1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sử dụng hệ thống chỉ số CAMEL trong giám sát và đánh giá mức độ an toàn của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam tại Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia

103 130 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI NÓI ĐẦU Cùng với xu thế phát triển chung của nền kinh tế, hoạt động của các Ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay đang ngày càng được mở rộng theo hướng hiện đại hóa và đa dạng hóa, Mục tiêu an toàn và hiệu quả của từng ngân hàng cũng như toàn bộ hệ thống ngân hàng thương mại là một mục tiêu quan trọng, bởi đây là kênh huy động vốn lớn và hiệu quả nhất của nền kinh tế. Chính vì thế việc đảm bảo cho hệ thống ngân hàng thương mại hoạt động an toàn, mang lại hiệu quả kinh tế cao là nhiệm vụ của hoạt động giám sát ngân hàng thương mại của các cơ quan với chức năng thanh tra, giám sát. Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia với chức năng giám sát hệ thống tài chính, trong đó có hệ thống ngân hàng thương mại. Thông qua hoạt động giám sát từ xa của mình để giúp Thủ tướng Chính phủ nắm rõ hơn về thị trường tài chính Việt Nam. Ủy ban đã sử dụng công cụ chỉ số CAMEL để đánh giá mức độ an toàn của hệ thống ngân hàng thương mại để từ đó tham mưu cho Chính phủ nhằm ổn định thị trường tài chính Việt Nam ngày càng bền vững hơn. Trước sức ép của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, rủi ro trong hoạt động ngân hàng ngày càng đa dạng về loại hình và tinh vi về mức độ, tài chính của các ngân hàng thương mại sẽ được đảm bảo, hệ thống ngân hàng sẽ mạnh và thực sự là hệ thống huyết mạch của nền kinh tế nếu hoạt động giám sát đối với ngân hàng thương mại được hoàn thiện. Như vậy, làm thế nào để hoàn thiện, nâng cao hoạt động giám sát mức độ an toàn của các ngân hàng thương mại đang là câu hỏi bức xúc của thực tiến hiện nay của các cơ quan giám sát, của Chính phủ cũng như của nền kinh tế. Đề tài “Sử dụng hệ thống chỉ số CAMEL trong giám sát và đánh giá mức độ an toàn của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam tại Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia” được lựa chọn nghiên cứu nhằm đáp ứng đòi hỏi bức xúc đó. 1.1 Lý do lựa chọn đề tài Hệ thống ngân hàng ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế của đất nước cũng như trong quá trình hội nhập nền kinh tế toàn cầu. Đây là kênh huy động vốn lớn nhất trong nền kinh tế. An toàn trong hoạt động của hệ thống ngân hàng là một nhiệm vụ vô cùng cần thiết để ổn định hệ thống tài chính của mỗi quốc gia không riêng gì Việt Nam. Hệ thống ngân hàng có hoạt động tốt, đảm bảo an toàn thì sẽ giúp cho các doanh nghiệp phát triển tốt hơn, nâng cao độ thanh khoản cho thị trường. Sau cuộc khủng hoảng kinh tế vừa qua càng cho chúng ta thấy rõ hơn vai trò trong việc sử dụng các chỉ số trong việc đánh giá và dự báo thị trường tài chính. Qua đề tài này, để có thể thấy được tình hình hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng ở Việt Nam thông qua việc đánh giá các chỉ số an toàn theo chỉ số CAMEL và đưa ra những giải pháp trong việc hoàn thiện chỉ số đánh giá cũng như trong công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay. 1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia là cơ quan đầu tiên ở Việt Nam được thành lập với chức năng giám sát hệ thống tài chính quốc gia. Việc sử dụng mô hình CAMEL để đánh giá các chỉ số lành mạnh tài chính của hệ thống tổ chức tài chính tín dụng chưa được nhiều đề tài đi sâu nghiên cứu. Một số đề tài về giám sát tài chính đã công bố song các đề tài đó cũng sử dụng số liệu từ những năm trước nên tính cập nhật chưa cao. Và hiện nay cũng chưa có đề tài nào sử dụng chỉ số CAMEL đánh giá riêng cho các tổ chức tín dụng. Với chức năng giám sát của mình thì Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia sẽ có cái nhìn tổng thể và sự đánh giá chính xác nhất hệ thống tổ chức tài chính. Một số đề tài đã được nghiên cứu như: “Xây dựng hệ thống chỉ số xếp hạng tài chính đối với các Ngân hàng thương mại Việt Nam” tuy nhiên đề tài này chỉ mới dừng lại ở việc thống kê các chỉ số và sử dụng các chỉ số trong việc xếp hạng các tổ chức tín dụng chứ chưa đánh giá được mức độ an toàn của hệ thống này. 1.3. Mục đích nghiên cứu: - Hiểu rõ hệ thống chỉ số CAMEL, về công thức, cách áp dụng và ý nghĩa của từng chỉ số. Hiểu rõ hơn về công việc đánh giá mức độ an toàn của hệ thống ngân hàng của Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia. - Đánh giá việc sử dụng chỉ số CAMEL tại Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia, đưa ra được những thuận lợi, khó khăn khi áp dụng chỉ số này để từ đó đưa ra các giải pháp nhằm cải thiện và nâng cao việc sử dụng chỉ số này trong đánh giá hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam. - Từ các số liệu tính toán được qua các chỉ số để nhìn lại hệ thống các tổ chức tín dụng tại Việt Nam. Đưa ra các kiến nghị đối với cơ quan quản lý (Ngân hàng Nhà nước, Ủy ban giám sát tài chính quốc gia) về mức độ an toàn của các tổ chức tín dụng. 1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: - Đối tượng: Đề tài tập trung nghiên cứu mức độ an toàn của hệ thống ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay. - Chủ thể: Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia - Phạm vi: o Sử dụng mô hình CAMEL để đánh giá o Thực trạng về hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay và mức độ an toàn của hệ thống này (đánh giá theo mô hình CAMEL) o Đề xuất các giải pháp về hoàn thiện công tác đánh giá của Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia nhằm nâng cao mức độ an toàn của hệ thống ngân hàng. - Về thời gian: Do mức độ an toàn của hệ thống ngân hàng phụ thuộc vào từng thời điểm ta đánh giá do chịu tác động của hệ thống chính sách, nền kinh tế, những tác động cảu kinh tế thế giới nên trong đề tài này sử dụng số liệu của năm 2010 để tăng tính cập nhật, chính xác cho đề tài. 1.5. Câu hỏi nghiên cứu: - Vai trò của việc đảm bảo an toàn hệ hống ngân hàng thương mại đối với hệ thống tài chính Việt Nam. - CAMEL là gì? Cách tính của các chỉ số trong CAMEL? - Thực trạng của các tổ chức tín dụng ở Việt Nam hiện nay như thế nào? - Việc áp dụng các chỉ số CAMEL trong việc tính các chỉ số an toàn cho hệ thống ngân hàng của Việt Nam tại Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia gặp những khó khăn gì? - Để đánh giá an toàn của hệ thống ngân hàng thương mại của Việt Nam hiện nay thì cần phải có những điều chỉnh gì? - Cơ quan quản lý cần có hướng giải quyết như thế nào trong việc đánh giá mức độ an toàn của các tổ chức tín dụng? 1.6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu: - Ý nghĩa khoa học: Hiểu rõ hơn về các chỉ số CAMEL trong đánh giá độ an toàn của hệ thống ngân hàng. - Ý nghĩa thực tiễn: Hiểu và biết sử dụng mô hình đó để đánh giá hệ số an toàn hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại hiện nay tại Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia. Đưa ra một số kiến nghị cho các cơ quan quản lý để hoàn thiện hoạt động đánh giá độ an toàn cho hệ thống ngân hàng. 1.7. Phương pháp nghiên cứu: Đây là đề tài khoa học ứng dụng do đó để đạt được mục đích nghiên cứu cần có các phương pháp nghiên cứu thích hợp. - Đối với các vấn đề lý luận: Đề tài sử dụng các phương pháp tổng hợp, phân tích, đánh giá, liệt kê. - Đối với các vấn đề thực tiễn: Đề tài sử dụng phương pháp thu thập, chọn lọc và tính toán số liệu từ đó thể hiện số liệu thông qua các đồ thị, bảng biểu để chứng minh, phân tích, sử dụng phương pháp so sánh kết quả với các chỉ số, các thanh đo an toàn để đưa ra kết luận cần thiết. 1.8. Kết cấu của luận văn: Luận văn gồm 3 chương: - Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thế giới trong việc sử dụng chỉ số CAMEL để giám sát và đánh giá mức độ an toàn của hệ thống ngân hàng thương mại. - Chương 2: Phân tích thực trạng việc sử dụng chỉ số CAMEL trong giám sát và đánh giá mức độ an toàn của hệ thống ngân hàng thương mại tại Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia. - Chương 3: Các giải pháp nhằm nâng cao khẳ năng sử dụng chỉ số CAMEL trong giám sát và đánh giá mức độ an toàn của hệ thống ngân hàng thương mại.

Trang 1

DANH MỤC ĐỒ THỊ - BẢNG BIỂU

LỜI NÓI ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THẾ GIỚI TRONG VIỆC SỬ DỤNG CHỈ SỐ CAMEL ĐỂ GIÁM SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ AN TOÀN CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 6

1.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại 6

1.1.1 Khái niệm 6

1.1.2 Chức năng của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế 6

1.1.3 Các dịch vụ của ngân hàng thương mại 8

1.1.4 Rủi ro của ngân hàng thương mại 9

1.1.5 Sự cần thiết phải đánh giá mức độ an toàn của hệ thống ngân hàng thương mại .10

1.2 Các bộ phận cấu thành của hệ thống chỉ số CAMEL 11

1.2.1 Giới thiệu hệ thống chỉ số CAMEL 11

1.2.2 Mục tiêu sử dụng và căn cứ xây dựng hệ thống chỉ số CAMEL 11

1.2.3 Các bộ phận cấu thành và khả năng vận dụng của hệ thống chỉ số CAMEL trong đánh giá và giám sát hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam 12

1.3 Kinh nghiệm sử dụng hệ thống giám sát an toàn hệ thống ngân hàng thương mại của một số nước và tổ chức trên thế giới 29

1.3.1 Việc sử dụng các chỉ tiêu trong chỉ số CAMEL tại các hãng định mức tín nhiệm trên thế giới 29

1.3.2 Kinh nghiệm hoạt động giám sát mức độ an toàn của hệ thống ngân hàng một số quốc gia 29

1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng hệ thống CAMEL tại Việt Nam 31

CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VIỆC SỬ DỤNG CHỈ SỐ CAMEL TRONG GIÁM SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ AN TOÀN CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI ỦY BAN GIÁM SÁT TÀI CHÍNH QUỐC GIA 32

2.1 Hệ thống các ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay 32

2.1.1 Số lượng, loại hình và mạng lưới ngân hàng thương mại 32

2.1.2 Thị phần của các ngân hàng thương mại 32

Trang 2

2.1.4 Đánh giá về thị phần của hệ thống ngân hàng 36

2.2 Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia 38

2.2.1 Chức năng nhiệm vụ 38

2.2.2 Cơ cấu tổ chức 39

2.3 Thực trạng sử dụng chỉ số CAMEL trong đánh giá mức độ an toàn của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam tại Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia 41

2.3.1 Chỉ số về vốn (Capital) 41

2.3.2 Chỉ số về chất lượng tài sản (Asset) 43

2.3.3 Chỉ số về lợi nhuận (Earning) 47

2.3.4 Chỉ số về thanh khoản (Liquidity) 51

2.4 Đánh giá chung về mức độ an toàn của hệ thống hệ thống ngân hàng thương mại 54

2.4.1 Đánh giá theo các chỉ số CAMEL 54

2.4.2 Đánh giá việc sử dụng chỉ số CAMEL trong hoạt động đánh giá mức độ an toàn hệ thống ngân hàng thương mại tại Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia 57

CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO KHẲ NĂNG SỬ DỤNG CHỈ SỐ CAMEL TRONG GIÁM SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ AN TOÀN CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 64

3.1 Phương hướng nâng cao khả năng sử dụng chỉ số CAMEL trong đánh giá mức độ an toàn của hệ thống ngân hàng thương mại 64

3.1.1 Nguyên tắc của hoạt động giám sát hệ thống ngân hàng thương mại 64

3.1.2 Nguyên tắc sử dụng chỉ số CAMEL trong hoạt động đánh giá, giám sát 66

3.2 Giải pháp nâng cao khả năng sử dụng hệ thống chỉ số CAMEL 68

3.2.1 Giải pháp đối với cấu trúc khu vực ngân hàng 68

3.2.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng từng yếu tố trong bộ chỉ tiêu CAMEL 70

3.2.3 Giải pháp đối với Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng chỉ số CAMEL 75

3.3 Kiến nghị một số điều kiện để thực hiện giải pháp nâng cao khẳ năng sử dụng chỉ số CAMEL 78

3.3.1 Kiến nghị trong việc nâng cao chất lượng sử dụng chỉ số CAMEL 78

3.3.2 Kiến nghị đối với các cơ quan quản lý 79

3.3.3 Kiến nghị đối với Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia 85

Trang 3

PHỤ LỤC

Trang 4

ACB Ngân hàng thương mại cổ phần Á châu

CN NHNNg Chi nhánh ngân hàng nước ngoài

OECD Tổ chức hợp tác các nước kinh tế phát triển

UBGSTCQG Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia

Trang 5

Sơ đồ 1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia

Bảng 1: Hệ thống ngân hàng thương mại ở Việt Nam

Bảng 2: Tỷ lệ tiền gửi/GDP và Tỷ lệ dư nợ tín dụng/GDP (6 tháng)

Bảng 3: Cơ cấu nợ xấu

Hình 1: Thị phần tiền gửi của hệ thống ngân hàng thương mại

Hình 2: Thị phần tín dụng của hệ thống ngân hàng

Hình 3: Thị phần tài sản của hệ thống ngân hàng

Hình 4: Cơ cấu vốn điều lệ của hệ thống ngân hàng

Hình 5: Tốc độ tăng trưởng vốn điều lệ và các quỹ năm 2010

Hình 6: Tỷ lệ vốn góp, mua cổ phần so với vốn điều lệ và các quỹ năm 2010Hình 7: Phân bố định vị mức đủ vốn theo nhóm ngân hàng

Hình 8: Tốc độ tăng trưởng tổng dư nợ

Hình 9: Cho vay theo kỳ hạn

Hình 10: Dư nợ đầu tư bất động sản

Hình 11: Doanh số chiết khấu GTCG đầu tư vào chứng khoán

Hình 12: Nợ xấu trong khu vực ngân hàng

Hình 13: Lợi nhuận khu vực ngân hàng

Hình 14: Cơ cấu nguồn thu của hệ thống ngân hàng năm 2010

Hình 15: Tỷ lệ chi phí ngoài lãi trên tổng thu nhập

Hình 16: Tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn

Trang 6

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Cùng với xu thế phát triển chung của nền kinh tế, hoạt động của các Ngânhàng thương mại Việt Nam hiện nay đang ngày càng được mở rộng theo hướnghiện đại hóa và đa dạng hóa, Mục tiêu an toàn và hiệu quả của từng ngân hàng cũngnhư toàn bộ hệ thống ngân hàng thương mại là một mục tiêu quan trọng, bởi đây làkênh huy động vốn lớn và hiệu quả nhất của nền kinh tế Chính vì thế việc đảm bảocho hệ thống ngân hàng thương mại hoạt động an toàn, mang lại hiệu quả kinh tếcao là nhiệm vụ của hoạt động giám sát ngân hàng của các cơ quan với chức năngthanh tra, giám sát

Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia với chức năng giám sát hệ thống tài chínhquốc gia, trong đó có hệ thống ngân hàng thương mại Ủy ban đã sử dụng công cụchỉ số CAMEL để đánh giá mức độ an toàn của hệ thống ngân hàng thương mại để

từ đó tham mưu cho Chính phủ nhằm ổn định thị trường tài chính Việt Nam ngàycàng bền vững hơn Chính vì thế việc đánh giá khả năng vận dụng hệ thống chỉ sốnày là vô cùng quan trọng Với ý nghĩa đó, việc nghiên cứu và xem xét hệ thống chỉ

số CAMEL trong việc đánh giá mức độ an toàn của hệ thống ngân hàng là vô cùng

cần thiết nên em đã lựa chọn đề tài: “Sử dụng hệ thống chỉ số CAMEL trong giám sát và đánh giá mức độ an toàn của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam tại Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia”.

Đề tài được nghiên cứu và hoàn thiện ngoài lời mở đầu, phần kết luận và danhmục tài liệu tham khảo bao gồm 3 chương sau:

- Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thế giới trong việc sử dụng chỉ số

CAMEL để giám sát và đánh giá mức độ an toàn của hệ thống ngân hàng thương mại

- Chương 2: Phân tích thực trạng việc sử dụng chỉ số CAMEL trong giám

sát và đánh giá mức độ an toàn của hệ thống ngân hàng thương mại tại Ủy banGiám sát tài chính Quốc gia

- Chương 3: Các giải pháp nhằm nâng cao khẳ năng sử dụng chỉ số

CAMEL trong đánh giá mức độ an toàn của hệ thống ngân hàng thương mại

Trang 7

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu trong lĩnh vực kinh tế như:Thu thập thông tin truyền thông, phương pháp hệ thống, phân tích và tông hợp,đánh giá và tham vấn ý kiến các chuyên gia trong lĩnh vực tài chính ngân hàng đểgiải quyết phần nội dung Ngoài ra luận văn còn sử dụng hệ thống đồ thị, bảng biểu

để minh họa cho những phân tích của đánh giá

Trong chương 1: Tác giả đã góp phần làm rõ thêm lý luận về hệ thống ngân hàng thương mại và hệ thống chỉ số CAMEL.

Tác giả đã hệ thống lại những khái niệm ngân hàng thương mại theo Pháplệnh của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Nêu lên những chức năng của hệ thốngngân hàng thương mại trong nền kinh tế bao gồm: trung gian tài chính, phương tiệnthanh toán, trung gian thanh toán Đưa ra hệ thống dịch vụ của ngân hàng thươngmại và hệ thống lại những rủi ro của ngân hàng gặp phải để từ đó cho thấy vai tròcũng như nhiệm vụ mà hệ thống chỉ số CAMEL hướng tới đó là: rủi ro về mặt tíndụng, rủi ro hối đoái, rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản và các rủi ro khác Luận văncũng phân tích sự cần thiết phải đánh giá mức độ an toàn của hệ thống ngân hàngthương mại bởi Rủi ro gắn liền với ngân hàng thương mại, phản ánh các tình huốngbất thường xảy ra gây tổn thất cho ngân hàng Do đó, hạn chế rủi ro không chỉ làmối quan tâm của các ngân hàng thương mại mà còn là mục tiêu kiểm soát của ngânhàng Trung ương và đối với quyền lợi của khách hàng

Trong chương này, tác giả còn giới thiệu về hệ thống chỉ số CAMEL Hệthống đánh giá CAMEL là hệ thống đánh giá tình trạng vững mạnh, mức độ an toàncủa hệ thống các tổ chức tài chính Chỉ số này do Cục quản lý các tổ hợp tín dụngHoa Kỳ xây dựng CAMEL được được kết hợp từ chữ cái đầu tiên của các yếu tốhình thành nên hệ thống này

C: Capital - chỉ số về vốn

A: Asset - chỉ số về chất lượng tài sản

M: Management - chỉ số về năng lực quản lý

E: Earning - chỉ số về lợi nhuận

L: Liquidity - chỉ số về thanh khoản

Trang 8

Phần này cũng phân tích rõ về các yêu cầu cũng như nội dung đánh giá củatừng chỉ tiêu và mục tiêu, căn cứ và nguyên tắc sử dụng của cả bộ hệ thống chỉ sốCAMEL Luận văn cũng nêu lên những kinh nghiệm trong hoạt động đánh giá hệthống ngân hàng thương mại của một số quốc gia trên thế giới cũng như các hãngđịnh mức tín nhiệm lớn và cũng nêu lên những yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng

hệ thống chỉ số CAMEL tại Việt Nam

Mỗi quốc gia khác nhau, các điều kiền kinh tế khác nhau nên những tác độngtới việc sử dụng hệ thống chỉ số CAMEL cũng khác nhau ở hệ thống kế toán, nguồnnhân lực, các điều kiện vận dụng, quy mô và độ mở của hệ thống ngân hàng…

Chương 2: Dựa trên cơ sở lý luận ở chương 1, tác giả đi sâu xem xét hệ thống ngân hàng thương mại và việc đánh giá mức độ an toàn của hệ thống này bằng chỉ số CAMEL tại Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia.

1 Tổng quan về hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay: thị phần,

số lượng, loại hình, mạng lưới ngân hàng, các chỉ tiêu về đánh giá quy mô và cácchỉ số tổng thể phản ánh cấu trúc và sự phát triển để giúp người đọc có được cáinhìn tổng quan về hệ thống ngân hàng hiện nay

2 Giới thiệu tổng quan về Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia, lịch sử hìnhthành, chức năng nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức

3 Thực trạng việc sử dụng chỉ số CAMEL trong đánh giá mức độ an toàn của

hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam tại Ủy ban

Chỉ số về vốn: đánh giá dựa trên các yếu tố hệ số an toàn vốn, tốc độ tăng

trưởng vốn điều lệ và các quỹ, tỷ lệ góp vốn mua cổ phần so với điều lệ và các quỹ,phân bố định vị mức đủ vốn theo nhóm ngân hàng

Chỉ số về chất lượng tài sản: đánh giá dựa trên các yếu tố dư nợ của khu

vực ngân hàng, cơ cấu dư nợ cho vay, sư nợ cho vay ngắn hạn và cho vay vào cáclĩnh vực có độ rủi ro cao, tỷ lệ nợ xấu

Chỉ số về lợi nhuận: đánh giá dựa trên các yếu tố chỉ số ROA, ROE, cơ cấu

các nguồn trong tỷ lệ thu nhập, tỷ lệ lãi ròng thu nhập trên tổng thu nhập, tỷ lệ chiphí ngoài trên tổng lãi thu nhập, chi phí của ngân hàng

Trang 9

 Chỉ số về thanh khoản: đánh giá dựa trên các yếu tố tăng trưởng huy độngvốn, tỷ lệ sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung, dài hạn, căng thẳng thanhkhoản trên thị trường liên ngân hàng.

4 Đánh giá khu vực ngân hàng sau khi phân tích bằng chỉ số CAMEL Sửdụng những đánh giá của các tổ chức quốc tế và bản thân tác giả để thấy được vaitrò mà hệ thống chỉ số CAMEL mang lại Đánh giá những thuận lợi và khó khăncủa việc sử dụng hệ thống chỉ số CAMEL tại Ủy ban

- Các nội dung giám sát của chỉ số CAMEL không chỉ tập trung và các yếu tốđịnh lượng mang tính truyền thống mà đã mở rộng cho các yếu tố định tính

- Mặc dù chức năng hoạt động của Ủy ban Giám sát tài chính là giám sát từ xatuy nhiên với việc cung cấp khá đầy đủ và đúng hạn các báo cáo của các ngân hàngthương mại đã giúp cho Ủy ban tính đúng, đủ, chính xác các chỉ tiêu giám sát hệthống ngân hàng theo bộ chỉ số CAMEL

- Đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn cao trong lĩnh vực ngân hàng tàichính đã góp phần tạo thuận lợi trong việc thực hiện tính toán, lập các báo cáo giámsát một cách chính xác, kịp thời, đầy đủ

Khó khăn

- Có sự khác nhau giữa hệ thống kế toán Việt Nam với hệ thống kế toán quốc

tế Trong việc đánh giá và giám sát còn tụt hậu trong hội nhập quốc tế, việc đánhgiá hệ thống ngân hàng còn chưa triệt đẻ nên chưa phản ảnh được đầy đủ thực trạngngân hàng

- Hệ thống quản trị doanh nghiệp và quản trị rủi ro của các ngân hàng cònnhiều yếu kém, chưa có khả năng hạn chế và kiểm soát một cách có hiệu quả các rủi

ro, gian lận, lạm dụng

Trang 10

- Sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong hoạt động giám sát ngân hàngcòn yếu Cơ sở vật chất phục vụ công tác giám sát chưa thật đầy đủ và chưa đồng

bộ Các ngân hàng còn chưa có sự liên kết với nhau do đó việc giám sát của các cơquan còn khó khăn

- Năng lực và trình độ điều hành của hầu hết cán bộ ở các NHTM trong nướccòn có khoảng cách khá lớn so với NHTM nước ngoài

- Hiện hệ thống thông tin trong quản lý của Việt Nam là rất bất cập Một sốthông tin không cập nhật, thiếu độ tin cậy thì các quyết định quản lý sẽ không chínhxác, rủi ro trên thị trường tài chính sẽ gia tăng do tình trạng thông tin bất cân đối

Những khó khăn Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia.

Hệ thống thông tin phục vụ hoạt động giám sát cũng như để tính các chỉ sốCAMEL của các ngân hàng còn chưa chính xác, cập nhật Các chỉ số thống kê, chỉ

số tài chính của nhiều ngân hàng còn chưa phù hợp Hệ thống thông tin giám sát từ

hệ thống ngân hàng đến các cơ quan giám sát còn chưa thông suốt, chỉ tồn tại mộtchiều nguồn thông tin từ các ngân hàng đến các cơ quan giám sát

Việc sử dụng chỉ số CAMEL trong việc giám sát hệ thống ngân hàng tại ViệtNam còn nhiều bất cập đấy là việc hệ thống kế toán của Việt Nam chưa theo chuẩn

hệ thống kế toán quốc tế Điều này đã gây khó khăn trong việc xác định cũng nhưtính toán các chỉ số khi các chỉ số CAMEL cần phải theo chuẩn mực quốc tế

Việt Nam chưa thể sử dụng hết toàn bộ hệ thống chỉ số CAMEL trong việcđánh giá hệ thống ngân hàng bởi hệ thống ngân hàng Việt Nam chưa thể thực hiệnđược theo các tiêu chí ấy, do chưa có số liệu tính toán, chưa có các nghiệp vụ phátsinh hoặc có thể có nhưng các chỉ số không thể so sánh được với những ngân hàng

có quy mô tương đương ở nước ngoài

Ủy ban chưa tạo dựng được sự phối hợp giữa hoạt động giám sát từ xa vàgiám sát tại chỗ, chưa đưa ra được quy trình giám sát hoàn thiện

Chương 3: Tác giả đề xuất những phương hướng, giải pháp và kiến nghị

để nâng cao khả năng sử dụng hệ thống chỉ số CAMEL tại Ủy ban.

1 Để đưa ra được những giải pháp và kiến nghị phù hợp tác giả đã phân tíchnhững nguyên tắc trong việc sử dụng hệ thống chỉ số CAMEL, nguyên tắc trong

Trang 11

hoạt động giám sát ngân hàng thương mại để từ đó đưa ra được phương hướng sửdụng hệ thống chỉ số này trong thời gian tới.

2 Tác giả đã đưa ra các giải pháp nâng cao khẳ năng sử dụng hệ thống chỉ số CAMEL:

 Giải pháp đối với cấu trúc khu vực ngân hàng:

Khuyến khích phát triển các hình thức tín dụng quy mô nhỏ, đa dạng hóa hìnhthức sở hữu Tăng cường kiểm tra, giám, nâng cao năng lực cạnh tranh của khu vựcngân hàng Cần phân loại các ngân hàng (ví dụ theo quy mô vốn chủ sở hữu, hiệuquả hoạt động,…) từ đó quy định hình thức, phạm vi, cơ chế hoạt động, giám sáttừng nhóm

 Giải pháp đối với từng yếu tố trong hệ thống chỉ số CAMEL:

- Giám sát, quản lý nguồn vốn điều lệ gia tằng cần đi kèm với hệ thống giảipháp, lộ trình cơ sở pháp lý đồng bộ

- Xây dựng hệ thống chỉ số an toàn cho khu vực ngân hàng song hành với cơchế kiểm soát, biện pháp hỗ trợ và chế tài xử lí đồng bộ

- Cần phải nâng cao trình độ đội ngũ quản lý của hệ thống ngân hàng, có sựđào tạo chuyên sâu, có năng lực về trình độ chuyên môn và trình độ quản lý

- Cần có khung pháp lý hoàn chỉnh để thống nhất trong việc quản lý hoạtđộng Phải yêu cầu các đơn vị này và các cơ quan liên quan thực hiện nghiêm chỉnhcác quy định đã ban hành về tổ chức hoạt động của hệ thống ngân hàng

- Do vậy cần xem xét lại tỷ lệ cấp tín dụng trong hệ thống ngân hàng, NHNNnên có lộ trình và hướng dẫn cụ thể để các ngân hàng có thời gian điều chỉnh chophù hợp với những quy định của Thông thư 13

 Giải pháp đối với Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia:

- Cần phải đẩy nhanh tiến độ triển khai các nội dung liên quan đến phươngpháp giám sát này, có những quy định rõ ràng về mặt pháp lý để các ngân hàngthương mại thực hiện tốt hơn, đơn giản hóa quá trình giám sát và nâng cao mức độ

an toàn

- Việc triển khai thực hiện giám sát ngân hàng theo phương pháp giám sátCAMEL hiện nay của UBGSTCQG được đánh giá là phù hợp với mức độ phát triểncủa các hoạt động ngân hàng và hệ thống ngân hàng Việt Nam giai đoạn này

Trang 12

- Nội dung trong từng báo cáo giám sát cần được thống nhất theo phươngpháp giám sát được lựa chọn trong từng thời kỳ

- Cần hoàn thiện hơn nữa quy trình giám sát

- Phát triển nguồn nhân lực luôn là nhiệm vụ quan trọng đối với hoạt độngthanh tra, giám sát Đào tạo cán bộ là việc phải đào tạo đội ngũ kế cận thông quaviệc bố trí công việc để đảm bảo những cán bộ giỏi, dày dạn kinh nghiệm có thể hỗtrợ và hướng dẫn cho các cán bộ trẻ hoặc còn ít kinh nghiệm trong công việc

3 Tác giá đã đưa ra những kiến nghị để thực hiện hệ thống giải pháp trên đốivới hệ thống chỉ số CAMEL, đối với Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia cũngnhư các cơ quan quản lý để hệ thống chỉ số này ngày càng phát huy tốt hơn tính

ưu việt của nó trong việc nâng cao mức độ an toàn của hệ thống ngân hàng thươngmại Việt Nam

Trang 13

LỜI NÓI ĐẦU

Cùng với xu thế phát triển chung của nền kinh tế, hoạt động của các Ngânhàng thương mại Việt Nam hiện nay đang ngày càng được mở rộng theo hướnghiện đại hóa và đa dạng hóa, Mục tiêu an toàn và hiệu quả của từng ngân hàng cũngnhư toàn bộ hệ thống ngân hàng thương mại là một mục tiêu quan trọng, bởi đây làkênh huy động vốn lớn và hiệu quả nhất của nền kinh tế Chính vì thế việc đảm bảocho hệ thống ngân hàng thương mại hoạt động an toàn, mang lại hiệu quả kinh tếcao là nhiệm vụ của hoạt động giám sát ngân hàng thương mại của các cơ quan vớichức năng thanh tra, giám sát

Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia với chức năng giám sát hệ thống tàichính, trong đó có hệ thống ngân hàng thương mại Thông qua hoạt động giám sát

từ xa của mình để giúp Thủ tướng Chính phủ nắm rõ hơn về thị trường tài chínhViệt Nam Ủy ban đã sử dụng công cụ chỉ số CAMEL để đánh giá mức độ an toàncủa hệ thống ngân hàng thương mại để từ đó tham mưu cho Chính phủ nhằm ổnđịnh thị trường tài chính Việt Nam ngày càng bền vững hơn

Trước sức ép của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, rủi ro trong hoạt độngngân hàng ngày càng đa dạng về loại hình và tinh vi về mức độ, tài chính của cácngân hàng thương mại sẽ được đảm bảo, hệ thống ngân hàng sẽ mạnh và thực sự

là hệ thống huyết mạch của nền kinh tế nếu hoạt động giám sát đối với ngânhàng thương mại được hoàn thiện Như vậy, làm thế nào để hoàn thiện, nâng caohoạt động giám sát mức độ an toàn của các ngân hàng thương mại đang là câuhỏi bức xúc của thực tiến hiện nay của các cơ quan giám sát, của Chính phủ cũng

như của nền kinh tế Đề tài “Sử dụng hệ thống chỉ số CAMEL trong giám sát

và đánh giá mức độ an toàn của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam tại

Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia” được lựa chọn nghiên cứu nhằm đáp ứng

đòi hỏi bức xúc đó

1.1 Lý do lựa chọn đề tài

Hệ thống ngân hàng ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc phát triểnkinh tế của đất nước cũng như trong quá trình hội nhập nền kinh tế toàn cầu Đây là

Trang 14

kênh huy động vốn lớn nhất trong nền kinh tế An toàn trong hoạt động của hệthống ngân hàng là một nhiệm vụ vô cùng cần thiết để ổn định hệ thống tài chínhcủa mỗi quốc gia không riêng gì Việt Nam Hệ thống ngân hàng có hoạt động tốt,đảm bảo an toàn thì sẽ giúp cho các doanh nghiệp phát triển tốt hơn, nâng cao độthanh khoản cho thị trường Sau cuộc khủng hoảng kinh tế vừa qua càng cho chúng

ta thấy rõ hơn vai trò trong việc sử dụng các chỉ số trong việc đánh giá và dự báo thịtrường tài chính

Qua đề tài này, để có thể thấy được tình hình hoạt động của hệ thống các tổchức tín dụng ở Việt Nam thông qua việc đánh giá các chỉ số an toàn theo chỉ sốCAMEL và đưa ra những giải pháp trong việc hoàn thiện chỉ số đánh giá cũng nhưtrong công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động của hệ thống ngân hàng thươngmại Việt Nam hiện nay

1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia là cơ quan đầu tiên ở Việt Nam đượcthành lập với chức năng giám sát hệ thống tài chính quốc gia Việc sử dụng mô hìnhCAMEL để đánh giá các chỉ số lành mạnh tài chính của hệ thống tổ chức tài chínhtín dụng chưa được nhiều đề tài đi sâu nghiên cứu Một số đề tài về giám sát tàichính đã công bố song các đề tài đó cũng sử dụng số liệu từ những năm trước nêntính cập nhật chưa cao Và hiện nay cũng chưa có đề tài nào sử dụng chỉ sốCAMEL đánh giá riêng cho các tổ chức tín dụng Với chức năng giám sát của mìnhthì Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia sẽ có cái nhìn tổng thể và sự đánh giá chínhxác nhất hệ thống tổ chức tài chính

Một số đề tài đã được nghiên cứu như: “Xây dựng hệ thống chỉ số xếp hạngtài chính đối với các Ngân hàng thương mại Việt Nam” tuy nhiên đề tài này chỉ mớidừng lại ở việc thống kê các chỉ số và sử dụng các chỉ số trong việc xếp hạng các tổchức tín dụng chứ chưa đánh giá được mức độ an toàn của hệ thống này

1.3 Mục đích nghiên cứu:

- Hiểu rõ hệ thống chỉ số CAMEL, về công thức, cách áp dụng và ý nghĩacủa từng chỉ số Hiểu rõ hơn về công việc đánh giá mức độ an toàn của hệ thốngngân hàng của Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia

Trang 15

- Đánh giá việc sử dụng chỉ số CAMEL tại Ủy ban Giám sát tài chính quốcgia, đưa ra được những thuận lợi, khó khăn khi áp dụng chỉ số này để từ đó đưa racác giải pháp nhằm cải thiện và nâng cao việc sử dụng chỉ số này trong đánh giá hệthống ngân hàng thương mại tại Việt Nam.

- Từ các số liệu tính toán được qua các chỉ số để nhìn lại hệ thống các tổchức tín dụng tại Việt Nam Đưa ra các kiến nghị đối với cơ quan quản lý (Ngânhàng Nhà nước, Ủy ban giám sát tài chính quốc gia) về mức độ an toàn của các tổchức tín dụng

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng: Đề tài tập trung nghiên cứu mức độ an toàn của hệ thống ngânhàng thương mại ở Việt Nam hiện nay

- Chủ thể: Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia

- Phạm vi:

o Sử dụng mô hình CAMEL để đánh giá

o Thực trạng về hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay và mức

độ an toàn của hệ thống này (đánh giá theo mô hình CAMEL)

o Đề xuất các giải pháp về hoàn thiện công tác đánh giá của Ủy ban Giám sáttài chính Quốc gia nhằm nâng cao mức độ an toàn của hệ thống ngân hàng

- Về thời gian: Do mức độ an toàn của hệ thống ngân hàng phụ thuộc vào từngthời điểm ta đánh giá do chịu tác động của hệ thống chính sách, nền kinh tế, những tácđộng cảu kinh tế thế giới nên trong đề tài này sử dụng số liệu của năm 2010 để tăngtính cập nhật, chính xác cho đề tài

1.5 Câu hỏi nghiên cứu:

- Vai trò của việc đảm bảo an toàn hệ hống ngân hàng thương mại đối với hệthống tài chính Việt Nam

- CAMEL là gì? Cách tính của các chỉ số trong CAMEL?

- Thực trạng của các tổ chức tín dụng ở Việt Nam hiện nay như thế nào?

- Việc áp dụng các chỉ số CAMEL trong việc tính các chỉ số an toàn cho hệthống ngân hàng của Việt Nam tại Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia gặp nhữngkhó khăn gì?

Trang 16

- Để đánh giá an toàn của hệ thống ngân hàng thương mại của Việt Nam hiệnnay thì cần phải có những điều chỉnh gì?

- Cơ quan quản lý cần có hướng giải quyết như thế nào trong việc đánh giámức độ an toàn của các tổ chức tín dụng?

1.6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu:

- Ý nghĩa khoa học: Hiểu rõ hơn về các chỉ số CAMEL trong đánh giá độ antoàn của hệ thống ngân hàng

- Ý nghĩa thực tiễn: Hiểu và biết sử dụng mô hình đó để đánh giá hệ số antoàn hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại hiện nay tại Ủy ban Giám sát tàichính Quốc gia Đưa ra một số kiến nghị cho các cơ quan quản lý để hoàn thiệnhoạt động đánh giá độ an toàn cho hệ thống ngân hàng

1.7 Phương pháp nghiên cứu:

Đây là đề tài khoa học ứng dụng do đó để đạt được mục đích nghiên cứu cần

có các phương pháp nghiên cứu thích hợp

- Đối với các vấn đề lý luận: Đề tài sử dụng các phương pháp tổng hợp, phântích, đánh giá, liệt kê

- Đối với các vấn đề thực tiễn: Đề tài sử dụng phương pháp thu thập, chọnlọc và tính toán số liệu từ đó thể hiện số liệu thông qua các đồ thị, bảng biểu đểchứng minh, phân tích, sử dụng phương pháp so sánh kết quả với các chỉ số, cácthanh đo an toàn để đưa ra kết luận cần thiết

1.8 Kết cấu của luận văn:

Luận văn gồm 3 chương:

- Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thế giới trong việc sử dụng chỉ số

CAMEL để giám sát và đánh giá mức độ an toàn của hệ thốngngân hàng thương mại

- Chương 2: Phân tích thực trạng việc sử dụng chỉ số CAMEL trong giám sát

và đánh giá mức độ an toàn của hệ thống ngân hàng thương mạitại Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia

- Chương 3: Các giải pháp nhằm nâng cao khẳ năng sử dụng chỉ số CAMEL

trong giám sát và đánh giá mức độ an toàn của hệ thống ngânhàng thương mại

Trang 17

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THẾ GIỚI

TRONG VIỆC SỬ DỤNG CHỈ SỐ CAMEL ĐỂ GIÁM SÁT

VÀ ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ AN TOÀN CỦA HỆ THỐNG

NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại

1.1.1 Khái niệm

Các quốc gia khác nhau lại có những định nghĩa khác nhau về ngân hàngthương mại Ở Việt Nam Pháp lệnh ngân hàng ngày 23/5/1990 của hội đồng Nhànước Việt Nam xác định: Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ màhọat động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền kí gửi từ khách hàng với tráchnhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu vàlàm phương tiện thanh toán

1.1.2 Chức năng của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế

Ngân hàng thương mại cũng là ngân hàng và cũng có những chức năng của

một ngân hàng

1.1.2.1 Trung gian tài chính

Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu làchuyển tiết kiệm thành đầu tư, đòi hỏi sự tiếp xúc với hai loại cá nhân và tổ chứctrong nền kinh tế (i) các cá nhân và tổ chức tạm thời thâm hụt chi tiêu, tức là chitiêu cho tiêu dùng và đầu tư vượt quá thu nhập và vì thế họ là những người cần bổsung vốn; (ii) các cá nhân và tổ chức thặng dư trong chi tiêu, tức là thu nhập hiện tạicủa họ lớn hơn các khoản chi tiêu cho hàng hóa, dịch vụ và do vậy họ có tiền để tiếtkiệm Sự tồn tại hai loại các nhân và tổ chức trên hoàn toàn độc lập với ngân hàng.Điều tất yếu là tiền sẽ chuyển từ nhóm (ii) sang nhóm (i)

Như vậy, ngân hàng ra đời với vai trò kết nối giữa nhóm (i) và (ii), để nhucầu của nhóm (i) có thể gặp được nhu cầu của nhóm (ii) làm tăng thu nhập chongười tiết kiệm đồng thời làm giảm phí tổn tín dụng cho người đầu tư NHTM vừa

Trang 18

là người đi vay vừa là người cho vay và với số lãi suất chênh lệch có được nó sẽduy trì họat động của mình Vai trò trung gian này trở nên phong phú hơn với việcphát hành thêm cổ phiếu, trái phiếu,… NHTM có thể làm trung gian giữa công ty vàcác nhà đầu tư; chuyển giao mệnh lệnh trên thị trường chứng khoán; đảm nhận việcmua trái phiếu công ty.

1.1.2.2 Phương tiện thanh toán

Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của ngânNHTM Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầu chính cho sự tồn tại

và phát triển của mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù củamình đã vô hình chung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế Chức năng tạotiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM là chức năng tín dụng

và chức năng thanh toán Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng sửdụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay ra lại được khách hàng sửdụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản tiền gửithanh toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ

sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ… Với chức năng này, hệ thốngNHTM đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầuthanh toán, chi trả của xã hội

1.1.2.3 Trung gian thanh toán

Ở đây NHTM đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân, thựchiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửicủa họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi củakhách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ Các NHTMcung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như séc, ủy nhiệmchi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng… Tùy theo nhu cầu,khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp Nhờ đó mà cácchủ thể kinh tế không phải giữ tiền trong túi, mang theo tiền để gặp chủ nợ, gặpngười phải thanh toán dù ở gần hay xa mà họ có thể sử dụng một phương thức nào

đó để thực hiện các khoản thanh toán Do vậy các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được

Trang 19

rất nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo thanh toán an toàn Chức năng này vô hìnhchung đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưuchuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế.

1.1.3 Các dịch vụ của ngân hàng thương mại

- Mua bán ngoại tệ: Ngân hàng đứng ra mua bán một loại tiền này lấy một

loại tiền khác và hưởng phí dịch vụ

- Nhận tiền gửi: Để có tiền cho vay thu lợi nhuận cao, ngân hàng mở dịch vụ

nhận tiền gửi để bảo quản hộ người có tiền với cam kết trả đúng hạn

- Cho vay thương mại: Ngân hàng dùng tiền của khách hàng gửi để cho

những người cần vốn vay sản xuất kinh doanh và thu lợi thông qua lãi suất

- Cho vay tiêu dùng: Ngân hàng cấp vốn cho các cá nhân để phục vụ cho nhu

cầu tiêu dùng của họ

- Tài trợ các dự án: Tài trợ cho việc xây dựng các nhà máy mới, đặc biệt là

trong các ngành công nghệ cao

- Bảo quản vật có giá: Ngân hàng thực hiện việc lưu giữ vàng và các vật có

giá khác cho khách hàng trong kho bảo quản

- Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán: Ngân hàng mở

tài khoản tiền gửi cho khách hàng và thực hiện lệnh chi trả của họ

- Quản lý ngân quỹ: Ngân hàng mở tài khoản và giữ tiền của phần lớn các

doanh nghiệp và nhiều cá nhân

- Tài trợ các hoạt động của Chính phủ: Các ngân hàng phải mua trái

phiếu Chính phủ theo một tỷ lệ nhất định trên tổng lượng tiền mà ngân hàng huyđộng được

- Bảo lãnh: Ngân hàng bảo lãnh cho khách hàng mua chịu hàng hóa và trang

thiết bị, phát hành chứng khoán hay vay vốn của các tổ chức khác

- Cho thuê thiết bị trung và dài hạn: Ngân hàng mua các thiết bị xản suất có

giá trị lớn để cho các doanh nghiệp không có khả năng mua thuê lại

- Cung cấp dịch vụ ủy thác và tư vấn: Các cá nhân và doanh nghiệp thuê

ngân hàng quản lý tài sản quản lý hoạt động tài chính hộ

Trang 20

- Cung cấp dịch vụ môi giới và đầu tư chứng khoán: Cung cấp cho khách

hàng cơ hội mụa cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán khác mà không phải nhờđến người kinh doanh chứng khoán

- Cung cấp các dịch vụ đại lý: Cung cấp các dịch vụ đại lý cho ngân hàng

khác như thanh toán hộ, phát hành hộ các chứng chỉ tiền gửi

- Bán các dịch vụ bảo hiểm: ngân hàng bán các hợp đồng bảo hiểm tín dụng

cho khách hàng để đảm bảo việc hoàn trả cho khách hàng trong trường hợp vay vốn

bị mất

1.1.4 Rủi ro của ngân hàng thương mại

Ngân hàng thương mại là doanh nghiệp kinh doanh hàng hóa đặc biệt – tiền

tệ Đa phần trong đó là các khoản tiền gửi phải chi trả khi khách hàng yêu cầu trongkhi nguồn tiền của ngân hàng thương mại lại thay đổi mạnh mẽ Dưới tác động củacông nghệ, sự di chuyển nguồn tiền giữa các khách hàng của ngân hàng trở nên dễdàng hơn song lại làm tăng tính rủi ro cao cho toàn hệ thống Rủi ro của ngân hàng

có thể được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau song đều có bản chất chung,

đó là khả năng xảy ra những tổn thất cho ngân hàng

1.1.4.2 Rủi ro hối đoái

Rủi ro hối đoái là khả năng xảy ra những tổng thất ngoài dự kiến cho ngânhàng khi tỷ giá hối đoái thay đổi vượt quá thay đổi dự tính Trong cơ chế thị trường,

tỷ giá thường xuyên giao động Sự thay đổi này cùng với trạng thái hối đoái củangân hàng tạo ra thu nhập hoặc thặng dư thâm hụt tạm thời Tuy nhiên, có nhữngthay đổi tỷ giá ngoài dự kiến dẫn đến tổn thất cho ngân hàng

Trang 21

1.1.4.3 Rủi ro lãi suất

Rủi ro lãi suất là khả năng xảy ra tổn thất ngoài dự kiến gắn với thay đổi củalãi suất và nhiều nhân tố khác như cấu trúc và kỳ hạn cả tài sản và nguồn, quy mô

và kỳ hạn các hợp đồng kỳ hạn

Nguyên nhân của rủi ro lãi suất: (i) sự không phù hợp về kỳ hạn của nguồn

và tài sản; (ii) Sự thay đổi của lãi suất thị trường khác với dự kiến của ngân hàng;(iii) Ngân hàng sử dụng lãi suất cố định trong các hợp đồng

1.1.4.4 Rủi ro thanh khoản

Rủi ro thanh khoản là khả năng xảy ra tổn thất ngoài dự kiến cho ngân hàngkhi nhu cầu thanh khoản thực tế vượt quá (hoặc nhỏ hơn) khả năng thanh khoản dựkiến làm gia tăng các chi phí để đáp ứng nhu cầu thanh khoản hoặc làm cho ngânhàng mất khả năng thanh toán

Để hạn chế rủi ro thanh khoản, các ngân hàng thương mại cần nâng cao nănglực quản trị ngân quỹ và các khoản mục sinh lời, chất lượng các hoạt động tín dụng

1.1.4.5 Các rủi ro khác

Ngoài ra ngân hàng còn gặp rủi ro trong các hoạt động ngoại bảng, rủi ro do

áp dụng tiến bộ công nghệ hoặc rủi ro quốc gia khi thực hiện đầu tư nước ngoài, khảnăng xảy ra cướp ngân hàng, nhầm lẫn trong thanh toán, hỏa hoạn, lỗi công nghệ

1.1.5 Sự cần thiết phải đánh giá mức độ an toàn của hệ thống ngân hàng thương mại

Rủi ro gắn liền với ngân hàng thương mại, phản ánh các tình huống bấtthường xảy ra gây tổn thất cho ngân hàng Do đó, hạn chế rủi ro không chỉ là mốiquan tâm của các ngân hàng thương mại mà còn là mục tiêu kiểm soát của ngânhàng Trung ương và đối với quyền lợi của khách hàng

Khi xảy ra rủi ro, ngân hàng phải có cách chống đỡ Tuy nhiên, những biệnpháp hạn chế rủi ro sẽ được các ngân hàng quan tâm hơn, nó tạo tính chủ động chongân hàng, hạn chế được tổn thất xảy ra hay thậm chí còn hạn chế được rủi ro Đểhạn chế rủi ro cho hệ thống ngân hàng thương mại, cần phải có sự phòng tránh,cần phải có công cụ cảnh báo nhằm đảm bảo an toàn cho toàn hệ thống để chongân hàng thấy được họ đang ở đâu, mức độ rủi ro hiện tại thế nào để đưa ra các

Trang 22

chiến lược kinh doanh phù hợp nhằm giảm thiểu rủi ro và tối đa hóa lợi ích chongân hàng.

1.2 Các bộ phận cấu thành của hệ thống chỉ số CAMEL

1.2.1 Giới thiệu hệ thống chỉ số CAMEL

Hệ thống đánh giá CAMEL là hệ thống đánh giá tình trạng vững mạnh,mức độ an toàn của hệ thống các tổ chức tài chính Chỉ số này do Cục quản lý các

tổ hợp tín dụng Hoa Kỳ xây dựng Đến sau khủng hoảng kinh tế thế giới năm

1997, chỉ số này đã được Ngân hàng thế giới cũng như Quỹ tiền tệ quốc tế khuyếnnghị sử dụng đối với nhiều quốc gia nhất là các quốc gia chịu tác động của khủnghoảng như một trong những biện pháp hữu hiệu để chống đỡ cũng như tái thiết lại

hệ thống tài chính

CAMEL được được kết hợp từ chữ cái đầu tiên của các yếu tố hình thànhnên hệ thống này

C: Capital - chỉ số về vốn

A: Asset - chỉ số về chất lượng tài sản

M: Management - chỉ số về năng lực quản lý

E: Earning - chỉ số về lợi nhuận

L: Liquidity - chỉ số về thanh khoản

Hiện nay chỉ số này còn dược mở rộng thêm một yêu tố nữa đó là S:Sensitivity to market risk – độ nhạy cảm với rủi ro thị trường và biến chỉ sốCAMEL thành CAMELS

1.2.2 Mục tiêu sử dụng và căn cứ xây dựng hệ thống chỉ số CAMEL

1.2.2.1 Mục tiêu sử dụng

Trên thế giới có khá nhiều hệ thống chỉ số dùng để giám sát hệ thống ngânhàng Tuy nhiên hệ thống chỉ số CAMEL được sử dụng tại nhiều quốc gia bởinhững lợi ích mà nó mang lại cho các quốc gia sử dụng sau cuộc khủng hoảng tàichính toàn cầu vừa qua

Chỉ số CAMEL dùng để đánh giá tổng thể toàn bộ hệ thống ngân hàng cũngnhư hệ thống tài chính để từ đó xem xét mức độ an toàn của toàn hệ thống nhằm

Trang 23

sớm phát hiện ra các rủi ro mà hệ thống có thể gặp phải và đưa ra các giải pháp cầnthiết để chống đỡ cho toàn hệ thống.

Trong xu thế hội nhập và phát triển toàn diện và mọi mặt như hiện nay, việc

sử dụng hệ thống chỉ số được quốc tế chấp nhận cho hệ thống ngân hàng tại ViệtNam như là một bước tiến để đưa hệ thống ngân hàng nói chung và hệ thống tàichính của Việt Nam nói riêng thâm nhập sâu hơn và tốt hơn đối với hệ thống tàichính thế giới

1.2.2.2 Căn cứ xây dựng

- Hệ thống CAMEL của ủy ban Basel

- Luật Ngân hàng Nhà nước, luật tổ chức tín dụng

- Các quy định hiện hành về hệ thống tài chính của Chính phủ, Ngân hàngNhà nước, Bộ Tài chính

1.2.2.3 Nguyên tắc sử dụng chỉ số CAMEL

Việc xếp hạng dựa chủ yếu vào phương pháp CAMEL và tính điểm cho từngchỉ số và từng lĩnh vực hoạt động Nguyên tắc tính điểm là lấy điểm tối đa trừ đi sốđiểm bị trừ của từng chỉ số Những ngân hàng không có hoạt động nghiệp vụ theocác quy định thì không cho điểm chỉ số của từng nghiệp vụ

Số liệu để đánh giá và cho điểm căn cứ vào:

- Số liệu trên bản cân đối tài khoản cấp III, IV, V;

- Số liệu báo cáo thông kê của ngân hàng;

- Số liệu qua cac thời kỳ thanh tra giám sát của NHNN;

- Các số liệu khác có thể tham khảo như báo cáo kiểm toán, báo cáo tàichính, thu nhập… của khách hàng

1.2.3 Các bộ phận cấu thành và khả năng vận dụng của hệ thống chỉ số CAMEL trong đánh giá và giám sát hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam.

Hệ thống CAMEL được xem là một trong những cách tiếp cận cơ bản đểđánh giá và sếp hạng tín nhiệm các tổ chức tín dụng

Trang 24

1.2.3.1 Nhóm các chỉ số về vốn (Capital)

Yêu cầu đánh giá

Chỉ số này thể hiện sự duy trì được sự phù hợp giữa vốn của các tổ chức tíndụng với các rủi ro mà hệ thống này có thể gặp phải, đồng thời phải duy trì đượcnăng lực quản lý để xác định, đo lường, điều chỉnh và kiểm soát những rủi ro này

Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường và các rủi ro khác lên tìnhhình tài chính của các tổ chức tín dụng phải được xem xét khi đánh giá tỷ lệ an toànvốn của các tổ chức tín dụng

Các loại rủi ro và mức độ rủi ro tiềm ẩn trong họa động của tổ chức sẽ quyếtđịnh đến việc mở rộng tỷ lệ an toàn vốn của hệ thống ngân hàng so với mức tốithiểu đã được quy định nhằm phản ánh một cách chính xác các hậu quả tiềm tàng

mà các rủi ro này có thể gây ra đối với vốn của các hệ thống ngân hàng

Nội dung đánh giá

- Mức độ và chất lượng của vốn và tính trạng tài chính tổng thể của các tổ

- Cơ cấu bảng cân đối bao gồm bản chất và giá trị các tài sản vô hình, rủi ro thịtrường, rủi ro tích lũy và các rủi ro khác liên quan đến các hoạt động phi truyền thống

- Áp lực rủi ro từ các tài khoản ngoại bảng

- Chất lượng và mức độ lành mạnh của các khoảng thu nhập và sự hợp lý củacác khoản cổ tức

- Triển vọng và kế hoạch cho tăng trưởng cũng như các kế hoạch trong quákhứ trong việc quản trị tăng trưởng

- Cách tiếp cận các thị trường vốn và các nguồn vốn khác, bao gồm cả vốn

hỗ trợ từ công ty mẹ

Trang 25

- Quỹ đầu tư phát triển nghiệp vụ

- Lợi nhuận chưa chia

- (Trừ đi lợi thế thương mại)

Vốn cấp 2

- 50% phần giá trị tăng thêm của tài sản cố định được định giá lại

- 40% phần giá trị tăng thêm của các loại chứng khoán đầu tư đượcđịnh giá lại

- Trái phiếu chuyển đổi hoặc cố phiếu ưu đãi do NHTM phát hànhthỏa mãn các điều kiện quy định

- Các công cụ nợ khác thỏa mãn các điều kiện quy định

- Dự phòng chung, tối đa bằng 1,25% tổng tài sản có rủi ro

Giới hạn

khi tính

vốn cấp 2

Tổng giá trị các khoản trái phiếu chuyển đổi hoặc cổ phiếu ưu đãi

do NH phát hành và các công cụ nợ khác chỉ được hạch toán tối đabằng 50% vốn cấp 1 Trong vòng năm năm cuối cùng trước khiđến hạn thanh toán hoặc chuyển đối thành cổ phiếu phổ thông giátrị các công cụ nợ khác và trái phiếu chuyển đổi được tính vào vốncấp 2 sẽ phải khấu trừ mỗi năm 20% giá trị ban đầu Tổng giá trịvốn cấp 2 tối đa bằng 100% vốn cấp 1

Các khoản

phải trừ khỏi

vốn tự có

- Toàn bộ phần giá trị giảm đi của TSCĐ do định giá lại

- Tổng số vốn của NH đầu tư vào TCTD khác dưới hình thức gópvốn, mua cổ phần

- Phần góp vốn, liên doanh, mua cổ phiếu của Quỹ đầu tư, doanhnghiệp khác vượt mức 15% vốn tự có của TCTD

- Khoản lỗ kinh doanh bao gồm cả khoản lỗ lũy kế

Các chỉ số về vốn tự có

- Các điều kiện: Vốn điều lệ đủ theo mức vốn pháp định; Đảm bảo an toànvốn, cụ thể (1) vốn điều lệ thực góp không thấp hơn vốn điều lệ đã đăng ký, (2) Tỷ

lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR) đạt mức quy định của NHNN

Chỉ số 1: Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu

Trang 26

Vốn tự cóTổng tài có sản rủi ro chuyển đổiTrong đó:

+ Vốn tự có = vốn cấp 1 + vốn cấp 2 – các khoản phải trừ khỏi vốn tự có+ Tài sản có rủi ro theo quy định của NHNN

+ Đảm bảo các quy định khác của NHNN về cổ đông, cổ phần, cổ phiếu.

- Nhóm tài sản có hệ số rủi ro 20% gồm: các khoản cho vaybằng VND đói với các TCTD khác trong nước; các khoảncho vay UBND tỉnh; Các khoản phải đòi được đảm bảobằng giấy tờ có giá do TCTD khác thành lập tại Việt Namphát hành; các khoản phải đòi đối với các tổ chức tài chínhNhà nước, đá quý, tiền mặt đang trong quá trình thu

- Nhóm tài sản có hệ số rủi ro 50% gồm: Các khoản đầu tưcho dự án theo hợp đồng theo quy định của Chính phủ; cáckhoản cho vay đảm bảo bằng bất động sản của bên vay

- Nhóm tài sản có hệ số rủi ro 100% gồm: Tổng số tiền đãcấp vốn điều lệ cho các công ty trực thuộc có tư cách phápnhân hạch toán độc lập; các khoản đầu tư dưới hình thứcgóp vốn mua cổ phần vào các doanh nghiệp, tổ chức kinh tếkhác, máy móc, thiết bị, bất động sản và TSCĐ khác, cácloại tài sản có khác

Trang 27

- Các khoản cam kết bảo lãnh tài trợ cho khách hàng.

- Hợp đồng giao dịch lãi suất, hợp đồng giao dịch ngoại tệ

- Chỉ số đánh giá sử dụng vốn điều lệ gồm:

+ Sử dụng vốn điều lệ mua cổ phần, hoàn vốn với cổ đông.+ Đảm bảo mua sắm tài sản cố định theo quy định củaNHNN: Đây là chỉ số phản ánh việc mua, đầu tư vào tài sản

có của mình so với vốn tự có theo quy định

Chỉ số 2: Giá trị còn lại của TSCĐ/vốn cấp 1:

Theo quy định hiện hành chỉ số này không vượt quá 50% và được tính trên 2yếu tố:

- Giá trị còn lại của TSCĐ được mua, đầu tư bằng vốn tự có lấy từ báo cáothống kê TCTD

- Vốn cấp 1: Mức góp vón mua cổ phần TCTD

Chỉ số 3: Mức đầu tư vào một khoản đầu tư thương mại của NH/Vốn điều

lệ của DN, quỹ đầu tư.

Giá trị của chỉ số trên theo quy định hiện hành của NHNN là ≤ 11% Nếuvượt quá tỷ lệ này phải được NHNN chấp thuận trước bằng văn bản với điều kiệnkhoản đầu tư đó là hợp lý và NH đã chấp hành các tỷ lệ an toàn trong hoạt độngngân hàng, có tỷ lệ nợ xấu ≤ 3% tổng dư nợ Cả hai yếu tố để tính chỉ số trên đềulấy trong báo cáo thống kê của TCTD

Chỉ số 4: Tổng mức vốn đầu tư vào tất cả các khoản đầu tư thương mại của NHTM/vốn điều lệ và Quỹ dự trữ của TCTD.

Giá trị các chỉ số này được quy định là ≤ 40%, nếu cao hơn 40% sẽ bọ coi là

vi phạm Số liệu để tính chỉ số này được lấy trên báo cáo cân đối tài khoản kế toán.Vốn điều lệ và quỹ dự trữ TCTD tính theo quy định của NHNN

1.2.3.2 Nhóm chỉ số về chất lượng tài sản (Asset)

Yêu cầu đánh giá

Số lượng của các rủi ro hiện tạivà tiểm ẩn gắn liền với danh mục đầu tư và

Trang 28

cho vay, các tài sản cố định, các tải sản có khác, các giao dịch ngoại bảng của hệthống các tổ chức tín dụng.

Khả năng quản trị để xác định, đo lường, điều chỉnh và kiểm soát rủi ro tíndụng cũng được phản ánh qua chất lượng tài sản có Việc đánh giá chất lượng tài sản

có cần cân nhắc mức dự trữ cho các khoản lỗ từ cho vay và cho thuê và tỷ trọng áplực trì hoãn thanh toán từ phía các đối tác, tổ chức phát hành hoặc người vay từ cáchợp đồng với tổ chức tín dụng Tất cả các rủi ro khác có thể anh rhưởng đến giá trịhoặc khả năng chuyển đổi của tài sản có của tổ chức tín dụng Bên cạnh đó, nó có thểchịu ảnh hưởng của hoạt động thị trường, danh tiếng, chiến lược và các rủi ro khác

Nội dung đánh giá

- Mức độ đầy đủ của các chuẩn mực bảo đảm tín dụng, mức độ lành mạnh

của các quy tắc quản lý tín dụng và sự chính xác của cá quy tắc xác định rủi ro

- Mức độ, sự phân phối, mức độ nghiêm trọng và khuynh hướng vận độngcủa các tài sản có vấn đề, sự phân loại, tính thiếu chính xác, sự tái cấu trúc, thiếutính thanh khoản, các khoản nợ xấu đối với các giao dịch nội, ngoại bảng

- Mức độ đầy đủ của các khoản dự trữ cho các khoảng lỗ tiềm tàng từ hoạtđộng cho vay, cho thuê và định giá tài sản

- Rủi ro tín dụng có thể tăng hoặc giảm từ các giao dịch ngọa bảng như cáccam kết chưa phát sinh dòng tiền, các hợp đồng phái sinh tín dụng, tín dụngthương mại

- Sự đa dạng hóa và chất lượng của danh mục đầu tư, cho vay

- Sự mở rộng các hoạt động lưu ký chứng khoán và áp lực đối với các đối táctrong các hoạt động kinh doanh

- Mức độ đầy đủ và quy trình của các chính sách đầu tư và cho vay

- Năng lực quản lý các tài sản hợp lý, xác định kịp thời và xử lý đúng các tàisản có vấn đề

- Mức độ đầy đủ cảu hệ thống kiểm soát nội bộ

- Giá trị của các bản hợp đồng tín chấp

Trang 29

Các chỉ tiêu sử dụng

 Chỉ số theo dõi diễn biến và cơ cấu cấp tín dụng

(i) Phân loại hoạt động cấp tín dụng

+ Theo loại thị trường: Cho vay trên thị trường khách hàng không phải làNgân hàng (thị trường I)/Thị trường liên ngân hàng (thị trường II) Chit tiêu nàycàng thấp thì càng ít rủi ro

+ Theo kỳ hạn (ngắn hạn và trung – dài hạn)

(ii) Đánh giá chất lượng hoạt động tín dụng

 Chỉ số phản ánh chất lượng tín dụng

Chỉ số 1: Nợ quá hạn trên tổng dư nợ

Chỉ số này được đánh giá là tốt nếu đạt mức dưới 5%, nợ quá hạn khó đòi và

nợ mất vốn chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng nợ quá hạn Chỉ số này được tính bằng haiyếu tố:

- Nợ quá hạn: là khoản nợ mà một phần nợ hoặc toàn bộ nợ gốc hoặc lãi đãquá hạn Theo Quyết định 493/2005 QĐ – NHNN thì đó là các khoản nợ được hạchtoán vào tài khoản nợ quá hạn, các khoản nợ cơ cấu lại thời gian trả nợ theo quyđịnh và các khoản nợ có cơ cấu lại thời hạn trả nợ theo quy định và các khoản nợkhác được phân loại vào nợ nhóm 2,3,4,5

- Tổng dư nợ: là số tài sản có mà NH đang quản lý dưới hình thức cho vay, chothuê, nợ chờ xử lý, nợ tồn đọng, nợ chuyển sang công ty quản lý nợ và khai thác tàisản, nợ cho vay được khoanh và đầu tư chứng khoán của cá nhân và tổ chức

Chỉ số 2: Nợ xấu/tổng dư nợ

Giá trị của chỉ số này quy định phải ≤ 2%

Chỉ số này được tính theo 2 yếu tố: Nợ xấu là các khoản nợ từ nhóm 3 đếnnhóm 5 theo Quyết định 493/2005 QĐ – NHNN và Tổng dư nợ

Chỉ số 3: Nợ quá hạn không có khả năng thu hồi/tổng dư nợ

Chỉ số này được tính là tốt nếu đạt mức 0% và xấu nếu đạt mức ≥ 2,5% tổng

dư nợ

Chỉ số này được tính trên 2 yếu tố: Nợ quá hạn không có khả năng thu hồi(nợ mất vốn) thuộc nợ quá hạn nhóm 5 và tổng dư nợ:

Trang 30

 Chỉ số đánh giá cơ cấu đầu tư tín dụng

 Chỉ số 5: Dự phòng rủi ro/Tổng tài sản có phải tính dự phòng

- Dự phòng rủi ro là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổnthất có thể có do khách hàng vay NH không thực hiện nghĩa vụ đã cam kết, nó đượctính theo nợ gốc và hạch toán vào chi phí hoạt động của NH Dự phòng rủi ro gồm

dự phòng cụ thể và dự phòng chung

Tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể đối với các nhóm nợ như sau: Nhóm 1: 2%,Nhóm 2: 5%, Nhóm 3: 20% Nhóm 4: 50%, Nhóm 5: 100% Riêng với nhóm nợđược khoanh chờ Chính phủ xử lý thì được trích lập dự phòng cụ thể theo năng lựctài chính của từng NH

- Tổng tài sản có phải trích lập dự phòng: Số liệu này được lấy theo báo cáothống kế Đây là tài sản có được phân loại theo quy định hiện hành của NHNN đểtính dự phòng rủi ro

Chỉ số 6: Tỷ lệ dự phòng rủi ro trong kỳ/tổng thu nhập

- Số liệu chi dự phòng rủi ro tring kỳ được thể hiện trên báo cáo cân đối tàikhoản kế toán Nếu NH chưa trích đủ dự phòng rủi ro thì phải trích số chưa trích đủ

để cộng vào số chi dự phòng rủi ro; nếu trích thừa thì trừ số trích thừa ra khỏi khoảnchi dự phòng

- Tổng thu nhập được lấy trên báo cáo cân đối tài khoản kế toán đến cuối kỳgiám sát

Chỉ số 7: Tài sản có rủi ro/tổng tài sản có

- Tài sản có rủi ro lấy từ báo cáo thống kê tính theo quy định của NHNN(QĐ 457 ngày 19/4/2005)

- Tài sản có được trích trên cơ sở số liệu từ bảng tổng kết tài sản theo quyđịnh của NHNN

Chỉ số 8: Dư nợ cho vay ngành kinh tế lớn nhất/Tổng dư nợ cho vay

- Dư nợ cho vay ngành kinh tế lớn nhất là tổng số dư tất cả các khoản nợ chovay một ngành kinh tế theo quy định của NHNN

Trang 31

- Tổng dư nợ cho vay: là số tài sản có mà NH đang quản lý dưới hình thức chovay, cho thuê, nợ chờ xử lý, nợ tồn đọng, nợ chuyển sang công ty quản lý và khai tháctài sản, nợ cho vay được khoanh và đầu tư chứng khoán.

 Chỉ số giới hạn tín dụng đối với một khách hàng

Chỉ số 9: Tổng dư nợ cho vay của NH đối với một khách hàng/ vốn tự có của NH.

Giá trị của chỉ số này theo quy định phải ≤ 15% Các khoản cho vay vượt mức15% vốn tự có của NH phải được TTCP quyết định Các trường hợp vượt khác là viphạm quy định

 Chỉ số 10: Tổng dư nợ cho vay của NHTM đối với một khách hàng/vốn tự

Chỉ số 12: Tổng mức cho vay và bảo lãnh của NH đối với một nhóm khách hàng liên quan/vốn tự có của NH.

Giá trị của chỉ số này theo quy định là ≤ 60%

 Hoạt động kinh doanh ngoại hối

 Chỉ số 13: Trạng thái ngoại tệ âm/vốn tự có của NH

Giá trị của chỉ số này theo quy định là ≤ 30% Và gồm 2 yếu tố:

- Trạng thái ngoại tệ âm là các trạng thái ngoại tệ âm của tất cả các ngoại tệ

Số liệu từ báo cáo thống kê

- Vốn tự có theo quy định của NHNN

Trang 32

Chỉ số 14: Trạng thái ngoại tệ dương/vốn tự có của NH

Đây là chỉ số được quy định đối với NH có hoạt động kinh doanh ngoại tệ, trạngthái ngoại tệ dương chỉ được duy trì ở mức tối đa 30% so với vốn tự có của NH

 Cơ cấu tài sản có nội bảng

Chỉ số 15: Tài sản có sinh lời/Tài sản có nội bảng

- Tài sản có sinh lời: là tổng các khoản mục tài sản có có khả năng sinh lời của NH tại thời điểm đánh giá

- Tài sản có nội bảng được tách theo quy định của NHNN

Chỉ số này đạt từ 75% trở lên là đảm bảo quy định, nếu nhỏ hơn 75% là vi phạm

1.2.3.3 Nhóm chỉ số về năng lực quản lý (Management)

Yêu cầu đánh giá

Xem xét năng lực của Ban điều hành trong việc thực hiện vai trò của họ đểxác định, điểu chính và kiểm soát các rủi ro trong mọi hoạt động nhằm đảm bảo sự

an toàn, lành mạnh và hoạt động hiệu quả cho các tổ chức tài chính theo đúng quyđịnh của pháp luật

Các nhà quản lý hệ thống cần phải đưa ra được các định hướng, chiến lược

về mức độ rủi ro mà hệ thống có thể chịu đựng, đưa ra những chính sách cũng nhưquy trình quản trị rủi ro thích hợp

Tùy thuộc vào các lĩnh vực hoạt động cũng như quy mô của các tổ chức màcác nhà quản trị cần qua tâm đến các loại rủi ro như: rủi ro tín dụng, rủi ro thịtrường, rủi ro trong các hoạt động, rủi ro tác nghiệp, rủi ro pháp lý, rủi ro thanhkhoản cũng như các rủi ro khác Các hệ thống tổ chức tín dụng cần có hệ thốngquản trị rủi ro tốt, đội ngũ nhân sự có trình độ để đưa ra quy trình kiểm soát nội bộchặt chẽ, phù hợp nhằm đảm bảo an toàn hoạt động cho toàn hệ thống

Nội dung đánh giá

- Năng lực của đội ngũ lãnh đạo trong việc lập kế hoạch, chiến lược hoạtđộng cũng như giải quyết các rủi ro phát sinh trong các hoạt động kinh doanh

- Chất lượng của đội ngũ lãnh đạo thể hiện trong việc điều hành hệ thốngngày càng nâng cao hiệu qủa hoạt động

Trang 33

- Mức độ đầy đủ và phù hợp với các chính sách kiểm soát nội bộ đối với cáchoạt động chứa đựng nhiều rủi ro.

- Sự chính xác và kịp thời của hệ thống thông tin quản trị

- Mức độ đầy đủ của các hoạt động kiểm toán, kiếm soát nội bộ nhằm tăngmức độ tin cậy của các báo cáo tài chính định kỳ phù hợp với pháp luật và các chínhsách nội bộ của hệ thống các tổ chức tín dụng

Các chỉ tiêu sử dụng

 Chỉ số 1: Tiêu chuẩn đối với HĐQT; Ban kiểm soát; Ban điều hành

- Quy định về số lượng, cơ cấu thành viên

- Quy định về năng lực, kinh nghiệm, trình độ đào tạo

- Quy chế hoạt động của HĐQT, các Ủy ban thuộc Hội đồng Quản trị

- Các quy định khác

 Chỉ số 2: Kiểm soát nội bộ

- Hệ thống kiểm soát nội bộ

- Chính sách, quy trình thủ tục và báo cáo kiểm soát nội bộ

- Hệ thống MIS (thông tin quản lý)

Trường hợp các NH không tuân thủ một trong các quy định trên sẽ bị trừđiểm Trường hợp các NH bị đặt trong tình trạng kiểm soát đặc biệt thì các chỉ sốcủa nhóm này coi như vi phạm

1.2.3.4 Nhóm chỉ số về lợi nhuận (Earning)

Yêu cầu đánh giá

Nội dung này không chỉ phản ánh giá trị và mức độ biến động của thunhập mà còn phản ảnh các nhân tố ảnh hưởng đến sự vững bền và chất lượng củacác khoản thu nhập Giá trị và chất lượng của các khoản thu nhập có thể bị ảnhhưởng bởi rủi ro tín dụng thiếu sự quản trị hay được quản trị một cách thái quá,dẫn đến các khoản thua lỗ, do đó đòi hỏi phải có các khoản tiền dự phòng; hoặcbởi rủi ro thị trường dẫn đến sự biến động của thu nhập do sự thay đổi của yếu tốlãi suất

Trang 34

Chất lượng của các khoản thu nhập có thể bị giảm đi do đặt niềm tin vào cáckhoản thu nhập ngoài sức tượng tượng, các sự kiện bất thường cũng như những thayđổi trong chính sách thuế Những khoản thu nhập trong tương lai có thể sẽ chịu ảnhhưởng tiêu cực từ việc dự đoán không chính xác việc xây dựng ngân sách khônghợp lý; không đưa ra được một chiến lược kinh doanh tốt hay việc kiểm soát rủi rocòn nhiều yếu kém.

Nội dung đánh giá

- Mức độ thu nhập bao gồm cả sự ổn định và hướng phát triển, triển vọngtrong thời gian tới

- Đánh giá khả năng cung cấp vốn chủ sở hữu thông qua tỷ lệ lợi nhuận đểlại, để thấy được quy mô vốn trong chu kỳ sau

- Chất lượng và nguồn gốc các khoản thu nhập

- Mức độ chi phí với mối quan hệ trong các hoạt động

- Mức độ đầy đủ của hệ thống kế hoạch ngân sách, quy trình dự báo, hệthống thông tin quản trị

- Mức độ đầy đủ và quy mô của các khoản dự phòng thua lỗ, các khoản địnhgiá tài sản

- Sự biến động của thu nhập trước các rủi ro về lãi suất, tỷ giá, giá cả…

Các chỉ tiêu sử dụng

 Chỉ số định tính

- Kiểm tra tính đầy đủ và hợp lý của các khoản thu nhập – chi phí và so sánhvới kỳ trước

- Đánh giá tương đói các khoản thu nhập chi phí so với vốn và tài sản

- Kiểm tra việc trích lập dự phòng rủi ro (chung và riêng) phù hợp với phânloại tài sản

- Đánh giá các yếu tố ảnh hướng lớn đến thu nhập, từ tín dụng, dịch vụ, bán lẻ

 Chỉ số định lượng

Trang 35

ro theo quy định.

Chỉ số 2: Lợi nhuận/Tổng thu nhập

Chỉ số này cho thấy một đồng thu nhập của NH có chứa bao nhiêu % lợinhuận Tỷ lệ % này càng cao càng tốt Chỉ số này được tính dựa trên 2 yếu tố

- Lợi nhuận là chênh lệch giữa tổng các khoản thu trừ đi tổng các khoản chitại thời điểm giám sát (cuối kỳ) Tuy nhiên, lợi nhuận sẽ thay đổi trong trường hợp

NH chưa trích đủ dự phòng rủi ro theo quy định; khi đó các khoản chi phải cộngthêm phần thiếu hụt dự phòng rủi ro

- Tổng thu nhập

Chỉ số 3: Lợi nhuận/Tổng tài sản có

Chỉ số này phán ánh khả năng tạo lợi nhuận của các tài sản có trong một NH.Được tính trên 2 yếu tố:

- Lợi nhuận

- Tổng tài sản có

Chỉ số 4: Lợi nhuận trước thuế/Vôn chủ sở hữu

- Tổng lợi nhuận trước khi nộp thuế thu nhập doanh nghiệp tại thời điểmgiám sát (cuối kỳ)

- Vốn chủ sở hữu bao gồm toàn bộ loại vốn, quỹ và các khoản khác của NH

mà NH đó sở hữu, đồng thời phải trừ đi các khoản lỗ (kể cả lỗ lũy kế); phần gópvốn liên doanh theo quy định, toàn bộ phần giá trị giảm đi của tài sản cố định và cácloại chứng khoán, số vốn của NH đầu tư vào tổ chức tín dụng khác

Trang 36

Chỉ số 5: Lợi nhuận ròng (sau thuế)/Vốn chủ sở hữu

- Lợi nhuận ròng sau thuế là chênh lệch giữa tổng các khoản thu trừ đi tổngcác khoản chi, trừ đi thuế thu nhập doanh nghiệp tại thời điểm giám sát (cuối kỳ).Lợi nhuận ròng sau thuế sẽ bị thay đổi trong trường hợp Ngân hàng chưa trích đủ

dự phòng rủi ro theo quy định, khi đó các khoản chi sẽ phải cộng thêm phần thiếu

về trích dự phòng rủi ro

- Vốn chủ sở hữu

Mức tốt nhất của chỉ số này là phải ≥ lãi suất tiền gửi có kỳ hạn bình quântrong năm và xấy là ≤ lãi suất tiền gửi có kỳ hạn bình quân trong năm

Chỉ số 6: Thu từ lãi/ Tài sản có sinh lời bình quân

- Thu lãi là các khoản thu từ lãi cho vay, cho thuê tài chính, thu lãi tiền gửi,thu lãi góp vốn, mua cổ phần và các khoản khác từ hoạt động tín dụng

- Tài sản có sinh lời bình quân được tính trên cơ sở tài sản có sinh lời đầu kỳcộng với tài sản có sinh lời cuối kỳ chia hai

Mức tốt nhất cho chỉ số này là ≥ 10% và xấu nhất là ≤ 5%

Chỉ số 7: Chi lãi trên tài sản cổ định có sinh lời bình quân

- Chi lãi là số tiền chi ra để trả tiền lãi vay, trả tiền lãi gửi, trả lãi các nghiệp

vụ phát hành trái phiếu, giấy tờ có giá và các chi phí khác để huy động vốn tại thờiđiểm giám sát (cuối kỳ)

- Tài sản có sinh lời bình quân

Mức tốt nhất của chỉ số này là ≤ 6% và mức xấu nhất là ≥ 10%; ngoài ra các

NH cũng sử dụng chỉ số về tỷ lệ thu từ hoạt động dịch vụ (phi tín dụng) trên tổngthu nhập; chỉ số này tốt nhất đạt ≥ 40%; xấu nhất đạt dưới 20%

1.2.3.5 Nhóm chỉ số về thanh khoản (Liquidity)

Yêu cầu đánh giá

Đánh giá khả năng thanh khoản của các tổ chức tín dụng cần phải cân nhắc mức

độ hiện tại và các nguồn thanh khoản trong tương lai trong mối tương quan so sánh vớinhu cầu vốn cần thiết cũng như các quy tắc quản trị nguồn vốn trong mối quan hệ vớiquy mô, mức độ phức tạp và danh mục rủi ro của hệ thống tổ chức tín dụng

Trang 37

Các quy tắc quản trị nguồn vốn cẩn phải đảm bảo về mức độ thanh khoản đủđáp ứng các nghĩa vụ tài chính đúng hạn và đầy đủ các trách nhiệm pháp lý Cácquy tắc nên thấy được năng lực của các tổ chức tín dụng trong việc quản lý nhữngthay đổi không dự tính trước đối với các nguồn vốn của các tổ chức tín dụng ảnhhưởng đến tính lỏng của tài sản.

Các quy tắc cũng nên đảm bảo rằng vốn khả dụng không nên được quy trì ởmức chi phí cao hoặc dựa vào các nguồn vốn bên ngoài một cách không chắc chắn

để đến lúc cần các tổ chức tín dụng không đủ để đáp ứng và sẽ gây ra những ảnhhưởng tiêu cực không nhỏ lên thị trường

Nội dung đánh giá

- Mức độ đầy đủ của các nguồn thanh khoản so sánh với nhu cầu hiện tại vàtương lai và khả năng của các tổ chức tài chính trong việc đáp ứng các nhu cầuthanh toán mà không ảnh hưởng tiêu cực đến tình trạng tài chính và các hoạt độngkinh doanh hiện hành

- Mức độ sẵn có của các tài sản có thể quy đổi thành tiền mặt mà không làmcho ngân hàng bị thiệt hại

- Khả năng tiếp cận thị trường tiền tệ và các nguồn vốn khác

- Mức độ đa hạng hóa các nguồn vốn nội, ngoại bảng; sự ổn định của cáckhoản tiền gửi

- Mức độ an toàn của cá nguồn vốn ngắn hạn, các nguồn vốn dễ bị biến độngbao gồm cả tiền gửi, tiền ký quỹ để tài trợ các tài sản dài hạn

- Mức độ chứng khoán hóa và khả năng bán một số tài sản nhất định để duytrì tính thanh hoản cho hệ thống

- Khả năng quản trị để có thể xác định, đo lường, kiểm tra, kiểm soát của hệthống như chiến lược kinh doanh, chiến lược quản trị nguồn vốn, hệ thống thông tin

và việc huy động nguồn vốn

Các chỉ tiêu sử dụng

Khả năng thanh toán của một NH là việc NH đó có thể đảm bảo huy độngđược những tài sản hiện hành có thể thanh toán cho các nhu cầu đã cam kết vớingười gửi tiền và khách hàng của NH Ở Việt Nam các quy định về đảm bảo thanhkhoản chủ yếu theo Quyết định 457/2005 của NHNN và các quy định nội bộ của

Trang 38

các NH Rủi ro thanh khoản do một Ủy ban quản lý Tài sản có – Tài sản nợ đảmbảo; các ngân hàng nhỏ do bộ phận Tressory chịu trách nhiệm.

Chỉ số 1: Tài sản có để thanh toán tức thì/Tài sản nợ đến hạn thanh toán trong thời hạn 1 tháng tiếp theo.

Mức tốt nhất của chỉ số này là ≥ 25%, nhỏ hơn là vi phạm

Chỉ số 2: Tổng tài sản có có thể thanh toán thức thì trong khoảng thời gian 7 ngày làm việc tiếp theo/Tổng tài sản nợ phải thanh toán ngay trong thời gian

7 ngày làm việc tiếp theo.

Tỷ lệ tối thiểu của chỉ số này theo quy định phải bằng 1, nếu nhỏ hơn là

vi phạm Trong đó tài sản có thể thanh toán ngay bao gồm:

- Tiền mặt, vàng, tiền gửi tại NHNN

- Số chênh lệch lớn hơn giữa tiền gửi không kỳ hạn tại tổ chức

tín dụng khác và tiền gửi không kì hạn của tổ chức tín dụng đó

- Tiền gửi có kỳ hạn tại tổ chức khác đến hạn thanh toán

- Các chứng khoán do CP Việt Nam phát hành hoặc được

chính phủ Việt Nam, bảo lãnh theo quy định

- Các chứng khoán do Tổ chức tín dụng hoạt động tại Việt

Nam phát hành hoặc bảo lãnh

- Các chứng khoán do CP, NH các nước OECD phát hành

- Các hối phiếu của bộ chứng từ thanh toán xuất khẩu đã được

NH nước ngoài chấp nhận thanh toán, có thời hạn từ 1 tháng

trở xuống với 100% số tiền ghi trên hối phiếu

- 8% các khoản cho vay có đảm bảo, cho thuê tài chính sẽ đến

hạn thanh toán trong thời gian 1 tháng

- 75% các khoản cho vay không có đảm bảo, đến hạn thanh

toán

- Các loại chứng khoán khác

- Các khoản khác đến hạn phải thu

- Số chênh lệchlớn hơn giữa tiềngửi nhận của tổchức tín dụngkhác và tiền gửitại tổ chức tíndụng đã đến hạnthanh toán

- 15% tiền gửikhông kỳ hạn của

tổ chức, cá nhân

- Giá trị các camkết cho vay của tổchức tín dụng đếnhạn thực hiện

- Tất cả các tàisản nợ khác sẽđến hạn thanhtoán

Chỉ số 3: Tổng dư nợ cho vay trung, dài hạn/Nguồn vốn dùng để cho vay

Trang 39

Quản lý và đánh giá hệ thống

E - Lợi nhuận

Tiềm năng lợi nhuận

L Quản trị thanh khoản Tính thanh khoản Tạo nguồn vốn và

tính thanh khoản

Tính thanh khoản/quản lý

- Rủi ro ngành

- Sự linh hoạt tài chính

- Khẳ năng tăng nguồn lực

- Sự sắp xếp tổchức

1.3.2 Kinh nghiệm hoạt động giám sát mức độ an toàn của hệ thống ngân hàng một số quốc gia.

Trang 40

Ngân hàng có vai trò vô cùng quan trọng trong hệ thống tài chính của mộtquốc gia Là trung gian tài chính, là kênh huy động vốn cho nền kinh tế do đó việc

hệ thống ngân hàng phát triển lành mạnh, an toàn là mục tiêu vô cùng quan trọng vàcần thiết trong việc giám sát hệ thống tài chính Tùy từng điều kiện cụ thể, các quốcgia có thể có những cơ quan cũng như hình thức giám sát khác nhau nhưng mụcđích chung vẫn đảm bảo cho hệ thống ngân hàng mạnh mẽ và thực sự là hệ thốnghuyết mạch của nền kinh tế

1.3.2.1 Giám sát ngân hàng tại Mỹ

Tại Mỹ, các ngân hàng chịu sự quản lý hoạt động của cả chính quyền liênbang và tiểu bang Thông qua các báo cáo của các ngân hàng, các cơ quan quản lý

sẽ tính toán mức độ an toàn của từng ngân hàng cũng như của cả hệ thống để cónhững cảnh báo kịp thời Các cơ quan thực hiện hoạt động giám sát an toàn hệthống ngân hàng:

- Hệ thống dự trữ liên bang: giám sát và quản lý thường xuyên tất cả cácngân hàng và các công ty sở hữu ngân hàng Quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc trên tiềngửi, quyết định công nhân, giám sát và kiểm tra các công ty quốc tế hoạt động tronglĩnh vực ngân hàng tại Mỹ

- Cục quản lý tiền tệ: Quyết định thành lập các ngân hàng nội địa, giám sátkiểm tra thường xuyên các ngân hàng nội địa

- Công ty bảo hiểm tiền gửi liên bang: yêu cầu mọi ngân hàng được bảo hiểmtập hợp các báo cáo về tình trạng tài chính của họ Bảo hiểm các khoản tiền gửi chonhững ngân hàng tuân thủc các quy định của công ty

- Hội đồng ngân hàng bang: Giám sát và kiểm tra thường xuyên tất cả cácngân hàng được cấp giấy phép của bang

1.3.2.2 Giám sát ngân hàng tại Châu Á

 Tại Trung Quốc

Cơ quan thực hiện chức năng giám sát hệ thống ngân hàng là Ủy ban giámsát ngân hàng Cơ quan này thực hiện ban hành quy chế an toàn, giám sát (tại chỗ,

từ xa), cấp giấy phép hoạt động ngân hàng và xử lý vi phạm Hoạt động của cơ quangiám sát ngân hàng nhằm thúc đẩy ngành ngân hàng hoạt động an toàn và lành

Ngày đăng: 19/11/2018, 10:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
16. Dự án cải cách ngân hàng, NHNN 17. Website http://www.sbv.gov.vn 18. Website http://www.gso.gov.vn 19. Website http://www.cic.org.vn 20. Website http://www.bis.org 21. Website http://moody’s.com 22. Thời báo kinh tế Việt Nam 23. Tạp chí Ngân hàng Link
1. The Federal Reserve Bank of St.Louis (July 2002), The Condition of Banks:What are Examiners Finding, Economic Letter Khác
2. Annette L.Nazareth (April 2005), Testimony concerning, credit rating cgencies, The subcommittee on capital markets, insurance and gorverment sponsored enterprises committee on financial services, United States house of repersentatives Khác
3. Donato M. Marc Q. Michael W. Taylor (2008) Inside and outside the centra bank: Independence and accountability on financial supervision: Trends and determinants, European journal of Political Economy, Volume 24, Issue 4, December 2008 Khác
4. Charles M. Kahn, Joaso A.C Santos (2005), Allocating bank regualatory powers: Lender of last resort, deposit insurance and supervision, European Economic Review, Volume 49, Issue 8.II. TIẾNG VIỆT Khác
1. Ernst & Young (2006), Báo cáo tự đánh giá các nguyên tắc cơ bản của Ủy ban Basel tại NHNN Việt Nam, Hà Nội Khác
2. PGS. TS. Phan Thị Thu Hà (2004), Giáo trình Ngân hàng thương mại, NXB Thống Kê, Hà Nội Khác
3. Nguyễn Hữu Tài (1998), Giáo trình Lý thuyết Tài chính tiền tệ, NXB Thống kê Khác
4. Nguyễn Thị Minh Huệ (2009), Hoạt động giám sát của ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với ngân hàng thương mại, Luận án Tiến sĩ, Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội Khác
5. Đề tài cấp nhà nước (2006), Giải pháp đổi mới và hoàn thiện thanh tra, giám sát thị trường tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Hà Nội Khác
6. Ủy ban giám sát tài chính Quốc gia (2010). Báo cáo Giám sát thị trường tài Khác
7. Ủy ban giám sát tài chính Quốc gia (2010). Báo cáo Giám sát thị trường tài chính Việt Nam 6 tháng đầu năm 2010, Hà Nội Khác
8. Ủy ban giám sát tài chính Quốc gia (2011). Báo cáo Giám sát thị trường tài chính Việt Nam năm 2010, Hà Nội Khác
9. Học viện ngân hàng (2009), Kỷ yếu hội thảo khoa học Nghiên cứu hệ thống Giám sát tài chính Quốc gia trên thế giới và thực tiễn ở Việt Nam, Hà Nội Khác
10. Học viện ngân hàng (2010), Kỷ yếu hội thảo khoa học Hiệu lực của thống giám sát tài chính Việt Nam, Hà Nội Khác
11. Quyết định số 79/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc Ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia Khác
13. Luật các tổ chức tín dụng và các văn bản hướng dẫn, NXB Tài chính, 1999 Khác
14. Nguyễn Văn Tiến, Đánh giá phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh ngân hàng, NXB Thống kê, 2006 Khác
15. Các nước giám sát ngành ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán như thế nào, NXB Ngân hàng Trung ương, 2008 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w