tổng số lao động có việc làm ở thành thị vào khoảng trên 11 triệu người

Tính đến năm 2005 tỷ lệ thời gian sử dụng lao động ở nông thôn vào khoảng 80%; tỷ lệ lao động chưa có việc làm ở thành thị chiếm khoảng 5,4 % số lao động trong độ tuổi

Về việc thu hồi vốn từ nước ngoài

* Khả năng thu hút vốn ODA

* Trong 5 năm tới,khả năng thực hiện nguồn vốn ODA khoảng 10 - 11 tỷ USD,bao gồm

cả các dự án có vốn ODA được hợp thức hoá bằng các hiệp định vay vốn nhưng chưa giải ngân và các khoản có thể cam kết mới trong thời gian tới

* Về thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài

* Dự kiến vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được thực hiện trong 5 năm tới khoảng

9-10 tỷ USD,bao gồm vốn các dự án đã được cấp giấy phép chưa được thực hiện của năm trước

* Ngoài ra còn có khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài khoảng 1-2 tỷ USD thông qua phát hành trái phiếu,cổ phiếu ra nước ngoài,mở thị trường chứng khoán và tìm thêm các nguồn vay khác để đầu tư trung và dài hạn

Những kết quả khả quan

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ và sự nỗ lực vươn lên của nhân dân, trong những năm qua, công tác giải quyết việc làm và phát triển thị trường lao động đã thu được nhiều kết quả khả quan

Các cơ chế, chính sách về lao động - việc làm được kịp thời đánh giá, bổ sung và sửa đổi bảo đảm ngày càng thông thoáng, phù hợp với cơ chế thị trường và hội nhập, đảm bảo quyền và lợi ích của người lao động, người sử dụng lao động và tuân thủ các quy luật kinh tế thị trường Hệ thống các văn bản quản lý nhà nước về lao động - việc làm ngày

Trang 8

càng hoàn thiện, nhiều Luật mới ra đời và đi vào cuộc sống như Bộ luật Lao động, Luật Dạy nghề, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, nhiều văn bản hướng dẫn được ban hành nhằm từng bước hoàn thiện thể chế, tạo hành lang pháp lý cho các hoạt động trong lĩnh vực lao động - việc làm Nhằm hạn chế những tác động tiêu cực của thị trường, Nhà nước đã thực hiện vai trò "bà đỡ" thông qua việc ban hành các chính sách cho nhóm lao động yếu thế, như các chế độ

ưu đãi đối với lao động là người tàn tật, các cơ sở sản xuất kinh doanh của người tàn tật, lao động là người dân tộc thiểu số, chính sách về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp,

hỗ trợ lao động dôi dư góp phần hỗ trợ người lao động tạo việc làm, nhanh chóng ổn định cuộc sống

Thực hiện chủ trương của Đảng về đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường đầu tư đã tạo động lực to lớn, đưa nền kinh tế nước ta ngày càng ổn định và phát triển, tốc độ tăng trưởng kinh tế được duy trì liên tục ở mức cao (từ 7% - 7,5%/năm), hằng năm vốn đầu tư chiếm trên 35% GDP, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế phát triển mạnh (tính đến cuối năm 2006, tổng số doanh nghiệp đăng ký hoạt động là 234.000 doanh nghiệp), cùng với đó là các Chương trình phát triển nông nghiệp, nông thôn; Chương trình phát triển công nghiệp, dịch vụ; các chương trình, dự án trọng điểm kinh tế

- xã hội của Nhà nước; Chương trình xây dựng và phát triển các khu chế xuất, khu công nghiệp tập trung, khu công nghệ cao được thực hiện góp phần giải phóng sức sản xuất, giải phóng sức lao động, tạo môi trường lành mạnh để nhân dân đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, tạo và tự tạo việc làm Qua đó, hằng năm đã giải quyết việc làm cho từ 1,1-1,2 triệu lao động, tận dụng tối đa nguồn nhân lực cho phát triển đất nước, từng bước nâng cao và cải thiện đời sống của nhân dân

Vai trò của Nhà nước chuyển từ tạo việc làm trực tiếp sang gián tiếp thông qua các chính sách, nguồn lực hỗ trợ, đặc biệt thông qua Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm Trong những năm qua, Chương trình đã có sự lồng ghép hiệu quả với các Chương trình phát triển kinh tế - xã hội khác, thực hiện các dự án về tín dụng việc làm với lãi suất ưu đãi từ Quỹ quốc gia về việc làm góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, gắn dạy nghề với tạo việc làm, thúc đẩy thị trường lao động phát triển, tạo và tự tạo việc làm cho từ 300 - 350 nghìn lao động/năm Đồng thời, qua việc thực hiện Chương trình đã góp phần nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành, của người dân và của xã hội về giải quyết việc làm; người lao động ngày càng chủ động, năng động tự tạo việc làm cho mình và cho người khác, không thụ động, trông chờ ỷ lại vào sự

hỗ trợ trực tiếp từ Nhà nước Bên cạnh đó, với mong muốn hợp tác với tất cả các nước trên tinh thần hòa bình, hữu nghị, hợp tác, bình đẳng và cùng có lợi, chúng ta đã và đang thực hiện tốt hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, coi đây là một trong những kênh quan trọng để giải quyết việc làm (từ 70 - 80 nghìn lao động/năm), xóa đói, giảm nghèo cho người dân, đem lại cơ hội lớn trong việc tiếp thu khoa học - kỹ thuật tiên tiến của nước ngoài

Thị trường lao động Việt Nam đã hình thành và phát triển, với dân số đông (trên 84 triệu người) và quy mô lao động lớn (45,6 triệu lao động năm 2006), hằng năm, lực lượng lao động được bổ sung trên 1 triệu người, đem lại lợi thế cho Việt Nam về nguồn nhân công dồi dào, giá nhân công tương đối rẻ so với các nước trong khu vực và trên thế giới Mặt khác, lao động trẻ chiếm tỷ trọng lớn trong lực lượng lao động (chiếm 45,6%), đây thực sự là nguồn lao động tiềm năng lớn cho Việt Nam trong việc phát huy nội lực của đất nước để phát triển

Trang 9

Đảng ta xác định đầu tư cho giáo dục - đào tạo, trong đó có cả dạy nghề là đầu tư cho tương lai, "đầu tư cho phát triển", từ đó, Đảng và Nhà nước đã kêu gọi các cấp, các ngành, toàn xã hội đẩy mạnh phát triển giáo dục - đào tạo, góp phần trực tiếp nâng cao chất lượng lao động So với các nước trên thế giới có cùng mức phát triển tương đối cao, trình độ học vấn của lao động Việt Nam tương đối cao (đến năm 2006 tỷ lệ lao động chưa biết chữ chỉ chiếm 3,5% trong khi tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông là 23,5%; tỷ lệ lao động qua đào tạo là trên 31,5%, tỷ lệ đào tạo nghề khoảng 20%) Lao động Việt Nam có tinh thần ham học hỏi, cầu tiến, không ngừng tiếp thu khoa học - kỹ thuật sản xuất và quản lý hiện đại, nếu phát huy tốt những thế mạnh này của lao động Việt Nam sẽ là động lực quan trọng phát triển đất nước bền vững theo con đường xã hội chủ nghĩa

Thực hiện chủ trương của Đảng về phát triển thị trường lao động, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách tạo thuận lợi phát triển các hoạt động giao dịch trên thị trường Đến nay đã có 150 trung tâm giới thiệu việc làm và hàng nghìn doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tư vấn, giới thiệu việc làm và cung ứng lao động, hằng năm, tư vấn, giới thiệu việc làm cho hàng triệu lượt người Các hội chợ việc làm, phiên chợ việc làm, tháng việc làm, điểm hẹn việc làm, sàn giao dịch việc làm được tổ chức thường xuyên, tích cực gắn kết người lao động và người sử dụng lao động; đã đưa thông tin đến tận người lao động ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa, tạo cơ hội cho người lao động có khả năng tìm việc làm và có việc làm phù hợp với khả năng, nguyện vọng của bản thân

Còn nhiều vấn đề bức xúc, hạn chế cần nhanh chóng khắc phục

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, vấn đề lao động - việc làm vẫn là một vấn đề bức xúc, còn nhiều hạn chế cần khắc phục Các văn bản, chính sách về lao động - việc làm ra đời nhưng việc ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện chưa đầy đủ, chưa thực

sự theo sát thực tiễn, hiệu quả triển khai thực hiện chính sách còn chậm, lúng túng và thấp Công tác thanh tra, kiểm tra thực hiện chính sách chưa được thường xuyên, việc xử

lý vi phạm chưa thực sự nghiêm minh, ảnh hưởng không tốt đến việc giải quyết việc làm

và phát triển thị trường lao động

Chất lượng việc làm chưa cao, tính ổn định, bền vững trong việc làm thấp, hiệu quả tạo việc làm còn thấp; nhu cầu có việc làm vẫn là vấn đề bức xúc của xã hội; chuyển dịch cơ cấu lao động chậm, lao động chủ yếu làm việc trong nông nghiệp (54,7%), lao động ở khu vực nông thôn chiếm chủ yếu (75%) gây sức ép lớn về giải quyết việc làm Với tốc độ này thì để đạt mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam cơ bản là nước công nghiệp theo hướng hiện đại như định hướng Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 đòi hỏi phải có sự nỗ lực rất lớn của tất cả các cấp, các ngành

Thị trường lao động Việt Nam đã bước đầu hình thành và phát triển nhưng tập trung chủ yếu ở các tỉnh, thành phố lớn có nhiều các khu công nghiệp, khu chế xuất, ở 3 vùng kinh tế trọng điểm, ở các tỉnh khác mức độ còn sơ khai Lao động phân bố không đồng đều, chủ yếu ở nông thôn và đồng bằng, ở miền núi thưa thớt Di chuyển lao động diễn ra mạnh, chủ yếu theo hướng từ Bắc vào Nam và từ nông thôn ra thành thị, nơi thị trường lao động sôi động Hệ thống thông tin thị trường lao động chưa hoàn thiện, hệ thống giao dịch việc làm chưa mạnh, chủ yếu vẫn là hình thức trực tiếp giữa người lao động và người sử dụng lao động (chiếm trên 80% tổng số giao dịch) Các chính sách về tiền lương, tiền công nói chung chưa phản ánh được giá trị theo quy luật của thị trường,

Trang 10

chưa khuyến khích người lao động phát huy hết khả năng và chưa thực hiện được chức năng "kích cầu" để sản xuất phát triển

Nhìn chung, trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động Việt Nam vẫn còn yếu

về chất lượng, thiếu về số lượng, gần 70% lao động chưa qua đào tạo, một bộ phận lao động đã qua đào tạo hoặc được sử dụng không đúng ngành nghề đào tạo, hoặc phải đào tạo lại mới có thể làm việc trong các doanh nghiệp, thiếu nghiêm trọng lao động kỹ thuật trình độ cao, lao động dịch vụ cao cấp (tài chính, ngân hàng, ) Mặt khác, hầu hết người lao động của nước ta hiện nay còn mang thói quen, tập quán sản xuất nhỏ, thiếu năng động và sáng tạo, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp kém; kiến thức và kỹ năng làm việc theo nhóm hạn chế, ngại phát huy sáng kiến và chia sẻ kinh nghiệm làm việc Do đó, nguy cơ mất sức cạnh tranh trên thị trường là rất lớn khi tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế

Qua thực tiễn phát triển thị trường lao động và giải quyết việc làm ở Việt Nam trong thời gian qua có thể rút ra bài học kinh nghiệm Để đạt hiệu quả cao cần thực hiện tốt các chủ trương, đường lối của Đảng và phải căn cứ tình hình thực tiễn của từng địa phương Việc nâng cao nhận thức, năng lực, trách nhiệm các cấp ủy, chính quyền và người dân có ý nghĩa quyết định, đồng thời khuyến khích sự năng động và chủ động tự tạo việc làm cho bản thân và cho người khác, không thụ động, trông chờ vào Nhà nước Đối với người sử dụng lao động khuyến khích đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, tạo nhiều việc làm Nhà nước tập trung ban hành luật pháp, cơ chế, chính sách, hướng dẫn thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, từng bước thiết lập thể chế thị trường lao động phù hợp với nền kinh tế thị trường, đồng thời thực hiện trợ giúp giải quyết việc làm, làm tốt vai trò "bà đỡ" đối với các đối tượng lao động đặc thù (lao động là người tàn tật, lao động là người dân tộc, lao động nữ ) nhằm khắc phục những tác động tiêu cực của thị trường

Ngày nay, toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đang đẩy nhanh, cách mạng khoa học và công nghệ phát triển mạnh mẽ theo chiều sâu, hợp tác và phát triển là xu hướng chủ đạo trên thế giới, tác động mạnh mẽ đến sự phát triển và mở ra nhiều triển vọng cho mỗi quốc gia Hòa theo xu thế chung của thời đại, Việt Nam đã gia nhập và chính thức là thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) Hội nhập kinh

tế quốc tế, Việt Nam được đối xử bình đẳng trên sân chơi chung của khu vực và thế giới,

vị thế của chúng ta được nâng cao trên trường quốc tế Những cơ hội to lớn từ đầu tư nước ngoài sẽ đem lại nhiều cơ hội việc làm cho người lao động, chủ yếu từ khu vực công nghiệp và dịch vụ; thị trường lao động ngoài nước được mở rộng; lao động Việt Nam có cơ hội tham gia tích cực vào quá trình phân công lao động quốc tế, tiếp cận với khoa học - kỹ thuật tiên tiến, đồng thời luôn không ngừng học hỏi, nâng cao trình độ để vươn lên, tự nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

Tuy nhiên, hiện nay chúng ta phải đối mặt với những thách thức to lớn: cạnh tranh diễn ra ngày càng gay gắt hơn từ cấp độ sản phẩm, doanh nghiệp đến toàn nền kinh

tế, từ bình diện trong nước đến ngoài nước; một bộ phận doanh nghiệp không thích nghi kịp có nguy cơ phá sản, người lao động có nguy cơ thất nghiệp, thiếu việc làm, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp; chất lượng nguồn nhân lực nước ta chưa đáp ứng yêu cầu, gây trở ngại trong quá trình hội nhập; di chuyển lao động tự phát từ nông thôn ra thành thị, vào các khu công nghiệp tập trung và di chuyển ra ngoài nước kéo theo nhiều vấn đề

xã hội nhạy cảm như nạn "chảy máu chất xám", tình trạng buôn bán phụ nữ và trẻ em qua biên giới

Ngày đăng: 19/11/2018, 17:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w