1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN TỪ NĂM 1925 ĐẾN NĂM 2012 ( LA tiến sĩ)

177 123 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 177
Dung lượng 343,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

luận án dưới sự hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Ngọc Cơ, PGS.TS Hà Thị Thu Thủy đã chỉ bảo tận tình, ân cần, động viên khích lệ tác giả trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành chương trình đào tạo tiến sĩ. Ngoài ra, trong quá trình thực hiện luận án, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I, III, Tỉnh ủy, UBND tỉnh Lạng Sơn,

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kếtquả nêu trong luận án này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kìcông trình nào khác

Tác giả

Đỗ Thị Hương Liên

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước hết tác giả luận án xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới tập thể các thầy

cô giáo trong tổ Lịch sử Việt Nam, khoa Lịch sử trường Đại học Sư phạm - Đại họcThái Nguyên Đặc biệt tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn tới thầy giáo hướng dẫn khoahọc: GS.TS Nguyễn Ngọc Cơ, PGS.TS Hà Thị Thu Thủy đã chỉ bảo tận tình, âncần, động viên khích lệ tác giả trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu để hoànthành chương trình đào tạo tiến sĩ

Ngoài ra, trong quá trình thực hiện luận án, tác giả đã nhận được sự giúp đỡnhiệt tình của Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I, III, Tỉnh ủy, UBND tỉnh Lạng Sơn,cùng các đơn vị trực thuộc quản lí và toàn thể các ban ngành, đoàn thể địa phương

đã cung cấp các tư liệu để tác giả hoàn thành luận án Tác giả xin chân thành cảm

ơn sự giúp đỡ quý báu đó

Cuối cùng tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè và đồngnghiệp đã động viên, giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập và hoàn thành luận án

Thái Nguyên, ngày 14 tháng 10 năm 2018

Tác giả

Đỗ Thị Hương Liên

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các chữ viết tắt iv

Danh mục các bảng v

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Lạng Sơn là một tỉnh nằm ở khu vực phía Bắc có đường biên giới tiếp giáp vớiTrung Quốc, từ lâu đã được coi như cửa ngõ giao thương giữa nước ta với Trung Quốc.Thành phố Lạng Sơn là đô thị tỉnh lỵ của tỉnh Lạng Sơn, tỉnh miền núi Đông Bắc của

tổ quốc, là một đô thị cửa khẩu có chức năng quan trọng trong kinh tế đối ngoại

Thành phố Lạng Sơn - vùng đất đã trải qua thời kỳ Châu lỵ, Trấn lỵ và đếnnăm 1925 được thành lập, trở thành thị xã tỉnh lỵ, là trung tâm kinh tế, chính trị, vănhóa - xã hội của tỉnh Đây là nơi có nhiều di tích lịch sử như thành nhà Mạc, Đoànthành, Ải Chi Lăng cùng các lễ hội truyền thống mang đậm bản sắc dân tộc đãtừng hấp dẫn khách thập phương từ ngàn xưa Sự hội tụ của các điều kiện tự nhiên

và xã hội đã tạo cho thành phố Lạng Sơn thế mạnh phát triển đô thị, trở thành trungtâm chính trị - kinh tế - văn hoá - xã hội của tỉnh Lạng Sơn và vùng Đông Bắc ViệtNam Thành phố Lạng Sơn là loại hình đô thị thương mại ra đời từ khá sớm, đượchình thành theo phương thức "thị" có trước " đô " có sau Ngày nay thành phố LạngSơn là thành phố thương mại cửa khẩu đang trên đà phát triển, là cửa ngõ giao lưukinh tế - văn hoá của cả nước với Trung Quốc, là địa bàn có mối quan hệ với vùngtam giác kinh tế trọng điểm Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh

Với quá trình đổi mới diễn ra một cách toàn diện và sâu sắc từ sau Đại hộiĐảng toàn quốc lần thứ VI (12/1986) đã tác động mạnh mẽ đến sự phát triển củathành phố Lạng Sơn, làm nảy sinh những vấn đề về quy hoạch phát triển đô thị, về

tổ chức đời sống kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng [66, 197], đồng thời nhữngthay đổi về cơ sở hạ tầng đô thị đã góp phần tích cực vào quá trình phát triển kinh tế

- xã hội của thành phố

Trong giai đoạn 2000 – 2002, thực hiện đề án thành lập thành phố, thị xãđược đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, kiến thiết đô thị, diện mạo thay đổi Năm 2000,thành phố Lạng Sơn được công nhận là đô thị loại III, đến tháng 10/2002, Chínhphủ đã ban hành Nghị định thành lập thành phố Lạng Sơn Quá trình đô thị hóacùng với sự chuyển mình ngày càng mạnh mẽ của thành phố Lạng Sơn trong nhữngnăm qua đã khẳng định sự đúng đắn trong việc thực hiện chủ trương, đường lối đổimới của Đảng và nhà nước để thành phố Lạng Sơn trở thành thành phố cửa khẩuquan trọng vùng biên giới Đông Bắc, với chức năng chủ yếu là kinh tế thương mại,

Trang 9

chính trị, an ninh quốc phòng của một tỉnh biên giới Thông qua nghiên cứu thực tếthực hiện đường lối đổi mới ở một địa phương miền núi biên giới như Lạng Sơn đểthấy được sự lãnh đạo và đường lối đúng đắn của Đảng và nhà nước ta, đồng thờivới việc nghiên cứu đề tài này sẽ góp phần cung cấp thêm tư liệu khoa học cho việcnghiên cứu, biên soạn, giảng dạy lịch sử địa phương cũng như góp phần giáo dụctruyền thống lịch sử, văn hóa tốt đẹp của nhân dân các dân tộc tỉnh Lạng Sơn

Đến nay, cũng đã có khá nhiều nghiên cứu về quá trình đô thị hóa nói chungcủa các tác giả ở trong và ngoài nước, với nhiều cách tiếp cận khác nhau Tuy nhiên,lại chưa có nghiên cứu nào về quá trình hình thành, phát triển của thành phố và quátrình đô thị hóa dưới góc độ lịch sử diễn ra tại một thành phố của một tỉnh miền núi,nhất là lại diễn ra tại một tỉnh miền núi phía Bắc như tỉnh Lạng Sơn Chính vì vậy,

tác giả đã chọn vấn đề: “Quá trình hình thành và phát triển thành phố Lạng Sơn từ

năm 1925 đến năm 2012” làm đề tài luận án tiến sĩ của mình

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Mục đích nghiên cứu: Luận án sẽ tập trung vào các vấn đề

- Khái quát quá trình hình thành của đô thị Lạng Sơn từ khởi thủy đến năm

1925 (năm thành lập thị xã Lạng Sơn) và quá trình phát triển của Lạng Sơn từ thị xãlên thành phố (năm 2002), cùng chặng đường 10 năm xây dựng và phát triển thànhphố Lạng Sơn (2002-2012)

- Phân tích những điều kiện lịch sử tác động đến sự phát triển của thị xãLạng Sơn và thành phố Lạng Sơn qua các giai đoạn lịch sử

- Phân tích sự thay đổi về diên cách (quy mô) thành phố Lạng Sơn qua cácthời kì, trong đó tập trung vào quy hoạch kiến trúc và cảnh quan môi trường; đồngthời tập trung làm rõ các cơ chế, chính sách của bộ máy chính quyền đương thờitrong công tác quản lí đô thị

- Phác họa bức tranh về sinh hoạt đô thị được thể hiện qua các mặt như dân

cư đô thị, kinh tế đô thị, chính trị, văn hóa, xã hội của đô thị Lạng Sơn qua gần mộtthế kỉ

- Trên cơ sở đó làm rõ những thế mạnh thúc đẩy sự phát triển của Lạng Sơn,luận án cũng đóng góp một số ý kiến nhằm kế thừa và phát huy mặt tích cực của đôthị hóa góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lí và quy hoạch thành phố tronggiai đoạn hiện nay và tương lai

Trang 10

Nhiệm vụ nghiên cứu:

Trên cơ sở mục tiêu đã đề ra như ở trên, đề tài hướng tới giải quyết cácnhiệm vụ sau:

Thứ nhất: Trình bày một cách có hệ thống về quá trình hình thành và pháttriển của thành phố Lạng Sơn, quá trình đô thị hóa ở thành phố Lạng Sơn tỉnh LạngSơn từ năm 1925 đến năm 2012

Thứ hai: Rút ra được những đặc điểm của quá trình đô thị hóa nói chung vàthành phố Lạng Sơn tỉnh Lạng Sơn nói riêng

Thứ ba: Phân tích những tác động tích cực và tiêu cực của quá trình đô thịhóa đến sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Lạng Sơn từ năm 1925 đến năm 2012

Thứ tư: Trên cơ sở nghiên cứu, tác giả chỉ ra đặc trưng của đô thị Lạng Sơn

3 Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thành phố

Lạng Sơn Trong đó chúng tôi tập trung nghiên cứu về sự ra đời, quá trình pháttriển của đô thị ở thành phố Lạng Sơn tỉnh Lạng sơn từ chức năng một “trấnthành” đến một trung tâm đô thị và những đặc điểm về kinh tế, văn hóa, xã hội ởthành phố Lạng Sơn

Phạm vi nghiên cứu:

Về không gian: Không gian nghiên cứu cuả đề tài là không gian lịch sử

-kinh tế - văn hóa - xã hội Lạng Sơn với trung tâm là thành phố Lạng Sơn Trong quátrình trình bày luận án thuật ngữ “thị xã Lạng Sơn nay là thành Phố Lạng Sơn” sẽ

có những cách gọi khác tương ứng được sử dụng trong các văn bản hành chính cảchính quyền đương thời để phù hợp với từng giai đoạn cụ thể Trong một số nộidung phạm vi nghiên cứu có thể mở rộng ra địa bàn tỉnh để thấy được sự liên quanmật thiết giữa thành phố Lạng Sơn với toàn tỉnh

Về thời gian: Đề tài giới hạn chủ yếu trong thời gian từ năm 1925 đến năm

2012 Trong đó, năm 1925 là năm chính quyền thực dân Pháp đã ra Nghị định số

30431 về việc thành lập thị xã Lạng Sơn là trung tâm đô thị của tỉnh Lạng Sơn (theocông điện của Chánh văn phòng Phó Thống sứ Bắc Kỳ về Nghị định thiết lập LạngSơn - Thất Khê thành thị xã ngày 23/9/1925 Năm 2012, thành phố Lạng Sơn đã trảiqua 10 năm xây dựng và phát triển kể từ khi được công nhận là thành phố (giai

Trang 11

đoạn 2002 – 2012) Việc lấy mốc năm 2012 có thể chưa thật sự chính xác nhưng sẽgiúp NCS thuận lợi hơn khi khai thác nguồn tư liệu.

Tuy nhiên trong quá trình nghiên cứu để để có cái nhìn toàn diện, luận áncòn đề cập khái quát một số vấn đềcủa thành phố trong phạm vi thời gian và khônggian rộng hơn

Phương pháp nghiên cứu: Để tiếp cận đề tài “Quá trình hình thành và phát

triển thành phố Lạng Sơn từ năm 1925 đến năm 2012” là một đề tài rộng, cần nguồn tưliệu khá lớn, đa dạng bởi vậy phương pháp đầu tiên được sử dụng nghiên cứu ở đây làkhai thác triệt để những tư liệu gốc như các tài liệu tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I, III,Chi cục Văn thư Lưu trữ Lạng Sơn

Phương pháp chủ đạo được sử dụng là phương pháp lịch sử và phương pháp logicCác phương pháp đa ngành, liên ngành: kết hợp giữa phương pháp lịch sửvới phương pháp điều tra xã hội học để xử lí các số liệu và thông tin liên quan

Phương pháp khu vực học: Căn cứ vào thực tế khách quan của lịch sử vàđiều kiện xã hội của địa phương để nghiên cứu

Phương pháp điều tra khảo sát thực địa: Đối tượng chính của luận án là tậptrung nghiên cứu về thành phố Lạng Sơn nhưng việc nghiên cứu đặt trong mối quan

hệ với cả các huyện khác và cả tỉnh Lạng Sơn cũng là rất cần thiết, do đây là mộtcông việc hết sức quan trọng nên cần được tiến hành bằng các bảng câu hỏi điều tra

và phỏng vấn mà tác giả đưa ra

đô thị hóa đến kinh tế - xã hội của thành phố Lạng Sơn

Thứ ba: Tái hiện lại bức tranh toàn cảnh về kinh tế, chính trị, văn hóa, xãhội của thành phố Lạng Sơn Qua đó chỉ ra những đặc điểm riêng mang tínhđặc thù trong quá trình phát triển của thành phố Lạng Sơn so với các thành phốkhác ở nước ta

Thứ tư: Luận án còn cung cấp nguồn tư liệu mới, đáng tin cậy về thành phốLạng Sơn từ năm 1925 đến năm 2012, phục vụ việc nghiên cứu và giảng dạy lịch sửđịa phương

5 Bố cục Luận án

Trang 12

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục Luận án được chiathành 5 chương chính:

Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Chương 2 Thị xã Lạng Sơn từ khi thành lập đến ngày hòa bình lập lại 1954)

(1925-Chương 3 Chuyển biến của thị xã Lạng Sơn trong những năm 1954-1975.Chương 4 Chuyển biến của thị xã Lạng Sơn sau ngày thống nhất đất nước

và sự thành lập thành phố (1975-2002)

Chương 5 Thành phố Lạng Sơn qua 10 năm xây dựng, phát triển (2002-2012)

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1.1 Tổng quan về nguồn tư liệu

Để hoàn thiện luận án, tác giả đã sử dụng một số nguồn tư liệu liên quan trựctiếp và gián tiếp đến đề tài như: tư liệu thành văn; tư liệu tranh ảnh, bản đồ, hiệnvật; tư liệu điền dã

1.1.1 Tư liệu thành văn

Nguồn tư liệu là các văn kiện của các kì Đại hội Đảng, các nghị quyết, quyếtđịnh của Chính phủ và các văn bản quy phạm pháp luật; báo cáo và nghị quyết triểnkhai, tổng kết của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn vàcủa Thành ủy, Ủy ban nhân dân thành phố Lạng Sơn, Ủy ban hành chính thị xãLạng Sơn cùng một số các báo cáo, quyết định của chính phủ Pháp thi hành trên địabàn tỉnh Lạng Sơn giai đoạn trước năm 1945 Ngoài ra còn có các số liệu, báo cáothống kê của chi cục thống kê và của các cơ quan, ban ngành của Trung ương và địaphương có liên quan đến đề tài luận án

Nguồn tư liệu là các công trình nghiên cứu của các tác giả ở trong và ngoàinước, trong đó có các chuyên khảo đề cập đến vấn đề kinh tế, văn hóa của thànhphố Lạng Sơn; các kỷ yếu Hội thảo khoa học cùng các bài viết trên các tạp chíchuyên ngành có liên quan đến đề tài luận án nghiên cứu

Tư liệu lưu trữ

Nguồn tư liệu có liên quan trực tiếp đến đề tài được lưu giữ tại Trung tâmLưu trữ quốc gia Trước tiên là Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I, tập trung chủ yếu ở

ba phông tài liệu lưu trữ là Fonds de la residenee Superieure au tonkin (Phủ Thống

sứ Bắc Kỳ), Phủ Toàn quyền Đông Dương và Nha kinh lược Bắc kì Trong đó cónhiều tư liệu quan trọng về lịch sử, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, sự thay đổiđịa giới hành chính của thành phố Lạng Sơn Do đó có thể khai thác chủ yếu ở một

số dãy tài liệu sau: ở dãy tài liệu kí hiệu E (về tổ chức chính quyền địa phương) códãy tài liệu E2 (sự thay đổi địa giới hành chính với 68 hồ sơ), trong đó có một số hồ

sơ liên quan đến Lạng Sơn như hồ sơ 33306 có tiêu đề “Modificcations dans lescirconsciptions administratius de la provice de LangSon” (sửa đổi các đơn vị

Trang 14

hành chính của tỉnh Lạng Sơn); hay tài liệu số 01025913, hồ sơ số 4049 với tiêu đề

“Asorganisation administrative et Suppession de la delegation de la provice de LangSon” (về việc thay đổi hành chính và xóa bỏ địa lí tỉnh Lạng Sơn hay E02

(bảng tiểu dẫn các điều kiện kinh tế - xã hội) Ngoài ra tác giả luận án cũng tiếnhành khai thác tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, với các phông Vănphòng Chính phủ, là phông tài liệu lưu trữ có giá trị trong thành phần phông lưu trữquốc gia Việt Nam Đa số các tài liệu tác giả khai thác được đều là tài liệu gốc, hìnhthành trong quá trình hoạt động của các cơ quan nhà nước trung ương và địa phương

Có thể kể tới một số hồ sơ như 708/17589, “Quyết định của Hội đồng Bộ trưởng về việc đổi tên các xã, huyện thuộc tỉnh Lạng Sơn”; hồ sơ 9420: “Báo cáo về tình hình lũ lụt ở Lạng Sơn năm 1986” Phông Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Hồ sơ số 2054, “Quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn về việc phê duyệt đồ án thiết kế quy hoạch chung xây dựng thị xã Lạng Sơn năm 1986-2000”……

Xuất phát từ nhu cầu phục vụ công tác sưu tầm nghiên cứu, sưu tầm, bảo tồncác giá trị văn hóa lịch sử của tỉnh nhà Thực hiện sự chỉ đạo của Ủy ban nhân dântỉnh và thành phố Lạng Sơn cũng như sự quản lí trực tiếp của Sở văn hóa Thể thao

và Du lịch Lạng Sơn nên trong những năm gần đây Thư viện và Bảo tàng tổng hợptỉnh đã tiến hành dịch, sưu tầm, khai thác các tư liệu về tất cả các mảng đời sốngkinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… Việc bảo tồn các giá trị văn hóa, lịch sử đã tạo

sự thuận lợi hơn cho các nhà nghiên cứu nói chung và tác giả luận án nói riêngtrong công tác sưu tầm tư liệu

Ngoài những tư liệu ở Trung tâm Lưu trữ Quốc gia, tác giả luận án đã khaithác thêm những tư liệu lưu trữ khác tại Chi cục văn thư Lưu trữ tỉnh Lạng Sơn vàPhòng lưu trữ thành ủy thành phố Lạng Sơn, qua đó đã giúp cho tác giả những tưliệu cần thiết liên quan đến nội dung luận án

Nguồn tư liệu báo chí

Các tờ báo của Trung ương và Địa phương:

Trước hết là một số tờ báo dưới hình thức thông tin như Báo Bắc Kạn - Ty thông tin Bắc Kạn số 83 (12/6/1950); Báo Hà Giang - Ty thông tin Hà Giang số 22, 28…; một số bản tin của Ty thông tin Thanh Hóa hay Ty thông tin Tuyên Quang; Ty thông tin Thái Nguyên; Bản tin - tin tức - cơ quan của Quận chính thành phố Hà Nội số 3 ngày 22/10/1954; hay Báo Cứu quốc - Cơ quan tuyên truyền kháng chiến của tổng bộ Việt Minh; báo Liên khu I; báo Ninh Thuận; Báo Liên hiệp kháng chiến -

Trang 15

cơ quan tuyên truyền kháng chiến tỉnh hội Thanh Hóa; báo Việt Minh độc lập - cơ quan tuyên truyền của Việt Minh - Cao Bằng - Bắc Kạn - Lạng Sơn; báo Lạng Sơn…đã

đăng tải nhiều thông tin về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của thành phố Lạng Sơn

Các tạp chí chuyên ngành:

Trên các tạp chí chuyên ngành một số các bài viết có nội dung liên quan đến

đề tài luận án như “Một số nét về hoạt động của hệ thống ngân hàng trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn” (Tạp chí ngân hàng, số 6-2004); “Lạng Sơn với phát triển kinh tế và hội nhập” (Tạp chí Đông Nam Á, số 1-2005), “Khu kinh tế cửa khẩu Tân Thanh, chặng đường 10 năm phát triển” (Tạp chí Đông Nam Á, số 2- 2007), “Các khu kinh

tế cửa khẩu biên giới Việt - Trung” (Tạp chí Cộng Sản, số 4-2007)…

1.1.2 Tư liệu tranh ảnh, bản đồ, hiện vật

Bao gồm tranh ảnh và bản đồ cũng là nguồn tư liệu hết sức quan trọng vàcần thiết cho tác giả luận án Các tư liệu tranh ảnh, bản đồ hiện vật được khai thácchủ yếu tại Bảo tàng thành phố Lạng Sơn và Thư viện tỉnh Lạng Sơn, với các danhmục ảnh về con người, về phong tục tập quán, hệ thống các chợ ở Lạng Sơn, về diệnmạo thành phố Lạng Sơn… Ngoài ra còn có các nguồn ảnh tư liệu về lịch sử, kinh tế,văn hóa, xã hội…của thành phố đăng tải trên các trang Web của Trung ương, địaphương…

1.1.3 Tư liệu điền dã

Tác giả luận án đã trực tiếp điền dã, thu thập tư liệu tại nhiều nơi ở cả thànhphố và các huyện trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn Bao gồm khảo sát tại hệ thống cácchợ lớn ở thành phố Lạng Sơn như phố chợ Kỳ Lừa, chợ Đông Kinh, chợ GiếngVuông, chợ Chi Lăng, chợ Tân Thanh, chợ Đêm Tìm hiểu lịch sử hình thành vàphát triển của các chợ gắn với sự ra đời và phát triển của đô thị Lạng Sơn qua cáchoạt động mua bán, thương mại… giữa người Việt với nhau, giữa người Việt vớingười Hoa và người Pháp Cùng với đó là khảo sát hệ thống sông ngòi như sôngThương, sông Kỳ Cùng và các vấn đề về lịch sử, văn hóa, xã hội của một số phườngtrên địa bàn thành phố nhằm bổ sung tư liệu thực tế cho đề tài luận án như: phườngĐông Kinh, phường Vĩnh Trại, phường Tam Thanh, Chi Lăng, Hoàng Văn Thụ…

1.2 Tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.2.1 Những nghiên cứu về đô thị và đô thị hóa ở Việt Nam

Những nghiên cứu trong nước

Có thể thấy rằng, từ trước đến nay cũng đã có khá nhiều những công trìnhtrên thế giới cũng như ở Việt Nam nghiên cứu về đô thị và đô thị hóa Ở Việt Namcác đô thị cũng được hình thành từ khá sớm Từ sau năm 1975, đã có một số côngtrình nghiên cứu một cách chuyên sâu về đô thị và đô thị hóa Tại Việt Nam những

Trang 16

nghiên cứu đầu tiên về đô thị và quá trình đô thị hóa đã được tiếp cận dưới góc độ

sử học, trong đó chủ yếu là tìm hiểu về sự hình thành và phát triển của các đô thị

của Việt Nam Trước tiên phải kể đến cuốn “Đô thị cổ Việt Nam” (Viện Sử học Việt

Nam), xuất bản năm 1989 Đây là công trình tổng hợp nhiều bài nghiên cứu củanhiều tác giả khảo cứu về các đô thị cổ trong lịch sử của Việt Nam như Hà Nội, Hoa

Lư, Phố Hiến, Hội An…[ ; ]ra đời và phát triển từ thế kỉ thứ III đến thế kỉ thứ XIX

Những năm 90 của thế kỉ XX, vấn đề đô thị và đô thị hóa được mở rộng

nghiên cứu trên các lĩnh vực nhân học, kinh tế học như: cuốn “Đô thị Việt Nam”,

xuất bản năm 1995 của tác giả Đàm Trung Phường [80] Sự ra đời của cuốn sáchnày không chỉ cho thấy bước phát triển mới trong việc nghiên cứu đô thị mà còn vềvấn đề quy hoạch và phát triển đô thị ở Việt Nam Nội dung sách gồm 4 chươngchính, trong đó có những vấn đề chung về đô thị, đánh giá thực trạng mạng lưới đôthị, định hướng chiến lược phát triển đô thị của Việt Nam trong bối cảnh đô thị hóatrên thế giới Công trình này đưa ra cách tiếp cận mới về đô thị và đô thị hóa Thứ

hai là công trình “Đô thị hóa tại Việt Nam và Đông Nam Á” (xuất bản năm 1995)

của Trung tâm Nghiên cứu Đông Nam Á, đã đề cập đến tình hình và xu thế đô thịhóa tại Việt Nam cũng như các nước Đông Nam Á; nhu cầu quản lí đô thị, bảo vệmôi trường, tình trạng tăng dân số cơ học, các kinh nghiệm phát triển đô thị ở cácnước Đông Nam Á; về vấn đề môi trường nhân văn, môi trường văn hóa trong quátrình đô thị hóa cũng như tiến trình đô thị hóa trong lịch sử, đồng thời giới thiệu một

số đô thị cổ ở nước ta cũng như trên thế giới [111]

Năm 1998, công trình nghiên cứu “Đô thị hóa và chính sách phát triển đô thị trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam” của các tác giả Trần Ngọc Hiên, Trần

Văn Chử [51] Cuốn sách đã đề cập đến những lí thuyết chung về đô thị Trong đó conngười được đặt vào vị trí trung tâm, đồng thời đánh giá những tác động của công cuộccông nghiệp thóa - hiện đại hóa tới quá trình đô thị và đô thị hóa; của các chính sáchtác động đến sự phát triển đô thị ở nước ta

Bước sang những năm đầu thế kỉ XXI, khi vấn đề công nghiệp hóa - hiện đạihóa, toàn cầu hóa là xu thế tất yếu của nhân loại, vấn đề đô thị và tác động của đôthị hóa càng được các nhà nghiên cứu quan tâm đặc biệt với nhiều cách tiếp cậnkhác nhau trên các lĩnh vực văn hóa học, kinh tế học, xã hội học, nhân học, sửhọc…

Năm 2000, cuốn “Đô thị Việt Nam dưới thời Nguyễn” của các tác giả Nguyễn

Thừa Hỷ, Đỗ Bang, Nguyễn Văn Đăng được xuất bản [60] Với vai trò là một trung

Trang 17

tâm đầu não chính trị, tốc độ đô thị hóa của Hà Nội dưới thời Pháp thuộc đượcchuyển biến nhanh chóng hơn so với các thế kỉ trước, cả về diện mạo và quy hoạch

đô thị Quá trình đô thị hóa đã đem lại những chuyển biến về kinh tế, văn hóa, giáodục, hệ thống giao thông đô thị…

Năm 2002, hai tác giả là Tôn Nữ Quỳnh Trân, Nguyễn Thế Nghĩa (đồng chủ

biên) đã cho ra đời ấn phẩm “Phát triển Đô thị bền vững”[110], cuốn sách được

biên soạn với nội dung chủ yếu từ cuộc Hội thảo khoa học quốc tế: “Phát triển Đôthị bền vững - Vai trò của nghiên cứu và giáo dục”, cuốn sách đã tập hợp nhiều bàiviết có nội dung mang tính lí luận chung và nghiên cứu những trường hợp cụ thể vềphát triển đô thị ở Việt Nam cùng các nước trên thế giới, những đặc thù và phươnghướng giải quyết theo nguyên tắc bền vững trong đô thị; năm 2004, Võ Kim Cương

đã cho ra đời cuốn “Quản lí đô thị thời kì chuyển đổi”[29], nêu lên một số vấn đề

cơ bản về quản lí đô thị trong thời kì chuyển đổi, phần hai là các bài viết của tác giảđược đúc kết trong quá trình tham gia quản lí đô thị

Năm 2005, tác giả Đình Quang cho ra đời cuốn sách “ Đời sống văn hóa đô thị và khu công nghiệp Việt Nam”, nội dung đi sâu vào nghiên cứu quá trình đô thị

hóa ở nước ta và trên thế giới hiện nay, về đời sống văn hóa đô thị, thực trạng vănhóa - xã hội khu vực đô thị, cũng như khu công nghiệp cùng triển vọng đô thị hóaViệt Nam và bối cảnh văn hóa thế kỉ XXI

Cuốn “Biến đổi văn hóa đô thị Việt Nam hiện nay” (2006) của tác giả

Nguyễn Thanh Tuấn [114], cung cấp cái nhìn mới về văn hóa trong đô thị, tác giả đisâu nghiên cứu: Đô thị và biến đổi văn hóa đô thị nói chung, trong thời kì đổi mớicũng như thời kì hiện đại; những quan điểm và biện pháp điều tiết quá trình tiếp tụcbiến đổi văn hóa đô thị

Ngoài ra còn có các tác phẩm đã được Nhà xuất bản Xây dựng ấn hành như

Đỗ Hậu (2010), “Quản lí đất đai và bất động sản đô thị” Trương Quang Thao (2011), “Đô thị học, những khái niệm mở đầu”, đề cập tới năm khái niệm – chìa

khóa đi vào nghiên cứu đô thị học, đó là: đô thị, đô thị hóa, đô thị học, quy hoạch vànhà đô thị cùng nhiều khái niệm phát sinh từ các thuật ngữ ấy [ ; ]

Năm 2012, tác giả Trần Hữu Quang đã cho ra đời tác phẩm “Hạ tầng đô thị Sài Gòn buổi đầu” [82], trong đó đã khắc họa một bức tranh khái lược về quá trình

hình thành hạ tầng đô thị của thành phố Sài Gòn vào giai đoạn đầu của thời kì Phápthuộc, tìm hiểu lịch sử của đô thị Sài Gòn Có thể nói một trong những điểm khácbiệt giữa đô thị hiện đại với làng xã trong nông thôn cổ truyền chính là điểm sauđây: đô thị luôn luôn là nơi xuất hiện rất nhiều chuẩn mực hết sức cụ thể quy định

Trang 18

cả về không gian vật lí lẫn về quy cách sinh hoạt, với số lượng nhiều hơn và phứctạp hơn nhiều so với làng xã ở nông thôn Hay tác giả Nguyễn Sĩ Quế với cuốn

“Lịch sử đô thị” (xuất bản năm 2012), đề cập đến công tác quy hoạch đô thị của

một số nước trên thế giới cũng như các đô thị tiêu biểu thời kì cổ đại, phong kiến,cận đại và một phần đô thị hiện đại Việt Nam Là cơ sở khoa học trong việc phục vụnghiên cứu định hướng quy hoạch các đô thị mới, cũng như tôn tạo và phục hồi các

di sản của đô thị cũ [ ; ]

Năm 2013, tác giả Đăng Trường với “Đô thị thương cảng Phố Hiến” [112].

Nội dung chính được đề cập đến là thế kỉ XVII-XVIII, là thời kì hưng khởi của đôthị cổ Việt Nam, nhiều đô thị xuất hiện và đạt được những thành tựu đáng kể, hàngloạt các đô thị trở lên nổi tiếng trong đó có Phố Hiến, là một đô thị thương cảngphát triển rực rỡ, một trung tâm đô hội rất nhiều ngành, mang diện mạo một đô thịkinh tế, một tập hợp chợ, các thương điếm phương Tây

Năm 2014, tác giả Đỗ Bang (chủ biên), thuộc Hội khoa học Lịch sử tỉnh

Thừa Thiên Huế đã cho ra đời cuốn sách “Đô thị Thừa Thiên Huế, tiến trình phát triển và những giải pháp quy hoạch” [16] Cuốn sách tập hợp các bài viết của các

tác giả khu vực miền Trung và Thừa Thiên Huế, nghiên cứu chủ yếu về tiến trìnhphát triển đô thị qua các giai đoạn lịch sử, đúc kết bài học kinh nghiệm đưa giảipháp quy hoạch thành thành phố loại I trực thuộc trung ương

Năm 2015, tác giả Phan Xuân Biên (chủ biên) với “Xây dựng văn hóa đô thị trong quá trình đô thị hóa ở thành phố Hồ Chí Minh” [20] Nội dung chủ yếu đề

cập đến vấn đề đô thị hóa tác động mạnh đến kinh tế, văn hóa, xã hội, đời sống vậtchất và tinh thần của nhân dân…ở Thành phố Hồ Chí Minh và những hệ quả, màđặc biệt là sự tác động đến nền văn hóa đô thị hiện nay

Năm 2016, tác giả Nguyễn Văn Kim trong “Vân Đồn, thương cảng quốc tế của Việt Nam” Đây là công trình xuất bản dựa trên kết quả nghiên cứu của Đề tài

khoa học trọng điểm, Đại học Quốc gia Hà Nội Công trình không chỉ làm rõ quátrình hình thành và phát triển của đô thị, thương cảng Vân Đồn mà còn đạt đếnnhững nhận thức toàn diện, hệ thống về truyền thống khai thác biển, tư duy hướngbiển của người Việt trước đây cũng như hiện nay qua trường hợp Vân Đồn – QuảngNinh

Những nghiên cứu của người nước ngoài

Ngoài những tác giả Việt Nam đi sâu nghiên cứu về đô thị và đô thị hóa ở nước

ta, đặc biệt thời kì này còn có các tác giả người nước ngoài nghiên cứu chủ yếu về các

đô thị lớn của Việt Nam như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh Có thể kể đến:

Trang 19

Tác giả André Masson (Pháp, 1929) với cuốn sách “Hanoi pendant la periode heroique 1873-1888” (Dịch: Hà Nội giai đoạn 1873-1888, Lưu Đình Tuân

dịch, 2003), cuốn sách đã mô tả chi tiết những thay đổi của Hà Nội trong một thời

kì lịch sử đặc biệt khi đô thị này chuyển mình từ thành thị phương Đông sang một

đô thị theo kiểu châu Âu dưới sự kiểm soát của chính quyền thực dân Pháp

Cuốn: “Hà Nội - chu kì của những đổi thay” (Mạc Thu Hương, Trương Quốc

Toàn dịch, 2003), cuốn sách tập hợp các bài viết của 22 tác giả chủ yếu là ngườiPháp và có 3 tác giả người Việt Nam, cuốn sách gồm 5 phần: Mở đầu, Thăng Long;Vùng đất sinh ra từ những dòng nước; Hình ảnh thành phố qua bản đồ; Ký ức lắngđọng: từ những mô hình đô thị tới các công trình; Hình thái kiến trúc và tương laicủa thành phố

Tác giả người Mỹ là Timothy M.Gorman (2008) trong “Nền kinh tế hàng ngày: suy nghĩ lại về tính chất không chính thống ở Việt Nam” đã nghiên cứu về Hà Nội thời kì

đô thị hóa đã xuất hiện những người nông dân từ nông thôn vào thành phố để kiếm sống.Qua đó tác giả cũng coi đó là hệ quả tất yếu của quá trình đô thị hóa

Cũng trong năm 2008, tác giả người Mỹ nữa là Mike Douglass thuộc Trungtâm Nghiên cứu đô thị hóa, Khoa Quy hoạch đô thị và vùng Đại học Hawaii trong

công trình “Đô thị hóa vùng ven Đông Nam Á: bỏ rơi không gian công cộng” đã

đưa ra kết quả nghiên cứu về những chuyển biến trong văn hóa đô thị, đó là mộtcảnh quan hoàn toàn mới đang bao quanh các thành phố lớn ở Đông Nam Á, theotác giả thì toàn cầu hóa Đông Nam Á đang phát triển Được xây dựng lên từ đấtnông nghiệp và làng mạc là những công trình xây dựng mới, bao gồm các khu đôthị mới rộng lớn và những khu nhà ở biệt lập bên cạnh những trung tâm mua sắm lànhững siêu thị bán lẻ và siêu thị ngoại ô mới xây, tất cả đều lớn về số lượng và quy

mô Thành phố Hồ Chí Minh là một điển hình của sự biến đổi này Tác giả cũngkhẳng định đô thị hóa tạo cho Hà Nội một diện mạo mới, mở rộng ra các vùng ven

đô theo cả chiều rộng và cao với những khu đô thị, khách sạn…Với những khu đôthị mới như Bắc An Khánh, Nhà Bè, New City, Ciputra, Phú Mỹ Hưng…

Lisa Drummond (2008) trong “Đô thị hóa ngoại ô thành phố Hồ Chí Minh”

đã nghiên cứu quá trình đô thị hóa ngoại ô thành phố Hồ Chí Minh, trong đó cónhững biến đổi một cách sâu sắc trên tất cả các lĩnh vực Song song với những tácđộng tích cực của đô thị hóa như tăng trưởng kinh tế, đời sống văn hóa, vật chất vàtinh thần của người dân được nâng cao thì còn tồn tại nhiều mặt trái như chênh lệchgiàu nghèo, ô nhiễm môi trường …

Trang 20

Các bài viết, hội thảo, luận văn, luận án

Trong những năm trở lại đây từ nhận thức đúng đắn để có thể phát huynhững tác động tích cực và hạn chế những hệ lụy do đô thị hóa gây ra, các nhà khoahọc thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau đã nghiên cứu để đưa ra những khái niệm mới,

mô hình mới cho sự phát triển đô thị hóa bền vững Ngoài các công trình kể trêncòn có một số bài viết hay một số đề tài của các tác giả được đăng trên các tạp chíhay các kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế và trong nước Có thể kể đến bài viết của

tác giả Đào Thế Tuấn với “Đô thị hóa và đô thị hóa ven đô ở Hà Nội” trong “Phát triển

bền vững thủ đô Hà Nội văn hiến, anh hùng, vì hòa bình” Tác giả Lê Quang Hậu với

bài “Vài nét về quá trình đô thị hóa ở Sài Gòn thời kì 1954-1975”, trong cuốn “Phát

triển đô thị bền vững” (xuất bản năm 2002), đã đề cập đến quá trình đô thị hóa ở thànhphố Hồ Chí Minh từ năm 1945 đến năm 1975…

Năm 2016, trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn – Đại học quốc gia

Hà Nội phối hợp với trường Đại học Hoa Đông của Thượng Hải (Trung Quốc), tổchức hội thảo quốc tế và cho xuất bản Kỷ yếu hội thảo về đô thị ở cả châu Á và

châu Âu: “Đô thị châu Á và châu Âu: Nghiên cứu so sánh” (Asian – European cities: A comparative study)” Cuộc hội thảo đã quy tụ được nhiều bài nghiên cứu

có chất lượng của nhiều nhà khoa học uy tín trong và ngoài nước Có thể tới một sốnghiên cứu nổi bật về đô thị như Prof Wang Lei (Shanghai University of

Traditional Chinese Medicine) “Urban Dreams and Consequences of Urbanization: Historical Reflections on the Emerging Cities in the Medieval Europe” (Những giấc

mộng đô thị và hệ quả của quá trình đô thị hóa: Góc nhìn lịch sử về những đô thịtrỗi dậy ở châu Âu trung đại); hay tác giả Detlef Briesen (Gießen University,

Germany/ USSH) “Cityscape in Europe and Southeast Asia Ideas for a Systematic Comparison” (Không gian đô thị châu Âu và Đông Nam Á: Những ý tưởng so sánh

hệ thống) Đỗ Thị Thanh Loan (USSH) trong “In Search of a Metropolitan Model: Experiences from Tokyo Metropolis and Lessons for Hanoi City” (Nghiên cứu Mô

hình vùng đô thị: Kinh nghiệm từ đô thị Tokyo và bài học cho thủ đô Hà Nội)

… Qua đó, cho thấy các tác giả đã có những cái nhìn và cách tiếp cận nghiên cứumới về vấn đề đô thị, những bài học kinh nghiệm được rút ra và vận dụng trong cácvấn đề về quy hoạch và quản lí đô thị ở việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa, khuvực hóa hiện nay

Bên cạnh đó cũng phải kể tới những luận văn, luận án có nội dung liên quan

đến vấn đề đô thị hóa ở nước ta: Luận văn “Quá trình đô thị hóa ở Phú Minh (Phú Xuyên - Hà Tây)” (1997) của tác giả Nguyễn Ngọc Hà cũng cho ta thấy rõ tốc độ đô thị hóa diễn ra nhanh chóng tại nơi đây Luận văn “Sự hình thành đô thị Hội An

Trang 21

trong lịch sử” của tác giả Tạ Thị Hồng Vân (2000), đã nêu lên quá trình hình thành

và phát triển đô thị thương cảng Hội An cùng những biến động do sự hình thành

thương cảng này Luận văn “Quá trình đô thị hóa của Hà Nội thời Pháp thuộc (1885-1945)” của tác giảNguyễn Hồng Chi (2010), đã nêu được quá trình đô thị

hóa ở Hà Nội trong gần 2 thế kỉ và sự chuyển biến quan trọng từ một đô thị truyền

thống phương Đông sang đô thị hiện đại kiểu phương Tây Luận văn “Quá trình đô thị hóa ở Thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương (1997-2012)” (2014) của tác

giả Dương Ngọc Hải đã tái hiện một cách khách quan quá trình đô thị hóa ở thànhphố Thủ Dầu Một, những yếu tố tác động, ưu và nhược điểm trong quá trình đô thịhóa ở thành phố Thủ Dầu Một

Bên cạnh những luận văn được bảo vệ thành công cũng có nhiều luận án tiến

sĩ trên một số lĩnh vực nghiên cứu về đô thị hóa Có thể kể đến như:

Luận án của tác giả Nguyễn Thừa Hỷ với đề tài “Thăng Long - Hà Nội thế kỉ XVII-XVIII-XIX” (1983), đây là bản luận án đi sâu nghiên cứu về kinh tế,

xã hội của Thăng Long - Hà Nội trong 3 thế kỉ trên phương diện thành thị trungđại Việt Nam Tác giả còn so sánh, đối chiếu cấu trúc và sự phát triển củaThăng Long - Hà Nội với một số thành thị khác trên thế giới, chủ yếu là cácthành thị trung đại Tây Âu

Có thể nói từ đầu thế kỉ XXI là thời kì nở rộ của các nghiên cứu về đô thị,điều đặc biệt là những nghiên cứu này không chỉ dừng lại ở nghiên cứu các đô thịlớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh mà hàng loạt các đô thị khác cũng được

nghiên cứu Năm 2000, tác giả Nguyễn Quang Hồng với đề tài “Thành phố Vinh, quá trình hình thành và phát triển, từ năm 1908 đến trước cách mạng tháng Tám 1945” [54] Luận án đã chỉ ra sự phát triển của các trung tâm đô thị Vinh, Bến Thủy,

Trường Thi và sự ra đời của thành phố Vinh - Bến Thủy, cùng với việc khái quát cácđặc điểm phát triển của thành phố Vinh trong hai hình thái tổ chức xã hội từ năm 1804đến trước cách mạng tháng Tám năm 1945 Tác giả Phạm Thị Tuyết (2011), đã bảo vệ

thành công luận án “Đô thị Hải Dương thời kì thuộc địa (1886 -1945)” [115] với nội

dung chủ yếu làm rõ Hải Dương từ một đô thị cổ phong kiến thành đô thị thuộc địa trêntất cả các phương diện cùng quá trình nâng cấp lên thành phố

Năm 2012, luận án “Từ hành cung Tức Mặc -Thiên Trường đến đô thị Vị hoàng (thế kỉ XIII-XIX)” [44] của tác giả Trần Thị Thái Hà, đã trình bày rõ nét quá

trình hình thành, phát triển và chức năng của trung tâm Thiên Trường thế kỉ XIV của đô thị Vị Hoàng - Nam Định thế kỉ XV-XIX, phản ánh rõ nét những đặc

Trang 22

XIII-trưng của đô thị Vị Hoàng Điều cần nhấn mạnh là, tác giả đã lý giải được vì sao,Tức Mặc - Thiên Trường - Sơn Nam Hạ - Nam Định luôn trở thành trung tâm củamột xứ trong nhiều thế kỷ (từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XIX) Đó là do vị trí địa lýtrọng yếu mà đóng vai trò quan trọng là hệ thống giao thông sông, biển Từ đâythuyền bè có thể thuận tiện ra biển Đông, vào Nam, ra Thăng Long v.v Đặc biệt làcác cửa biển Liêu, Lác dưới thời Nguyễn đóng vai trò hết sức quan trọng trong vậntải và giao thông của quốc gia Đô thị Vị Hoàng ra đời, hội tụ các yếu tố căn bản: từlàng Vị Hoàng; từ trị sở của lộ Sơn Nam Hạ (1741) và từ hệ thống giao thôngđường sông và các cửa biển cho thuyền bè vào Quá trình đô thị hóa làng Vị Hoàng

để trở thành đô thị Vị Hoàng, mặc dù có những đổi thay nhưng điều đặc biệt là đãkhông làm cho làng Vị Hoàng bị tan biến mà vẫn tồn tại song song với phố Vị

Hoàng Năm 2014, luận án “Thành phố Thanh Hóa, quá trình hình thành và phát triển từ năm 1804 đến nay (2010)” [46] của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà đã nghiên

cứu một cách có hệ thống về quá trình hình thành và phát triển của thành phố ThanhHóa từ khi thành lập đến 2010 với một bước chuyển Từ một lỵ sở sang một đô thị

rồi một thành phố ở cửa ngõ Bắc Trung Bộ Năm 2015, luận án “Thành phố Hải Phòng từ 1888 đến 1945” [79] của tác giả Nguyễn Thị Hoài Phương Luận án tập

trung nghiên cứu vào quá trình hình thành và sự ra đời của thành phố Hải Phòng cùngvới sự phát triển trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội Đồng thời cũng rút ra nhữngnhận xét về hình thái phát triển cũng như những đặc trưng của thành phố Hải Phòngthời cận đại, vị trí và mối quan hệ với các vùng miền trong và ngoài nước

Qua những công trình nghiên cứu về đô thị và đô thị hóa có thể thấy rằng, ởViệt Nam quá trình đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ, tạo ra những biến đổi sâu sắc

về kinh tế, văn hóa, xã hội, đặc biệt là những khu đô thị lớn

Nhìn chung, các nghiên cứu về đô thị và đô thị hóa ở Việt Nam trong giaiđoạn này tương đối nhiều, đặc biệt là giai đoạn từ sau năm 1975, những nghiên cứunày được cả người Việt Nam và nước ngoài đi sâu nghiên cứu Các nghiên cứu nàytập trung nghiên cứu ở các thành phố, các đô thị lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ ChíMinh Tuy nhiên, ở những thành phố, các đô thị khác, đặc biệt là với một thành phốloại III trên địa bàn một tỉnh miền núi như ở Lạng Sơn thì trong giai đoạn này vẫnchưa có nghiên cứu nào chuyên sâu toàn diện, đầy đủ, mà mới chỉ dừng lại ở nhữngnghiên cứu trên một số mặt, một số lĩnh vực

1.2.2 Các nghiên cứu về tỉnh Lạng Sơn và thành phố Lạng Sơn

Trang 23

Ngược dòng lịch sử, mảnh đất Lạng Sơn luôn gắn liền với vị thế là cửa ngõvùng biên ải, là con đường giao lưu kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội giữa cáctriều đại quân chủ nước ta với các triều đại phong kiến Trung Quốc Thành phốLạng Sơn lại là trung tâm của một vùng đất biên cương, nối liền từ vùng biên ải đếnkinh thành Thăng Long (thủ đô Hà Nội ngày nay), với vị trí địa đầu của tổ quốc lạinằm trên con đường giao thông huyết mạch có từ rất lâu đời.Với vị trí trọng yếunhư vậy, ngay từ rất xa xưa, Lạng Sơn đã mang dấu ấn một đô thị với việc phát triểnsong song, “đô” là hệ thống thành quách vừa mang ý nghĩa phòng thủ quân sự, vừamang tính chất bảo vệ dân sinh; “thị” là hình thức buôn bán, giao lưu kinh tế củanhân dân các dân tộc Lạng Sơn với nét đặc trưng thể hiện qua phố chợ Kỳ Lừa đãđược hình thành và phát triển cho đến ngày nay

Những nghiên cứu ở trong nước

Đô thị Lạng Sơn được ra đời từ khá sớm, có thể khẳng định rằng trấn lỵĐoàn thành vào cuối thế kỉ XVIII và nửa đầu thế kỉ XIX đã có tính chất như một đôthị được các thư tịch cổ nhắc tới Tuy nhiên phải đến khi tác giả Nguyễn Nghiễm

với tác phẩm “Lạng Sơn Đoàn thành đồ” viết vào năm Cảnh Hưng thứ 19 (1758)

mới có những ghi chép đầy đủ và cụ thể về mảnh đất Lạng Sơn cũng như việc xâydựng Đoàn thành Tác giả đã ghi rất rõ xung quanh trấn thành đã có nhiều chợ vànhiều phố như phố Kỳ Lừa, phố Đồng Đăng Đoàn thành Lạng Sơn nguyên trước làtrấn thành quân sự sau đã trở thành một đô thị, một trung tâm hành chính Đến trước

năm 1945, thì “Lạng Sơn Đoàn thành đồ” là tác phẩm duy nhất nghiên cứu và ghi

chép một cách đầy đủ nhất về Đoàn thành Lạng Sơn [65]

Những nghiên cứu liên quan đến thành phố Lạng Sơn thời kì trước cáchmạng tháng 8 năm 1945 cho thấy, các công trình nêu trên đã cung cấp những khíacạnh liên quan ít nhiều đến đề tài luận án Chưa có công trình nghiên cứu nào củacác tác giả ở trong cũng như ở ngoài nước nghiên cứu một cách có hệ thống toàndiện và đầy đủ về quá trình hình thành và phát triển của thành phố Lạng Sơn Ở thời

kì sau cách mạng tháng Tám năm 1945, nhất là trong những năm 60 của thế kỉ XX,mặc dù không nằm trong địa bàn thành phố nhưng các nhà khảo cổ Đức và Việnkhảo cổ học Việt Nam đã phát hiện ra 3 di tích quan trọng thuộc thời kì tiền - sơ sử

ở Lạng Sơn đó là: hang Thẩm Khuyên, Thẩm Hai, Kéo Lèng ở huyện Bình Giathuộc sơ kì đá cũ ở Việt Nam Những tư liệu khẳng định từ Trung Kỳ Cánh tân trênlãnh thổ Việt Nam đã xuất hiện người Vượn, đánh dấu mốc quan trọng trong sự tiếnhóa của nhân loại Ngoài ra trên địa bàn thành phố cũng có hai di tích khảo cổ họctiêu biểu là Mai Pha và Phai Vệ Di tích khảo cổ học núi Phai Vệ thuộc phường

Trang 24

Vĩnh Trại, có vị trí trung tâm, phía Đông thành phố Lạng Sơn, ở đây các nhà khảo

cổ đã tìm thấy dấu vết cổ sinh vật Năm 1914, người Pháp đặt tên cho đường quanúi Phai Vệ là Đại lộ hang động Di chỉ Mai Pha được phát hiện năm 1945, thuộc xãMai Pha thị xã Lạng Sơn khẳng định là nơi sinh sống của người tiền sử là một trongnhững hợp nguồn tạo dựng văn hóa Việt cổ sau này Với những nghiên cứu này đãkhắc họa được phần nào về mảnh đất, con ngườixứ Lạng

Cuốn “Sơ thảo địa lí tỉnh Lạng Sơn” (1955) do các giáo viên Lạng Sơn, được

Ty Giáo dục tỉnh Lạng Sơn chỉ đạo biên soạn [121] Nội dung chủ yếu của cuốnsách nêu lên hoàn cảnh tự nhiên đặc biệt của vùng đất biên khu Đông Bắc và nhậnthấy, trước kia thời Pháp thuộc cũng như trong kháng chiến và hòa bình kiến thiết,dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng, của Chính phủ,nhân dân Lạng Sơn gồm nhiều thành phần dân tộc đã luôn làm tròn nhiệm vụ củamột vùng đất nơi địa đầu của tổ quốc

Năm 1988, từ những nghiên cứu về Lạng Sơn đã được trình bày và tập hợptại cuộc Hội thảo khoa học xứ Lạng - Lạng Sơn năm 1986, Sở Văn hóa Thông tin

Lạng Sơn đã cho xuất bản cuốn “Tuyển tập Luận văn hội nghị khoa học xứ Lạng Lạng Sơn” (1988) [93], bao gồm các bài viết của các nhà nghiên cứu đã đề cập tới

-tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, từ cội nguồn đến hiện đại Khắchọa khá hoàn chỉnh bức tranh về con người, kinh tế, xã hội và văn hóa của vùng đất

xứ Lạng - Lạng Sơn

Trong những năm 90 của thế kỉ XX, những nghiên cứu về Lạng Sơn cónhiều thành tựu đáng kể Năm 1990, tác giả Vũ Ngọc Khánh (chủ biên) cùng nhómsoạn giả, cán bộ thuộc Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam đã cho ra đời cuốn sách

“Thị xã Lạng sơn xưa và nay” [62] Cuốn sách đã phác họa rõ nét mảnh đất và con

người Lạng Sơn, nơi địa đầu của tổ quốc Qua đó phần nào hiểu được về cả miền xứLạng, với truyền thống văn hóa, truyền thống lịch sử được ghi chép lại qua các thời

kì châu lỵ, trấn, thành, tỉnh lỵ và thị xã Đây được coi là công trình nghiên cứu mộtcách đầy đủ và có hệ thống nhất về quá trình, hình thành và phát triển của thành phốLạng Sơn từ trước đến thời điểm cuốn sách được xuất bản, trong giai đoạn trước khiLạng Sơn được công nhận thành phố năm 2002 Cũng trong năm này Ủy ban Khoahọc - Kĩ thuật nhà nước, Viện các khoa học về Trái đất đã thực hiện chương trình đềtài nhà nước “Điều tra tổng hợp tự nhiên - kinh tế - xã hội các tỉnh miền núi phía

Bắc” trong đó có đề tài Nghiên cứu tổng hợp tự nhiên - kinh tế - xã hội tỉnh Lạng Sơn”[3] với mục tiêu nhằm hướng vào sự phát triển nhanh nền kinh tế nước ta đến

năm 2000 bằng con đường đổi mới thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu và không bị tụthậu so với các nước trong khu vực Việc nghiên cứu, tổng hợp các điều kiện tự nhiên

- kinh tế - xã hội của 9 tỉnh miền núi phía Bắc nói chung và Lạng Sơn nói riêng nhằm

Trang 25

đánh giá chính xác, đầy đủ các điều kiện trên Qua đó có chiến lược phù hợp chonhững giai đoạn tiếp theo Với đề tài nghiên cứu này đã cung cấp nhiều thông tin trựctiếp phản ánh phần nào bức tranh về đời sống kinh tế - xã hội của thành phố Lạng Sơngiai đoạn này.

Bên cạnh những nghiên cứu chung về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, lịch

sử của thành phố Lạng Sơn, còn có những nghiên cứu chuyên biệt của các đơn vị, tổchức, ban ngành của thành phố đã cung cấp cho tác giả luận án những tư liệu quý

báu về thành phố Lạng Sơn thời kì này Cụ thể vào năm 1991, cuốn “Lịch sử phong trào phụ nữ Lạng Sơn” (1930 - 1954) tập 1 xuất bản năm 1991 Năm 1992, Liên đoàn Lao động tỉnh Lạng Sơn đã biên soạn cuốn “Lịch sử phong trào công nhân và công đoàn Lạng Sơn”[67], với nội dung cơ bản là trình bày một cách có hệ thống

quá trình hình thành và phát triển của đội ngũ công nhân cùng với tổ chức Công

đoàn Lạng Sơn qua các thời kì lịch sử Các cuốn sách “Lạng Sơn, lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975)” xuất bản năm 1995 [11], “Lịch sử Đoàn

và phong trào thanh niên Lạng Sơn (1930 - 1975)” (1996) [14], … đã nêu lên

những đóng góp cuả công nhân, lao động, tổ chức công đoàn, thanh niên Lạng Sơntrong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc Bên cạnh đó Ban chấp hành Đảng bộ

tỉnh Lạng Sơn đã cho tổ chức biên soạn và xuất bản cuốn sách “Lịch sử Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn (1930 - 1945)” tập 1, tập 2 xuất bản năm 1996, hay cũng trong năm này Tỉnh ủy Lạng Sơn cho chỉ đạo biên soạn cuốn “Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn”

Năm 1999, dưới sự chỉ đạo, tổ chức của Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn, sau

15 năm sưu tầm, nghiên cứu, biên soạn (kể từ năm 1984), cuốn sách “Địa chí Lạng Sơn”[132] đã được hoàn thành Đây là một công trình khoa học có nội dung liên

quan đến nhiều vấn đề như vị trí địa lí, kinh tế, văn hóa, xã hội, lịch sử và conngười, các huyện thị của tỉnh Lạng Sơn Trong đó có những nội dung tác giả luận

án có thể kế thừa

Từ năm 2000 trở lại đây những nghiên cứu về Lạng sơn tiếp tục có nhữngkhởi sắc với cả những nghiên cứu tập thể và những công trình của các cá nhân Năm

2001, Ban chấp hành Đảng bộ thị xã Lạng Sơn xuất bản cuốn “Lịch sử Đảng bộ thị

xã Lạng Sơn (1930 - 1954)” tập 1, tập 2 Đây là một công trình nghiên cứu được

thực hiện trong nhiều năm gắn với sự ra đời, những hoạt động cũng như sự tồn tại

và phát triển của Đảng bộ Lạng Sơn theo suốt chiều dài lịch sử từ khi có tổ chứcĐảng cộng sản Việt Nam ra đời đến năm 2000 Nội dung cuốn sách đã cung cấpnhiều thông tin, tư liệu có giá trị quan trọng trong tiến trình lịch sử và phát triển củaLạng Sơn Năm 2002, Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn đã tiếp tục chỉ đạo

Trang 26

biên soạn cuốn “Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn từ Đại hội đến Đại hội” [9], trong đó tập

trung vào việc khái quát lại những vấn đề cơ bản, quan trọng của các kì Đại hộiĐảng bộ Lạng Sơn Ghi lại chặng đường đấu tranh anh dũng mà sáng tạo, kiêncường của nhân dân các dân tộc Lạng Sơn do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo

Năm 2004, dưới sự chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn cuốn “Lạng Sơn - Quảng Tây, cơ hội kinh doanh và đầu tư” [129] được xuất bản đã nêu lên

những cơ hội và triển vọng mới trong việc giao lưu, buôn bán giữa tỉnh Quảng Tây(Trung Quốc) với Lạng Sơn Vấn đề này vừa là thời cơ nhưng đồng thời là thách thứctrong quá trình giao lưu, giao thương Năm 2005, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh LạngSơn và Công ty Cổ phần Thông tin Kinh tế Đối ngoại cùng phối hợp với Nhà xuất bản

Chính trị Quốc gia đã cho xuất bản cuốn sách bằng cả tiếng Việt và tiếng Anh “Lang Son new image in century XXI” (Lạng Sơn, thế và lực mới trong thế kỉ XXI) Cũng trong

năm này chào mừng Đại hội Đảng bộ tỉnh lần XIV và Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X

cuốn sách “Lạng Sơn, nơi địa đầu của tổ quốc” [144] hay “Di sản văn hóa Lạng Sơn”,

“Lạng Sơn - 30 năm xây dựng và phát triển” đã được xuất bản Nội dung những cuốn

sách đó đã phản ánh khá chi tiết về mảnh đất Lạng Sơn Xuất phát điểm từ một tỉnhnghèo, kết cấu hạ tầng bị tàn phá nặng nề trong chiến tranh, đã trở thành tỉnh có nền kinh

tế phát triển tương đối toàn diện, tốc độ tăng trưởng cao so với nhiều tỉnh thuộc khu vựcmiền núi phía Bắc, nhất là diện mạo của thành phố Lạng Sơn và các khu kinh tế cửakhẩu, khu du lịch ngày càng có nhiều khởi sắc

Các bài viết, hội thảo, luận văn, luận án

Bên cạnh những nghiên cứu chung của Hội đồng nghiên cứu lịch sử thànhphố, trong những năm này các nghiên cứu về thành phố Lạng Sơn cũng đã có những

chuyên khảo như: “Xứ Lạng, văn hóa và du lịch” của Nguyễn Cường và Hoàng Văn Nghiệm (2000); “Lạng Sơn, một vùng văn hóa đặc sắc”của Phạm Vĩnh (2001);

“Vài nét về văn hóa và địa danh văn hóa Lạng Sơn”của Hoàng Văn Páo (2011) đã giới thiệu hệ thống các di sản văn hóa Lạng Sơn; công trình “Di tích và lễ hội truyền thống đền Kỳ Cùng” của Vương Đắc Huy (2012) [57], tìm hiểu về một hiện

tượng văn hóa của xứ Lạng, góp phần gìn giữ nền văn hóa đặc sắc của nhân dân các

dân tộc xứ Lạng; “Lạng Sơn, vùng đất của Chi Lăng - Đồng Đăng - Kỳ Lừa”của

Mã Thế Vinh (2012) [153] với nội dung khái quát chung về Lạng Sơn, những di tíchdanh lam thắng cảnh, di tích lịch sử…

Trang 27

Ngoài những công trình nghiên cứu trên còn có những nghiên cứu được trìnhbày tại một số các Hội thảo khoa học, sau đó đã được in thành kỷ yếu hội thảo khoa

học như: “50 năm chiến thắng đường 4 giải phóng Lạng Sơn (10/1950 - 10/2000)” (xuất bản năm 2000); “Các bài viết, tư liệu về thân thế, sự nghiệp Hoàng Đình Kinh chống giặc Pháp, Phỉ bảo vệ quê hương cuối thế kỉ XIX”, xuất bản năm 2014 Các bản

tham luận, bài viết trong các hội thảo đã khắc họa phần nào lịch sử, điều kiện tự nhiên,những trận chiến trong lịch sử gắn với tên tuổi những vị anh hùng đã có công trongcuộc kháng chiến Pháp, bảo vệ tổ quốc

Một số luận án, luận văn nghiên cứu về thành phố Lạng Sơn trong thời kìhiện đại trên một số khía cạnh như sự biến đổi kinh tế - xã hội, cư dân - địa giớihành chính và việc làm Trong đó có thể kể đến: Luận án tiến sĩ Địa lí của tác giả

Hoàng Phúc Lâm (2002) với đề tài: Tác động của những biến đổi kinh tế - xã hội đến

sự phát triển đô thị ở thị xã Lạng Sơn [66]; Nông Đức Vinh (2004), Việc làm ở Lạng Sơn: Thực trạng và giải pháp, Luận văn thạc sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia

Hồ Chí Minh; Dương Thị Hồng Vân (2006), Dịch vụ Thương mại và Du lịch trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, Học Viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh; Nông Văn Dũng (2012), Thương mại và Dịch vụ tỉnh Lạng Sơn trong thời kì đổi mới, Luận văn Thạc sĩ Lịch sử, trường Đại học Sư phạm, Đại học Thái Nguyên.

Nội dung chủ yếu của các nghiên cứu trên là tập trung vào nghiên cứu lí luận và thựctiễn về thương mại, dịch vụ du lịch tỉnh Lạng Sơn, đánh giá thực trạng nhằm đưa raphương hướng và giải pháp hữu hiệu nhất để phát triển thương mại, dịch vụ du lịch.Góp phần đưa kinh tế thương mại, dịch vụ du lịch trở thành nền kinh tế mũi nhọn củatoàn tỉnh

Những nghiên cứu của người nước ngoài

Những nghiên cứu của người nước ngoài về Lạng Sơn chủ yếu là về thời kìtrước năm 1945 Ngay sau khi Pháp bình định xong Việt Nam và để phục vụ côngcuộc cai trị và khai thác thuộc địa, các quan chức đương thời của chính quyền thuộcđịa Pháp đóng tại đây đã có những khảo cứu về tình hình địa phương Trong số đó

có: “Manuel du Voyageur en Indochi-ne du Nord” của tác giả Madrolle (Sổ tay của những người du lịch Bắc Đông Dương), “Tiểu dẫn về các tỉnh Bắc Kỳ và Trung Kỳ”

(lưu tại Thư viện Quốc gia) đã có những ghi chép khá cụ thể về vùng đất và con ngườiLạng Sơn, từ điều kiện địa lí tự nhiên, địa hình, khí hậu, địa chất, kinh tế, lịch sử, conngười Lạng Sơn… cùng với một số những ghi chép về chợ Kỳ Lừa, Đoàn thành là một

Trang 28

đô thị của Lạng Sơn thời bấy giờ) một cách khá chi tiết và đặc biệt là những trận đánhgiữa quân dân Lạng Sơn với quân Pháp nhằm giữ gìn vùng biên ải này.

“Le commerce du Tonquir avec la province chinoire du Quang - Si”

(Thương nghiệp Bắc kì Việc buôn bán của Bắc kì với tỉnh Quảng Tây - TrungQuốc, Lưu tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia) [169] đã được dịch giả Phan Tâm dịch ratiếng Việt, đã có những ghi chép về việc buôn bán giao thương tấp nập giữa LạngSơn với Trung Quốc qua phố chợ Kỳ Lừa, thị trấn Đồng Đăng Đô thị Lạng Sơnthời kì này với trung tâm là chợ Kỳ Lừa, cung cấp hàng hóa cho các chợ trongvùng Đô thị Lạng Sơn đã trở thành một đầu mối quan trọng không chỉ với việc lưuthông hàng hóa nội địa của những thành phố công nghiệp Bắc Kì mà cả hàng hóacủa Pháp

Một nghiên cứu khác nữa về Lạng Sơn là của đại úy Lonis de Grandmaison”

chỉ huy trưởng khu Đồng Đăng với cuốn sách “Territoire Millraire” (Tại khu quân

sự Việc mở rộng thanh thế của Pháp ở Bắc Kì, năm 1898, lưu tại Thư viện Quốcgia), mục đích chính là nêu lên cách thức thực hiện chính sách bình định nhữngquân khu biên giới trong đó có Đồng Đăng, những sai lầm chính và một số ít việclàm của chính quyền bảo hộ Pháp cùng công cuộc bình định nhằm biến thuộc địathành những bộ phận chính thống của Pháp Qua đó đã cung cấp những thông tinphản ánh về tình hình Lạng Sơn trên một vài phương diện kinh tế, văn hóa, giáodục… cũng như tình hình chiến sự ở khu vực này

Năm 1910, “Tài liệu nhật kí các tin tức tình báo” (Lưu trữ tại Bảo tàng tỉnh

Lạng Sơn), với nội dung chủ yếu là tường trình các tin tức do các đồn kí cung cấp,

do các quan chức trong quân đội Pháp đóng tại các đồn như Nam Quan, Chi Ma vàtường trình tổng kết kế hoạch hoạt động của cảnh sát biên phòng đã phần nào chothấy các cuộc đấu tranh của binh lính người Việt với quân đội Pháp cùng với sự canthiệp của quân đội Trung Hoa và một số thông tin sơ lược về tình hình Lạng Sơntrên các mặt kinh tế, chính trị, xã hội

Một nghiên cứu khác được cho là của sĩ quan cao cấp trong quân đội Pháp

đã có những ghi chép và viết thành cuốn sách mang tên “Histoire militaire de I’ indochinoise” (Những hoạt động của quân đội Pháp tại tỉnh Lạng Sơn từ năm 1884-

1894, tài liệu của Thư viện Quốc gia, Xb năm 1922), nội dung chủ yếu ghi chép lạinhững trận đánh lớn của quân đội Pháp với binh lính người Việt trên địa bàn LạngSơn cùng với sự can thiệp của quân đội Trung Hoa Tài liệu đã cung cấp cho tác giảluận án những tư liệu quan trọng về tình hình kinh tế, chính trị của Lạng Sơn trongthời kì này

Trang 29

Một số chuyên luận nữa cũng viết về Lạng Sơn trong thời kì này là “Notie monographique de la province de Lang Son destinée à l'Exposition coloniale internationale de Paris en 1931" (1930) (Tỉnh Lạng Sơn Chuyên luận về Lạng Sơn, dùng cho cuộc triển lãm Quốc tế Pari năm 1931”, 1930 (Lưu tại Trung tâm

lưu trữ quốc gia) [174] đã cung cấp cho tác giả luận án những vấn đề về diện tích,địa lí, khí hậu, lịch sử, con người Lạng Sơn cùng những ghi chép sơ lược về buổiđầu lịch sử thành phố Lạng Sơn Trong việc xây dựng trung tâm của tỉnh được xâydựng vào năm 1759, đã có những ghi chép gửi Toàn quyền Pháp, đánh giá cao vị trícủa Lạng Sơn luôn luôn là một cứ điểm quan trọng trong công cuộc bình định củaquân đội Pháp Lạng Sơn thời kì này là một đô thị phát triển khá mạnh, là đầu mốigiao thông buôn bán quan trọng giữa Việt Nam với Trung Quốc

Vào năm 1932, công sứ Heilen đã có một bản báo cáo khá chi tiết và đầy đủ

về tỉnh Lạng Sơn “Notice sur La provin de Lang Sơn” (Lưu tại Thư viện Quốc gia)

[162], đã cung cấp tư liệu về tỉnh Lạng Sơn trước và sau khi bị Pháp chiếm đóng theotài liệu của biên niên sử Việt Nam Cụ thể là những nghiên cứu về đặc điểm điều kiện

tự nhiên, về thành phần dân tộc, xã hội, du lịch, cùng công cuộc chinh phục, bình địnhcủa quân đội Pháp Qua đó cho thấy phần nào về một số vấn đề quy hoạch và quản lí

đô thị của chính quyền Pháp nói riêng cùng sự phát triển chung của thị xã Lạng Sơnthời kì này

1.3 Những kết quả nghiên cứu được luận án kế thừa và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục giải quyết

Qua khảo cứu các công trình của các học giả, các nhà nghiên cứu ở cả trongcũng như ngoài nước Trong đó, có khá nhiều các công trình nghiên cứu về đô thị và

đô thị hóa ở Việt Nam nói chung, cũng như ở Lạng Sơn nói riêng, cho thấy nội dungcác công trình đó đã đề cập một cách trực tiếp hoặc gián tiếp đến Lạng Sơn trên cácvấn đề khác nhau, nhằm phục dựng lại một bức tranh toàn cảnh về sự hình thành vàphát triển thành phố Lạng Sơn Có thể nói các công trình liên quan đến Lạng Sơnđược nghiên cứu trên cơ sở nguồn tư liệu khá phong phú, quý giá như tranh ảnh,bản đồ, hiện vật, tư liệu thành văn…Mặc dù, những nghiên cứu này thiếu nguồn tưliệu gốc về đô thị Lạng Sơn, nhất là đô thị Lạng Sơn trong giai đoạn thế kỉ XVIII -XIX, trong đó có tư liệu bằng chữ Hán và tiếng Pháp, cho nên đã hạn chế khả năngtrích dẫn Tuy nhiên, nội dung các công trình đó đã cung cấp cho tác giả luận án cóthêm nhận thức, hiểu biết những vấn đề liên quan đến nội dung luận án Các nghiêncứu đã phân tích một cách khá sâu sắc về quá trình hình thành và sự phát triển củacác đô thị, góp phần làm giàu thêm những nguồn tư liệu mới bổ sung cho lĩnh vực

Trang 30

nghiên cứu đô thị đang phát triển ở Việt Nam Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu

về đô thị chủ yếu là các đô thị như thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Thanh Hóa…Những nghiên cứu trực tiếp về Lạng Sơn đã đề cập đến sự xuất hiện của đô thị LạngSơn trong lịch sử cùng với quá trình đô thị hóa Lạng Sơn thời hiện đại, chủ yếudưới góc độ địa lí học Tuy nhiên, những nghiên cứu về đô thị Lạng Sơn trong giaiđoạn trung - cận đại nhất là từ khoảng thế kỉ XV đến thế kỉ XIX chưa được đề cậpđến Các công trình nghiên cứu trên đây đã phần nào đã phác họa về đô thị LạngSơn từ buổi đầu hình thành cùng với việc tìm hiểu về đời sống kinh tế, chính trị, vănhóa, xã hội qua các giai đoạn lịch sử Tuy vậy, việc nghiên cứu một cách hệ thống

về lịch sử hình thành và phát triển của đô thị Lạng Sơn nhất là đặt trong bối cảnhchung của thời cuộc đồng thời có sự so sánh với các đô thị khác để thấy được nhữngđiểm giống và khác nhau, đặc biệt là trong giai đoạn đẩy mạnh CNH - HĐH đấtnước vấn còn là khoảng trống

Trên cơ sở kế thừa những thành tựu trước đó, tác giả luận án cũng xin đưa ramột số vấn đề luận án cần tập trung giải quyết :

Thứ nhất: Trên cơ sở những nguồn tư liệu nghiên cứu, có độ tin cậy, nhất lànguồn tư liệu Lưu trữ bằng tiếng Pháp, tác giả luận án sẽ làm rõ quá trình đô thị hóathành phố Lạng Sơn

Thứ hai: Đề tài nghiên cứu từ 1925 đến 2012 (giai đoạn cận - hiện đại), tuy nhiêncăn bản quá trình hình thành và phát triển của đô thị Lạng Sơn giai đoạn tiền thuộc địatrước năm 1925 cũng được luận án tập trung nghiên cứu, phân tích là cần thiết cho sựphát triển của đô thị Lạng Sơn ở giai đoạn sau

Thứ ba: Kế thừa các nghiên cứu về điều kiện tự nhiên, kinh tế, chính trị, vănhóa, xã hội Luận án đi sâu nghiên cứu những tác động và ảnh hưởng của thời cuộctới sự chuyển biến trên các mặt của đô thị Lạng Sơn trải qua gần một thế kỉ vớinhững đặc điểm riêng biệt vốn có của nó

Nhìn chung, từ tổng quan các nghiên cứu về Lạng Sơn cho thấy mặc dù đã có khánhiều công trình trực tiếp hay gián tiếp nghiên cứu về thành phố Lạng Sơn, nhưng chođến nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống về vấn

đề “Quá trình hình thành và phát triển của thành phố Lạng Sơn từ năm 1925 đến năm2012” Tuy nhiên nội dung những công trình trên đã cho tác giả luận án kế thừa những sốliệu, nhận định ở những khía cạnh gợi mở liên quan đến nội dung luận án

Trang 31

Chương 2 THỊ XÃ LẠNG SƠN TỪ KHI THÀNH LẬP ĐẾN NGÀY HÒA BÌNH

LẬP LẠI (1925 - 1954) 2.1 Vùng đất Lạng Sơn từ khởi thủy đến năm 1925

Lạng Sơn là một vùng đất cổ, có lịch sử hình thành và phát triển từ rất sớm ởViệt Nam, các nhà nghiên cứu đã đưa ra những kết luận nghiên cứu chứng minhLạng Sơn là nơi xuất hiện người tối cổ sớm nhất ở khu vực Đông Nam Á Khắc họa

rõ nét thời kì xa xưa nhất của lịch sử loài người trên vùng đất Lạng Sơn, có các hóathạch người vượn (Homo Erectus), người khôn ngoan (Homo Sapiens) hay di cốtcác loài động vật được tìm thấy tại di chỉ hang Thẩm Khuyên, Thẩm Hai, niên đạicách ngày nay khoảng 47.500 năm Đây cũng chính là những bằng chứng hết sứcthuyết phục về sự xuất hiện đầu tiên của con người trên đất nước Việt Nam, cùngcác mẫu hóa thạch cổ sinh có niên đại hậu kì cánh tân phát hiện tại Tú Đoạn, NaDương (Lộc Bình)… Những di chỉ khảo cổ được tìm thấy ở Bắc Sơn đã minhchứng cho nền văn hóa này, đây là một trong những nền văn hóa tiêu biểu cho thờiđại đá mới ở Việt Nam, nền văn hóa Bắc Sơn được ví như một cuộc “cách mạng đámới” làm thay đổi căn bản đời sống kinh tế, xã hội thời nguyên thủy với sự ra đờicủa rìu mài lưỡi Tiếp nối nền văn hóa Bắc Sơn là văn hóa Mai Pha, tiêu biểu là đồgốm Mai Pha được coi là nét đặc trưng tiêu biểu nhất của văn hóa hậu kì đá mớitrên vùng đất Lạng Sơn

Theo dòng lịch sử, thời Hùng Vương, vùng đất này có tên là Lục Hải, trải quabao biến cố thăng trầm lịch sử, qua thời gian, tên gọi cũng đã có sự đổi thay [153, tr83]

Thời thuộc Hán thuộc quận Giao Chỉ, đời Đường thuộc châu Giao Đầu đờiTrần (và có thể từ đời Lý) là lộ Lạng Giang Năm 1397, tức năm Quang Thái thứ 10Lạng Sơn có tên gọi là Lạng Sơn trấn, thời thuộc Minh gọi là Lạng Sơn phủ; niênhiệu Quang Thuận thứ 10 năm 1469 đặt tên là Lạng Sơn thừa tuyên Theo bản đồniên hiệu Hồng Đức gọi là Lạng Sơn xứ, vào năm niên hiệu Gia Long nguyên niên

Trang 32

tức 1802 để nguyên tên trấn như trước (tức Lạng Sơn trấn) và đến năm Minh Mạng

12 (1831) phân hạt đổi thành tỉnh Lạng Sơn với chức quan đầu tỉnh là Lạng BằngTuần - Phủ (Lạng Sơn - Cao Bằng) Năm Minh Mạng thứ 15 (1834) đổi các châu

An Bác, Văn Quan, Thất Tuyền và huyện Thất Tuyền; năm Minh Mạng thứ 17(1836) đặt thêm phủ Tràng Định Như vậy tỉnh Lạng Sơn có hai phủ Tràng Khánh

và Tràng Định và đến đầu thế kỉ XX còn 1 phủ và 9 châu [132; tr237-238]

Do điều kiện địa lí, lịch sử, đặc biệt với vùng đất đã trải qua các thời kì làchâu lị, trấn thành, tỉnh lị nên thành phố Lạng Sơn có những điều kiện thuận lợi đểtrở thành một trung tâm kinh tế đô thị Là nơi có đường giao thông tương đối thuậntiện (với tuyến đường quan lộ từ Thăng Long tới biên giới Việt - Trung), cùngnhững điều kiện tự nhiên thuận lợi để tạo ra những tiền đề, cơ sở cho sự phát triểnkinh tế, văn hóa Các thế kỉ X - XI, ngay từ khi mới giành được quyền tự chủ, chínhquyền nhà Đinh - Tiền Lê đã khuyến khích việc buôn bán ở vùng biên giới Đếnthời Lý các chợ vùng biên hay còn gọi (Bạc dịch trường) đã phát triển mạnh Chợ

Kỳ Lừa1 là một trong những chợ như vậy, do thời kì này thương nhân Trung Quốc(thương khách) tụ cư đông đúc nên mới có câu ca Tam Thanh, Kỳ Lừa [32; tr508]

Từ thế kỉ XVII - XVIII, qua việc nghiên cứu và khai thác một số văn bia đền TảPhủ, chùa Tam Giáo và một số thư tịch cổ đã cho thấy Đô đốc phủ Thân Công Tài

đã có công mở mang phố chợ Kỳ Lừa

"Phố chợ Kỳ Lừa ở xã Vĩnh Trại, châu Thoát Lãng Chợ thông Nam, Bắc; khắp nơi khách buôn dồn về, là chợ lớn của cả tỉnh Quan Trấn thủ nhà Lê (Thân Công Tài) coi dân có đức, có công dựng chợ, mở phố, người sau nhớ ơn lập đền thờ ông Nên có câu: Kỳ Lừa có đền Tả phủ, nhờ Hán Quận Công lập phố ngày xưa" [32; tr502].

Ngoài việc giữ gìn an ninh biên giới, Hán Quận Công còn mở mang đườnggiao thông, các khu chợ Ông cho khởi công xây dựng khu đất ven bờ sông KỳCùng thành 7 con đường, rồi lập thành 7 phố phường cho cư dân hai nước Việt -Trung giao lưu buôn bán Đồng thời, ông đã cùng với Vũ Quận công Vi Đức Thắng

mở phố chợ Kỳ Lừa, nhanh chóng phát triển khu vực này trở thành một trung tâmbuôn bán phồn thịnh, giúp cho dân chúng trao đổi hàng hóa, thông thương xuôingược và qua lại biên giới Nhờ đó mà một vùng đồi gò hoang vu, rậm rạp, cư dânthưa thớt ở phía bắc Đoàn thành đã sớm trở thành một điểm quần cư đa dân tộc, mộtcửa ngõ buôn bán sầm uất, thu hút nhiều Hoa thương đến kinh doanh Việc ThânCông Tài mở mang, thành lập phố phường, xây dựng cuộc sống thị dân, giao lưubuôn bán, đã tỏ rõ ông là một người sớm có tầm nhìn chiến lược theo khuynh hướng

đô thị hóa.Thân Công Tài đã từng bước thu phục nhân tâm, nâng cao đoàn kết, trấn

áp loạn lạc cướp bóc và bảo vệ an ninh vùng biên ải Ông đã đề ra những chính sách

1 Chợ Kỳ Lừa: còn gọi là Khau Lừ

Trang 33

tiến bộ, điều hành việc khuyến nông, khuyến khích giao thông hàng hóa và chấnchỉnh quân triều Chỉ một thời gian ngắn, ông đã lập lại kỷ cương, nâng cao sứcmạnh, phát triển kinh tế thương mại, sản xuất ở Lạng Sơn Vai trò của ông trong tiếntrình lịch sử phát triển Lạng Sơn đặc biệt quan trọng mà không một vị quan trấn triềunào có thể sánh được Vì lẽ đó, nhân dân Lạng Sơn và Trung Quốc lập đền tôn thờ ông,lịch sử tôn vinh ông ở vùng đất biên cương này Phố chợ Kỳ Lừa đã trở thành một thựcthể quan trọng trong đô thị Lạng Sơn, góp phần phát triển kinh tế - xã hội Lạng Sơn.Phố chợ Kỳ Lừa đã trở thành trung tâm kinh tế thương mại của Lạng Sơn (ViệtNam)với Quảng Tây (Trung Quốc) ngày nay [113; tr296].

Nói về trung tâm của Lạng Sơn thì dưới thời nhà Lý, Lạng Sơn được gọi làLạng Châu, trung tâm của Lạng Sơn khi ấy là Giáp Khẩu - Quang Lang, còn vùngđất Lạng Sơn ngày nay vẫn thuộc quyền cai quản của các tù trưởng dân tộc, các bộtộc này là các châu nhỏ có quan hệ với triều đình Trung ương nhưng ràng buộc lỏnglẻo Dưới thời Trần, lị sở trấn Lạng Sơn được đưa về bắc Châu Ôn (ở khoảng xãMai Pha hiện nay), ở thời kì này thành quách đã được xây dựng, ban đầu dựa vàochân núi Phai Vệ nên gọi là thành Vệ, về sau chuyển dời về phía nam sông Kỳ Cùng

lấy tên là Đoàn thành Theo sách “Lạng Sơn Đoàn thành đồ” của Nguyễn Nghiễm

(1707 - 1775) vào năm Hồng Đức thứ 26 (1496) Đoàn thành Lạng Sơn được tu bổlần đầu, năm Cảnh Hưng thứ 19 (1758) được tu bổ lần hai, đến năm Minh Mạng thứ

15 (năm 1835) lại được tu bổ cùng thành Thổ Sơn, thành này cũng thuộc xã MaiPha, đến năm 1839 thành Thổ Sơn được đắp thêm cho liền với Đoàn thành Tác giảNguyễn Nghiễm có ghi rõ là xung quanh trấn thành có rất nhiều chợ và nhiều phốnhư phố Khau Lừ (Kỳ Lừa ngày nay), ngoài ra còn có các phố như Trường Thịnh,phố Đồng Đăng, phố Nhị Thanh Việc hình thành các chợ ở khu vực biên giới còngọi là “Bạc dịch trường’’ phát triển nhanh trong thời gian này Bạc dịch trường củaLạng Sơn ở trại Vĩnh Bình, giao lưu kinh tế - văn hóa ở Vĩnh Bình trên đôi bờ sông

kỳ Cùng có từ thời nhà Lý, nhà Lê cũng chính là tiền thân của chợ Đồng Đăng, phố

Kỳ Lừa ngày nay Như vậy, trấn lị Đoàn thành Lạng Sơn nguyên trước là trấn thànhquân sự, sau đã trở thành một đô thị, một trung tâm hành chính, tiền thân của thànhphố Lạng Sơn ngày nay [57; tr15,16]

Vào thế kỉ thứ XV, sách Dư địa chí của Nguyễn Trãi có ghi chép lại: “Lạng

Sơn lúc bấy giờ có một phủ, bảy châu Lỵ sở phủ Tràng Khánh ban đầu đặt ở MaiPha - Châu Ôn, sau rời về trong Đồng Bộc, châu Lộc Bình” Năm 1831, khi LạngSơn được đổi thành tỉnh, Cao Lộc được tách thành một đơn vị hành chính riêng,thành phố khi đó trở thành châu lị Cao Lộc Năm 1836, tỉnh Lạng Sơn được chiathành hai phủ, mảnh đất thành phố khi đó lấy sông Kỳ Cùng làm ranh giới: phía bắcthuộc phủ Tràng Định khi mới thành lập đóng ở xã Vĩnh Trại châu Thoát Lãng, sau

Trang 34

rời về Đồng Đăng, Thất Khê Tỉnh lị Lạng Sơn lúc này đặt chung với lị sở Châu Ôn

Từ đầu thế kỷ XX, bóng dáng "đô thị" Lạng Sơn càng hiện lên rõ hơn Thị

xã Lạng Sơn được thành lập từ năm 1925 là tỉnh lỵ của tỉnh Lạng Sơn Thị xã lúcnày được chia ra làm hai khu vực, sông Kỳ Cùng được lấy để phân biệt Phía Namgọi là “bên tỉnh”, nơi tập trung các cơ quan cai trị hàng tỉnh, thành Lạng Sơn thuộckhu bên tỉnh trở thành nơi đóng quân của quan quân, binh lính Pháp,lính khố đỏ;bên “Kỳ Lừa” ở phía bắc là khu trung tâm kinh tế, là nơi tập trung các phố chợ diễn

ra các hoạt động buôn bán, sinh hoạt, sản xuất, kinh doanh của nhân dân Châu lịCao Lộc thuộc bên Kỳ Lừa và là nơi đóng quân của lính khố xanh [62; tr54]

2.2 Những điều kiện lịch sử tác động đến sự phát triển của thị xã Lạng Sơn từ năm 1925 đến năm 1954

Năm 1858, thực dân Pháp chính thức nổ súng xâm lược nước ta Đến năm

1884, triều đình nhà Nguyễn kí hòa ước với Pháp, quy định Pháp có quyền bảo hộhai xứ Bắc Kỳ, Trung Kỳ, còn Nam Kỳ là xứ thuộc địa, nhưng thực tế thực dânPháp nắm toàn quyền điều khiển ở khắp mọi nơi trong đó có Lạng Sơn Cho đếnnăm 1925, thực dân Pháp quyết định thành lập một đơn vị hành chính là thị xã LạngSơn, đặt bộ máy cai trị của Pháp trong toàn tỉnh Ngày 23 tháng 9 năm 1925, chínhquyền thực dân Pháp đã ra Nghị định số 30431 về việc thành lập thị xã Lạng Sơn làtrung tâm đô thị của tỉnh Lạng Sơn (Theo Công điện của Chánh văn phòng PhóThống sứ Bắc Kỳ ngày 23/9/1925, về Nghị định thiết lập Lạng Sơn - Thất Khêthành thị xã) Lạng Sơn trở thành thị xã của người bản địa Cũng trong thời gian nàythị xã Lạng Sơn được mở mang, nhất là từ khi đường sắt Hà Nội - Na Sầm hoànthành năm 1929 Nhằm phục vụ cho mục đích khai thác thuộc địa, thực dân Pháp đãcho mở mang xây dựng thị xã Lạng Sơn thành một đô thị phục vụ cho bộ máy đàn

áp cai trị, phục vụ cho hệ thống cứ điểm quân sự trên tuyến phòng thủ biên giớivùng Đông Bắc Việt Nam Người Pháp còn cho xây dựng thị xã Lạng Sơn thànhmột đầu mối giao thông vận tải thuận tiện để phục vụ mục đích quân sự và vơ vétnguồn tài nguyên, đồng thời tuyên truyền cho nền văn hóa thực dân

Cuộc chiến tranh thế giới thứ hai 1939-1945, Pháp bị lôi cuốn vào khói lửachiến tranh đã ban bố lệnh tổng động viên, thực hành chính sách “kinh tế chỉ huy”nhằm vơ vét sức người, sức của ném vào chiến tranh đế quốc Chính sách kinh tế,chính trị, quân sự đã ảnh hưởng tới mọi tầng lớp trong xã hội Việt Nam [40; tr237],trong đó có Lạng Sơn Ngoài ra, trong bối cảnh thế chiến thứ 2, nạn đói xảy đến với

Trang 35

Bắc Kỳ vào đúng lúc cuộc kháng chiến chống Pháp diễn ra quyết liệt, nhất là khiquân Nhật chiếm đóng Đông Dương Từ năm 1941, với những toán quân tuần tiêuTrung Quốc xung đột với quân Pháp ở đồn Tà Lùng - Lạng Sơn, quân Nhật buộcnông dân nộp hết thóc lúa theo lệnh “Thiên Hoàng” đã làm cho nhân dân Lạng Sơnlâm vào nạn đói trầm trọng, hàng nghìn người chết, đất đai, ruộng đồng bỏ hoang,buôn bán đình trệ

Nhân dân ta chịu cảnh “một cổ hai tròng” dưới sự áp bức, bóc lột của Pháp Nhật Thực dân Pháp đã cấu kết với phát xít Nhật để duy trì quyền thống trị ở ĐôngDương, đồng thời tiến hành khủng bố, đàn áp phong trào yêu nước, gây nhiều tổnthất cho phong trào cách mạng ở Lạng Sơn Tuy nhiên, không vì thế mà phong trào

-bị dập tắt, ngược lại còn nhen nhóm lên lòng căm thù và ý chí chiến đấu chống giặccứu nước Trên cơ sở đó, ngày 27/9/1940, cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn bùng nổ gópphần thúc đẩy phong trào cách mạng trong cả nước nói chung và thị xã Lạng Sơnnói riêng ngày càng phát triển

Tháng 8-1945, phát xít Nhật đầu hàng phe Đồng minh, đêm 24 rạng ngày25/8/1945, quân giải phóng từ chiến khu Ba - Xã tiến về giải phóng thị xã LạngSơn Tuy nhiên, đến ngày 26/8/1945, quân đội Trung Hoa Dân Quốc mang danhnghĩa quân Đồng minh vào Việt Nam bằng đường Lạng Sơn và Lào Cai để làmnhiệm vụ giải giáp quân phát xít Nhật Khi vào Lạng Sơn đã bắt nhân dân Lạng Sơncung cấp lương thực, thực phẩm, phương tiện hành quân, chi phí đóng quân, nhũngnhiễu làm Lạng Sơn gặp nhiều khó khăn [4; tr23]

Nhìn chung trong giai đoạn này thị xã Lạng Sơn cũng như các địa phươngkhác trong cả nước, sau giải phóng còn đứng trước hàng loạt khó khăn, thử thách:

Về chính trị thì chính quyền cách mạng còn non trẻ, thù trong giặc ngoài còn đedọa, uy hiếp trực tiếp thành quả cách mạng của nhân dân ta; chiến tranh kéo dài đãlàm cho các hoạt động về kinh tế như giao thương ách tắc, sản xuất đình đốn, cácngành kinh tế nhìn chung không phát triển được, nền kinh tế nhỏ bé, nghèo nàn lại

bị phá hoại xơ xác, phần đông số dân trong thị xã lúc đó sống bằng nghề tiểuthương, dịch vụ lại bị cướp bóc làm cho thị trường đình đốn Những điều kiện tốithiểu để phục vụ cho sản xuất tiểu thủ công nghiệp không được bảo đảm nên hoạtđộng ngừng trệ; sản xuất nông nghiệp điêu đứng và hậu quả của nạn đói chưa khắcphục được; về văn hóa, xã hội thấp kém lại bị chính sách ngu dân của Pháp dồn đếnchỗ điêu tàn Hơn thế, chính quyền thuộc địa trong những năm cuối cai trị đã khôngcòn có chính sách quy hoạch và quản lí đô thị, do đó đô thị Lạng Sơn không có biếnchuyển nhiều

Trang 36

Ngày 7/7/1946, được phép thay thế quân đội Trung Hoa Dân Quốc theo Hiệpđịnh Sơ bộ (6/3) quân Pháp lại kéo quân lên chiếm đóng thị xã Lạng Sơn Trên cơ

sở đó Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời thị xã ra đời đã tổ chức cho đồng bàotản cư ra ngoài thị xã Đến 11/1946, Pháp chiếm đóng toàn thị xã, Lạng Sơn cùngcác tỉnh Việt Bắc lại trở thành căn cứ địa của cuộc kháng chiến lâu dài chống Pháp

Từ 1946 đến 1950, là giai đoạn thị xã Lạng Sơn bị tạm chiếm, tuy nhiêncũng trong giai đoạn này thị xã Lạng Sơn đã tích cực hưởng ứng phong trào thi đuayêu nước, ra sức sản xuất, vận chuyển lưu thông hàng hóa, giữ vững giao lưu kinh

tế với miền xuôi và đảm bảo “thực túc binh cường”, hăng hái dốc sức người, sứccủa cho tiền tuyến, góp phần làm lên chiến thắng Việt Bắc Thu - Đông 1947

Năm 1950, ta quyết định chủ động mở chiến dịch Biên giới bằng cuộc tiếncông tiêu diệt Đông Khê trên đường số 4 Ngày 17/10/1950, chiến dịch Biên giớikết thúc thắng lợi, những tốp lính Pháp cuối cùng đã rút khỏi vị trí đóng quân ở khuvực chân núi Phai Vệ cũng là ngày thị xã Lạng Sơn được hoàn toàn giải phóng

Từ 1950 đến Thu Đông 1953 và Xuân Hè 1954, cuộc tập kích bằng đườngkhông của Pháp vào thị xã Lạng Sơn không gây nhiều thiệt hại Ngược lại, vớinhững đóng góp trong việc bảo đảm giao thông thuận lợi cùng với những đóng góp

về sức người và sức của của thị xã đã góp phần vào thắng lợi của chiến dịch

Ngày 7/5/1954, chiến dịch lịch sử Điện Biên phủ toàn thắng, buộc thực dânPháp và can thiệp Mĩ kí hiệp định Giơ- ne-vơ, chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình

ở Việt Nam, một trang sử mới với nhân dân và các dân tộc Lạng Sơn lại bắt đầu

Tóm lại, trong giai đoạn từ 1946-1954, song song với việc tiến hành cuộckháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp và ngay sau khi tiếp quản thị xã Đảng bộ

và nhân dân các dân tộc thị xã Lạng Sơn đã khẩn trương bắt tay vào công việc ổnđịnh xã hội và tổ chức đời sống trong thị xã mới giải phóng, tiếp tục xây dựng LạngSơn trở thành hậu phương, chi viện sức người, sức của cho cuộc kháng chiến chốngthực dân Pháp Trên cơ sở đó chính quyền mới đã tiến hành hoạch định ngay cácchính sách nhằm khôi phục và phát triển thị xã Lạng Sơn Vấn đề đầu tư vào cácngành kinh tế cùng các chính sách nhằm quy hoạch và phát triển đô thị Lạng Sơncũng được khẩn trương tiến hành

2.3 Những chuyển biến về quy hoạch đô thị

2.3.1 Những thay đổi về diên cách

Năm 1831, sau khi vua Minh Mạng tiến hành cuộc cải cách, Lạng Sơn đượcđổi thành tỉnh, Cao Lộc được tách thành một đơn vị hành chính riêng, thị xã khi đótrở thành châu lỵ Cao Lộc (châu lỵ đóng tại phố Kỳ Lừa)

Trang 37

Năm 1836, tỉnh Lạng Sơn được chia lại, đặt thành hai phủ là phủ TràngKhánh và phủ Tràng Định, đổi một số châu thành huyện Cho đến thời Tự Đức thìLạng Sơn có hai phủ, bốn châu, ba huyện là:

- Phủ Tràng Khánh: 2 châu, 1 huyện là châu Lộc Bình, Châu Ôn; huyện Yên Bắc

- Phủ Tràng Định: 2 châu, 2 huyện là châu Văn Uyên, châu Thoát Lũng vàhuyện Văn Quan, huyện Thất Khê

Lấy sông Kỳ Cùng làm ranh giới, phía Bắc thị xã thuộc phủ Tràng Định, phíaNam thuộc phủ Tràng Khánh Phủ lỵ Tràng Định khi mới thành lập đóng ở xã VĩnhTrại châu Thoát Lãng, sau rời về Đồng Đăng rồi Thất Khê, tỉnh lỵ Lạng Sơn lúc nàyđặt chung với lỵ sở châu Ôn ở xã Mai Pha

Vào cuối thế kỉ XIX, trung tâm châu Cao Lộc là trung tâm của tỉnh Lạng Sơnkhá nhộn nhịp với những cơ quan đầu não của tỉnh, rạp hát, khách sạn Nhà đại táchỉ huy đệ nhất Quân chính đạo (chỗ Ủy ban nhân dân tỉnh bây giờ) được coi là mộttrong những công trình có kiến trúc đẹp nhất vùng trung du miền núi Bắc Bộ Thựcdân Pháp khi đó vẫn giữ nguyên châu Cao Lộc Cũng trong thời gian này, thị xãLạng Sơn vẫn chưa hình thành đơn vị hành chính riêng, chưa có chính quyền riêng.Phố phường dân cư và các xã nằm dưới sự phụ trách của huyện, châu như phố ĐôngKinh, phố Phai Luông đều thuộc châu Cao Lộc Châu lỵ của châu Cao Lộc (sau

đó là phủ lỵ, huyện) vẫn đóng tại phố Kỳ Lừa Trong quá trình cai trị, thực dân Phápnhiều lần thay đổi ranh giới hành chính Đến năm 1907, lại có một châu riêng có 18

xã trong ba tổng (khi đó Lạng Sơn có tất cả 9 châu, không có phủ):

1 Tổng Cao Lộc có 5 xã: Cao Lộc, Xuất Lễ, Lục Yên, Hải Yến, Bình Tây

2 Tổng Trinh Nữ có 7 xã: Trinh Nữ, Lạc Phượng, Chính Lũ, Vô Luận,Quảng Trứ, Phương Thủy, Vân Nùng

3 Tổng Trù Trĩ có 6 xã: Trù Trĩ, Hoàng Đồng, Thạch Đạn, Vĩnh Trại, CònLải, Cốc Chấn (nghĩa là khi đó Cao Lộc chỉ ở về phía Bắc sông Kỳ Cùng, Mai Phakhi đó thuộc về Châu Ôn) [113; tr810]

Hơn 10 năm sau thì đất đai của châu Cao Lộc đã mở rộng ra 22 xã (109thôn), đó là: Hoàng Đồng, Bình Tây, Mai Pha, Quảng Nhân, Lạc Nghiệp, YênTrạch, Trinh Nữ, Quảng Trừ, Chính Lũ, Vân Nùng, Vô Lậu, Lộc Dương, Hoài Viễn,Như Ngao, Hoàng Lam, Tầm Nguyên, Ngao Thị, Trùng Quý, Giang Thanh, GiangHán, Thượng Lạc, Quảng Cư và năm phố, nghĩa là toàn bộ thị xã Lạng Sơn và một

số xã giáp ranh

Từ đầu thế kỉ XX cho đến cách mạng tháng Tám năm 1945, tỉnh lỵ Lạng Sơntách hẳn ra thành cơ quan riêng không chung với phủ lỵ, huyện lỵ Địa bàn tỉnh lỵchính là vị trí thị xã bây giờ (nhưng vẫn chưa hoàn thành đơn vị thị xã, chưa cóchính quyền riêng), phường phố dân cư nằm dưới sự phụ trách của huyện nhưngbóng dáng của một thị xã thì đã được hình thành để dần trở nên rõ rệt, có hai khuvực tự nhiên lấy con sông Kỳ Cùng mà phân biệt Phía Nam được gọi là bên

Trang 38

“Tỉnh”, phía bên bờ Bắc được gọi là “Bên Kỳ Lừa” Bên Tỉnh là tập trung các cơquan cai trị hàng tỉnh: dinh thự, công sở của chính quyền thực dân Pháp và của Namtriều Thành Lạng Sơn là thuộc bên Tỉnh này, trở thành nơi đóng quân của quanbinh Pháp và lính khố đỏ Phía bên Kỳ Lừa là phủ lỵ của phủ Cao Lộc (nay làhuyện) Với đà phát triển đó, tháng 9 năm 1925, thị xã Lạng Sơn được thành lập vàCao Lộc trở thành vành đai bao quanh thị xã

Tháng 8-1939, thực dân Pháp lại ra quyết định đổi một số châu thành phủ,

cả tỉnh Lạng Sơn khi đó có ba phủ bảy châu Lúc này đơn vị phủ tương đương vớichâu, ba phủ khi đó là Tràng Định, Văn Uyên và Cao Lộc

Sau năm 1945, dưới chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, toàn bộ thị xãLạng Sơn thuộc huyện Cao Lộc Huyện Cao Lộc gồm có 17 đơn vị hành chính, gồmthị xã Lạng Sơn và 16 xã: Tân Thành, Xuân Lăng, Quảng Lạc, Mai Pha, Yên Trạch,Tân Liên, Gia Cát, Hợp Thành, Mẫu Sơn, Xuất Lễ, Cao Lâu, Hải Yến, Lộc Yên,Hòa Cư, Thạch Đạn và Thanh Lòa Thị xã Lạng Sơn lúc này có 8 đơn vị hànhchính: 5 phường, 3 xã

1 Các phường Vĩnh Trại, phường Đông Kinh, phường Hoàng Văn Thụ, Phường TamThanh, phường Chi Lăng

2 Các xã Quảng Lạc, Mai Pha, Hoàng Đồng [113; tr811]

2.3.2 Quy hoạch kiến trúc.

Từ đầu thế kỉ XX cho đến cách mạng tháng Tám năm 1945: tỉnh lỵ Lạng

Sơn tách ra thành cơ quan riêng, không chung với phủ lỵ, huyện lỵ, địa bàn tỉnh lịnhưng vẫn chưa hình thành đơn vị thị xã và chưa có chính quyền riêng, phường phốdân cư nằm dưới sự phụ trách của huyện Sau khi ra Nghị định về việc thành lập thị

xã Lạng Sơn là trung tâm đô thị của tỉnh Lạng Sơn, thực dân Pháp đã quy hoạch vàchia thị xã làm hai khu vực (đến nay người dân vẫn quen gọi như vậy) là khu “bêntỉnh”, tại đây thực dân Pháp đã cho xây dựng các trụ sở hành chính như: Tòa Công

sứ (nay là trụ sở Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn, nằm sát bên sông Kỳ Cùng), Tòa

án trị an, Tòa án người bản xứ đệ nhị cấp và các cơ quan hành chính sự vụ khác:gồm Chỉ huy khu quân sự, Y tế, Thường chính hải quan, cơ quan An ninh, Kho bạc,Công chính, Hội truyền giáo, Công giáo và Đạo tin lành, trại Hiến binh và Sở giáodục, một bệnh viện cho người bản xứ, một cho quân đội và một sân bay ở Mai Pha,thành Lạng Sơn và bên “Kỳ Lừa” ở phía Bắc là trung tâm kinh tế, châu lị Cao Lộc

và nơi đóng quân của lính khố xanh [67; tr2]

Theo tài liệu A.s créations des communes aux centres urbains de That Khe et Lang Son (Lang Son) [151; tr21] Việc thành lập các xã ở trung tâm đô thị Thất Khê

và Lạng Sơn ngày 6/8/1925, ranh giới của trung tâm đô thị Lạng Sơn đã được xácđịnh do Nghị định ngày 15/6/1918, đô thị Lạng Sơn sẽ bao gồm không những

"thành phố và nông thôn" mà còn có một phần thôn quê với những tập thể ngườiViệt, người Thổ và người Nùng Trong thị xã sẽ có các bất động sản thuộc vào đất

Trang 39

đai của thuộc địa và của địa phương (Chính phủ bảo hộ Bắc Bộ), nhưng tất cả cácbất động sản này sẽ được đăng kí vào danh bạ Địa bạ và sổ tên mảnh đất ở khu vựcngười An và khu Kỳ Lừa mà đa phần đất đai nằm trong đó đã được một cơ quan có

đủ thẩm quyền vẽ bản đồ Còn các bất động sản khác nằm trong đô thị là tư hữu tàisản hoặc tài sản của làng Vĩnh Trại được sáp nhập hoàn toàn trong ranh giới củatrung tâm đô thị, hay các xã lân cận thì chỉ có một phần đất đai tham gia vào việcquy hoạch đô thị mới Không có một bất động sản nào ở ngoài ranh giới của trungtâm đô thị được sáp nhập vào đô thị mới

Việc xây dựng và vận hành bộ máy quản lí đô thị cũng được đặt ra, trong đó

tổ chức hành chính được thiết lập, đề cử tộc biểu cho tiến hành từng phường mộttrong khu vực đô thị Ở vùng nông thôn, bầu cử sẽ tiến hành cho từng dân tộc một:người Kinh, người Thổ và người Nùng; họ sẽ bầu tộc biểu của họ với số lượng tỉ lệvới tầm quan trọng của từng tuyển cử đoàn Các phó lí được thay thế bằng cáctrưởng phường hay trưởng khu, chịu trách nhiệm giữ gìn trật tự an ninh dưới sựkiểm soát của ông Cẩm (trưởng đồn cảnh sát) Về ngân sách sẽ có một Hội đồngquản trị có nhiệm cụ nghiên cứu ngân sách cho đô thị [159; tr22]

Năm 1928, thành phố Lạng Sơn được quy hoạch mở rộng hơn so với trước,

trong A.s agrandissement du centre urbain de la province de Lang Son (1913-1928)

(Quyết định số 1157, về việc mở rộng trung tâm đô thị tỉnh Lạng Sơn năm 1928) có nêu rõ [156], phía Bắc được giới hạn bởi rìa phía Bắc của làng Kỳ Lừa;phía Đông được giới hạn bởi rìa phía Đông của các làng Kỳ Lừa, Phố Muối và sông

1913-Kỳ Cùng; phía Nam được giới hạn bởi đường xuyên qua sông 1913-Kỳ Cùng theo đườngchéo và chạy từ phía Đông sang phía Tây của núi Vanméou nằm trong bốt Vanméou

và hướng về điểm cách khúc quanh của đường chạy quanh pháo đài 100m; Phía Tâyđược giới hạn bởi đường thẳng được đánh dấu bởi các góc phía Tây Bắc của nghĩatrang và lò mỏ, sông Kỳ Cùng và một đường thẳng khác được đánh dấu bởi gócĐông Bắc của mô biên cầu đường sắt (bờ phải sông Kỳ Cùng và góc Tây Bắc củalàng Kỳ Lừa) Xung quanh trấn thành Lạng Sơn như phố chợ Kỳ Lừa, phố ĐườngThành, phố Cửa Nam, Phố Cửa Đông và một số vùng ven đô thị cũng được cho xâydựng và mở mang thêm, các khu phố là nơi ở của các quan lại của người Việt vàngười Pháp, của trí thức, tư sản và tiểu tư sản cùng các tầng lớp bình dân khác sinhsống và buôn bán [156; tr4]

Thành Lạng Sơn hay còn gọi là Đoàn thành (nay ở phường Chi Lăng, thànhphố Lạng Sơn): Đoàn thành được xây dựng từ trước đã được Pháp gia cố, tu sửa lạilàm nơi đóng quân của vài ngàn sĩ quan, binh lính người Pháp và lính khố đỏ (línhngụy) người Việt, bốn bề có tường thành khá dày và cao, trong và ngoài chân tường

có hào sâu và dây thép gai, bốn góc có công sự kiên cố, bên trong công sự có thể đặtđại liên bắn qua các lỗ châu mai Thành có một cổng phía Bắc, một cổng phía Nam,

trong thành có nhiều nhà ở, hầm ngầm, kho tàng Trong “Notice sur La province de

Trang 40

Lang Son (tiểu dẫn về Lạng Sơn)” [175] có ghi chép “Thị xã Lạng Sơn là tỉnh lỵ

cuả tỉnh Lạng Sơn, trụ sở của quân khu 12, có thành trì bao bọc xây bằng gạch,tường thành cao 3m, chu vi 120m Hai pháo đài, thành trì được xây dựng thành cứđiểm phòng ngự vị trí Vì địa thế, thành phố này không thể mở rộng thêm, nhưng nóchiếm một vị trí chiến lược quan trọng đối với giao điểm của các con đường lưỡngquảng và đường quan lộ [175; tr4]

Bên cạnh đó, việc xây dựng các cơ sở hạ tầng phục vụ cho việc khai tháccũng được tiến hành như cầu đường, nhà dây thép (nhà bưu điện), nhà máy đèn, nhà

ga, sở lục lộ (sở giao thông), nhà thờ gia tô ở cửa Nam và nhà thờ gia tô Mỹ Sơn…Đến chiến tranh thế giới thứ hai (1939), Pháp còn cho xây dựng một hệ thống tăngcường phòng thủ như đồn bốt, công sự, pháo đài, như pháo đài Tổ Sơn, Đèo Giang.Năm 1942, Pháp cho thiết lập thêm 2 đại lộ trong thị xã Lạng Sơn, một con đườngđược gọi là phố Đại úy Brusseaux và phố Vi Văn Lý [157; tr2] Để đáp ứng yêu cầucủa tầng lớp thượng lưu và người Pháp, khắp đô thị Lạng Sơn còn mọc lên nhiềutiệm ăn, tiệm nhảy, sòng bạc Tại thị xã lúc ấy có hai sòng bạc lớn, chủ sòng bạcđều là người Hoa; một ở bên Tỉnh (phố Cửa Bắc) và một bên Kỳ Lừa Đây là haisòng bạc nổi tiếng thời bấy giờ, có thể thu hút cả những con bạc ở Hà Bắc, HảiPhòng, Hà Nội, Nam Định

Việc mở những trung tâm hành chính, trụ sở của chính quyền, các khu phốchợ, trung tâm buôn bán chủ yếu là tập trung bên “tỉnh” cũng được quy hoạch vàxây dựng theo kiến trúc phương Tây đã làm thay đổi diện mạo thị xã Lạng Sơncũng như chức năng đô thị tại đây Sau khi thiết lập thị xã Lạng Sơn, số lượng người

Âu ở đây ngày càng tăng (trong đó có cả quan lại và binh lính), sự xuất hiện của các

cơ quan, các công trình dân dụng, nhà thờ ki tô giáo, biệt thự; nhà ở của các côngchức người Việt và Pháp làm việc trong các công ty, nhà máy, xí nghiệp của Pháp…mang đặc trưng kiến trúc biệt thự Pháp, được thiết kế trên một diện tích đất rộng,kiến trúc chọn gam màu trắng đặc trưng của phong cách cổ điển Pháp Dọc theo cáctuyến phố là nhà cửa được xây dựng khang trang với những tòa nhà hai, ba tầng vànhững dãy nhà xây gạch san sát nhau như phố chợ Kỳ Lừa, phố cửa Đông….vừa lànhà ở và cửa hàng buôn bán Các phố chợ, một nét đặc trưng của kinh tế ở xứ Lạngđược thành lập, trong đó sầm uất nhất, nơi buôn bán chủ yếu giữa các thương nhânHoa kiều, người Việt và thời kì này có thêm thương nhân người Pháp, chủ yếu là ởchợ Kỳ Lừa và các phố xá quanh chợ

Chợ Kỳ Lừa là chợ mang tính chất quốc tế, phố chợ Kỳ Lừa vẫn là trung tâmbuôn bán chính của thị xã Lạng Sơn thời kì này đã được tu bổ lại; tính đến năm

1943, Pháp đã chi cho việc tu bổ lại chợ Kỳ Lừa như xây dựng một quán chợ mới,mắc điện nước là 45.000đ [176; tr10] Vốn là một địa điểm được thương nhân trong

và ngoài nước lựa chọn làm nơi trao đổi buôn bán, ngoài 7 đường phố chính đó lànhững đường phố nằm xung quanh chợ Kỳ Lừa cũ, bao gồm Chính Cai, Tây Cai,

Ngày đăng: 18/11/2018, 14:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (2016), Đất nước Việt Nam qua các đời, Nxb Hồng Đức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất nước Việt Nam qua các đời
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Hồng Đức
Năm: 2016
2. Nguyễn Thế Anh (2015), Việt Nam thời Pháp đô hộ, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam thời Pháp đô hộ
Tác giả: Nguyễn Thế Anh
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2015
3. Nguyễn Đăng Ân, Vương Đắc Huy (1997), Chương trình hệ thống hóa và nghiên cứu lịch sử Lạng Sơn, Đề tài nghiên cứu cấp tỉnh, Lưu tại Thư viện tỉnh Lạng sơn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình hệ thống hóa vànghiên cứu lịch sử Lạng Sơn
Tác giả: Nguyễn Đăng Ân, Vương Đắc Huy
Năm: 1997
4. Ban Tuyên giáo Thị ủy Lạng Sơn (1990), Lịch sử Đảng bộ thị xã Lạng Sơn (1930 - 1954), Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ thị xã Lạng Sơn(1930 - 1954)
Tác giả: Ban Tuyên giáo Thị ủy Lạng Sơn
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 1990
5. Ban Tuyên giáo Thị ủy Lạng Sơn (1996), Lịch sử Đảng bộ thị xã Lạng Sơn (1955 - 1985), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ thị xã Lạng Sơn(1955 - 1985)
Tác giả: Ban Tuyên giáo Thị ủy Lạng Sơn
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
6. Ban chấp hành Đảng bộ thành phố Lạng Sơn (2010), Lịch sử Đảng thành phố Lạng Sơn (1986-2005), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng thành phốLạng Sơn (1986-2005)
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ thành phố Lạng Sơn
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2010
7. Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn (1996), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn (1955-1985), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ tỉnh LạngSơn (1955-1985)
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
8. Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn (2000), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn 1986-2000, Giấy phép xuất bản số: 21 GP/STTTT, do sở thông tin và truyền thông tỉnh Lạng Sơn cấp tháng 7-2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ tỉnh LạngSơn 1986-2000
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn
Năm: 2000
9. Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn (2002), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn từ Đại hội đến Đại hội, nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ tỉnh LạngSơn từ Đại hội đến Đại hội
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn
Nhà XB: nhà xuất bản chính trị quốc gia
Năm: 2002
10. Ban chấp hành Hội liên hiệp phụ nữ Lạng Sơn (1991), Lịch sử phong trào phụ nữ Lạng Sơn, Lưu tại Hội liên hiệp phụ nữ tỉnh Lạng Sơn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử phong trào phụnữ Lạng Sơn
Tác giả: Ban chấp hành Hội liên hiệp phụ nữ Lạng Sơn
Năm: 1991
11. Ban chấp hành quân sự tỉnh Lạng Sơn (1995), Lạng Sơn lịch sử kháng chiến chống Mĩ cứu nước (1954 - 1975), Lưu tại Thư viện tỉnh Lạng Sơn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lạng Sơn lịch sử kháng chiếnchống Mĩ cứu nước (1954 - 1975)
Tác giả: Ban chấp hành quân sự tỉnh Lạng Sơn
Năm: 1995
12. Ban chấp hành trung ương - Ban kinh tế (1999), Báo cáo tổng kết tình hình giao lưu kinh tế với bên ngoài qua các cửa khẩu phía Bắc, Tây, Tây Nam và phương hướng phát triển quan hệ kinh tế với các nước láng giềng, Lưu trữ tại Sở Thương mại và Du lịch tỉnh Lạng Sơn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết tình hìnhgiao lưu kinh tế với bên ngoài qua các cửa khẩu phía Bắc, Tây, Tây Nam vàphương hướng phát triển quan hệ kinh tế với các nước láng giềng, L
Tác giả: Ban chấp hành trung ương - Ban kinh tế
Năm: 1999
13. Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Việt Nam (2015), Báo cáo tổng kết một số vấn đề lí luận - thực tiễn qua 30 năm đổi mới (1986 - 2016), Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kếtmột số vấn đề lí luận - thực tiễn qua 30 năm đổi mới (1986 - 2016)
Tác giả: Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NxbChính trị Quốc gia - Sự thật
Năm: 2015
14. Ban Thường vụ tỉnh đoàn Lạng Sơn (1996), Lịch sử đoàn thanh niên tỉnh Lạng Sơn, Lưu tại Thư viện tỉnh Lạng Sơn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử đoàn thanh niên tỉnhLạng Sơn
Tác giả: Ban Thường vụ tỉnh đoàn Lạng Sơn
Năm: 1996
15. Ban tuyên giáo tỉnh ủy Lạng Sơn (1998), Lịch sử đảng bộ tỉnh Lạng Sơn (1930-1954), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử đảng bộ tỉnh Lạng Sơn(1930-1954)
Tác giả: Ban tuyên giáo tỉnh ủy Lạng Sơn
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1998
16. Đỗ Bang (chủ biên) (2014), Đô thị Thừa Thiên Huế, tiến trình phát triển và giải pháp quy hoạch, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đô thị Thừa Thiên Huế, tiến trình phát triển vàgiải pháp quy hoạch
Tác giả: Đỗ Bang (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật
Năm: 2014
17. Bảo tàng tổng hợp tỉnh Lạng Sơn (1996), Xứ Lạng di tích và danh thắng, Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xứ Lạng di tích và danh thắng
Tác giả: Bảo tàng tổng hợp tỉnh Lạng Sơn
Nhà XB: NxbVăn hoá dân tộc
Năm: 1996
18. Bảo tàng tổng hợp tỉnh Lạng Sơn (1998), Lí lịch di tích thành cổ Lạng Sơn, Lưu trữ tại Ban quản lí di tích tỉnh Lạng Sơn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí lịch di tích thành cổ Lạng Sơn
Tác giả: Bảo tàng tổng hợp tỉnh Lạng Sơn
Năm: 1998
19. Nguyễn Duy Bắc (1998), Truyện cổ xứ Lạng, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện cổ xứ Lạng
Tác giả: Nguyễn Duy Bắc
Nhà XB: Nxb Văn hóa Dân tộc
Năm: 1998
20. Phan Xuân Biên (2015), Xây dựng văn hóa đô thị trong quá trình đô thị hóa ở thành phố Hồ Chí Minh, Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng văn hóa đô thị trong quá trình đô thị hóa ởthành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Phan Xuân Biên
Nhà XB: Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2015

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w