HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM SULASENG BUNVILAYSON NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC MỘT SỐ GIỐNG THANH LONG VÀ LIỀU LƯỢNG PHÂN KALI ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG QUẢ THANH LONG RUỘT ĐỎ T
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
SULASENG BUNVILAYSON
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC MỘT SỐ GIỐNG THANH LONG VÀ LIỀU LƯỢNG PHÂN KALI ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG QUẢ THANH LONG
RUỘT ĐỎ TL4 TẠI GIA LÂM - HÀ NỘI
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo
vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
SULASENG BUNVILAYSON
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn
bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết
ơn sâu sắc TS.Nguyễn Quốc Hùng (Viện Nghiên cứu Rau quả) và TS.Vũ Thanh Hải
(Học viện Nông nghiệp Việt Nam) đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Rau hoa Quả, Khoa Nông Học - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức trong Viện nghiên
Rau Quả, nhất là ThS Nguyễn Thị Thu Hương đã giúp đỡ và tạo điều kiện về thời
gian, cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Học viên
SULASENG BUNVILAYSON
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các chữ viết tắt v
Danh mục bảng vi
Danh mục đồ thị vii
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 3
1.2.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài 3
1.2.2 Yều cầu của đề tài 3
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4
Phần 2 Tổng quan tài liệu 5
2.1 Một số đặc điểm của cây thanh long 5
2.2 Một số nghiên cứu về giống và chọn tạo giống thanh long 7
2.2.1 Một số nghiên cứu về giống trên thế giới 7
2.2.2 Một số nghiên cứu về chọn tạo giống 8
2.3 Một số giống thanh long được trồng phổ biến ở Việt Nam 9
2.4 Nghiên cứu khả năng đậu quả một số thanh long trồng tại miền Bắc 11
2.5 Một số kết quả nghiên cứu về giống thanh long cho năng suất trồng tại miền Bắc 11
2.6 Một số đặc điểm thực vật học của cây thanh long 12
2.7 Yêu cầu sinh thái của cây thanh long 15
2.8 Một số nghiên cứu về dinh dưỡng cho cây thanh long 16
2.9 Một số nghiên cứu phân bón kali đối với cây thanh long trên thế giới và Việt Nam 17
2.9.1 Những nghiên cứu trên thế giới về phân kali trên cây thanh long 17
2.9.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam về phân kali trên cây thanh long 17
2.9.3 Vai trò phân bón kali đối với thanh long 17
Trang 5Phần 3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 21
3.1 Vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu 21
3.2 Nội đung nghiên cứu 21
3.3 Phương pháp nghiên cứu 22
3.3.1 Bố trí thí nghiệm 22
3.3.2 Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 23
3.3.3 Phương pháp xử lý số liệu 25
Phần 4 Kết quả và thảo luận 26
4.1 Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của 4 giống thanh long tại Gia Lâm -Hà Nội 26
4.1.1 Khả năng sinh trưởng, phát triển của lộc mới các giống thanh long
thí nghiệm 26
4.1.2 Khả năng ra hoa, đậu quả của một số giống thanh long thí nghiệm 31
4.1.3 Yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống thanh long thí nghiệm 32
4.1.4 Một số chỉ tiêu chất lượng quả của một số giống thanh long thí nghiệm 34
4.1.5 Tình hình nhiễm sâu bệnh hại ở một số giống thanh long trồng
Gia Lâm - Hà Nội 38
4.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của một số liều lượng phân kaliclorua đến khả năng sinh trưởng của giống thang long ruột đỏ TL4 39
4.2.1 Ảnh hưởng của một số liều lượng phân kaliclorua đến khả năng sinh trưởng lộc của giống thang long ruột đỏ TL4 40
4.2.2 Ảnh hưởng của một số liều lượng phân kaliclorua đến khả năng ra hoa, đậu quả và năng suất của giống thang long ruột đỏ TL4 43
4.2.3 Ảnh hưởng của một số liều lượng phân kaliclorua đến khả năng ra hoa, đậu quả và năng suất của giống thanh long ruột TL4 44
4.2.4 Ảnh hưởng của một số liều lượng phân kaliclorua đến khả năng ra hoa, đậu quả và năng suất của giống thanh long ruột TL4 46
Phần 5 Kết luận và đề nghị 52
5.1 Kết luận 52
5.2 Đề nghị 52
Tài liệu tham khảo 53
Phụ lục 57
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Phân loại một số cây lấy quả thuộc họ xương rồng 6
Bảng 2.2 Lượng phân bón cho một trụ thanh long ruột đỏ trong năm 16
Bảng 4.1 Thời điểm xuất hiện lộc ở các giống thanh long thí nghiệm 26
Bảng 4.2 Động thái tăng chiều dài lộc các giống thanh long thí nghiệm 28
Bảng 4.3 Động thái tăng đường kính lộc các giống thanh long thí nghiệm 29
Bảng 4.4 Thời gian ra hoa, đậu quả của các giống thanh long thí nghiệm 31
Bảng 4.5 Một số yếu tố cấu thành năng suất và năng suất các giống thanh long thí nghiệm 32
Bảng 4.6 Một số đặc điểm đánh giá quả ở các giống thanh long thí nghiệm 35
Bảng 4.7 Một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng quả các giống thanh long 37
Bảng 4.8 Một số sâu bệnh gây hại ở các giống thanh long thí nghiệm 38
Bảng 4.9 Ảnh hưởng của liều lượng phân kali clorua đến số lộc/trụ của giống thanh long ruột đỏ TL4 39
Bảng 4.10 Ảnh hưởng của liều lượng phân kaliclorua đến chỉ tiêu về chiều dài lộc của giống thanh long ruột đỏ TL4 40
Bảng 4.11 Ảnh hưởng của liều lượng phân kaliclorua đến chỉ tiêu về đường kính lộc của giống thanh long ruột đỏ TL4 42
Bảng 4.12 Ảnh hưởng của liều lượng phân kaliclorua đến thời gian ra hoa của giống thanh long ruột đỏ TL4 43
Bảng 4.13 Ảnh hưởng của một số liều lượng phân kaliclorua đến đặc điểm quả của giống thanh long ruột đỏ TL4 45
Bảng 4.14 Ảnh hưởng của một số liều lượng phân kaliclorua đến yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống thanh long ruột TL4 46
Bảng 4.15 Ảnh hưởng của một số liều lượng phân kaliclorua đến một số chỉ tiêu sinh hóa ở quả thanh long ruột đỏ TL4 49
Bảng 4.16 Ảnh hưởng của một số liều lượng phân kaliclorua đến tỷ lệ các cấp quả giống thanh long ruột đỏ TL4 50
Bảng 4.17 Tính toán lợi nhuận khi bón phân kaliclorua ở các công thức 51
Trang 8DANH MỤC ĐỒ THỊ
Đồ thị 4.1 Năng suất thực thu của các giống thanh long thí nghiệm 33
Đồ thị 4.2 Chiều dài lộc ở các công thức bón kaliclorua khác nhau 41
Đồ thị 4.3 Tổng số hoa/trụ ở các công thức với liều lượng phân kaliclorua khác
nhau 44
Đồ thị 4.4 Năng suất thực thu của các công thức liều lượng phân kaliclorua 48
Trang 9TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: SULASENG BUNVILAYSON
Tên luận văn:“Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học một số giống thanh long và liều
lượng phân kali đến năng suất chất lượng quả thanh long ruột đỏ TL4 tại Gia Lâm - Hà
Nội”
Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Nghiên đặc điểm nông sinh học của 4 giống thanh long trồng tại Gia Lâm - Hà Nội
- Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân kali đến khả năng ra hoa, đậu quả, năng suất và chất lượng của giống thanh long TL4
Nội dung và phương pháp nghiên cứu
- Thí nghiệm 1: Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của 4 giống thanh long
tại Gia Lâm - Hà Nội Khảo sát đặc điểm của một số giống thanh long trồng ở Gia Lâm - Hà Nội, theo dõi trên 4 giống: trên vườn thí nghiệm của Viện nghiên cứu Rau quả Thí nghiệm theo dõi mỗi giống 10 trụ, bố trí tuần tự không nhắc lại Mỗi giống tương ứng với 1 công thức Đánh giá đặc điểm nông sinh học, chất lượng của các
giống thanh long Bố trí thí nghiệm theo phương pháp khảo sát không nhắc lại
- Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của một số liều lượng phân kaliclorua
đến khả năng sinh trưởng, khả năng ra hoa đậu quả, năng suất và chất lượng quả của giống thanh long ruột đỏ TL4 Thời gian thí nghiệm tháng 7 năm 2015 - tháng 9 năm
2016
Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ trên vườn thanh long trồng sẵn, gồm 7 công thức, mỗi công thức 6 trụ với 3 lần nhắc lại
Các chỉ tiêu theo dõi :
Theo dõi thời gian hình thành từng đợt lộc
số đợt lộc xuất hiện trong năm (đợt)
Tổng số lộc xuất hiện/trụ (lộc)
Động thái tăng trưởng chiều dài cành
Thời gian từ xuất hiện lộc đến khi lộc thành thục
Trang 10Thời gian từ khi lộc thành thục đến khi ra hoa
Đánh giá giống chế độ phân bón:
• Thời gian từ bắt đầu xuất hiện nụ đến khi nở hoa
• Thời gian từ nở hoa đến khi thụ hoạch
• Số hoa/ trụ/ đợt (hoa)
• Số đợt hoa/ vụ (đợt)
• Tỷ lệ đậu quả ban đầu (%)
• Số quả trước khi thu hoạch
• Tỷ lệ cấp quả khi thu hoạch trên một công thức
• Khối lượng trung bình quả ở các đợt
Kết quả chính và kết luận
1.Giống thanh long TL4 và LĐ1 có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt trong điều kiện Gia Lâm - Hà Nội, đạt năng suất cao19,13 kg/trụ và 18,09 kg/trụ, đồng thời có chất lượng quả tốt, vượt trội so với hai giống ĐL3 và VP5
2 Công thức phân bón 660 kg K 2 O + 500kg N + 80kg P 2 O 5 + 3 tấn phân hữu cơ
vi sinh/ha (tương ứng mức bón 360 kg K 2 O/ha + nền) cho thanh long TL4 tại Gia Lâm -
Hà Nội, cho năng suất và chất lượng vượt trội so với các công thức khác.Tỷ lệ đậu quả,
số quả/trụ trước thu hoạch, khối lượng quả, năng suất thực thu cũng như độ brix đều đạt cao, lần lượt là 75,71%; 70,8 (quả/trụ); 415,0 (g/quả); 27,6 (kg/trụ) và 18,30°Bx
Trang 11THESIS ASBTRACT PhD candidate: SULASENG BUNVILAYSON
Thesis title: Research characteristics of biological agriculture some varieties of dragon and
potassium doses on yield and quality of red flesh dragon fruit TL4 in Gia Lam - Hanoi
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)
Materials and Methods
- Experiment 1: Study of agricultural biological characteristics of four varieties of dragon in Gia Lam - Hanoi Survey characteristics of some varieties grown dragon in Gia Lam district, track on 4 varieties: experiments on garden vegetables Institute Laboratory monitoring each breed 10 office, not arranged sequentially repeated Each corresponding
to one same formula Spot evaluate biological agriculture, the quality of these varieties of dragon Laboratory layout survey method is not repeated
- Experiment 2: study the effects of a dose of fertilizer muriate to the growth, flowering and fruit setting ability, fruit yield and quality of red flesh dragon fruit varieties TL4 Experimental period July 2015 - September 2016
The experiment was arranged in randomized complete block on the garden ready to plant dragon fruit, including 7 recipes, each recipe 6 cylinder with 3 replicates
The monitoring indicators:
- Time Tracking intermittent forming buds
- Number of buds appear in five (round)
- Total buds appear / head (buds)
- The move stems length growth
- The time from when buds appear buds to mature
- The time from when the buds mature until flowering
Trang 12Assessment seed fertilizer regime:
- Time from start appearing until the bloom buds
- The time from flowering to harvest
- Number of flowers / head / round (flower)
- The round flowers / services (Batch)
- Percentage of initial fruiting (%)
- The result before harvest
- Percentage of fruit at harvest levels on a formula
- The average volume in the session results
Main findings and conclusions
1 Dragon fruit trees TL4 and LD1 likely to grow, thrive in conditions of Gia Lam - Hanoi, high yield 19,13 kg/pillars and 18,09 kg/pillars, and have good fruit quality, exceeding much better than the two varieties DL3 and VP5
2 Treatment 660 kg K 2 O fertilizer + 500kgN fertilizer + 80kg P 2 O 5 fertilizer+ 3 tons
of organic micro / ha (360 kg respectively at K 2 O fertilizer / ha + background) for Dragon fruit trees TL4 in Gia Lam - Hanoi for productivity and superior quality compared to the other Treatment.Percentage fruiting, the fruit/pillars before harvest, fruit volume, revenue and yield are reaching high brix, 75.71% respectively; 70.8 (fruit/pillars); 415.0 (g/fruit); 27.6 (kg / pillars) and 18.30°Bx
Trang 13PHẦN 1 MỞ DẦU 1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Cây thanh long (Hylocereus undatus Haw) thuộc họ Xương rồng (Cactaceae) có nguồn gốc ở khu vực Trung và Bắc Mỹ Theo nhiều tài liệu
cây thanh long được người Pháp nhập vào Việt Nam cách đây khoảng một trăm năm, ban đầu cây thanh long chỉ được trồng với số lượng ít để phục vụ cho vua chúa và sau đó là cho các gia đình quý tộc và để thờ cúng ở các đền chùa (Trương Thị Đẹp, 2000; Vũ Công Hậu,1996) Thanh long thực sự được trồng rộng rãi và phát triển thành hàng hoá từ năm 1989 - 1990 trở lại đây, từ khi quả thanh long được xuất khẩu sang các nước như Nhật Bản, Hồng Kông, Trung Quốc, Singapore và Châu Âu
Cây thanh long là một trong những cây ăn quả mang lại hiệu quả kinh tế cao ở những nơi không chủ động nước của các tỉnh phía nam và phù hợp với phương thức canh tác kinh tế hộ gia đình như hiện nay Cây thanh long sau trồng một năm đã bắt đầu cho quả, thời gian cho quả kéo dài từ 6 - 7 tháng trong năm
và chia ra thành nhiều đợt quả, hạn chế hiện tượng quả bị ế đọng trong mùa vụ Quả thanh long có giá trị dinh dưỡng rất cao và khác hẳn với thành phần dinh dưỡng của các loại qủa khác Hàm lượng dinh dưỡng có trong 100g thịt quả thanh long ruột trắng là tổng hàm lượng chất rắn hoà tan: 13%; đường khử: 6,1g; đường tổng số: 11,5g; acid hữu cơ: 0,13g; protein: 0,53g; K20: 212,2mg; P205: 8,7mg; Ca: 134,5mg; Mg: 60,4mg; VitaminC: 9,4mg và chất xơ là 0,71g (Nguyễn Văn Kế, 1998)
Ngoài tác dụng ăn tươi, quả thanh long còn có giá trị cao trong y học như thịt quả thanh long có tác dụng chữa bệnh thiếu máu, huyết áp cao và xuất huyết não Thịt quả thanh long ruột vàng có chứa hàm lượng chất captin cao, người ta chiết xuất để làm thuốc trợ tim Hoa thanh long đem sắc lấy nước uống chữa bệnh ho Vỏ quả đợc chiết xuất lấy màu đỏ tự nhiên dùng trong chế biến công nghiệp thực phẩm (Nguyễn Kim Vũ và cs., 2001) Thân cành thanh long chữa bệnh thần kinh toạ và có thể là nguồn thức ăn cho gia súc ở những nơi khô hạn,
cỏ không thể mọc được Quả thanh long ăn vị ngọt mát, nên rất hấp dẫn thị hiếu người Việt Nam cũng như người nước ngoài Ngoài việc dùng để ăn tuơi,
Trang 14thịt quả còn sử dụng để chế biến Ở Malaysia, thịt quả dùng trộn salad, làm sirô, rượu, nước quả, mứt Hoa thanh long để nấu súp, ướp chè
Thanh long là một loại cây rất dễ trồng, có thể sinh trưởng, phát triển trên mọi loại đất nhưng để góp phần tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, ngoài việc mở rộng diện tích thì vấn đề tăng cường về giống, biện pháp kĩ thuật là vô cùng quan trọng
Giống thanh long ruột đỏ được Viện Nghiên cứu Nông nghiệp Đài Loan tạo ra bằng phương pháp lai hữu tính, giữa giống thanh long ruột trắng 1 và một giống thanh long của Mêhicô Kể từ khi giống này được ra đời đã thay thế dần giống thanh long ruột trắng và hiện tại ở Đài Loan giống thanh long ruột trắng còn trồng không đáng kể Giống thanh long ruột đỏ được một số chuyên gia nông nghiệp Đài Loan đưa sang trồng ở đảo Hải Nam - Trung Quốc từ năm 1996 -
1997 và giống này đang được phát triển rất tốt ở một số trang trại liên doanh giữa Trung Quốc - Đài Loan tại đảo Hải Nam Đặc điểm của giống này là cho quả có hình thức cũng như chất lượng hơn hẳn quả thanh long ruột trắng Quả khi thu hoạch có khối lượng từ 300 - 400g, vỏ màu đỏ và thịt quả màu đỏ thẫm Thịt quả
ăn ngọt trung bình đạt 18 - 20% tổng chất rắn hoà tan, không có vị ngái Nhờ thịt quả có màu đỏ thẫm tự nhiên, những quả không có khả năng bán để ăn tươi có thể sử dụng làm nguyên liệu chế biến rượu vang để cho ra loại rượu có màu rất hấp dẫn Hàm lượng dinh dưỡng có trong 100g thịt quả thanh long ruột đỏ thuỷ phần: 82,5 - 83g; chất béo: 0,21 - 0,61g; Protein: 0,159 - 0.229g; chất xơ: 0,7 - 0,65 mg; Vitamin C: 8 - 9 mg; Vitamin B1: 0,028 - 0,043 mg; Vitamin B2: 0,043
- 0,045 mg; Vitamin B3: 0,297- 0,43 mg; tro: 0,28 g và chất khác là 0,54 - 0,68 g (Lâm Minh Bồng,1999)
Năm 2001, giống thanh long ruột đỏ lần đầu tiên được Viện nghiên cứu Rau quả đem về trồng thử nghiệm tại Viện và một số vùng miền Bắc Việt Nam như Hà Tây, Hưng Yên, Nghệ An Tính đến năm 2015 diện tích trồng thanh long tại Việt Nam đã gần 30.000 ha với sản lượng đạt 580.000 tấn Mặc dù, thanh long ruột đỏ chỉ chiếm khoảng 20% về diện tích nhưng đã đem lại hiệu quả kinh
tế cao hơn nhiều so với thanh long ruột trắng vì các giống thanh long ruột đỏ có những ưu thế cho năng suất và chất lượng cao hơn Vì vậy việc sản xuất thử để đánh giá giống và khẳng định tính thích ứng tại một số điều kiện sinh thái một số tỉnh phía Bắc cần những dẫn chứng khoa học cụ thể
Trang 15Bên cạnh đó, việc chăm sóc và bón phân cho thanh long trong những năm qua của người dân còn mang tính tự phát, như bón nhiền phân hóa học không cân đối giữa đạm, lân và kali… dẫn đến năng suất và phẩm chất trái thanh long chưa đạt kết quả cao Đây cũng là một trong những nguyên nhân gây tích lũy nitrate vượt quá tiêu chẩn cho phép Bên cạnh đó Kali là nguyên
tố có ảnh hưởng rất quan trọng đến sự sinh trưởng của cây Kali có vai trò ổn định cấu trúc keo trong huyết tương và không bào của tế bào, giúp tăng cường quá trình Hydrat hóa các cấu trúc huyết tương nâng cao khả năng phân tán nhờ đó mà cây giữ được nước tăng khả năng chống chịu hạn Ngoài ra kali giúp cây tăng cường khả năng tổng hợp vitamin giúp cây tăng cường sức đề kháng chống chịu với nhiều tác nhân gây bệnh Như vậy kali có nhiều chức năng sinh lý quan trọng thông qua tính chất hóa lý của tế bào đóng vai trò quan trọng tới quá trình hô hấp, quang hợp, vận chuyển sản phẩm quang hợp, trao đổi đạm và tổng hợp lipit cho cây
Do đó, việc xác định liều lượng bón phân kali thích hợp một trong những yếu tố cần thiết cho cây thanh long trên mỗi vùng đất cụ thể.Trên cơ sở những
yêu cầu trên đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học một số giống thanh long và liều lượng phân kali đến năng suất và chất lượng quả thanh long ruột
đỏ TL4 tại Gia Lâm - Hà Nội”đã được thực hiện
1.2 MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của 4 giống thanh long trồng tại Gia Lâm - Hà Nội nhằm xác định giống trồng phù hợp
- Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân kali đến khả năng ra hoa, đậu quả, năng suất và chất lượng của giống thanh long TL4
1.2.2 Yều cầu của đề tài
- Đánh giá bốn giống thanh long trồng trong điều kiện Gia Lâm - Hà Nội
về khả năng phát triển các đợt lộc, ra hoa, đậu quả, năng suất và chất lượng quả
- Đánh giá được ảnh hưởng của một số liều lượng phân kali đến khả năng
ra hoa, đậu quả, năng suất và chất lượng của giống thanh long TL4 tại Gia Lâm -
Hà Nội
Trang 161.3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Những kết quả của đề tài sẽ góp phần xây dựng bổ sung các biện pháp kỹ thuật tác động lên cây thanh long ruột đỏ để tăng năng suất cũng như hiệu quả của loại cây trồng này trong điều kiện tự nhiên của vùng đồng bằng như Gia Lâm
- Hà Nội
Đề tài đã xác định được 2 giống thanh long mới là TL4 và LĐ1 có năng suất cao, chất lượng tốt, thích hợp cho vùng Gia Lâm - Hà Nội
Trang 17PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA CÂY THANH LONG
Cây thanh long có tên khoa học là Hylocereus undatus (Haw) Britt and
Rose (Phạm Hoàng Hộ, 1968,1970; Vũ Văn Chuyên,1977; Võ Văn Chi và Dương Đức Tiến,1978) Cây thanh long ngoài tên tiếng Anh phổ thông là Dragon fruit còn có tên như Pitahaya, strawberry Bear(Phạm Hoàng Hộ, 1970;
Barbeau 1990; Nerd etal.,1994) Thanh long thuộc họ cactaceae (xương rồng)
Bộ Cactales lớp Dicotyledonac (song tử diệp),ngành Angiospermae (Hột kín)
Họ xương rồng có từ 50 đến 200 giống và hơn 2000 loài (Mascre and Deysson, 1967; Phạm Hoàng Hộ, 1968; Vũ Văn Chuyên, 1977; Trương Thị Đẹp, 2000; Phan Kim Hồng Phúc, 2002)
Theo Võ Hữu Thoại và Nguyễn Minh Châu dẫn theo Phan Kim Hồng Phúc (2002) cho thấy: Họ xương rồng gồm có 220 giống và trên 1.500 loài, Phân bố từ vĩ tuyến 360 Bắc đến 450 nam; chủ yếu là các vùng nóng và khô của Châu Mỹ như Vùng sa mạc Mêhicô Các cây thuộc họ Cactaceac có lá giảm và có thể không có lá ở cây trưởng thành hoặc chỉ tồn tại dạng vẩy thậm chí lá biến đổi thành gai (Trương Thị Đẹp, 2000; Morton,1987) Một số loài ở vùng nhiệt đới Châu Phi, Madagasaca (Trương Thị Đẹp, 2000) Có khoảng 20 loài trong họ xương rồng, được trồng lấy quả và có một số chi quan trọng như
loài Opuntia, Stenocereus, cereus, selenicereus.Trong loài Opuntia ficus -
Indica (L.) có giống Stenocereus được trồng trong vùng Bắc khô hạn ở Miền
Trung và Miền Nam - Mêhicô Loài Cereus perucianus (L) millere được biết
đến như cây cảnh trong vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, gần đây được trồng ở
Israel và Miền Nam - California để lấy quả (Nerd et al.,1994) Theo Mazrahi (1996), loài Selenicereus được trồng với diện tích lớn ở Colombia và
Hylocereus undatus trồng ở Việt Nam với quy mô lớn
Theo Võ Hữu Thoại (1999), cho rằng một số cây lấy quả thuộc họ xương rồng như sau:
Trang 18Bảng 2.1 Phân loại một số cây lấy quả thuộc họ xương rồng
1 Opuntia
O.ficus-indica (L)
Miller Tuna, prickly or cactus pear
Thân phẳng có nhiều đoạn khúc khửyu, dạng bụi
Qủa nặng 100 -200g, hình bầu dục Màu sắc vỏvà thịt quả thay đổi rất khác nhau từ xanh, vàng đến đỏ Vỏ quả có nhiều lông
O.amylaea Tenore Tuna, prickly or cactus pear
Thân phẳng có nhiều đọan khúc khửyu, dạng bụi
Thân có nhiều gai
Quả nặng 100 - 200g, hình bầu dục Màu sắc
vỏ và thịt quả thay đổi rất khác nhau từ xanh, vàng đến đỏ.Vỏ quả có nhiều lông
2 Stenocereus
S.griseus (Howarth)
Buxbaum Pitaya de Mayo
Thân thẳng đứng mọc bụi hoặc dạng cây nhỏ
Quả hình cầu trọng lượng 100 - 200g, vỏ có nhiều gai, thịt quả màu vàng đến đỏ
S.queretaroensis
(Weber) Busbaum
Pitaya de Quertaro
Thân thẳng đứng mọc bụi hoặc dạng cây nhỏ
Quả hình cầu trọng lượng 100 - 200g, vỏ có nhiều gai, thịt quả màu trắng, vàng, đỏ tía đến
đỏ thẫm
S.stellatus (Pfeiffier)
Riccobobo
Pitaya de Augusto
Thân thẳng đứng mọc bụi hoặc dạng cây nhỏ
Quả hình cầu trọng lượng 100 - 200g, vỏ có nhiều gai, thịt quả màu
Thân thẳng đứng mọc bụi hoặc dạng cây nhỏ
Quả bầu dục nặng 300g Vỏ mỏng, màu vàng, tím đến màu đỏ Thịt màu trắng
Thân mảnh, hình tam giác, dạng bò
Quả hình cầu, 300 600g, vỏ màu đỏ sẫm có nhiều vẩy lớn, thịt quả màu đỏ tím
-H.polyhizus (Weber)
Britton & Rose Pitaya, Pitahaya
Thân mảnh, hình tam giác, dạng bò
Quả hình cầu, 300 600g, vỏ màu đỏ sẫm có nhiều vẩy lớn, thịt quả màu đỏ
Trang 19-H.undatus
(Haworth) Britton &
Rose
Pitaya (Pitahaya) roja, red pitaya
Thân mảnh, hình tam giác, dạng bò
Quả hình cầu nặng 300 600g, vỏ màu đỏ sẫm có nhiều vẩy lớn, thịt quả màu trắng
-2.2 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ GIỐNG VÀ CHỌN TẠO GIỐNG THANH LONG
2.2.1 Một số nghiên cứu về giống trên thế giới
Ở Australia có 3 giống chính đó là giống vỏ đỏ ruột trắng, giống vỏ đỏ ruột đỏ và giống vỏ vàng ruột trắng (Fletcher, 1997)
Giống vỏ đỏ ruột trắng (Hyloscerus undatus Britt and Rose) có nguồn gốc
từ rừng nhiệt đới ẩm của miền Trung và miền Bắc Nam Mỹ Trước đây, cây thanh long được coi là loài hoang dại, sử dụng như cây cảnh vì có nhiều hoa và kích thước lớn, có mùi thơm và nở hoa vào ban đêm Hiện nay giống này rất được ưa chuộng trên toàn thế giới đặc biết ở Israel, Việt Nam, Australia…Bởi vì, quả thanh long ăn hấp dẫn, có mùi vị khác biệt so với các loại quả khác Giống này có thân hình tạm giác, ít gai thương cho quả rất to, nặng khoảng 1 kg thậm chí còn cao hơn Vỏ quả có màu đỏ sáng rất đẹp, thịt quả màu trắng đục có nhiều hạt nhỏ màu đen Thời gian từ khi nở hoa đến thụ hoạch khoảng 30 ngày
Giống vỏ đỏ ruột đỏ (Hyloscerus polyrhzus): giống này có thân 3 - 4 cánh
dẹp, nhiều gai, quả nhỏ hơn giống vỏ đỏ ruột trắng thường dưới 1 kg Vỏ màu đỏ thẫm, thịt quả màu đỏ thẫm và nhiều hạt nhỏ mùa đen
Giống vỏ vàng ruột trắng (Selenicereus megalanthus): thân cây gầy hơn
thân cây có hai giống trên, có nhiều gai, nhưng gai to và ngắn Quả nhỏ thường chỉ 200 - 300 g/quả, vỏ quả màu vàng có nhiều gai Thịt quả màu trắng trong, rất nhiều hạt màu đen Quả có chứa hàm lượng đường rất cao (Fletcher,1997; Morton, 1987)
Theo Taiz and Zeiger (2002) thanh long được trồng với các loại khác nhau, thanh long vàng, thanh long vỏ vàng và thịt trắng, được trồng với diện tích giới hạn tại Colombia, quả được xuất khẩu sang Châu Âu và Canada; giống vỏ
đỏ ruột trắng được trồng phổ biến ở Châu Á, đặc biệt Việt Nam có thị trường lớn
ở Châu Á, Châu Âu và Châu Mỹ Giống có vỏ đỏ ruột đỏ được trồng phổ biến ở Nicaragua và Guatemalan có thị trường lớn ở Châu Âu và Châu Mỹ
Theo Mizrahi et al (1996), thanh long được trồng thường phẩm với các loại khác nhau, thanh long ruột trắng (Hyloscerus undatus) và thanh long ruột đỏ
Trang 20hay tím (Hyloscerus costaricensis) được trồng ở Nicaragua và Guatemalan, thanh long ruột đỏ (Hyloscerus polyrhizus) được trồng ở Israel; giống thanh long ruột vàng (Hyloscerus undatus) được trồng ở Mexico và Châu Mỹ Latin; giống thanh long ruột vàng (selenicereus magalani) nguồn gốc Trung và Nam Mỹ, được
trồng với diện tích giới hạn tại Colombia, quả được xuất khẩu sang Châu Âu và Canada.Theo báo cáo của hiệp Hội thanh long Malaysia, cây thanh long được trồng tại Malaysia từ năm 1999, trong những năm đầu tổng diện tích thanh long
200 ha, trong đến cuối năm 2006 là 1.000 ha, kết thúc năm 2007 đã là 2.000 ha, trong đó Bang Johor có diện tích lớn nhất chiếm khoảng 30%.Trong tổng số 2.000 ha có 80% diện tích được trồng bằng giống thanh long ruột đỏ của Đài Loan và thanh long ruột trắng của Việt Nam và một ít thanh long vỏ vàng ruột trắng Qua đó cho thấy trong thời gian qua thanh long của Malaysia phát triển cũng khá mạnh
2.2.2 Một số nghiên cứu về chọn tạo giống
Theo Weiss (1994), trong cùng một loài Hylocerus spp., loài Hylocerusun
datus tự thụ phấn kém nhưng thụ phấn chéo với các loài khác đạt tỷ lệ đậu quả
cao.Và ông ghi nhận rằng, bao phấn ở thanh long thành thục trước khi hoa nở và nhụy nhận hạt phấn ngay đó Theo Nguyễn Minh Trí và cs.(2002) Thanh long ruột đỏ được thụ phấn bổ sung với nguồn phấn hoa từ các giống /dòng thanh long Chợ Gạo và Bình Thuận đều tăng năng suất, phẩm chất quả thanh long Đặc biết, khối lượng quả trên 350 g/quả đã tăng lên đáng kế, tăng độ dầy vỏ quả, màu sắc
vỏ quả đồng đều hơn giống ruột đỏ để thụ phấn tự nhiên và ruột đỏ được thụ phấn với ruột đỏ
Trần Thị Oanh Yến và cs.(2002), bước đầu đánh giá các con lai của hai tổng hợp lai thuận nghịch thanh long Bình Thuận và thanh long ruột đỏ, thu được
188 con lai trong đó có 18 con lai có đặc tính tốt: cây sinh trưởng khỏe, khối lượng quả lớn, vỏ quả bóng đẹp và không mẫn cảm với các bệnh nguy hiểm Những con lai đó là: TLL1 - 5, TLL1-11,TLL1-28, TLL1-35, TLL1-50, TLL1-
60, TLL1-80, TLL1- 86 thuộc tổ hợp lai thanh long ruột đỏ với thanh long Bình Thuận và TLL2-12, TLL2-22, TLL2-39, TLL2-66, TLL2-76, TLL2-80, TLL2-
93, TLL2-95 thuộc tổ hợp lai thanh long Bình Thuận với thanh long ruột đỏ, (Trần Thị Oanh Yến và cs., 2002)
Trang 21Quá trình khảo nghiệm của giống của Trần Thị Oanh Yến và cs.(2002), cho kết quả là hai dòng thanh long Bình Thuần và Chợ Gạo cho năng suất cao hơn hai giống thanh long vỏ vàng ruột trắng và giống thanh long ruột đỏ ở điều kiến thụ phấn tự nhiên (Trần Thị Oanh Yến và cs., 2002)
2.3 MỘT SỐ GIỐNG THANH LONG ĐƯỢC TRỒNG PHỔ BIẾN Ở VIỆT NAM
Ở Việt Nam, cây thanh long được trồng từ lâu với hai nhóm giống chủ yếu
là giống vỏ đỏ ruột trắng và giống vỏ đỏ ruột đỏ
Nhóm vỏ đỏ ruột trắng có khả năng ra hoa tự nhiên trung bình, phản ứng mạnh với ánh sáng ngày dài cây sinh trưởng mạnh, cành mập và dài Tiềm năng năng suất cao Thời gian ra hoa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 8 hàng năm, ít đợt quả số lượng hoa/trụ thấp.Thời gian từ khi nở hoa đến khi thu hoạch 30 - 34 ngày
Thịt quả khi chín màu trắng, vị ngọt chua Giống thanh long vỏ đỏ ruột trắng được trồng nhiều ở các tỉnh Bình Thuận, Long An và Tiền Giang Trong
đó, trồng nhiều hơn tại các tỉnh Bình Thuận và Tiền Giang Cây thanh long vỏ đỏ ruột trắng trồng tại các tỉnh Bình Thuận, Long An và Tiền Giang có đặc điểm đặc trưng của mỗi vùng trồng Tuy nhiên, chưa có các công trình nghiên cứu nào được công bố về sự khác biệt của giống thanh long đang trồng tại các vùng trồng thanh long tập trung trên
Nhóm vỏ đỏ ruột đỏ có khả năng ra hoa tự nhiên mạnh, cây sinh trưởng khá, cành mảnh và ngắn Tiềm năng năng suất trung bình đến cao tùy thuộc vào giống Thời gian ra hoa kéo dài từ tháng 3 đến tháng 9 hàng năm Hoa ra thành nhiều đợt, số lượng hoa/trụ lớn Thời gian từ khi nở hoa đến thu hoạch ngắn hơn nhóm vỏ đỏ ruột trắng, từ 25-32 ngày Thịt quả chín màu đỏ tươi đến đỏ thẩm, vị ngọt đậm Đó là các dòng thanh long ruột đỏ Đài Loan trong đó có giống TL4 một số giống dòng du nhập từ Malaysia, một số giống được lai tạo trong nước như giống Long Đinh 1, giống Long Đinh 5 do Viện Cây ăn quả miền Nam lai tạo, Nhóm giống hiện này được trồng phổ biến ở các tỉnh phía Bắc cho hiệu quả kính tế cao (Nguyễn Thị Thu Hương và Ngô Xuân Phong, 2015)
Giống TL4: Viện Nghiên cứu Rau quả, được công nhận giống sản xuất thử năm 2012 Được trồng khảo nghiệm ở các vùng sinh thái một số tỉnh phía
Trang 22Bắc, giống này có thân cành lộc mới xuất hiện có màu thẫm, thân cành màu xanh đậm, cánh trung bình, chiều dài đốt thân ngắn, mép cành lồi trung bình, hoa đỉnh
nụ hoa tròn, mép các lá bắc có màu đỏ, hoa có màu vàng nhạt, nhụy cao hơn nhị, quả màu đỏ sáng, lá bắc ở phần giữa quả màu đỏ hơi xanh, cứng trung bình thịt quả màu đỏ tím, cứng trung bình hạt to, khối lượng quả trung bình 395 g/quả giống này chỉ xuất hiện 3 đợt lộc trong năm và thời điểm xuất hiện lộc tháng 9 đến tháng 11, thời gian từ khi xuất hiện nụ và nở hoa từ 21 đến 27 ngày và thời gian nở hoa đến thu hoạch từ 28 đến 32 ngày
Giống Long Định 1:Viện cây ăn quả miền Nam, được công nhận giống chính thức năm 2010 Trồng khảo nghiệm ở vùng sinh thái một số tỉnh phía Bắc.Thân cành lộc mới có màu đỏ thẫm, cánh to, đốt gai trung bình, chiều dài đốt thân trung bình Mép cành lồi có màu nâu, hoa nụ tròn, mép các bắc có màu đỏ, hoa màu vàng nhạt nhụy cao hơn nhị Vỏ quả màu đỏ sáng, khối lượng quả trung bình là 350 g/quả, lá bắc ở phần giữa quả màu đỏ hơn xanh, cứng trung bình, thịt quả màu đỏ tươi, mềm, hạt to Giống này có xuất hiện 4 đợt lộc trong năm và lộc xuất hiện vào tháng 11 hàng năm.Thời gian từ khi xuất hiện nụ và nở hoa từ 21 đến 27 ngày và thời gian nở hoa đến thu hoạch từ 28 đến 32 ngày
Giống VP5: Lấy mẫu giống tuyển chọn trong các mẫu giống được Viện Nghiên cứu Rau quả thu thập ở Vĩnh Phúc năm 2009 Trồng khảo ở các vùng sinh thái một số tỉnh phía Bắc, thân cành lộc mới có màu đỏ, thân màu xanh đậm, cánh to dầy, đốt gai trung bình, chiều dài đốt thân trung bình, mép thẳng gai lồi ít gai, hoa đỉnh hoa nhọn, mép lá bắc có màu đỏ hoa màu vàng nhạt, vỏ quả màu đỏ nhạt, lá bắc ở phần giữa quả hơi xanh, cứng trung bình, thịt quả màu đỏ tím, hạt to Khối lượng quả trung bình 347,8g; giống này chỉ xuất hiện
3 đợt lộc chính trong năm và thời điểm xuất hiện lộc tháng 10 đến tháng 4.Thời gian từ khi xuất hiện nụ và nở hoa dao động từ 22 đến 27 ngày và thời gian nở hoa đến thu hoạch quả dao động từ 30 đến 32 ngày (Nguyễn Thị Thu Hương và Ngô Xuân Phong, 2015)
Giống TL5 lấy mẫu giống tuyển chọn trong các mẫu giống được Viện Nghiên cứu Rau quả thu thập ở Malaysia: thân cành lộc mới có màu xanh, thân màu xanh đậm, cánh to dầy, đốt gai trung bình, chiều dài đốt thân trung bình và mép cành từ thẳng đến hơi lồi Hoa đỉnh nụ hoa nhọn, mép các lá bắc có màu tím Hoa vàng nhạt, nhụy cao hơn nhị.Vỏ quả màu đỏ, lá bắc ở phần giữa quả
Trang 23màu đỏ, cứng trung bình, quả dài và thịt quả màu đỏ tím Khối lượng quả trung bình 470,7g; giống thanh long ruột đỏ TL5 chỉ xuất hiện 3 đợt lộc trong năm, có thời gian ra hoa sớm nhất và có nhiều đợt hoa nhất 12 đợt trong năm (Nguyễn Quốc Hùng và cs., 2015)
2.4 NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG ĐẬU QUẢ MỘT SỐ THANH LONG TRỒNG TẠI MIỀN BẮC
Cây thanh long có khả năng xuất hiện rất nhiều hoa và xuất thành nhiều đợt khác nhau, các đợt hoa cứ liên tục gối nhau Ở các điểm trồng, các giống thanh long ruột đỏ có khả năng ra hoa nhiều đợt (8-12 đợt), kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 hàng năm Về đặc tính khả năng ra hoa đậu quả đối với giống thanh long ruột đỏ ưu thế hơn so với các loại cây ăn quả khác chỉ ra hoa tự nhiên 1 đợt trong năm là không xảy ra hiện tượng mất mùa và sản phẩm quả có thể phân bố đều trong một số tháng
Trong các giống thanh long trồng, giống thanh long ruột đỏ TL5 ra nhiều đợt hoa nhất 12 đợt, so với các giống còn lại chỉ ra 7 - 8 đợt trong năm Trong điều kiện thí nghiệm, khi nụ hoa phát triển ổn định Trên mỗi cành thanh long tỉa để lại 1-2 nụ hoa Đánh giá khả năng đậu quả của các giống cho thấy, nhìn chung các giống thanh long trồng tại điểm đều cho tỷ lệ đâu quả trung bình khá cao trên 50% đối với QN1 đến 77,56% ở giống VP2 trồng tại Quảng Ninh Tại Vĩnh Phúc, giống có tỷ lệ đậu quả trung bình ở các đợt hoa đạt trên 70% là giống TL4 và TL5; giống QN1 cho tỷ lệ quả trung bình ở các đợt hoa đạt 65,52% Tai Sơn La, giống QN1 cho tỷ lệ quả thấp nhất đạt 67,73% và đạt cao nhất 73,87% ở giống TL5 (Nguyễn Quốc Hùng và cs., 2015)
2.5 MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ GIỐNG THANH LONG CHO NĂNG SUẤT TRỒNG TẠI MIỀN BẮC
Các giống thanh long trồng tại các điểm đều cho tỷ lệ đậu quả khá cao, sau khi quả ổn định chúng ta tỉa quả Trên mỗi cành mang quả, tỉa để lại 1-2 quả,
số quả để lại sẽ tương đối ổn định cho đến khi thu hoạch Tại điểm Quảng Ninh đối với giống TL5 số lượng quả đạt thấp nhất đạt 32,10 quả/trụ nhưng năng suất lại đạt cao nhất 15,09 kg/trụ Tại Vĩnh Phúc số lượng quả trên trụ ở giống LĐ1
và giống TL5 tương đương nhau và thấp hơn số quả trên trụ ở giống TL4 nhưng năng suất trên trụ ở giống TL4 và TL5 tương đương nhau và cao hơn so với
Trang 24giống LĐ1 Số quả/trụ ở 2 giống TL4 và TL5 đều tương tự nhau và đạt thấp hơn
ở giống LĐ1 trồng tại Sơn La nhưng năng suất đạt được của 2 giống này cao hơn đạt trên 13 kg/trụ trong giống LĐ1 chỉ đạt 12,75 kg/trụ (Nguyễn Quốc Hùng và cs., 2015)
Một số tác giả cho rằng ở Việt Nam có ba giống: dạng quả tròn, dạng quả dài, dạng quả nhỏ Thực tế, trên cùng một cây có 3 dạng quả trên cùng một cành, trên cùng một cây Dạng quả tùy thuộc vào điều kiện sinh thái, nhất là ánh sáng và chế độ chăm sóc (Nguyễn Văn Kế, 1998) Thanh long trồng ở nước Việt Nam chưa phong phú về giống và chủng loại giống Giống thanh long
trồng phổ biến hiện này là thanh long ruột trắng (Hyloscerus undatus) với hai
giống/dòng là thanh long Bình thuận và Thanh long Chợ Gạo (Nguyễn Hữu Hoàng, 2006)
Năm 1995, Viện Nghiên cây ăn quả miền Nam đã nhập hai giống thanh long ruột đỏ và thanh long ruột vàng từ Colombia và 6 giống thanh long từ Đài Loan (Trần Thị Oanh Yến và cs., 2006) Năm 2004, giống thanh long ruột đỏ Long Định 1 với nhiều ưu điểm được trồng Viện Nghiên cứu cây ăn quả miền Nam lai tạo thành công và trồng thử nghiệm tại Tiền Giang, Long An và Bình Thuận; Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn công nhận tạm thời, cho phép đưa vào sản xuất tại các tỉnh phía Nam vào tháng 12 năm 2005 (Trần Thị Oanh Yến và cs.,2006)
2.6 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT HỌC CỦA CÂY THANH LONG
* Rễ cây
Thanh long có hai loại rễ, đó là rễ đại sinh và rễ khi sinh Rễ địa sinh phát triển từ phần lõi ở gốc hom Sau khi đạt hom từ 10-20 ngày, từ gốc hom đó xuất hiện các rễ tơ màu vàng nhạt Số lượng và kích thước rễ tăng dần theo tuổi cây Những rễ lớn nhất đạt đường kính từ 1-2 cm Rễ địa sinh có nhiệm vụ bám vào đất và hút các chất dinh dưỡng nuôi cây Rễ này phân bố chủ yếu ở tầng đất mặt, khoảng 30 cm trở lên Rễ khí sinh mọc dọc theo thân cây leo lên Phần rễ trên không bám vào chỗ hổng, chỗ trống của choái để giúp cây leo lên đỉnh choái và cũng làm một phần nhiệm vụ hút dinh dưỡng để nuôi cây.Vì vậy, Việc phun phân bón lên thân cây, cây không chỉ hấp thụ chất dinh dưỡng qua lỗ khí khổng mà hút bởi các lông hút ở rễ khí sinh Những rễ khí sính nằm gầm đất sẽ đi dần xuống
Trang 25đất khả năng ra rễ của thanh long rất cao, do một yếu tố nào đó mà đoạn gốc (cả nhu mô và lõi) bị mất đi mà đoạn phía trên vẫn ra rễ và hút chất dinh dưỡng tiếp tục nuôi cây (Morton, 1987)
* Thân, cành
Thanh long là loại cây leo nửa phụ sinh - lúc đầu mọc rễ dưới đất đó tạo ra nhiều rễ bất định bám lên một vật nương tựa nào đó như bờ tường, trụ, thân cây khác (Trương Thị Đẹp, 2000)
Thân, cành thanh long ưa nắng, thân mập thường có 3 cánh đẹp hiếm khi có
4 cánh, màu xanh lục (Nguyễn Văn Kế,1998) Ở một số chi khác, thân có 3-5 cánh thắt khúc từng đoạn là điểm giới hạn của những đớt sinh trưởng Thân bò rất dài thậm chí tới 5-7 m, đường kính 3-7 cm.Thân không có lá, lá đã bị tiêu giảm (Nguyễn Văn Kế, 1998; Fletcher, 1997; Morton, 1987) Theo Trương Thị Đẹp (2000), chiều dài trung bình của cành thanh long ở cây 3-5 tuổi là 1,0 đến 1,1 m
Trên mỗi cành có nhiều thùy, tại thùy có nhiều lông mịn, ngắn và có 2-5 gai nhỏ dài 2-4 mm (Barbeau, 1990;Trương Thị Đẹp, 1999) Các thùy xuất hiện đều trên 3 cánh của thân xếp dọc theo một đường xoắn ốc Thùy là vị trí bị tiêu giảm được gọi là mắt và cũng là nơi nụ hoa xuất hiện Bìa mỗi cánh có viền màu vàng nâu nối liền các mắt với nhau Tiết diện ngang cho thấy có hai phần: bên ngoài là nhu mô chứa diệp lục, ở bên trong là lõi cứng hình trụ
* Hoa
Thanh long có duy nhất một loại hoa đó là hoa lưỡng tính rất to, chiều dài khoảng 25-35 cm (Trương Thị Đẹp, 2000; Morton,1987), chiều rộng 22,5 cm (Morton, 1987) Hoa màu vàng sáng, mọc đơn độc trên thân cây, nhiều lá dài và cánh hoa dính nhau thành ống, nhiều chỉ nhị và vòi nhụy các lá đài hình vẩy dài, màu xanh xếp xoắn ốc Các cánh hoa màu trắng ngà, mỏng manh xếp nối tiếp lá đài Các chỉ nhị xếp xoắn ốc trên ống bao hoa Ở bầu noãn hạ, Vòi nhụy dài hơn chỉ nhị, vòi nhụy dài khoảng 18-24 cm, đường kính 5- 8 cm.Tận cùng là nuốm nhụy, chia làm nhiều nhánh
Hoa nở vào ban đêm, thường nở tập trung từ 20-23 giờ Hoa nở đồng loạt trong vườn và sáng hôm sau thì hoa héo dần Số đợt hoa xuất hiện trong năm tùy thuộc vào từng giống, từng vùng Theo tác giả Nguyễn Văn Kế (1998), hàng năm có khoảng 4-6 đợt đối với giống thanh long ruột trắng trồng tại miền
Trang 26Nam -Việt Nam Giống thanh long ruột đỏ trồng tại đảo Hải Nam - Trung Quốc, có 13-15 đợt hoa trong năm (Lâm Minh Bồng, 1999) Mỗi đợt hoa chỉ kéo dài 2-3 ngày Hoa xuất hiện sớm nhất vào cuối tháng 3 kết thúc vào khoảng tháng, nở rộ từ tháng 4 đến tháng 9 Theo Trương Thị Đẹp (2000), có sự nở hoa của thanh long theo chu kỳ sau: tất cả các hoa trong cùng một cây và tất cả các cây trong cùng một đòng tiến triển cùng một thời gian theo ba pha đó là: Xuất hiện nụ tới nở hoa:15-16 ngày
Nở hoa: 3-5 ngày
Nở hoa đến khi quả chín: 30 - 35 ngày
Sự nở hoa vừa kết thúc, đã xuất hiện những nụ hoa mới của chu kỳ tiếp theo Vì vậy, có thể thấy trên một cây ở cùng một thời điểm có cả nụ hoa, những quả non và những quả gần chín Do đó, để tăng năng suất, chất lượng quả thanh long cần chú trọng đến kỹ thuất bón phân cho cây trong thời kỳ cây cho quả
Sự nở hoa phụ thuộc vào hiện tượng quang chu kỳ, việc tưới nước cho cây trong suốt mùa khô không phân hóa mần hoa, ngoài trừ nên gần đến thời kỳ ra hoa chính vụ (Barbeau, 1990;Trương Thị Đẹp, 2000) Đợt nụ đầu tiên rụng 30-40%, sau đó tỷ lệ này giảm dần khi gặp điều kiện thuận lợi (Trương Thị Đẹp, 2000;Nguyễn Văn Kế, 1998) Cây thanh long ruột trắng 3 tuổi có khoảng 94 - 95 hoa/trụ trong năm (Nguyễn Văn Kế,1998) Hoa thanh long tự thụ phấn nhờ gió
và côn trùng (Lâm Minh Bồng, 1999; Vũ Công Hậu, 1996; Fletcher,1997; Julia
et al., 1994)
* Quả
Sau khi hoa thụ phấn, thụ tinh sẽ phát triển thành quả Trong 10 ngày đầu, tốc độ quả phát triển tương đối chậm sau đó tăng rất nhanh về khích thước và khối lượng (Thái Thị Hòa và Đỗ Minh Hiền, 2002;Nguyễn Văn Kế,1998) Vì vậy, có thể phun phân bón lá vào thời điếm sau 10 ngày đậu quả cho hiệu quả cao Khi chín, quả rất to có màu đỏ tía
Quả có thể hình tròn hoặc hình bầu dục Quả thường có chiều dài khoảng 12 -16 cm, đường kính 8-13,5 cm Vỏ quả mang nhiều vẩy (tai) màu xanh và có chiều dài 2 -5cm Đó là những phiến ngoài cùng của bao hoa Mỗi trụ thanh long ruột đỏ trồng tại Đảo Hải Nam - Trung Quốc, cho khoảng 30 quả/năm Số lượng quả trên cây tùy thuộc vào vùng sinh thái, kỹ thuật chăm sóc Quả thanh long ruột đỏ có khối lượng từ 400 - 800g, tổng hàm lượng chất rắn hòa tan 18% (Lâm Minh Bồng, 1999)
Trang 27Khối lượng quả phụ thuộc phần lớn vào kỹ thuật bón phân, tưới nước Khối lượng trung bình là 250 - 350 g/quả (Barbeau, 1990; Trương Thị Đẹp, 2000)
Ở giai đoạn đầu vào ngày thứ 26, từ khi hoa nở đến khi quả thanh thục, khối lượng quả tăng chủ yếu là do khối lượng vỏ, tỷ lệ thịt quả tăng rất chậm.Vào ngày thứ 5 sau khi đậu quả, vỏ quả chiếm 92,25% đến khi quả thanh thục tỷ lệ vỏ quả chỉ còn 59,31% ở ngày thứ 26, lúc này vỏ quả thanh long rất dầy, thịt quả có màu hồng tím nhạt Khi quả chín hoàn toàn, thịt quả chiếm khoảng 60% ở ngày
28 - 30 sau khi quả đậu Nếu tiếp tục để quả trên cây tỷ lệ thịt quả vẫn tăng nhưng dẫn đến hiện tượng vỏ quả bị nứt và vẩy quả bị úa vàng rất nhanh (Thái Thị Hòa, 2002) Quả thanh long ruột đỏ có khuynh hướng chiều cao quả tăng chậm hơn so với đường kính quả (Thái Thị Hòa và Đỗ Minh Hiền, 2002)
Màu sắc của thịt quả rất đa dạng, có thể màu trắng trong, trắng đục hoặc màu đỏ tùy thuộc vào giống Thịt quả chứa nhiều hạt nhỏ màu đen giống như hạt vừng đen Một quả có khoảng 10.500 - 20.000 hạt (Lâm Minh Bồng, 1999), hạt nhỏ phân bố đều, hạt mềm nên khi ăn không ảnh hưởng đến chất lượng quả
Bên ngoài thịt quả giáp với phần vỏ quả là màng trong suốt do vậy rất dễ bóc vỏ (Trương Thị Đẹp, 2000; Vũ Công Hậu, 1996)
2.7 YÊU CẦU SINH THÁI CỦA CÂY THANH LONG
Nhiệt độ: Cây thanh long có nguồn gốc ở vùng sa mạc là cây nhiệt đới
khô Nhiệt độ thích hợp cho cây thanh long sinh trưởng và phát triển 14-16oC và tối đa 30 - 40oC Trong có điều kiện sương giá nhẹ, với thời gian ngắn sẽ gây thiệt hại nhẹ cho cây thanh long
Ánh sáng: Cây thanh long chịu ảnh hưởng của quang chu kỳ, ra hoa trong
điều kiện ngày dài, sinh trưởng, phát triển tốt ở những nơi có ánh sáng đầy đủ Vì thế, khi thân cây bị che nắng, cây sẽ bị yếu và chậm ra quả.Tuy nhiên, nếu cường độ ánh sáng quá mạnh, nhiệt độ cao sẽ làm giảm khả năng sinh trưởng của thanh long
Nước: Thanh long có khả năng chống chịu tốt với điều kiện bất thuận như
chịu hạn tốt nhưng khả năng chịu ngập ứng của cây không cao Để cây thanh long phát triển tốt, cho năng suất cao cần phải cung cấp nước đẩy đủ, nhất là trong thời kì phân hóa mầm hoa, ra hoa và đậu quả Nhu cầu về lương mưa cho cây là 800 - 2000 mm/năm, phân bố đều trong năm, nếu lượng mưa quá cao sẽ bị dẫn tới hiện tượng rụng hoa và thối quả
Trang 28Đất đai: Thanh long trồng được trên loại đất từ đất khô cắn, đất cát, đất
xám bạc màu, đất phèn đến đất thịt, đất pha sét Tuy nhiên, để trồng thanh long đạt hiệu quả cao, đất phải tới xốp, thông thoáng, thoát nước tốt đặc biệt ở đất có chứa 30-40% cát.Yêu cầu đất có pH từ 6,5-7,5; hàm lượng hữu cơ cao, không bị nhiễm mặn (Nguyễn Quốc Hùng và cs., 2015)
2.8.MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ DINH DƯỠNG CHO CÂY THANH LONG
Khác với một số cây ăn quả khác, cây thanh long ra quả tập trung và sau mỗi vụ quả cây bị lấy đi khối lượng sản phẩm lớn Mặt khác, cây thanh long không có lá, khí khổng đóng vào ban ngay và mở vào ban đêm nên cường độ và sản phẩm quang hợp ở cây rất thấp (Trương Thị Đẹp, 2000) Vì thế, việc cung cấp dinh dưỡng cho cây là vô cùng quan trọng Theo khuyến cáo của một số nông dân vùng xuất xứ cây thanh long ruột đỏ, bón lót phân hữu cơ 10 - 20 kg/trụ trong năm Tỷ lệ phân N - P - K là 3: 4: 5 với lượng bón như sau (Lâm Minh Bồng, 1999)
Bảng 2.2.Lượng phân bón cho một trụ thanh long ruột đỏ trong năm
Theo Vũ Công Hậu (1996), phân bón chủ yếu cho thanh long là phân chuồng ví lượng bón là 10 - 20 tấn/ha tức là khoảng 10 - 20 kg phân chuồng và
400 - 500g phân N - P - K cho một trô khi cây còn nhỏ Khi cây đã lớn, bón 1.000 - 2.000g phân N - P - K cho một trụ Trong thời gian cây cho quả thì yếu tố phân đạm và kali cần thiết nhất sau đó đến phân lân
số lượng, khối lượng quả, tăng năng suất và chất lượng quả thanh long Lượng phân bón này được chia đều cho hai lần bón, vào tháng 3 và tháng 10 Bón phân đạm đã nâng cao số lương quả, khối lượng quả, tăng tỷ lệ quả trên 400g, tăng năng suất và phẩm chất quả thanh long
Trang 292.9 NHỮNG NGHIÊN CỨU PHÂN BÓN KALI ĐỐI VỚI CÂY THANH LONG TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
2.9.1 Những nghiên cứu trên thế giới về phân kali trên cây thanh long
Nghiên cứu phân bón phù hợp cho cây thanh long được một số nước đặc biệt quan tâm Ở Israel phân bón với lượng nhỏ hòa tan và bón qua hệ thống tưới
(Raved et al.,1997;Nerd et al., 1999; Lichtenzveig et al.,2000; Weiss et al.,1994)
Crane and Balerdi, 2005), khuyến cáo phân bón cho thanh long 4 năm tuổi trở lên trồng ở Florida (Hoa kỳ) là từ 227-342g phân N-P-K 6-6-6-,8-3-9,8-4-12 và chia làm 3- 4 lần bón/năm, kết hợp 2,2 kg phân ủ hoặc phân chuồng 2 lần/năm Phân chuồng và phân ủ được sử dụng nhiều và cho kết quả tốt cho cây thanh long trồng tại Calafornia, Hoa kỳ (Thomson, 2002) Ở Đài Loan phân hữu cơ hoai mục 4kg/cây/ tháng kết hợp với 100g/cây phân N-P-K 13-13-13 được khuyến
cáo phân bón cho thanh long (Francis et al.,2004)
2.9.2 Những nghiên cứu ở việt nam về phân kali trên cây thanh long
Ở Chợ Gạo Tiền Giang, cây thanh long ruột trắng được nông dân sử dụng liều lượng phân đạm từ 560 -1100g N/cây/năm, phân lân biến động từ 340-580g
P2O5/cây/năm, phân Kali từ 240-710g cây/năm (Nguyễn Trịnh Nhất Hằng ,1995) Ở Bình Thuận liều lượng phân N-P-K bón cho cây thanh long mang lại
trong khi ở Châu Thành - Long An, liều lượng phân bón thích hợp cho cây thanh long là 500g P2O5 + 500g K2O/gốc/vụ Lượng này được chia ra từ 6 đến 8 lần bón/vụ (Nguyễn Đăng Nghĩa và cs.,2000)
Theo Trần Mính Trí và cs.(2000) trên cây thanh long bón phân với liều
năng suất và phẩm chất quả thanh long
2.9.3 Vai trò phân bón kali đối với thanh long
Kali có vai trò quan trọng trong việc ổn dịnh hàm lượng NPK trong cây thanh long, giúp hấp thu đạm và lân tốt hơn Khi thiếu kali thì cây thanh long sẽ mềm, không được cứng, trái thì không màu đỏ đẹp, trái không được ngọt Vì thế, kali là thành phần quan trọng trong việc nuôi trái, giúp trai to, màu đẹp, tai xanh…Ngược lại nếu dư kali cây thanh long sẽ dòn, dễ gãy Không hấp thu được các dưỡng chất trong đất Do đó không nên lạm dụng kali nhiều quá
Trang 30Đối với cây thanh long, kali là nguyên tố quan trọng ở nhiều khía cạnh: đồng hóa cacbon, hình thành pretein, vận chuyển đường…Trong suốt thời kỳ sinh trưởng và phát triển cây thanh long hút nhiều chất kali nhất, sau đó đến đạm
và lân.Ngoài ra, cây cần một số nguyên tố trung lượng như Canxi, Magiê, lưu huỳnh Đặc biệt cây thanh long rất cần các chất vi lượng như kẽm, sắt, mangan,
bo, molypden Ở giai đoạn kiết thiết cơ bản, từ khi trồng mới đến 1-2 năm tuổi Cây cần nhiều đạm để phát triển thân,cành; lân cao để phát triển bộ rễ nhiều chồi; kali giúp cho cây cứng cáp, chống chịu sâu bệnh, trung vi lượng vừa đủ giúp cho cây phát triển cần đối Ở giai đoạn kinh doanh, cây cho trái ổn định và đi vào khác thác, cây cần kali cao, đạm khá, lân vừa đủ, trung vi lượng thích hợp nhằm nuôi trái to đẹp, năng suất cao, chất lượng tốt, chính đồng loạt Theo Nguyễn Văn
Kế (1997), cây thanh long ở cuối năm thứ 3 lượng phân NPK cần cấp 540g N + 720g P2O5 + 320g K2O + 20kg phân chuồng hoai mục
Nghiên cứu về phân kali: kali là nguyên tố cây hút nhiều tương đương N
và nhiều hơn P, song nghiên cứu về kali chỉ mới được tiến hành một cách bài bản khoảng hơn 10 năm trở lại đây khi mà kali trở thành yếu tố hạn chế dinh dưỡng hàng đầu, nhiều nghiên cứu cả cơ bản, cả ứng dụng về kali trên các loại đất và cây trồng khác nhau; về động thái kali trong đất, trong cây; về liều lượng, dạng loại K; về vai trò đối với năng suất và đặc biết với chất lượng nông sản, với sự giảm sậu bệnh hại (Đỗ Trung Bình, 2015)
Cây thanh long đòi hỏi cung cấp đúng và đủ phân bón để cho sản lượng tốt Các đề xuất bón phân cho thanh long có sự khác nhau đáng kế Tuy nhiên, có điểm chung là thường bón tập trung ở giai đoạn đầu của sự phát triển Ở Đài Loan, cứ bốn tháng một lần người ta bón 4kg phân hữu cơ cho mỗi trụ, và bổ sung 100g phân bón NPK 13:13:01 Tại các trang trại ở Hawaii, phân bón NPK 16:16:16 lại được sử dụng với lượng bón 180-230g/trụ 4-6 tháng bón một lần Canxi và các vi lượng được sử dụng cho trái cây phát triển tốt và săn chắc hơn Một số công thức phân bón có tỷ lệ Nitơ thấp nhất NKP 0:10:10 và NPK 02:10:10 cũng đã được đề nghị sử dụng cho cây thanh long
Ở Việt Nam, cây dưới 3 năm tuổi thường được bón 10-15 kg phân chuồng
và 100g super lân/cây tại thời điểm trồng Trong hai năm đầu, mỗi năm bón cho mỗi trụ 300g urê và 200g NPK 16:16:8, bón ba lần vào thời điểm sau trồng 1 tháng, 6 tháng 12 tháng (Nguyễn Văn Kế, 1997) Theo Trần MinhTrị và cs.(2000), cây từ ba năm trở lên nên được bón 4 lần/năm như sau:
Trang 31Giai đoạn Loại phân bón Tỷ lệ bón
Ngay trước khi thu hoạch
K 2 O
108 g
72 g
135 g
Đối với Thanh long ở Bình Thuận (Việt Nam), chế độ bón phân như sau:
Năm 1 NPK 20:20:15 50 g Mỗi tháng 1 lần Năm 2 trở đi NPK 20:20:15
Hữu cơ
100 g
2 kg Mỗi tháng 1 lần Giai đoạn ra nụ
hoa (khoảng 25
ngày)
Sử dụng các loại phân bón lá, ví dụ GA3, Antonics
NA Phun vào ngày thứ 7, 14
và 21 sau khi ra nụ hoa Giai đoạn ra
trái (khoảng 30
ngày)
Sử dụng các loại phân bón lá, ví dụ GA3, Antonics
NA Phun vào ngày thứ 3 và
14 sau khi nở hoa
Chế độ bón phân thực tế theo báo cáo của nông dân tại một số vùng trồng thanh long ở Việt Nam như sau:
0,5 kg 0,5 kg 0,5 kg
10 ngày trước khi
Trang 32Bộ Nông nghiệp Malaysia khuyến cáo bón phân như sau:
Cây con (dưới 6 tháng
tuổi) NPK 15:15:15 100 g 2 tháng/lần Cây con (từ 7 tháng
trở lên) NPK 15:15:15 200 g 2 tháng/lần
Giai đoạn ra quả NPK 13:13:21 300 g Bón luân phiên 1 tháng cho đậu quả và 1 tháng
cho cây phát triển
Sau khi đậu quả NPK 15:15:15 300 g Bón luân phiên 1 tháng cho đậu quả và 1 tháng
cho cây phát triển
Bộ Nông nghiệp sarawak khuyến cao như sau:
Sau khi trồng
Lân nung chảy Dolomite Hữu cơ
0,4 kg 0,1 kg
5 kg
NA
Bắt đầu ra hoa NPK 12:12:17,2 + TE 0,1 kg 2 tháng/lần Năm 2 trở đi NPK 12:12:17,2 + TE
Phân hữu cơ
0,2 kg
5 kg
2 tháng/lần
4 tháng/lần
Trang 33PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 VẬT LIỆU, ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
Vật liệu: Giống thanh long ruột đỏ LĐ1, TL4, VP5 và ĐL3 Các
giống thanh long đều được trồng tại Viện Nghiên cứu Rau hoa quả, 3 năm tuổi, trồng bằng cành giâm, mật độ trồng 1.000 trụ/ha Quy trình chăm sóc được áp dụng theo quy trình trồng và chăm sóc cây thanh long của Viện Nghiên cứu Rau hoa quả
Vật liệu: nghiên cứu gồm 4 giống thanh long ruột đỏ thí nghiệm
LĐ1 Long Định 1 Viện cây ăn quả miền Nam, được công nhận giống
chính thức năm 2010
TL4 TL4 Viện nghiên cứu Rau quả, được công nhận giống sản
xuất thử năm 2012
ĐL3 Đài Loan 3 Là giống tuyển chọn trong các mẫu giống được Viện
Nghiên cứu Rau quả thu thập ở Đài Loan VP5 Vĩnh Phúc 5 Được thu thập tại Vĩnh Phúc
Phân bón kali:là phân bón kali clorua trung quốc, dạng hạt mịn, màu
Địa điểm nghiên cứu: Viện Nghiên cứu Rau hoa quả: Thị trấn Trâu
Quỳ - huyện Gia Lâm - Hà Nội
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 07 năm 2015 đến tháng 09 năm 2016
3.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
3.2.1 Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của 4 giống thanh long tại Gia Lâm - Hà Nội
3.2.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng phân bón kali đến năng suất và chất lượng quả của giống thanh long ruột đỏ TL4
Trang 343.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Công thức 1: giống thanh long LĐ1
Công thức 2: giống thanh long TL4
Công thức 3: giống thanh long VP5
Công thức 4: giống thanh long ĐL3
-Thí nghiệm 2: nghiên cứu ảnh hưởng của một số liều lượng phân kali clorua đến khả năng sinh trưởng, khả năng ra hoa đậu quả, năng suất và chất lượng quả của giống thanh long ruột đỏ TL4 Thời gian thí nghiệm tháng 7 năm
Toàn bộ lượng phân bón được chia làm 8 lần bón:
Lần 1 (vào tháng 10 -11): 100% lân supe + 100% phân hữu cơ
Lần 2 (vào cuối tháng 12): 28% kaliclorua
Trang 35Lần 3 (vào cuối tháng 3): 12% kaliclorua
Lần 4 (vào cuối tháng 4): 12% kaliclorua
Lần 5 (vào cuối tháng 5): 12% kaliclorua
Lần 6 (vào cuối tháng 6): 12% kaliclorua
Lần 7 (vào cuối tháng 7): 12% kaliclorua
Lần 8 (vào cuối tháng 8): 12% kaliclorua
Cách thức bón: Bỏ vật liệu che phủ ở gốc rắc đều phân quanh trụ sau đó phủ lại bằng chất che phủ rồi tưới nước cho phân tan hết
3.3.2 Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi
3.3.2.1.Thí nghiệm 1
+ Theo dõi thời gian hình thành từng đợt lộc
Thời gian xuất hiện: được tính từ khi 10% số cây ra lộc
+Thời gian từ khi lộc thành thục đến khi ra hoa (ngày): đánh dấu mỗi công thức ở mỗi đợt cành lộc đã thành thục 50 cành theo dõi đến khi cành lộc đó bắt đầu xuất hiện nụ
3.3.2.2 Các thí nghiệm khảo sát đánh giá giống, chế độ phân bón, nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón
+ Thời gian từ bắt đầu xuất hiện nụ đến khi nở hoa (ngày): đánh dấu 30 nụ bắt đầu xuất hiện ở các đợt hoa trong năm
Trang 36+ Thời gian từ nở hoa đến khi thụ hoạch (ngày): theo dõi trên 30 hoa + Số hoa/ trụ/ đợt (hoa): đếm toàn bộ số hoa hình thành trên cây
+ Số đợt hoa/ vụ (đợt): tính số đợt hoa ra tập trung
Tổng số quả đậu ban đầu + Tỷ lệ đậu quả ban đầu (%) = x 100
Tổng số hoa nở +Số quả trước khi thu hoạch (quả): Đếm toàn bộ số quả thu được trên trụ
Năng suất thực thu quy ra 1 ha (tấn/ha) = năng suất thực thu 1 trụ x mật độ + Tỷ suất lợi nhuận = Thu nhập tăng thêm do bón phân kali/chi phí tăng thêm để mua phân kali
+ Thu nhập tăng thêm = Năng suất tăng thêm do bón kali (kg) x giá bán
1 kg thanh long (đ/kg)
Một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng quả: phân tích trong phòng thí nghiệm kết hợp với đánh giá bằng cảm quan: Axit tổng số (%), hàm lượng
- Axit tổng số được đo theo phương pháp chuẩn độ
- Hàm lượng chất khô theo phương pháp sấy đến trọng lượng không đổi
Trang 37- Vitamin C theo phương pháp Tilman
Tất cả đều được đo tại Phòng Kiểm nghiệm chất lượng - Viện Nghiên cứu Rau quả - Trâu Quỳ, Gia Lâm, Hà Nội
3.3.3 Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu được phân tích ANOVA sử dụng phần mềm IRRISTAT 5.0
Trang 38PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC CỦA 4 GIỐNG THANH LONG TẠI GIA LÂM - HÀ NỘI
4.1.1 Khả năng sinh trưởng, phát triển của lộc mới các giống thanh long thí nghiệm
Khác với những loại cây trồng khác, cây thanh long là cây thân leo trên các trụ sống hoặc chết, lá biến dạng thành những chùm gai, bộ phận quang hợp là thân và cành Để đánh giá khả năng sinh trưởng của cây cần tiến hành theo dõi chiều cao cây, số cành trên cây trong những năm đầu Trong những năm tiếp theo cần theo dõi sự xuất hiện lộc, tổng số lộc/trụ, chiều dài và đường kính trung bình của một đợt lộc Kết quả theo dõi động thái xuất hiện lộc ở các giống thanh long thí nghiệm được trình bày ở bảng 4.1
Bảng 4.1 Thời điểm xuất hiện lộc ở các giống thanh long thí nghiệm
Trang 39Ngoài ra thời gian lộc thành thục cũng có sự sai khác giữa các đợt, điều này chủ yếu phụ thuộc vào thời tiết và khả năng hấp thụ dinh dưỡng của mỗi trụ thanh long
Ở các giống thí nghiệm TL4, ĐL3 và VP5 có 3 đợt lộc trong năm Đợt lộc đầu tiên được hình thành tập trung chủ yếu sau khi ngừng xuất hiện nụ trong năm
và ở các giống lộc xuất hiện chủ yếu vào tháng 10 hàng năm Riêng giống LĐ1 đợt lộc đầu tiên xuất hiện muộn nhất vào tháng 11
Đợt lộc thứ 2 chủ yếu xuất hiện lộc vào tháng 2 năm sau, giống VP5 xuất hiện đợt 2 vào tháng 12, giống LĐ1, giống ĐL3 xuất hiện lộc muộn hơn vào tháng 2 hàng năm và dịp này thường có nhiều sương muối và nhiệt độ thấp nên lộc thường bị ảnh hưởng bởi sương muối làm cho cành lộc xuất hiện các đốm nâu hoặc 1 đoạn cành phồng lên ở vị trí cách đỉnh sinh trưởng khoảng 5 -10 cm
Đợt lộc thứ 3 các giống LĐ1, TL4, ĐL3 và VP5 chủ yếu xuất hiện lộc từ đầu tháng 3 vào giữa tháng 3
Theo khảo nghiệm của Viện nghiên cứu Rau quả năm 2015 trồng tại tỉnh phía Bắc: Ở các giống trồng tại tỉnh Quảng Ninh, tỉnh Vĩnh Phúc và tỉnh Sơn La như giống TL4, VP5, ĐL3 đợt lộc đầu tiên được xuất hiện chủ yêu vào tháng 10 hàng năm Nhưng giống LĐ1 đợt lộc đầu tiên xuất hiện muộn nhất vào tháng 11
Đợt lộc thứ 2 như các giống TL4, VP5, ĐL3 chủ yêu xuất hiện vào tháng
1 năm sau, giống LĐ1 xuất hiện lộc muộn hơn vào tháng 2 hàng năm
Đợt lộc thứ 3, giống TL4 xuất hiện lộc vào tháng 3, các giống LĐ1; VP5; ĐL3 xuất hiện lộc vào tháng 4, (Nguyễn Thị Thu Hương và Ngô Xuân Phong, 2015)
Thời gian hoàn thiện một số đợt cành phụ thuộc vào giống, thời điểm hình thành và chế độ chăm sóc Ở các giống khác nhau, thời điểm hình thành cành khác nhau và thời gian hoàn thiện một đợt cành cũng khác nhau Đối với các giống, tại các điểm thí nghiệm, thời gian hoàn thiện một đợt cành dao động từ 40 -70 ngày
Một số chỉ tiêu sinh trưởng các đợt lộc trong điều kiện tự nhiên ở Gia Lâm
- Hà Nội cũng là những chỉ tiêu nhằm đánh giá mức độ thích nghi của các giống thanh long ruột đỏ, như số đợt lộc xuất hiện trong vụ, thời gian từ khi ra lộc xuất hiện đến khi thành thục, tổng số lộc và kích thước lộc Kết quả nghiên cứu về sinh trưởng các đợt lộc của giống thanh long ruột đỏ trong điều kiện tự nhiên được trình bày ở bảng 4.2
Trang 40Bảng 4.2.Động thái tăng chiều dài lộc các giống thanh long thí nghiệm
Qua bảng 4.2 cho thấy như sau: thời gian chiều dài từ khi lộc xuất hiện đến khi lộc thành thục ở từng đợt lộc giữa các giống thanh long như giống LĐ1, TL4, ĐL3 và VP5 khác nhau, thời gian sinh trưởng khác nhau Thời gian xuất hiện lộc các giống không có sự chênh lệch nhiều với các giống trong đợt 1,2,3 trong thời gian 7 ngày chiều dài lộc sinh trưởng, cụ thể là:
Trong 3 đợt chiều dài lộc sinh trưởng chỉ dao động từ 4 cm ở giống ĐL 3 đến 6,5 cm ở giống LĐ1, trong đó, chiều dài lộc sinh trưởng cao nhất là (5,5; 5,5; 6,5 cm) ở giống TL4, LĐ1 và sinh trưởng thấp nhất là (4; 4; 5,5 cm) ở giống ĐL3, VP5
Sau 30 ngày thời gian xuất hiện, chiều dài lộc sinh trưởng cụ thể là: Trong lộc 3 đợt của chiều dài lộc sinh trưởng dao động trong khoảng 35,5 cm đến 42,5
Nhìn chung, ở các giống thời gian từ khi xuất hiện lộc đến khi thành thục của chiều dài lộc trong đợt lộc1 đến đợt lộc 3 trong thời gian 7 ngày trong đợt 3 sinh trưởng cao nhất là (6,5 cm) ở giống LĐ1 và sinh trưởng thấp nhất là (5,5 cm) ở giống VP5