Do vậy, có thể hiểu thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là quyền mà pháp luật quy định cho phép Tòa án được xét xử sơ thẩm vụ án hình sự căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của
Trang 1MỤC LỤC
Trang
1.Khái quát chung về thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án. 3 1.1.Khái niệm thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án 3 1.2.Các căn cứ để quy định thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án 3 1.3.Phân định các loại thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án 4
2.Thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án theo pháp luật. 4
3 Một số nhận xét về thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. 9 3.1 Những điểm hợp lý trong quy định của Bộ luật TTHS 2003 9 3.2 Một số điểm hạn chế trong quy định của pháp luật 12
4 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về vấn đề thẩm
quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
15
Trang 2
Đề bài: Thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự và việc hoàn thiện quy định của pháp luật về vấn đề này
BẢNG TỪ VIẾT TẮT
TAND Tòa án nhân dân ; VAHS Vụ án hình sự ; VKS Viện kiểm sát ; CQĐT Cơ quan điều tra ; TAQS Tòa án quân sự ; TTHS Tố tụng hình sự ; BLHS Bộ luật hình sự ;
Trang 3
Tòa án là cơ quan duy nhất có chức năng xét xử mà xét xử là hoạt động phản ánh trực tiếp và sâu sắc nhất bản chất của nhà nước, trong đó xét xử sơ thẩm là giai đoạn xét xử vụ
án ở cấp xét xử thứ nhất, có ý nghĩa quan trọng trong cả quá trình xét xử, giải quyết vụ án hình sự sau này Sai lầm của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án cũng chính là sai lầm của nhà nước do vậy, việc xác định đúng đắn thẩm quyền xét xử sơ thẩm không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa đối to lớn với thực tiễn đời sống chính trị xã hội, nhất là khi nước ta đang từng bước hoàn thiện pháp luật để hội nhập với thế giới Xuất
phát từ điều này, bài luận sau xin được phép trình bày một số vấn đề về “Thẩm quyền xét
xử sơ thẩm vụ án hình sự và việc hoàn thiện quy định của pháp luật về vấn đề này.”
1 Khái quát chung về thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án 1.1 Khái niệm thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án.
Hầu hết các luật gia và nhà khoa học đều có quan điểm thống nhất khi cho rằng thẩm quyền xét xử của Tòa án là một thể thống nhất, gồm hai yếu tố có liên quan chặt chẽ với nhau là thẩm quyền về hình thức và thẩm quyền về nội dung Trong đó thẩm quyền về hình thức được thể hiện ở quyền hạn xem xét, phạm vi xem xét; thẩm quyền về nội dung thể hiện ở quyền hạn giải quyết, quyết định của Tòa án với những vấn đề được xem xét Thẩm quyền xét xử sơ thẩm VAHS mà bài luận này trình bày chỉ là một nội dung của thẩm quyền mà pháp luật quy định cho Tòa án là thẩm quyền về hình thức mà không bao gồm việc Tòa án được xét xử trong giới hạn nào, được đưa ra quyết định nào trong giai đoạn xét xử (thẩm quyền về nội dung)
Để xác định được thẩm quyền xét xử của Tòa án trong một vụ án cụ thể thì phải xác định đồng thời cả 3 nhóm dấu hiệu là nhóm dấu hiệu thể hiện tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm hoặc vụ án; nhóm dấu hiệu liên quan đến người phạm tội và nhóm dấu
hiệu về không gian nơi thực hiện hành vi phạm tội Do vậy, có thể hiểu thẩm quyền xét xử
sơ thẩm vụ án hình sự là quyền mà pháp luật quy định cho phép Tòa án được xét xử sơ thẩm vụ án hình sự căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; đối tượng phạm tội; nơi thực hiện tội phạm hoặc nơi khác theo quy định của pháp luật.
1.2 Các căn cứ để quy định thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của tòa án.
Để các quy định pháp luật không trở thành luật chết, có thể đi vào thực tiễn phát huy vai trò của mình thì các nhà làm luật khi ban hành ra chúng cần phải dựa trên những cơ sở
lý luận, thực tiễn, khoa học hợp lý và các quy định về thẩm quyền xét xử sơ thẩm VAHS của Tòa án cũng không phải là ngoại lệ mà cần phải dựa vào các căn cứ sau:
Trang 4Đường lối, chính sách của Đảng, bản chất của nhà nước ta là của dân, do dân, vì dân
Đảng chính là đại diện cho ý chí, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân Do vậy pháp luật phải là sự thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng, thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân và chỉ có như vậy các quy định của pháp luật có thể thực hiện được trong thực tế vì phù hợp ý chí, lợi ích của đại đa số nhân dân Chính vì vậy các quy định về thẩm quyền xét xử sơ thẩm VAHS của Tòa án phải luôn phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng ở mỗi giai đoạn, thời kì phát triển của đất nước
Các nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự, xét xử sơ thẩm là một chế định của
ngành luật tố tụng hình sự trong đó có các quy định về thẩm quyền xét xử sơ thẩm vì vậy khi xây dựng các quy định này cần đảm bảo sự phù hợp, thống nhất với các nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự như nguyên tắc hai cấp xét xử; bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, tạm giam, bị can, bị cáo;
Tính nghiêm trọng, phức tạp của tội phạm, mục đích cuối cùng của việc phân định
thẩm quyền xét xử sơ thẩm chính là giải quyết nhanh chóng, chính xác VAHS do vậy khi quy định thẩm quyền xét xử cần phải căn cứ vào tính nghiêm trọng, phức tạp của tội phạm
để có thể phân định thẩm quyền phù hợp với trình độ chuyên môn của các cấp Tòa án Ngoài ra việc quy định thẩm quyền xét xử sơ thẩm VAHS của Tòa án còn phải dựa vào các căn cứ khác như mối liên hệ giữa thẩm quyền của Tòa án với các chế định khác như CQĐT, VKS ; trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của thẩm phán, điều tra viên, kiểm sát viên; căn cứ vào tình hình tội phạm và yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm;
1.3 Phân định các loại thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của tòa án.
Việc phân định thẩm quyền xét xử sơ thẩm về hình sự của Tòa án các nước trên thế giới là khác nhau phụ thuộc vào nhiều yếu tố như cách thức tổ chức bộ máy nhà nước; truyền thống pháp lý; điều kiện kinh tế xã hội nhưng nhìn chung các nước đều sử dụng các tiêu chí tương đối thống nhất đó là:
Phân định thẩm quyền xét xử theo sự việc Đây là sự phân định thẩm quyền giữa Tòa
án cấp trên và Tòa án cấp dưới dựa vào tính chất nghiêm trọng, phức tạp của tội phạm
Phân định thẩm quyền theo lãnh thổ Đây là sự phân định thẩm quyền giữa các Tòa án
cùng cấp dựa vào địa điểm, không gian thực hiện tội phạm, thực hiện hành vi tố tụng
Phân định thẩm quyền dựa vào đối tượng Đây là sự phân định thẩm quyền giữa
TAND với TAQS dựa vào đặc điểm nhân thân của người phạm tội
2 Thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của tòa án theo pháp luật hiện hành.
Theo từng giai đoạn lịch sử thì thẩm quyền xét xử sơ thẩm VAHS của Tòa án lại được quy định khác nhau, có những thay đổi cần thiết nhằm phù hợp hơn với tình hình kinh tế,
Trang 5chính trị, xã hội của đất nước Quy định về thẩm quyền xét xử sơ thẩm VAHS của Tòa án trong Bộ luật TTHS 2003 chính là sự kế thừa, phát triển Bộ luật TTHS 1988 và các thời kì pháp lý trước đó
Theo quy định của Bộ luật TTHS 2003 thì thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án được phân định theo sự việc, đối tượng và lãnh thổ:
2.1 Thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo sự việc.
Ở nước ta các Tòa án được tổ chức theo đơn vị hành chính lãnh thổ thành 3 cấp là Tòa
án cấp huyện (bao gồm TAND cấp huyện-quận-thị xã-thành phố trực thuộc tỉnh và TAQS khu vực); Tòa án cấp tỉnh (bao gồm gồm TAND cấp tỉnh-thành phố trực thuộc trung ương
và TAQS quân khu) và TAND tối cao (TAQS trung ương)
Thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo vụ việc là sự phân định thẩm quyền xét xử giữa các cấp tòa án theo tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm Do TAND tối cao không có thẩm quyền xét xử sơ thẩm nên việc phân định thẩm quyền theo vụ việc chỉ là sự phân định giữa Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp huyện
a Thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND cấp huyện và TAQS khu vực.
Tòa án cấp huyện là cấp thấp nhất trong hệ thống Tòa án nên việc xác định thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp huyện có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xác định thẩm quyền của Tòa án cấp tỉnh và TAND tối cao
Theo quy định tại k1 điều 170 Bộ luật TTHS 2003 thì TAND cấp huyện và TAQS khu
vực có thẩm quyền xét xử sơ thẩm VAHS về những tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng.
Căn cứ theo điều 8 BLHS thì có thể thấy TAND cấp huyện và TAQS khu vực có thẩm quyền xét xử sơ thẩm những VAHS mà mức cao nhất của khung hình phạt được áp dụng
là đến 15 năm tù Cũng theo tinh thần của Thông tư số 02/TTLN ngày 12/01/1989 hướng dẫn thi hành Bộ luật TTHS 1988, hiện nay khi áp dụng các quy định về thẩm quyền xét xử các Tòa án đều áp dụng theo hướng:
* Trong trường hợp điều luật về tội phạm cụ thể có nhiều khoản thì TAND cấp huyện
và Tòa án quân sự khu vực xét xử theo khoản thuộc thẩm quyền của mình
* Trong trường hợp đồng phạm hay một người thực hiện nhiều hành vi phạm tội thì TAND cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực được xét xử nếu tất cả các đồng phạm hay hành vi phạm tội của một người đều thuộc thẩm quyền xét xử của mình
* Trường hợp một người đang chấp hành hình phạt tù lại bị truy tố về tội thuộc thẩm quyền của TAND cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực thì tòa cũng có quyền xét xử, trừ trường hợp người đó đã bị tuyên phạt tử hình hoặc tù chung thân mà chưa được giảm thời
Trang 6hạn chấp hành hình phạt tù vì lúc này dù tòa có xét xử thì khi tổng hợp hình phạt cũng không có gì thay đổi
Tuy nhiên trước đây các TAND cấp huyện và TAQS khu vực đã thực hiện thẩm quyền xét xử một cách không đồng nhất, tùy theo việc đã hay chưa được giao thẩm quyền xét xử mới theo quy định tại k1 điều 170 Bộ luật TTHS Khi Bộ luật TTHS 2003 có hiệu lực thì
về nguyên tắc các quy định về thẩm quyền xét xử cũng cần được áp dụng ngay nhưng do trình độ chuyên môn của Tòa án, VKS, CQĐT của một số địa phương còn hạn chế nên Nghị quyết 24/2003/QH11 đã chỉ rõ những tòa nào có đủ điều kiện thực hiện thì sẽ được giao thẩm quyền mới, những tòa chưa được giao thẩm quyền mới thì chỉ xét xử sơ thẩm những VAHS về các tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng (theo thẩm quyền quy định trong
Bộ luật TTHS 1988) tức mức cao nhất của khung hình phạt được áp dụng là đến 7 năm tù Chậm nhất đến ngày 1/7/2009 thì tất cả các tòa đều phải thực hiện xét xử theo thẩm quyền mới và cho đến nay tất cả các Tòa án đều đã thực hiện xét xử theo thẩm quyền mới
K1 điều 170 Bộ luật TTHS cũng quy định các VAHS không thuộc thẩm quyền xét xử
sơ thẩm của TAND cấp huyện và TAQS khu vực, không kể đó tội ít nghiêm trọng hay nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng Đó là các tội:
* Các tội xâm phạm an ninh quốc gia.
* Các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh.
* Các tội quy định tại các điều 93, 95, 96, 172, 216, 217, 218, 219, 221, 222, 223,
224, 225, 226, 263, 294, 295, 296, 322, 323 của BLHS.
b Thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND cấp tỉnh và TAQS cấp quân khu.
Việc phân định thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp tỉnh theo pháp luật hiện hành so với
trước đây về cơ bản là không có gì khác biệt, theo quy định tại k2 điều 170 Bộ luật TTHS
2003 thì TAND cấp tỉnh và TAQS quân khu có thẩm quyền xét xử sơ thẩm:
* Những VAHS không thuộc thẩm quyền của TAND cấp huyện và TAQS khu vực.
Đó là các tội xâm phạm an ninh quốc gia; các tội phá hoại hòa bình, chống loài người, tội phạm chiến tranh và các tội quy định tại điều 93, 95, 96, 172, 216, 217, 218, 219, 221,
222, 223, 224, 225, 226, 263, 294, 295, 296, 322, 323 của BLHS;
* Những VAHS thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp dưới mà mình lấy lên để xét xử.
Hiện nay Bộ luật TTHS 2003 không quy định về các vụ án này nhưng theo tinh thần của Thông tư số 02/TTLN ngày 12/01/1989 hướng dẫn thi hành Bộ luật TTHS 1988 và thực tiễn công tác xét xử thì đây thường là những vụ án có ảnh hưởng lớn đến dư luận, tâm lý nhân dân, có tính phức tạp như khó xác định chứng cứ, khó đánh giá thống về tính chất vụ án, có liên quan đến nhiều cấp nhiều ngành , những vụ án mà bị cáo là thẩm
Trang 7phán, kiểm sát viên, cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở cấp huyện, người nước ngoài, người có uy tín trong các dân tộc ít người (già làng, trưởng bản) hay người có chức sắc tôn giáo
Ngoài ra TAND cấp tỉnh và TAQS quân khu còn có thẩm quyền xét xử sơ thẩm đối
với những vụ án được xét xử toàn bộ ở cấp trên theo nguyên tắc thu hút thẩm quyền quy định tại điều 173 Bộ luật TTHS 2003
Như vậy ta có thể thấy so với các văn bản pháp lý thời kì trước và Bộ luật TTHS 1988
thì thẩm quyền xét xử sơ thẩm VAHS theo sự việc trong Bộ luật TTHS 2003 đã được quy định theo hướng mở rộng thẩm quyền cho Tòa án cấp huyện
2.2 Thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo đối tượng.
Thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo đối tượng là sự phân định thẩm quyền giữa TAND
và TAQS căn cứ vào đối tượng phạm tội Bộ luật TTHS không quy định về thẩm quyền xét xử theo đối tượng và cơ sở pháp lý của sự phân định này chính là Pháp lệnh tổ chức Tòa án quân sự 2002 và thông tư số 01/2005/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BQP-BCA hướng dẫn về thẩm quyền xét xử của tòa án quân sự, theo đó:
a Thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự.
Theo quy định tại điều 3 Pháp lệnh tổ chức Tòa án quân sự 2002 và mục 1 thông tư số 01/2005/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BQP-BCA thì TAQS xét xử sơ thẩm những VAHS
mà người phạm tội thuộc 2 nhóm đối tượng sau:
* Người phạm tội là quân nhân và những người có nghề nghiệp hoặc nhiệm vụ quân
sự bao gồm: quân nhân tại ngũ; công chức quốc phòng; công nhân quốc phòng; quân nhân
dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện, diễn tập hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu; dân quân tự vệ trong thời gian phối hợp với quân đội trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu; những người được trưng tập làm nhiệm vụ quân sự do các đơn vị quân đội trực tiếp quản lý Những người này thuộc thẩm quyền xét xử của TAQS không phụ thuộc vào việc họ phạm tội gì, phạm tội ở đâu
Trong trường hợp những người không còn phục vụ trong quân đội mà phát hiện tội phạm của họ được thực hiện trong thời gian phục vụ trong quân đội hoặc những người đang phục vụ trong quân đội mà phát hiện tội phạm của họ được thực hiện trước khi vào quân đội thì TAQS xét xử những tội phạm có liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại cho quân đội; những tội phạm khác do TAND xét xử nhưng trước đó phải ra quyết định tước bỏ quân tịch của người phạm tội
* Những người phạm tội không phải là các đối tượng nêu trên nếu họ phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau:
Trang 8- Phạm tội liên quan đến bí mật quân sự Bí mật quân sự là bí mật của quân đội, bí mật về
an ninh quốc phòng được xác định là bí mật quân sự và được quy định trong các văn bản
do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành
- Phạm tội gây thiệt hại cho quân đội Là việc gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, danh
dự, nhân phẩm của quân nhân, người có nghề nghiệp, nhiệm vụ quân sự; gây thiệt hại đến tài sản của quân nhân, những người có nghề nghiệp nhiệm vụ quân sự được quân đội cấp phát để thực hiện nhiệm vụ quân sự; gây thiệt hại đến tài sản, danh dự uy tín của quân đội
- Trong cùng một vụ án vừa có người phạm tội hoặc tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của TAQS vừa có người phạm tội hoặc tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của TAND thì TAQS xét xử toàn bộ vụ án (trừ trường hợp tách vụ án)
Ngoài ra trong Pháp lệnh còn quy định sự phân định thẩm quyền giữa các cấp TAQS với nhau theo chức vụ của người phạm tội theo đó TAQS khu vực có thẩm quyền xét xử
sơ thẩm những VAHS mà bị cáo khi phạm tội hoặc khi bị khởi tố có quân hàm từ Trung tá trở xuống hoặc là người có chức vụ từ Trung Đoàn trưởng hoặc tương đương trở xuống, những bị cáo có chức vụ cao hơn sẽ thuộc thẩm quyền của TAQS cấp quân khu
b Thẩm quyền xét xử của TAND
TAND có thẩm quyền xét xử sơ thẩm những đối tượng không thuộc thẩm quyền xét
xử của TAQS
TAND xét xử những đối tượng không còn phục vụ trong quân đội mà phát hiện tội phạm của họ được thực hiện trong thời gian phục vụ quân đội hoặc những người đang phục
vụ trong quân đội mà phát hiện tội phạm của họ được thực hiện trước khi vào quân đội nếu những tội phạm đó không liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại cho quân đội
2.3 Thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo lãnh thổ.
Thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo lãnh thổ có liên quan đến quyền quản hạt của Tòa án
và là sự phân định thẩm quyền xét xử của các Tòa án căn cứ vào những dấu hiệu địa điểm nhất định như nơi thực hiện tội phạm, nơi kết thúc hoạt động điều tra
So với thẩm quyền xét xử theo sự việc và đối tượng thì thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ ít có sự thay đổi kể từ 1945 đến nay Theo quy định của Bộ luật TTHS 2003 thì:
Về nguyên tắc Tòa án nơi tội phạm được thực hiện sẽ có thẩm quyền xét xử sơ thẩm Nhưng theo Pháp lệnh tổ chức Tòa án quân sự 2002 thì TAQS của quân chủng-tổ chức tương đương có tổ chức TAQS sẽ có thẩm quyền xét xử sơ thẩm không phụ thuộc vào nơi thực hiện tội phạm nếu người phạm tội thuộc đơn vị của quân chủng-tổ chức tương đương hoặc tội phạm gây thiệt hại cho trực tiếp cho quân chủng-tổ chức tương đương
Trang 9Trong trường hợp tội phạm được thực hiện tại nhiều nơi khác nhau hoặc không xác định được nơi thực hiện tội phạm thì Tòa án nơi kết thúc việc điều tra sẽ có thẩm quyền xét xử sơ thẩm.(k1 điều 171 Bộ luật TTHS 2003) Trong trường hợp không xác định được nơi thực hiện tội phạm hoặc có nhiều TAQS khác nhau có thẩm quyền xét xử vụ án do vụ
án có nhiều bị can thuộc nhiều đơn vị khác nhau hoặc do tội phạm được thực hiện tại nhiều nơi thì VKS quân sự truy tố bị can trước TAQS nào thì TAQS đó có thẩm quyền Theo k2 điều 170 Bộ luật TTHS 2003 thì trường hợp bị cáo phạm tội ở nước ngoài nhưng được xét xử ở Việt Nam thì TAND cấp tỉnh nơi cư trú cuối cùng của bị cáo ở trong nước có thẩm quyền xét xử nếu không xác định được nơi cư trú thì Chánh án TAND tối cao ra quyết định giao cho TAND Thành phố Hà Nội hoặc TAND Thành phố Hồ Chí
Minh xét xử Nếu bị cáo thuộc thẩm quyền xét xử của TAQS thì do TAQS cấp quân khu trở lên xét xử theo quyết định của Chánh án TAQS trung ương.
Trong trường hợp tội phạm xảy ra trên tàu bay, tàu biển của Việt Nam đang hoạt động ngoài lãnh thổ Việt Nam (ngoài lãnh hải, không phận) thì Tòa án Việt Nam nơi có sân bay, bến cảng trở về đầu tiên hoặc nơi tàu bay, tàu biển đó đăng kí sẽ có thẩm quền xét xử
sơ thẩm
3 Một số nhận xét về thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
3.1 Những điểm hợp lý trong quy định của Bộ luật TTHS 2003.
a Quy định mở rộng thẩm quyền xét xử sơ thẩm VAHS cho TAND cấp huyện.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành TƯ Đảng khóa VII chủ trương “nghiên cứu tăng thẩm quyền xét xử sơ thẩm cho Tòa án nhân dân cấp huyện theo hướng việc xét
xử sơ thẩm được thực hiện chủ yếu ở cấp này” Thực hiện chủ trương này Bộ luật TTHS
2003 đã quy định thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo hướng mở rộng thẩm quyền cho Tòa án cấp huyện dựa trên những cơ sở nhất định tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho quá trình giải quyết nhanh chóng triệt để VAHS và bảo vệ lợi ích hợp pháp của công dân
Cụ thể điều 170 Bộ luật TTHS 2003 quy định: “ Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa
án quân sự khu vực xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về những tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, và tội phạm rất nghiêm trọng, trừ những tội sau đây ” Trong khi điều 145 Bộ luật TTHS 1988 quy định “Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực xét xử sơ thẩm những tội phạm mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù
từ bảy năm tù trở xuông, trừ những tội sau đây ”
Như vậy ta có thể thấy Bộ luật TTHS 2003 không chỉ quy định mở rộng thẩm quyền cho Tòa án cấp huyện mà cũng thay đổi căn cứ xác định, nếu như Bộ luật TTHS 1988 lấy mức hình phạt làm căn cứ (BLHS 1985 chia tội phạm thành 2 loại là tội phạm nghiêm
Trang 10trọng với mức cao nhất của khung hình phạt là trên năm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình và những tội phạm khác là tội phạm ít nghiêm trọng) thì Bộ luật TTHS 2003 đã lấy loại tội phạm làm căn cứ xác định, sự thay đổi này là hợp lý bởi mới chỉ ở giai đoạn xác định thẩm quyền thì chưa thể khẳng định được hình phạt sẽ áp dụng là bao nhiêu năm tù
do vậy rất dễ dẫn tới sai thẩm quyền
Qua hơn 8 năm Bộ luật THHS 2003 được áp dụng đã chứng minh quyết định này là đúng đắn phù hợp với điều kiện thực tế của đất nước Quyết định này đã góp phần:
* Nâng cao hiệu quả hoạt động của Tòa án các cấp.
Theo quy định tại k1 điều 170 Bộ luật TTHS 2003 thì số lượng các VAHS dồn về Tòa
án cấp huyện là rất lớn, khoảng 80% tội phạm quy định trong BLHS là thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án cấp huyện Quy định này đã góp phần giảm tỉ lệ án tồn đọng ở TAND cấp tỉnh, giảm tỉ lệ án bị kháng cáo, kháng nghị ở cả 2 cấp
Theo số liệu thống kê của TAND tối cao thì:
- Trước khi thay đổi thẩm quyền, từ 1997 đến 2002 trung bình mỗi năm TAND cấp huyện xét xử sơ thẩm khoảng 28.730 vụ, trong đó bị kháng cáo, kháng nghị là 24,36 % Còn TAND cấp tỉnh thụ lý sơ thẩm 21.585 vụ, bị kháng cáo kháng nghị 35,3%; xét xử phúc thẩm đạt 92,5% Như vậy, ta có thể thấy số lượng các VAHS được xét xử sơ thẩm ở TAND cấp tỉnh là ít hơn ở TAND cấp huyện nhưng tỉ lệ bị kháng cáo, kháng nghị lại cao hơn (24,6% < 35.3%)
- Tính đến năm 2007 thì đã có 486 TAND cấp huyện và 17 TAQS cấp khu vực được giao thẩm quyền mới Nếu như trước khi được giao thẩm quyền mới trung bình mỗi năm 486 TAND cấp huyện này thụ lý khoảng 30.403 vụ án với 47.459 bị cáo trong đó giải quyết được 29.634 vụ với 46.251 vụ đạt tỉ lệ 97,4% số vụ án và bị cáo Sau khi thực hiện theo thẩm quyền xét xử mới, trung bình mỗi năm các Tòa án này thụ lý 33.387 vụ án với 57 139 bị cáo, giải quyết được 31.790 vụ với 51.430 bị cáo, đạt tỉ lệ 95% số vụ án và 90% số bị cáo
Tính từ khi được giao thực hiện thẩm quyền mới đến 31/12/2007, các Tòa án này đã thụ lý 71.618 VAHS với 112.203 bị cáo (số vụ án thụ lý theo thẩm quyền mới là 16.057
vụ với 25.212 bị cáo), giải quyết được 69.706 vụ án với 107.314 bị cáo (số vụ án giải quyết theo thẩm quyền mới là 14.932 vụ với 23.034 bị cáo)
Nhìn chung, kể từ khi được giao thẩm quyền mới số lượng các VAHS thuộc thẩm quyền mới mà các Tòa án được tăng thẩm quyền đã tiếp nhận đã tăng bình quân khoảng
30 vụ/ năm/ Tòa án Một số ít đơn vị có số lượng án mới tăng trên 100 vụ/ năm tập trung