Hồ Thị Thu Giang Mục đích nghiên cứu: Xác định thành phần loài rệp sáp hại cây cam; nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái của loài Pseudococcus longispinus Targioni - Tozzet
Trang 1TRẦN XUÂN TRUNG
THÀNH PHẦN RỆP SÁP TRÊN CÂY CAM, ĐẶC ĐIỂM
SINH HỌC, SINH THÁI LOÀI RỆP SÁP HAI TUA DÀI
VÀ BIỆN PHÁP HÓA HỌC PHÒNG CHỐNG TẠI LỤC NGẠN, BẮC GIANG NĂM 2015 - 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo
vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Trần Xuân Trung
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được bản luận văn này, ngoài sự nỗ lực và sự ham học hỏi của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo, gia đình và bạn bè Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TS Hồ Thị Thu Giang đã dành nhiều thời gian công sức chỉ dẫn, giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình học tập cũng như thực hiện đề tài
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới các thầy cô giáo bộ môn Côn trùng – Khoa Nông học - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện đề tài
Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ của lãnh đạo địa phương và các hộ nông dân đã tạo mọi điều kiện thời gian cũng như địa điểm cho tôi thực hiện đề tài
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới người thân, gia đình, bạn bè đã động viên giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Trần Xuân Trung
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hình vii
Trích yếu luận văn ix
Thesis abstract xi
phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 2
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 2
1.4 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
Phần 2 Tổng quan tài liệu 4
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
2.2 Những nghiên cứu khoa học 4
2.2.1 Những nghiên cứu nước ngoài 4
2.2.2 Nghiên cứu trong nước 16
Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 23
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 23
3.2 Vật liệu nghiên cứu 23
3.3 Nội dung nghiên cứu 23
3.4 Phương pháp nghiên cứu 24
3.4.1 Điều tra tình hình sử dụng thuốc BVTV của nông dân 24
3.4.2 Điều tra thành phần rệp sáp 24
3.4.3 Điều tra diễn biến mật độ, tỷ lệ hại bởi rệp sáp hai tua dài 25
3.4.4 Nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp canh tác đến mât độ rệp sáp hai tua dài 25
3.4.5 Nghiên cứu đặc điểm hình thái rệp hai tua dài P longispinus 27
Trang 53.4.6 Nghiên cứu đặc điểm sinh học rệp sáp hai tua dài P.longispinus 27
3.4.7 Phương pháp đánh giá hiệu lực của thuốc BVTV 28
3.5 Chỉ tiêu theo dõi và phương pháp tính toán 28
3.6 Xử lý số liệu 30
Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 31
4.1 Tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và thành phần rệp sáp trên cây cam xuân hè 2016 tại xã tân mộc, xã phượng sơn huyện Lục Ngạn, Bắc Giang 31
4.1.1 Tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trên cây có múi năm 2016 tại Tân Mộc, Lục Ngạn, Bắc Giang 31
4.1.2 Thành phần rệp sáp trên cây cam tại xã Phượng Sơn và xã Tân Mộc huyện Lục Ngạn, Bắc Giang vụ xuân hè 2016 33
4.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của rệp sáp hai tua dài P.longispinus 36
4.2.1 Đặc điểm sình thái của rệp sáp hai tua dài P.longispinus 36
4.2.2 Đặc điểm sinh học loài rệp sáp hai tua dài P.longispinus 42
4.3 Diễn biến mật độ và tỉ lệ hại bởi rệp sáp hai tua dài P longispinus trên cây cam lòng vàng năm 2016 tại Lục Ngạn, Bắc Giang 46
4.3.1 Diễn biến mật độ và tỷ lệ hại bởi rệp sáp hai tua dài P.longispinus 46
4.3.2 Diễn biến mật độ và tỷ lệ hại bởi rệp sáp hai tua dài P longispinus vụ xuân hè 2016 47
4.3.3 Diễn biến mật độ, tỷ lệ hại bởi rệp sáp hai tua dài tại hai kiểu vườn khác nhau trên giống cam Lòng vàng năm 2015-2016 tại Phượng Sơn, Lục Ngạn, Bắc Giang 49
4.3.4 Diễn biến mật độ rệp sáp hai tua dài trên các lá khác nhau của cây cam năm 2015 - 2016 tại Phượng Sơn, Lục Ngạn, Bắc Giang 50
4.3.5 Nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp tỉa cành tạo tán đến mật độ của rệp sáp hai tua dài 51
4.4 Hiệu lực của một số thuốc bảo vệ thực vật trừ rệp sáp hai tua dài P.longispinus 52
4.4.1 Hiệu lực của một số thuốc bảo vệ thực vật trừ rệp sáp hai tua P.longispinus trong phòng thí nghiệm 52
Trang 64.4.2 Khảo sát hiệu lực của thuốc bvtv trừ rệp sáp hai tua dài P.longispinus hại
cam tại Lục Ngạn, Bắc Giang 54
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 56
5.1 Kết luận 56
5.2 Kiến nghị 56
Tài liệu tham khảo 58
Phụ lục 64
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nghĩa tiếng việt
BNNPTNT Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Organization FAO Food and Agriculture Organization of the United Nations NSP Ngày sau phun
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Các loại thuốc hóa học dùng để khảo nghiệm phòng trừ rệp sáp hai
tua dài 23 Bảng 4.1 Tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trên cây có múi vụ xuân hè
2016 tại Tân Mộc, Lục Ngạn, Bắc Giang 32 Bảng 4.2 Thành phần rệp sáp hại trên cây có múi vụ xuân hè năm 2016 tại
Lục Ngạn, Bắc Giang 34 Bảng 4.3 Kích thước rệp sáp hai tua dài P.longispinus 37
Bảng 4.4 Thời gian phát dục của rệp cái hai tua dài P.longispinus hại cam
năm 2016 43
Bảng 4.5 Thời gian phát dục của rệp đực hai tua dài P.longispinus hại cam
năm 2016 43 Bảng 4.6 Sức sinh sản của rệp sáp hai tua dài P.longispinus hại cam năm 2016 44
Bảng 4.7 Nhịp điệu sinh sản của rệp sáp hai tua dài P.longispinus 45 Bảng 4.8 Tỷ lệ trứng nở của rệp sáp hai tua dài P.longispinus hại cam
năm 2016 46 Bảng 4.9 Diễn biến mật độ và tỷ lệ hại bởi rệp sáp hai tua dài P.longispinus
trên cây cam Lòng Vàng 5 năm tuổi vụ thu đông 2015, tại Tân Mộc, Lục Ngạn, Bắc Giang 47
Bảng 4.10 Diễn biến mật độ và tỉ lệ hại bởi rệp sáp hai tua dài P.longispinus
trên vườn cam Lòng Vàng 5 năm tuổi vụ xuân hè 2016 tại Tân Mộc, Lục Ngạn, Bắc Giang 48 Bảng 4.11 Diễn biến mật độ, tỷ lệ hại bởi rệp sáp hai tua dài tại hai kiểu vườn
khác nhau trên giống cam Lòng vàng năm 2015- 2016 tại 49 Bảng 4.12 Diễn biến mật độ rệp sáp hai tua dài trên các lá khác nhau của cây
cam năm 2016 tại Phượng Sơn, Lục Ngạn, Bắc Giang 50 Bảng 4.13 Ảnh hưởng của biện pháp tỉa cành tạo tán tới mật độ rệp sáp hai tua
dài qua các giai đoạn sinh trưởng của cây cam Lòng vàng 10 năm tuổi năm 2016 tại Phượng Sơn, Lục Ngạn, Bắc Giang 51
Bảng 4.14 Hiệu lực của thuốc BVTV trừ rệp sáp hai tua dài P.longispinus trong
phòng thí nghiệm 53
Bảng 4.15 Hiệu lực của thuốc BVTV trừ rệp sáp hai tua dài P.longispinus hại
cam (ngoài đồng ruộng) 54
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1 Rệp sáp vảy đỏ Aonidiella aurantii Maskell 35
Hình 4.2 Rệp sáp vẩy ốc Chrysomphalus aonidum Linnaeus 35
Hình 4.3 Rệp sáp vảy đen Parlatoria ziziphi Lucas 35
Hình 4.4 Rệp sáp giả cam Planococcus citri Risso 35
Hình 4.5 Rệp sáp vảy trắng Unaspis citri Comstock 35
Hình 4.6 Rệp sáp hai tua dài Pseudococus longispinus Targioni Tozzetti 35
Hình 4.7 Pha trứng 37
Hình 4.8 Ấu trùng rệp tuổi 1 38
Hình 4.9 Ấu trùng rệp tuổi 2 39
Hình 4.10 Rệp đực nhả tơ tạo kén 39
Hình 4.11 Ấu trùng rệp cái tuổi 3 mặt bụng 39
Hình 4.12 Ấu trùng rệp cái tuổi 3 mặt lưng 39
Hình 4.13 Ấu trùng rệp đực tuổi 3 40
Hình 4.14 Nhộng giả 40
Hình 4.15 Rệp đực tạo kén và lột xác trong kén 40
Hình 4.16 Rệp cái trưởng thành 41
Hình 4.17 Rệp cái trưởng thành trên lá cam 41
Hình 4.18 Trưởng thành rệp đực mặt lưng 41
Hình 4.19 Trưởng thành rệp đực mặt bụng 41
Hình 4.20 Hiệu lực của một số thuốc hóa học trừ rệp sáp hai tua dài P longispinus hại cam trong phòng thí nghiệm 53
Hình 4.21 Hiệu lực của một số thuốc hóa học đối với rệp sáp hai tua dài P longispinus hại cam trên đồng ruộng 55
Trang 10TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Tên tác giả: Trần Xuân Trung
Tên luận văn: “Thành phần rệp sáp trên cây cam, đặc điểm sinh học, sinh thái
loài rệp sáp hai tua dài Pseudococcus longispinus Targioni – Tozzetti và biện pháp hóa học phòng chống tại Lục Ngạn, Bắc Giang năm 2015 – 2016”
Nghành: Bảo vệ thực vật Mã số: 60 62.01.12
Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hồ Thị Thu Giang
Mục đích nghiên cứu:
Xác định thành phần loài rệp sáp hại cây cam; nghiên cứu một số đặc điểm
sinh học, sinh thái của loài Pseudococcus longispinus Targioni - Tozzetti từ đó đề
xuất biện pháp không chế sự gây hại của loài này tới năng suất và phẩm chất của cây
ăn quả có múi tại vùng nghiên cứu Xác định hiệu lực của một số loại thuốc BVTV trong phòng trừ rệp sáp trên cây có múi tại Lục Ngạn, Bắc Giang
Phương pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu trên đối tượng rệp sáp Pseudococcus longispinus Targioni –
Tozzetti Điều tra xác định thành phần rệp sáp tại Lục Ngạn, Bắc Giang theo phương pháp ngẫu nhiên và liên tục không cố định điểm điều tra sử dụng khóa phân loại của Wiliams và Watson (1988) để phân loại
Điều tra diễn biến mật độ, tỷ lệ hại rệp sáp Pseudococcus longispinus Targioni –
Tozzetti theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia: QCVN 01 – 119:2012/BNNPTNT về phương pháp điều tra phát hiện sinh vật gây hại trên cây ăn quả có múi
Nghiên cứu dặc điểm sinh học, sinh thái của rệp sáp hai tua dài Pseudococcus
longispinus Targioni – Tozzetti theo phương pháp nuôi cá thể quan sát hàng ngày dưới
Trang 11Kết quả chính và kết luận
Năm 2016 tại Lục Ngan, Bắc Giang xác định được 9 loài rệp sáp gây hại trên
cây cam Trong đó loài rệp sáp hai tua dài Pseudococcus longispinus Targioni –
Tozzetti xuất hiện với mức độ phổ biến
Vòng đời của rệp sáp hai tua dài Pseudococcus longispinus Targioni – Tozzetti
cái ở nhiệt độ 27,51 oC là 32,67 ngày Tổng số trứng đẻ của trưởng thành cái là 190,6 quả/con cái Trưởng thành đẻ trứng cao điểm vào ngày thứ 2 đến ngày thứ 5 với số trứng đẻ là 13,95 – 18,7 quả/con cái/ngày
Rệp sáp hai tua dài Pseudococcus longispinus Targioni – Tozzetti gây hại nặng
nhất vào các tháng 8, 9, 10 và thường xuất hiện nhiều và gây hại với mật độ cao hơn trên lá bánh tẻ so với lá non và lá già với mật độ trung bình 5,64 con/lá
Các thuốc có nguồn gốc từ thảo mộc (DC – Tron – Plus) và sinh học (Queson 5.0 EC), có hiệu quả cao lần lượt tương ứng 74,49% và 83,17 % trong phòng trừ rệp sáp hai tua
dài Pseudococcus longispinus Targioni – Tozzetti hại cam
Trang 12THESIS ABSTRACT
Name of Student: Tran Xuan Trung
Thesis title: "Ingredients mealy aphids on orange trees biological and
ecological characteristics of species of mealybugs two long tassels Pseudococcus longispinus Targioni - chemical Tozzetti and prevention measures in Luc Ngan, Bac Giang in 2015 - 2016”
Major: Plant protection Code: 60 62 01 12
Scientific supervisor: PGS.TS Ho Thi Thu Giang
Training base: Viet Nam National university of agriculrute
1 Research purposes:
Identify mealy aphids species composition orange trees; research some biological characteristics, ecological species longispinus Pseudococcus Targioni - Tozzetti then propose measures do not harm the institutions of this species on yield and quality of citrus fruit trees in the study area To determine the efficacy of a number of pesticides in the room except for mealybugs on citrus in Luc Ngan, Bac Giang
2 Research Methods:
Research on the subject mealybugs longispinus Pseudococcus Targioni - Tozzetti Investigation to determine the composition mealybugs in Luc Ngan, Bac Giang by random method is not fixed and constant use of the survey's key sorting Williams and Watson (1988) to classify
Investigating density developments, mealybugs damage Pseudococcus rate longispinus Targioni - Tozzetti accordance with national technical standards: NTR 01- 119: 2012 / BNNPTNT on survey methods to detect harmful organisms on citrus fruit
Research on biological characteristics, ecological Pseudococcus mealybugs two long tassels longispinus Targioni - Tozzetti method can fish daily observed under a dissecting microscope
Experiment control measures by chemical methods in the laboratory by the
method of Tomislav et al (2007) on experimental layout
Experiment control measures by measures in the field of chemical engineering under national regulations QCVN 01-1: 2009 / BNNPTNT on chemicals testing in the field
Trang 133 Main results and conclusions
Luc Ngan in 2016 in Bac Giang identified nine species of mealybug damage on orange trees That species of mealybugs in two long tassels Pseudococcus longispinus Targioni - Tozzetti appeared with the popularity
The life cycle of aphids Pseudococcus two long tassels longispinus Targioni - Tozzetti the temperature was 32.67 ° C 27.51 days Total eggs of adult female is 190.6 fruit / children Adult spawning peak on day 2 to day 5 with the eggs is 13.95 to 18.7 fruits / child / day
Mealybugs two long tassels Pseudococcus longispinus Targioni - Tozzetti heaviest damage on August, 9, 10 and often appears more harmful and higher densities on the leaf buds and young leaves than older leaves with medium density 5.64 per child /leaf These drugs are derived from herbs DC - Tron - Plus and biological Queson 5.0
EC, with high efficiency, respectively 74.49% and 83.17% in the control mealybugs Pseudococcus two long tassels longispinus Targioni - Tozzetti orange harm
Trang 14PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Cây ăn quả có múi (cam, quýt, chanh, bưởi…) là nhóm cây ăn quả quan trọng trong sản xuất nông nghiệp ở nước ta Năm 2011 diện tích cây ăn quả có múi ở Việt Nam đạt 124.057 ha, trong đó diện tích trồng cam quýt là 70.300 ha, bưởi 45.000 ha, chanh là 18.000 ha Các loại quả có múi không chỉ là hàng hóa đáp ứng cho tiêu thụ nội địa mà còn là loại mặt hàng xuất khẩu có giá trị kinh tế cao Nghề trồng cây ăn quả có múi được phát triển mạnh mẽ ở nhiều nước thuộc vùng nhiệt đới, á nhiệt đới và ôn đới Song sự đa dạng khí hậu ở các vùng trồng trọt là điều kiện thích hợp cho nhiều loài sâu bệnh phát sinh gây hại cây có múi (Nguyễn Minh Mỹ, 2011)
Sâu bệnh trên cây có múi đa dạng về chủng loại và mức độ thiệt hại do chúng gây ra là rất lớn, tập đoàn sâu hại không chỉ làm giảm thiệt hại về năng suất từ 15 – 40 % mà chúng còn là nguyên nhân quan trọng đóng góp vào việc làm giảm chất lượng quả, giảm diện tích trồng cây có múi nổi tiếng tại nhiều vùng trong nước, đặc biệt giảm khả năng cạnh tranh trong thương mại với trái cây của các nước trong khu vực và thế giới Trong đó rệp sáp hại cây ăn quả gây hại nặng trên cây có múi Rệp sáp là nhóm sâu hại cây trồng có thân mềm với kích thước cơ thể nhỏ và rất nhỏ Phần lớn các loài rệp sáp đều có khả năng tiết
ra chất sáp bao phủ lên cơ thể Sáp trên cơ thể chúng có thể dạng bột,dạng sáp hay dạng vảy tùy theo từng họ Rệp sáp sống ở mọi bộ phận của cây như trên lá,đọt,cành, quả Rệp sáp chích hút dinh dưỡng làm cho lá cây bị giảm kích thước, mất diệp lục, chuyển vàng lá, hoa có thể bị rụng, quả bị nhỏ,cành bị khô héo… Chất thải của chúng còn chứa hàm lượng đường cao, đây là môi trường thuận lợi cho nấm hoại sinh phát triển Do đó các bộ phận của cây tại nơi ở của rệp sáp thường được phủ một lớp muội màu đen giống như bồ hóng Lớp muội đen này làm giảm khả năng quang hợp và gây ảnh hưởng đến năng suất cây trồng (Nguyễn Thị Chắt và cs., 2005)
Bắc Giang là một tỉnh trung du miền núi phía Bắc có thành phần cây ăn quả phong phú như: cam, vải, nhãn, na… trong những năm gần đây diện tích cây
có múi tại Bắc Giang nói chung và tại Lục Ngạn nói riêng không ngừng tăng cao
Trang 15Song song với diện tích cây có múi tăng cao; tại Lục Ngạn trong những năm qua, thiệt hại của các loài sâu hại cây có múi cũng tăng theo Trong số các loài sâu hại cây có múi, thì rệp sáp chích hút vào các bộ phận trên mặt đất của cây như lá, quả, chồi non chúng còn gây hại các bộ phận dưới mặt đất của cây, hút chất dinh dưỡng làm cây sinh trưởng còi cọc rồi chết Rệp sáp là nguyên nhân gián tiếp gây tổn thương cho cây bằng cách bài tiết ra dịch mật tạo điều kiện thuận lợi cho nấm muội đen phát triển mạnh từ đó ảnh hưởng xấu đến hoạt động quang hợp của cây, làm cho cây thêm suy yếu, giảm năng suất, chất lượng sản phẩm Trước những bức thiết trong sản xuất nêu trên Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Thành phần rệp sáp trên cây cam, đặc điểm sinh học, sinh thái loài rệp sáp
hai tua dài Pseudococcus longispinus Targioni – Tozzetti và biện pháp hóa
học phòng chống tại Lục Ngạn, Bắc Giang năm 2015 - 2016”
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Xác định thành phần loài rệp sáp trên cây cam; nghiên cứu một số đặc
điểm sinh học, sinh thái của loài Pseudococcus longispinus Targioni – Tozzetti
Đánh giá hiệu lực của một số loại thuốc BVTV trong phòng trừ rệp sáp trên cây cam tại Lục Ngạn, Bắc Giang
Từ đó đề xuất biện pháp phòng chống sự gây hại của loài rệp sáp hai tua dài để đảm bảo năng suất và phẩm chất của cây ăn quả có múi tại vùng nghiên cứu
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Các loài rệp trên cây cam (cam lòng vàng, cam Canh)
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Điều tra thành phần rệp sáp trên cây cam;
- Điều tra tình hình sử dụng thuốc BVTV trong việc phòng trừ rệp sáp của nông dân sở tại;
- Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái của rệp sáp hai tua dài trên cây cam;
- Điều tra diễn biến mật độ của rệp sáp bột hai tua dài hại trên cây cam;
- Xác định hiệu lực phòng trừ rệp sáp bằng thuốc hóa học
Trang 161.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Xác định thành phần rệp sáp hại cây cam tại tỉnh Bắc Giang Nhằm cung cấp thông tin phát hiện dịch hại và thời điểm cần tiến hành phòng trừ
Cung cấp dữ liệu khoa học về đặc điểm sinh học, sinh thái của loài
rệp sáp hai tua dài Pseudococcus longispinus Targioni – Tozzetti gây hại
trên cây cam ở vùng Bắc Giang
Trang 17PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
Cây ăn quả (CAQ) giữ vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam Cây ăn quả, đặc biệt là cây ăn quả có múi đang được quan tâm phát triển mạnh ở các nước nhiệt đới và á nhiệt đới Tại Việt Nam CAQ có múi được quan tâm phát triển ở nhiều vùng trong cả nước, tuy nhiên diện tích tập trung chủ yếu ở 3 vùng trọng điểm: đồng bằng sông Cửu Long, vùng trung du miền núi phía bắc và Bắc Trung Bộ
Thành phần sinh vật gây hại trên cây ăn quả có múi rất phong phú và đa dạng Theo Phạm Văn Lầm (2012) khi điều tra thành phần sinh vật hại trên một số cây trồng chính ở Việt Nam giai đoạn 2006 – 2010 đã ghi nhận trên bưởi có 71 loài sâu hại, cam
có 85 loài sâu hại, chanh có 36 loài sâu hại, quýt có 52 loài sâu hại
Ở nước ta, các loài rệp có sức sinh sản không lớn nhưng có vòng đời ngắn, chúng có khả năng tích lũy số lượng lớn, mật độ tăng nhanh và khả năng gây hại cao Chúng hút dinh dưỡng của cây làm cho lá hoặc cành biến dạng, hoa hoặc quả non bị rụng, làm giảm phẩm chất và năng suất của vườn cây
Trong những năm gần đây, việc mở rộng diện tích cây ăn quả có múi tại rất nhiều vùng, cộng với những tác động của khí hậu, thời tiết đã làm nhiều đối tượng sâu bệnh hại trên cây ăn quả có múi phát sinh và gây hại nặng Trong số đó
có sự phát sinh và gây hại của các loài rệp sáp đang trở thành những trở ngại lớn cho trồng và chăm sóc cây ăn quả có múi Người sản xuất đã và đang sử dụng nhiều loại thuốc hóa học với liều lượng cao, thời điểm không thích hợp để phòng trừ sâu bệnh hại, làm ảnh hưởng đến thiên địch của nhiều loài sâu hại, làm tăng tính kháng thuốc của các loài sâu hại, làm mất cân bằng sinh thái tự nhiên, gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng
Việc nghiên cứu thành phần các loài rệp sáp trên cây ăn quả có múi, đặc điểm phân bố của chúng trên cây là công việc hết sức cần thiết để từ đó đưa ra các khuyến cáo thích hợp trong phòng trừ các loài rệp sáp một cách có hiệu quả
2.2 NHỮNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
2.2.1 Những nghiên cứu nước ngoài
2.2.1.1 Tình hình sản xuất cây có múi
Trên thế giới tình hình sản xuất cây có múi (Citrus) đã tăng mạnh trong
Trang 18những thập niên cuối thế kỷ XX Sản lượng cây có múi hàng năm ước tính trên
105 triệu tấn trong giai đoạn 2000 – 2004 Trong đó, cam chiếm hơn một nửa về sản lượng Sự tăng nhanh về sản lượng do sự thay đổi cơ cấu cây trồng theo sở thích của người tiêu dùng khi đời sống của họ được nâng cao, chăm lo cho sức khỏe nhiều hơn Năm 2004, có 140 quốc gia sản xuất các loại trái cây có múi, tập trung chủ yếu ở Bắc bán cầu Các nước sản xuất trái cây Citrus lớn như Brazil,
Mỹ, Mexico, các nước Địa Trung Hải Riêng đối với cây bưởi, sản lượng bưởi thế giới thời hoàng kim (năm 2000) đạt 5.326 ngàn tấn, giảm xuống 4.684 ngàn tấn (năm 2004) Trong khi đó, biểu đồ sản xuất bưởi châu Á luôn theo hướng phát triển, 2.952 ngàn tấn năm 2000 và đạt mức cao nhất 3.520 ngàn tấn vào năm
2004 (UNCTAD, 2005)
Ở nước ta và các nước Đông Nam Á chủ yếu trồng các giống bưởi thuộc loài Grandis Đây là loài rất đa dạng về giống, do có sự lai tạo tự nhiên giữa chúng và các loài khác trong chi Citrus Ở nước ta bưởi được trồng ở hầu khắp các tỉnh trong cả nước, tuy nhiên chỉ có một số giống có giá trị thương phẩm mang lại hiệu quả kinh tế cao
Ở Việt Nam, trước đây người dân chủ yếu trồng để phục vụ cho bản thân, nhưng kể từ năm 1990 trở lại đây mức sản xuất cây có múi đã được tăng lên, nhiều hộ dân đã sản xuất với quy mô lớn để kinh doanh, cây có múi được trồng ở hầu hết các tỉnh thành trong cả nước, nhưng tập trung chủ yếu ở miền Trung và Nam bộ, phát triển mạnh nhất tại vùng đồng bằng sông Cửu Long Theo báo Nông Nghiệp Việt Nam (2008), những năm gần đây, các loại cây ăn quả trong cả nước đang phát triển khá mạnh với diện tích trên 750.000 ha Trong đó, riêng cây
có múi phát triển mạnh nhất tại vùng đồng bằng sông Cửu Long, với diện tích gần 80.000 ha, sản lượng khoảng 532.000 tấn/năm Nước ta nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa ẩm, đất đai màu mỡ, nguồn nước và nhân lực dồi dào là điều kiện rất thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng Tuy vậy, nền sản xuất của ta còn chậm phát triển, sản xuất manh mún, trình độ của người sản xuất còn thấp do đó năng suất và chất lượng sản phẩm chưa cao
2.2.1.2 Đặc điểm phân bố, đặc điểm sinh học, sinh thái và mức độ gây hại của rệp sáp
Rệp sáp [Hemiptera: Sternorrhyncha: Coccoidea] là tổng họ lớn nhất trong
bộ phụ Sternorrhyncha Chúng gây hại cho cây trồng và được tìm thấy ở mọi nơi trên bề mặt trái đất ngoại trừ vùng Nam Cực của trái đất Tổng họ Coccoidea có
Trang 19gần 8.000 loài nằm trong 32 họ với 3 họ có thành phần loài phong phú nhất là:
Coccidae, Diaspididae và Pseudococcidae (Lyn et al., 2002)
Rệp sáp (Diaspididae) là họ lớn nhất trong tổng họ Coccoidae Rệp sáp bao gồm các loài sâu hại quan trọng đối với cây trồng nông nghiệp, cây rừng và
là đối tượng khó phân loại (Watson, 2002) Rệp sáp cấu thành họ rệp hại quan trọng và nhiều loài trong chúng gây ra những thiệt hại nghiêm trọng và khó
phòng trừ cho cây trồng lâu năm và cây cảnh (Chiu et al., 1985)
• Đặc điểm phân bố
Rệp sáp phân bố rộng rãi trên toàn thế giới Chúng được tìm thấy ở ngoài
tự nhiên thuộc các vùng ấm áp của Châu Mỹ, Châu Âu, và châu Phi Ở các vùng
có khí hậu lạnh, rệp thường gây hại nặng trong nhà kính (McKenzie 1967)
Theo McKenzie (1967), Williams and Watson (1988), Millar et al (2002) Rệp sáp Ferrisia, chi Fullaway, và đặc biệt là loài ăn tạp F virgata (Cockerell)
và F malvastra (McDaniel), cũng được biết đến như loài gây hại cho cây trồng
Chúng gây thiệt hại cho cây trồng chủ yếu bằng cách chích hút nhựa cây và tiết mật ngọt tạo điều kiện cho nấm muội đen phát triển và đôi khi chúng truyền bệnh virus cho cây trồng (William, 1996)
Ký chủ của rệp sáp:
Theo thống kê của Robert and Erica (2004) loài rệp sáp Planococcus
minor được ghi nhận là loài dịch hại trên hơn 250 cây ký chủ ở vùng nhiệt đới
Châu Phi, Châu Úc, vùng cận Bắc Cực, vùng cận nhiệt đới và vùng Đông Nam
Á Những cây trồng bị thiệt hại đáng kể bởi loài dịch hại này là chuối, cam quýt,
cacao, cà phê, ngũ cốc, nho, xoài, khoai tây và đậu tương Planococcus minor là
loài chích hút dịch cây, có thể làm giảm năng suất, chất lượng cây và quả, làm lùn, biến màu và rụng lá cây Chúng cũng có thể là môi giới truyền một số virus thực vật quan trọng cho cây
Pinese et al (2005) cho rằng rệp sáp gây hại trên các cây như: cam quýt,
ca cao, sầu riêng, chôm chôm, vải thiều, mãng cầu ta (na dai), mãng cầu xiêm và nhiều cây cảnh khác Rệp sáp cũng là một loại dịch hại chủ yếu và thường xuyên khắp đất nước Úc, nhưng hại phổ biến hơn ở những vùng ven biển, phía Bắc của Sydney, ở những bang phía đông nước Úc
• Đặc điểm sinh học, sinh thái học của rệp sáp
Khi mật độ tăng cao các loài rệp sáp làm cây yếu đi, phát triển còi cọc Gây nên hiện tượng úng nước, lá trở nên vàng và có thể gây nên hiện tượng rụng lá non
Trang 20và các bộ phận khác của cây nếu bị gây hại nặng có thể dẫn đến cây bị chết Các giọt dịch được bài tiết từ một số loài rệp tạo điều kiện cho nấm muội đen phát triển làm giảm khả năng quang hợp của cây (Kabashima and Dreistadt, 2014)
Theo Hardy (2014) họ rệp sáp Diaspididae có lớp vỏ cứng bảo vệ bên ngoài, ngoại trừ giai đoạn ấu trùng tuổi 1 thì toàn bộ quá trình phát triển của cá thể nằm ở dưới lớp vỏ cứng này, trong quá trình phát triển từ sâu non đến trưởng thành hầu như không di chuyển Rệp sáp gây hại làm xấu mẫu mã của quả, nếu gây hại ở mức độ nặng có thể làm chết cây Tại Australia rệp sáp giả gây hại nặng từ tháng 10 năm trước cho đến tháng 5 năm sau và chúng hoàn toàn không tạo ra nấm muội đen như các họ rệp sáp khác
Khi nghiên cứu đặc điểm sinh học của rệp, Kosztarab and Kozar (1988) cho biết họ Pseudococcidae tên thường gọi thường gọi xuất phát từ dịch rệp sáp sinh ra bởi những lỗ hình đĩa nhưng chủ yếu là những lỗ có 3 ô, khi đẻ trứng rệp thường sản sinh ra những túi trứng do những sợi tơ bông hình thành Con cái trưởng thành thường dạng hình trứng, có đầu, ngực và bụng gắn liền với nhau, màng cutin là màng manbran, màu sắc cơ thể khác với các loài khác, thường là màu vàng nhạt, xám hoặc hồng Râu 2-9 đốt, giảm 1-3 đốt đối với loài không chân Mảnh đôi giữa háng trước, hình nón, 3 đốt với 13-17 đôi lông cứng, chân phân đốt Nhưng có những loài không chân như Antonia, Chaetoccus, 2 lỗ nhạy cảm trong suốt, thường ở mỗi phía của đốt chuyển và hóa cứng hơn so với các mép khác chạy dọc cơ thể
Ấu trùng: Tuổi 1 hình bầu dục dài 0,5 – 0,7mm, rộng 0,2-0,3mm Râu khá phát triển gồm 6 đốt, chân dài Da có những lỗ đơn giản, có 3 ngăn, đôi khi lỗ có
5 ngăn Lông cứng, có các kích thước khác nhau, giới tính không phân biệt được
ở tuổi 1, tuổi 2 trông tương tự tuổi 1 (trừ loài Antonia và Chaetococcus, đối với 2 loài này, các giai đoạn tuổi sau không có chân và râu đầu mất 2-3 đốt so với tuổi 1) một vài ống tiết phát triển ở cả 2 mặt, ở cuối mặt lưng có những lỗ nhỏ Tuổi 3 giống tuổi 2 nhưng có nhiều lỗ thở hơn ở trên da và ống tiết, những lỗ miệng ở phần đầu trên lưng phát triển và có thêm 1 đốt râu nhưng vẫn ít hơn con cái trưởng thành một đốt Tuổi 2 con cái giống tuổi 2 con đực, nhưng tuổi 2 con cái
có thêm ống tiết và đốt râu Tuổi 3 con đực (còn gọi là tiền nhộng) có chân và râu đầu giảm đi, có rất ít lông cứng ngắn, có mầm cánh ngắn Tuổi 4 con đực ( hay còn gọi là nhộng) với phần phụ kéo dài và phát, cánh dài ra hình đệm, đốt thứ 10 phát triển kéo dài ra và hóa cứng, phần hóa cứng ở đầu và ngực đã phần nào
Trang 21được hình thành Các nhà khoa học Carver et al (1987) cho rằng họ
Pseudococcidae có một lớp sáp được tiết ra bao phủ khắp người chúng Trưởng thành cái không có cánh, với hình ô van phân đốt, chân phát triển tốt, dài từ 1-5mm họ rệp sáp có đặc tính là có vòng hậu môn với 4 và nhiều lông cứng hơn, râu có 9 đốt, lưng có những lỗ nhỏ, bụng có ngấn dạng vòng Trưởng thành cái hình trứng, chậm chạp Trưởng thành đực trông giống như con muỗi nhỏ, có một đôi cánh cỏ thể bay tới con cái, phần miệng của chúng teo lại và không ăn Con cái rệp sáp giả có kiểu miệng hút dài thích hợp với việc hút nhựa cây
Theo Fichtner and Johnson (2012) khi nghiên cứu về loài rệp đen
Saissetia oleae là loài gây hại trên rất nhiều cây và đặc biệt gây hại kinh tế trên
cây oliu và cây có múi, chúng phân bố rộng rãi từ Nam Phi, Nam Âu, châu Mỹ,
châu Á, Australia, New Zealand… Tùy điều kiện thời tiết mà rệp đen Saissetia
oleae có từ 1 – 2 thế hệ trong 1 năm Sau khi nở từ trứng sâu non mất 7 ngày để
tìm kiếm chỗ để ăn, bề mặt lá là vị trí ưa thích của chúng Rệp đen trước khi trưởng thành trải qua 2 giai đoạn sâu non
Theo Sharma and Buss (2011), loài Ceroplastes floridensis Comstock
(Insecta:Hemiptera: Coccoidea: Coccidae) có nguồn gốc từ khu vực phía Bắc Neotropical và bây giờ lan ra trên khắp thế giới
Rệp là loài gây hại nghiêm trọng đến năng suất và phẩm chất cây trồng, vì thế nó là tiêu điểm để các nhà khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu nhằm đưa ra các giải pháp phòng chống tối ưu nhất, giúp bảo vệ mùa màng cho người nông dân
Theo Reuther et al (1989) đã nêu hầu hết các loài dịch hại quan trọng của
cây có múi trên thế giới, trong đó ông cũng đã miêu tả đặc điểm sinh học và sinh thái học của một số loài rệp hại trên cây có múi cũng như các biện pháp đấu tranh
sinh học nhằm chống lại các loài dịch hại đó, bao gồm các loài như: Aonidiella
aurantii Mask, Aonidiella citrina, Chrysomphlus aonidum,, Hemiberlesia rapax
Comstock, Pseudaonidia duplex, Lepidosaphes beckii Newm, Lepidosaphes
gloverii Pack., Parlatoria zizyphus Lucas, Unaspis citri Comstock, Unaspis yanonensis (Kuw.), Pinnaspis aspidistrae Signoret, Cocus pseudomagnoliarum
(Kuw.), Coccus viridis Green, Icerya purchasi Mask…tuy vậy tài liệu này chỉ
nêu được một phần nhỏ đặc điểm sinh học sinh thái học mà chưa nghiên cứu sâu từng loài
Trang 22Rệp sáp ảnh hưởng đến cây họ cam quýt Citrus bằng cách gây hại trên các phần non đang phát triển của cây làm cho các lá mới bị quăn và xoắn lại, ảnh hưởng đến sự phát triển của cây (Smith, 2004)
Theo James (1937) rệp sáp phấn Planococcus citri đã được đề cập đến
lần đầu tiên bởi Risso năm 1913 trên cây có múi ở phía Nam nước Pháp Rệp sáp
Planococcus citri có ký chủ tương đối rộng và đã phát hiện được trên 54 ký chủ
ở Ghana, P citri gây hại năng trên cây có múi, chúng không chỉ hút dịch của cây
mà còn thải ra dịch ngọt thu hút các loài côn trùng và nấm muội đen phát triển, cũng theo James (1937) thì đây là loài đẻ trứng và trứng bắt đầu đẻ sau khi thụ tinh 2 tuần và số lượng trứng dao động 20 – 250 (ở Ghana), trên 300 quả (ở Trinidad) có khi lên tới 500 trứng trên cây có múi ở California (Dẫn theo Nguyễn Minh Mỹ, 2011)
Theo Smith (2004), ở Queensland và bắc Territory loài Planococcus citri
có 6 thế hệ trong một năm, còn ở New South Wales có 4 – 5 thế hệ một năm, suốt mùa đông những con cái này sống trên vết nứt của cành cây, hoặc các kẽ lá để
tránh rét Planococcus citri tiết ra dịch ngọt là môi trường thuận lợi cho nấm muội
đen phát triển Cơ thể hình oval, có 18 đôi phấn tua ngắn và có một viền màu tối ở giữa lưng, có một đôi râu 8 đốt Con cái trưởng thành dài 1,6 – 3,2 mm rộng 1,2 – 2,0 mm Con đực trưởng thành có một đôi cánh và miệng bị tiêu biến
Theo Reuther et al (1989) vòng đời Icerya purchasi Maskell khoảng 2 tháng vào mùa hè, có ít nhất 2 thế hệ 1 năm Ấu trùng I purchasi cơ thể có màu
đen và nâu vàng, cơ thể được phủ một lớp sáp màu trắng và vàng Trưởng thành cái dễ dàng phát hiện bởi cơ thể lớn lên tới 10 mm, có màu nâu đỏ, đôi chân và râu có màu đen Rệp cái sinh sản tạo thành túi trứng phía cuối cơ thể làm cho kích thước của nó và túi trứng lên tới 20 mm Con đực rất ít khi bắt gặp, và không thể sống lâu, giai đoạn ấu trùng của con đực tương tự như con cái, nhưng con đực tạo kén và hóa nhộng Rệp đực trưởng thành có một đôi râu rất phát triển, có một đôi cánh màu tối, cơ thể màu tối có một chùm lông cứng dài ở phía cuối bụng Con đực phải trải qua 5 giai đoạn con cái trải qua 4 giai đoạn, tuy con cái không có cánh giống như con đực nhưng con cái lại là loài lưỡng tính, cũng
có sự thụ tinh ngay bên trong cơ thể mẹ, rệp đực được sinh ra là kết quả của
trứng không được thụ tinh (Wong et al., 1999) Mỗi rệp mẹ có thể sản xuất ra từ
500 – 2000 trứng trong 2 đến 3 tháng, Số trứng được sinh ra còn phụ thuộc vào kích thước cơ thể mẹ
Trang 23Nhiệt độ hữu hiệu ảnh hưởng đến số lứa trong năm, nhiệt độ lạnh vào buổi tối và đêm của mùa đông và mùa xuân ảnh hưởng đến tỷ lệ sống sót của giai đoạn tiền nhộng và nhộng đực của giai đoạn đó và những giai đoạn tiếp theo làm chậm quá trình giao phối với con cái (Dao Thi Hang, 2012)
Yếu tố môi trường có ảnh hưởng lớn tới mật độ quần thể rệp sáp đỏ và thiên địch của chúng trên cây có múi tại Austrailia; thời tiết trong mùa đông có thể làm giảm sự phổ biến của rệp sáp vào mùa xuân hoặc với loài ong ký sinh
Encarsia với vòng đời ngắn, và độ mắn đẻ cao do đó khi nhiệt độ tăng cao chúng
sẽ nhanh chóng phát triển (Dao Thi Hang, 2012)
Theo CABI (2010) loài Aspidiotus destructor được miêu tả đầu tiên bởi
Signoret vào năm 1869 Janlaluddin and Mohanasundaram (1992) miêu tả đặc điểm hình thái, phân biệt sự khác nhau giữa con đực và con cái, ấu trùng với
trưởng thành Trứng của A destructor có màu vàng và rất nhỏ, nằm ngay bên
dưới vảy của cơ thể rệp mẹ Ấu trùng cái có 2 tuổi, ấu trùng đực cũng có 2 tuổi nhưng cũng có thêm giai đoạn tiền nhộng và nhộng Ấu trùng tuổi 1 dài khoảng 1
mm, hình oval mà vàng nâu, ấu trùng cái tuổi 2 di động linh hoạt hơn và cơ thể tiết ra chất sáp vảy trong Con đực tuổi 2 thường nhỏ hơn con cái, chúng thường sống thành từng đám cùng nhau Giai đoạn tiền nhộng và nhộng, con đực nằm ngay bên dưới lớp sáp do nó tiết ra ở giai đoạn trước đó
A destructor gây hại trên nhiều loại cây trồng khác nhau, ghi nhận trên
75 giống cây trồng thuộc 44 họ cây trồng khác nhau (Salazar Torres and Solis Aguilar, 1990) Vòng đời của con đực 27 ngày, con cái là 32 ngày Mỗi con cái
sản sinh ra 20 – 50 trứng nằm ngay bên dưới lớp vảy trong vài ngày A
destructor được nuôi ở nhiệt độ (26 – 28C), pha trứng phát dục 5 ngày, giai đoạn
ấu trùng dài nhất là 17 ngày, giai đoạn tiền đẻ trứng khoảng 25 ngày, vòng đời muộn nhất đối với con cái là 44 ngày con đực là 38 ngày Loài rệp này sống tập trung thành từng đám trên lá thường nằm ở mặt dưới lá làm cho lá bị biến vàng (CABI, 2010)
Loài Lepidosaphes beckii Newman đã được đề cập bởi rất nhiều tài liệu
trên thế giới, chúng thường được tìm thấy trên cây có múi, chúng hút dịch cây làm cho lá bị biến vàng, quả chậm lớn, giảm giá trị thương phẩm của quả, khi chúng phát triển với số lượng lớn có thể làm cho cây còi cọc không phát triển được, có khi là cho cây bị chết khô
Trang 24L beckii Newmam có cả sinh sản đơn tính và sinh sản hữu tính Sáp vảy
bao bọc cơ thể của con trưởng thành thon dài giống hình con hàu hoặc con trai Chúng có màu nâu dài khoảng 1 -2 mm, rộng nhất khoảng 0,6 mm, con đực thường nhỏ hơn con cái (CSIRO, 2004) Hình thái ấu trùng giống với rệp cái trưởng thành Trứng được đẻ ngay bên dưới lớp vảy, trứng nở sau khi đẻ khoảng
8 ngày và rời khỏi lớp vỏ sáp khi có điều kiện thuận lợi Khi vừa mới nở ra chúng không ăn, chúng có thể di chuyển quanh sáp, hoặc có thể di chuyển xa hơn nhờ gió, côn trùng và động vật Sau khoảng 3 ngày chúng mất khả năng di chuyển khi đã do chân bị tiêu biến, chúng nằm yên tại chỗ hút dịch cây, cơ thể xuất hiện lớp sáp bao bọc cơ thể Chúng không sản sinh ra dịch ngọt do đó không
là môi trường thuận lợi cho nấm phát triển Con cái có 3 giai đoạn ấu trùng, con đực có 5 giai đoạn Chỉ có thể phân biệt giới tính khi kết thúc ấu trùng tuổi 2 Giai đoạn tiền nhộng và giai đoạn nhộng con đực không ăn Con đực trưởng thành có cánh và rời khỏi lớp sáp để phát tán chúng không có miệng để ăn vì thế nên cơ thể chúng rất yếu chỉ có thể tồn tại trong một thời gian ngắn (CABI, 2010)
Parlatoria ziziphi Lucas có vòng đời từ 4 – 6 tuần vào mùa hè, có ít nhất 6
thế hệ 1 năm Xuất hiện ở các lá bánh tẻ, cả mặt trên và mặt dưới lá Chúng gây hại cho quả, lá và cành của cây có múi (CABI, 2010) Lớp vảy bao bọc cơ thể có kích thước 0,6 – 0,75 x 1,25 – 1,4 mm Chúng thường được phát hiện phần nhiều
ở các vùng nhiệt đới và những nơi có khí hậu ôn hòa Rệp Parlatoria ziziphi trên
cam có 2 thế hệ, trên bưởi có 3 thế hệ 1 năm Những con cái sống trên quả đẻ nhiều trứng hơn trên lá và cành, trung bình mỗi con cái đẻ khoảng 34 trứng Trứng nở sau 4,4 ngày ở 27oC độ ẩm 65%, trong điều kiện tự nhiên (8,4 – 34,6
oC) phải mất 5,4 – 12,1 ngày Sự phân bố của loài này ảnh hưởng lớn bởi nhiệt
độ và độ ẩm P ziziphi được ghi nhận là nguyên nhân gây thiệt hại nghiêm trọng
đến năng suất kinh tế của cây có múi ở phía đông Java, chúng thường tấn công
cành non và lá non Ở Ai cập, Pháp P ziziphi cũng đã trở thành loài dịch hại
nghiêm trọng
Theo Reuther et al (1989), Unaspis citri là loài dịch hại quan trọng gây
hại trên nhiều loại cây trồng khác nhau, đặc biệt là cây có múi trên tất cả các vùng trên thế giới Đã được báo cáo gây hại trên 12 giống thuộc 9 họ nhưng ưa
thích hơn đối với cây có múi Unaspis citri tìm thấy trên thân, lá, quả và dễ nhận
biết có màu trắng tuyết của những con đực khi chúng tụ tập thành từng đám Lá
Trang 25vàng, hoặc có thể bị rụng khi mật độ cao Đặc biệt gây hại nghiêm trọng trên thân, rìa lá lớn, của những cây già Sự quấy phá của chúng chỉ ảnh hưởng khi mật
độ của chúng dày đặc bao phủ biểu bì của lá thân quả, cản trở sự phát triển của cây, cây trở lên còi cọc và ảnh hưởng tới sự ra hoa kết qủa Mặc dù cây có thể hồi phục lại sau khi mật độ rệp giảm nhưng những phần bị rệp gây hại biến rạng tạo thành các lỗ hổng tạo điều kiện cho sự xâm nhiễm của các mầm bệnh
Theo EPPO/CABI (1996) Unaspis yanonensis có thể được xuất phát từ
Trung Quốc nhưng lại phát hiện nhiều ở Nhật Bản, Pháp, Italy Loài này gây hại trên tất cả các loại cây có múi đặc biệt là cây cam Bên cạnh đó nó còn gây hại trên nhiều loại cây trồng khác bao gồm: dừa, chuối, mít, ổi, dâm bụt, xoài… Loài
này cũng có 3 sọc chạy dọc theo sống lưng cũng giống như Unaspis citri, hình dạng con cái cũng giống như Unaspis citri nhưng dài và thon hơn dài khoảng 2.5
– 3.6 mm, có màu nâu đen phần chóp có màu nâu vàng Ấu trùng đực thon dài 1,3 – 1,6 mm
Ở đông nam châu Á Unaspis yanonensis (Erica and Robert, 2005) có 3 thế
hệ mỗi năm Ấu trùng tuổi 1 và 2 trải qua khoảng 22 ngày, trưởng thành có thể sống 34 ngày Chúng thường tấn công trên lá, quả và cành non, hiếm thấy ở trên
thân và những cành già Cũng giống như các loài rệp nói chung, rệp Unaspis
yanonensis có thể làm cho lá vàng úa và rụng, quả biến dạng, giảm giá trị cũng
như chất lượng của quả
Chrysomphalus aonidum (Linnaeus) vỏ lưng của con cái hình tròn, lồi ở
giữa, đường kính khoảng 2 mm, mỏng Có thể nhìn thấy có các đường vân tròn dày sít nhau, rìa vỏ mỏng dính chặt lấy mặt lá cây Con đực mỏng và nhỏ hơn con cái, hình oval dài Trưởng thành đực dài khoảng 0,7 mm có một đôi cánh, 2 đôi mắt đơn, không có phần miệng Ấu trùng tuổi 1 dài khoảng 0,3 mm có chân nhưng chúng sớm đậu lại một chỗ để ăn và hình thành sáp tròn trắng Loài này ghi nhận là loài sinh sản hữu tính Mỗi con cái có thể đẻ khoảng 50 – 150 trứng
dưới lớp vỏ khoảng 1 – 8 tuần, trứng nở ngay bên dưới lớp vỏ (Reuther el
al.,1989)
• Đặc điểm sinh học, sinh thái học của rệp sáp hai tua dài
Theo Charles (1981) rệp sáp hai tua dài P longispinus là một loài đa thực
đã được ghi nhận trên 100 cây ký chủ thuộc 78 họ cây trồng khác nhau Là một trong những loài rệp bột có mặt ở hầu hết các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới
Trang 26James (1937),cho biết rệp sáp hai tua dài P longispinus là loài sinh sản
lưỡng tính kết luận này cũng giống với kết luận tại Pháp và tại Ai Cập
(Mishanwy et al., 1974) Cũng theo James (1937) tỷ lệ đực cái là 19.3 con cái/
con đực Ở Ai Cập tỷ lệ đực cái thay đổi theo nhiệt độ nhưng bao giờ tỷ lệ cái cũng cao hơn tỷ lệ đực, con cái chỉ giao phối với một con đực nhưng con đực có thể giao phối với vài con cái (Mishanwy et al., 1974) Số lượng rệp được sinh ra phụ thuộc vào nhiệt độ, nguồn thức ăn và môi trường sống ở 250C mỗi con cái
đẻ 186 trứng, ở 300C là 43 trứng Ở các điều kiện khác nhau thì thời gian phát triển các pha là khác nhau cụ thể ở độ ẩm tương đối 80%, giai đoạn trước trưởng thành của con cái ở 20oC là 44.8 ngày, 29oC là 29.3 ngày và giai đoạn tiền đẻ trứng là 25.3 ngày ở 20oC và 8.6 ngày ở 30oC
Theo Bartlett (1978) P longispinus không thích hợp với khí hậu khô và
lạnh và hầu hết gây thiệt hại trên Citrus ở California, USA ở nơi có khí hậu tương đối ẩm ướt hoặc môi trường khí hậu ven biển Mật độ giảm khi gặp mưa nhiều (Salazar Torres and Solis Aguilar, 1990)
Ấu trùng rệp sáp hai tua dài P longispinus rất nhỏ có màu sáng và có thể
sống sót 1 ngày mà không cần ăn Ở giai đoạn này chúng không thể tự đi xa được nhưng chúng có thể di chuyển nhờ gió, nước, động vật và con người Ở tuôi thứ 2 chúng bắt đầu di chuyển và ăn trên bề mặt cây trồng để làm tăng khả năng phát tán
và có thể được mang đi xa hơn nhờ gió, côn trùng và động vật (Furness, 1976)
Ấu trùng rệp sáp hai tua dài P longispinus thường nằm cố định tại vị trí gây hại trên một lá để tiếp tục phát triển, Rệp sáp P longispinus trải qua 3 lần lột
xác đối với rệp cái và 4 lần lột xác đối với rệp đực Rệp thường di chuyển tới các
vị trí khác nhau ở mỗi giai đoạn phát triển (Minshawy et al., 1974; Bartlett,
1978) ở giai đoạn thứ 2 thường di chuyển lên trên bề mặt của lá nhưng rệp cái trưởng thành luôn luôn di chuyển tới một nơi an toàn trước khi bắt đầu đẻ trứng
Ở California - Mỹ, trên cây có múi, rệp cái di chuyển đến khe của cành hoặc nhánh để đẻ, khi thời tiết lạnh trên cây lê và nho những con non mới được sinh ra núp dưới cơ thể con mẹ cho đến khi nhiệt độ tăng lên và lộc non phát triển
Biện pháp phòng trừ rệp sáp hại cây trồng
FAO khuyến cáo dùng biện pháp sinh học để phòng trừ rệp sáp như sử
dụng các loài bắt mồi ăn thịt quan trọng: bọ rùa ăn rệp sáp Cryptolaemus
montrouzieri và ong bắp cày ký sinh Leptmastix dactylopii rất có hiệu quả
Những loài cánh gân như Oligochrysa lutea cũng là những loài ăn thịt rệp sáp mạnh Về biện pháp hóa học thì phun Chlorpyrifos vào đất xung quanh cây để
Trang 27diệt kiến, do kiến ngăn chặn những kẻ thù tự nhiên của rệp sáp Ngoài ra phun
thuốc có hoạt chất thuộc nhóm Malathion và Carbaryl cũng có hiệu quả
Hara (2005) cho rằng: rệp sáp hại rễ cây chỉ nằm ở dưới rễ của cây ký chủ
và dưới mặt đất, do đó nó là loài dịch hại nguy hiểm và khó phòng trừ Một biện pháp đã được chứng minh là nhúng rễ cây vào nước nóng hoặc nước nóng kết hợp với thuốc trừ dịch hại Dursban WP và Marathon G tưới vào rễ trước khi phun ướt cả cây sẽ làm giảm đáng kể những vấn đề về độc tố thực vật Những cây cọ trồng trong chậu, nếu bị rệp sáp hại sẽ có thể nhúng rễ vào nước 460C đạt hiệu quả 100% trong việc tiêu diệt rệp sáp hại rễ và không làm ảnh hưởng đến cây trồng trong chậu
Ở Châu Phi thì ong bắp cày ký sinh (Apoanagyrus lopezi) có hiệu quả
nhất trong việc giữ cho rệp sáp hại sắn ở mức độ thấp, giảm đáng kể việc hao hụt
sản lượng ở nhiều vùng Rệp sáp hại xoài (Rastrococcus invadens) ở Tây và Trung Phi bị khống chế bởi hai loài ong bắp cày ký sinh là Gyranusoidea tebygi
và Anagyrus mangicola nhập nội từ Ấn Độ Rệp sáp Kenya, một loài dịch hại chủ yếu trên cà phê chè ở East Rift Area của Kenya từ năm 1923 đến năm 1939,
đã giảm đi và trở thành loài dịch hại thứ yếu sau khi người ta thả thiên địch nhập
từ Uganda năm 1938 Và khi cần thiết, người ta phun dung dịch xà phòng 1-2% hoặc hỗn hợp xà phòng và thuốc trừ sâu cũng có hiệu quả phòng trừ rệp Tuy nhiên nếu có thể thì chỉ phun lên những cây bị nhiễm rệp Ngoài ra, dầu thực vật (như dầu cây cải dầu) và dầu khoáng cũng có tác dụng trong phòng trừ rệp sáp
kế vườn, lựa chọn những cây thích ứng với điều kiện địa phương, không lựa chọn
những giống là ký chú ưa thích của các loài rệp (Dreistadt et al., 2007)
Biện pháp sinh học
Rệp sáp thường được kiểm soát bởi các loài ong ký sinh, các loài ăn thịt
như: bọ rùa, nhện, bọ trĩ… Các loài bọ rùa ăn rệp như: Chilocorus, Hyperaspis
và Rhyzobius có thể không được nhận ra vì cơ thể chúng rất nhỏ, màu sắc và hình
dạng cơ thể rất giống với các loài rệp hoặc chúng ăn ở phía dưới các loài rệp Các loài ong ký sinh là kẻ thù tự nhiên phổ biến của các loài rệp Ong ký sinh bao
Trang 28gồm rất nhiều loài như: Aphytis, Coccophagus, Encarsia và Metaphycus Ong cái
đẻ một hoặc một vài trứng ở trong hoặc trên cở thể rệp; khi bị ký sinh, một vài loài rệp trở nên tối màu hơn so với bình thường Vì vậy cần kiểm tra sự đổi màu của rệp và lớp vỏ bao bọc bên ngoài với lỗ tròn nơi để ong ký sinh trưởng thành
vũ hóa Kẻ thù tự nhiên hoặc động vật có ích trở nên có giá trị thương mại cho việc phóng thích trở lại trong việc phòng trừ rệp sáp đỏ Califonia và có lẽ là cả những loài rệp sáp khác Thêm vào đó việc bảo vệ nơi trú ngụ của các loài kẻ thù
tự nhiên có ảnh hưởng và là chiến lược lâu dài hơn so với việc mua và thả những
loài co ích (Dreistadt et al., 2007)
Ong k ý sinh quan trọng của họ rệp sáp vảy là Aphytis, Encarsia,
Comperiella and Pteroptrix Các loài ong ký sinh thuộc giống Aphytis là các loài
ngoại ký sinh cấp 1 (Rosen and DeBach, 1978) Con trưởng thành đẻ trứng lên bề
mặt của có thể rệp, dưới lớp vảy Aphytis là nhóm ong k ý sinh phổ biến và đóng vai trò quan trọng ở California, Israel, Nam Phi và Australia (Bedford et al., 1998) Các loài thuộc giống Encarsia Comperiella and Pteroptrix là các loài nội
k ý sinh cấp 1 Con cái trưởng thành đẻ trứng vào bên trong cơ thể rệp Các loài
Encarsia spp phân bố rộng rãi trên thế giới Encarsia citrina có phổ ký chủ rộng
Chín loài Comperiella spp đã được mô tả, 6 loài có nguồn gốc từ Đông Nam Á
và Úc, 3 loài ở vùng Nam Phi (Prinsloo, 1996) Aphytis melinus và Encarsia
perniciosi là 2 loài ong k ý sinh rệp sáp vảy phổ biến ở California và các nước ở
khu vực Địa Trung Hải Pteroptrix chinensis là loài ký sinh cấp 1 của rệp sáp vảy
đỏ Loài ong này có nguồn gốc ở đông Á và ghi nhận lần đầu tiên ký sinh trên rệp sáp vảy đỏ trên cam quýt ở Trung Quốc (Flanders and Gressitt, 1958), nhưng
Beattie (1984) chỉ ghi nhận trên rệp sáp vảy đỏ trên cây vạn tuế (Cycas revolute)
mà không phải là cam quýt
Sử dụng các loài ăn mồi, các nội hoặc ngoại ký sinh; đặc biệt bọ rùa Halmus
chalybeus có tác dụng hạn chế mật độ loài rệp đỏ Aonidiella aurantii (Maskell)
Theo Dao et al (2013), khi nghiên cứu ảnh hưởng của phòng trừ kiến với
mật độ của loài rệp của chúng trên cây cam đã cho thấy việc ngăn chặn các loài kiến bằng việc sử dụng 1 băng Polybutene quấn quanh thân cây đã làm sụt giảm
sự phổ biến của loài rệp đen vì các cá thể rệp riêng rẽ bị ngạt do chính giọt mật
mà chúng thải ra trong quá trình gây hại
Kiểm soát kiến nếu nhiều kiến leo lên cây hướng tới các loài rệp Tỉa tán cây theo dạng vòm hoặc làm sạch cỏ hoặc sử dụng bẫy dính ở thân cây để loại bỏ kiến Có thể bổ sung thêm bả trừ kiến (thuốc trừ sâu hỗn hợp với 1 chất hấp dẫn)
Trang 29đặt cạnh tổ kiến hoặc trên đường kiến di chuyển đến cây Boric acid, fipronil, và Hydramethylnon là những chất có thể được sử dụng là bả kiến Bả kiến có tác dụng từ vài giờ cho đến vài tuần, sử dụng bả kiến có nhiều ảnh hưởng hơn việc phun thuốc trừ kiến Phun thuốc trừ kiến chỉ tiêu diệt được kiến thợ, trong khi bả kiến có thể được mang vào trong tổ kiến nơi có kiến chúa và toàn bộ đàn kiến ở
dưới lòng đất có thể bị chết (Dreistadt et al., 2007)
Kiểm soát quần thể kiến, môi trường cây cối, quả lý thuốc trừ sâu là chìa khóa của chiến lược bảo tồn Trồng những cây mang hoa gần những cây bị rệp tấn công và những cây bụi để thu hút và khuyến khích kẻ thù tự nhiên Trưởng thành của các loài ăn thịt, ong ký sinh có thể sống dài hơn, đẻ nhiều trứng và giết được nhiều rệp hơn khi chúng có mật hoặc phấn hoa và mật của các loài côn
trùng để ăn (Dreistadt et al., 2007)
Biện pháp hóa học
Nếu tác hại của các loài rệp vượt qua mức cho phép có thể sử dụng các loại thuốc trừ sâu có tác dụng nhẹ như dầu hoặc xà phòng để làm giảm mật độ rệp
trong khi vẫn duy trì được các loài kẻ thù tự nhiên (Dreistadt et al., 2007)
Khi mật độ rệp tăng cao gây hại sử dụng dầu khoáng là biện pháp được sử dụng hữu hiệu Chỉ phun mình dầu khoáng lên cây vào thời điểm thích hợp có thể kiểm soát được rệp sáp một cách đầy đủ Không sử dụng dầu khoáng để phun lên cây vào những ngày có sương mù, băng giá hoặc quá nóng (nhiệt độ > 900F)
(Dreistadt et al., 2007)
Theo Hardy (2014) sử dụng dầu khoáng trong quản lý các loài rệp sáp có thể sử dụng dầu khoáng 1% phun lên cây để phòng trừ rệp sáp mà không ảnh hưởng đến bề mặt cây Tuy nhiên không nên phun dầu khoáng lên cây khi nhiệt
độ môi trường cao hơn 350C, không phun khi cây bị úng nước, không hỗn hợp dầu khoáng với các thuốc hóa học có nguồn gốc như: sulfur, captan, carbaryl, propargite, imethoate, phân bón lá; khi kết hợp với các thuốc có gốc đồng không pha nồng độ dầu khoáng lớn hơn 0.5%, không phun nồng độ dầu khoáng quá 3%
ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới; ở vùng ôn đới không phun nồng độ quá 2%
2.2.2 Nghiên cứu trong nước
Tình hình sản xuất, sâu bệnh hại trên cây có múi
Cây có múi ở nước ta phân bố rất rộng Từ vùng đất thấp như Hải Hậu – Nam Định đến vùng núi cao Hà Giang Cây có múi được trồng để lấy quả ăn, làm
Trang 30cây cảnh, cây hương liệu hay cây làm thuốc…Trong những năm trở lại đây do hiệu quả mang lại cây có múi đã được trồng tập trung thành những vùng như Nam Đàn – Nghệ An, Cao Phong – Hòa Bình, Bắc Quang – Hà Giang…(Dự án BVMN – 0412-0009)
Cao Văn Chí (2013) ghi nhận thành phần côn trùng bắt mồi trên 5 loài rệp muội hại cây ăn quả có múi gồm 12 loài, trong đó 6 loài bọ rùa, 1 loài kiến vàng,
5 loài ruồi ăn rệp Trong 5 loài ruồi ăn rệp (RAR) có 2 loài lần đầu tiên ghi nhận
ở vùng nghiên cứu là Dideopsis aegrota Fabricius và Melangyna sp ,2 loài RAR
thường xuyên có mặt trên đồng ruộng có vai trò quan trọngtrong điều hòa số
lượng rệp muội là RAR cánh nâu D aegrota và RAR vằn vàng S ribesii
Nghiên cứu về rệp sáp hại cây có múi
Các loài rệp sáp hại cây ăn quả có múi (CAQCM) đã phát hiện được tập
trung nhiều nhất là họ Diaspididea có 27 loài, sau đó đến họ Coccidae có 18 loài
và họ Pseudococcidae có 8 loài, ít nhất là họ Margarodidea hoặc là
Monophlebidae 4 loài Kết quả điều tra côn trùng và bệnh hại cây ăn quả ở Việt
Nam từ 1997-1998 của Viện Bảo vệ thực vật (1999) đã phát hiện thấy 96 loài sâu hại, trong đó có 22 loài rệp hại cam quýt, có 6 loài gây hại chủ yếu là: rệp sáp
Aonidiella aurantii Maskell; rệp chổng cánh Diaphorina citri Kuwayama; rệp
sáp mềm cam Plannococus citri Riss; rệp muội đen Toxoptera aurantii B de F;
rệp sáp vẩy dài Unaspi yanonenis Kuwana
Theo Cục bảo vệ thực vật (2009), nhóm rệp sáp giả là những côn trùng đa thực, chúng gây hại trên nhiều loại cây trồng nông nghiệp có giá trị kinh tế cao, đặc biệt trên cây ăn quả như mãng cầu, xoài, cam quýt, ổi, nhãn, mít v.v, trên cây công nghiệp như cà phê, hồ tiêu, điều, lạc, cây lương thực như khoai lang, sắn, cây rau, cây hoa - cây cảnh như phong lan, mai vàng, trạng nguyên, hoa đại, nhất chi mai, thiên tuế…Do ảnh hưởng của rệp sáp giả (rệp bột), nhiều cây trồng bị suy thoái, nhiều cây trồng không cho trái hoặc trái nhỏ, nhiều cây trồng khác bị còi cọc, phủ đầy muội đen, mất vẻ đẹp vốn có Sản phẩm nông nghiệp bị giảm chất lượng, mẫu mã không phù hợp, có thể mang theo sâu hại thuộc đối tượng kiểm dịch, làm ảnh hưởng rất lớn đến việc giới thiệu sản phẩm ra thế giới
Cây có múi là loại cây có giá trị kinh tế cao, được trồng ở nhiều vùng miền trong cả nước Nghiên cứu phòng chống dịch hại trên cây có múi đã và đang được quan tâm, trong đó không thể không nhắc đến là rệp hại cây có múi Ở nước ta cũng có rất nhiều công trình nghiên cứu rệp hại trên cây có múi
Trang 31Rệp sáp là nhóm sâu hại cây trồng có thân mềm với kích thước cơ thể nhỏ
và rất nhỏ.Phần lớn các loài rệp sáp đều có khả năng tiết ra chất sáp bao phủ lên
cơ thể.Sáp trên cơ thể chúng có thể dạng bột,dạng sáp hay dạng vảy tùy theo từng
họ Rệp sáp sống ở mọi bộ phận của cây như trên lá,đọt,cành, quả Rệp sáp chích hút dinh dưỡng làm cho lá cây bị giảm kích thước, mất diệp lục, chuyển vàng lá, hoa có thể bị rụng, quả bị nhỏ,cành bị khô héo… Chất thải của chúng còn chứa hàm lượng đường cao, đây là môi trường thuận lợi cho nấm hoại sinh phát triển
Do đó các bộ phận của cây tại nơi ở của rệp sáp thường được phủ một lớp muội màu đen giống như bồ hóng Lớp muội đen này làm giảm khả năng quang hợp và gây ảnh hưởng đến năng suất cây trồng (Nguyễn Thị Chắt và cs., 2005)
Theo Nguyễn Thị Thu Cúc và Nguyễn Hữu Thọ (2010) ghi nhận: rệp sáp
Planococcus sp gây hại trên rễ cây có múi vào tất cả các thời điểm trong năm và
ở tất cả các tuổi của cây trồng Rệp sáp Planococcus sp thường gây hại nhiều
nhất trên cây từ một đến ba năm tuổi, đây là giai đoạn cây có múi phát triển mạnh, ra rễ nhiều lần trong năm và do khả năng phát sinh rễ nhanh nên đảm bảo nguồn thức ăn cho rệp quanh năm, giúp rệp sáp duy trì và nhân mật số Vào giai đoạn này, mật độ rệp sáp thường rất cao so với cây trưởng thành và cây già Mật
số rệp sáp Planococcus sp cao nhất từ tháng 12 năm trước đến tháng 5 năm sau,
có thể điều kiện nhiệt độ, ẩm độ trong thời gian này thích hợp cho rệp phát triển, sinh sản và phát tán trên toàn vườn Vào giai đoạn này, rệp xuất hiện hầu hết trên các rễ ở mặt liếp và cũng chính vào thời gian này các triệu chứng gây hại trên rễ,
lá và trái được biểu hiện rõ ràng nhất Trong mùa mưa từ tháng 6 đến tháng 11
mật độ rệp sáp trên vườn giảm.Vào giai đoạn này, rệp sáp Planococcus sp tập
trung nhiều ở những nơi khô ráo trong vườn như ở xung quanh mô hoặc ở những nơi gò cao của liếp để gây hại những rễ gần gốc hay ở phần gốc nơi tiếp giáp với mặt đất
Theo Quách Thị Ngọ (1998), thành phần sâu hại và thiên địch trên cây có múi vùng đồng bằng trung du Bắc bộ khá phong phú Đã thu thập được 126 loài thuộc 29 họ trong 9 bộ côn trùng, 4 loài nhện hại và nhiều loại nhên có ích thuộc lớp nhện Có 26 loài giám định sơ bộ đến giống và loài Bộ có số loài nhiều nhất
là bộ cánh đều (Homoptera) với 10 họ, 35 loài Bộ cánh vảy (Lepidoptera) với 3
họ, 17 loài
Theo Nguyễn Thị Thu Cúc và Nguyễn Hữu Thọ (2010), rệp sáp gây hại rễ cây có múi ngày cảng trở nên phổ biến và gây nhiều khó khăn cho nông dân
Trang 32trồng cây có múi Loài rệp sáp gây hại vùng rễ cây có múi thuộc giống Planococcus Việc sử dụng cây giống đã nhiễm rệp sáp là nguyên nhân chính làm lây lan nhanh rệp sáp trong vườn Trong các loại cây thuộc nhóm cam quýt (Citrus) điều tra, bưởi là cây bị nhiễm nhiều nhất, đặc biệt là bưởi Năm Roi, so với cam và quýt Tại Đồng bắng Sông Cửu Long ghi nhận có trên 16 loài rệp sáp
hiện diện trên cam quýt, chanh bao gồm: Planococcus citri, Planococcus
linacinus, Pseudococcus citriculus, Pseudococcus sp., Chrysomphalus sp
Nhìn chung sự hiện diện khá phổ biến nhưng mật độ rệp thường thấp nên chưa thấy gây hại đáng kể (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000)
Nguyễn Văn Huỳnh (2003), đã miêu tả đặc điểm một số loài rệp hại trên
cam quýt Trên cam quýt có 2 loài rệp muội gây hại chủ yếu Toxoptera aurantii
và Toxoptera citricidus, có nhiều loài rệp sáp chủ yếu là: rệp sáp mềm xanh lục Coccus viridis (Green), Rệp sáp đỏ Aonidiella aurantii, Rệp Sáp Tím,
Lepidosaphes beckii (Newman), rệp sáp giả Planococcus citri (Risso)
Nguyễn Thị Thu Cúc và Phạm Hoàng Anh (2008) đã thông báo ký chủ
của loài Toxoptera aurantii Boyer được ghi nhận trên 120 loài thực vật chủ yếu
trên các họ thực vật như Anacardiaceae, Anonaceae, Aralinaceae, Euphorbiaceae, Lauraceae, Moraceae… Ký chủ chính bao gồm cam, chanh, quýt, cà phê ca cao, xoài Nhóm rệp sáp hiện diện trên cây có múi Citrus có thể chia làm 2 nhóm: nhóm rệp sáp dính với các giống phổ biến như Lepidosaphes, Aonidiella, Coccus, Saissettia và nhóm rệp sáp bông với các giống phổ biến như Pseudococcus, Planococcus và Icerya purchasi Trong tất cả các loài rệp sáp, thành trùng đực đều có kiểu phát triển như con cái ngoại trừ con đực có giai đoạn nhộng và thành trùng đực có một cặp cánh, miệng thoái hóa, không ăn chỉ giữ nhiệm vụ giao phối
Theo Bộ môn Côn trùng (2004): Loài rệp sáp Chrysomphalus ficus Ashm
và Pulvinaria aurantii Ckl phân bố khá rộng trên thế giới, ở Việt Nam có mặt
trên cây có múi, chè, nho, đu đủ…Chúng phá hoại trên nhiều bộ phận của cây
làm cho cam quýt sinh trưởng còi cọc, cành lá úa vàng Loài rệp Pulvinaria
aurantii Ckl sinh sản mạnh nên số lượng thường rất lớn phủ kín bề mặt cây
trồng, làm cho lá quăn queo, các chồi co rúm, cây còi dần đặc biệt rệp thường tiết
ra nhiều sương mật thường làm cho lá bị ướt đẫm tạo điều kiện cho bệnh muội đen phát triển ảnh hưởng xấu đến hoạt động quang hợp
Trang 33Ngô Xuân Bình (2010) ghi nhận cây bưởi có 7 loài rệp hại chính: Aphis
gossypii Glover, Aphis citricola van der Goot, Toxoptera aurantii (Fonsc), Plancoccus citri Risso, Coccus hesperidum L, Unaspis citri (Comst), Aonidiella aurantii Mask Loài Aphis gossypii Glover có chu kỳ vòng đời hở, đây là loài đa
thực, gây hại trên nhiều loại thực vật Trong điều kiện miền Bắc, loài A gossypii Glover phát sinh quanh năm, đây là loài rệp muội khá phổ biến trên cây ăn quả
có múi ở các tỉnh miền Bắc Loài rệp sáp Unaspis citri (Comst) phát sinh với mật
độ cao trên lá sẽ gây rụng lá, trên quả làm xấu mã quả, trên thân và cành làm nứt dọc vỏ của thân cành chính, cành non bị hại không thể ra lộc
Theo Saing Sophath (2004), tại vùng Hà Nội phát hiện trên cây bưởi có
20 loài thuộc 7 họ, trong đó Diaspididae 7 loài, Pseudococcidae 4 loài, họ Coccidiae 4 loài, Aphididae 2 loài Margarodidae 1 loài
Nguyễn Viết Đại (2008) cho biết tại vùng – Hà Nội có 13 loài rệp sáp, trong đó Diaspididae có 4 loài, Pseudococcidae 3 loài, Coccidae 3 loài, Margarodidae 2 loài
Trong thời gian 1999-2004, điều tra trên cây ăn quả, cây công nghiệp, cây hoa và cây cảnh ở một số tỉnh miền Nam đã thu thập và xác định được 41 loài
rệp sáp thuộc 7 họ Trong đó họ Pseudococcidae có số loài thu được nhiều nhất
là 13 loài, kế tiếp là họ Coccidae 11 loài và họ Diaspidae 10 loài (Nguyễn Thị
Chắt và cs., 2005)
Tiến hành điều tra cây ăn quả có múi: thu được 12 loài rệp sáp hại cây ăn
quả có múi Xuất hiện nhiều là loài Nipaecoccus sp hại đọt cành, lá và loài
Parlatoria ziziphi hại lá, quả Các loài xuất hiện thường xuyên gồm Planococcus citri hại đọt, lá cuống quả; Aonidiella auranii (hại lá) Chrysomphalus ficus (hại
lá) Chỉ xuất ít gồm các loài: Icerya aegyptiaca hại đọt, Pseudococcus citricukus hại lá, Ferrisia virgata hại đọt, lá; Pseudococcus comstocki hại lá; Saissetia
oleae hại cành; Coccus hesperiudum và Lepidosaphes becki hại cành, lá (Nguyễn
Thị Chắt và cs., 2005)
Theo Oleg Nicetic et al (2008), đã ghi nhận thành phần rệp sáp trên cây
ăn quả có múi tại Việt Nam có 4 loài chính là: rệp sáp giả cam Planococus citri Risso, rệp sáp mềm nâu Coccus hesperidum L., rệp sáp vảy đỏ Aonidiella
aurantii Mask., rệp sáp vảy trắng Unaspis citri (Comst)
Kết quả nghiên cứu của Saing Sophath (2004), cho biết tại vùng - Hà Nội thành phần rệp hại bưởi đã điều tra được là 20 loài thuộc 7 họ, trong đó họ
Trang 34Diaspididae có 7 loài, họ Pseudococcidae có 4 loài, họ Coccidae có 4 loài, họ Aphididae có 2 loài, Marganrodidae có 1 loài, họ Aleyrodidae có 1 loài và 1 loài thuộc họ Chermydae
• Đặc điểm sinh học của một số loài rệp sáp
Nguyễn Viết Tùng (1992) cho biết họ rệp sáp bột Pseudococcidae có kích thước dài từ 0,5 mm đến 12 mm (trung bình từ 3-6 mm) Con đực kích thước rất nhỏ, từ 0,6-3mm Hình dáng cơ thể có hình trứng hoặc hơi dài, hiếm khi có hình tròn Cơ thể được che phủ bằng một lớp sáp dày mỏng khác nhau, xung quanh cơ thể có những sợi tua sáp nhỏ, cuối bụng có sợi sáp trắng dài (con cái) Cơ thể chia đốt rõ ràng với 8 đốt bụng Râu sợi chỉ 5-9 đốt (có lúc không có), vòi phát triển, có 1-3 đốt Mảnh mông, vòng hậu môn và lông ở vòng hậu môn phát triển (4-8 lông) Không có tuyến đĩa hình số 8 Râu đầu có 3-10 đốt Mắt đơn 4-6 cái, không có mắt kép Đa số loài có một đôi cánh trước, còn đôi cánh sau thoái hóa thành thùy thăng bằng Loài rệp này chích hút nhựa cây, ăn quả ở các phần non mềm như cành non, chồi non, quả; có một số ít sống ở rễ cây
Theo tác giả Nguyễn Văn Liêm (2005) các pha phát dục và vòng đời của
rệp sáp giả Planococcus citri Risso thay đổi theo các mùa trong năm và phụ
thuộc khá rõ vào điều kiện nhiệt độ môi trường Trong mùa hè vòng đời ngắn nhất và mùa đông vòng đời dài nhất.Vòng đời của rệp sáp giả kéo dài 26,8 – 56,3 ngày Trong quần thể rệp sáp cũng luôn tồn tại cả hai giới tính đực và cái, nhưng
tỷ lệ trưởng thành đực luôn thấp hơn trưởng thành cái và chỉ chiếm khoảng 44,4% Không quan sát thấy hiện tượng giao phối giữa rệp đực và rệp cái Tuổi thọ của trưởng thành đực từ 2,9-5,0 ngày, trưởng thành cái từ 19,6-32,9 ngày Trung bình một trưởng thành cái đẻ từ 124,3-232,7 trứng
6,1-Nghiên cứu của Nguyễn Văn Liêm (2005) cho biết giới tính đực và cái
của rệp sáp giả Planococcus citri có biến thái hoàn toàn khác nhau Rệp cái có
các pha trứng, ấu trùng (3 tuổi), trưởng thành Khác với rệp cái, rệp đực có 4 pha gồm trứng, ấu trùng (2 tuổi), nhộng, trưởng thành Số trứng đẻ của một trưởng thành cái thay đổi theo mùa trong năm rất rõ rệt từ 124,3 con/cái vào mùa hè và 232,7 trứng/con cái vào mùa thu Rệp có thể hoàn thành 9-10 lứa trong năm Tỷ
lệ sống sót quần thể đạt 44,2-99,5% các chỉ tiêu này thay đổi nhiều và phụ thuộc vào các mùa trong năm Theo Lê Đức Khánh (2003) vòng đời của rệp sáp trên cam từ 26-78 ngày Rệp phát sinh và gây hại quanh năm, nhiều nhất vào mùa hè
và mùa thu
Trang 35• Biện pháp phòng trừ
Sử dụng các thuốc hóa học gốc lân hữu cơ khi phòng trừ loài rệp sáp
Planococus citri Risso nhưng không sử dụng liên tục một loại nhất định, nên sử
dụng phối hợp thuốc hóa học với dầu khoáng (0,5%), tuy nhiên để tránh ảnh hưởng của dầu khoáng đối với cây trồng cần pha thuốc với nồng độ khuyến cáo trên bao bì khi sử dụng Dùng Sherpa, Suprathion, Trebon, Confior 100SL, Actara 25WG, Ecasi 20EC phun nồng độ theo khuyến- cáo của nhà sản xuất phun trong 1-2 lần ở thời kỳ lá non (Tài liệu TT khuyến nông quốc gia 2013)
Phòng trừ rệp sáp giả P lilacinus bằng biện pháp tỉa cành cho vườn thông
thoáng, loại bỏ những cành bị nhiễm rệp sáp giả với mật độ cao Khi cần thiết có thể sử dụng dầu khoáng DC-Tron Plus hay thuốc hóa học như ofen, pyrynex, trebon, supracide, bassa, lancer, pegasus, (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000)
Có thể phòng trừ được hầu hết rệp sáp trên cây có múi bằng cách phun dầu khoáng Nếu một chương trình quản lý dịch hại áp dụng phun dầu khoáng để phòng trừ nhện đỏ, sâu vẽ bùa và rầy chổng cánh châu Á thì sau đó trong vườn sẽ có ít rệp sáp Đó là vì dầu bám trên lá cây làm mất chỗ đậu của rệp sáp non và khi một chương trình IPM sử dụng dầu khoáng thì số lượng thiên địch của rệp sáp trong vườn sẽ cao hơn khi sử dụng thuốc trừ sâu thường dùng (Oleg Nicetic, 2008)
Trang 36PHẦN 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu Các loài rệp trên cây Cam
Loài rệp sáp hai tua dài Pseudococcus longispinus Targioni - Tozzetti
Địa điểm nghiên cứu: Vùng trồng cây cam xã Phượng Sơn, Tân Mộc tại
Lục Ngạn, Bắc Giang
Bộ môn Côn trùng, khoa Nông học
Trạm BVTV huyện Lục Ngạn, Bắc Giang Thời gian nghiên cứu: Từ 10/2015 đến 09/2016
3.2 VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU
Các giống cây cam trên địa bàn huyện Lục Ngạn – Bắc Giang (Cam Lòng vàng, cam Canh)
Dụng cụ thí nghiệm: Kéo, vợt bắt côn trùng, panh nhọn, ống, hộp đựng mẫu Kính lúp cầm tay, kính soi nổi
Các loại thuốc hóa học dùng trong phòng thí nghiệm
Bảng 3.1 Các loại thuốc hóa học dùng để khảo nghiệm
phòng trừ rệp sáp hai tua dài
TT Tên thuốc Hoạt chất Nồng độ (%) Liều lượng (l/ha)
3.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Điều tra tình hình sử dụng thuốc BVTV của nông dân và xác định thành phần rệp sáp hại cây có múi tại Lục Ngạn – Bắc Giang
Trang 37Điều tra diễn biến mật độ và tỷ lệ lá bị hại trên các kiểu vườn và hình thức chăm sóc khác nhau
Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thai của loài rệp sáp hai tua dài
Pseudococcus longispinus trên cây cam
Xác định hiệu lực phòng trừ rệp sáp hai tua dài Pseudococcus longispinus
bằng thuốc hóa học
3.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.4.1 Điều tra tình hình sử dụng thuốc BVTV của nông dân
Địa điểm điều tra: xã Tân Mộc huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang
Tiến hành điều tra phỏng vấn 30 hộ nông dân trong vùng trồng Cam tại xã Tân Mộc dựa mẫu phiếu diều tra theo các chỉ tiêu ở phần phụ lục 1
ở đó Mẫu sẽ được thu thập ngẫu nhiên ở các cây trong vườn Phải quan sát cả 2 mặt lá và toàn bộ diện tích bề mặt quả Mẫu cành ở các cấp khác nhau cũng sẽ được thu cùng với mẫu lá và quả Ngắt trực tiếp những lá có rệp sáp cho vào túi nilon hoặc hộp nhựa đựng sâu, sau đó mang về phòng thí nghiệm tiếp tục nhân nuôi để làm mẫu và giám định Ngoài ra, sử dụng thao tác bắt rệp sáp bằng bút lông một cách từ từ để rệp kịp rút phụ miệng ra bộ phận hại của cây, đồng thời đưa nhẹ nhàng mẫu vào hộp nhựa nuôi sâu có sẵn lá hay ngọn cây chủ Khi thu mẫu ghi rõ đặc điểm của rệp trước khi thu bắt, vị trí sống, triệu chứng tác hại của rệp gây ra cho cây ký chủ
Mẫu thu về sẽ được quan sát dưới kính lúp soi nổi Những mẫu không bị k ý sinh sẽ được xác định sơ bộ và mẫu giữ trong cồn 70% trong ống Eppendorf để làm mẫu tiêu bản
Sử dụng khoá phân loại của Williams and Watson (1988) để định danh rệp sáp Các đặc điểm hình thái được sử dụng trong phân loại rệp sáp bao gồm:
Trang 38hình dạng cơ thể, kích thước, tua sáp trên cơ thể và số lượng tua sáp, râu đầu, chân, cerarii, lỗ thở, lỗ đĩa “multilocular disc pore”, lỗ “trilocular pores”, bộ phận ostiole (mặt bụng), bộ phận “circulus” ở đốt bụng, lổ trong “translucent pore” phân bố ở các đốt của cặp chân sau và dạng lông xung quanh cơ thể của rệp sáp
Để quan sát một số đặc điểm hình thái mẫu vật được xử lý theo Borr et at.:
quan sát trên trưởng thành cái, mẫu được ngâm trong cồn 700 trong 2 giờ, sau đó chuyển mẫu sang KOH 10% cho đến khi cơ thể rệp sáp trở nên mềm, dùng kim hút loại bỏ các bộ phận bên trong cơ thể ra ngoài, sau đó chuyển mẫu sang acetic acid alcohol trong 20 phút, nhuộm mẫu với acid fuchsin trong 10 phút, sau đó chuyển mẫu lần lượt sang cồn 700 (10 phút), cồn 950 (15 phút), và cồn tuyệt đối
990 (15 phút)
Chỉ tiêu theo dõi: Tần suất xuất hiện và mức độ phổ biến của các loài rệp sáp
3.4.3 Điều tra diễn biến mật độ, tỷ lệ hại bởi rệp sáp hai tua dài
Địa điểm điều tra: xã Phượng Sơn, Tân Mộc huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang
Tiến hành điều tra theo Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về phương pháp điều tra phát hiện sinh vật chính gây hại cây có múi theo QCVN 01 – 119 : 2012/BNNPTNT; Chọn khu vực điều tra cố định có diện tích trồng cây cam ≥ 2
ha, đại diện các yếu tố theo đất địa hình, cho giống, tuổi cây; thời kỳ sinh trưởng (ra lộc, ra hoa, mang qủa); Điều tra định kỳ 10 ngày/lần, điều tra 10 điểm ngẫu nhiên nằm trên đường chéo của khu vực điều tra Điểm điều tra phải cách bờ ít nhất 1 hàng cây
Trên vườn cây kinh doanh : mỗi điểm điều tra 1 cây, trên mỗi cây chọn 4 hướng, mỗi hướng chọn 1 cành trên mỗi cành chọn 10 lá ngẫu nhiên nằm ở tầng giữa của tán cây để điều tra độ dài mỗi đoạn cành điều tra là 50 cm
Trên vườn kiến thiết cơ bản: mỗi điểm điều tra 3 cây, trên mỗi cây chọn
10 lá ngẫu nhiên trên cây
Chỉ tiêu theo dõi: Tỷ lệ lá bị hại; mật độ con/lá
3.4.4 Nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp canh tác đến mât độ rệp sáp hai tua dài
* Nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp tỉa cành đến mật độ của rệp sáp hai tua dài Pseudococcus longispinus
Trang 39Đánh giá ảnh hưởng của biện pháp tỉa cành đến mật độ của rệp sáp hai tua
dài Pseudococcus longispinus của rệp sáp gồm 2 kiểu vườn: vườn có áp dụng
biện pháp tỉa cành và vườn không áp dụng biện pháp tỉa cành tại Lục Ngạn (Bắc Giang) Điều tra mật độ rệp sáp được thực hiên tương tự theo phương pháp điều tra rệp sáp tại mục 3.4.2
Vườn không áp dụng biện pháp tỉa cành: Vườn cây ăn quả có múi không đầu tư thâm canh, không cắt tỉa cành tạo độ thông thoáng cho cây trong quá trình sinh trưởng và phát triển
Vườn áp dụng biện pháp tỉa cành: Vườn cây ăn quả có múi chăm sóc theo quy trình kỹ thuật IPM cắt tỉa cành cho vườn thông thoáng, khống chế độ cao của cây, trong vườn trồng xen lạc, đậu tương Thường xuyên dọn sạch cỏ trong vườn, để dễ dàng chăm sóc
* Nghiên cứu diễn biến mật độ rệp sáp hai tua dài P longispinus trên vườn
kiến thiết cơ bản và vườn kinh doanh
Đánh giá ảnh hưởng của loại hình vườn cam đến mật độ và tỷ lệ hại của rệp sáp gồm 2 kiểu vườn: vườn kinh doanh và vườn kiến thiết cơ bản tại Lục Ngạn Bắc Giang Phương pháp điều tra được thực hiện tương tự theo phương pháp điều tra diễn biết mật độ và tỷ lệ hại rệp sáp tại mục 3.4.2 vườn cây có diện tích 2ha Công thức 1 : vườn cây cam là vườn cây đang trong thời kì kiến thiết cơ bản (độ tuổi cây dưới 2 năm)
Hình 3.1 Vườn cam có áp dụng
biện pháp tỉa cành
Hình 3.2 Vườn cam không áp dụng
biện pháp tỉa cành
Trang 40Công thức 2: vườn cây cam là vườn cây trong thời kì kinh doanh (độ tuổi cây từ 7 -10 năm)
3.4.5 Nghiên cứu đặc điểm hình thái rệp hai tua dài P longispinus
Nguồn rệp: Thu thập những lá có rệp từ các vườn cam, đem về phòng dùng bông tẩm ướt quấn xung quanh cuống lá, sau đó đặt vào trong hộp nhựa, hàng ngày mở nắp hộp quan sát và bổ sung nước cho bông, nuôi tiếp cho đến khi rệp phát triển đến pha trưởng thành và chuẩn bị đẻ Sau đó dùng bút lông di chuyển rệp mẹ sang lá mới, mỗi lá 1 cá thể, và được đặt trong hộp đĩa petri, cũng dùng bông tẩm ướt quấn xung quanh cuống lá
Mỗi cá thể rệp mới nở cũng được di chuyển sang lá mới và được nuôi trong đĩa petri Hàng ngày quan sát trứng, rệp non phát triển dưới kính lúp soi nổi
và kính hiển vi, mô tả hình dáng, màu sắc và đo kích thước của từng pha phát dục (n=30)
3.4.6 Nghiên cứu đặc điểm sinh học rệp sáp hai tua dài P longispinus
+ Nghiên cứu thời gian phát dục các pha:
Thí nghiệm xác định các tuổi và thời gian phát dục theo phương pháp Rae (1993)Kết hợp với chỉ tiêu nghiên cứu đặc điểm hình thái, nghiên cứu thời gian phát dục các pha được nuôi theo phương pháp nuôi cá thể Quan sát, ghi chép thời gian trứng nở rất nhanh trong vòng 1 ngày ở ngay dưới bụng mẹ Ấu trùng tuôi 1 được tách ra nuôi theo phương pháp cá thể trên từng lá cam được đặt trong đãi petri có bông tẩm ướt xung quanh cuống lá Hàng ngày quan sát thời gian lột xác chuyển tuổi của rệp sáp non; thời gian phát dục các pha, trưởng thành vũ hóa xác định thời gian tuổi đẻ trứng từ đó để xác định vòng đời của chúng Rệp nuôi
ở điều kiện nhiệt độ, ẩm độ của phòng thí nghiệm (với n = 30)
+ Nghiên cứu sức sinh sản, nhịp điệu đẻ trứng và thời gian sống của trưởng thành:
Rệp non tuổi cuối sau khi lột xác hóa trưởng thành được di chuyển sang lá mới và được nuôi trong hộp petri Mỗi lá di chuyển 1 rệp mẹ Hàng ngày quan sát ghi chép số trứng được đẻ ra cho đến khi rệp mẹ chết sinh lý
Số cá thể theo dõi n= 10
+ Nghiên cứu tỷ lệ sống sót các pha trước trưởng thành của rệp sáp bột
hai tua dài P longispinus