Khoản 1 Điều 77 Luật doanh nghiệp 2005 quy định: “Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó: a Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; b Cổ đông có thể là tổ chứ
Trang 1MỞ ĐẦU
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải có một lượng vốn nhất định tùy thuộc vào quy mô, lĩnh vực mà doanh nghiệp đó hoạt động Lượng vốn này bao gồm vốn cố định, vốn lưu động và các nguồn vốn chuyên dụng khác Nhiệm vụ của các doanh nghiệp là phải huy động và sử dụng vốn sao cho có hiệu quả nhất trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc quản lý tài chính và chấp hành pháp luật của Nhà nước
Có thể nói rằng vốn là yếu tố quan trọng và quyết định tới sự tồn tại của doanh nghiệp
do đó vấn đề “Tìm hiểu pháp luật về huy động vốn của công ty cổ phần” là một vấn
đề cần được quan tâm
NỘI DUNG
I Khái quát về công ty cổ phần và một số vấn đề về huy động vốn trong công ty
cổ phần.
1 Khái quát về công ty cổ phần (CTCP).
Với tính chất như một hiện tượng kinh tế-xã hội, công ty cổ phần nói riêng cũng như các loại hình công ty nói riêng đã trở thành một thực thể pháp lý Trong khoa học pháp lý, hệ thống pháp lý của các quốc gia khác nhau lại có các định nghĩa khác nhau
về CTCP Pháp luật hiện hành của Việt nam không đưa ra định nghĩa cụ thể về CTCP
mà chỉ đưa ra những dấu hiệu để nhận biết nó Khoản 1 Điều 77 Luật doanh nghiệp
2005 quy định: “Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó: a) Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;
b) Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa;
c) Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;
d) Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 81 và khoản 5 Điều 84 của Luật này”.
2 Khái niệm về vốn và cấu trúc vốn của công ty cổ phần.
Vốn của doanh nghiệp nói chung là giá trị được tính bằng tiền của những tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc sử dụng hợp pháp của doanh nghiệp, được doanh nghiệp sử dụng trong kinh doanh Có thể nói vốn là nhân tố cơ bản không thể thiếu của tất cả các doanh nghiệp Cũng như các chủ thể kinh doanh khác để tiến hành các hoạt động kinh doanh, CTCP phải có vốn Là loại hình công ty đối vốn điển hình nên vấn đề vốn của công ty cổ phần là vấn đề hết sức phức tạp Vốn của CTCP có thể được tiếp cận dưới nhiều góc độ, dựa trên những tiêu chí khác nhau Căn cứ vào nguồn gốc hình thành vốn, vốn của CTCP được chia thành: Vốn chủ sở hữu (vốn tự có) và vốn tín dụng (vốn vay)
Vốn chủ sở hữu: là nguồn vốn thuộc sở hữu của công ty, được hình thành từ nguồn
đóng góp của cổ đông và vốn do công ty cổ phần tự bổ sung từ lợi nhuận của công ty
Trang 2Vốn tín dụng: là nguồn vốn hình thành từ việc đi vay dưới các hình thức khác nhau:
vay ngân hàng, vay của các tổ chức, cá nhân khác hoặc bằng cách phát hành trái phiếu
Điều quan trọng là công ty cổ phần phải có một tỉ lệ vốn vay trên vốn cổ phần hợp lý
để phản ánh thế mạnh tài chính của công ty, vừa tạo niềm tin cho các đối tác của mình
II Huy động vốn trong công ty cổ phần.
Các chủ thể kinh doanh thường muốn có nguồn vốn lớn để mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh Công ty thường có hai cách để huy động vốn: tăng vốn chủ sở hữu và tăng vốn vay
Theo Luật doanh nghiệp (LDN) 2005: Doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh
“không được quyền phát hành bất kì loại chứng khoán nào” (khoản 3 Điều 130 và khoản 2 Điều 141) Khả năng huy động vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn có nhiều thuận lợi hơn nhưng cũng “không được phát hành cổ phần” (khoản 3 Điều 38) Công
ty cổ phần khẳng định sự lý tưởng hơn trong mô hình kinh doanh của mình bằng quyền phát hành chứng khoán được quy định trong khoản 3 Điều 77 Luật doanh
nghiệp 2005: “Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn” Trong các loại chứng khoán ấy, cổ phiếu là công cụ riêng của công ty cổ
phần, nó đem đến ưu thế rất lớn cho công ty cổ phần nhờ khả năng thu hút vốn dễ dàng: có thể huy động được một nguồn vốn lớn do mở rộng đối tượng huy động; có thể giảm chi phí huy động vốn do tiếp cận trực tiếp với người đầu tư;
Cấu trúc vốn của công ty cổ phần rất linh hoạt, đáp ứng được nhu cầu đa dạng của người đầu tư Phần vốn của cổ đông có thể tự do chuyển nhượng thông qua việc chuyển quyền sở hữu cổ phần (trừ một số trường hợp do pháp luật quy định) mà biểu hiện hình thức là chuyển nhượng cổ phiếu Tính chuyển nhượng cổ phiếu mang lại cho nền kinh tế sự vận động nhanh chóng của vốn đầu tư mà lại không phá vỡ tính ổn định của tài sản công ty Việc chuyển vốn dưới hình thức này rất dễ dàng và thuận lợi thông qua thị trường chứng khoán
Mặt khác, cổ phần có mệnh giá nhỏ kết hợp với tính thanh khoản và chuyển nhượng
đã khuyến khích mọi tầng lớp dân chúng đầu tư
Những đặc điểm cơ bản đó đã góp phần đưa công ty cổ phần trở thành một hình thức
tổ chức kinh doanh có khả năng huy động một số lượng vốn lớn ngầm chảy trong các tầng lớp dân cư, khả năng tích tụ và tập trung vốn với quy mô khổng lồ, có thể coi là lớn nhất trong các loại hình doanh nghiệp hiện nay
III Một số hình thức huy động vốn của công ty cổ phần.
1 Phát hành cổ phiếu (Vốn chủ sở hữu hay vốn tự có):
Khái niệm.
Trong quá trình hoạt động, CTCP có thể phát hành thêm cổ phiếu mà thực chất là việc chào bán thêm cổ phần cho nhà đầu tư để làm tăng nguồn vốn chủ sở hữu đáp ứng yêu cầu về vốn cho công ty Đây là một trong những đặc trưng riêng có của CTCP trong huy động vốn từ công chúng Ngoài ra đây cũng là một kênh huy động vốn khá
ổn định vì khi huy động vốn qua phát hành cổ phiếu, công ty không bị ràng buộc bởi
Trang 3trách nhiệm hoàn trả các cổ đông nguồn vốn mà họ góp như khi phát hành trái phiếu doanh nghiệp
Cổ phiếu:
Cổ phiếu là một loại chứng khoán do công ty cổ phần phát hành chứng nhận việc góp vốn vào công ty của các cổ đông Cổ phiếu chính là bằng chứng chứng minh quyền sở hữu cổ phần của cổ đông công ty
Khoản 1 Điều 85 Luật doanh nghiệp 2005 quy định:
“Cổ phiếu là chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành hoặc bút toán ghi sổ xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó Cổ phiếu có thể ghi tên hoặc không ghi tên”
Phát hành cổ phiếu.
Phát hành cổ phiếu là việc chào bán cổ phần của công ty cổ phần cho người đầu tư nhằm đáp ứng yêu cầu về vốn của công ty Kết quả của việc chào bán cổ phần sẽ đảm bảo huy động vốn điều lệ trong quá trình thành lập công ty hoặc sẽ làm tăng vốn điều
lệ của công ty trong trường hợp công ty đang hoạt động
Việc phát hành cổ phiếu có thể ảnh hưởng đến quyền lợi của các cổ đông hiện có trong công ty hay có thể dẫn đến thay đổi vị thế của từng cổ đông Do vậy, việc quyết định loại cổ phần, tổng số cổ phần của từng loại được chào bán sẽ do Đại hội đồng cổ đông quyết định còn Hội đồng quản trị quyết định thời điểm, phương thức và giá chào bán cổ phần trong số cổ phần được quyền chào bán
Về giá chào bán cổ phần, Luật doanh nghiệp 2005 quy định rất chặt chẽ, đảm bảo
quyền lợi cho đa số cổ đông Ngoài quy định về “giá không được thấp hơn giá thị trương tại thời điểm chào bán” như tại luật doanh nghiệp 1999, Luật doanh nghiệp
2005 còn bổ sung “hoặc giá trị được ghi trong sổ sách của cổ phần tại thời điểm gần nhất” và ngoại trừ các trường hợp sau:
- Cổ phần chào bán lần đầu tiên cho những người không phải là cổ
đông sáng lập;
- Cổ phần chào bán cho tất cả các cổ đông theo tỉ lệ cổ phần hiện có của
họ ở công ty;
- Cổ phần chào bán cho người môi giới hoặc người bảo lãnh Trong
trường hợp này, số chiết khấu hoặc tỉ lệ chiết khấu cụ thể phải được sự chấp thuận của
số cổ đông đại diện cho ít nhất 75% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết;
Điều lệ công ty có thể quy định thêm các trường hợp khác và mức chiết khấu trong các trường hợp đó
Giá thị trường của cổ phần là giá giao dịch trên thị trường chứng khoán hoặc giá do một tổ chức định giá chuyên nghiệp xác định Trên thực tế ở nước ta hiện nay, đa số công chúng đều chưa hiểu hết về việc bán đấu giá qua thị trường chứng khoán Do đó,
để thu hút đầu tư, các công ty cổ phần đã kinh doanh hiệu quả và ổn định nên áp dụng phương pháp bán theo giá cố định Giá cố định là giá bình quân gia quyền được xác định từ kết quả bán đấu giá Bán theo giá này vẫn đảm bảo được nguyên tắc bán cổ phần theo giá thị trường và không hề có ưu đãi cho các nhà đầu tư
Trang 4Người mua cổ phần trở thành cổ đông của công ty kể từ thời điểm cổ phần được thanh toán đủ và những thông tin về người mua được ghi đúng, ghi đủ vào sổ đăng kí cổ đông Sau khi cổ phần được bán, công ty phải phát hành và trao cổ phiếu cho người mua Pháp luật ràng buộc trách nhiệm của những người quản lí công ty khi có sai sót trong nội dung và hình thức cổ phiếu nhằm bảo vệ tối đa lợi ích của người sở hữu cổ
phiếu đó: “Trường hợp có sai sót trong nội dung và hình thức cổ phiếu do công ty phát hành thì quyền và lợi ích của người sở hữu nó không bị ảnh hưởng Chủ tịch hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty phải liên đới chịu trách nhiệm về thiệt hại do những sai sót gây ra đối với công ty” (khoản 2 Điều 85 Luật
doanh nghiệp 2005) Công ty có thể bán cổ phần mà không trao cổ phiếu Trường hợp này các thông tin về cổ đông được ghi vào sổ đăng kí cổ đông là đủ để chứng thực quyền sở hữu cổ phần của cổ đông
“Cổ phần, trái phiếu của công ty cổ phần có thể được mua bằng tiền Việt nam, ngoại
tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kĩ thuật, các tài sản khác quy định tại Điều lệ công ty và phải được thanh toán đủ một lần” (Theo điều 89 Luật doanh nghiệp 2005).
Quy định của pháp luật về phát hành cổ phiếu:
Phát hành cổ phiếu có thể diễn ra nhiều lần Có thể chia thành các trường hợp: phát hành cổ phiếu lần đầu để huy động vốn thành lập công ty và phát hành cổ phiếu trong quá trình hoạt động của công ty
- Phát hành cổ phiếu lần đầu tiên khi thành lập công ty:
Khi thành lập, công ty cổ phần phải huy động vốn góp của các cổ đông Pháp luật quy định các cổ đông sáng lập phải cùng nhau đăng kí mua ít nhất 20% tổng số cổ phần phổ thông được quyền chào bán Trong trường hợp các cổ đông sáng lập không đăng
kí mua hết số cổ phần được quyền chào bán thì số cổ phần còn lại phải được chào và bán hết trong thời hạn 3 năm kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận kinh doanh Vì vậy, tối thiểu các cổ đông sáng lập phải cùng nhau nắm giữ 20% số cổ phiếu dự tính phát hành, số cổ phiếu còn lại sẽ được phát hành để huy động đủ số vốn điều lệ Các cổ đông sáng lập phải thực hiện nguyên tắc nhất trí về số lượng cổ phần, loại cổ phần dự kiến chào bán
Luật doanh nghiệp 2005 quy định rõ trách nhiệm của các cổ đông sáng lập về tính chính xác, trung thực đối với giá trị tài sản góp vốn được giới hạn trong phạm vi các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty bằng số chênh lệch giữa giá trị được định và giá trị thực tế của tài sản góp vốn kết thúc định giá Những người cam kết mua cổ phần còn phải thực hiện thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn vào công ty theo đúng quy định tại khoản 1 Điều 29 Luật doanh nghiệp 2005:
a) Đối với tài sản có đăng kí hoặc giá trị quyền sử dụng đất thì người góp vốn phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản đó hoặc quyền sử dụng đất cho công ty tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Việc chuyển quyền sở hữu đối với tài sản góp vốn không phải chịu lệ phí trước bạ; b) Đối với tài sản không đăng kí quyền sở hữu, việc góp vốn phải được thực hiện bằng việc giao nhận tài sản góp vốn có xác nhận bằng biên bản.
Trang 5Biên bản giao nhận phải ghi rõ tên và địa chỉ trụ sở chính của công ty; họ, tên, địa chỉ thường trú, số giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác, số quyết định thành lập hoặc đăng kí của người góp vốn; loại tài sản và
số đơn vị tài sản góp vốn; tổng giá trị tài sản góp vốn và tỷ lệ của tổng giá trị tài sản
đó trong vốn điều lệ của công ty; ngày giao nhận; chữ kí của người góp vốn hoặc đại diện theo ủy quyền của người góp vốn và người đại diện theo pháp luật của công ty;
c) Cổ phần hoặc phần vốn góp bằng tài sản không phải là tiền Việt nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng chỉ được coi là thanh toán xong khi quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản góp vốn đã chuyển sang công ty”.
- Phát hành cổ phiếu trong quá trình hoạt động của công ty:
Trong quá trình hoạt động, cổ phiếu cũng trở thành một trong những phương tiện để huy động vốn rất hiệu quả Việc phát hành thêm cổ phiếu sẽ làm tăng độ tín nhiệm cho công ty Cổ phần là lớp nệm bảo vệ cho các chủ nợ, nhờ vậy khả năng vay nợ được mở rộng Hơn nữa, vốn chủ sở hữu tăng tạo ra một lá chắn chống lại sự phá sản của công ty Thực chất việc phát hành cổ phiếu trong trường hợp này là việc công ty chào bán cổ phần để huy động vốn
Theo pháp luật Việt nam, phát hành cổ phiếu có thể thực hiện bằng hai phương thức:
- Chào bán cổ phần riêng lẻ: Là việc chào bán cổ phần hoặc quyền mua cổ phần trực
tiếp và không sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng cho một trong các đối tượng sau:
a Các nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp;
b Dưới 100 nhà đầu tư không phải nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp (Điều 4
Nghị định số 01/2010 NĐ-CP về chào bán cổ phần riêng lẻ)
như vậy việc chào bán cổ phần riêng lẻ chỉ hướng tới một số người nhất định với số lượng hạn chế như các nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp hay dưới 100 nhà đầu
tư không phải nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp Trong đó nhà đầu tư chứng khoán là ngân hàng thương mại, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, tổ chức kinh doanh bảo hiểm, tổ chức kinh doanh chứng khoán (khoản 11 Điều 6 LCK 2006) Tuy nhiên cách hiểu về chào bán chứng khoán riêng lẻ theo nghị định 01/2010 cũng
chưa thật chính xác Do đó LCK đã có quy định như sau: “Chào bán chứng khoán riêng lẻ là việc tổ chức chào bán chứng khoán cho dưới 100 nhà đầu tư, không kể là nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp và không sử dụng phương tiện thông tin đại chúng hoặc Iternet” (khoản 12a Điều 1).
Việc chào bán chứng khoán riêng lẻ phải đáp ứng các điều kiện tại Điều 8 của Nghị định số 01/2010/NĐ-CP Tuy nhiên trên thực tế có nhiều điều kiện như hạn chế chuyển nhượng cổ phần tối thiểu trong vòng 1 năm, các đợt chào bán phải cách nhau
ít nhất 6 tháng đã tỏ ra không hợp lý, gây ảnh hưởng tới hoạt độngchào bán riêng lẻ của các công ty
- Chào bán cổ phần ra công chúng: Căn cứ vào định nghĩa về chào bán chứng khoán
ra công chúng (khoản 12 Điều 6 LCK 2006) thì chào bán cổ phần ra công chúng là việc chào bán cổ phần theo một trong các phương thức sau đây:
a Thông qua phương tiện thông tin đại chúng, kể cả Internet
Trang 6b Chào bán cổ phần cho từ 100 nhà đầu tư trở lên, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp
c Chào bán cho một số lượng nhà đầu tư không xác định
Như vậy các nhà làm luật Việt Nam chú trọng tới cách thức (qua phương tiện thông tin đại chúng) và số lượng nhà đầu tư tham dự vào mỗi cuộc chào bán và coi đó là tiêu chí chủ yếu để phân biệt chào bán cổ phần ra công chúng với chào bán cổ phần riêng lẻ
Việc phát hành cổ phiếu ra công chúng là việc tạo hàng hóa để giao dịch trên sở giao dịch chứng khoán (thị trường tập trung) Phát hành cổ phiếu ra công chúng được chia làm hai trường hợp: Phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng là việc phát hành trong
đó cổ phiếu của công ty lần đầu tiên được bán cho công chúng đầu tư Phát hành thêm
cổ phiếu là việc phát hành cổ phiếu bổ sung cho công chúng đầu tư
Công ty cổ phần muốn phát hành cổ phiếu ra công chúng phải đáp ứng các yêu cầu về vốn, thời gian hoạt động, đội ngũ quản lí, hiệu quả sản xuất kinh doanh và tính khả thi của dự án sản xuất trong tương lai được quy định rõ trong khoản 1 Điều 12 Luật chứng khoán 2006:
“Điều kiện chào bán cổ phiếu ra công chúng bao gồm:
a) Doanh nghiệp có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng kí chào bán
từ mười tỷ đồng Việt nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán;
b) Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng kí chào bán phải có lãi, đồng thời không có lỗ lũy kế tính đến năm đăng kí chào bán;
c) Có phương án phát hành và phương án sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán được Đại hội đồng cổ đông thông qua”
Việc quy định như trên nhằm đảm bảo chất lượng và số lượng cổ phiếu phát hành của công ty cổ phần để có thể giao dịch trên thị trường chứng khoán Nếu công ty cổ phần
có số vốn điều lệ quá nhỏ, làm ăn không có lãi thì không tạo niềm tin cho người đầu
tư và cổ phiếu của công ty niêm yết trên trung tâm giao dịch chứng khoán sẽ không có tính thanh khoản cao
Sau khi công ty cổ phần đã hội đủ các điều kiện trên thì công ty lập hồ sơ gửi Ủy ban chứng khoán nhà nước để xin được cấp giấy phép phát hành Khoản 1 Điều 13 Luật chứng khoán 2006 quy định:
“Hồ sơ đăng kí chào bán cổ phiếu ra công chúng gồm có:
a) Giấy đăng kí chào bán cổ phiếu ra công chúng;
b) Bản cáo bạch;
c) Điều lệ của tổ chức phát hành;
d) Quyết định của Đại hội đồng cổ đông thông qua phương án phát hành và phương án sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán cổ phiếu ra công chúng; đ) Cam kết bảo lãnh phát hành (nếu có)”.
Sau khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, trong thời hạn 30 ngày, Ủy ban chứng khoán (UBCK) Nhà nước xem xét và cấp Giấy chứng nhận chào bán chứng khoán ra công chúng Trường hợp từ chối, Ủy ban chứng khoán Nhà nước phải trả lời bằng văn bản và nêu
rõ lý do (khoản 1 Điều 20 Luật chứng khoán 2006)
Trang 7Trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày giấy chứng nhận chào bán chứng khoán ra công chúng có hiệu lực, tổ chức phát hành phải công bố Bản thông báo phát hành trên một
tờ báo điện tử hoặc báo viết trong ba số liên tiếp (khoản 3 Điều 20 Luật chứng khoán 2006)
Sau khi nhận được giấy phép phát hành cổ phiếu và công bố, công ty cổ phần tiến hành phân phối cổ phiếu, được quy định trong Điều 21 Luật chứng khoán 2006:
“1.Việc phân phối chứng khoán chỉ được thực hiện sau khi tổ chức phát hành bảo đảm người mua chứng khoán tiếp cận Bản cáo bạch trong hồ sơ đăng kí chào bán chứng khoán ra công chúng được công bố tại các địa điểm ghi trong Bản thông báo phát hành.
2.Tổ chức phát hành, tổ chức bảo lãnh phát hành hoặc tổ chức đại lý phải phân phối chứng khoán công bằng, công khai và bảo đảm thời hạn đăng kí mua chứng khoán cho nhà đầu tư tối thiểu là 20 ngày; thời hạn này phải được ghi trong Bản thông báo phát hành.
Trong trường hợp số lượng chứng khoán đăng kí mua vượt quá số lượng chứng khoán được phép phát hành thì tổ chức phát hành hoặc tổ chức bảo lãnh phát hành phải phân phối hết số chứng khoán được phép phát hành cho nhà đầu tư tương ứng với tỷ lệ đăng kí mua của từng nhà đầu tư.
3.Tiền mua chứng khoán phải được chuyển vào tài khoản phong tỏa mở tại ngân hàng cho đến khi hoàn tất đợt chào bán và báo cáo Ủy ban chứng khoán Nhà nước 4.Tổ chức phát hành phải hoàn thành việc phân phối chứng khoán trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày giấy chứng nhận chào bán chứng khoán ra công chúng có hiệu lực Trường hợp tổ chức phát hành không thể hoàn thành việc phân phối chứng khoán ra công chúng trong thời hạn này, Ủy ban chứng khoán nhà nước xem xét gia hạn việc phân phối chứng khoán nhưng tối đa không quá 30 ngày Trường hợp đăng kí chào bán chứng khoán cho nhiều đợt thì khoảng cách giữa đợt chào bán sau với đợt chào bán trước không quá 12 tháng.
5.Tổ chức phát hành hoặc tổ chức bảo lãnh phát hành phải báo cáo kết quả đợt chào bán cho Ủy ban chứng khoán nhà nước trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày kết thúc đợt chào bán kèm theo bản xác nhận của ngân hàng nơi mở tài khoản phong tỏa về
số tiền thu được trong đợt chào bán.
6.Tổ chức phát hành, tổ chức bảo lãnh phát hành hoặc tổ chức đại lý phải chuyển giao chứng khoán hoặc giấy chứng nhận quyền sở hữu chứng khoán cho người mua trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày kết thúc đợt chào bán”.
Trước khi hoàn thành việc phân phối cổ phiếu ra công chúng trong những trường hợp
cụ thể công ty phát hành có thể bị đình chỉ đợt phát hành (Điều 22 Luật chứng khoán) Trong trường hợp đó, người đầu tư có quyền hủy bỏ việc mua cổ phiếu hoặc trả lại cổ phiếu đã mua và công ty phát hành và các tổ chức liên quan phải hoàn trả tiền cho các nhà đầu tư trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu
Ngoài ra, công ty phát hành bị thu hồi giấy phép phát hành trong những trường hợp sau:
- Tổ chức phát hành tự nguyện xin rút giấy phép phát hành
Trang 8- Tổ chức phát hành không khắc phục được những trường hợp bị đình chỉ giấy phép phát hành
- Tổ chức phát hành vi phạm pháp luật, vi phạm các quy định về chứng khoán và thị trường chứng khoán gây thiệt hại nghiêm trọng cho nhà đầu tư
- Khi có kiến nghị thu hồi giấy phép phát hành của cơ quan pháp luật
Trường hợp giấy phép phát hành bị thu hồi, người đầu tư có quyền hủy bỏ việc đăng
kí mua cổ phiếu hoặc trả lại cổ phiếu đã mua
2 Huy động vốn thông qua các hình thức tín dụng.
a Phát hành trái phiếu
Trái phiếu:
Theo khoản 3 Điều 6 LCK 2006: “Trái phiếu là loại chứng
khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn nợ của tổ chức phát hành”.
Theo khoản 3 Điều 77 LDN 2005, CTCP có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn Cùng với số cổ phiếu là công cụ huy động vốn chủ sở hữu, CTCP có thể sử dụng trái phiếu để vay vốn trung hạn và dài hạn, đáp ứng cho nhu cầu về vốn kinh doanh có lúc vượt ngoài khả năng tài chính của các cổ đông
Như vậy, khác với cổ phiếu (là chứng từ xác nhận cổ phần trong công ty), trái phiếu chỉ xác nhận quyền của người sở hữu trái phiếu được trả nợ gốc và lãi suất ấn định trong trái phiếu Quan hệ giữa người sở hữu trái phiếu với công ty là quan hệ giữa chủ
nợ với con nợ Với tư cách là một loại chứng chỉ xác nhận lợi ích tài sản, trái phiếu là phần thứ hai trong cơ cấu vốn của công ty có liên quan đến việc hình thành thị trường chứng khoán
Theo quy định của pháp luật “CTCP có quyền phát hành trái phiếu, trái phiếu chuyển đổi và các loại trái phiếu khác theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty”
(khoản 1 Điều 88 LDN 2005)
Phát hành trái phiếu:
Là cách thức vay vốn, theo đó người vay phát hành một chứng chỉ thường là với một mức lãi suất xác định, đảm bảo thanh toán vào một thời hạn xác định trong tương lai Người mua trái phiếu sẽ trở thành chủ nợ của công ty, nhận được một mức lãi suất cố định và thanh toán khoản vay khi đáo hạn Phát hành trái phiếu là một trong những cách thức vay vốn quan trọng của CTCP Kết quả của việc phát hành trái phiếu sẽ làm tăng vốn vay của công ty Phương thức huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu
là phương thức ưu việt dành cho những CTCP có dự án kinh doanh dài hạn với một mức lãi suất thích hợp thấp hơn lãi suất công ty phải đi vay ngân hàng nhưng cao hơn lãi suất tiền gửi tiết kiệm để thu hút các nhà đầu tư Điều này vừa có lợi cho công ty phát hành cũng như các nhà đầu tư do bỏ qua chi phí trung gian
Quy định của pháp luật về phát hành trái phiếu:
CTCP có thể phát hành trái phiếu theo hai phương thức là phát hành riêng lẻ và rộng rãi Điều kiện phát hành trái phiếu ra công chúng đối với CTCP được quy định cụ thể
trong khoản 2 Điều 12 LCK 2006: “2 Điều kiện chào bán trái phiếu ra công chúng bao gồm:
Trang 9a Doanh nghiệp có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm điều kiện chào
bán từ 10 tỷ đồng Việt nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán.
b Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng kí chào bán phải
có lãi, đồng thời không có lỗ lũy kế tính đến năm đăng kí chào bán, không có các khoản nợ phải trả quá hạn trên một năm.
c Có phương án phát hành, phương án sử dụng và trả nợ vốn thu được
từ đợt chào bán được HĐ quản trị và HĐ thành viên hoặc chủ sở hữu công ty thông qua.
d Có cam kết thực hiện nghĩa vụ của tổ chức phát hành đối với nhà đầu
tư về điều kiện phát hành, thanh toán, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư và các điều kiện khác”.
Sau khi CTCP đã hội đủ các điều kiện trên thì công ty lập hồ sơ gửi UB chứng khoán nhà nước để xin được cấp giấy phép phát hành Khoản 2 Điều 13 LCK 2006 quy định:
“Hồ sơ đăng kí chào bán trái phiếu ra công chúng gồm có:
a Giấy đăng kí chào bán trái phiếu ra công chúng.
b Bản cáo bạch.
c Điều lệ của tổ chức phát hành.
d Quyết định của HĐ quản trị hoặc HĐ thành viên hoặc chủ sở hữu công ty thông qua phương án phát hành, phương án sử dụng và trả nợ vốn thu được từ đợt chào bán trái phiếu ra công chúng.
đ Cam kết thực hiện nghĩa vụ của tổ chức phát hành đối với nhà đầu tư về điều kiện phát hành, thanh toán, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư và các điều kiện khác.
e Cam kết bảo lãnh phát hành (nếu có)”.
Trường hợp CTCP phát hành trái phiếu có đảm bảo thì phải nêu rõ tỷ lệ đảm bảo và liệt kê chi tiết tài sản đảm bảo trong hồ sơ xin phép phát hành và có tài liệu hợp lệ chứng minh những tài sản bảo đảm này thuộc quyền sở hữu của mình hoặc của người thứ ba (trong trường hợp bảo lãnh) và có đủ giá trị thanh toán trái phiếu
Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, UB chứng khoán phải cấp giấy phép phát hành cho công ty, trường hợp không cấp phải giải thích lí do bằng văn bản Việc phân phối, tiêu thụ cũng như đình chỉ phát hành trái phiếu được quy định như đối với cổ phiếu
b Tín dụng ngân hàng.
Huy động vốn thông qua hình thức tín dụng ngân hàng là một hình thức huy động vốn phổ biến được các doanh nghiệp nói chung và CTCP nói riêng áp dụng trên thực tế Thông qua hình thức này, CTCP có thể có được các khoản vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn đáp ứng được yêu cầu của hoạt động sản xuất kinh doanh
Để huy động vốn thông qua hình thức tín dụng ngân hàng, công ty phải đáp ứng được các điều kiện nhất định như có tình hình tài chính lành mạnh, có phương án sử dụng vốn khả thi và có tài sản bảo đảm cho khoản vay bằng biện pháp cầm cố, thế chấp hoặc được bên thứ ba bảo lãnh bằng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với ngân hàng trừ trường hợp công ty được ngân hàng cho vay không có bảo đảm
Trang 10bằng tài sản Công ty vay vốn của ngân hàng phải đảm bảo sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thỏa thuận, hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng
Có hai hình thức cho vay vốn là vay có bảo đảm và vay không có bảo đảm
+) Cho vay có bảo đảm là việc cho vay vốn của tổ chức tín dụng mà theo đó nghĩa vụ
trả nợ của CTCP được cam kết bảo đảm thực hiện bằng tài sản cầm cố, thế chấp, tài sản hình thành từ vốn vay của công ty hoặc bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba Tài sản bảo đảm tiền vay là tài sản của công ty, tài sản hình thành từ vốn vay và tài sản của bên bảo lãnh dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với tổ chức tín dụng Việc đề ra những biện pháp bảo đảm bằng tài sản là biện pháp hữu hiệu để ngân hàng
dễ dàng thu hồi vốn cho vay đồng thời khuyến khích CTCP hoạt động có hiệu quả Theo khoản 1 Điều 3 nghị định 178/1999/NĐ-CP thì:
“Biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản:
a) Cầm cố, thế chấp bằng tài sản của khách hàng vay.
b) Bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba.
c) Bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay”.
Thế chấp tài sản vay vốn ngân hàng là việc CTCP (bên vay vốn) dùng tài sản là bất động sản thuộc quyền sở hữu của mình để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với ngân hàng Bất động sản ở đây có thể là nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất, các cơ sở sản xuất kinh doanh, khách sạn, cửa hàng, Tài sản dùng để thế chấp là những tài sản có giá trị lớn và khó chuyển dịch được Chính vì đặc điểm này mà ngân hàng thường quản lý tài sản thế chấp thông qua giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu hoặc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Cầm cố tài sản vay vốn ngân hàng là việc CTCP có nghĩa vụ giao tài sản là động sản thuộc sở hữu của mình cho ngân hàng để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ Tài sản cầm cố ở đây là động sản như phương tiện vận tải, máy móc thiết bị dùng cho sản xuất kinh doanh, vật tư hàng hóa, Khi cầm cố tài sản công ty có nghĩa vụ giao tài sản cho ngân hàng, nếu tài sản có đăng kí quyền sở hữu thì giữa ngân hàng và công ty
có thể thỏa thuận tài sản do công ty giữ hoặc giao cho bên thứ ba giữ, ngân hàng sẽ quản lý gián tiếp tài sản đó thông qua bản chính giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản
Bảo lãnh vay vốn ngân hàng là việc bên thứ ba (pháp nhân hoặc cá nhân) sẽ thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho CTCP (bên vay vốn) nếu khi đến hạn trả nợ mà công ty không trả được toàn bộ số nợ hay một phần nợ vay cho ngân hàng Bên bảo lãnh chỉ được bảo lãnh bằng tài sản thuộc sở hữu của mình Ngân hàng và bên bảo lãnh có thể thỏa thuận biện pháp cầm cố, thế chấp tài sản của bên bảo lãnh để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh
Khi vay vốn có các biện pháp bảo đảm bằng tài sản trên, công ty và ngân hàng phải lập hợp đồng bảo đảm Hợp đồng bảo đảm có chứng nhận của Công chứng nhà nước hoặc chứng thực của UB nhân dân cấp có thẩm quyền Việc kiểm tra tính hợp pháp và điều kiện của tài sản đảm bảo tiền vay do ngân hàng thực hiện.Theo quy định của