MỤC LỤC Phần I: Giới thiệu Trang1.Lý do chọn đề tài:12.Mục tiêu nghiên cứu:23.Nội dung nghiên cứu:24.Phương pháp nghiên cứu: 25.Phạm vi nghiên cứu: 3Phần II: Cơ sở lý thuyết 1.Hàng hóa Công cộng 1.1Khái niệm:31.2Phân loại hàng hóa Công cộng:31.3Cung cấp Hàng hóa công:42.Hàng hóa Giáo dục2.1Khái niệm 52.2Hàng hóa giáo dục Đại học 62.3Vai trò của nhà nước trong cung cấp hàng hóa 12Một số tiêu chí đánh giá hiệu lực quản lý nhà nước15Phần III:Thực trạng giáo dục đại học VN hiện nay1.Chất lượng các trường Đại học 162.Thực trạng việc xây và ban hành văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục đại học253.Thực trạng việc xây dựng và kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước về giáo dục đại học254.Thực trạng việc tổ chức thực hiện pháp luậtquản lý nhà nước về giáo dục đại học.265.Thực trạng công tác giám sát, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật266.Kết quả đạt được và hạn chế bất cập:6.1Kết quả đạt được 276.2Hạn chế bất cập276.3Nguyên nhân của hạn chế, bất cập 27Phần IV: Đề xuất giải pháp 1.Hệ thống GDĐH của Việt Nam cần xây dựngnhững cơ chế cụ thể292.Đổi mới về chất công tác quản lý GDĐH303.Xây dựng qui trình đào tạo mềm dẻo và liên thông, đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp giảng dạyđại học.314.Xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý, đội ngũ giảng viênđại học có phẩm chất đạo đức, đủ về số lượng, có trình độ chuyên môn cao, phong cách giảng dạytiên tiến và hiện đại325.Đổi mới quản lý GDĐH theo hướng tăng quyền tự chủ, nâng cao trách nhiệm xã hội và thúc đẩy năng lực cạnh tranh của các trường đại học.336.Xây dựng một số trường đại học đẳng cấp quốc tế. Nâng cao sức cạnh tranh của hệ thống GDĐH trong quá trình hội nhập quốc tế.34Phần V: Kết luận35
Trang 1KINH TẾ CÔNG CỘNG
Chủ đề: Giáo dục đại học Việt Nam hiện nay? Làm thế nào nâng
cao chất lượng đào tạo đại học về mặt quản lý nhà nước.
Trang 2MỤC LỤC
Trang
Phần II: Cơ sở lý thuyết
1 Hàng hóa Công cộng
2 Hàng hóa Giáo dục
2.3 Vai trò của nhà nước trong cung cấp hàng hóa 12
*Một số tiêu chí đánh giá hiệu lực quản lý nhà nước*15
Phần III:Thực trạng giáo dục đại học VN hiện nay
1 Chất lượng các trường Đại học 16
2 Thực trạng việc xây và ban hành văn bản quy
phạm pháp luật về giáo dục đại học 25
3 Thực trạng việc xây dựng và kiện toàn bộ máy
Trang 34 Thực trạng việc tổ chức thực hiện pháp luật
quản lý nhà nước về giáo dục đại học 26
5 Thực trạng công tác giám sát, kiểm tra, xử lý
6 Kết quả đạt được và hạn chế bất cập:
6.3 Nguyên nhân của hạn chế, bất cập 27
Phần IV: Đề xuất giải pháp
1 Hệ thống GDĐH của Việt Nam cần xây dựng
2 Đổi mới về chất công tác quản lý GDĐH 30
3 Xây dựng qui trình đào tạo mềm dẻo và liên thông,
đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp giảng dạy
4 Xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý, đội ngũ giảng viên
đại học có phẩm chất đạo đức, đủ về số lượng,
có trình độ chuyên môn cao, phong cách giảng dạy
5 Đổi mới quản lý GDĐH theo hướng tăng quyền
tự chủ, nâng cao trách nhiệm xã hội và thúc đẩy
năng lực cạnh tranh của các trường đại học 33
6 Xây dựng một số trường đại học đẳng cấp quốc tế
Nâng cao sức cạnh tranh của hệ thống GDĐH
Trang 4Phần I: Giới thiệu
1 Lý do chọn đề tài:
“ Giáo dục là Quốc sách hàng đầu” Không chỉ ở Việt Nam mà ở hầu hết các quốc gia khác trên thế giới, các chính phủ đều coi giáo dục là quốc sách hàng đầu Vì vậy mà trong suốt những năm qua Đảng và nhà nước đã luôn quan tâm và tập trung đầu tư rất nhiều cho nền giáo dục ViệtNam Mục tiêu phát triển của Việt Nam đến năm 2020 là, về cơ bản, trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Để đạt được mục tiêu này, cần huy động và sử dụng một cách có hiệu quả mọi nguồn lực trong và ngoài nước Theo đó, một trong những yếu tố có ý nghĩa then chốt là chất lượng giáo dục đại học Bởi trong bất kỳ điều kiện lịch sử nào, trường đại học luôn là môi trường bồi dưỡng, sáng tạo và chuyển giao những thành tựu khoa học – công nghệ mới nhất, là đầu tàu trong việc tạo ra nguồn lao động chất lượng cao phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước
Ngày nay cùng với sự phát triển của Kinh tế thì xu hướng phát triển Giáo dục Đại học và sự thay đổi quan điểm về lợi ích của Giáo dục Đại học xem sản phẩm của Giáo dục Đại học là một loại hàng hóa Khác với các loại hàng hóa thông thường khác, điểm khác biệt của Giáo dục Đại học là một hàng hóa công cộng, mọi người đều có thể dùng chung một chương trình Giáo dục được coi là tri thức chung của nhân loại và nhu cầuhưởng thụ ngày càng cao Giáo dục cũng có tính chất của phương tiện sảnxuất, có nhiều bất đối xứng thông tin, ngoại tác tích cực và có thuộc tính
Xã hội nhưng lại không bị tác động bởi năng suất lao động Quan trọng hơn giáo dục là công cụ hữu ích để thực hiện phân phối lại thu nhập, và đây là chức năng bao trùm, đảm bảo sự tồn tại và phát triển, hiện thực hóaquyền bình đẳng về cơ hội vào đời và tạo dựng cuộc sống của mỗi cá nhân trong xã hội Trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước là người tham gia lớn nhất và đóng vai trò quan trọng nhất, vừa là nhà quản lý toàn bộ nền kinh tế và vừa làm nhiệm vụ trực tiếp cung cấp hàng hóa cho xã hội Trong vai trò sản xuất, Nhà nước luôn chịu trách nhiệm thực hiện những
dự án lớn, trong những lĩnh vực đầu tư mạo hiểm và khả năng đầu tư vốn ban đầu lớn nhưng thu hồi chậm Sụp đổ của thị trường trong lĩnh vực giáo dục, có thể dẫn đến phá sản cả một hệ thống kinh tế xã hội, vì vậy rấtcần một hệ thống đại học công lập mạnh tồn tại song song cùng với các
1
Trang 5trường tư thục Một chính sách đúng đắn dành cho giáo dục thì lợi ích nhận được của cả xã hội sẽ tăng lên trong tương lai, ngược lại, bất kỳ sự sai lầm nào trong giáo dục thì kết quả không chỉ đem đến những hậu họa
vô cùng nguy hại cho hệ thống giáo dục quốc dân, mà còn ảnh hưởng đến
sự phát triển kinh tế, giữ gìn bản sắc văn hóa, cũng như tinh thần độc lập
tự chủ của cả một dân tộc Hiểm nguy ấy không nhìn thấy được trước mắt,
mà cái giá vô cùng đắt của nó, có thể nhiều thế hệ mai sau mới trả được
Dù nền kinh tế có tăng trưởng đến đâu thì cũng không thể dùng tiền để
“mua” được một hệ thống giáo dục xã hội chủ nghĩa mang tính nhân văn, dân tộc, khoa học và hiện đại mà toàn xã hội mong đợi
2. Mục tiêu nghiên cứu:
Nhằm mục đích tìm kiếm những giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý,khắc phục các yếu kém về mặt quản lý nhà nước trong các trường đại học ,rút ra bài học kinh nghiệm để ứng dụng và sử dụng biện pháp quản lýhiệu quả hơn, tạo đà để nền giáo dục phát triển, mang lại công bằng cho
xã hội, phân phối lại thu nhập, bình đẳng về cơ hội học tập, tạo dựng một
xã hội văn minh…
3 Nội dung nghiên cứu:
Giáo dục Đai học là HH công hay HH tư nhân, Nhà nước sẽ cung cấp hay tư nhân cung cấp? Hiệu quả? Các chính sách quản lý của Nhà nước đối với Giáo dục Đại học như thế nào?trường hợp nào thì tư nhân cung cấp?trường hợp nào nhà nước cung cấp? Phân tích thực trạng GD
ĐH Việt Nam.Đề xuất và những biện pháp quản lý
4 Phương pháp nghiên cứu:
Phân tích các tài liệu có liên quan đến đề tài
Phương pháp thống kê, mô tả, báo cáo và vẽ đồ thị
2
Trang 65 Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài giới hạn trong phạm vi cả nước
Tài liệu tham khảo được lấy từ số liệu của Tổng cục thống kê về Giáo dục
và Bộ Giáo dục- đào tạo Việt Nam đến 2015
Phần II: Cơ sở lý thuyết
1 Hàng hóa công cộng
1.1 Khái niệm:
Hàng hóa công cộng là những hàng hóa mà việc một cá nhân này đang hưởng thụ lợi ích do hàng hóa đó tạo ra không ngăn cản những
người khác cùng đồng thời hưởng lợi ích của nó
Hàng hóa công cộng có hai thuộc tính: Không có tính loại trừ trong tiêu dùng: hàng hóa công cộng một khi đã cung cấp thì không thể loại trừ hoặcrất tốn kém nếu muốn loại trừ những cá nhân không trả tiền cho việc sử dụng hàng hóa của mình
Không có tính cạnh tranh trong tiêu dùng: việc một cá nhân này đang sử dụng hàng hóa công cộng đó sẽ không ngăn cản những người khác đồng thời cũng sử dụng nó
1.2 Phân loại hàng hóa công cộng:
Hàng hóa công cộng có hai loại: Hàng hóa công cộng thuần túy: là hàng hóa công cộng mang đầy đủ hai tính chất “không có tính cạnh tranh trong tiêu dùng, không có tính loại trừ trong tiêu dùng” Hàng hóa công cộng không thuần túy: là hàng hóa không mang đủ hai tính chất trên Trong thực tế, có một số hàng hóa công cộng có đầy đủ hai tính chất nêu trên như quốc phòng, đèn đường, đài phát thanh Các hàng hóa đó
có chi phí biên để phục vụ thêm một người sử dụng bằng 0, ví dụ đài phát thanh một khi đã xây dựng xong thì nó ngay lập tức có thể phục vụ tất cả mọi người, kể cả dân số luôn tăng Tuy nhiên có nhiều hàng hóa công cộng không đáp ứng một cách chặt chẽ hai tính chất đó ví dụ đường giao thông, nếu có quá đông người sử dụng thì đường sẽ bị tắc nghẽn và do đó những người tiêu dùng trước đã làm ảnh hưởng đến khả năng tiêu dùng của những người tiêu dùng sau Đó là những hàng hóa công cộng có thể
Trang 7tắc nghẽn Một số hàng hóa công cộng mà lợi ích của nó có thể định giá thì gọi là hàng hóa công cộng có thể loại trừ bằng giá Ví dụ đường cao tốc, cầu có thể đặt các trạm thu phí để hạn chế bớt số lượng người sử dụng nhằm tránh tắc nghẽn Tuy nhiên đó cũng là điều không được mong
muốn
(ví dụ:cây cầu – hàng hóa công cộng có thể loại trừ bằng giá nhưng không được mong muốn) động thấp, nhu cầu lao động qua đào tạo đã và đang ngày càng tăng lên cả về lượng và chất
1.3 Cung cấp hàng hóa công:
Có 2 hình thức : Cung cấp tư nhân và cung cấp công cộng
Cung cấp công cộng được cung cấp với những hàng hóa công cộng thuần túy còn gọi là “kẻ ăn không” Có những hàng hóa công cộng mà chi phí để duy trì hệ thống quản lý nhằm loại trừ bằng giá (gọi là chi phí giao dịch) rất tốn kém, ví dụ chi phí để duy trì hệ thống các trạm thu phí trên đường cao tốc, thì có thể sẽ hiệu quả hơn nếu cung cấp nó miễn phí và tài trợ bằng thuế
4
Trang 8Tuy vậy, để cân nhắc việc này cần so sánh tổn thất phúc lợi xã hội trong hai trường hợp Ví dụ đồ thị dưới đây:
Giả sử hàng hóa công cộng có chi phí biên để sản xuất là c và do phát sinh thêm chi phí giao dịch nên giá của nó bị đẩy lên tới P Mức cungcấp hàng hóa cộng cộng hiệu quả nhất là khi chi phí biên bằng lợi ích biênnghĩa là Qo Tuy nhiên do giá bị đẩy lên p bởi chi phí giao dịch nên chỉ còn Qe người sử dụng hàng hóa, xã hội bị tổn thất một lượng phúc lợi bằng diện tích tam giác ABE Thế nhưng nếu hàng hóa được cung cấp miễn phí thì sẽ có Qm người sử dụng chứ không phải Qo Trong trường hợp này lợi ích biên (chính là đường cầu) nhỏ hơn chi phí biên c nên xã hội cũng bị tổn thất một lượng phúc lợi bằng diện tích hình tam giác
EFQm do tiêu dùng quá mức Trong trường hợp này chính phủ muốn quyết định xem nên cung cấp hàng hóa công cộng miễn phí hay thu phí cần phải so sánh tổn thất phúc lợi xã hội, nếu tổn thất do tiêu dùng quá mức nhỏ hơn tổn thất trong trường hợp tiêu dùng dưới mức hiệu quả thì cung cấp miễn phí và ngược lại Tuy nhiên việc cung cấp hàng hóa cộng cộng miễn phí hay thu phí hoàn toàn không liên quan đến khu vực công cộng hay khu vực tư nhân sẽ sản xuất nó Nếu chính phủ thấy rằng một hàng hóa công cộng nào đó cần được cung cấp miễn phí thì chính phủ hoàn toàn có thể đặt hàng khu vực tư nhan sản xuất rồi cung cấp nó
1 Giáo dục đại học
2.1 Khái niệm:
Giáo dục đại học nói chung thường được hiểu là bao gồm giảng dạy, nghiên cứu và chuyển giao ứng dụng Thực ra, khi phân tích kỹ những quan điểm khác nhau về giáo dục đại học, chúng ta có thể kể ra nhiều vai trò khác nhau của giáo dục đại học trong xã hội Giáo dục đại học đóng
Trang 9vai trò là “hệ thống nuôi dưỡng” (feeder system) của mọi lĩnh vực trong đời sống, là nguồn cung cấp nhân lực tối cần thiết để phục vụ các công tácquản lý, quy hoạch, thiết kế, giảng dạy và nghiên cứu Một quốc gia muốnphát triển về khoa học công nghệ và tăng trưởng về kinh tế thì nhất thiết phải có cả hai yếu tố: một hệ thống giáo dục đại học và một lực lượng lao động Việc phát triển những ngành công nghệ bản địa cũng như năng lực trong lĩnh vực nông nghiệp, an toàn thực phẩm và các ngành công nghiệp khác của chúng ta chính là nhờ có một hạ tầng giáo dục đại học đẳng cấp quốc tế Giáo dục đại học còn tạo ra các cơ hội cho học tập suốt đời, cho phép con người cập nhật các kiến thức và kỹ năng thường xuyên theo nhu cầu của xã hội.
2.2 Hàng hóa Giáo dục đại học:
Trong nền KTTT, dưới góc độ phân công lao động xã hội thì lao động giảng dạy của giảng viên đại học không trực tiếp sản xuất ra hàng hóa Nếu dựa trên quan điểm của K Marx khi cho rằng “Trong trường hợp tiền trực tiếp được trao đổi lấy loại lao động sản xuất không sản xuất
ra tư bản, do đó là lao động phi sản xuất thì lao động ấy được mua như một dịch vụ Biểu hiện ấy chung chẳng qua là giá trị sử dụng đặc biệt mà lao động ấy cung cấp, giống như mọi hàng hóa khác” thì giáo dục đại học
là loại lao động phi vật chất và được trao đổi, mua bán như dịch vụ, hàng hóa khác Như vậy, sản phẩm của giáo dục đại học là một loại dịch vụ và
nó có đầy đủ tính chất như một loại sản phẩm, dịch vụ hàng hóa thông thường.Trong kinh tế học, người ta phân nhóm các loại hàng hóa theo hai đặc trưng Đặc trưng thứ nhất là tính “loại trừ” (excludability); đặc trưng thứ hai là tính “ganh đua” (rivalry) Hàng hóa dịch vụ giáo dục đại học vừa có tính “loại trừ” vừa có tính “ganh đua” (một sinh viên dành được một chỗ học trong trường đại học đương nhiên sẽ loại trừ sinh viên khác không được theo học hoặc ảnh hưởng đến việc sử dụng dịch vụ của sinh viên khác) Tuy nhiên, sản phẩm của giáo dục đại học là một loại hàng hóa đặc biệt khi so sánh với các loại sản phẩm dịch vụ khác …
Thứ nhất, giáo dục là một loại hàng hóa công, sự hưởng thụ của tập hợp những người dùng trước không hề bị giảm đi hay bị tác động bởi những người dùng sau Việc có thêm nhiều người trong xã hội cùng thụ hưởng hàng hóa không làm cho lợi ích của các cá nhân đang tiêu dùng bị
6
Trang 10ảnh hưởng mà trái lại, còn làm cho tổng lợi ích của xã hội tăng lên Thêm vào đó, trong giáo dục đại học, lợi ích của nó không thể chia nhỏ cho mỗi người sử dụng, mà mọi người đều cùng dùng chung một chương trình giáo dục, đó là tri thức của nhân loại và cùng nhau khám phá ra những tri thức mới.
Thứ hai, nhu cầu hưởng thụ giáo dục ngày càng tăng Một vấn đề quan trọng của giáo dục đại học hiện nay là xu hướng của số đông thanh niên học sinh muốn vào đại học, bởi vì, thứ nhất là ở thời đại toàn cầu hóa ngày nay, thị trường luôn luôn biến đổi, kỹ thuật luôn luôn thay đổi, các đòi hỏi về sản xuất hàng hóa ngày càng cao hơn buộc người lao động, càng ở cấp bậc cao, càng phải biết cập nhật, mà sự cập nhật này đòi hỏi một kiến thức cơ bản vững chắc Thứ hai là, thị trường việc làm trong thế giới ngày nay có đặc điểm là biến đổi liên tục, một con người trong suốt đời mình thường thay đổi việc làm nhiều lần Vì vậy, người lao động muốn thích ứng với nền kinh tế tri thức, xã hội muốn đi tắt đón đầu thì thông qua giáo dục đại học là con đường ngắn nhất, cho nên hầu hết các
cá nhân đều mong muốn được tiếp cận giáo dục đại học, còn Chính phủ thì không thể không quan tâm đến vấn đề này
Thứ ba, giáo dục đại học có tính chất của phương tiện sản xuất Khác với hàng hóa cá nhân, giáo dục là dịch vụ tác động thẳng từ nhà cung cấp (người dạy) đến người tiêu dùng (người học), và người học có thể lưu giữ kiến thức, coi đó là hình thức tích lũy, là phương tiện có khả năng tạo ra sức lao động có tri thức và hiệu quả cao hơn so với trường hợp không có
nó Khả năng cao hơn này thể hiện qua thu nhập cao hơn Như vậy giáo dục đại học là phương tiện nâng cao năng suất của người lao động trong tương lai Tuy nhiên, quá trình tích lũy kiên thức, phát triển kĩ năng thêm của bản thân là lâu dài, không thể có tiền mà mua ngay được, và không phải ai cũng mua được, bởi vậy, nên các nhà kinh tế còn cho giáo dục đại học là phương tiện để sàng lọc Nói một cách đầy đủ, đầu tư cho giáo dục
là đầu tư vào tương lai và giáo dục là sản phẩm có giá trị tích lũy
Thứ tư, giáo dục có thuộc tính xã hội Điều này được thể hiện rất rõ ở chỗ, có nhiều yếu tố cùng cấu thành giá thành của sản phẩm (chi phí đơn vị), cho nên giá bán (học phí) không phải là tín hiệu đầy đủ của thị trường
mà thường thường nhỏ hơn giá thành sản phẩm Bởi lẽ, trong giá thành sản phẩm luôn luôn có tài trợ của Chính phủ và cộng đồng Do vậy, khi
Trang 11nói đến chi phí cho giáo dục mà chỉ nói đến học phí của người học là không đầy đủ, mà bắt buộc phải tính đến “chi phí đơn vị” cho một người học.
Thứ năm, giáo dục là sản phẩm không bị tác động bởi năng suất lao động,trong giáo dục đại học, khó có thể tăng năng suất lao động của
người thầy giáo nhanh như tăng năng suất của một cái máy và càng khôngthể mở rộng thị trường theo nghĩa tăng số sinh viên trên đầu một thầy giáonếu không muốn giảm chất lượng giáo dục Thậm chí phải nói ngược lại, muốn tăng chất lượng giảng dạy mà sự phát triển kinh tế và khoa học ngày càng đòi hỏi ở mức cao hơn thì phải giảm số học sinh trên một thầy giáo, tăng số lượng thầy giáo với chuyên ngành khác nhau vì không thể cóđược một thầy giáo uyên bác có khả năng nắm bắt được kiến thức trong mọi lĩnh vực, ngành nghề Do vậy, để đáp ứng được chất lượng giảng dạy,người thầy giáo đã phải tăng đầu tư về thời gian, tiền bạc, vật chất, cũng như trí lực cho đào tạo và tự đào tạo vì tính phức tạp của khoa học hiện nay đòi hỏi Không thể tăng nhanh năng suất của thầy giáo, nhưng lương của người thầy giáo lại phải tăng theo với mức tăng mặt bằng năng suất lao động của cả nền kinh tế nếu muốn giữ thầy giáo trong ngành giáo dục.Thêm vào đó, các loại thiết bị, phương tiện, công cụ, sách vở cho việc dạy
và học ngày càng tinh vi hơn, nhiều hơn và do đó giáo dục sẽ tốn kém hơntrước Ngày nay, tài liệu học mở ngày càng nhiều sinh viên cần phải biết,
và phải có phương tiện để truy cập mạng internet để đáp ứng nhu cầu học tập cao hơn, thầy giáo cũng cần phải biết sử dụng công cụ như máy chiếu trong giảng dạy thì mới đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi ngày càng tăng Từ
đó, sẽ dẫn đến chi phí đơn vị cho một sinh viên ngày càng tăng Như vậy, nếu để cá nhân tự chi trả cho giáo dục thì sẽ có rất ít người sẵn sàng mua
và có đủ thu nhập để mua dịch vụ giáo dục Tất cả những điều này đưa đến một kết quả quan trọng là đầu tư vào giáo dục đại học cho một con người ngày càng lớn, tức là chi phí bình quân cho một đơn vị sản phẩm trong giáo dục ngày càng tăng, chứ không phải ngược lại như đối với hàng hóa thông thường, và do vậy không thể không có sự tài trợ của Nhà nước
Thứ sáu, trong giáo dục có nhiều bất đối xứng thông tin Giáo dục đại học là một loại hàng hóa có bất đối xứng thông tin và được thể hiện cả từ phía nhà cung cấp và người tiêu dùng Lựa chọn nghịch và tâm lý ỷ lại
8
Trang 12xảy ra trong giáo dục đại học được thể hiện, ngay từ khâu chọn
trường,người học đã không có những cơ sở thông tin đầy đủ và chính xác
về chất lượng đào tạo, đội ngũ giáo viên giảng dạy, cũng như cơ sở vật chất của trường có tương xứng với học phí mà họ phải trả hay không? Do vậy, các trường đại học công lập luôn là sự lựa chọn hàng đầu của phần lớn học sinh, không chỉ vì học phí thấp mà còn có lý do an toàn do thiếu thông tin hoặc thông tin không đầy đủ Thứ hai, bất đối xứng thông tin trong lựa chọn ngành nghề đào tạo sẽ ảnh hưởng đến cơ hội tìm kiếm việclàm của người tiêu dùng sau khi ra trường như: xác suất tìm kiếm được việc làm theo ngành nghề, khả năng làm việc có hiệu quả, có năng suất, mức thu nhập có thể đảm bảo bù đắp được những chi phí đầu tư cho học tập trong thời gian bao nhiêu lâu? Thứ ba, ngay chính người tiêu dùng cũng không hiểu được khả năng của mình có thể nội hóa được những tri thức ở bậc học, cấp học cao hơn như thế nào Cuối cùng, đầu tư vào hàng hóa này có tính rủi ro cao vì không ai biết được mình sẽ sống được bao lâu, sức khoẻ tốt xấu như thế nào và thu nhập sau này ra sao để đánh giá
rõ được thu nhập trong tương lai có đủ trang trải cho chi phí mà mình đã đầu tư vào giáo dục hiện tại hay không Tất cả những điều này, dẫn đến việc mua hàng có thể theo số đông, theo xu thế của trào lưu, theo sở thích
cá nhân khiến cho nhu cầu ảo tăng lên và phí tổn xã hội rất lớn vì cùng xuất hiện cả lựa chọn nghịch và tâm lý ỷ lại Do vậy, các nhà kinh tế cho rằng, thị trường giáo dục là thị trường của niềm tin
Tâm lý ỷ lại trong giáo dục đại học còn thể hiện ở chỗ, khi người học
đã vào được đại học, nếu cơ chế sàng lọc của cơ sở đào tạo không hiệu quả, nếu những tiêu cực và bất cập về quản lý khiến nhiều người nghĩ rằng vận may hoặc tiền bạc có thể thay cho khả năng học tập và giúp họ vượt qua được các kỳ sát hạch trong tích lũy tri thức thì nhu cầu ảo, chất lượng ảo trong giáo dục đại học lại càng tăng lên Nếu hệ thống giáo dục chỉ coi trọng thi cử, quan tâm đến đầu vào mà không áp dụng các biện pháp nghiêm ngặt trong kiểm soát học tập thì tâm lý ỷ lại trong giáo dục đại học lại càng thể hiện rõ, đây cũng là nguyên nhân có ảnh hưởng quyết định tới chất lượng của hàng hóa Trong trường hợp này, chỉ có sự can thiệp tích cực của Nhà nước mới là công cụ hiệu quả nhất khắc phục đượcnhững khiếm khuyết của thị trường
Trang 13Thứ bảy, hàng hóa giáo dục có ngoại tác tích cực Khi cá nhân tham giavào học đại học như công cụ đem lại lợi ích cho cá nhân thì vô tình anh ta cũng đồng thời đáp ứng cho lợi ích xã hội Nghĩa là lợi ích xã hội do giáo dục tạo ra luôn luôn lớn hơn lợi ích cá nhân nhận được Nhưng giá thành tạo ra chúng cao hơn nhiều so với giá người mua sẵn sàng trả, cho nên, nếu để cho thuận mua vừa bán trên thị trường, tức là người mua phải trả chi phí bằng với chi phí xã hội, mà lợi ích cá nhân lại ít hơn thì có nhiều người sẽ không mua chúng, hoặc mua ít hơn mức cần thiết của xã
hội Nói theo ngôn ngữ kinh tế, ngoại tác tích cực trong trường hợp này thì: lợi ích xã hội luôn luôn lớn hơn lợi ích cá nhân
[Lợi ích xã hội] > [lợi ích cá nhân = chi phí cá nhân]
Do đó, tổng lợi ích xã hội sẽ tăng lên nếu như sản phẩm được sản xuất nhiều hơn, như vậy đòi hỏi chi phí cao hơn, tức là ở điểm:
[Lợi ích xã hội] = [chi phí cá nhân (=lợi ích cá nhân) + bù lỗ của nhà nước]
Đối với hàng hóa có ngoại tác tích cực như giáo dục, thị trường tự do sẽ không tự nó cung cấp đủ nhu cầu cho xã hội Để đáp ứng được nhu cầu chung, khi mà lợi ích xã hội lớn hơn lợi ích cá nhân và do đó lớn hơn chi phí cá nhân, Nhà nước cùng cộng đồng phải bù đắp thêm vào chi phí cá nhân Cho nên, nếu để cho thuận mua vừa bán trên thị trường, tức là
người mua phải trả chi phí bằng với chi phí xã hội, mà lợi ích cá nhân lại
ít hơn thì có nhiều người sẽ không mua chúng, sẵn sàng để con em họ vô học, hoặc họ mua ít hơn mức cần thiết đối với xã hội Những ngoại tác tích cực có thể kể ra là, với doanh nghiệp, khi sử dụng lao động có trình
độ cao thì sẽ có năng suất lao động cao, sản phẩm làm ra có chất lượng,
có sức cạnh tranh trên thị trường, tức là giá trị thặng dư của doanh nghiệp
sẽ tăng lên, cùng với lợi nhuận gia tăng Những cá nhân được giáo dục đào tạo tốt hơn sẽ, - có thông tin đầy đủ hơn, có thu nhập cao hơn và có khả năng đóng góp nhiều hơn cho xã hội Nhà nước thu lợi từ giáo dục cao hơn qua: chi phí ít hơn cho trợ cấp thất nghiệp và phúc lợi xã hội, chi phí ít hơn cho dịch vụ chăm sóc sức khỏe, thu được nhiều thuế thu nhập hơn Quan trọng hơn cả, giáo dục-đào tạo tốt hơn dẫn đến kinh tế tăng trưởng cao hơn, phát triển xã hội bền vững hơn Càng có nhiều người lao động giỏi, càng có nhiều phát minh, sáng chế, sáng kiến và tác động lan tỏa thì sẽ tạo ra càng nhiều sản phẩm mới với những tính năng, tác dụng mới.Chính yếu tố lợi ích ngoại tác đem
Trang 1410đến cho cộng đồng của giáo dục đại học là một trong các yếu tố quan trọng trong hình thành cơ sở cho việc Chính phủ tham gia vào đầu tư cho giáo dục đại học Hay nói một cách đầy đủ, điểm khác biệt cơ bản của giáo dục (hàng hóa công) so với các loại hàng hóa cá nhân bình thường khác, là lợi ích ngoại sinh của nó.
Thứ tám, giáo dục là công cụ quan trọng để thực hiện phân phối lại thu nhập Thị trường không có trách nhiệm và không thể phân phối thu nhập theo nguyên tắc công bằng cho tất cả mọi người Khả năng tiếp cận giáo dục đại học của từng cá nhân là không giống nhau, trong đó có tác động
từ yếu tố thu nhập cá nhân Việc hình thành thị trường giáo dục hoàn toàn vận động theo quy luật của thị trường sẽ làm cho số đông không thể tiếp cận được với hàng hóa Nhất là khi thị trường hoàn toàn tự quyết định vấn
đề cung cấp thì khả năng những cá nhân được học đại học chỉ là những người có thu nhập cao và mới có thể chi trả hoàn toàn chi phí cho giáo dục đại học Yếu tố thu nhập của gia đình làm cho mỗi cá nhân có cơ hội tiếp cận giáo dục sớm hay muộn, chất lượng của việc học tập ra sao, hay trang thiết bị đồ dùng học tập khác nhau cũng ảnh hưởng đến lợi ích của
cá nhân đó nhận được từ nền giáo dục cũng khác nhau Chính điều này làm cho cơ hội tiếp cận được giáo dục đại học của cá nhân thu nhập thấp,
- ít hơn nhiều so với cá nhân có thu nhập cao Để giảm thiểu tối đa mức chênh lệch lợi ích thụ hưởng giữa người giàu và nghèo trong giáo dục, cácquốc gia khác nhau sẽ có những phương cách vận dụng khác nhau trong trợ cấp cho giáo dục đại học nhằm tạo điều kiện cho sinh viên thuộc diện nghèo khó khăn có thêm nhiều cơ hội nhận được chất lượng học tốt nhất
so với các sinh viên khá giả Việc phân phối lại lợi ích trong giáo dục đại học không thể do thị trường điều tiết mà phải có sự can thiệp của Chính phủ Điểm khác biệt nổi trội của giáo dục đại học so với các loại hàng hóa
cá nhân khác chính là ở chỗ, thực hiện được nhiệm vụ phân phối lại thu nhập thông qua sản xuất và tiêu dùng.Đây là chức năng bao trùm của giáodục, mang một nhiệm vụ không kém phần quan trọng Đó là đảm bảo sự tồn tại và phát triển, hay cụ thể hơn là hiện thực hóa quyền bình đẳng về
cơ hội vào đời và tạo dựng cuộc sống của mỗi cá nhân trong xã hội Bởi
vì, để đạt được điều đó thì họ phải có cơ hội, ai cũng như ai, tiếp thu
những giá trị, tri thức và kỹ năng mà nền giáo dục đã đem lại cho họ
Trang 152.3 Vai trò của nhà nước trong cung cấp hàng hóa GDĐH:
Với bất kỳ loại hàng hóa nào được sản xuất trong nền kinh tế, dù là công cộng hay tư nhân, thì Nhà nước phải có trách nhiệm kiểm soát chất lượng, cũng như giá cả của nó Để kiểm soát chất lượng các sản phẩm thông thường, Chính phủ có thể sử dụng nhiều công cụ khác nhau như: thông qua hệ thống pháp luật để bắt buộc các nhà sản xuất thực hiện cơ chế tự đăng ký rồi kiểm soát, phải minh bạch hóa tất cả những thông tin
về đặc tính của sản phẩm khi giao dịch trên thị trường, thông qua các tổ chức hiệp hội để bảo vệ lợi ích của cả nhà sản xuất và người tiêu dùng và v.v Tất cả những điều đó được tuân thủ thì lợi ích của người tiêu dùng, cũng như của nhà sản xuất được thỏa mãn nhờ sức mạnh của thị trường Nhưng với những loại hàng hóa có nhiều bất đối xứng thông tin, có lợi íchngoại sinh, là công cụ điều tiết thu nhập như: giáo dục và y tế và v.v thì
cơ chế kiểm soát chất lượng, cũng như giá cả của nó phức tạp hơn rất nhiều Khi ấy, Nhà nước sẽ, một mặt, khó khăn hơn trong nhiệm vụ quản
lý, và mặt khác, phải đồng thời trực tiếp tham gia thực hiện nhiệm vụ cung cấp hàng hóa không chỉ để khắc phục sụp đổ của thị trường mà còn
là đối trọng để kiểm soát và định hướng cho khu vực ngoài nhà nước vì khuôn khổ chung của cả hệ thống giáo dục quốc dân Vấn đề quan trọng hơn nữa, là tài chính cho đại học, vì sản phẩm có thuộc tính xã hội nên Nhà nước có trách nhiệm không chỉ tạo điều kiện cho tất cả mọi người dân đều có cơ hội bình đẳng như nhau trong giáo dục đại học, mà còn phải xây dựng cả những cơ chế cho những tổ chức, các cá nhân có tâm huyết được đóng góp trí tuệ và tài sản của mình cho sự nghiệp giáo dục
Về mặt lý thuyết, trong vai trò sản xuất, Nhà nước luôn chịu trách nhiệm thực hiện những dự ĩnh vực đầu tư mạo hiểm và khả năng đầu tư vốn ban đầu lớn nhưng thu hồi chậm, mà kết quả gặt hái được phải tính bằng đơn
vị hàng chục năm, cho nên chỉ Nhà nước mới có thể đảm nhận, dù cho có
sự tham gia tài trợ của các thành phần kinh tế khác trong xã hội Đó là những đại học qui mô lớn, các đại học tinh hoa, đại học nghiên cứu, trong các lĩnh vực khoa học cơ bản, những ngành chiến lược rất cần những đầu
tư lớn, mà chỉ có Nhà nước mới thực hiện được Ngoài ra, những trường học ở vùng sâu, vùng xa mà tư nhân không muốn mở vì tính rủi ro cao thì bắt buộc Nhà nước phải có trách nhiệm tham gia mở trường Sụp đổ của thị trường trong lĩnh vực giáo dục, có thể dẫn đến phá sản cả một hệ thống
Trang 1612 kinh tế xã hội, vì vậy để tránh điều này các nước trên thế giới luôn luôn cómột hệ thống đại học công lập mạnh tồn tại song song cùng với các
trường tư thục, bởi các lý do sau:
Thứ nhất, chỉ có hệ thống trường công lập mới đảm bảo được tính độc lập của hệ thống giáo dục Giáo dục đại học cũng là một trong những vế chính của nền độc lập tự chủ, tự lực, tự cường của mỗi quốc gia bởi vì nó tham gia vào hướng đi lên, bảo đảm chất lượng cũng như số lượng người
có trình độ hiểu biết, có chuyên môn, nghiệp vụ cao, nhất là trong những lĩnh vực chiến lược Giáo dục đại học là cái lò nung đúc trí tuệ của dân tộc, chỉ có Nhà nước mới đảm nhiệm được sự liên tục và thừa kế, điều mà
cá nhân hay một tập thể, dù đầy thiện chí cũng không thể gánh vác được Khi nói về vấn đề này, TS Drew G.Faust, hiệu trưởng Đại học Harvard cho rằng: “Hệ thống giáo dục đại học phải chịu trách nhiệm với quá khứ
và tương lai của dân tộc, chứ không chỉ đơn giản với hiện tại Một trường đại học hoạt động không vì những kết quả của quý sắp tới, cũng không vì việc sinh viên tốt nghiệp sẽ trở thành người nào Nó hoạt động vì những kiến thức sẽ định hình một đời người, những kiến thức truyền tải di sản của nhiều thiên niên kỷ, những kiến thức quyết định tương lai Cam kết của đại học là vô thời hạn, thành tựu không tiên đoán được, không đo lường được, nỗ lực làm việc không phải để tăng sức cạnh tranh mà là để
“định nghĩa cái gì đã làm chúng ta là người qua bao nhiêu thế kỷ”, cái gì giúp ta “hiểu ta là ai, từ đâu đến, đi về đâu và tại sao” Đi tìm ý nghĩa như vậy là một hành trình bất tận, luôn luôn đặt lại vấn đề, luôn luôn gặp giải thích mới, không bao giờ bằng lòng với những khám phá đã có, câu trả lờinày chỉ gợi lên câu hỏi tiếp theo Đó là học Học như vậy trong mọi
ngành, “trong khoa học tự nhiên cũng như trong khoa học xã hội, nhân văn, và đó là cốt lõi đại học nhắm đến” Hay nói cách khác, một đại học
có ba nhiệm vụ chính: là ký ức của xã hội, là mũi nhọn của xã hội, và là tấm gương phê phán của xã hội
Thứ hai, chỉ có hệ thống công lập mạnh mới thực hiện được nhiệm vụ đảm bảo công bằng cho mọi người dân có khả năng học tập đều được đến trường mà không phụ thuộc vào hoàn cảnh gia đình Như đã phân tích trên đây, chúng ta thấy rằng nếu Nhà nước không mở trường đại học, mà chỉ dùng công cụ tài chính để điều tiết, thì sẽ dẫn đến kết quả: hoặc bao
Trang 1713nhiều người không đủ khả năng tích lũy trong học tập, nhưng lại vẫn đượccung cấp, hoặc những người có khả năng chi trả cho giáo dục nhưng lại ỷ lại vào trợ cấp Kết quả là, chi phí xã hội bỏ ra có thể lớn hơn gấp nhiều lần lợi ích xã hội nhận được Ngược lại, nếu để người học trả toàn bộ chi phí sẽ làm giảm tiêu dùng hàng hóa vì trong trường hợp này chi phí cá nhân sẽ lớn hơn lợi ích cá nhân nhận được Khi đó, chính Nhà nước đã tước đi cơ hội được học đại học của những cá nhân có hoàn cảnh khó khăn, bởi vì thị trường không có trách nhiệm và cũng không thể thực hiện được nhiệm vụ này Khác biệt về lý thuyết công bằng trong giáo dục đại học so với giáo dục phổ thông là ở chỗ, trợ cấp của Nhà nước cần có sự phân loại phù hợp để những ai có khả năng học đại học, đều được đến trường mà không phụ thuộc vào gia cảnh của họ Bởi vì, những người họcđại học đã bước vào tuổi thành niên, hoặc đã có đủ khả năng chi trả cho học tập ở hiện tại (như vừa học, vừa làm) hoặc khả năng chi trả sẽ nằm trong tương lai khi họ có việc làm.
Thứ ba, chỉ có hệ thống trường công lập mạnh mới đảm bảo được tính
ổn định của cả hệ thống giáo dục Trường đại học là khuôn đúc ra những sản phẩm đặc biệt có tri thức – đó là con người, là cả một thế hệ kế thừa cho mỗi dân tộc, mà mỗi người lại không thể sống được hai lần trong cuộc đời, vậy thì những thế hệ tiếp nối này sẽ được hình thành như thế nào trong một khuôn đúc bất ổn định Do vậy, bên cạnh hệ thống trường đại học công lập, các nước trên thế giới còn tồn tại một khối lượng đáng
kể các trường đại học ngoài công lập mà chúng ta thường gọi là “đại học
tư thục” Đại học tư thục, do phải tự hạch toán tài chính nên có khuynh hướng chọn mở những ngành đầu tư nhẹ, mang tính thời thượng và có khảnăng sinh lời cao, thu hồi vốn nhanh, do đó trong một xã hội bình thường,đại học tư thục chỉ có thể mang tính cách hỗ trợ, chứ không thể đảm
nhiệm hoàn toàn sứ mạng của nền giáo dục đại học cho cả một quốc gia Hay nói một cách khác, hiệu quả kinh tế là lợi thế của khu vực tư nhân, nhưng chỉ dựa vào khu vực tư nhân để phát triển giáo dục, thì sự đánh đổi
là rất lớn Kinh nghiệm thực tế chỉ ra rằng, đại học tư có thể mở ra, rồi tồntại hoặc phá sản, nhưng trên nguyên tắc phải đảm bảo rằng, không làm xáo trộn lớn đến nền giáo dục đại học của quốc
14
Trang 18gia Tức là, khu vực tư nhân tham gia vào giáo dục đại học chỉ có thể chia
sẻ gánh nặng, chứ không thể thay thế được trách nhiệm ổn định hệ thống của Nhà nước trong lĩnh vực này, dù được phân tích từ bất kỳ góc độ nào Thứ tư, hệ thống công lập mạnh sẽ đảm bảo chất lượng của nền giáo dục Qui mô của các đại học công lập và số lượng sinh viên theo học phụ thuộc vào mức độ phát triển của nền kinh tế, nhưng chất lượng của hệ thống giáo dục phải được đặt lên hàng đầu, không phải chỉ vì sự tồn tại của nền giáo dục, mà còn vì nền độc lập tự chủ của quốc gia Dựa vào khuvực tư nhân cũng có thể giải quyết được bài toán chất lượng giáo dục đại học, nhưng chỉ ở trong những lĩnh vực, ngành nghề đem lại lợi nhuận cao.Như vậy, nếu đặt hy vọng chất lượng của nền giáo dục dựa vào tư nhân cung cấp thì phải chấp nhận một hệ thống mất cân đối Ngược lại, mất ổn định của hệ thống thì sẽ không có cơ sở nào khẳng định chất lượng của nóđược đảm bảo Không có sự đánh đổi nào giữa hai mục tiêu đó được chấp nhận, và chỉ có một hệ thống công lập mạnh mới đáp ứng được đồng thời các nhiệm vụ này
Một số tiêu chí đánh giá hiệu lực quản lý của nhà nước
về GDĐH
1 Năng lực xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật
Xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực quốc gia đáp ứng nhu cầu
xã hội,quy hoạch mạng lưới trường đh cđ bảo đảm cơ cấu trình độ ngành nghề ,vùng miền phù hợp với với kế hoạch tổng quát phát triển KT-
XHcủa đất nước,
Bảo đảm tính mềm dẻo,linh hoạt của hệ thống(liên thông giữa các chương trình đào tạo,các cấp,bậc học,phát triển các loại hình đào tạo và hình thức học tập phù hợp với triết lý giáo dục giai đoạn phát triển) Có các điều kiện cụ thể đảm bảo chất lượng ,chương trình đào tạo phải hiện đại,cập nhật và gắn thực tiễn ,đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý đủ số lượng,đảm bảo chât lượng cơ sở vật chất,phương pháp giảng dạy,học tập tiên tiến;
Thực hiên phân cấp đối với cơ quan quản lý nhà nước và giao quyền tự chủ tự chịu trách nhiệm của các cơ sở gíao dục đại học
Công khai chất lượng đào tạo ,gắn đào tạo với nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ
15
Trang 192 Có chiến lược hội nhập quốc tế,xây dựng một số cơ sở gddh xuất sắc và một số ngành mũi nhọn được thừa nhận trong khu vực và quốc tế
3 Có cơ chế tài chính nhằm đa dạng hóa nguồn lực để phát triển GDĐH
4 Bộ máy quản lý nhà nước về GDĐH phải phù hợp với chức năng
và đối tượng quản lý;
5 Có khả năng tổ chức thực hiện tốt các quy định của pháp luật về GDĐH ,Người đứng đầu cơ sở GDĐH phải có kinh nghiệm ,có năng lực quản lý và am hiểu GDĐH
6 Thực hiện tốt giám sát ,kiểm tra ,xử lý vi phạm pháp luật về
GDĐH
Phần III :Thực trạng giáo dục đại học VN hiện nay
1 Chất lượng các trường đại học:
Được sự đầu tư lớn của Nhà nước về tài chính, hàng loạt các trường học đã được xây dựng, thành lập để đáp ứng nhu cầu giáo dục ngày càng tăng lên của người dân Tổng cục thống kế đã có số liệu thống kê về số lượng trường công lập và trường ngoài công lập ở bậc cao đẳng và đại học
ở Việt Nam trong những năm từ 2010_2015 như sau:
201 0
201 1
201 2
201 3
201 4
201 5
Tổng số
414, 0
419, 0
421 ,0
428, 0
436, 0
445, 0 Trường công lập
334, 0
337, 0
340 ,0
343, 0
347, 0
357, 0 Trường ngoài
81,
0 85,0 89,0 88,0 ( Trích Bộ Thống kê)
16
Trang 20Tốc độ tăng trưởng các trường rất nhanh từ năm 1987 cả nước có
101 trường đại học và cao đẳng (63 trường đại học, chiếm 62%; 38 trườngcao đẳng, chiếm 38%), nhưng đến tháng 9 năm 2015 đã có 445 trường đạihọc và cao đẳng, tăng gấp 4,4 lần Việc mở rộng quy mô không chỉ bó hẹp trong các trường công lập mà cả loại hình dân lập Với 101 trường đạihọc và cao đẳng năm 1987 chúng ta chưa có trường ngoài công lập, đến năm 1997 cả nước đã có 15 trường đại học ngoài công lập và đến tháng 9 năm 2015 có 316 trường đại học, cao đẳng ngoài công lập, chiếm 42,25%.Đến nay, đã có 40/63 tỉnh, thành phố có trường đại học (đạt tỷ lệ 63%); có60/63 tỉnh, thành có trường cao đẳng (đạt tỷ lệ 95%) và có 62/63 tỉnh, thành có ít nhất 1 trường cao đẳng hoặc đại học (đạt tỷ lệ 98%, trừ tỉnh Đắk Nông chưa có trường đại học, cao đẳng nào) Và, 35/63 tỉnh có thêm trường đại học mới, trong đó: 23 tỉnh có thêm 1 trường; 10 tỉnh có thêm 2 – 3 trường; riêng Thành phố Hồ Chí Minh có thêm 18 trường đại học và
Hà Nội (mở rộng) có thêm 23 trường, chiếm tỷ lệ 43% số trường đại học thành lập mới và nâng cấp
Cùng với tốc độ tăng của các trường đại hoc thì số lượng sinh viên cũng ngày càng gia tăng
Sinh viên công lập và ngoài công lập