Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng đạm và kali đến sinh trưởng phát triển và năng suất chất lượng của giống táo 05 .... và ảnh hưởng của biện pháp kỹ thuật đối với giống táo 05
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
ĐỖ THỊ THU HẰNG
ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA MỘT
SỐ GIỐNG TÁO TA (ZIZIPHUS MAURITIANA LAM.) VÀ
ẢNH HƯỞNG CỦA BIỆN PHÁP KỸ THUẬT ĐỐI VỚI
GIỐNG TÁO 05 TRỒNG TẠI GIA LÂM - HÀ NỘI
Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Anh Tuấn
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên
cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo
vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Đỗ Thị Thu Hằng
Trang 3
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết
ơn sâu sắc tới TS.Trần Anh Tuấn – Bộ môn Sinh lý thực vật và ThS Nguyễn Thị Thu Hương – Viện Nghiên cứu Rau quả đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Sinh lý thực vật - Khoa Nông học - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp
đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Đỗ Thị Thu Hằng
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục bảng vi
Danh mục hình vii
Trích yếu luận văn viii
Thesis abstract x
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích, yêu cầu 2
1.3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 2
1.3.1 Ý nghĩa khoa học 2
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
Phần 2 Tổng quan tài liệu 3
2.1 Nguồn gốc xuất xứ 3
2.2 Phân loại thực vật 4
2.3 Đặc điểm thực vật học 5
2.4 Yêu cầu điều kiện ngoại cảnh 5
2.4.1 Nhiệt độ 5
2.4.2 Ánh sáng 6
2.4.3 Nước 6
2.4.4 Đất đai và chất dinh dưỡng 6
2.5 Tình hình sản xuất táo trong và ngoài nước 7
2.5.1 Tình hình sản xuất táo trên thế giới 7
2.5.2 Tình hình sản xuất táo trong nước 7
2.6 Các nghiên cứu về táo trong và ngoài nước 8
2.6.1 Nghiên cứu trên thế giới 8
2.6.2 Nghiên cứu trong nước 13
Phần 3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 26
3.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 26
Trang 53.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 26
3.3 Nội dung nghiên cứu 26
3.3.1 Đánh giá khả năng sinh trưởng và phát triển của một số giống táo trồng tại Gia Lâm - Hà Nội 26
3.3.2 Xác định một số biện pháp kỹ thuật làm tăng năng năng suất và chất lượng của giống táo 05 trồng tại Gia Lâm - Hà Nội 26
3.4 Phương pháp nghiên cứu 26
3.4.1 Đánh giá khả năng sinh trưởng và phát triển của một số giống táo trồng tại Gia Lâm - Hà Nội 26
3.4.2 Xác định một số biện pháp kỹ thuật làm tăng năng năng suất và chất lượng của giống táo 05 trồng tại Gia Lâm - Hà Nội 28
3.5 Phương pháp xử lý số liệu 32
Phần 4 Kết quả và thảo luận 33
4.1 Kết quả đánh giá khả năng sinh trưởng và phát triển của một số giống táo trồng tại Gia Lâm - Hà Nội 33
4.1.1 Khả năng bật mầm sau khi đốn của các giống táo thí nghiệm 33
4.1.2 Đặc điểm sinh trưởng của các giống táo thí nghiệm 34
4.1.3 Đặc điểm lá, cành của một số giống táo thí nghiệm 34
4.1.4 Khả năng ra hoa của một số giống táo thí nghiệm 36
4.1.5 Tỷ lệ đậu quả và năng suất của các giống táo thí nghiệm 37
4.1.6 Kích thước và đặc điểm quả của một số giống táo thí nghiệm 38
4.1.7 Thành phần sinh hóa của một số giống táo thí nghiệm 39
4.1.8 Mức độ sâu bệnh hại của một số giống táo 41
4.2 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng đạm và kali đến sinh trưởng phát triển và năng suất chất lượng của giống táo 05 42
4.2.1 Ảnh hưởng của liều lượng đạm và kali đến khả năng sinh trưởng của giống táo 05 42
4.2.2 Ảnh hưởng của liều lượng đạm và kali đến khả năng ra hoa đậu quả của giống táo 05 43
4.2.3 Ảnh hưởng của liều lượng đạm và kali đến một số chỉ tiêu về đặc điểm quả của giống táo 05 44
4.2.4 Ảnh hưởng của liều lượng đạm và kali đến tỷ lệ cấp quả và năng suất của giống táo 05 46
4.2.5 Ảnh hưởng của liều lượng đạm và kali đến thành phần sinh hóa của giống táo 05 48
Trang 64.2.6 Ảnh hưởng của liều lượng đạm và kali đến mức độ gây hại của sâu bệnh
của giống táo 05 49
4.3 Ảnh hưởng của thời vụ cắt tỉa đến khả năng sinh trưởng phát triển, năng suất của giống táo 05 làm giàn trồng tại Gia Lâm 50
4.3.1 Ảnh hưởng của thời vụ cắt tỉa đến khả năng ra lộc của giống táo 05 50
4.3.2 Ảnh hưởng của thời vụ cắt tỉa đến kích thước lá, cành của giống táo 05 làm giàn 51
4.3.3 Ảnh hưởng của thời vụ cắt tỉa đến khả năng ra hoa của giống táo 05 làm giàn 52
4.3.4 Ảnh hưởng của thời vụ cắt tỉa đến khả năng ra quả và năng suất của giống táo 05 làm giàn 53
4.3.5 Ảnh hưởng của thời vụ cắt tỉa đến đặc điểm quả của giống táo 05 làm giàn 54
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 56
5.1 Kết luận 56
5.2 Kiến nghị 56
Tài liệu tham khảo 57
Phụ lục 59
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1 Khả năng bật mầm sau khi đốn của các giống táo thí nghiệm 33
Bảng 4.2 Đặc điểm sinh trưởng của các giống táo thí nghiệm 34
Bảng 4.3 Đặc điểm lá, cành của các giống táo thí nghiệm 35
Bảng 4.4 Đặc điểm ra hoa của các giống táo thí nghiệm 36
Bảng 4.5 Tỷ lệ đậu quả, năng suất của các giống táo thí nghiệm 37
Bảng 4.6 Kích thước quả và đặc điểm quả của các giống táo thí nghiệm 38
Bảng 4.7 Thành phần sinh hóa của một số giống táo thí nghiệm 40
Bảng 4.8 Mức độ gây hại của sâu bệnh chính trên các giống táo thí nghiệm 41
Bảng 4.9 Ảnh hưởng của liều lượng đạm và kali đến khả năng sinh trưởng của giống táo 05 42
Bảng 4.10 Ảnh hưởng của liều lượng đạm và kali đến khả năng ra hoa đậu quả của giống táo 05 44
Bảng 4.11 Ảnh hưởng của liều lượng đạm và kali đến một số chỉ tiêu về đặc điểm quả của giống táo 05 45
Bảng 4.12 Ảnh hưởng của liều lượng đạm và kali đến tỷ lệ cấp quả và năng suất của giống táo 05 46
Bảng 4.13 Ảnh hưởng của liều lượng đạm và kali đến thành phần sinh hóa của giống táo 05 48
Bảng 4.14 Ảnh hưởng của liều lượng đạm và kali đến mức độ gây hại của sâu bệnh của giống táo 05 49
Bảng 4.15 Khả năng ra lộc của giống táo 05 ở các thời vụ cắt tỉa 50
Bảng 4.16 Ảnh hưởng của thời vụ cắt tỉa đến kích thước lá, cành của giống táo 05 làm giàn 51
Bảng 4.17 Ảnh hưởng của thời vụ cắt tỉa đến khả năng ra hoa của giống táo 05 làm giàn 52
Bảng 4.18 Ảnh hưởng của thời vụ cắt tỉa đến khả năng ra quả và năng suất của giống táo 05 làm giàn 53
Bảng 4.19 Ảnh hưởng của thời vụ cắt tỉa đến đặc điểm quả của giống táo 05 làm giàn 54
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1 Kích thước lá của các giống táo thí nghiệm 35
Hình 4.2 Năng suất của các giống táo thí nghiệm 37
Hình 4.3 Khối lượng quả các giống táo thí nghiệm 38
Hình 4.4 Kích thước quả các giống táo thí nghiệm 39
Hình 4.5 Độ Brix quả của các giống táo thí nghiệm 40
Hình 4.6 Kích thước lá của giống táo 05 ở các công thức bón phân 43
Hình 4.7 Kích thước quả của giống táo 05 ở các công thức bón phân 46
Hình 4.8 Tỷ lệ cấp quả của giống táo 05 ở các công thức bón phân 47
Hình 4.9 Độ Brix của giống táo 05 ở các công thức bón phân 48
Hình 4.10 Số cành và số cành ra hoa của giống táo 05 ở các thời vụ cắt tỉa 52
Hình 4.11 Năng suất giống táo 05 ở các thời vụ cắt tỉa 54
Trang 9TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Đỗ Thị Thu Hằng
Tên Luận án: “Đặc điểm sinh trưởng, phát triển của một số giống táo ta (Ziziphus
mauritiana Lam.) và ảnh hưởng của biện pháp kỹ thuật đối với giống táo 05 trồng tại
Gia Lâm - Hà Nội”
Chuyên ngành: Khoa học cây trồng Mã số: 60.62.01.10
Tên cơ sở đào tạo: Học viện nông nghiệp Việt Nam
Mục đích nghiên cứu của luận văn
+ Xác định được giống táo cho năng suất cao, chất lượng tốt phù hợp với điều
kiện trồng tại Gia Lâm – Hà Nội
+ Xác định được biện pháp kỹ thuật phù hợp làm tăng năng suất chất lượng quả của giống táo 05 trồng tại Gia Lâm – Hà Nội
Các phương pháp nghiên cứu đã sử dụng
+ Thí nghiệm đánh giá khả năng sinh trưởng phát triển của một số giống táo trồng tại Gia Lâm –Hà Nội, được bố trí tuần tự không nhắc lại với 5 công thức tương ứng với
5 giống là: táo 05, mẫu giống 11tao07, mẫu giống 11tao08, Đại táo 15, táo Đài Loan + Thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng đạm và kali bón đến khả năng sinh trưởng phát triển của giống táo 05 trồng tại Gia Lâm – Hà Nội được bố trí kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên (RCD) với 9 công thức CT1:500g Ure + 400g Kali Clorua, CT2: 500g Ure + 500g Kali Clorua, CT3: 500g Ure + 600g Kali Clorua; CT4: 600g Ure + 400g Kali Clorua, CT5: 600g Ure + 500g Kali Clorua, CT6: 600g Ure + 600g Kali Clorua, CT7: 700g Ure + 400g Kali Clorua, CT8: 700g Ure + 500g Kali Clorua, CT9: 700g Ure + 600g Kali Clorua
+ Thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ cắt tỉa đến khả năng sinh trưởng, phát triển của giống táo 05 trồng tại Gia Lâm – Hà Nội được bố trí kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên (CRD) với 4 công thức: CT1: cắt tỉa ngày 15/6, CT2: cắt tỉa ngày 15/7, CT3: cắt tỉa ngày 15/8, CT4: cắt tỉa ngày 15/9
Các kết quả, phát hiện chính và kết luận
+ Các giống táo thí nghiệm đều có khả năng sinh trưởng từ trung bình đến tốt Trong các giống táo thí nghiệm thì giống táo 05 có khả năng sinh trưởng tốt hơn các giống táo 11Tao07, 11Tao08, Đại táo 15 và Đài loan như: có kích thước lá lớn nhất (chiều dài lá đạt 10,79cm và chiều rộng lá đạt 7,53cm); Khối lượng quả cao nhất đạt 97,54g; Năng suất (cây 4 năm tuổi) cao nhất đạt 68,5kg/cây Đặc biệt, giống táo 05 có thời gian thu hoạch muộn và khối lượng quả cao hơn các các giống táo khác
Trang 10+ Với các mức phân bón khác nhau, khả năng sinh trưởng phát triển và năng suất của giống táo 05 trồng tại Gia Lâm – Hà Nội là khác nhau, trong đó: Bón phân ở mức CT9: 322gN + 360g K 2 O (700g ure + 600g kaliclorua) cho mỗi gốc, cây táo sinh trưởng phát triển mạnh nhất: chiều cao cây đạt 2,34m, đường kính tán 2,45m, đường kính gốc 5,7cm, chiều dài lá 10,53cm, chiều rộng lá 8,54cm Bón phân ở mức CT6: 276gN + 360gK2O (600g ure + 600g kaliclorua) cho mỗi cây/1 năm cho hiệu quả cao nhất, cây táo cho năng suất cá thể đạt cao nhất 19,2kg/cây, khối lượng quả đạt 90,0gam, độ Brix đạt 14,2%
+ Thời vụ cắt tỉa cho giống táo 05 làm giàn vào tháng 7 cho cây có khả năng sinh trưởng phát triển tốt nhất và năng suất đạt cao nhất Cụ thể: Số lộc xuất hiện sau cắt tỉa đạt 11,1 lộc/cây, chiều dài cành đạt 107,4cm, đường kính cành đạt 1,11cm, năng suất đạt 20kg/cây, khối lượng quả là 90,7g
Trang 11THESIS ABSTRACT
Student: Do Thi Thu Hang
Title of the thesis: “Growth and development characteristics of some jujube
cultivars (Ziziphus mauritiana Lam.) and effects of some techniques on yield of cv
Tao05 cultivated at Gia Lam, Hanoi”
Major: Crop Science Code: 60.62.01.10
Education organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA) Objective
+ Selection of jujube cultivars with high yield and quality that are suitable for cultivation at Gia Lam, Ha Noi
+ Identification of suitable techniques for cultivation of cv Tao 05 cultivating at Gia Lam – Hanoi
Methods
+ The experiment to evaluate growth and development of jujube cultivars growth
at Gia Lam, Hanoi (exp 1) was laid out in completely randomized design with 5 different jujube cultivars including Tao 05, 11tao07, 11tao08, Dai Tao 15, and Tao Dai Loan (Taiwan jujube)
+ The experiment to verify effects of different amount of nitrate and potassium on growth and development of the jujube cultivar Tao 05 at Gia Lam, Hanoi (exp 2) was laid out in completely randomized design with 9 treatments (CT1: 500g Urea + 400g Potassium chloride), CT2: 500g Urea + 500g Potassium chloride, CT3: 500g Urea + 600g Potassium chloride, CT4: 600g Urea + 400g Potassium chloride, CT5: 600g Urea + 500g Potassium chloride, CT6: 600g Urea + 600g Potassium chloride, CT7: 700g Urea + 400g Potassium chloride, CT8: 700g Urea + 500g Potassium chloride, CT9: 700g Urea + 600g Potassium chloride)
+ The experiment to verify the most suitable time in year for pruning in jujube cultivar Tao 05 at Gia Lam, Hanoi was arranged in completely randomized design with
4 treatments of CT1, CT2, CT3, CT4 (pruning at June 15th, July 15th, August 15th, September 15th, respectively)
Main results and conclusions
+ In the present research, jujube cultivars showed a good ability of growth and development Among them, cultivar Tao 05 showed highest values of growth and development parameters, which were indicated in leaf length of 10.79 cm; leaf width 7.53 cm; fruit weight 97.54g, yield (of a 4-year-old-plant) of 68.5 kg/plant Specially,
Trang 12the cultivar Tao 05 allowed later harvest with higher fruit weight than that of the other cultivars
+ Application of different fertilizers had different influence on the growth and yield of the cultivar Tao 05 grown in Gia Lam, Hanoi Particularly, treatment of CT9 with 322g N + 360g K 2 O (equivalent to 700g urea + 600g potassium chloride) promoted the highest plant growth parameters (plant height was 2.34 m; canopy diameter was 2.45 m; stem base diameter was 5.7 cm; leaf length was 10.53 cm; leaf width was 8.54 cm) Application of CT6: with 276gN + 360gK 2 O (equivalent to 600g urea+ 600g potassium chloride) gave a highest efficiency with individual yield was 19.2kg/plant, fruit weight was 90.0g, and Brix index was 14.2%
+ To cultivar Tao 05, pruning applied in July gave the best growth and development Specifically, number of the new shoots formed after July pruning reached 11.1 shoots/plant, shoot length reached 107.4 cm, shoot diameter reached 11.1 cm, individual yield was 20 kg/plant with fruit weight was 90.7g
Trang 13PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Táo (Ziziphus mauritiana Lam.) là cây ăn quả nhiệt đới có nguồn gốc ở
châu Phi Tuy không được trao đổi nhiều trên thị trường thế giới nhưng trong đời sống táo là một loại quả tốt Cây táo thích nghi rộng rãi với các vùng khí hậu khác nhau, sinh trưởng phát triển nhanh, chống chịu sâu bệnh khá, tuổi thọ kéo dài, có sản lượng ổn định, ra hoa nhiều lứa và hàng năm Về giá trị dinh dưỡng, táo là một loại quả có tác dụng tuyệt vời đối với sức khỏe con người Quả táo có chứa những thành phần dinh dưỡng phong phú, đặc biệt là các loại chất khoáng, vitamin, axít hoa quả Ngoài ra, táo còn chứa kali và các chất chống xy hóa giúp ngăn ngừa bệnh ung thư và lão hóa ở con người Quả táo có thể dùng ăn tươi rất giòn ngọt và thơm ngon hoặc có thể chế biến thành mức kẹo, nước uống Các bộ phận của cây táo là nguồn thuốc quý được sử dụng rộng rãi trong y học cổ truyền
Ở nước ta táo được trồng ở cả miền Bắc và miền Nam với nhiều giống táo như táo chua, táo Gia Lộc, táo Thiện Phiến ngọt, và một số giống táo mới nhập như táo Đài Loan, táo Thái Lan Hiện nay nhiều giống táo nhập nội hay lai tạo mới đã được trồng ở nhiều vùng trong cả nước và có xu hướng phát triển ngày càng rõ rệt Tuy nhiên, sản xuất táo ở miền Bắc nói chung còn nhỏ lẻ mang tính
tự phát và sản phẩm tiêu thụ ngay trong vùng, các giống táo năng suất chưa cao, chất lượng chưa tốt Mặt khác chưa có nhiều công trình nghiên cứu khảo nghiệm đánh giá tính thích ứng của một giống táo nào đó với các vùng sinh thái và chưa
có nhiều kết quả nghiên cứu về các biện pháp kỹ thuật canh tác để nâng cao năng suất chất lượng cho từng giống táo tại một vùng sinh thái
Vì vậy, để nâng cao năng suất và đảm bảo chất lượng thì vấn đề đặt ra là phải chú trọng đến việc tuyển chọn giống và biện pháp kỹ thuật trên các giống táo tuyển chọn ở một số vùng sinh thái các tỉnh phía Bắc Trên cơ sở đó, chúng
tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đặc điểm sinh trưởng, phát triển của một số
giống táo ta (Ziziphus mauritiana Lam.) và ảnh hưởng của biện pháp kỹ thuật đối với giống táo 05 trồng tại Gia Lâm - Hà Nội”
Trang 141.2 MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU
a Mục đích
- Xác định được giống táo cho năng suất cao, chất lượng tốt phù hợp với
điều kiện trồng tại Gia Lâm – Hà Nội
- Xác định được biện pháp kỹ thuật phù hợp làm tăng năng suất chất lượng quả của giống táo 05 trồng tại Gia Lâm – Hà Nội
Kết quả của đề tài:
- Là cơ sở cho việc lựa chọn giống táo có khả năng sinh trưởng phát triển, năng suất cao, chất lượng tốt phù hợp với điều kiện trồng tại Gia Lâm – Hà Nội
- Góp phần bổ sung vào việc xây dựng hoàn thiện quy trình thâm canh giống táo 05
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Trên cơ sở đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển năng suất và chất lượng của giống táo để cung cấp cho sản xuất thêm giống táo mới có năng suất cao, chất lượng tốt
- Việc tìm ra các biện pháp kỹ thuật về bón phân, cắt tỉa cho giống táo 05 góp phần tăng năng suất, chất lượng quả từ đó tăng hiệu quả kinh tế trong sản xuất
Trang 15
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
ở Trung Quốc (Vũ Công Hậu, 1999), Trần Thế Tục và Phạm Văn Côn (2002)
Liu and Cheng (1995), theo như điều tra của mình, nghĩ rằng vùng Malaysia, Nam và Đông Nam Á là trung tâm về cả sự phát triển và phân bố của loài Ziziphus Theo De Candolle (1886) có thể ở Myanmar (Burma) và Ấn Độ Giả thuyết này dựa trên tập hợp tiêu bản của Wallich từ Burma, ghi chép bởi Kurz về thực vật ở Burma tại rừng khô gần Avar và Prome, Beddone, vườn thực vật tại Ấn Độ, nói rõ nó có mặt ở đó trong một trạng thái hoang dã, mô tả nó bởi Rheede trên bờ biển Malabar và sự tồn tại của ba tên tiếng Phạn và những tên khác bằng tiếng Ấn Độ Forskal và Delile, đầu thế kỷ 18 đã không thấy loài này ở Arabia, Ai Cập và một số khu vực ở châu Phi và Robert Brown và Thonning đã không thấy nó ở Guinea Nó xuất hiện để được giới thiệu tại Arabia và Ai Cập, và phải được lan sang Zanzibar từ châu Á, và với nhiệt độ giống châu Phi Dựa trên sự miêu tả của Rumphius nó như một loài thuộc Ấn Độ (O.P Pareek, 2001)
Indo-Theo Nguyễn Đăng Nghĩa (2006) thì táo là cây ăn quả nhiệt đới có nguồn gốc ở châu Phi Táo được trồng chủ yếu ở nhiều nước xứ nóng Đông Nam Á Ở Trung Quốc, cây táo trồng tới vĩ độ 44o Bắc (Thẩm Dương), cách đây tới 3000 năm, người ta đã mô tả 11 giống táo
Theo Agroforestry Database 4.0 (Orwa et al.2009), táo là cây bản địa của
những vùng sau: Afghanistan, Algeria, Australia, Bangladesh, China, Egypt, India, Indonesia, Iran, Kenya, Libyan Arab Jamahiriya, Malaysia, Nepal, Pakistan, Thailand, Tunisia, Uganda, Vietnam Và là cây ngoại lai của những vùng: Angola, Barbados, Botswana, Burkina Faso, Cambodia, Cameroon, Chad, Congo, Cote d'Ivoire, Ethiopia, Gambia, Ghana, Grenada, Guinea, Lesotho, Madagascar, Malawi, Mali, Mauritania, Mozambique, Namibia, Niger, Nigeria, Philippines, Senegal, Sierra Leone, Somalia, South Africa, Sudan, Swaziland, Tanzania, Zambia, Zimbabwe
Trang 16Táo là cây bản địa thuộc vùng Đông Nam Á hoặc Đông Phi Táo được ghi nhận xuất hiện lần đầu tiên tại eo biển Torres vào năm 1863, và tại Townsville, Queensland vào nawm1916 (Weed Management Plan for Chinee Apple
(Ziziphus mauritiana), 3/2012) Đây là loài cây phổ biến ở phía Bắc Queensland
(Fact sheet, Declared class 2 pest plant, 6/2013)
Một số tài liệu khác cho biết, táo ta hay táo chua (Ziziphus mauritiana) là
loại cây ăn quả của vùng nhiệt đới, thuộc về họ Táo (Rhamnaceae) Tại Trung Quốc, nó được gọi là táo chua, táo Ấn Độ hay táo Điền (táo Vân Nam), táo gai Vân Nam Cây có thể lớn rất nhanh thậm chí trong các khu vực khô và cao tới 12 mét và đạt tuổi thọ 25 năm Nó có nguồn gốc ở châu Á (chủ yếu là Ấn Độ) mặc
dù cũng có thể tìm thấy ở châu Phi (www.vi.wikipedia.org) Cũng như vậy,
trang www.fruits.soton.ac.uk cho rằng táo (Ziziphus mauritiana) là một cây ăn
quả thương mại quan trọng của vùng nhiệt đới, cây được trồng ở hầu hết các vùng đất thuộc tiểu lục địa Ấn Độ, châu Phi và phía Bắc Australia để dùng làm quả ăn tươi Đây là một loại cây rất tốt để trồng ở những vùng khô vì nó có thể chịu hạn trong giai đoạn dài Nó có một rễ cọc rất dài đâm sâu và có thể chịu được nhiệt độ cao trong suốt mùa hè
2.2 PHÂN LOẠI THỰC VẬT
Táo ta hay táo chua (Ziziphus mauritiana) là loại cây ăn quả của vùng
nhiệt đới, thuộc về họ Táo (Rhamnaceae)
Họ Táo (danh pháp khoa học: Rhamnaceae) là một họ lớn trong thực vật
có hoa, chủ yếu là cây gỗ, cây bụi và một số dây leo Họ này chứa khoảng 50-60 chi và khoảng 870-950 loài (APG II công nhận 52 chi với 925 loài) Họ Rhamnaceae phân bố rộng khắp thế giới, nhưng là phổ biến hơn trong khu vực cận nhiệt đới và nhiệt đới Chứng cứ hóa thạch của họ Rhamnaceae có từ tầng Cenomanum (Hậu Phấn trắng)
Trong chi Ziziphus thuộc họ Rhamnaceae có tới 40 loài trồng ở vùng
Nhiệt đới và Á nhiệt đới vủa Bắc bán cầu Ziziphus/Jujube (táo Trung Quốc) và Ziziphus mauritiana (táo Ấn Độ) là 2 loài quan trong nhất Các giống táo ta của Việt Nam thuộc nhóm giống táo Ấn Độ Ở Trung Quốc người ta đánh giá rất cao cây táo vì có giá trị dinh dưỡng cao dùng làm thuốc và là cây xóa đói giảm nghèo cho nông dân miền núi Có hơn 125 giống táo được trồng ở các vùng của
Ấn Độ từ Nam lên Bắc Tùy theo điều kiện khí hậu đất đai tập quán của mỗi vùng mà người ta chọn những giống trồng thích hợp (Trần Thế Tục và Phạm Văn Côn, 2002)
Trang 172.3 ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT HỌC
Cây táo ta thuộc họ Rhamnaccae, tên khoa học Ziziphus mauritiana Lamk,
là cây thuộc dạng thân gỗ, nửa bụi, sinh trưởng và phát triển nhanh Trên thân và cành có nhiều gai Gai táo thực chất là những lá kèm biến thái, mọc thành từng đôi một ở hai cuống lá Ở các cấp cành dưới, gai tương đối cứng, sau đó có thể gẫy và rụng dần Chúng có thể là loại cây bụi rậm rạp, cao từ 1,2-1,8m hoặc cây thân gỗ cao từ 3-9m hay thậm chí tới 12m, mọc thẳng xuống hoặc tỏa tán rộng, với các cành rủ xuống có hoặc không có lông bao phủ, các cành nhánh ngoằn ngoèo, không gai hoặc có các gai nhỏ thẳng và sắc (The Plant List, 2010)
Lá đơn nguyên mọc cách, hình trứng hoặc elip thuôn dài, dễ phân biệt với
táo Tàu (Ziziphus jujuba) bởi sự có mặt của các sợi lông tơ dày đặc, mềm như
lụa, có màu nâu hay trắng ở mặt dưới cũng như cuống lá non thì ngắn và có lông
Ở mặt trên, chúng có màu xanh lục thẫm, bóng mặt và với ba gân lá theo chiều dọc, dễ thấy và bị nén xuống cũng như các răng cưa rất rõ ở mép lá, ba gân gốc nỗi rõ ở mặt dưới (The Plant List, 2010)
Hoa tương đối nhỏ tập trung thành xim (chùm) ở nách lá, năm đài hình tam giác, nhọn, nhẵn ở mặt trong, có lông ở mặt lưng, ống đài dài bằng thùy dài Tràng hoa có năm cánh hình bầu dục rộng, mép cong và trong, rất lõm, màu trắng nhạt, có móng hẹp, đĩa mật có năm thùy Bầu 2 ô ẩn sâu trong đĩa mật, chỉ
lộ 1 ít ở đỉnh, vòi chia đôi, 2 ô mỗi ô có một noãn Hoa nở từ tháng 6-10 Vì hoa
ra liên tục trong thời gian dài nên số lượng hoa ra rất nhiều Trong từng chùm, có các hoa nở liên tiếp cho đến khi hoa có quả đậu (vi.wikipedia.org)
Quả hạch hình cầu, vỏ nhẵn Khi chưa chín lớp cùi thịt có màu trắng, giòn, nhiểu nước, vị từ chua tới ngọt, quả đã chín ít giòn hơn và chuyển dần sang dạng bột; quả quá chín nhăn nhúm, lớp cùi thịt có màu vàng sẫm, mềm, xốp và có mùi thơm
Bộ rễ phát triển mạnh, ăn sâu nên chống gió bão tốt, có thể dùng làm cây
Trang 18năng nảy mầm nhanh và đều khi hạt đã nảy mầm thành cây con nếu gặp nhiệt độ thấp thì dễ bị bệnh lở cổ rễ nhất là trong điều kiện ẩm độ không khí và ẩm độ đất đều cao (trên 85%) Đối với cây lớn, ở nhiệt độ dưới 15 oC hầu như ngừng sinh trưởng, không ra cành mới hoặc lá non không lớn lên được, dễ bị bệnh phấn trắng khi nhiệt độ càng tăng táo sinh trưởng càng mạnh Thậm chí nhiệt độ ngoài trời tăng trên 40 oC người ta cũng không thấy hiện tượng táo bị hại táo phân hóa mầm hoa tốt nhất trong điều kiện 25-30 oC Thời kỳ táo kết quả đòi hỏi nhiệt độ không khắt khe lắm
2.4.2 Ánh sáng
Táo thuộc loại cây ưa sáng nên suốt cả quá trình nảy mầm đến quả chín đều đòi hỏi ánh sáng mạnh Nếu thiếu ánh sáng, cành mảnh, lướt, mật độ cành thấp, lá vàng hoặc xanh tối, đặc biệt là hoa dễ bị rụng hoặc khó thụ phấn thụ tinh, làm cho quả ít, năng suất và phẩm chất đều kém
2.4.3 Nước
Táo rất cần nước vì khối lượng lá, hoa quả nhiều, tổng diện tích thoát hơi nước rất lớn Do đó táo luôn luôn yêu cầu ẩm đất 70-75%, nếu thấp dưới 70% thì sinh trưởng chậm quả bé Vì thế, trong thời kỳ gặp hạn phải chú ý tưới nước đầy
đủ Tuy táo có khả năng chịu ẩm và chịu úng nhung bị úng kéo dài cũng không lợi, cây con dễ bị chết, cây lớn dễ bị vàng lá, rụng hoa, rụng quả non và thối quả nặng, đặc biệt khi ẩm độ không khí cao trên 85%
2.4.4 Đất đai và chất dinh dưỡng
Bộ rễ táo phân bố khá rộng và sâu, có khi đâm sâu trên 1m và lam rộng tới 10m, trong đó rễ tơ (mang nhiều rễ hấp thu dinh dưỡng) tập trung chủ yếu ở lớp đất mặt 20-40cm và ở phạm vi trong và ngoài tán cây Mặt khác, hàng năm, mỗi cây táo 5 tuổi có thể sản sinh khoảng 100kg quả, 100kg lá, 50kg cành tươi đòi hỏi một khối lượng chất dinh dưỡng khá lớn Vì vậy, sự sinh trưởng phát triển của cây táo chịu ảnh hưởng nhiều ở tính chất và độ phì của đất Nếu táo được trồng ở đất sét nặng, đất cát thiếu dinh dưỡng sẽ sinh trưởng rất chậm, trong hoàn cảnh này phải bổ sung một lượng lớn chất hữu cơ cho đất kết hợp với một tỷ lệ đạm, lân, kali, canxi thích đáng Táo còn ưa đất trung tính hay hơi kiềm, nên khi trồng táo trên đất chua cần phải bón vôi cải tạo đất Phẩm chất quả bị giảm khi bón nhiều phân đạm hóa học là vì ngoài ảnh hưởng của lượng đạm không cân đối còn chịu ảnh hưởng xấu bởi các gốc muối Cl- hoặc SO42- có tính axit
Trang 192.5 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT TÁO TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
2.5.1 Tình hình sản xuất táo trên thế giới
Trên thế giới, cây táo phân bố chủ yếu ở châu Á và khu vực Đông Phi Cây táo được trồng khắp nơi trên khu vực khô của tiểu lục địa Ấn Độ, châu Phi và miền bắc Australia để lấy quả tươi Nhờ vào lợi ích của cây táo trong việc cung cấp thực phẩm tốt cho con người, hiện nay trên thế giới có rất nhiều nghiên cứu nhằm hoàn thiện kỹ thuật trồng cũng như chọn giống táo
Theo số liệu thống kê thì đến năm 1988 Trung Quốc có 33,3 vạn ha với sản lượng 57,2 vạn tấn đứng vị trí thứ 7 sau táo tây, lê, cam, quýt, chuối, nho, hồng
và chiếm 2,48% tổng sản lượng toàn quốc (Giải Tiến Bảo và cs., 1998)
Ở Ấn Độ theo V.P Fharma and V.N Kore (1990) có khoảng 12.000ha trồng nhiều ở vùng Đồng bằng các ban Punjab, Haryana, Rajasthan và Uttar Pradesh Ngoài ra còn trồng ở các vùng khô hạn ở Madhya Pradesh, Bihar, …
Ở Thái Lan theo Anek Bangka and Sompol Nillavesana (1992) có 2.223ha táo, là một trong 27 loài quả có tính thương mại ở Thái Lan và có diện tích thấp nhất trong số đó Năng suất bình quân đạt 15,3 tấn/ha và sản lượng đạt 31.573 tấn Giá bán tại vườn 8,4 bạt/kg
2.5.2 Tình hình sản xuất táo trong nước
Cây táo có tính thích ứng rộng rãi, trồng ở nhiều vùng khí hậu và nhiều loại đất, kể cả đất xấu Cây táo lại dễ tạo giống, mãi cho quả, tuổi thọ tương đối dài,
kỹ thuật canh tác dễ dàng Cây táo được trồng rất phổ biến, ở nông thôn miền Bắc nước ta phần lớn các gia đình đều có cây táo Táo đã trở thành một loại quả dân gian Một số vùng trồng táo tập trung lầu đời như Thiện Phiến (Hưng Yên), Gia Lộc (Hải Dương) Miền Nam trồng nhiều ở các tỉnh Tiền Giang, Đồng Tháp, Bạc Liêu, Ninh Thuận
Theo nhận xét của Vũ Công Hậu (1996) thì các giống táo khác nhau rõ rệt về kích thước, hình dạng, màu sắc, thời vụ chín của quả Ở miền Bắc, táo bắt đầu mùa sinh trưởng khác muộn (vào tháng 3) Những giống chín sớm nhất ra hoa vào tháng 6, giống muộn nhất vào tháng 8,9 Mùa hoa kéo dài 4-5 tháng Quả chín sớm vào tháng 11,12, muộn vào tháng 2 Ở miền Nam có thể đốn một năm 2 lần để thu 2 lứa quả, lần đốn thứ nhất vào tháng 2, 3 cho thu quả tháng 6,7, 8 Đợt quả này chất lượng cao nhưng chất lượng trung bình vì là mùa mưa Lần đốn
Trang 20thú 2 vào tháng 9, 10 cho thu hoạch vào tháng 12, 1,2,quả thu vào mùa nắng nên sản lượng thấp nhưng chất lượng tốt
Theo số liệu của Viện cây lương thực và cây thực phẩm tính đến năm 1991 diện tích trồng táo trên cả nước là 6.854 ha
Hiện nay, Ninh Thuận là tỉnh có điều kiện khí hậu rất thuận lợi cho việc trồng cây táo nên cây táo đang được đưa vào sản xuất và nghiên cứu Với diện tích trồng tính đến năm 2011 là 988 ha, rải đều sáu trong bảy huyện thị của tỉnh Mức sản lượng cung cấp cho thị trường trong nước hàng năm lên đến khoảng 19 ngàn tấn Sản phẩm táo của Ninh Thuận đã hiện diện cả hai thị trường Miền Bắc
và Miền Nam của Việt Nam Hiện nay sản lượng táo tại Ninh Thuận đứng hàng đầu và sản xuất táo với diện tích có xu hướng ngày càng tăng, trung bình mỗi năm cung ứng khoảng 37.782 tấn táo xanh cho thị trường cả nước (Dự án
hỗ trợ Tam nông tỉnh Ninh Thuận, 1/2015) Diện tích trồng táo tăng đột biến vào hai năm 2009 và 2010 từ diện tích trồng nho và các cây trồng khác Cụ thể, năm
2010 so 2009 diện tích táo tăng 54%, trung bình 6 năm diện tích cây trồng này tăng 70,3% Về sản lượng qua hai năm 2010 và 2009 tăng kỷ lục 356,6%, trung bình qua 6 năm tăng 115,2% Cuối năm 2013, nhãn hiệu hàng hóa Táo Ninh Thuận và Tỏi Phan Rang đã được Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) cấp giấy chứng nhận bảo hộ Cây táo đã và đang đem lại nguồn thu lớn cho việc sản xuất cây ăn quả tại Ninh Thuận (Nguyễn Phú Son, 2012)
2.6 CÁC NGHIÊN CỨU VỀ TÁO TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
2.6.1 Nghiên cứu trên thế giới
Táo ta Ziziphus mauritiana Lamk là loại cây ăn quả của vùng nhiệt đới
thuộc họ táo ( Rhamnaceae) Tại Trung Quốc, nó được gọi là táo chua, táo Ấn Độ hay táo Điền ( Táo Vân Nam) Cây có thể lớn rất nhanh, thậm chí trong các khu vực khô và cao tới 12m và đạt tuổi thọ 25 năm Nó có nguồn gốc ở Châu Á mặc
dù nó cũng có thể thấy ở châu Phi Quả là loại quả hạch, khi chín nó mềm, chứa nhiều nước, có vị ngọt Các quả chín vào khoảng thời gian khác nhau ngay cả khi chỉ trên một cây và có màu xanh lục nhạt khi còn xanh, vàng nhạt khi chín Kích thước và hình dạng quả phụ thuộc vào các giống khác nhau trong tự nhiên cũng như loại được trồng Quả được dùng để ăn khi đã chín hoặc ngâm rượu hay sử dụng để làm đồ uống Nó là một loại quả giàu chất dinh dưỡng và chứa nhiều Vitamin C
Trang 21Cây táo ta (Ziziphus Mauritiana Lamk) thuộc chi Ziziphus, họ thực vật
Rhamnaceae, có khoảng 85 loài tiểu mộc hay mọc thành bụi Cây cao trung bình, cành mọc rủ xuống, thân non có lông sau đó nhẵn, màu xám, có gai Lá hình trái xoan hay bầu dục; mặt trên xanh lục đậm, nhẵn, mặt dưới có lông dày, mềm Mép phiến lá có răng, có 3 gân về phía góc Hoa mọc thành chùm ở nách lá, màu trắng nhạt Quả hình cầu, có vỏ nhẵn, màu xanh khi còn non, chuyển sang vàng nhạt khi chín Quả có hạch cứng xù xì trong có chứa một hoặc hai hạt dẹt (táo nhân) Cây ra hoa và đậu quả hầu như quanh năm Thành phần dinh dưỡng có trong 100g thịt quả tươi của táo Ziziphus Mauritiana gồm: 0,8g protein; 0,07g chất béo và 0,6g chất sơ; ngoài ra còn có 26,5mg Calcium; 0,76-1,8mg sắt; 28,6mg phosphorus; 0,021mg Vitamin A; 0,024mg thiamine; 0,038mg Riboflavin; 76mg vitamin C
Ziziphus mauritiana Lamk là một loại cây bụi thường có màu xanh hoặc
cây nhỏ cao 15m, với thân cây có đường kính từ 40cm trở lên Trái cây có hình dạng và kích thước biến đổi Nó có thể là hình bầu dục, ô van, thuôn dài hoặc tròng và có thể dài 1-2,5 inch (2,5-6,25cm) tùy thuộc vào giống Thịt quả có màu trắng và sắc nét, khi chín loại quả này có một chút ngon ngọt và có mùi thơm dễ chịu Vỏ của trái cây mịn, bóng nhưng chặt chẽ
Trong chi Ziziphus thuộc họ Rhamnaceae có tới 40 loài trồng ở vùng nhiệt
đới và á nhiệt đới của Bắc bán cầu Lá của chúng mọc so le, với ba gân lá cơ bản
dễ thấy và dài 2-7cm; một số loài lá cây sớm rụng, các loài khác là cây thường xanh Hoa nhỏ, có màu vàng lục không dễ thấy Quả thuộc loại quả hạch, ăn được, có màu nâu vàng, đỏ, đen, hình cầu hay thuôn dài, dài từ 1-5cm, thông thường có vị đường và ngọt, tương tự như quả chà là về cấu trúc và hương vị
Ziziphus hay Jujube ( táo Trung Quốc hay còn gọi là táo tàu) và Ziziphus mauritiana Lamk ( táo Ấn Độ) là hai loại quan trọng nhất Táo Trung Quốc
trồng ở khí hậu ôn đới, cây nhỏ, mọc đứng cao 6-8m Lá có màu xanh bóng và mặt lưng nhẵn Cây rụng lá hàng năm, quả dài hay ô van, khi chín có màu đỏ Táo Ấn Độ, cây sinh trưởng khỏe, nhỏ, tán xòe với nhiều cành rũ xuống Lá có đặc điểm khác với táo Trung Quốc là ở mặt lưng lá có lớp lông nâu dày, cây xanh quanh năm, quả tròn hay ô van, khi chín thường màu vàng
Táo tàu Z ziziphus có lẽ là loài được biết đến nhiều nhất Các loài khác như Z.spinachristi ở tây nam châu Á, Z lotus ở khu vực Địa Trung Hải và táo ta Z
mauritiana ở miền tây châu Phi kéo dài về phía đông tới Ấn Độ, Vân Nam, miền
bắc Việt Nam Ziziphus joazeiro ( Mart.) phát triển ở khu vực Caatinga của Brasil
Trang 22Trong y học cổ truyền Trung Quốc, hột quả táo chua (Ziziphus jujuba
spinosa) được coi là có vị chua (toan) và ngọt (cam) cũng như trung hòa trong phản ứng (tính bình, không độc) Nó có tác dụng đối với tim, gan, mật, lá lách
Sử dụng trong điều trị các chứng cáu kỉnh, mất ngủ và hạ huyết áp
Z mauritiana Lamk có cả hoa đực và hoa cái và chủ yếu thụ phấn chéo
Một số cây tung phấn vào buổi sáng trong khi một số khác tung phấn vào buổi chiều, do đó ưa tiên thụ phấn chéo Dưới sự thụ phấn có kiểm soát, đậu quả là lớn hơn so với sự thụ phấn chéo so với tự thụ phấn Quan sát họ Samanko, Mali cho
thấy Z mauritiana Lamk chủ yếu là thụ phấn nhờ côn trùng như ong, bướm và
bọ cánh cứng
Ở châu Phi, Z mauritiana Lamk rụng lá và sinh trưởng chậm trong thời
kỳ khô nóng Trong Sahel nó rụng lá vào tháng ba tháng tư Các cây sản xuất
ra lá mới vào tháng sáu và tháng bảy và trái cây trưởng thành trong những tháng tiếp
Z mauritiana Lamk thường được nhân giống từ hạt Giống Z mauritiana
Lamk có khả năng tái sinh tự nhiên rất dồi dào, nhưng cây con cũng có thể được nhân giống trong vườn ươm Vỏ hạt cứng nên được làm nứt hoặc một phần loại
bỏ trước khi gieo Các hạt giống được gieo sau đó mà không cần bất kỳ biện pháp xử lý gì thêm Giá thể gieo ươm nên sử dụng nhiều thành phần khác nhau như cát, bùn hoặc đất sét và phân hữu cơ với tỷ lệ ngang nhau Có thể được trồng trong luống với khoảng cách 30 x 30cm hoặc trong chậu hoặc túi nilon Trên đất chuẩn bị tốt, hạt gióng cũng có thể được gieo trực tiếp xuống đất, tốt nhất là vào mùa mưa Sau khi cây đã phát triển mọt rễ cái mạnh, tức là 7-12 tháng sau khi gieo, họ có thể được tỉa thưa cây, ở một mật độ chính xác
Z mauritiana Lamk có thể được nhân giống sinh dưỡng bằng một số
phương pháp khác như chiết cành, ghép cành Trong đó, kỹ thuật ghép chẻ đỉnh
là kỹ thuật nhân giống phổ biến vì nó nhanh chóng, dễ dàng và hiệu quả ( Tỷ lệ thành công lên đến 95%)
Cây trồng chăm sóc cẩn thận cho năng suất cao nhất Cây được trồng trong các hố kích thước 40x40x40cm và bón lót khoảng 1,5kg phân hữu cơ, Đào
hố và bón lót một tháng trước khi trồng Khoảng cách giữa các cây thay đổi từ 5x5m ( tức là 400 cây trên một hecta) lên đến hơn 10x10m (tức là khoảng 100 cây trên một hecta) tùy thuộc vào điều kiện khí hậu và đặc điểm cây
Trang 23Nếu cần thiết có thể sử dụng hóa chất hay phóng xạ để có thể tạo giống mới Theo trích dẫn từ trang web www.hort.purdue.edu, ở Ấn Độ, có 90 hoặc nhiều hơn các giống khác nhau về hình dạng lá, dạng trái cây, kích thước, màu sắc, hương vị, chất lượng quả, và thời vụ đậu quả Trong số các giống quan trọng, mười một giống được nhắc đến trong bách khoa Wealth của Ấn Độ: Banarasi (hoặc Banarsi) Pewandi, Dandan, Kaithli (Patham), Muria Mahrara, Narikelee, Nazuk, Sanauri 1, Sanauri 5, Thornless và Umran (Umri) Vỏ quả của hầu hết các giống đều mịn và màu vàng xanh hoặc vàng
Tại đại học Nông nghiệp Haryana, một nghiên cứu đã được thực hiện trên
70 giống được thu thập từ tất cả các khu vực có táo phát triển ở miền bắc Ấn Độ
và đặt trong một vườn thực nghiệm năm 1967-68 Năm 1980, 16 giống được chọn với những đặc điểm được đánh giá tốt Banarasi Karaka (hương vị kém) cho năng suất cao nhất 130 kg mỗi cây, tiếp theo là Mudia Murhara và Kaithli (cả hai có hương vị tốt), và Sanauri 5 và Desi Alwar (cả hai có hương vị trung bình) Qua kết quả trên cho thấy rằng Mudia Murhara, Kaithli và Sanauri 5 là giống táo tốt cho sản xuất thương mại
Năm 1982, 4 giống có triển vọng nhất:
Umran lớn, quả màu vàng chuyển sang nâu khi chín, vị ngọt: 19% TSS; 0.12% axit; trọng lượng quả trung bình, 30-89 g; năng suất 150-200 kg mỗi cây Chín muộn
Gola-trung bình đến lớn (trung bình, 14-17 g); 17-19% TSS; 0,46-0,51% axit; màu vàng, ngọt, hương vị tốt; năng suất 80-100 kg mỗi cây Chín sớm; được bán với giá cao
Kaithli-kích thước trung bình (trung bình 180,0 g); 18% TSS; 0,5% axit;
vị ngọt Năng suất trung bình 100-150 kg.Katha phal nhỏ đến trung bình (trung bình 10,0 g); xanh đỏ ở một bên quả và bên còn lại màu vàng cam; 23% TSS; 0,77% axit; năng suất trung bình 80- 100 kg mỗi cây Vụ muộn
Ngoài các giống này, 5 giống khác đã được nhắc đến tại Viện Nghiên cứu Nông nghiệp Ấn Độ, New Delhi Tất cả đều được trồng ở Delhi, đông nam Punjab và lân cận Uttar Pradesh Tính đặc biệt của các giống này là sinh trưởng phát triển trong thời gian ngắn, như sau:
Dandan-phi-gai: quả to vừa đến lớn; chất lượng khá tốt Vụ muộn
Trang 24Gular Bashi: quả có kích thước trung bình, ngọt; chất lượng tuyệt vời khi tươi, mùi xạ hương sau khi bảo quản TSS 18,8% khi vàng, 22,4% sau khi chuyển màu nâu Vỏ quả mỏng, dễ dàng tách ra khỏi thịt quả Vụ muộn
Kheera-trung bình đến lớn, hình bầu dục, ngọt, hương vị tốt TSS 19,8%
Vụ muộn, chất lượng rất khá tốt khi lưu giữ
Nazuk-trung bình đến nhỏ, hình elip-thuôn dài, khá ngọt, hương vị tốt, gần như không có vị chát TSS 17,4% Vụ chính
Seo ber (Seb) - trung bình đến lớn, ngọt, khi quả chuyển màu nâu là rất ngọt và hương vị tuyệt vời TSS 19% Vụ muộn
Trong Assam 5 hoặc các giống đã canh tác, thu thập từ các phần khác nhau trong bộ giống, đã được mô tả bởi S Dutta:
Var 1-một loại cây bụi hoang dã rất gai góc, quả nhỏ, tròn, hoa quả kém; trồng làm hàng rào
Var 2-một cây hoang dã, cây nhiều gai cao đến 9m, quả màu đỏ nâu, quả cứng có nhớt Phần lớn trẻ em và người dân nông thôn ăn Thường được sử dụng trong nấu ăn và bảo quản
Var 3- một loài rất nhiều gai, cây mọc lan ra Quả màu đỏ sậm hoặc màu nâu, với vị chua Trồng lấy bóng mát
Var 4 (Bali bogri) - một hoang dã, với quả xanh, chín màu đỏ, hơi nhớt, ngọt hơi chua, hương vị tốt
Var 5 (Tenga-mitha-bogri) - Một loài hoang dã, cây nhiều gai, quả có màu hơi nâu; hơi nhớt, ngọt hơi chua, với hương vị rất dễ chịu Một giống táo được đề nghị làm giống sinh dưỡng và canh tác thương mại
Các nước trong khu vực Thái Lan, Trung Quốc, Đài Loan rất quan tâm đến việc chọn tạo giống cũng như kỹ thuật bón phân, đốn cây, cắt tỉa, phòng trừ sâu bệnh,… Đã có nhiều giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt được tạo ra; các quy trình kỹ thuật tiên tiến được ứng dụng nhằm nâng cao năng suất chất lượng và hiệu quả việc trồng táo Giá bán trong siêu thị loại táo này thường đạt 1,5-3 USD/Kg (tại Bangkok, Đài Loan, Trung Quốc) rất hấp dẫn người trồng táo Tại một số nước trồng sản xuất táo theo hướng làm giàn: giàn đứng, giàn ngang hoặc trồng trong nhà lưới để hạn chế ruồi đục quả
Trang 252.6.2 Nghiên cứu trong nước
a Nghiên cứu về giống
Cây táo đã được trồng ở nước ta từ lâu Trong những năm trước thập kỷ 70,
bộ giống táo còn rất nghèo nàn, gồm các giống táo địa phương chủ yếu là những dạng hình táo chua, quả nhỏ, chất lượng kém, giá trị kinh tế thấp Nổi bật trong các going táo địa phương là táo Thiện Phiến Từ năm 1977 đến 1999, cây táo thực sự được chú ý phát triển nhờ sự ra đời của hàng loạt giống táo mới Bộ giống táo được bổ sung một số giống táo nhập nội như Gia Lộc, Thái Lan, sau đó
là các giống do Viện cây Lương thực-Thực phẩm chọn tạo ra như Má hồng, Đào tiên, H12, H32, Đào muộn, Đào vàng Một số dạng táo mới do bộ môn Di truyền-Giống Học viện Nông Nghiệp Việt Nam tạo ra như ZM6, ZM10, ZM9 Tuy nhiên những giống đang được nhân dân trồng phổ biến nhất hiện nay vẫn là táo Đài Loan, đại táo, đào vàng…
Tất cả các giống táo trồng ở Việt Nam đều thuộc 2 loài thực vật là loài
Ziziphus mauritiana Lamk tên tiếng anh là Indian jujube, có khi còn gọi là
Ziziphus Rotundifolia Lamk và loài Ziziphus jujuba Miler, tên tiếng anh là Chinese jujube Một số giống táo chua được trồng ở phía Nam, dùng làm gốc ghép cho các táo ta, được đưa từ phía Bắc vào thuộc loại Ziziphus Rotundifolia
Ở nước ta, họ này có 10 loài táo hoang dại: Loài táo nhám Z.Rugosus Lamk, táo cong Z.incurva Roxb, tìm ra trên nói Ngọc Linh; Táo Lau Zlau Merr tìm ra ở
Đà Nẵng; Táo Lào Z Funiculosa Ex Laws, tìm ra ở Bảo Lộc, Định Quán; Táo rừng Z oenophia Mill, tìm ra ở rừng chồi Kontum, Phan Rang, TP Hồ Chí Minh, Côn Sơn; Táo Poilane Z.poilanei tìm ra ở Tây Ninh và táo Z.cambodiana Pierre, tìm ra ở nhiều rừng thưa trong Nam (Phạm Hoàng Hộ, 1993)
Việt Nam ra cũng có thể là một trong những nơi nguyên sản của táo, vì ở vùng đồi núi người ta phát hiện có loài táo dại (Ziziphus oenoplia Mill) có đặc điểm cây nhỏ hay nhỡ, cành non có nhiều lông, lông tơ dày màu gỉ sắt, lúc già có màu nâu đen và có gai cong lớn
Vì giống táo ta rất phong phú, mỗi địa phương thường đều có một giống táo nhất định mà đến nay người ra chưa tìm hiểu hết được
Từ những năm 1978, một số nghiên cứu trên cây táo được triển khai Bằng phương pháp lai hữu tính, đột biến bằng các tác nhân hóa học, đột biến nhiễm sắc thể, đã thành công trong công tác chọn tạo giống táo Đến nay, đã có 8 giống táo
Trang 26mới được chọn tạo, có năng suất cao, chất lượng tốt, thời gian chín khác nhau đang được trồng phổ biến trong sản xuất là: Giống táo Gai Lộc, giống táo Má Hồng, Đào Vàng, Đào Tiên là giống táo chín sớm, thu hoạch khoảng 20/12-15/1 Giống táo H32 là giống táo chính vụ, thu hoạch khoảng 25/1-1/2 năm sau Giống táo Đào Muộn, H12 là giống chín muộn thu vào tháng 2 và tháng 3 hàng năm Các giống táo hiện trồng ở nước ta, thích nghi với nhiều vùng sinh thái Yêu cầu cơ bản là táo cần ánh sáng trực xạ, đảm bảo đủ nước, dinh dưỡng, phòng trừ sâu bệnh kịp thời, cây sẽ sinh trưởng, phát triển tốt, cho năng suất cao, chất lượng tốt, khối lượng quả trung bình 25-45g/quả, chín vào các mùa, vụ khác nhau Hiện nay ở Việt Nam cây táo được trồng ở phía Bắc và Nam Nhiệt độ thích hợp từ 25-320C, cần nhiều ánh sáng Táo có thể sống ở nhiều loại đất nhưng thích hợp đất thịt pha cát, phù sa ven sông, đủ ẩm, pH từ 5-7 Bộ rễ phát triển mạnh, ăn sâu nên chống gió bão tốt, có thể dùng làm cây chắn gió
Táo chua chín vào tháng 3, quả nhỏ, mã đẹp Ngoài ra còn rất nhiều giống táo khác cũng cho năng suất cao và ổn định đang được bà con nông dân trồng khắp các tỉnh thành Thời vụ trồng tốt là cuối mùa mưa, nên trồng tháng 11-12 vì lúc này trời ấm, sang mùa xuân năm sau cây phát triển nhanh Trồng theo hàng hoặc theo ô vuông, khoảng cách cây 4-5m Để tiết kiệm đất có thể trồng dày hơn, khi cây táo lớn thì đốn bỏ bớt
Một số giống táo được trồng ở nước ta
- Thiện Phiến ngọt
+ Nguồn gốc vùng Thiện Phiến tỉnh Hải Dương được đưa về trường đại học Nông Nghiệp I Hà Nội (cây giống từ rễ) từ trước năm 1960 và sau năm 1973 được nhân ra một lượng lớn cây giống theo phương pháp ghép Đặc điểm của giống này là sinh trưởng phát triển cân đối, tán cây tương đối gọn, khả năng thích ứng rộng, tính chống chịu sâu bệnh khá, bắt đầu ra hoa từ cuối tháng 5 đến đầu tháng 6 nhưng chỉ đợt có khả năng kết quả và chín vào tháng 2 năm sau (trước và sau Tết Nguyên đán)
+ Lá hình trứng rộng, màu xanh thẫm, mặt trên hơn nhăn rộng 3,7cm, dài 4,4cm, quả hình tròn hơi dẹt, đường kính khoảng 3,0-4,0cm, chiều cao khoảng 2,5-3,5cm Khi còn non, màu quả xanh đậm hoặc xanh phớt tía, có vị chát, kho chín màu vàng trắng, vỏ hơi nứt thành vệt nhỏ li ti, phẩm vị ngọt, hơi chua, cùi giòn + Quả nặng 20-25g (khoảng 40-50 quả/kg) Cá biệt có quả nặng 30g Hạt hình tròn
Trang 27- Thiện Phiến chua
+ Được trồng từ lâu đời và phổ biến ở vùng Thiện Phiến tỉnh Hải Dương Đặc điểm của nó là tán cây lòa xòa, cành sinh trưởng có xu hướng nằm ngang (dễ tạo thành tán giàn) khả năng thích ứng rộng, tính chống chịu sâu bệnh khá, lá hình tròn, màu xanh thẫm, mặt trên hơi bóng, có phản chiếu ánh sáng mặt trời rõ rệt, chiều rộng 4,4cm, chiều dài 4,9cm Thời gian ra hoa kết quả muộn hơn giống Thiện Phiến ngọt Quả chín vào tháng 3 (sau Tết Nguyên Đán), hình tròn dẹt, dạng bánh xe, có rốn rõ rệt ở cuống, bé hơn quả táo Thiện Phiến ngọt
+ Đường kính quả khoảng 2,5-3,5cm, chiều cao quả 2,0-3,0cm Trọng lượng quả 15-20g (60-70 quả/kg); khi còn non, màu quả xanh nhạt, có vụ giôn giốt chua, khi chín, màu quả vàng sáng đẹp, vị chua đậm, cùi giòn Hạt hình tròn
- Táo Gia Lộc
+ Là loài nhập nội được trồng đầu tiên ở huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương Được công nhận giống quốc gia năm 1990 Đặc điểm của nó là thân cành lá sinh trưởng khỏe tán cây có dạng hình dù lan rộng, cành cây không đều nên tán thường có tầng Lá xanh nhạt, to, bầu, đầu lá bằng hoặc lõm Có khả năng cho hai vụ quả trong một năm:
+ Vụ 1: Ra hoa tháng 5, nở rộ và đậu quả tháng 6, chín tháng 8; có những năm ra hoa từ tháng 4, nở rộ và đậu quả tháng 5, thu quả tháng 7, nhưng năng suât thấp vì thường gặp mưa gió to
+ Vụ 2: Ra hoa tháng 7-9, nở rộ, đậu quả tháng 8, thu quả tháng 11, rộ tháng 12
+ Quả dạng trái xoan, màu vàng da cam, hơi chua, nặng 25-30g, cây 3-5 tuổi cho 120-180kg quả Ngoài việc dùng để ăn tươi, đây là giống chủ lực làm nguyên liệu cho chế biến
Trang 28- Táo H 32
+ Được công nhận giống quốc gia năm 1990
+ Đặc điểm: tán dạng hình dù, lá dạng hình thoi, đầu nhọn, màu xanh, ra hoa rải rác từ tháng 5, nở rộ và đậu quả từ tháng 9, thu quả tháng 2-3 Quả nặng 30-35g, hình tròn, khi chín có màu vàng xanh, vị ngọt, hơi chua Cây 4-5 tuổi năng suất đạt 90-160kg quả
- Táo Má hồng
+ Nguồn gốc từ kết quả xử lý đột biến hạt táo Gia Lộc
+ Đặc điểm: Tán hình dù gọn Lá thưa, màu xanh đậm, hình thoi, đầu lá nhọn Trong năm có 2 vụ quả và chín sớm hơn táo Gia Lộc Quả dạng tròn, khi gần chín xuất hiện màu hồng tím dưới tác dụng của ánh nắng mặt trời Đó là do sắc tố đột biến, phẩm vị ngọt đậm, giòn và thơm, quả nặng 15-20g Ưu điểm nổi bật là tán gọn có thể trồng dày được
- Táo Đào tiên
+ Nguồn gốc chọn ra táo kết quả đột biến hạt táo Thiện Phiến ngọt
Đặc điểm: Tán hình dù gọn, lá xanh đậm, hình thoi, đầu nhọn Táo ra hoa rải rác từ tháng 5, nở hoa rộ và đậu quả vào tháng 9, thu quả tháng 12 và tháng 1 Quả to, hình tròn, khi chín có vị ngọt giòn Quả nặng 30-35g
+ (Má hồng và Đào tiên là 2 giống được tạo ra do Hoàng và Tuynh vào năm 1989 bằng việc xử lý đột biến giai đoạn trước nảy mầm của hạt Hạt được
xử lý 12 tiếng với nồng độ 0.02 và 0.04% N-methyl-N-nitrosurea)
+ Quả trơn dài, màu vàng da cam lúc chín, trọng lượng quả trung bình 40g, trung bình 25-35 quả/kg Quả ăn giòn, ngọt, có vị thơm đặc trưng Năng suất quả 40-50 tấn/ha ở năm thứ 3, chống chịu bệnh khá
35-+ Táo Đào vàng cung cấp quả vụ sớm cùng với táo Gia Lộc từ khoảng tháng 9-12, tận thu quả đến hết tháng 1
Trang 29+ Các giống táo H12, H32, táo Đào tiên, táo Má hồng và táo Đào vàng đều
do Giáo sư Viện sĩ Vũ Tuyên Hoàng và tập thể cán bộ bộ môn rau quả Viện Cây lương thực và cây thực phẩm tạo ra
- Táo Thái Lan quả dài
+ Nguồn gốc: Giống ở Thái Lan nhập vào miền Nam trước ngày giải phóng ở Bến Gỗ, Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
+ Đặc điểm: Cây cao cành lá vươn thẳng, lá dài quả dài, đỉnh quả nhọn như hình quả tram, đặc biệt quả rất to Ở miền Nam trung bình 1kg 25-28 quả, trọng lượng trung bình 35-40g/quả
+ Quả chín ăn giòn, ngọt thơm nhẹ Chăm sóc tốt cho năng suất cao Táo Thái Lan quả dài được đưa ra trồng ở miền Bắc và một số tỉnh miền Trung như ở Nghệ An, Hà Tĩnh mùa đông kém chịu rét, nhiều sâu bệnh, làm cho quả bị rụng nhiều nên không mở rộng được vùng trồng
- Táo Thái Lan quả tròn
+ Xuất sứ giống táo Thái Lan quả dài
+ Đặc điểm: Cành vươn thẳng,lá tròn, quả tròn
+ Quả chín ăn giòn, ngọt có vị chua, ăn không ngon bằng quả táo dài song năng suất cao hơn, mùa thu hoạch kéo dài hơn gần đến một tháng so với táo dài + Cả 2 giống táo Thái Lan này trồng chủ yếu ở các tỉnh Nam bộ trong điều kiện khí hậu miền Nam, có thể đốn 1 năm 2 lần để thu 2 lứa quả
+ Lần đốn thứ nhất vào tháng 2-3, thu quả vào tháng 6, 7, 8 Đợt này sản lượng quả cao nhưng chất lượng trung bình vì là mùa mưa Lần đốn thứ 2 vào tháng 9, 10 cho thu hoạch vào tháng 12, 1, 2 quả thu hoạch vào mùa khô sản lượng tuy thấp nhưng chất lượng khá Theo tài liệu của Viện nghiên cứu cây ăn quả miền Nam Việt Nam, (2001) diện tích ở miền Đông Nam bộ và đồng bằng sông Cửu Long là 150ha
- Táo Xuân 21
+ Nguồn gốc: Là giống táo mới do Viện sinh học – Đại học Nộng nghiệp
Hà Nội chọn lọc và thuần hóa từ giống Thanh táo của Đài Loan nhập nội năm 1998
+ Đặc điểm: Cơ bản như giống táo ta, có sức sinh trưởng mạnh, cây vươn dài, lóng dài, lá to
Trang 30+ Táo Xuân 21 quả to 20-30 quả/kg, hạt nhỏ thịt quả dày, vị ngọt, giòn, có
vị thơm, ăn ngon
+ Có thể cho thu hoạch 2 lần trong năm,vụ đầu chín vào tháng 9, 10, vụ chính chín vào cuối tháng 1 đầu tháng 2 vào dịp Tết Nguyên Đán nên mới có tên
là táo Xuân
- Giống Đại Táo 15:
+ Được chọn lọc từ mẫu giống táo nhập nội trong khuôn khổ dự án DA15 phối hợp giữa Viện Di truyền Nông nghiệp và Viện Cây lương thực - CTP mã số ZM.ĐÃ 15.5 bằng phương pháp chọn lọc cá thể (quả nhân vô tính) Giống được công nhận tạm thời theo Quyết định số 2459 QĐ/BNN-TT ngày 24 tháng 8 năm
khi chín màu vàng sáng, ăn giòn, ngọt mát được thị hiếu tiêu dùng ưa thích
- Giống táo Đài Loan –BG1:
+ Giống được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận là giống sản xuất thử năm 2012
+ Giống táo Đài Loan quả to, mã xanh, ăn giòn và ngọt
+ Giống táo Đài Loan có tỷ lệ sống cao, hoa nhiều, quả to, đều, chất lượng quả ngọt, có khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, năng suất đạt 27-29 tấn/ha
+ Giống táo Đài Loan chín muộn và cho thu hoạch vào dịp tết nguyên đán
b Nghiên cứu về các biện pháp kỹ thuật chăm sóc
* Kỹ thuật nhân giống táo:
Các biện pháp kỹ thuật, công nghệ nhân giống táo bằng phương pháp ghép mắt đã được áp dụng rộng rãi tại Việt Nam Tập quán cổ truyền của nhân dân vùng táo Hải Dương và Hưng Yên là giâm rễ, tuy giữ được đặc tính giống nhưng
hệ số ả nhân giống thấp, hại cây mẹ Vào những năm 1960, người ta đã tìm ra cách chiết cành nhưng nhược điểm lớn là hệ số nhân giống thấp, tỷ lệ ra rễ không cao, thường chỉ đạt trên dưới 50%, thao tác chiết cành khá phức tạp, cây giống táo chiết kém thích nghi với điều kiện ngoại cảnh
Trang 31Từ những năm 1970, sau khi hoàn thiện nghiên cứu kỹ thuật ghép táo trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội nay là Học Viện Nông nghiệp Việt Nam đã phổ biến kỹ thuật và đã được áp dụng rộng rãi cho đến ngày nay Nhờ có kỹ thuật ghép táo, việc mở rộng diện tích trồng táo ở các tỉnh miền Bắc tăng nhanh, nhất
là từ khi có phong trào vườn quả Bác Hồ đầu những năm 80
Cây gốc ghép tốt nhất cho các giống táo là giống táo chua địa phương, táo Thiện Phiến; các giống khác sức sống của hạt và cây con không được tốt Người
ta chọn quả to ở lưng chừng tán và bìa tán đã chín kỹ, làm sạch thịt quả, rửa sạch nước chua và phơi trong nắng nhẹ cho khô kỹ, cất và bảo quản nơi khô ráo trong các chum, vại đậy kín Trước khi gieo hạt gốc ghép, ngâm hạt trong nước nóng
400C trong 3-4 giờ, ủ kín đến nứt nanh mới đem gieo Thường tiến hành gieo hạt vào đầu hoặc cuối tháng 2 để ra ngôi cây con vào tháng 3 khi đã có 2-3 lá thật Bứng cả bầu đất nhỏ khi ra ngôi Khi cây táo con có đường kính gốc 0,8-1m là có thể ghép được Chọn những cành bánh tẻ có đường kính tương đương với đường kính gốc ghép hoặc to hơn một chút nếu dùng phương pháp ghép cửa sổ Cành ghép phải sinh trưởng tốt và dễ bóc vỏ Thời vụ ghép tốt nhất là 7-8, trong trường hợp không ghép kịp thời vụ có thể sang tháng 9 Phương pháp ghép phổ biến cho táo là ghép cửa sổ, nhưng nếu ghép muộn vào tháng 10, tháng 11 thì phải dùng phương pháp ghép mắt nhỏ có gỗ hoặc ghép đoạn cành Nếu dùng phương pháp ghép mắt nhỏ có gỗ phải chọn cành ghép có đường kính nhỏ hơn đường kính gốc ghép một chút (Trần Thế Tục và Hoàng Ngọc Thuận, 1999)
* Nghiên cứu về kỹ thuật chăm sóc:
Hiện nay tại Việt Nam chưa có nhiều công trình nghiên cứu khoa học chuyên sâu về kỹ thuật trồng và chăm sóc cây táo Một số công trình nghiên cứu mới chỉ tập trung vào thử nghiệm biện pháp bón phân và các phương pháp phòng trừ dịch hại Kỹ thuật thâm canh, đón tỉa, tạo giàn và tạo tán nhằm nâng cao năng suất và chất lượng đã được nhiều địa phương áp dụng đặc biệt Ninh Thuận, diện tích trồng táo giàn lên đến hàng nghìn ha, một số tỉnh phía bắc cũng bắt đầu trồng táo theo phương thức làm giàn như Quảng Ninh, Hà Nội Việc làm giàn đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn do năng suất đạt được cao hơn, ít sâu bệnh do hầu hết các cành trên cây đều nhận được ánh sáng, chất lượng quả tốt hơn
Lê Thị Thanh Phương (2014) đã thực hiện xây dựng mô hình bón phân cân đối trên cây táo Mô hình thử nghiệm so sánh 2 công thức bón phân là: công thức 13.000kg phân chuồng, 50kg NPK Phú Mỹ 16-6-8+13S, 100kg NPK Phú Mỹ 15-
Trang 3215-15, 40 kg ure, 20kg kaliclorua Lượng phân bón chia làm 3 đợt bón vào các thời điểm: sau cắt cành, ra hoa rộ, sau khi đậu quả Và công thức đối chứng bón 3.000kg phân chuồng, 160kg NPK 20-20-15, 50kg NPK 20-0-10, 20kg ure, 20kg kaliclorua chia làm 4 đợt bón vào các thời điểm: sau cắt cành, trước khi ra hoa rộ, quả bằng hạt tiêu, quả có đường kính 1,5-2,0cm Kết quả cho thấy, vườn đối chứng sử dụng phân bón chưa hợp lý dẫn đến hệ quả là chi phí đầu tư cao và năng suất thấp Trên 2 sào táo áp dụng mô hình trình diễn, tổng chi phí là 12,6 triệu đồng, năng suất đạt 9,8 tấn, lợi nhuận 26,6 triệu đồng Trong khi đó 2 sào táo đối chứng tổng chi phí 14 triệu đồng, năng suất đạt 8 tấn, lợi nhuận 17,8 triệu đồng, giá bán tại vườn bình quân 4.000 đồng/kg So với vườn táo đối chứng, mô hình trình diễn phân bón cân đối đã đem lại lợi nhuận cao hơn 9,7 triệu đồng/2 sào Ngoài ra do phân bón hợp lý nên vườn táo trình diễn ít sâu bệnh hại, thịt quả giòn, vị ngọt thanh, màu sắc xanh bóng đẹp hơn vườn táo đối chứng
c Nghiên cứu về cắt tỉa
Cắt tỉa được định nghĩa như một khoa học và nghệ thuật của việc loại bỏ một bộ phận của cây để cải thiện, sửa đổi hình dạng, ảnh hưởng đến sinh trưởng,
ra hoa đậu quả, cải thiện chất lượng sản phẩm hoặc sửa chữa các thiệt hại của cây (hạn chế sự già cỗi, cạnh tranh giữa các cành nhánh với các chồi vượt, sâu bệnh, cành lá hư hỏng )
Theo tác giả Vũ Công Hậu (1996) cắt tỉa ngày càng được áp dụng rộng rãi
Để cắt tỉa mang lại hiệu quả cao cần có kiến thức chuyên nghiệp, phải có kinh nghiệm và tay nghề Nguyên tắc là cắt thận trọng khi cây còn non, cắt ít khi cây già, cắt nhiều hơn vào mùa khô, khi cây trong giai đoạn ngừng sinh trưởng cắt nhiều, sinh trưởng mạnh cắt ít
Ý nghĩa của việt cắt tỉa: Hiệu quả dễ thấy nhất là sau khi cắt tiả cây sẽ tạo ra các chồi mới sinh trưởng mạnh và có nhiều khả năng để các cành mới này cho hoaquả, giúp giữ được sản lượng ổn định hằng năm Ở những cây già, khả năng
ra hoa quả giảm do giảm sinh trưởng của chồi thì việc cắt tỉa sẽ cho hiệu quả cải thiện Việc đốn tái sinh (cắt tỉa nặng) cũng nhằm mục đích này.Các kết quả nghiên cứu cho thấy, ở trong cây nơi nào chất đạm được tích lũy ít mà nhiều chất đường bột thì việc cắt tỉa sẽ có chiều hướng giúp gia tăng sự phân hoá hoa bởi tác dụng làm cân đối giữa đạm và chất đường bột, tạo điều kiện thuận lợi về tích lũy chất đạm cho điểm sinh trưởng
Trang 33Cắt tỉa giúp ánh sáng truyền vào tán cây nhiều hơn, qua đó giúp cải thiện về chất lượng, màu sắc và kích thước quải Dễ thấy rằng, nơi nào trên cây nhận ít ánh sáng thì nơi đó thường ít ra hoa quả, nếu có hoa quả thì cũng không phát triển tốt bằng hoa quả mọc ngoài ánh sáng
* Cắt tỉa cho cây xoài
Các nghiên cứu trên cây xoài cho thấy, trong điều kiện sinh trưởng tối hảo phần lớn các lá bên trong tán nhận được ánh sáng dưới điểm bảo hòa ánh sáng trong quá trình quang hợp Do các lá xoài mọc ngoài trảng có được hiệu quả sử dụng ánh sáng lớn hơn so với lá bị che mát nên việc cắt tỉa đã cải thiện được hiệu quả quang hợp (đồng hoá CO2 trên đơn vị diện tích lá) của vườn Cây có tán dày nếu không cắt tiả thì khi cây cho nhiều trái thì trái sẽ có kích thước nhỏ và màu sắc kém đi do kết quả từ sự không cân đối của chất đạm và chất đường bột Cây được cắt tỉa thường xuyên giúp tăng được tỉ lệ đậu quả Việc loại bỏ một vài điểm sinh trưởng sẽ giúp tăng một cách gián tiếp quá trình cung cấp nước và đạm cho các điểm sinh trưởng còn lại Đối với cây phát triển vượt mức (sung mãn) thì việc cắt tiả bớt cành lá sẽ tạo điều kiện cho cây dễ ra hoa tạo quả hơn Việc tỉa bỏ hoa quả tuy có làm giảm năng suất tổng cộng nhưng tăng được năng suất quả có giá trị thương phẩm Ngoài ra việc cắt tiả còn là một biện pháp làm giảm nguồn lây lan sâu bệnh trên cây
Phạm Thị Hương (2004) nghiên cứu cho thấy cắt tỉa sau thu hoạch kết hợp với phun Pomior làm cho tán thấp và thoáng, giảm bớt nguy cơ nhiễm bệnh, tăng cường sinh trưởng lộc, cây ra hoa muộn hơn đáng kể so với không cắt tỉa, nhờ đó cải thiện khả năng đậu quả và năng suất của xoài GL1 và GL6 Cắt tỉa vừa cho năng suất cao hơn cắt tỉa đau nhờ có số cành mang hoa nhiều hơn
Bùi Quang Đãng (2008), nghiên cứu cắt tỉa cành sau thu hoạch trên giống xoài GL6 cũng cho kết quả tốt đối với sinh trưởng phát triển và năng suất của giống xoài này trong điều kiện miền bắc
* Cắt tỉa cho cây ổi
Một thí nghiệm tạo hình và cắt tỉa trên giống ổi JP1 thực hiện tại Mã Lai (Norlia Yunus, 1990) trong thời gian 5 năm cho thấy, năng suất và số quả của cây trong điều kiện cắt tỉa nhẹ cao hơn cây được cắt tỉa trung bình và nặng Tuy nhiên, không có sự khác biệt về trọng lượng trung bình của quảvà tỷ lệ chất hòa
Trang 34tan tổng số giữa các cây được áp dụng các mức độ cắt tỉa Việc cắt tỉa nặng đã giúp cây cho nhiều chồi mới nhất Quả mọc ra từ các chồi mới tại xị trí xa nhất tính từ chỗ cắt cành
Đối với cây ổi, một số nghiên cứu cho thấy: mật độ trồng đối với trường hợp trồng chuyên là 2 x 2m, khi cây nhiều tuổi, có tán rộng, có thể tỉa bớt, để mật
độ 4 x 4m Có thể điều chỉnh thời gian ra hoa cho ổi theo ý muốn bằng biện pháp
kỹ thuật canh tác thích hợp: khi cành ổi chưa ra hoa, dùng kéo bấm đọt, chỉ chừa
3 cặp lá kép Khi ổi có 1 cặp nụ thì bấm bỏ đọt, chỉ chừa một cặp lá phía trên dể
ra thêm cặp đọt phía trên nụ để tập trung dinh dưỡng nuôi quả; 1 - 2 tuần bấm đọt một lần cho cành ổi Về phân bón, tăng cường bón phân hữu cơ (phân chuồng, phân hữu cơ vi sinh) cho ổi, giúp cây sinh trưởng tốt và cho năng suất bền vững Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã nghiên cứu kỹ thuật cắt tỉa cho ổi làm cho ổi ra được 3 vụ quả/năm, nâng cao năng suất đáng kể so với đối chứng Đào Quang Nghị (2011), nghiên cứu kỹ thuật cắt tỉa cho cây ổi không hạt cho thấy cắt tỉa cành theo công thức (Cành chưa có hoa, bấm ngọn để lại 4 cặp lá Cành đã có hoa, bấm ngọn để lại 2 cặp lá phía trên hoa) đã làm tăng rõ rệt tổng
số cành ra hoa, tổng số quả/cây và năng suất đạt được là cao nhất: 147,2 kg/cây, bằng 147,2% so với đối chứng
* Cắt tỉa cho cây có múi: Trong sản xuất cây ăn quả nói chung và đối với
cây có múi, bao gồm có bưởi nói riêng, xu hướng trồng dày, khai thác chu kỳ ngắn đang được ứng dụng ở nhiều nước trên thế giới, bởi vậy đốn tỉa lại càng trở nên quan trọng giúp cho việc duy trì năng suất ổn định và được tập trung vào một
số nội dung chủ yếu sau:
- Đốn tỉa tạo hình: được thực hiện ngay từ những năm đầu 1-3 tuổi Mục đích là tạo bộ khung tán có khả năng hấp thu tối đa ánh sáng mặt trời cho quang hợp Trước đây cây ăn quả nói chung và cây có múi nói riêng thường được tạo hình theo kiểu hình cầu hoặc bán cầu, song hiện nay phần lớn các nước có nghề trồng cây có múi phát triển đang chuyển dần sang kiểu hình chữ Y (kiểu khai tâm, hình vại hay kiểu trái tim mở, vv ) thậm chí theo kiểu rẻ quạt để cho thu hoạch bằng máy Đốn tỉa sau thu hoạch: loại bỏ những cành vượt, cành sâu bệnh, những đầu cành quả vừa thu hoạch để tạo điều kiện cho cành Hè và cành thu sinh trưởng tốt Đôi khi cắt bớt một số cành cấp 2 để duy trì độ lớn của tán cây một cách hợp lý
Trang 35- Cắt tỉa sau thu hoạch là biện pháp rất quan trọng có tác dụng tích cực trong việc điều hòa sự ra quả hàng năm và duy trì chế độ ánh sáng thích hợp cho các vườn trồng mật độ dày
- Cắt tỉa quả: ngay sau rụng quả sinh lý đợt 2 (cuối tháng 5 đầu tháng 6) để điều chỉnh số lượng quả một cách hợp lý, giúp cho quả đạt được độ lớn tối đa và duy trì năng suất năm sau Ngoài ra, việc cắt tỉa vẫn phải được tiến hành thường xuyên để làm cho cây luôn giữ được độ thông thoáng cần thiết, ngăn ngừa sâu, bệnh
Cắt tỉa cho cây ăn quả có múi cần dựa vào các nguyên tắc sau: Đối với cây sinh trưởng khỏe sử dụng phương pháp đốn phớt, sinh trưởng bình thường cắt bớt ngọn cành và tỉa bỏ những cành sinh trưởng yếu Khi cây ra nhiều hoa, cắt tỉa những chùm hoa nhỏ, quá dày, cây ít hoa có thể tùy theo tình trạng của cây mà áp dụng phương pháp cắt nhẹ hoặc vừa (Ân Tiền Nguyên và Trần Hữu Toàn, 1999) Thời kỳ cây phân hóa mầm hoa gặp nhiệt độ không khí cao, lượng nước ít hoặc thời kỳ từ ra hoa đến rụng quả sinh lý lần thứ nhất ở những nơi có điều kiện khí hậu khô cần tăng cường cắt tỉa Ở những vùng có mưa phùn nhiều, việc tỉa bớt cành hè chỉ thực hiện khi kết thúc rụng sinh lý
Đối với bưởi Diễn, một giống bưởi được người dân canh tác từ lâu, đã có một số nghiên cứu về quy trình cắt tỉa được triển khai nhằm nâng cao năng suất, phẩm chất Tuy vậy, chúng đều nằm trong một quy trình thâm canh cụ thể, hoặc triển khai nghiên cứu trong thời gian ngắn (một vụ quả) Hầu hết các quy trình chỉ dừng ở mức cắt tỉa cành sâu bệnh, cành vượt, cành tăm, cắt một lần sau thu hoạch nên những kết quả đạt được trong việc nâng cao tỷ lệ đậu quả chưa thực sự
rõ (Nguyễn Hữu Thọ, 2015) Cũng theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Hữu Thọ (2015) cho thấy cắt tỉa theo kiểu khai tâm đã ảnh hưởng đến chiều dài, đường kính lộc của giống bưởi Diễn; cắt tỉa cũng giúp cho thời gian hoa nở rộ sớm hơn từ 7đến 10 ngày; việc cắt tỉa ảnh hưởng chắc chắn đến tỷ lệ đậu quả và
số quả trên cây của giống bưởi Diễn
Lê Thanh Bình (2008) nghiên cứu cắt tỉa cho cây cam Xã Đoài tại Hương Khê Hà Tĩnh cho thấy cắt tỉa theo công thức: Đợt 1: sau thu hoạch cắt bỏ những cành sâu bệnh, cành trong tán, cành tăm, hương, kết hợp quét vôi gốc Đợt 2: Tháng 12-1, cắt bỏ cành tăm, yếu, tiến hành siết chặt thân, cành ra hoa, quả bằng dây ghép trong thời gian 01 tháng rồi tháo Đợt 3: tiến hành cắt tỉa nhẹ loại bỏ cành sâu bệnh, cành trong tán vào thời kỳ phân hóa mầm hoa Đợt 4: Ở thời điểm
Trang 36cây nở hoa tiến hành tỉa bớt cành hoa, tỉa hoa, tỉa quả Đợt 5: vào khoảng tháng 5-6 tiến hành cắt bỏ vành vượt, cành sâu bệnh, tỉa quả Kết quả đã làm tăng tỷ lệ đậu quả, đặc biệt là độ lớn của quả góp phần làm tăng năng suất cam Xã Đoài lên 9-16%
* Cắt tỉa cho cây vải:
Tỉa cành, tạo tán là biện pháp kỹ thuật giúp cho cây vải có được bộ khung tán cân đối, tăng khả năng quang hợp, khả năng chống chịu gió bão, bớt sâu bệnh, chóng ra hoa và đậu quả (Ngô Xuân Bình, 2005)
Theo nghiên cứu của các nhà khoa học Trung Quốc: biện pháp quan trọng
để cho vải năm nào cũng ra hoa là giữ lại lộc thu đúng lúc, khống chế lộc đông Tuy nhiên trong ba loại lộc thu: lộc thu trên cành hè, lộc thu trên cành cắt ngắn
và lộc thu trên cành quả sau thi hoạch cho thấy lộc thu ra trên cành hè có số quả đậu trên chùm và năng suất chùm quả cao nhất (Vũ Mạnh Hải và CTV, 1986) Hiện nay để giảm bớt sức ép trong mùa thu hoạch vải, đang chú trọng đưa vào cơ cấu giống các giống vải chín sớm nhằm góp phần rải vụ thu hoạch cho người trồng vải Các giống vải chín sớm thường có đặc điểm là đợt lộc thu thành thục sớm, do đó xác suất bật lộc đông cao làm cho cây không có quả hoặc có thì năng suất cũng rất thấp Nguyễn Văn Dũng (2005) khi nghiên cứu các biện pháp cắt tỉa thích hợp cho giống vải chín sớm Yên Hưng cho thấy: cắt tỉa theo phương pháp bấm đầu cành sau thu hoạch và cắt tỉa theo quy trình của Viện Nghiên cứu Rau quả có tác dụng điều chỉnh số lượng lộc hữu hiệu, nâng cao chất lượng lộc thu Cắt tỉa cũng làm tăng tỷ lệ hoa cái, số chùm quả/cây và làm tăng năng suất vải Hoàng Chúng Lằm (2005) khi nghiên cứu về các biện pháp cắt tỉa cho vải Hùng Long cũng có nhận xét là cắt tỉa theo quy trình của Viện Nghiên cứu Rau quả có tác động tích cực đến năng suất vải
Ngô Xuân Bình (2005) khi nghiên cứu về các phương pháp cắt tỉa cho cây vải Thanh Hà cũng cho thấy: Biện pháp cắt tỉa khoảng 10% số đầu cành sau khi thu hoạch có tác dụng tốt nhất đối với năng suất, năng suất vải đạt 27,74kg/cây
so với đối chứng là 16,92kg/cây
Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của việc đốn phớt cành đến sinh trưởng và năng suất vải Thanh Hà của Nguyễn Khắc Thái Sơn (2006) cho thấy: Đốn phớt cành vải sau thu hoạch từ 20-40cm có tác dụng tăng đường kính lộc thu tăng số lượng quả trên chùm và tăng năng suất, thời điểm vải chín chậm lại từ 5-7 ngày, điều này rất có ý nghĩa với công tác rải vụ thu hoạch cho vải
Trang 37* Cắt tỉa cho cây nhãn:
Vũ Mạnh Hải (2001) khi xây dựng mô hình thâm canh một số các giống nhãn chín muộn ở vùng đồng bằng sông Hồng kết luận: Kỹ thuật cắt tỉa đúng phương pháp có thể tăng năng suất nhãn từ 15-20%
Nguyễn Thế Huấn và cs (2012) nghiên cứu cắt tỉa trên giống nhãn nhãn muộn PHM-99-1-1 tại Khoái Châu – Hưng Yên cho thấy ở công thức cắt tỉa 4 lần: Cắt tỉa sau thu hoạch, tỉa lộc thu, tỉa hoa, tỉa quả Lần 1: Sau khi thu hoạch tháng 8, cắt bỏ những cành mọc quá dày, cành tăm, cành trong tán, cành bị sâu bệnh, ngay sau khi thu hoạch Lần 2: Khi lộc thu dài 10 - 15 cm, tỉa bỏ lộc yếu, những lộc mọc không hợp lý trên cành chỉ để 2 -3 lộc to, khỏe để làm cành mẹ cho năm sau Lần 3: Khi cây ra hoa (tháng 2,3) tỉa những chùm hoa bị bệnh Đối với những cây có nhiều hoa tỉa bỏ những chùm nhỏ Lần 4: Tháng 5,6 cắt bỏ những cành không đậu quả, cành có quá ít quả và tỉa cành hè mọc quá Làm tăng
số lượng cành thu, tăng tỷ lệ đậu quả, số quả sau thu hoạch và nawgn suất đạt 83,67kg/cây, cao hơn 28,13% so với đối chứng
Từ những nghiên cứu về cắt tỉa cây ăn quả trên cho thấy: Đối với cây ăn quả, việc cắt tỉa là hết sức cần thiết, đã góp phần đáng kể vào việc tăng khả năng
ra hoa đậu quả, tăng năng suất và giảm được sâu bệnh hại Đối với cây táo là đối tượng cây ăn quả cho thu hoạch hàng năm, thì cắt tỉa cũng là biện pháp kỹ thuật quan trọng được áp dụng trong sản xuất Trong khuôn khổ đề tài này chúng tôi tiến hành nghiên cứu thời vụ cắt tỉa của giống táo 05
Trang 38PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU
Vật liệu nghiên cứu gồm 5 giống táo nhập nội: giống táo 05, mẫu giống 11táo07, mẫu giống 11táo08, Đại táo 15 và Đài Loan
- Giống táo 05: được Viện Nghiên cứu Rau quả tuyển chọn và được công nhận là giống sản xuất thử năm 2014
- Mẫu giống táo 11tao07, 11tao08: được nhập nội từ Thái Lan
- Giống đại táo 15: do Viện Cây lương thực tuyển chọn được công nhận sản xuất thử năm 2006
- Giống táo Đài Loan-BG1: được nhập nội từ Đài Loan, giống được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận là giống sản xuất thử năm 2012
3.2 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
- Địa điểm: tại Viện Nghiên cứu Rau quả
- Thời gian: Từ tháng 03 năm 2015 đến tháng 03 năm 2016
3.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
3.3.1 Đánh giá khả năng sinh trưởng và phát triển của một số giống táo trồng tại Gia Lâm - Hà Nội
3.3.2 Xác định một số biện pháp kỹ thuật làm tăng năng năng suất và chất lượng của giống táo 05 trồng tại Gia Lâm - Hà Nội
3.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.4.1 Đánh giá khả năng sinh trưởng và phát triển của một số giống táo trồng tại Gia Lâm - Hà Nội
Thí nghiệm được bố trí tuần tự không nhắc lại gồm 5 công thức tương đương với 5 giống Mỗi giống 5 cây không nhắc lại Thí nghiệm được tiến hành trên cây 4 năm tuổi trồng với mật độ 500cây/ha, tương đương với khoảng cách 4,5m x 4,5m trên nền đất phù sa không được bồi đắp hàng năm Quy trình chăm sóc được áp dụng theo quy trình trồng và chăm sóc cây táo của Viện Nghiên cứu Rau quả
Chỉ tiêu theo dõi:
- Các chỉ tiêu về sinh trưởng:
Trang 39+Thời gian bật chồi (ngày): tính từ ngày đốn đau cây
+ Chiều cao cây (m): đo từ gốc cây đến đỉnh cành cao nhất, tính trung bình
+ Đường kính tán (m): Đo tại vị trí lớn nhất của tán cây
+ Đường kính thân chính (cm): đo cách mặt đất 30cm
+ Chiều dài lá (cm): đo từ cuống lá đến chóp lá, đo 15 lá thành thục có kích thước điển hình, tính trung bình
+ Chiều rộng phiến lá (cm): Đo ở điểm rộng nhất của lá, từ trái sang phải vuông góc với gân chính của lá, đo 15 lá thành thục có kích thước điển hình + Thời gian xuất hiện đợt lộc; thời gian kết thúc đợt lộc; số lượng lộc/cành; kích thước lộc
- Các chỉ tiêu đánh giá khả năng ra hoa, đậu quả
+ Thời gian ra hoa, đậu quả (ngày): tính từ thời điểm đốn cây đến lúc xuất hiện hoa
+ Số đợt hoa (đợt hoa): tính số đợt hoa ra trong thời gian theo dõi, tính trung bình
+ Số lượng quả/chùm: đếm 10 chùm/cây
+ Thời gian bắt đầu xuất hiện hoa đến thời gian kết thúc nở hoa (ngày): tính từ thời điểm cây ra hoa đến khi kết thúc nở hoa
+ Thời gian đậu quả tập trung
+ Tỷ lệ đậu quả (%): Số quả/số hoa
- Các chỉ tiêu đánh giá đặc điểm quả:
+ Khối lượng quả (g): cân từng khối lượng quả, cân 30 quả tính trung bình
+ Chiều cao quả (cm): đo từ đáy đến cuống quả, đo 30 quả/1 giống, tính trung bình
+ Đường kính quả (cm): đo chiều ngang của quả, tính trung bình
+ Tỉ lệ thịt quả (%): cân khối lượng thịt quả/khối lượng quả x 100 Tính
30 quả cho 1 lần nhắc
- Năng suất thực thu (tấn/ha): Cân trực tiếp khi thu hoạch của tất cả các đợt quả
- Nhóm chỉ tiêu đánh giá chất lượng quả: Brix (%), vitaminC (mg/100g), đường tổng số (%), chất khô (%), axit (%), độ cứng (g/cm2)… Các chỉ tiêu được phân tích tại Bộ môn Kiểm nghiệm chất lượng - Viện Nghiên cứu Rau quả
Trang 40+ Độ Brix: đo trên máy Refractometer (chiết quang kế);
+ Đường tổng số (%): xác định theo phương pháp Bertrand;
+ Chất khô (%): theo phương pháp sấy đến khối lượng không đổi;
+ Vitamin C (mg/100g): theo phương pháp Tinman;
+ Axit tổng số (%): theo phương pháp chuẩn độ NaOH 0,1N
- Các chỉ tiêu về sâu bệnh hại:
- Các chỉ số nhiễm sâu bệnh hại được đánh giá theo các mức:
+ Mức độ rất nhẹ (< 5%) ++ Mức độ nhẹ (5 - 10%) +++ Mức độ trung bình (11 - 15%) ++++ Mức độ nặng (>15%)
Theo dõi 03cây/công thức chọn ngẫu nhiên, định kỳ 15 ngày/1 lần vào các thời điểm phát sinh, phát triển chủ yếu của sâu bệnh: Tháng 2-tháng 3; Tháng 6-tháng 7; và Tháng 9 - tháng 10
Các loại sâu bệnh hại theo dõi:
5 Sâu đục thân Nadezhdiella cantori Hope
3.4.2 Xác định một số biện pháp kỹ thuật làm tăng năng năng suất và chất lượng của giống táo 05 trồng tại Gia Lâm - Hà Nội
a Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng đạm và kali đến sinh trưởng phát triển và năng suất chất lượng của giống táo 05 trồng tại Gia Lâm - Hà Nội
Thí nghiệm bố trí theo kiểu ngẫu nhiên hoàn toàn, 9 công thức gồm 3 mức đạm và 3 mức kali với 3 lần nhắc lại, mỗi công thức 3 cây