Biện pháp 3: Lập kế hoạch, lên chương trình cụ thể về việc bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên trong tổ chức hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ ở trường mầm non theo chuẩn PTTE5T ..
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
TRẦN THỊ THANH TÂM
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TRẺ Ở TRƯỜNG MẦM NON THEO CHUẨN PHÁT TRIỂN TRẺ EM 5 TUỔI TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
TRẦN THỊ THANH TÂM
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TRẺ Ở TRƯỜNG MẦM NON THEO CHUẨN PHÁT TRIỂN TRẺ EM 5 TUỔI TRÊN ĐỊA BÀN
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 8 14 01 14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS TRẦN TRUNG
HÀ NỘI, 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, tác giả luận văn xin trân trọng cảm ơn tới:
Trường Đại học Sư Phạm 2 Hà Nội và tập thể các thầy giáo, cô giáo trực tiếp tham gia giảng dạy lớp cao học QLGD K20, tận tình cung cấp những kiến thức quý báu, tạo điều kiện thuận lợi cho tất cả các học viên K20 nói chung và tác giả nói riêng được học tập và nghiên cứu tại Đại học Sư Phạm Hà Nội 2 để tác giả có những kỹ năng cần thiết thực hiện luận văn hoàn chỉnh
Đặc biệt, tác giả bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến PGS.TS Trần Trung, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn phòng GD&ĐT huyện Thanh Trì, CBQL các trường mầm non, Ban giám hiệu và giáo viên 3 trường mầm non C thị trấn Văn Điển, Tân Triều, B Ngũ Hiệp trên địa bàn huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội đã tạo điều kiện
về thời gian, cung cấp số liệu, đóng góp nhiều ý kiến cho tôi khi nghiên cứu đề tài Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài, mặc dù có nhiều cố gắng song luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Kính mong nhận được sự chỉ dẫn của Hội đồng chấm luận văn, sự góp ý của quý thầy cô, cùng các bạn bè đồng nghiệp để luận văn hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 30 tháng 6 năm 2018
Tác giả
Trần Thị Thanh Tâm
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác Mọi thông tin trích dẫn trong luận văn đƣợc lấy từ các nguồn tin cậy, có kiểm soát
Hà Nội, ngày 30 tháng 6 năm 2018
Tác giả
Trần Thị Thanh Tâm
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 4
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Giả thuyết khoa học 5
6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5
7 Cấu trúc luận văn 6
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TRẺ Ở TRƯỜNG MẦM NON THEO CHUẨN PHÁT TRIỂN TRẺ EM 5 TUỔI 7
1.1 Khái lược tổng quan nghiên cứu vấn đề 7
1.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới 7
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước 8
1.2 Một số khái niệm cơ bản 10
1.2.1 Quản lý 10
1.2.2 Quản lý giáo dục 10
1.2.3 Đánh giá 11
1.2.4 Chức năng, nguyên tắc, quy trình của đánh giá trong giáo dục 13
1.2.5 Đánh giá sự phát triển của trẻ ở trường mầm non 14
1.2.6 Quản lý đánh giá trẻ ở trường mầm non 16
1.3 Giới thiệu về chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi tại trường mầm non 17
1.3.1 Chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi 17
1.3.2 Mục đích ban hành chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi 17
1.3.3 Nội dung chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi 18
1.3.4 Hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ ở trường mầm non theo chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi 20
Trang 61.4 Quản lý hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ ở trường mầm non theo
chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi 21
1.4.1 Nguyên tắc quản lý 21
1.4.2 Nội dung quản lý 22
1.4.3 Điều kiện đảm bảo cho quản lý hiệu quả 25
1.5 Yếu tố tác động đến quản lý hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ ở trường mầm non theo chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi 26
1.5.1 Đặc điểm phát triển tâm lý của trẻ mẫu giáo lớn 5 tuổi 26
1.5.2 Gia đình 28
1.5.3 Nhà trường 29
Kết luận chương 1 34
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TRẺ Ở TRƯỜNG MẦM NON THEO CHUẨN PHÁT TRIỂN TRẺ EM 5 TUỔI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 35
2.1 Một số nét về sự phát triển giáo dục mầm non huyện Thanh Trì 35
2.1.1 Vị trí địa lý, kinh tế- xã hội, giáo dục ở huyện Thanh Trì 35
2.1.2 Khái quát giáo dục mầm non huyện Thanh Trì 37
2.2 Đặc điểm tình hình của 3 trường mầm non công lập được chọn nghiên cứu thực trạng 46
2.2.1 Trường mầm non C thị trấn Văn Điển - Thanh Trì - Hà Nội 46
2.2.2 Trường mầm non Tân Triều 47
2.2.3 Trường mầm non B xã Ngũ Hiệp 48
2.3.Tóm tắt về hoạt động khảo sát 48
2.3.1 Mục đích khảo sát 48
2.3.2 Đối tượng khảo sát 49
2.3.3 Nội dung khảo sát 49
2.3.4 Công cụ khảo sát 49
2.3.5 Tiến hành khảo sát và xử lý dữ liệu 49
Trang 72.4 Thực trạng hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ theo chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi tại các trường mầm non huyện Thanh Trì 502.4.1 Hiểu biết của giáo viên về các nội dung đánh giá sự phát triển của trẻ theo chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi 502.4.2 Hiểu biết của CBQL, GV, phụ huynh về vấn đề liên quan đến hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ 5 tuổi 512.4.3 Thực trạng việc đánh giá sự phát triển của trẻ theo chuẩn PTTE5T tại các trường mầm non huyện Thanh Trì 532.4.4 Phối hợp giữa nhà trường với phụ huynh học sinh trong hoạt động đánh giá
sự phát triển của trẻ ở trường mầm non theo chuẩn PTTE5T 552.4.5 Thuận lợi và khó khăn của giáo viên trong việc đánh giá sự phát triển của trẻ ở trường mầm non theo chuẩn PTTE5T trên địa bàn huyện Thanh Trì 562.5 Thực trạng công tác quản lý hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ ở trường mầm non theo chuẩn PTTE5T trên địa bàn huyện Thanh Trì 572.5.1 Thực trạng xây dựng kế hoạch đánh giá sự phát triển của trẻ mẫu giáo lớn 5 tuổi theo chuẩn PTTE 5T tại các trường mầm non huyện Thanh Trì 572.5.2 Thực trạng chỉ đạo tổ chức đánh giá sự phát triển của trẻ ở trường mầm non theo chuẩn PTTE5T trong huyện Thanh Trì 592.5.3 Thực trạng công tác kiểm tra, đánh giá giáo viên trong hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ ở trường mầm non theo chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi trên địa bàn huyện Thanh Trì 602.5.4 Thực trạng quản lý việc tổ chức các hoạt động bồi dưỡng cho GV dạy lớp mẫu giáo 5 tuổi về hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ theo chuẩn PTTE5T 622.5.5 Thực trạng về quản lý việc xây dựng bộ công cụ đánh giá trẻ MGL 5 tuổi 642.6 Đánh giá những yếu tố ảnh hưởng đến việc quản lý hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ theo chuẩn PTTE5T trong các trường mầm non huyện Thanh Trì 662.7 Đánh giá chung về thực trạng 682.7.1 Những mặt mạnh 68
Trang 82.7.2 Những mặt hạn chế 69
2.7.3 Nguyên nhân 70
Kết luận chương 2 72
Chương 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TRẺ Ở TRƯỜNG MẦM NON THEO CHUẨN PTTE 5T TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 73
3.1 Nguyên tắc xây dựng các biện pháp quản lý hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ ở trường mầm non theo chuẩn PTTE5T trên địa bàn huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội 73
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu 73
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính toàn diện 73
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 73
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 73
3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 73
3.2 Các biện pháp quản lý hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ ở trường mầm non theo chuẩn PTTE 5T trên địa bàn huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội 74
3.2.1 Biện pháp 1: Thông qua việc tuyên truyền, trao đổi, tập huấn, học tập, đóng góp ý kiến, giúp GV nhận thức tầm quan trọng về hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ ở trường mầm non theo chuẩn PTTE5T cho GV và PHHS 74
3.2.2 Biện pháp 2: Xây dựng kế hoạch thực hiện hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ ở trường mầm non theo chuẩn PTTE5T cụ thể, sáng tạo, khoa học phù hợp với điều kiện thực tế của trường 78
3.2.3 Biện pháp 3: Lập kế hoạch, lên chương trình cụ thể về việc bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên trong tổ chức hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ ở trường mầm non theo chuẩn PTTE5T 83
3.2.4 Biện pháp 4: Cùng giáo viên xây dựng, hoàn thiện, thường xuyên điều chỉnh, dổi mới bộ công cụ đánh giá trẻ mẫu giáo lớn 5 tuổi có chất lượng 86 3.2.5 Biện pháp 5: Phối hợp chặt chẽ giữa gia đình-nhà trường trong hoạt động
Trang 9đánh giá sự phát triển của trẻ ở trường mầm non theo chuẩn PTTE5T 90
3.2.6 Biện pháp 6: Xây dựng tiêu chí rõ ràng, công bằng, có những điều chỉnh kịp thời về công tác kiểm tra, đánh giá giáo viên trong hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ ở trường mầm non theo chuẩn PTTE5T 94
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 98
3.4 Khảo nghiệm về tính cần thiết, tính khả thi của các biện pháp 100
Kết luận chương 3 104
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 105
1 Kết luận 105
2 Khuyến nghị 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO 108
PHỤ LỤC 111
Trang 10NHỮNG KÝ TỰ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
3 CB-GV-NV Cán bộ,giáo viên, nhân viên
Trang 11DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Quy mô trường lớp mầm non công lập, ngoài công lập 38 Bảng 2.2: Thực trạng cơ sở vật chất giáo dục mầm non toàn huyện 39 Bảng 2.3 Đội ngũ cán bộ quản lý 42 Bảng 2.4 Ý kiến của giáo viên về việc hiểu biết về nội dung chuẩn phát triển
trẻ em 5 tuổi 47 Bảng 2.5 Nhận thức của CBQL, GV và phụ huynh học sinh về hoạt động đánh
giá sự phát triển của trẻ mẫu giáo 5 tuổi 52 Bảng 2.6 Ý kiến của giáo viên về việc thực hiện hoạt động đánh giá sự phát triển
của trẻ mẫu giáo 5 tuổi tại các trường mầm non huyện Thanh Trì 54 Bảng 2.7 Ý kiến đánh giá của CBQL, GV và cha mẹ trẻ về việc phối hợp với
phụ huynh trong công tác đánh giá sự phát triển của trẻ ở trường mầm non theo chuẩn PTTE5T trên địa bàn huyện Thanh Trì 55 Bảng 2.8 Ý kiến của GV về công tác lập kế hoạch thực hiện hoạt động đánh giá
sự phát triển của trẻ mẫu giáo 5 tuổi tại trường mầm non 58 Bảng 2.9 Ý kiến của GV về tổ chức và chỉ đạo việc thực hiện hoạt động đánh
giá sự phát triển của trẻ mẫu giáo 5 tuổi của hiệu trưởng tại các trường mầm non trong huyện Thanh Trì 59 Bảng 2.10 Ý kiến đánh giá của GV về công tác kiểm tra, đánh giá GV trong
hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ mẫu giáo 5 tuổi của hiệu trưởng tại các trường mầm non trong huyện Thanh Trì 61 Bảng 2.11 Ý kiến của CBQL, GV về công tác bồi dưỡng đội ngũ GV trong
hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ mẫu giáo 5 tuổi tại các trường mầm non trong huyện Thanh Trì 63 Bảng 2.12 Ý kiến đánh giá của CBQL và GV về việc xây dựng Bộ công cụ
đánh giá sự phát triển của trẻ tại các trường mầm non trong huyện Thanh Trì 65 Bảng 2.13: Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến quản lý hoạt động
đánh giá sự phát triển của trẻ ở trường mầm non theo chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi trên địa bàn huyện Thanh Trì 67
Trang 12Bảng 3.1 Ý kiến của giáo viên về nhu cầu bồi dưỡng của giáo viên về hoạt
động đánh giá sự phát triển của trẻ ở trường mầm non theo chuẩn PTTE5T 92 Bảng 3.2 Ý kiến đánh giá về tính khả thi của các biện pháp quản lý hoạt động
đánh giá sự phát triển của trẻ dựa trên chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi tại các trường mầm non huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội 93
Trang 13DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Mức độ cần thiết của các biện pháp quản lý hoạt động đánh giá sự
phát triển của trẻ ở các trường mầm non dựa trên chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi trên địa bàn huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội 101 Biểu đồ 3.2 Mức độ khả thi của các biện pháp quản lý hoạt động đánh giá sự
phát triển của trẻ dựa trên chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi tại các trường mầm non huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội 103
Trang 14MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trẻ em là những chủ nhân tương lai của đất nước và xã hội Một đất nước, một xã hội tồn tại và phát triển như thế nào phụ thuộc vào những hạt giống này Phần lớn các quốc gia đang coi những năm phát triển đầu đời của trẻ như điểm khởi đầu cần thiết cho một thế hệ công dân có đủ năng lực Giáo dục mầm non là cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, đặt nền móng cho sự phát triển về thể chất, nhận thức, ngôn ngữ tình cảm xã hội và thẩm mỹ cho trẻ em Những kiến thức,
kỹ năng mà trẻ tiếp thu được qua chương trình chăm sóc giáo dục mầm non sẽ là nền tảng cho việc học tập và thành công sau này Do vậy, phát triển giáo dục mầm non, tăng cường khả năng sẵn sàng đi học cho trẻ là yếu tố quan trọng trong việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho mỗi quốc gia Chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ ở trường mầm non tốt hay không có ảnh hưởng lớn đến chất lượng giáo dục ở các bậc học tiếp theo
Ngày nay, việc nâng cao chất lượng giáo dục là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu trong xã hội Thực hiện nghị quyết 29/NQ-TƯ về đổi mới căn bản toàn diện, toàn ngành GD-ĐT đang nỗ lực đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong hoạt động học tập, phương pháp dạy học được coi là một trong những thành tố quan trọng trong việc tổ chức hoạt động học tập nhằm giúp học sinh chủ động đạt các mục tiêu dạy học
Trong bối cảnh đổi mới và phát triển giáo dục như hiện nay, việc đánh giá trong giáo dục không thể đứng ngoài xu thế phát triển chung và đây là vấn đề đang rất được quan tâm Đánh giá giáo dục vừa là một lĩnh vực nghiên cứu khoa học, vừa
là một công cụ hữu hiệu của quản lý giáo dục nhằm đánh giá giá trị của giáo dục để điều chỉnh, kiểm nghiệm trình độ phát triển của giáo dục và cải tiến để giáo dục ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu của cộng đồng xã hội Trong mỗi nhà trường, đánh giá được coi là một yếu tố cấu thành của đổi mới toàn diện, đánh giá có tác dụng xem xét và điều chỉnh các hoạt động giáo dục, khẳng định kết quả đạt được, đưa ra những nhận định về xu hướng tiến bộ, dự báo sự phát triển và đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục
Trang 15Theo CTGDMN mới hiện nay, các hoạt động giáo dục trẻ mẫu giáo 5 tuổi được thực hiện dựa trên 5 lĩnh vực phát triển của trẻ Bên cạnh đó, còn dựa vào các tiêu chí cụ thể để đánh giá trẻ có phát triển theo đúng độ tuổi, có khả năng sẵn sàng bước vào lớp 1 hay không Nhận thức được tầm quan trọng về việc đánh giá sự phát triển của trẻ, ngày 22/7/2010 Bộ giáo dục và đào tạo ban hành Thông tư số 23/2010/TT-BGD&ĐT quy định về chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi với 4 lĩnh vực, 28 chuẩn, 120 chỉ số cụ thể để đánh giá trẻ về các mặt phát triển
Chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi là những mong đợi về những gì trẻ nên biết
và có thể làm được dưới tác động của giáo dục Đây là xu hướng chung của các nước trên thế giới nhằm nâng cao và giám sát chất lượng giáo dục Đồng thời, là cơ
sở để thiết kế và điều chỉnh chương trình giáo dục Đây là một bước đi mới nhằm đánh giá năng lực của trẻ 5 tuổi với những chuẩn, những chỉ số cụ thể giúp cán bộ quản lý, giáo viên và phụ huynh có những phương pháp, biện pháp phù hợp để chăm sóc giáo dục trẻ, chuẩn bị sẵn sàng cho trẻ bước vào lớp 1
Theo quy định của Bộ GD&ĐT, tất cả cơ sở giáo dục mầm non phải thực hiện chăm sóc, giáo dục trẻ theo chương trình của Bộ GD&ĐT ban hành Nhưng đó
là chương trình khung phải tùy thuộc vào điều kiện của từng trường, từng vùng miền để xây dựng kế hoạch thực hiện chương trình một cách hiệu quả và phù hợp Nói như vậy có nghĩa là cách thực hiện chương trình ở các trường, các vùng miền là khác nhau nên kết quả triển khai thực hiện chương trình cũng vì thế mà không thể giống nhau Cũng có nghĩa là trẻ ở các trường, các vùng miền sẽ không đạt các chỉ
số như nhau Việc đánh giá sự phát triển của trẻ mẫu giáo lớn 5 tuổi theo chuẩn phát triển không phải là để đánh giá xếp loại, so sánh trẻ này với trẻ kia, hay dùng để đánh giá giáo viên mà nó có vai trò rất quan trọng là căn cứ để giáo viên điều chỉnh chương trình: nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục và phối hợp với phụ huynh trong việc chăm sóc giáo dục trẻ một cách toàn diện, chuẩn bị tâm thế tốt cho trẻ vào lớp 1 đồng thời giúp cho các cấp quản lý xây dựng tài liệu liên quan để định hướng cho sự phát triển toàn diện của trẻ mầm non với chất lượng tốt nhất Để đạt được mục tiêu này đòi hỏi người giáo viên phải nhận thức đúng về tầm quan trọng
Trang 16của chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi, hiểu và thực hiện đúng quy trình đánh giá sự phát triển của trẻ 5 tuổi theo chuẩn phát triển trẻ em đồng thời thực hiện việc đánh giá trẻ một cách thường xuyên, hiệu quả
Việc triển khai thực hiện chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi tại các trường mầm non huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội trong đó có trường Mầm non C thị trấn Văn Điển huyện Thanh Trì nơi tôi đang làm quản lý đã được thực hiện từ năm học 2012-2013, đến nay vẫn còn gặp nhiều khó khăn và hạn chế nhất định, dẫn đến chưa thực sự góp phần vào nâng cao chất lượng chăm sóc và giáo dục trẻ 5 tuổi trong các nhà trường Có nhiều nguyên nhân dẫn đến các hạn chế trong việc đánh giá sự phát triển của trẻ theo chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi: Có nhiều chỉ số (120 chỉ số), nhiều chỉ số khó, nhiều chỉ số không có minh chứng rõ ràng, chuẩn PTTE5T ra sau chương trình nên thiếu sự đồng nhất, nhiều giáo viên còn hiểu về chuẩn một cách mơ hồ, một số giáo viên đánh giá theo cảm tính, đánh giá trẻ theo ý kiến chủ quan của mình không theo chuẩn hoặc không theo đúng quy trình đánh giá, thực hiện đánh giá trẻ theo chuẩn vẫn mang tính hình thức, qua loa đại khái, làm cho có nhưng nguyên nhân chủ yếu là do công tác quản lý của các Hiệu trưởng và phó Hiệu trưởng phụ trách chuyên môn chưa có các biện pháp khả thi để nâng cao hiệu quả trong đánh giá, buông lỏng trong quản lý, phó mặc công tác đánh giá trẻ mẫu giáo lớn 5 tuổi cho giáo viên
Xuất phát từ những yêu cầu về lý luận và thực tiễn trên, là một cán bộ quản
lý tôi luôn tự hỏi mình phải làm gì, chỉ đạo, phối hợp với các tổ chức, thành viên trong và ngoài nhà trường như thế nào để quản lý hoạt động đánh giá trẻ 5 tuổi theo chuẩn phát triển trẻ em được hiệu quả góp phần nâng cao chất lượng toàn diện trong nhà trường.Việc này đòi hỏi cần phải có những biện pháp quản lý hoạt động đánh giá trẻ 5 tuổi sao cho khoa học và hợp lý, phù hợp với yêu cầu đổi mới trong GD hiện nay
Xuất phát từ những lý do trên, tôi lựa chọn đề tài: “Quản lý hoạt động
đánh sự phát triển của trẻ ở trường mầm non theo chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi trên địa bàn huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội” để thực hiện Luận văn
thạc sĩ quản lý giáo dục
Trang 17chăm sóc giáo dục trẻ của các trường mầm non trên địa bàn huyện Thanh Trì
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu đề ra như trên, đề tài tập trung vào các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu các vấn đề lý luận về quản lý hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ mẫu giáo 5 tuổi
- Nghiên cứu thực tiễn hoạt động đánh giá và quản lý hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ mẫu giáo lớn 5 tuổi theo chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi tại các trường mầm non trên địa bàn huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội
- Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ mẫu giáo 5 tuổi theo chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc - giáo dục tại các trường mầm non trên địa bàn huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ ở trường mầm non theo chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi trên địa bàn huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu một số biện pháp quản lý hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ ở trường mầm non theo chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi trên địa bàn huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội
Địa bàn và khách thể nghiên cứu thực trạng được thực hiện tại 03 trường mầm non công lập (mầm non C thị trấn Văn Điển, mầm non xã Tân Triều, mầm non
B xã Ngũ Hiệp) tại huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội
Tổng số khách thể nghiên cứu: gồm 87 CBQL, 43 GV và 150 PHHS lớp mẫu giáo lớn 5 tuổi
Trang 185 Giả thuyết khoa học
Hiện nay, trước bối cảnh đổi mới giáo dục mầm non diễn ra mạnh mẽ, quản lý hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ theo chuẩn phát triển trẻ em năm tuổi chưa thực sự đem lại hiệu quả tích cực trong việc góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc - giáo dục trẻ tại trường mầm non trên địa bàn huyện Thanh Trì, Hà Nội Nếu các biện pháp quản lý hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ luôn dựa vào chuẩn
và được cụ thể hóa bằng các tiêu chí, kèm theo đó là sự phát triển năng lực đánh giá của giáo viên thì sẽ khắc phục được những khó khăn trong công tác đánh giá trẻ, từ
đó nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ 5 tuổi của nhà trường
6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp luận
Nghiên cứu được tiến hành dựa trên cơ sở một số nguyên tắc phương pháp luận của quản lý giáo dục Cụ thể như sau:
Nguyên tắc hoạt động: Khi nghiên cứu hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ
ở trường mầm non theo chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi cần nghiên cứu về hoạt động quản lý của hiệu trưởng và hoạt động đánh giá trẻ của giáo viên để làm bộc lộ rõ biện pháp quản lý của Hiệu trưởng đối với công tác đánh giá trẻ mẫu giáo lớn 5 tuổi theo
chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi
Nguyên tắc tiếp cận hệ thống: Quản lý hoạt động đánh giá sự phát triển của
trẻ mẫu giáo lớn 5 tuổi theo chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi chịu sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau Vì vậy, trong luận văn này, quản lý hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ ở trường mầm non theo chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi được xem xét như là kết quả tác động của nhiều yếu tố Tuy nhiên, trong từng thời điểm, từng hoàn cảnh khác nhau có yếu tố tác động trực tiếp, có yếu tố tác động gián tiếp, có yếu tố tác động nhiều, có yếu tố tác động ít Việc xác định đứng vai trò của từng yếu tố trong nhũng hoàn cảnh có thể là điều cần thiết Vì vậy, trong nghiên cứu này, quản lý hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ theo chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi được xem xét trong mối liên hệ về nhiều mặt
Nguyên tắc phát triển: Khi nghiên cứu về quản lý hoạt động đánh giá sự
phát triển của trẻ ở trường mầm non theo chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi phải nghiên cứu trong sự vận động, biến đổi, tương tác qua lại giữa toàn bộ các hoạt động trong
Trang 19quá trình quản lý tại các trường Thấy được sự vận động, phát triển, biến đổi của quản lý hoạt động đánh giá trẻ mẫu giáo 5 tuổi theo chuẩn phát triển trẻ em tại các trường mầm non ở thời gian hiện tại, quá khứ và dự báo tương lai phát triển
6.2 Phương pháp nghiên cứu
6.2.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Nghiên cứu các văn bản quy định của Nhà nước và của ngành giáo dục và đào tạo; các tài liệu lý luận về quản lý, đánh giá trẻ mầm non, chuẩn phát triển trẻ
em 5 tuổi và các tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu
6.2.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát: Quan sát hoạt động kiểm tra đánh giá của giáo
viên, các giờ dạy của giáo viên trên lớp có liên quan đến đánh giá trẻ theo chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi
- Phương pháp phỏng vấn/trò chuyện: Tiến hành gặp gỡ và trao đổi với cán bộ
triển khai thực hiện chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi của Phòng GD&ĐT huyện Thanh Trì; Ban Giám hiệu, tổ trưởng chuyên môn, đại diện công đoàn tại cơ sở giáo dục
- Phương pháp điều tra, khảo sát: Thông qua phiếu điều tra đối với CBQL,
GV, PHHS để biết được những vấn đề về đánh giá sự phát triển của trẻ mẫu giáo
lớn 5 tuổi theo chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi
- Phương pháp thống kê toán học: Xử lý và phân tích các số liệu, kết quả
điều tra, đồng thời xác định mức độ tin cậy của việc điều tra và kết quả nghiên cứu
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và khuyến nghị, nội dung luận văn được cấu thành bởi 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ ở trường mầm non theo chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ ở trường mầm non theo chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi trên địa bàn huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ ở trường mầm non theo chuẩn PTTE5T trên địa bàn huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội
Trang 20Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ
SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TRẺ Ở TRƯỜNG MẦM NON THEO
CHUẨN PHÁT TRIỂN TRẺ EM 5 TUỔI 1.1 Khái lược tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới
Ngay từ khi xuất hiện mô hình nhà trường, các hình thức đánh giá người học cũng ra đời Tuy nhiên, ở mỗi giai đoạn lịch sử, mỗi quốc gia có những hình thức đánh giá khác nhau nhưng đều đưa ra những quy định chuẩn, phù hợp với yêu cầu của xã hội hiện tại Chẳng hạn: Thời kì phong kiến sử dụng thi, kiểm tra để đánh giá kết quả của người học; Thời kì tiền công nghiệp thi, kiểm tra phải phù hợp với trình
độ người học và coi đó là một cách thức dạy và học, có vai trò khuyến khích học sinh tích cực, tự giác học tập; Thời kì hậu công nghiệp đánh giá phát triển theo tiêu chí hướng vào mục đích, yêu cầu của chương trình giảng dạy
Đầu thế kỷ XVI, nhà giáo dục vĩ đại J.A Comenxki (1592-1670) đã đưa ra
mô hình nhà trường và được nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng Đó là nhà trường được phân theo cấp học, bậc học ở những lứa tuổi nhất định; các môn học trong nhà trường được quy định chặt chẽ có chương trình, có nội dung cụ thể thống nhất; thời gian đào tạo cũng được ấn định, đương nhiên cách đánh giá học sinh cũng được quy định rõ ràng [11]
Đến thế kỷ XVIII, nhà giáo dục người Đức I.B.Bazelot (1724-1790) đã sáng lập ra trường phái giáo dục “Bác ái” Ông là người đề xuất một hình thức đánh giá tri thức trong trường học và chia hình thức đánh giá làm 12 bậc khác nhau, nhưng khi đưa vào áp dụng chỉ còn 3 bậc chính: Tốt - Trung bình - Kém, về sau được chia làm 5 bậc cho sát với trình độ học sinh, hệ đánh giá này được lưu hành khá rộng rãi
ở các nước [4]
Từ những năm 1970 trở lại đây có rất nhiều công trình nghiên cứu từng vấn
đề cụ thể, trong đó xác định một cách khoa học nội dung đánh giá kết quả của học sinh như: Những vấn đề lý luận dạy học của việc đánh giá trí thức (V.M.Palomxki) [27]; con đường hoàn thiện việc kiểm tra tri thức, kỹ năng (X.V.Uxova) [38] Cũng
Trang 21trong giai đoạn này nhiều tác giả cũng đã nghiên cứu các nguyên tắc của việc đánh giá nhằm đảm bảo tính khách quan như: Các hướng nâng cao tính khách quan trong việc đánh giá tri thức học sinh (G.V Axacliac) [3], A.M.Levitov với cuốn “Khả năng đánh giá đúng kiến thức học sinh” [21]
Hiện nay, những nước có nền kinh tế phát triển trên thế giới luôn ưu tiên quan tâm cho GDMN, trong đó đánh giá trẻ mầm non ở những nước đó được coi là mối quan tâm số một của toàn xã hội Ở Singapore, Chương trình GDMN là chương trình khung Việc ban hành khung Chương trình GDMN của Bộ GD&ĐT là một thành tựu quan trọng của Singapore Khung chương trình được thiết kế để giải thích quan điểm của chúng ta về điều gì sẽ tạo ra một nền GDMN có chất lượng dựa theo những đánh giá cụ thể với riêng từng đứa trẻ Nó chỉ ra cách học phù hợp với trẻ ở giai đoạn mẫu giáo, và cũng quan trọng không kém, nó chỉ ra việc dạy cần phải tiến hành như thế nào trong những năm đầu của trẻ Việc dạy trẻ và đánh giá trẻ tiến hành song song hai chiều, đảm bảo trẻ mầm non được phát triển toàn diện [13]
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước
Có nhiều công trình của các nhà khoa học trong nước nghiên cứu về hệ thống
lý luận QLGD, giáo dục Đại học, quản lý nhà trường, quản lý chất lượng giáo dục;
có nhiều công trình xây dựng cơ sở lý luận về hoạt động đánh giá và quản lý hoạt động đánh giá của người học
Trong cuốn “Lý luận giáo dục” của Đặng Vũ Hoạt đã nêu: “Về tiêu chuẩn
đánh giá phải đảm bảo tính toàn diện, đảm bảo tính khách quan, đảm bảo có tác dụng phát triển trí tuệ, năng lực và tư duy độc lập sáng tạo của người học” [24]
Trong cuốn “Quản lý chất lượng giáo dục” của Phạm Thành Nghị có nêu:
“Nếu như kiểm soát chất lượng là hình thức quản lý chất lượng phù hợp với cơ chế
tập trung; quản lý chất lượng tổng thể phản ánh trình độ phát triển cao của các trường học thì bảo đảm chất lượng phù hợp với cơ chế chuyển đổi trong quản lý giáo dục ở nước ta” [25]
Trong cuốn “Kiểm tra - đánh giá trong dạy - học” của tác giả Đặng Bá Lãm thì cho rằng: “Đánh giá trong giảng dạy là chất xúc tác để tạo ra sự thay đổi của
Trang 22chính bản thân người học với đầy đủ ý nghĩa của nó Nó giúp cho người học nhận
ra chính mình, giúp họ tìm cách củng cố, phát triển những kinh nghiệm, những tiềm năng sẵn có, tạo nên hào hứng, tạo ra động lực cho người học học tập, hình thành
và phát triển năng lực nghề nghiệp, hoàn thiện nhân cách bản thân” [18]
Và nhiều nhà khoa học khác như: tác giả Trần Bá Hoành với công trình
“Đánh giá trong giáo dục”; tác giả Nguyễn Thị Hồng Nga với “Bộ trắc nghiệm đo
lường mức độ sẵn sàng đi học của trẻ 6 tuổi vào lớp 1”; tác giả Trần Thị Tuyết
Oanh với công trình “Đánh giá và đo lường kết quả học tập”; tác giả Nguyễn Quang Uẩn với công trình “Nhập môn đánh giá trong giáo dục dân số”; tác giả Lê Đức Ngọc với công trình “Đo lường và đánh giá thành quả học tập”; tác giả Tạ Thị Ngọc Thanh và cộng sự- viện KHGD, đề tài nghiên cứu cấp Bộ “Xây dựng bộ công
cụ đánh giá chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ ở trường mầm non trọng điểm khối nhà trẻ và khối mẫu giáo” Hầu hết các công trình này đều có hai phần nội dung
chính là đề cập tới cơ sở lý luận của hoạt động giảng dạy nói chung, hệ thống lý luận về hoạt động đánh giá nói riêng, các khái niệm công cụ và quan trọng là xây dựng cơ sở lý luận của các phương pháp, nội dung, hình thức đánh giá, các kĩ thuật xây dựng công cụ đo và đánh giá
Các công trình này đã xây dựng được hệ thống lý luận đánh giá trong giáo dục; có công trình thiên về đánh giá quá trình dạy học, đánh giá chương trình, có công trình thiên về đánh giá kết quả học tập của người học, và ở công trình nào tác giả cũng đánh giá được thực trạng của hoạt động đánh giá làm cơ sở để xây dựng các phương pháp quản lý hoạt động đánh giá của chủ thể nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động đánh giá nói riêng và nâng cao chất lượng học tập, đào tạo nói chung
Tóm lại, các công trình khoa học kể trên (cả trong nước và nước ngoài) đã xây dựng được những hệ thống lý luận vững chắc về đánh giá (là sách, giáo trình, tài liệu tham khảo) hoặc là đã triển khai nghiên cứu thực trạng và đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động đánh giá người học (các luận văn) phù hợp với mỗi địa phương, mỗi đơn vị, mỗi trường
Trang 231.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Quản lý
Quản lý không chỉ là hoạt động cụ thể mà đã trở thành một khoa học, một nghệ thuật và trở thành một trong những nghề phức tạp nhất trong xã hội hiện đại - nghề quản lý Chính vậy mà lý luận về QL ngày càng phong phú và phát triển Có
nhiều cách hiểu khác nhau xung quanh khái niệm “Quản lý”:
Theo Harold Koontz (Mỹ) thì: “QL là một hoạt động thiết yếu, nó bảo đảm phối
hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của cả nhóm Mục tiêu của nhà
QL là hình thành một môi trường mà con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn ít nhất Với tư cách thực hành thì
QL là một nghệ thuật, còn với kiến thức thì QL là khoa học” [14]
Theo các tác giả Vũ Dũng - Nguyễn Thị Mai Lan: “Quản lý là sự tác động
có định hướng, có mục đích, có kế hoạch và hệ thống thông tin của chủ thể đến khách thể của nó” [12]
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc trong tài liệu “Đại
cương về khoa học QL” cho rằng “QL là hoạt động đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” [10]
Từ các cách hiểu nêu trên, cho thấy một điểm chung nhất khi quan niệm về Quản lý: Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có đích hướng, có mục đích, có
kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý, để chỉ huy, điều khiển, liên kết các yếu tố tham gia vào hoạt động thành một chỉnh thể thống nhất, điều hòa hoạt động của các khâu một cách hợp quy luật nhằm đạt đến mục tiêu xác định trong điều kiện biến động của môi trường Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc các thành viên thuộc một hệ thống đơn vị sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội
1.2.2 Quản lý giáo dục
Khái niệm QLGD hiện nay có nhiều cách tiếp cận và diễn đạt khác nhau:
Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý giáo dục (vĩ mô) là hoạt động tự giác của
Trang 24chủ thể quản lý nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát…một cách
có hiệu quả nguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực) phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội " “Quản lý giáo dục (vi mô) thực chất là những tác động của chủ thể quản lý vào quá trình giáo dục (được tiến hành bởi tập thể giáo viên và học sinh, với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo của nhà trường” [17]
Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “QLGD là quá trình tác động có kế
hoạch, có tổ chức của các cơ quan QLGD các cấp tới thành tố của quá trình dạy học - giáo dục nhằm làm cho hệ giáo dục vận hành có hiệu quả và đạt tới mục tiêu giáo dục nhà nước đề ra” [19]
Từ các nhận xét trên, có thể kết luận như sau: QLGD là những tác động có hệ thống, có ý thức, có mục đích, hợp với quy luật của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống giáo dục nhằm đảm bảo cho hệ thống giáo dục vận hành liên tục, phát triển mở rộng cả về số lượng cũng như chất lượng Hay nói cách khác: QLGD là hệ thống những tác động có chủ đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý đến tập thể GV, nhân viên, học sinh, phụ huynh học sinh và các đối tượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện hiệu quả mục tiêu giáo dục
1.2.3 Đánh giá
Đánh giá (assessment) là việc đưa ra những nhận định, phán đoán, lập luận chủ quan về kết quả của công việc, dựa vào sự phân tích những thông tin thu thập được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đề ra, nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải tạo thực trạng, điều chỉnh nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc
Trong giáo dục đánh giá là một quá trình thu thập tổng hợp, diễn giải thông tin về đối tượng cần đánh giá (hiểu biết hay năng lực của học sinh, chương trình, nhà trường…) một cách có hệ thống nhằm mục đích hiểu biết sâu và sử dụng các thông tin này để ra quyết định về học sinh, về chương trình, về nhà trường hay đưa
ra các chính sách giáo dục
Trang 25Có một số loại đánh giá:
- Đánh giá sơ khởi (placement): Là đánh giá có thể thực hiện đầu quá trình tác
động giáo dục để giúp tìm hiểu đặc điểm hay trình độ hiện tại của đối tượng, từ đó tìm cách tiếp cận về nội dung và phương pháp quản lý và giáo dục sao cho hợp lý
- Đánh giá chẩn đoán (diagnostic): dựa trên những dữ kiện nhất định, đánh
giá chẩn đoán đưa ra những nhận xét về đối tượng nhằm tìm ra những khó khăn của đối tượng, những nguyên nhân dẫn đến hành vi này hay hành vi khác, kết quả này hay kết quả khác để từ đó tìm các biện pháp khắc phục hoặc dự báo về sự phát triển tiếp theo
- Đánh giá quá trình (formative): là hoạt động diễn ra trong tiến trình thực
hiện hoạt động giảng dạy cung cấp thông tin phản hồi cho giáo viên nhằm mục tiêu cải thiện hoạt động hướng dẫn, giảng dạy Đánh giá quá trình còn giúp chẩn đoán hoặc đo kiến thức và kĩ năng hiện tại của học sinh nhằm xác định một chương trình học tương lai cho phù hợp
- Đánh giá tổng kết (summative): hay còn gọi là đánh giá kết quả thường
được thực hiện vào cuối thời kỳ giáo dục có tính tổng hợp, bao quát nhằm cung cấp thông tin về sự thành thạo của học sinh ở các mặt nội dung kiến thức, kĩ năng, thái độ sau khi kết thúc một khóa học, lớp học hoặc môn học/ học phần, chương trình
- Đánh giá dựa theo chuẩn (norm): Là so sánh thành tích của các đối tượng
cùng được đánh giá với nhau Đó là hình thức đánh giá đưa ra những nhận xét về mức độ cao hay thấp trong năng lực của cá nhân so với những người khác trong
cùng một hoạt động
- Đánh giá dựa theo tiêu chí (criterion): Là người học được đánh giá dựa
trên các tiêu chí đã được xác định rõ ràng về thành tích đạt được so với chuẩn đầu ra hay mục tiêu đã đề ra Ở đó hoạt động học tập của người học được so sánh với mục tiêu học tập cố định, xác định những gì người học cần biết, cần nắm bắt và có thể làm Khi đánh giá theo tiêu chí, chất lượng thành tích không phụ thuộc vào mức độ cao thấp về năng lực của người khác mà phụ thuộc vào mức độ cao thấp của chính người được đánh giá so với các tiêu chí cụ thể [17]
Trang 261.2.4 Chức năng, nguyên tắc, quy trình của đánh giá trong giáo dục
1.2.4.1 Chức năng của đánh giá trong giáo dục
Chức năng định hướng: Kết quả đánh giá có thể đo lường và dự báo trước
khả năng học sinh có thể đạt được trong quá trình học tập, đồng thời xác định những điểm mạnh, điểm yếu của học sinh giúp cho giáo viên thu thập được các thông tin về kiến thức, kỹ năng, hứng thú của học sinh với môn học, xem xét sự khác biệt giữa các học sinh đồng thời giúp cho giáo viên đưa ra những quyết định liên quan đến các vấn đề như: lập kế hoạch, chuẩn bị nội dung, phương pháp giảng dạy và các yếu tố khác trên cơ sở căn cứ vào khả năng, hứng thú học tập của học sinh Việc đánh giá này cũng làm cơ sở cho việc lựa chọn, bồi dưỡng năng khiếu hay xếp nhóm để có những tác động hiệu quả
Chức năng kích thích, tạo động lực: Đánh giá là một phần không thể thiếu của
mọi hoạt động xã hội Mỗi cá nhân, khi thực hiện một công việc nào đó bao giờ cũng
có nhu cầu được đánh giá, chính vì vậy đánh giá sẽ mang lại sự thoả mãn nhu cầu cho
cá nhân, kích thích cá nhân tiếp tục tìm sự thoả mãn trong đánh giá khi hoàn thành nhiệm vụ nào đó Sự đánh giá có kèm theo hình thức củng cố luôn có ý nghĩa kích thích hành vi, tạo động lực cho sự phát triển tiếp theo Đánh giá trong giáo dục có thể kích thích tinh thần học hỏi và vươn lên không ngừng của những đối tượng được đánh giá, từ đó tạo môi trường cạnh tranh chính thức hoặc phi chính thức
Trong quản lý dạy và học, căn cứ vào đặc điểm công việc và qui định hoạt động của ngành giáo dục chúng ta có thể sử dụng đánh giá để tăng cường tinh thần cạnh tranh giữa các đối tượng được đánh giá, từ đó có thể giúp cho những đối tượng này thực hiện được những mục tiêu đề ra trong tương lai
Chức năng xác nhận: Nhằm xác định mức độ mà người học đạt được các
mục tiêu học tập đồng thời làm căn cứ cho những quyết định phù hợp Chức năng này có ý nghĩa quan trọng về nhiều mặt, đặc biệt là mặt xã hội Đánh giá xác nhận thể hiện quá trình giáo dục, đào tạo có hiệu quả hay không
Chức năng hỗ trợ: là chẩn đoán, điều chỉnh để hỗ trợ việc học tập, giúp cho
quá trình dạy học có hiệu quả [35]
Trang 271.2.4.2 Những nguyên tắc đánh giá trong giáo dục
Đánh giá phải đảm bảo những nguyên tắc sau:
Tính khách quan, công bằng: Tính khách quan là yêu cầu đương nhiên của
mọi hình thức đánh giá Đánh giá khách quan, công bằng mới có thể kích thích, tạo động lực cho người được đánh giá và cho những kết quả đáng tin cậy làm cơ sở để đưa ra các quyết định khác trong quản lý Nếu đánh giá thiếu khách quan, thiếu công bằng kết quả đánh giá không có ý nghĩa đối với giáo dục, nó có thể làm cho giáo dục
đi chệch hướng, nó triệt tiêu động lực phát triển, từ đó ảnh hưởng đến toàn bộ sự phát triển xã hội
Khi đánh giá cần ngăn ngừa được các yếu tố dẫn đến đánh giá không chính xác: yếu tố chủ quan của người đánh giá, công cụ và môi trường Ngoài ra, trước khi đưa ra kết quả đánh giá nào đó, người đánh giá cần phải đặt đối tượng trong tổng thể các mối quan hệ khác nhau, trong điều kiện và hoàn cảnh của chúng Bên cạnh đó, về công tác quản lý, cần xây dựng một qui trình đánh giá chặt chẽ, nghiêm chỉnh đảm bảo an toàn tất cả các khâu của qui trình ấy
Tính toàn diện: Đánh giá bao quát được các mặt, các khía cạnh cần đánh giá
theo yêu cầu, mục đích của giáo dục, đòi hỏi phải đánh giá được đầy đủ mục tiêu đã xác định cho phép xem xét đối tượng một cách đầy đủ, khách quan, chính xác, tránh phiến diện
Tính phát triển: Đánh giá trong giáo dục phải mang tính phát triển Đánh giá
không chỉ giúp người được đánh giá nhận ra hiện trạng cái mình đạt mà còn giúp hình thành con đường phát triển đi lên như thế nào, tạo niềm tin, động lực cho người được đánh giá phấn đấu khắc phục những điểm chưa phù hợp để đạt tới trình độ cao hơn cũng như phát triển tốt hơn nữa những ưu điểm của mình [35]
1.2.5 Đánh giá sự phát triển của trẻ ở trường mầm non
Đánh giá sự phát triển của trẻ ở trường mầm non là quá trình thu thập thông tin về trẻ một cách có hệ thống, phân tích và đối chiếu với mục tiêu của chương trình giáo dục mầm non, nhằm theo dõi sự phát triển của trẻ và điều chỉnh phương pháp chăm sóc cũng như giáo dục trẻ
Trang 28Đánh giá sự phát triển của trẻ ở trường mầm non, CS-GD phải có sự phối hợp nhiều phương pháp, hình thức đánh giá; coi trọng đánh giá sự tiến bộ của từng trẻ Có thể chia thành 2 loại: Đánh giá trẻ hàng ngày và theo giai đoạn (đánh giá cuối tháng và đánh giá cuối độ tuổi) Cụ thể:
* Loại 1: Đánh giá hàng ngày
- Mục đích:
Đánh giá những diễn biến tâm- sinh lí của trẻ hằng ngày trong các hoạt động: chơi, hoạt động học, hoạt động ăn, ngủ, vệ sinh và lao động, nhằm phát hiện những biểu hiện tích cực hoặc tiêu cực để kịp thời điều chỉnh kế hoạch hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ
- Nội dung đánh giá:
- Lưu kết quả đánh giá:
+ Đối với những trẻ đạt mục đích yêu cầu trong các hoạt động, GV theo dõi, đánh giá để biết, không nhất thiết phải ghi chép kết quả
+ Đối với những trẻ có biểu hiện đặc biệt như: Vượt yêu cầu rất tốt hoặc những trẻ không đạt yêu cầu về kiến thức, kỹ năng, thái độ, trẻ có biểu hiện sức khỏe kém…, GV ghi chép nhận xét, đánh giá cụ thể ở cột lưu ý hoặc phần cuối kế hoạch hàng ngày của sổ soạn bài, sổ nhật ký của lớp
- Dựa trên kết quả đánh giá nhanh hàng ngày, GV xác định:
+ Những trẻ cần lưu ý đặc biệt và cần đến các biện pháp CS-GD riêng cho phù hợp
+ Những vấn đề cần lưu ý trong việc tổ chức hoạt động CS-GD trẻ và những thay đổi phù hợp trong những ngày sau
Mỗi nhóm/ lớp, cần lập hồ sơ cá nhân cho từng trẻ để theo dõi sự tiến bộ của các trẻ trong lớp
Trang 29* Loại 2: Đánh giá theo giai đoạn (đánh giá cuối tháng và cuối độ tuổi)
- Mục đích đánh giá: Xác định mức độ đạt được của trẻ ở các đặc điểm phát triển sau mỗi tháng và theo giai đoạn, trên cơ sở đó điều chỉnh phương pháp chăm sóc cũng như giáo dục cho các tháng và giai đoạn tiếp theo
- Nội dung đánh giá: Đánh giá mức độ phát triển của trẻ về thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm - xã hội và thẩm mĩ cuối tháng và giai đoạn
- Phương pháp đánh giá: Sử dụng một hay nhiều phương pháp sau đây để đánh giá trẻ:
+ Quan sát
+ Trò chuyện với trẻ
+ Sử dụng tình huống
+ Đánh giá qua bài tập
+ Phân tích sản phẩm hoạt động của trẻ
+ Trao đổi với phụ huynh
Kết quả đánh giá được giáo viên lưu giữ trong hồ sơ cá nhân trẻ
- Thời điểm và căn cứ đánh giá:
+ Đánh giá cuối tháng dựa vào mục tiêu của các tháng
+ Đánh giá cuối độ tuổi (cuối 3, 4, 5 tuổi) dựa vào các chỉ số phát triển của trẻ
- Lưu kết quả đánh giá: Ghi chép nhận xét tổng hợp trong sổ soạn bài khi kết thúc chủ đề [6]
1.2.6 Quản lý đánh giá trẻ ở trường mầm non
Dựa trên khái niệm QL và đánh giá trẻ mẫu giáo, thông qua các khái niệm về
QL, đánh giá, đánh giá sự phát triển trẻ mẫu giáo, có thể xác định QL đánh giá trẻ mẫu giáo là:
- QL việc hiểu và triển khai thực hiện quy định đánh giá của đội ngũ CBQL, của GV chủ nhiệm lớp, sự phối hợp của phụ huynh trong đánh giá
- QL việc thực hiện các nhiệm vụ về chuyên môn, nghiệp vụ theo đúng quy định đánh giá trẻ mẫu giáo và những quy định cụ thể hóa của từng nhà trường
Trang 30Như vậy, QL đánh giá trẻ mẫu giáo là những tác động có hệ thống và kế hoạch, tổ chức của chủ thể quản lý là nhà trường mầm non tới cách thức, phương pháp, hình thức và nội dung đánh giá, cách sử dụng kết quả đánh giá trẻ mẫu giáo
và việc thực hiện nghiêm túc những quy định được nêu trong các văn bản quy phạm pháp luật chỉ đạo của ngành giáo dục và nhà trường về đánh giá trẻ mẫu giáo
1.3 Giới thiệu về chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi tại trường mầm non
1.3.1 Chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi
Chuẩn là căn cứ để đối chiếu, để từng đối tượng cá nhân hướng theo đó mà làm cho đúng, ở mỗi vấn đề, lĩnh vực, ngành nghề đều có những chuẩn riêng
Chuẩn phát triển trẻ là những tuyên bố thể hiện sự mong đợi về những gì trẻ nên biết và có thể làm được dưới tác động của giáo dục Chuẩn giúp cho GV, cha
mẹ hiểu được khả năng của trẻ để không đòi hỏi ở trẻ những điều trẻ không thể làm hoặc đánh giá thấp khả năng của trẻ, hỗ trợ để trẻ phát triển tối đa tiềm năng của mình, theo dõi sự phát triển của trẻ để điều chỉnh các tác động kích thích sự phát triển của trẻ
Chuẩn về sự phát triển của trẻ em 5 tuổi theo 4 lĩnh vực (Phát triển thể chất, phát triển ngôn ngữ, phát triển thẩm mỹ, phát triển tỉnh cảm quan hệ xã hội) Mỗi lĩnh vực phát triển bao gồm các chuẩn phản ánh nội dung của lĩnh vực
Trong mỗi chuẩn có các chỉ số phản ánh nội dung của chuẩn Chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi có 28 chuẩn và 120 chỉ số
1.3.2 Mục đích ban hành chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi
1 Hỗ trợ thực hiện chương trình giáo dục mầm non, để chất lượng chăm sóc
và giáo dục được nâng cao, chuẩn bị tâm thế cho trẻ em 5 tuổi vào lớp 1
a) Chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi là cơ sở để cụ thể hóa mục tiêu chăm sóc, nội dung chăm sóc, lựa chọn và điều chỉnh các hoạt động chăm sóc, giáo dục phù hợp nhất với trẻ mẫu giáo lớn 5 tuổi
b) Chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi là cơ sở nhằm xây dựng bộ công cụ theo dõi đánh giá sự phát triển của trẻ mẫu giáo lớn 5 tuổi
2 Chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi là căn cứ để xây dựng chương trình, tài liệu
Trang 31tuyên truyền, hướng dẫn các bậc cha mẹ và cộng đồng trong việc chăm sóc cũng như giáo dục trẻ em 5 tuổi nhằm nâng cao nhận thức về sự phát triển của trẻ em Trên cơ sở
đó, tạo sự thống nhất trong chăm sóc và giáo dục trẻ giữa nhà trường, gia đình và xã hội [7]
1.3.3 Nội dung chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi
Chuẩn phát triển trẻ em năm tuổi gồm 4 lĩnh vực: Phát triển thể chất; Tình cảm và quan hệ xã hội; ngôn ngữ và giao tiếp; nhận thức Bốn lĩnh vực thể hiện được
sự phát triển toàn diện của trẻ trên cơ sở của các nghiên cứu khoa học trong chuẩn phát triển trẻ em năm tuổi, 4 lĩnh vực trên được thể hiện tách biệt nhau nhưng trong thực tế, chúng liên quan chặt chẽ với nhau, sự phát triển ở lĩnh vực này ảnh hưởng và phụ thuộc vào sự phát triển ở những lĩnh vực kia và không có lĩnh vực nào quan trọng hơn lĩnh vực nào
1.3.3.1 Các chuẩn trong chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi
- Khi đánh giá trẻ mẫu giáo lớn 5 tuổi theo chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi cần
có sự nhìn nhận sao cho không một trẻ nào cảm thấy mình bị thất bại, yếu kém hơn những trẻ khác
- Không xếp loại trẻ, tránh đòi hỏi trẻ phải đạt hết các chỉ số Trẻ có thể phát triển không đồng đều các lĩnh vực là bình thường
- Đánh giá trẻ trong môi trường gần với môi trường sống của trẻ, trẻ chỉ thể hiện tốt nhất khả năng của mình khi được sống trong môi trường phù hợp thực tế Ở
đó, trẻ tự tin hoạt động theo khả năng của mình một cách thoải mái, tự nhiên, vì vậy cần tạo môi trường gần gũi với môi trường sống của trẻ, cùng các hoạt động học tập, vui chơi trên lớp không gây áp lực cho trẻ Từ đây, việc đánh giá trẻ mới có được kết quả chính xác
- Khi đánh giá chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi nên sử dụng linh hoạt nhiều phương pháp, biện pháp khác nhau để có được kết quả chính xác có độ tin cậy cao
và đảm bảo tính khách quan
- Để bộ công cụ được thực hiện một cách tối ưu cần phải tập huấn kỹ thuật
và phương pháp của bộ công cụ cho đội ngũ giáo viên [1]
Trang 321.3.3.2 Bộ công cụ theo dõi sự phát triển trẻ mẫu giáo lớn 5 tuổi
Bộ công cụ theo dõi, đánh giá sự phát triển của trẻ mẫu giáo lớn 5 tuổi dựa vào chuẩn PTTE 5 tuổi của Việt Nam gồm những công cụ theo dõi các chỉ số thuộc các tiêu chí phát triển của trẻ mẫu giáo 5 tuổi Bộ công cụ đánh giá trẻ mẫu giáo lớn
5 tuổi có hình thức phi chuẩn hóa vì chúng được sử dụng thường ngày hoặc định kỳ theo năm học, tháng, tuần và được hoàn thiện dần trong quá trình sử dụng Nó không đòi hỏi hình thức và cấu trúc thật chặt chẽ như các công cụ chuẩn hóa [1]
Có nhiều dạng phương pháp theo dõi sự phát triển của trẻ mẫu giáo lớn 5 tuổi tương ứng với các chỉ số cần theo dõi như: phiếu quan sát, bài tập theo dõi, đề cương trò chuyện, đề cương phân tích sản phẩm, bảng liệt kê các chỉ số theo dõi của
cá nhân, lớp, nhóm… Các dạng của bộ công cụ đều chỉ rõ được chỉ số, minh chứng, phương pháp, phương tiện, thời gian, hướng dẫn thực hiện, nhận xét, đánh giá và ghi kết quả đạt được
- Nguyên tắc khi xây dựng Bộ công cụ theo dõi sự phát triển trẻ mẫu giáo lớn 5 tuổi:
Bộ công cụ theo dõi đánh giá sự phát triển của trẻ mẫu giáo lớn 5 tuổi theo
hệ thống các chỉ số của từng lĩnh vực
Phương pháp đánh giá sự phát triển của trẻ mẫu giáo lớn 5 tuổi hoàn toàn dựa vào các phương pháp đánh giá được thực hiện trong chương trình giáo dục trẻ mầm non
Việc xác định phương pháp đánh giá phụ thuộc vào minh chứng từng chỉ số + Mục đích đo: Được thể hiện các chuẩn của từng lĩnh vực phát triển trẻ em
5 tuổi
+ Nội dung đo: Được thể hiện ở các chỉ số của chuẩn và lĩnh vực
+ Miền đo: Được thể hiện ở các minh chứng của chỉ số
+ Cách đo: Được thể hiện ở phương tiện, không gian, thời gian, và hướng dẫn cách đo
+ Thang đo: được thể hiện ở mức đạt và chưa đạt
+ Kiểu cho điểm: (+) và (-) [1]
Trang 331.3.4 Hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ ở trường mầm non theo chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi
Việc đánh giá sự phát triển của trẻ sẽ được thực hiện đánh giá trẻ hàng ngày, đánh giá trẻ cuối tháng và theo giai đoạn Đánh giá trẻ mẫu giáo 5 tuổi là những hoạt động mà GV phải xây dựng được kế hoạch để thực hiện, lựa chọn sắp xếp các chỉ số đánh giá trong hoạt động học, và các hoạt động khác trong ngày, sắp xếp chỉ
số đưa vào phiên chế của từng tháng, chủ đề cho phù hợp với trẻ tại lớp Từ đó, xây dựng bộ công cụ và sử dụng các phương pháp đánh giá để đánh giá kết quả mong đợi đối với trẻ mẫu giáo 5 tuổi
Đối với trẻ mẫu giáo 5 tuổi, dựa vào chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi, GV tiến hành hoạt động đánh giá trẻ như sau:
1 Xây dựng bộ công cụ
Bước 1: Xác định các chỉ số cần theo dõi
Bước 2: Tìm hiểu minh chứng của chỉ số đã chọn
Bước 3: Lựa chọn phương pháp phù hợp với chỉ số, minh chứng và kinh
nghiệm và tần suất của giáo viên
Bước 4: Chọn lựa phương tiện để thực hiện sao cho phù hợp với chỉ số, minh
chứng, điều kiện vật chất trang thiết bị của lớp học
Bước 5: Xác định cách thực hiện
Bước 6: Xác định thời gian thực hiện trên một trẻ, tổng số trẻ
Bước 7: Thử công cụ và hoàn chỉnh [2]
2 Sử dụng bộ công cụ để tiến hành đánh giá trẻ:
Bước 1: Chuẩn bị thời gian, không gian và các phương tiện đo
Bước 2: Chuẩn bị bảng ghi kết quả theo lớp/nhóm và theo từng cá nhân
Bước 3: Tiến hành đo trên trẻ theo cách thực hiện đã xây dựng ở trên
Bước 4: Đánh giá kết quả đạt được trên trẻ
GV dựa vào các minh chứng của các chỉ số, dùng các phương pháp theo dõi đánh giá, thông qua các hoạt động GD hằng ngày để đánh giá từng trẻ Mỗi chỉ số được đánh giá ở hai mức độ: đạt và chưa đạt
+ Đạt: Trẻ thường xuyên làm được/ đạt được/ biết được (biểu hiện năng lực
Trang 34của trẻ ổn định và không phụ thuộc vào môi trường), ký hiệu là (+)
+ Chưa đạt: Trẻ chưa làm được/ chưa đạt được/ chưa biết được (biểu hiện năng lực của trẻ còn chưa đạt, cần được giáo dục hỗ trợ thêm, kí hiệu là (-)
Bước 5: Ghi kết quả vào bảng
Bước 6: Thống kê kết quả
Kết quả đạt được của các chỉ số tính theo tỉ lệ %:
- Tính theo chiều dọc của bảng (là kết quả chung của nhóm/lớp)
- Tính theo chiều ngang của bảng (là kết quả của từng cá nhân trẻ)
Bước 7: Điều chỉnh kế hoạch giáo dục
Căn cứ vào Bảng tổng hợp theo dõi, đánh giá sự phát triển của lớp/nhóm theo chuẩn PTTE5T, GV xem xét điều chỉnh kế hoạch GD của tháng/chủ đề, tuần, ngày tiếp theo
- Điều chỉnh kế hoạch chủ đề tiếp theo:
+ Đối với những chỉ số có tổng số trẻ đạt (+) dưới 70% GV tiếp tục đưa vào mục tiêu GD của chủ đề các tháng tiếp theo
+ Đối với những chỉ số có tổng số trẻ đạt (+) trên 70% GV đếm số trẻ chưa đạt được chỉ số này để giúp trẻ rèn luyện mọi lúc, mọi nơi trong quá trình GD và phối hợp với phụ huynh để giúp trẻ đạt được chỉ số
Do đó, mục tiêu GD tháng/chủ đề tiếp theo sẽ gồm các chỉ số mới cộng thêm các chỉ số được chuyển từ chủ đề trước sang (những chỉ số có số trẻ đạt dưới 70%)
- Điều chỉnh kế hoạch ngày:
+ Những chỉ số trẻ chưa đạt (-) GV điều chỉnh các hoạt động GD cho phù hợp với nhu cầu, hứng thú và khả năng của trẻ trong kế hoạch ngày
Bảng đánh giá trẻ được sử dụng để thông báo và phối hợp với PHHS rèn luyện thêm cho trẻ khi ở nhà Đồng thời, GV cũng sử dụng bảng này để trao đổi với đồng nghiệp về việc điều chỉnh kế hoạch GD [2]
1.4 Quản lý hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ ở trường mầm non theo
chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi
1.4.1 Nguyên tắc quản lý
Dựa trên khái niệm QL và đánh giá trẻ mẫu giáo, thông qua các khái niệm về
Trang 35QL, đánh giá, đánh giá sự phát triển trẻ mẫu giáo, có thể xác định QL đánh giá trẻ mẫu giáo là:
- QL việc hiểu và triển khai thực hiện quy định đánh giá của đội ngũ CBQL, của GV chủ nhiệm lớp, sự phối hợp của phụ huynh trong đánh giá
- QL việc thực hiện các nhiệm vụ về chuyên môn, nghiệp vụ theo đúng quy định đánh giá trẻ mẫu giáo và những quy định cụ thể hóa của từng nhà trường
Như vậy, QL đánh giá trẻ mẫu giáo là những tác động có hệ thống và kế hoạch, tổ chức của chủ thể quản lý là nhà trường mầm non tới cách thức, phương pháp, hình thức và nội dung đánh giá, cách sử dụng kết quả đánh giá trẻ mẫu giáo
và việc thực hiện nghiêm túc những quy định được nêu trong các văn bản quy phạm pháp luật chỉ đạo của ngành giáo dục và nhà trường về đánh giá trẻ mẫu giáo
1.4.2 Nội dung quản lý
Theo các chức năng QL có thể khái quát QL hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ mẫu giáo lớn 5 tuổi dựa trên chuẩn PTTE 5 tuổi gồm:
- Xây dựng kế hoạch hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ
- Tổ chức hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ
- Kiểm tra, giám sát, nhận định hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ 1.4.2.1 Xây dựng kế hoạch hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ
Kế hoạch đánh giá trẻ mẫu giáo 5 tuổi là một loại kế hoạch QLGD ở trường mầm non, kế hoạch nêu rõ những nội dung công việc sẽ làm, những nội dung đó được sắp xếp, phân chia theo thời gian đã định trước một cách hợp lý, dựa trên mục đích yêu cầu, nhiệm vụ, hình thức tiến hành và căn cứ vào các điều kiện cụ thể của nhà trường nhằm đạt tới mục tiêu GD toàn diện cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi
Một kế hoạch đánh giá trẻ khoa học, cụ thể sẽ giúp cho các nhà QL tiết kiệm được thời gian, công sức, tiền bạc của tổ chức Sắp xếp, phân công nhiệm vụ cho các thành viên phụ trách từng mảng công việc phù hợp với khả năng, năng lực chuyên môn của họ, quy định trách nhiệm của từng thành viên, phối hợp thực hiện, đánh giá từng nội dung, cách thức tiến hành, hình thức tổ chức, chỉ rõ được thời gian thực hiện, thời hạn hoàn thành, dự kiến kết quả đạt được…
Trang 36CBQL là người xây dựng kế hoạch trong việc thực hiện hoạt động đánh giá trẻ cho cả năm học, xác định mục tiêu, dự kiến phân phối các nội dung các tháng trong năm Kế hoạch gồm những nội dung sau: Đặc điểm tình hình, mục tiêu và nội dung cần đạt, biện pháp thực hiện, lịch trình triển khai hoạt động đánh giá trẻ theo các chỉ số của chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi
Lập kế hoạch kiểm tra, đánh giá kết quả đạt được của việc thực hiện hoạt động đánh giá trẻ của GV
Từ kế hoạch đánh giá trẻ mẫu giáo lớn 5 tuổi của nhà trường, GV lớp mẫu giáo 5 tuổi cần xây dựng được kế hoạch đánh giá trẻ sao cho phù hợp với điều kiện của lớp (nhận thức của trẻ, phân phối chương trình, phiên chế bài học…), cụ thể hóa mục tiêu, chỉ số, nội dung, hoạt động, phương tiện, thời điểm tiến hành, cách tổ chức đánh giá trẻ cho phù hợp với trẻ của lớp
Do đó, việc lên kế hoạch thực hiện hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ theo chuẩn PTTE5T là nội dung quan trọng của hoạt động đánh giá trẻ mẫu giáo lớn
5 tuổi trong trường mầm non Kết quả của việc thực hiện kế hoạch là cơ sở để GV đưa ra các quyết định thích hợp để chất lượng hoạt động đánh giá trẻ được nâng cao, để trẻ được phát triển toàn diện, tăng cường khả năng sẵn sàng đi học của trẻ mẫu giáo 5 tuổi, nhờ đó chất lượng chăm sóc cũng như nuôi dưỡng và giáo dục trẻ được tốt hơn
1.4.2.2 Tổ chức hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ 5 tuổi theo chuẩn chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi
- Thực hiện Thông tư 23/2010/TT-BGD&ĐT quy định đánh giá sự phát triển của trẻ theo chuẩn PTTE5T của Bộ GD&ĐT, lãnh đạo nhà trường nghiên cứu
và tiến hành soạn thảo văn bản quy định hướng dẫn chi tiết hoạt động đánh giá dựa trên chuẩn PTTE5T trong nhà trường, lấy ý kiến góp ý của các đơn vị, đối tượng có liên quan trong, ngoài nhà trường và ban hành văn bản
- Tuyên truyền, phổ biến để các đối tượng nắm rõ nội dung của các văn bản quy định, hướng dẫn công tác này Bồi dưỡng thêm chuyên môn cho GV về hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ theo chuẩn PTTE5T
- Phân công GV có trình độ trên chuẩn, có kinh nghiệm phụ trách lớp trẻ
Trang 37mẫu giáo lớn, xác định rõ trách nhiệm của các GV lớp trẻ mẫu giáo lớn khi thực hiện hoạt động đánh giá trẻ, điều chỉnh kế hoạch GD…
- Đầu tư về CSVC; Xây dựng góc tuyên truyền về hoạt động đánh giá trẻ mẫu giáo lớn và chuẩn PTTE5T, tạo mọi điều kiện, môi trường thuận lợi cho việc thực hiện hoạt động đánh giá trẻ
- Giáo viên tiến hành thực hiện đánh giá trẻ mẫu giáo 5 tuổi đúng quy trình theo văn bản đã ban hành và theo kế hoạch đánh giá đã lập ở trong phần xây dựng kế hoạch có điều chỉnh theo tình hình thực tế thông qua các hoạt động của trẻ và phối hợp với PHHS để có được đánh giá toàn diện
- Ghi kết quả đánh giá vào bảng
- Điều chỉnh kế hoạch đánh giá và kế hoạch giáo dục sau khi đánh giá và phân tích kết quả đánh giá thu được
1.4.2.3 Kiểm tra, giám sát, nhận định đánh giá hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ mẫu giáo lớn 5 tuổi
Kiểm tra, nhận định, đánh giá việc tổ chức thực hiện đánh giá sự phát triển của trẻ mẫu giáo lớn 5 tuổi theo chuẩn là một việc rất quan trọng, nó đòi hỏi phải tiến hành thường xuyên và liên tục
Thành lập đoàn kiểm tra: Với những thành viên là CBQL, giáo viên có năng lực, kinh nghiệm, hiểu biết sâu sắc về quy định đánh giá trẻ theo chuẩn, đồng thời phải hiểu được những ý nghĩa, tác dụng của việc làm này đem lại những giá trị lợi ích hay giá trị như thế nào cho nhà trường và trẻ mẫu giáo lớn 5 tuổi Từ đó, họ sẽ đưa ra biện pháp kiểm tra, đánh giá cho phù hợp với các quy định của ngành, trường
Thông qua việc kiểm tra các hoạt động đánh giá trẻ mẫu giáo 5 tuổi, các trường mầm non có thể điều chỉnh, chọn lựa các tiêu chí để đánh giá, phương thức đánh giá, đưa ra các định hướng GD trẻ mẫu giáo lớn trong nhà trường cho phù hợp với yêu cầu về sự đổi mới GD và xu thế phát triển của đất nước
Có 2 hình thức đánh giá quá trình trẻ phát triển trong trường mầm non: Đánh giá tình hình của trẻ hàng ngày; Đánh giá sự phát triển của trẻ sau chủ đề giáo dục (gọi tắt là đánh giá theo chủ đề) hoặc đánh giá sự phát triển của trẻ cuối độ tuổi (sau một năm học)
Trang 38Sau kiểm tra kết quả đánh giá trẻ hằng ngày của giáo viên, BGH nhà trường phân tích, xác định nguyên nhân để có những giải pháp kịp thời như chỉ đạo GV điểu chỉnh bộ công cụ đánh giá trẻ, lựa chọn các điều kiện, phương pháp đánh giá trẻ phù hợp, đề xuất nội dung, cách thức tổ chức các hoạt động phù hợp tiếp theo để trẻ có thể tiến bộ
Việc kiểm tra, đánh giá được tiến hành với rất nhiều hình thức như: Kiểm tra hoạt động đánh giá trẻ hàng ngày; Định kỳ kiểm tra cuối tháng/chủ đề; Đột xuất kiểm tra; Đánh giá toàn bộ kết quả phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ thẩm mỹ của trẻ căn cứ vào các chỉ số theo chuẩn PTTE5T
Từ kết quả kiểm tra hoạt động đánh giá trẻ theo chuẩn PTTE5T, BGH nhà trường nhận định được kết quả mà trẻ đạt được so với mục tiêu, làm căn cứ chỉ đạo
GV xây dựng hoặc điều chỉnh kế hoạch giáo dục cũng như kế hoạch để thực hiện các hoạt động đánh giá trẻ trong giai đoạn tiếp theo; bổ sung thêm các điều kiện về CSVC, thiết bị, đồ chơi, nhân lực, thời gian để thực hiện tốt hoạt động đánh giá trẻ mẫu giáo lớn Đồng thời thông qua việc kiểm tra phát hiện những tồn tại, sai lệch của việc tổ chức thực hiện kế hoạch đánh giá trẻ của GV để điều chỉnh đảm bảo việc hoàn thành mục tiêu đề ra, cũng như khích lệ động viên những việc làm tích cực, có tính sáng tạo của họ, hỗ trợ những điều kiện cần thiết để việc chăm sóc nuôi dưỡng cũng như giáo dục trẻ có chất lượng tốt, khích lệ đội ngũ GV rèn luyện, phấn đấu để đáp ứng được với những yêu cầu của GD trong giai đoạn hiện nay
1.4.3 Điều kiện đảm bảo cho quản lý hiệu quả
- Người CBQL cần xây dựng lòng tin đối với giáo viên để tạo được sự đồng thuận trong quá trình quản lýhoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ ở trường mầm non theo chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi
- CBQL phải là người tiên phong trong quá trình thực hiện kế hoạch đánh giá
sự phát triển của trẻ
- CBQL phải để từng thành viên làm chủ, chủ động thực hiện quy trình đánh giá
- Giám sát chặt chẽ và nhanh chóng, có những điều chỉnh kịp thời phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh và năng lực của tổ chức
- Đảm bảo tính công khai, công bằng, chính xác trong quá trình đánh giá
Trang 39Người CBQL thực hiện các công việc như: chỉ đạo việc chuẩn bị trang bị kiến thức lý luận, kỹ năng, các phương tiện phục vụ, nghiên cứu quy định đánh giá trẻ mẫu giáo lớn 5 tuổi theo chuẩn, chuẩn bị về CSVC trang thiết bị hỗ trợ công tác đánh giá, chỉ đạo thực hiện các khâu theo quy trình đánh giá trẻ 5 tuổi, thông báo,
sử dụng và lưu giữ kết quả đánh giá, chỉ đạo việc rút kinh nghiệm, tổng kết đánh giá việc QL đánh giá trẻ trong nhà trường Đồng thời, chỉ đạo việc kiểm tra, giám sát tiến trình công việc theo kế hoạch xem có đạt được hiệu quả hay không, hạn chế, khó khăn ở đâu? Cần điều chỉnh như thế nào cho phù hợp? Luôn quan tâm, động viên, khuyến khích, họ thực hiện tốt kế hoạch đã đề ra
Yêu cầu giáo viên nghiên cứu tài liệu hướng dẫn thực hiện; nắm vững vai trò, trách nhiệm của GV, PHHS trong việc đánh giá trẻ theo chuẩn; hướng dẫn GV xây dựng kế hoạch, bộ công cụ đánh giá trẻ, thiết kế bài tập, phiếu đánh giá trẻ, tuyên truyền và phối hợp với PHHS… Từ đó, thực hiện điều chỉnh kế hoạch chung, bộ công cụ kiểm tra xác xuất của nhà trường cho phù hợp
Như vậy, vai trò của CBQL vô cùng quan trọng trong hoạt động đánh giá trẻ mẫu giáo lớn 5 tuổi theo chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi Người CBQL làm tốt công tác chỉ đạo, điều hành thì mới giúp cho việc đánh giá trẻ trong nhà trường đạt được tốt hơn, khách quan hơn, có ý nghĩa và giá trị hơn
1.5 Yếu tố tác động đến quản lý hoạt động đánh giá sự phát triển của trẻ ở trường mầm non theo chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi
1.5.1 Đặc điểm phát triển tâm lý của trẻ mẫu giáo lớn 5 tuổi
Học tập ở mẫu giáo lớn 5 tuổi vẫn là "Vừa học vừa chơi, vừa chơi vừa học" Học ở đây nghĩa là chơi theo một trình tự hành động gần giống như học còn gọi là
“hoạt động học”, nội dung hoạt động học vừa nhẹ nhàng, vừa hấp dẫn trẻ bằng những kiến thức rất cụ thể, trực quan sinh động Trẻ tập làm quen với các tiết học để lĩnh hội những tri thức đơn giản gần gũi nhất, nhưng là tiền đề để trẻ vào lớp 1
Trẻ biết hướng ý thức của mình vào các đối tượng cần cho vui chơi, học tập hoặc lao động tự phục vụ Trẻ có khả năng chú ý có chủ định trong một khoảng thời gian ngắn, nhưng khả năng tập trung chú ý của trẻ chưa cao, dễ bị phân tán bởi đối
tượng hấp dẫn, nhiều thay đổi, kích thích được sự tò mò, ham hiểu biết của trẻ
Ngôn ngữ của trẻ trong giai đoạn này đã phát triển tương đối tốt Trẻ có nhu
Trang 40cầu bày tỏ nguyện vọng thông qua lời nói và dùng lời nói để giải thích các sự vật hiện tượng Trẻ đã nói được câu ghép Câu nói của trẻ thường ngắn gọn, rõ ràng, mang sắc thái và biểu cảm riêng
Khả năng tri giác, trí nhớ, tưởng tượng của trẻ về cơ bản là sự phát triển nối tiếp ở lứa tuổi mẫu giáo nhỡ (4-5 tuổi) nhưng chất lượng mới hơn Sự phát triển tư duy ở độ tuổi này mạnh mẽ về kiểu loại và thao tác Trẻ đã biết phân tích tổng hợp không chỉ dừng lại ở đồ vật, hình ảnh mà ngay cả từ ngữ Tư duy của trẻ dần dần mất đi tính duy kỷ, tiến dần đến khách quan, hiện thực hơn Dần dần trẻ phân biệt được thực và hư Đã có tư duy trừu tượng với các con số, không gian, thời gian, quan hệ xã hội Ý thức rõ về những ý nghĩ, tình cảm của mình, trách nhiệm đối với hành vi Các phẩm chất của tư duy đã bộc lộ đủ về cấu tạo và chức năng hoạt động như tính mục đích, độc lập sáng tạo, tính linh hoạt, độ mềm dẻo Ở trẻ mẫu giáo lớn phát triển cả 3 loại tư duy nhưng tư duy hành động trực quan vẫn chiếm ưu thế
Sự phát triển xúc cảm và tình cảm: Tình cảm trí tuệ của trẻ phát triển, mỗi nhận thức mới đều kích thích niềm vui, hứng thú, sự say mê thích thú của trẻ Qua vui chơi giao tiếp với mọi người; do các thói quen nếp sống tốt được gia đình, các lớp mẫu giáo xây dựng cho trẻ Trẻ ý thức được nhiều hành vi tốt đẹp cần thực hiện để vui lòng mọi người Trẻ ý thức rõ nét về cái đẹp, cái xấu theo chuẩn, xúc cảm thẩm mỹ, óc thẩm mỹ phát triển
Đến cuối tuổi mẫu giáo, trẻ mới hiểu được mình như thế nào, có những phẩm chất gì, những người xung quanh đối xử với mình ra sao, và tại sao mình có hành động này hay hành động khác ý thức bản ngã được thể hiện rõ nhất trong sự
tự đánh giá về những ưu điểm và khuyết điểm của bản thân, về những khả năng của bản bản thân Ở tuổi mẫu giáo lớn, sự tự ý thức còn được biểu hiện rõ trong sự phát triển giới tính của trẻ Trẻ không những nhận ra mình là trai hay gái mà còn biết nếu mình là trai hay gái thì hành vi này phải thể hiện như thế nào cho phù hợp với giới tính của mình
Tâm thế sẵn sàng vào lớp 1: Thời điểm lúc trẻ tròn 6 tuổi là một bước ngoặt quan trọng của trẻ em Việc chuẩn bị cho trẻ vào học lớp 1 là chuẩn bị những tiền
đề, những yếu tố của hoạt động học tập để có thể thích ứng tốt nhất, nhanh nhất đối