Phương pháp nghiên cứu: Các phương pháp được sử dụng bao gồm việc thu thập tài liệu, lấy mẫu phân tích, xử lý số liệu, phương pháp ứng dụng chỉ số chất lượng nước Kết quả chính và kết
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo
vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Thanh Tùng
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết
ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Thanh Lâm đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Khoa Môi trường - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Vĩnh Phúc, chi cục Thủy lợi tỉnh Vĩnh Phúc, phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Tam Dương đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Thanh Tùng
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Danh mục chữ viết tắt v
Danh mục bảng vi
Danh mục đồ thị, sơ đồ vii
Trích yếu luận văn .viii
Thesis abstract ix
Phần 1: Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Phạm vi nghiên cứu 2
1.4 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2
Phần 2 Tổng quan tài liệu 3
2.1 Một số khái niệm và thuật ngữ liên quan 3
2.2 Chu trình tuần hoàn nước trong tự nhiên 4
2.3 Hiện trạng chất lượng nước trên thế giới và việt nam 8
2.3.1 Hiện trạng chất lượng nước trên Thế giới 8
2.3.2 Hiện trạng chất lượng nước tại Việt Nam 10
2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nước mặt 15
2.4.1 Khai thác và sử dụng quá mức tài nguyên nước 15
2.4.2 Suy thoái chất lượng nước do hoạt động công nghiệp và khu vực đô thị 15
2.4.3 Suy thoái chất lượng nước do hoạt động nông nghiệp và khu vực nông thôn 17
2.4.4 Ô nhiễm nước từ các nguồn khác 17
2.5 Quản lý chất lượng nước mặt 18
2.5.1 Cơ sở pháp lý 18
2.5.2 Tổ chức quản lý nhà nước về môi trường nước 19
2.6 Hướng nghiên cứu đánh giá chất lượng nước mặt 20
2.6.1 Phương pháp đánh giá chất lượng nước dựa theo tiêu chuẩn môi trường 20
2.6.2 Phương pháp đánh giá theo thang điểm 24
2.6.3 Phương pháp đánh giá tổng hợp chất lượng nguồn nước 25
2.6.4 Phương pháp đánh giá thông qua mô hình 27
2.6.5 Phương pháp đánh giá theo chỉ thị sinh vật 27
2.6.6 Phương pháp đánh giá qua ước tính thiệt hại kinh tế 29
Phần 3: Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 31
3.1 Địa điểm nghiên cứu 31
Trang 53.2 Thời gian nghiên cứu 31
3.3 Đối tượng nghiên cứu 31
3.4 Nội dung nghiên cứu 31
3.5 Phương pháp nghiên cứu 31
3.5.1 Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu 31
3.5.2 Phương pháp lấy mẫu 32
3.5.3 Phương pháp xử lý số liệu 34
3.5.4 Ứng dụng chỉ số WQI 35
3.5.5 Phương pháp đánh giá chất lượng môi trường nước mặt dựa trên chỉ tiêu tổng hợp (P tb ) 38
Phần 4: Kết quả và thảo luận 39
4.1 Điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu 39
4.1.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên và cảnh quan môi trường 39
4.1.2 Điều kiện phát triển kinh tế - xã hội 49
4.2 Một số nguồn thải chính trên địa bàn nghiên cứu 57
4.2.1 Hoạt động nông - lâm nghiệp 57
4.2.2 Hoạt động công nghiệp - xây dựng 61
4.2.3 Nguồn thải sinh hoạt 62
4.3 Đánh giá chất lượng nước mặt tại huyện tam dương 64
4.3.1 Kết quả phân tích chất lượng nước mặt 65
4.3.2 Đánh giá chất lượng nước theo phương pháp WQI 72
4.3.3 Đánh giá chất lượng nước theo chỉ tiêu tổng hợp 76
4.4 Đề xuất một số giải pháp 80
4.4.1 Giải pháp chung 80
4.4.2 Giải pháp cụ thể tại huyện Tam Dương 82
Phần 5: Kết luận và kiến nghị 89
5.1 Kết luận 89
5.2 Kiến nghị 90
Tài liệu tham khảo 91
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Trữ lượng nước mặt của các sông 14
Bảng 2.2 Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt 22
Bảng 2.3 Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước tưới tiêu 23
Bảng 2.4 Phân loại dòng chảy dựa trên chỉ số chất lượng nước 25
Bảng 2.5 Phân loại mức nhiễm bẩn nước thải theo Liên Xô 26
Bảng 2.6 Vi sinh vật chỉ thị nguồn nước theo mục đích sử dụng 28
Bảng 2.7 Số lượng các vi sinh vật chỉ thị có ở phân người và phân động vật 28
Bảng 3.1 Thông tin về điều kiện quan trắc 33
Bảng 3.2 Các thông số và phương pháp phân tích tại phòng thí nghiệm 34
Bảng 3.3 Giá trị giới hạn của các thông số chất lượng nước mặt 34
Bảng 3.4 Bảng quy định giá trị q i , BP i 36
Bảng 3.5 Bảng quy định các giá trị BP i và q i đối với DO %baohoa 36
Bảng 3.6 Bảng quy định các giá trị BP i và q i đối với thông số pH 37
Bảng 3.7 Các mức đánh giá chất lượng nước 38
Bảng 4.1 Điều kiện khí hậu huyện Tam Dương 41
Bảng 4.2 Tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2011– 2015 50
Bảng 4.3 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Tam Dương giai đoạn 2011-2015 50
Bảng 4.4 Dân số, lao động huyện Tam Dương năm 2014 54
Bảng 4.5 Quy mô trồng trọt huyện Tam Dương năm 2015 58
Bảng 4.6 Quy mô chăn nuôi huyện Tam Dương 59
Bảng 4.7 Tổng lượng chất thải gia súc tại huyện Tam Dương 60
Bảng 4.8 Bảng thống kê các nguồn tác động đến vị trí lấy mẫu 63
Bảng 4.9 Kết quả tính giá trị WQI mùa khô 73
Bảng 4.10 Kết quả tính giá trị WQI mùa mưa 74
Bảng 4.11 Bảng tính toán giá trị WQI tổng hợp 75
Bảng 4.12 Bảng tổng hợp giá trị P tb 77
Trang 8DANH MỤC ĐỒ THỊ, SƠ ĐỒ
Hình 2.1 Vòng tuần hoàn nước trong tự nhiên 4
Hình 4.1 Vị trí địa lý huyện Tam Dương 39
Hình 4.2 Bản đồ quy hoạch hệ thống thủy lợi tỉnh Vĩnh Phúc 46
Hình 4.3 Tỷ lệ điều tra đánh giá chất lượng nước mặt 64
Hình 4.4 Tỷ lệ xử lý nước thải 65
Hình 4.5 Kết quả phân tích giá trị DO trung bình 65
Hình 4.6 Kết quả phân tích giá trị COD trung bình 66
Hình 4.7 Kết quả phân tích giá trị BOD 5 trung bình 67
Hình 4.8 Kết quả phân tích giá trị TSS trung bình 68
Hình 4.9 Kết quả phân tích giá trị độ đục trung bình 68
Hình 4.10 Kết quả phân tích giá trị N-NH 4+ trung bình 69
Hình 4.11 Kết quả phân tích giá trị P-PO 43- trung bình 70
Hình 4.12 Kết quả phân tích giá trị Coliform trung bình 71
Hình 4.13 Kết quả phân tích giá trị pH trung bình 72
Hình 4.14 Tỷ lệ sử dụng cho các mục đích khác nhau theo giá trị WQI 76
Hình 4.15 Kết quả tính toán chỉ tiêu tổng hợp P tb theo cột A1 78
Hình 4.16 Kết quả tính toán chỉ tiêu tổng hợp P tb theo cột A2 78
Hình 4.17 Kết quả tính toán chỉ tiêu tổng hợp P tb theo cột B1 79
Hình 4.18 Kết quả tính toán chỉ tiêu tổng hợp P tb theo cột B2 79
Hình 4.19 Giải pháp nâng cao ý thức BVMT tại huyện Tam Dương 82
Trang 9TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên luận văn: Đánh giá chất lượng nước mặt và đề xuất giải pháp quản lý tại huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc
Cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Mục đích nghiên cứu: Đánh giá được thực trạng chất lượng nước mặt nhằm đề xuất
các giải pháp quản lý chất lượng nước mặt phù hợp với điều kiện tại huyện Tam Dương,
tỉnh Vĩnh Phúc
Phương pháp nghiên cứu: Các phương pháp được sử dụng bao gồm việc thu thập tài
liệu, lấy mẫu phân tích, xử lý số liệu, phương pháp ứng dụng chỉ số chất lượng nước
Kết quả chính và kết luận: Qua quá trình nghiên cứu đề tài đã xác định các nguồn thải
chính gây ô nhiễm nguồn nước mặt và đánh giá được chất lượng nước mặt tại các thủy vực lớn như: Sông Phó Đáy, sông Phan, kênh Bến Tre, hồ Đồng Bông, đầm Sổ Hiện trạng nguồn nước mặt huyện Tam Dương đã có dấu hiệu ô nhiễm bởi các chất hữu cơ, chất lượng nước không đảm bảo cho mục đích cấp nước sinh hoạt và bảo tồn động vật thủy sinh theo cột A2 của QCVN 08:2008/BTNMT Các chỉ tiêu phân tích mẫu nước
vực kênh tiêu thoát nước Bến Tre có mức độ ô nhiễm nghiêm trọng nhất, chất lượng nước các thủy vực khác giảm dần theo thứ tự: Sông Phan, hồ Đồng Bông, đâm Sổ, sông Phó Đáy Từ kết quả thu thập được đề tài đề xuất một số giải pháp để phát triển và bảo
vệ tài nguyên nước mặt một cách có hiệu quả như: Thực hiện các quy định mới, áp dụng giải pháp về kinh tế - kỹ thuật, tuyên truyền nâng cao nhận thức, tăng cường xây dựng nguồn lực
Trang 10THESIS ABSTRACT
Master Student: Nguyen Thanh Tung
Thesis title: Evaluation of surface water quality and proposedmanagement
solutions in Tam Duong district, Vinh Phuc province
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA) Research objectives: Assessing the real quality of surface water in order to
propose solutions to manage surface water quality with suitable conditions in Tam Duong district, Vinh Phuc province
Materials and Methods: The methodology is used includes document collection,
sampling and analysis, data processing, application methods WQI water quality
Main findings and conclusions: This study identified major sources of polluting
surface water sources, and assess surface water quality in larger water areas such as: Pho Day River, Phan rivers, Ben Tre canal, Dong Bong lake, So Swam The currentstate
of surface water in Tam Duong indicated a signant of pollution by the organic compound, water quality failed to guarantee to providepotable water and reserve aquatic animals according to the column A2 of QCVN 08:2008/BTNMT Most of the indicators in water
of water in Ben Tre Canal was the worst, the water in other waterbodies decrease in quality by the following order: Phan River, Dong Bong Lake, So Swam, Pho Day The thesis proposed several solutions to develop and protect surface water resources effectively, for example: establishing new regulations, implementing economic and technical solutions, enhancing social awareness and human resources
Trang 11PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Tam Dương là huyện Đông Bắc của tỉnh Vĩnh Phúc, trên địa bàn bao gồm
13 xã, thị trấn Trong những năm gần đây nền kinh tế của huyện đạt được những bước phát triển đáng kể với tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân là 22,82%/năm, cuộc sống người dân ngày càng được nâng cao Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đã đạt được cũng phát sinh một số tác động tiêu cực đến các thành phần môi trường Nổi bật trong đó là hiện tượng nguồn tài nguyên nước mặt đang bị suy giảm về chất lượng và số lượng gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và hoạt động sản xuất của nhân dân địa phương Trong khi nhu cầu
sử dụng nước mặt phục vụ sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt trên địa bàn huyện
ngày càng gia tăng
Theo điều tra, đánh giá của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Vĩnh Phúc,
trạng môi trường năm 2013, mức độ ô nhiễm môi trường nước mặt trên địa bàn tỉnh nói chung, huyện Tam Dương nói riêng đang có xu hướng tăng so với những năm trước đây Kết quả phân tích mẫu nước mặt tại các thủy vực vượt quy chuẩn
mẫu bị ô nhiễm COD; 87,5% mẫu bị ô nhiễm bởi chất rắn lơ lửng Nguyên nhân gây thực trạng ô nhiễm nguồn nước mặt tại huyện Tam Dương từ nhiều nguồn khác nhau, trong đó phải kể đến các nguồn gây ô nhiễm chính như: Nước thải từ hoạt động sinh hoạt hàng ngày phát sinh từ các khu dân cư tập trung (Thị trấn Hợp Hòa, xã Hợp Thịnh); Chất thải từ hoạt động chăn nuôi (Phân, nước tiểu, xác động vật chết); Tồn dư hóa chất bảo vệ thực vật, sử dụng phân bón quá mức trong canh tác nông nghiệp (Tại các xã chuyên canh về rau màu như An Hòa, Vân Hội) Câu hỏi đã được đặt ra: "Khu vực nào bị ô nhiễm và mức độ ra sao? Làm thế nào để bảo vệ nguồn nước mặt trước các nguyên nhân gây ô nhiễm?" Xuất phát từ hiện trạng môi trường nêu trên và yêu cầu thực tế về đánh giá chất lượng môi trường nước mặt của huyện Tam Dương, từ đó tìm ra các giải pháp góp phần giảm thiểu ô nhiễm, cải thiện chất lượng môi trường nước mặt của huyện
trong thời gian tới Tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: "Đánh giá chất lượng nước
mặt và đề xuất giải pháp quản lý tại huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc"
Trang 121.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Đánh giá được thực trạng chất lượng nước mặt nhằm đề xuất các giải pháp quản lý chất lượng nước mặt phù hợp với điều kiện tại huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc
1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
Đề tài đã xác định được nguyên nhân gây ô nhiễm chính và đánh giá được chất lượng nước mặt tại các thủy vực lớn trên địa bàn Từ kết quả thu thập, sử dụng phương pháp đánh giá chất lượng nước mặt để phục vụ cho các mục đích khác nhau Đồng thời đề tài tìm ra giải pháp quản lý tài nguyên nước mặt phù hợp với điều kiện huyện Tam Dương
Trang 13PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM VÀ THUẬT NGỮ LIÊN QUAN
Theo Luật Tài nguyên nước (TNN) năm 2012: "Tài nguyên nước bao gồm nguồn nước mặt, nước dưới đất, nước mưa và nước biển thuộc lãnh thổ của nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" Trong đó "Nước mặt là nước tồn tại trên
mặt đất liền hoặc hải đảo" (Khoản 1, 3 - Điều 2 Luật Tài nguyên nước, 2012)
Ô nhiễm nguồn nước là sự biến đổi tính chất vật lý, tính chất hóa học và
thành phần sinh học của nước không phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật cho phép, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật (Khoản 14 - Điều 2 Luật Tài nguyên nước, 2012)
Suy thoái nguồn nước là sự suy giảm về số lượng, chất lượng nguồn nước
so với trạng thái tự nhiên hoặc so với trạng thái của nguồn nước đã được quan trắc trong các thời kỳ trước đó (Khoản 15 - Điều 2 Luật Tài nguyên nước, 2012)
Cạn kiệt nguồn nước là sự suy giảm nghiêm trọng về số lượng của nguồn
nước, làm cho nguồn nước không còn khả năng đáp ứng nhu cầu khai thác, sử dụng và duy trì hệ sinh thái thủy sinh (Khoản 16 - Điều 2 Luật Tài nguyên nước, 2012)
Theo Luật Bảo vệ môi trường (BVMT) năm 2014: Quan trắc môi trường là quá trình theo dõi có hệ thống về các thành phần môi trường, các yếu tố tác động lên môi trường nhằm cung cấp thông tin đánh giá hiện trạng, diễn biến chất lượng môi trường và các tác động xấu đối với môi trường (Khoản 20 - Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường, 2014)
Bảo đảm chất lượng (QA: Quality Asurance) trong quan trắc môi trường là một hệ thống tích hợp các hoạt động quản lý và kỹ thuật trong một tổ chức nhằm đảm bảo cho hoạt động quan trắc môi trường đạt được các tiêu chuẩn chất lượng
đã quy định
Kiểm soát chất lượng (QC: Quality Control) trong quan trắc môi trường là việc thực hiện các biện pháp để đánh giá, theo dõi và kịp thời điều chỉnh để đạt được độ chính xác và độ tập trung của các phép đo theo yêu cầu của các tiêu chuẩn chất lượng nhằm đảm bảo cho hoạt động quan trắc môi trường đạt các tiêu chuẩn chất lượng này
Trang 142.2 CHU TRÌNH TUẦN HOÀN NƯỚC TRONG TỰ NHIÊN
Vòng tuần hoàn nước là sự tồn tại và vận động của nước trên mặt đất, trong lòng đất và trong bầu khí quyển của trái đất Nước trái đất luôn vận động và chuyển từ trạng thái này sang trạng thái khác, từ thể lỏng sang thể hơi rồi thể rắn
và ngược lại Vòng tuần hoàn nước đã và đang diễn ra từ hàng tỉ năm và tất cả quá trình sống trên trái đất đều phụ thuộc vào nó, trái đất sẽ không thể sống được nếu không có nước
Nguồn: Viện Khí tượng thủy văn (2016)
Hình 2.1 Vòng tuần hoàn nước trong tự nhiên
Vòng tuần nước không có điểm bắt đầu nhưng chúng ta có thể bắt đầu từ các đại dương Mặt trời điều khiển vòng tuần hoàn nước bằng việc làm nóng nước trên những đại dương, làm bốc hơi nước vào trong không khí
Những dòng khí bốc lên đem theo hơi nước vào trong khí quyển, gặp nơi có nhiệt độ thấp hơn hơi nước bị ngưng tụ thành những đám mây Những dòng không khí di chuyển những đám mây khắp toàn cầu, những phân tử mây va chạm vào nhau, kết hợp với nhau, gia tăng kích cỡ và rơi xuống thành giáng thủy (mưa) Giáng thuỷ dưới dạng tuyết được tích lại thành những núi tuyết và băng
Trang 15hà có thể giữ nước đóng băng hàng nghìn năm Trong những vùng khí hậu ấm áp hơn, khi mùa xuân đến tuyết tan và chảy thành dòng trên mặt đất, đôi khi tạo thành lũ Phần lớn lượng giáng thuỷ rơi trên các đại dương, hoặc rơi trên mặt đất
và nhờ trọng lực trở thành dòng chảy mặt Một phần dòng chảy mặt chảy vào sông theo những thung lũng sông trong khu vực, với dòng chảy chính trong sông chảy ra đại dương Dòng chảy mặt và nước thấm được tích luỹ trữ trong những
hồ nước ngọt Mặc dù vậy không phải tất cả dòng chảy mặt đều chảy vào các sông Một lượng lớn nước thấm xuống dưới đất Một lượng nhỏ nước được giữ lại ở lớp đất sát mặt và được thấm ngược trở lại vào nước mặt dưới dạng dòng chảy ngầm Một phần nước ngầm chảy ra thành các dòng suối nước ngọt Nước ngầm tầng nông được rễ cây hấp thụ rồi thoát hơi qua lá cây Một lượng nước tiếp tục thấm vào lớp đất dưới sâu hơn và bổ sung cho tầng nước ngầm sâu để tái tạo nước ngầm, nơi mà một lượng nước ngọt khổng lồ được trữ lại trong một thời gian dài Tuy nhiên, lượng nước này vẫn luân chuyển theo thời gian, có thể quay trở lại đại dương, nơi mà vòng tuần hoàn nước kết thúc và lại bắt đầu
Bốc hơi nước là một quá trình nước chuyển từ thể lỏng sang thể hơi hoặc
khí Bốc hơi nước là đoạn đường đầu tiên trong vòng tuần hoàn mà nước chuyển
từ thể lỏng thành hơi nước trong khí quyển Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng các đại dương, biển, hồ và sông cung cấp gần 90% độ ẩm của khí quyển qua bốc hơi, với 10% còn lại do thoát hơi của cây Nhiệt là nhân tố cần thiết cho bốc hơi xuất hiện Năng lượng được sử dụng để bẻ gãy những liên kết giữa các phân tử nước,
nó là nguyên nhân tại sao nước có thể dễ dàng bốc hơi tại điểm sôi (212°F, 100°C) nhưng bốc hơi rất chậm tại điểm đóng băng Khi độ ẩm tương đối không khí đạt 100%, tức là ở trạng thái bão hoà hơi nước, bốc hơi không thể tiếp tục diễn ra Bốc hơi nước từ các đại dương là cách chính để nước được luân chuyển vào trong khí quyển Trên phạm vi toàn cầu lượng nước bốc hơi cũng bằng với lượng giáng thủy Tuy nhiên tỷ lệ giữa lượng nước bốc hơi và lượng giáng thuỷ biến đổi theo vùng địa lý Thông thường trên các đại dương lượng bốc hơi nhiều hơn lượng giáng thủy, trong khi đó trên mặt đất, lượng giáng thủy vượt quá lượng bốc hơi Phần lớn lượng nước bốc hơi từ các đại dương rơi ngay trên đại dương qua quá trình giáng thủy Chỉ khoảng 10% của nước bốc hơi từ các đại dương được vận chuyển vào đất liền và rơi xuống thành giáng thuỷ (Viện Khí tượng thủy văn, 2016)
Trang 16Sự ngưng tụ hơi nước là quá trình hơi nước trong không khí được chuyển
sang thể lỏng Ngưng tụ hơi nước rất quan trọng đối với chu trình tuần hoàn nước bởi vì nó hình thành nên các đám mây Những đám mây này có thể tạo ra mưa,
nó là cách chính để nước quay trở lại trái đất Ngưng tụ hơi nước là quá trình ngược với bốc hơi nước Những phân tử nước kết hợp với những phân tử nhỏ bé của bụi, muối, khói trong khí quyển để hình thành nên các hạt nhân mây, nó gia tăng khối lượng và phát triển thành những đám mây Khi những giọt nước kết hợp với nhau, gia tăng về kích thước những đám mây có thể phát triển và mưa có thể xảy ra Các đám mây hình thành trong khí quyển do không khí chứa hơi nước bốc lên cao và lạnh đi (Viện Khí tượng thủy văn, 2016)
Giáng thủy là nước thoát ra khỏi những đám mây dưới các dạng mưa tuyết,
mưa đá, tuyết Nó là cách chính để nước khí quyển quay trở lại trái đất, phần lớn lượng giáng thuỷ là mưa Những đám mây trên bầu trời chứa hơi nước và những hạt nhân mây nhỏ, các hạt nhân mây này quá nhỏ để có thể rơi xuống thành mưa, nhưng nó cũng đủ lớn để hình thành nên các đám mây có thể nhìn thấy được Phần lớn lượng nước được ngưng tụ trong các đám mây không rơi xuống thành giáng thuỷ Để giáng thuỷ xảy ra, trước tiên những giọt nước nhỏ phải được ngưng tụ Sau đó những phân tử nước có thể kết hợp với nhau thành những giọt nước lớn hơn và đủ nặng để rơi thành mưa Cần tới hàng triệu hạt mây để hình thành lên một hạt mưa nhỏ (Viện Khí tượng thủy văn, 2016)
Lượng nước trữ dưới dạng băng và tuyết là nước ngọt được trữ trong những
sông băng, những cánh đồng băng và những cánh đồng tuyết Nước được giữ lâu dài trong băng, tuyết và các sông băng là một thành phần của vòng tuần hoàn nước toàn cầu Vùng Nam cực chiếm 90% tổng lượng băng của trái đất, các đỉnh
núi băng ở Greenland chiếm 10% tổng lượng băng toàn cầu (Viện Khí tượng
thủy văn, 2016)
Dòng chảy mặt là dòng chảy từ mưa trên lưu vực Nhiều ý kiến cho rằng
mưa rơi chảy tràn trên mặt đất (dòng chảy mặt) và chảy vào sông, sau đó đổ ra
các đại dương Nhưng đó chỉ là sự đơn giản hoá, bởi vì các sông còn nhậnvà
mất nước do thấm Tuy nhiên, lượng lớn nước trong sông là do dòng chảy trực tiếp trên mặt đất cung cấp và được định nghĩa là dòng chảy mặt Thông thường một phần nước mưa rơi thấm ngay vào đất, nhưng khi đất đạt tới trạng thái bão hoà hay không thấm, thì bắt đầu chảy theo sườn dốc thành dòng chảy Nước sẽ chảy theo những kênh trên mặt đất trước khi chảy vào trong các sông lớn Mưa
Trang 17rơi làm tăng mực nước sông và mực nước sông có thể tăng ngay cả khi mưa ở
rất xa trên lưu vực sông Độ lớn của sông phụ thuộc vào độ lớn của lưu vực,
sông lớn có lưu vực sông rộng, sông nhỏ có lưu vực sông nhỏ hơn (Viện Khí tượng thủy văn, 2016)
Sự thấm là sự di chuyển của nước từ mặt đất vào trong lòng đất hay các khe
nứt của đá Bất cứ nơi nào trên thế giới, một phần lượng nước mưa và tuyết đều thấm xuống lớp đất và đá dưới bề mặt Một phần lượng nước thấm xuống sẽ được giữ lại trong những tầng đất nông, ở đó nó có thể chảy vào sông nhờ thấm qua bờ sông Một phần nước thấm xuống sâu hơn, bổ sung cho các tầng nước ngầm Nếu tầng nước ngầm nông hoặc đủ độ rỗng để cho phép nước chảy tự do qua nó, con người có thể khoan các giếng trong tầng nước ngầm này và sử dụng nước cho những mục đích của mình Nước ngầm có thể di chuyển được những khoảng cách dài hoặc được trữ lại trong tầng nước ngầm trong một thời gian dài trước khi quay trở lại bề mặt hoặc qua thấm vào các thuỷ vực khác, như thấm vào các sông và đại dương (Viện Khí tượng thủy văn, 2016)
Thoát hơi là quá trình hơi nước thoát ra từ các cây trồng vào khí quyển
Thoát hơi là quá trình nước được vận chuyển từ các rễ cây đến các lỗ nhỏ bên dưới
bề mặt lá, ở đây nước chuyển sang trạng thái hơi và thoát vào khí quyển Do đó,
thoát hơi thực chất là bốc hơi của nước từ lá cây nhưng cũng có khi từ thân cây,
hoa và rễ Bề mặt lá có các lỗ khí khổng và ở hầu hết các loài nó có nhiều hơn ở mặt dưới của lá Lỗ khí được bao bọc bởi các tế bào bảo vệ mở và đóng các lỗ Thực vật điều chỉnh tốc độ thoát hơi nước thông qua mức độ mở lỗ khí Tốc độ thoát hơi nước cũng bị ảnh hưởng bởi nhu cầu bay hơi của không khí xung quanh
lá như độ ẩm, gió, nhiệt độ và ánh sáng mặt trời Sự cung cấp nước của đất và nhiệt độ đất có thể ảnh hưởng đến sự mở lỗ khí, tác động đến tốc độ thoát hơi nước Thoát hơi nước qua khí khổng chiếm phần lớn sự mất nước của cây, nhưng một số sự bốc hơi trực tiếp cũng diễn ra, thông qua lớp biểu bì của lá và cành non Thoát hơi nước làm mát cây do hơi nước thoát ra mang theo nhiệt năng Lượng nước bốc thoát hơi từ cây trồng ước tính chiếm khoảng 10% của hàm
lượng nước trong khí quyển Thoát hơi thực vật là một quá trình không nhìn thấy
được Trong mùa phát triển của cây trồng, một lá cây sẽ bốc thoát hơi nước nhiều lần hơn trọng lượng của chính nó Lượng nước bốc thoát hơi từ cây cối biến đổi lớn theo thời gian và không gian (Viện Khí tượng thủy văn, 2016)
Trang 182.3 HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 2.3.1 Hiện trạng chất lượng nước trên Thế giới
Theo báo cáo diễn biến môi trường nước ở Việt Nam của Bộ Tài nguyên và môi trường (BTNMT) năm 2004, tổng lượng nước trên Thế giới ước tính khoảng
băng tuyết ở các cực và 0,6% ở các bể chứa khác Trên 80% lượng băng tồn tại ở Nam cực và chỉ có hơn 10% ở Bắc cực, phần còn lại ở các đỉnh núi hoặc sông băng Lượng nước ngọt chúng ta có thể sử dụng ở các sông, suối, hồ nước ngầm
sử dụng hiện nay gặp rất nhiều khó khăn và tốn nhiều chi phí Do vậy nguồn nước mặt đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của nhân loại (Báo cáo diễn biến môi trường nước, 2004)
Theo Giám đốc UNESCO Koichiro Matsuura, trong tình trạng thiếu nước gia tăng như hiện nay, vấn đề quản lý hiệu quả tài nguyên nước trở nên quan trọng hơn bao giờ hết Nhu cầu về nước ngày càng tăng, tại nhiều quốc gia trên thế giới tài nguyên nước đã bị khai thác quá mức, vượt quá khả năng của nguồn nước Hơn nữa
do tác động của biến đổi khí hậu, tình trạng khan hiếm nước càng thêm trầm trọng hơn Do đó, vấn đề cạnh tranh về nước đang ngày càng trở nên căng thẳng giữa các quốc gia, khu vực hoặc giữa các ngành nghề, lĩnh vực hoạt động khác nhau Điều đó khiến cho nước đang dần trở thành một trong những vấn đề chính trị tại nhiều quốc gia trên thế giới Theo ước tính, đến năm 2030 vẫn còn khoảng 5 tỷ người (chiếm 67% số dân thế giới) chưa được tiếp cận với các điều kiện vệ sinh về nước Gia tăng dân số đồng nghĩa với gia tăng nhu cầu lương thực và tất nhiên nhu cầu về nước cũng tăng Cho đến nay nông nghiệp vẫn là đối tượng tiêu thụ nhiều nước nhất, chiếm tới 70% lượng nước tiêu thụ so với 20% dành cho công nghiệp và 10% dùng trong sinh hoạt đời sống (Cục Quản lý tài nguyên nước, 2010)
Theo đánh giá của nhiều cơ quan nghiên cứu về tài nguyên nước, hiện tại có khoảng 1/3 số quốc gia trên thế giới bị thiếu nước và đến 2025 con số này sẽ là 2/3 với khoảng 35% dân số thế giới sẽ rơi vào tình cảnh thiếu nước nghiêm trọng Ở một số quốc gia, lượng nước bình quân cho mỗi người đang bị giảm đáng kể Hội nghị về nước của Liên hợp quốc vào năm 1997 đã thống nhất “Tất
cả mọi người, không phân biệt tuổi tác, địa vị kinh tế, xã hội đều có quyền tiếp
Trang 19cận nước uống với số lượng và chất lượng đảm bảo cho các nhu cầu cơ bản của mình” Theo đó, tiếp cận với nước uống là quyền cơ bản của con người Nước đang trở thành tâm điểm tại nhiều diễn đàn lớn thế giới Tại Hội nghị Thượng đỉnh về môi trường ở Johannesburg - Nam Phi, nước được xếp ở vị trí cao nhất trong số 05 ưu tiên để phát triển bền vững (WEHAB) Đó là: Nước-W; Năng lượng-E; Sức khoẻ-H; Nông nghiệp-A; và Đa dạng sinh học-B (Cục Quản lý tài nguyên nước, 2015)
Những nghiên cứu trên Thế giới gần đây đã dự báo tổng lượng nước mặt vào các năm 2025, 2070, 2100 tương ứng bằng khoảng 96%, 91%, 86% số lượng nước hiện nay, trong khi đó vấn đề ô nhiễm nước mặt đang ngày càng trở nên nghiêm trọng (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2011)
Theo tài liệu được cung cấp bởi cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản JICA và Bộ tài nguyên môi trường một số nguồn gây ô nhiễm nước chính hiện nay như sau:
Ô nhiễm chất hữu cơ: Trên Thế giới có khoảng 10% số dòng sông bị ô
khoảng 3mg/l, COD khoảng 18mg/l) (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2011)
Ô nhiễm do dinh dưỡng: Khoảng 10% số con sông trên Thế giới có nồng
độ nitrat rất cao (9 ÷ 25mg/l), vượt nhiều lần so với tiêu chuẩn nước uống của WHO (10mg/l) Khoảng 10% các con sông có nồng độ phospho từ 0,2 ÷ 2mg/l tức cao hơn 20 ÷ 200 lần so với các con sông không bị ô nhiễm Hiện nay, trên Thế giới có 30 ÷ 40% số hồ chứa bị phú dưỡng hoá Trên 30% trong số 800 hồ
ở Tây Ban Nha và nhiều hồ ở Nam Phi, Australia và Mexico cũng bị phú dưỡng hoá Tuy nhiên các hồ cực lớn như hồ Baikal (chứa 20% lượng nước ngọt toàn cầu) chưa bị phú dưỡng (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2011)
Ô nhiễm do kim loại nặng (KLN): Nguồn chủ yếu đưa KLN vào nước là từ
các mỏ khai thác, các ngành công nghiệp có sử dụng KLN và các bãi chôn lấp chất thải công nghiệp Trong nước sông Rhine tại Hà Lan, nồng độ KLN trong nước tăng dần từ đầu thế kỷ đến 1960, sau đó lại giảm dần nhờ các biện pháp xử
lý nước thải Nồng độ Hg, Cd, Cr, Pb trong các năm 1990 tương ứng là 11mg/l, 2mg/l, 80mg/l, 200mg/l Nồng độ các nguyên tố này vào những năm 1960 tương ứng là 8mg/l, 10mg/l, 600mg/l, 500mg/l Đến năm 1980 tổng nồng độ Hg, Cd,
Cr, Pb trong nước sông Rhine là 5mg/l, 20mg/l, 70mg/l, 400mg/l (Bộ Tài nguyên
và Môi trường, 2011)
Trang 20Ô nhiễm do các chất hữu cơ tổng hợp: Có khoảng 25% số trạm quan trắc
PCB với nồng độ <10mg/l Tại một số dòng sông, nồng độ các hoá chất này khá cao (100 ÷ 1000mg/l) như sông Irent ở Anh, hồ Biwa và Yoda ở Nhật Ô nhiễm
do Clo hữu cơ nặng nhất trên 100mg/l là ở một số sông thuộc Columbia (DDT & Dieldrin) Indonexia (PCB), Malaixia (Dieldrin) và Tazania (Dieldrin) Gần đây ngày 13/1/2005, vụ nổ nhà máy hóa dầu ở thành phố Cát Lâm (Trung Quốc) gây
ô nhiễm sông Tùng Hoa với chất benzen, mức độ ô nhiễm dầu gấp 50 lần mức độ cho phép (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2011)
Ô nhiễm do vi sinh vật gây bệnh: Rất nhiều các sông hồ bị ô nhiễm vi sinh
vật, là nguyên nhân gây ra cái chết 25000 người/ngày ở các nước đang phát triển Sông Yamune trước khi chảy qua New Delhi có 7500 feacal coliform/100ml, sau khi chảy qua thành phố nồng độ feacal coliform lên tới 24.000.000/100ml (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2011)
2.3.2 Hiện trạng chất lượng nước tại Việt Nam
Việt Nam nằm ở phía Đông Nam Á, tận cùng của khối lục địa Á Âu, lục địa lớn nhất hành tinh, trước mặt là Thái Bình Dương nên có một nguồn hơi ẩm lớn Chính nhờ có một chế độ khí hậu điều hoà, lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.500-2.000mm đã tạo nên một hệ thống sông ngòi khá dày đặc (cứ hơn 10km bờ biển thì có một cửa sông) Theo số liệu Cục quản lý tài nguyên nước, ở nước ta hiện có 3450 sông, suối với chiều dài từ 10 km trở lên, tổng lượng nước đổ ra
tích bề mặt hành tinh Các sông suối này nằm trong 108 lưu vực sông được phân
bố và trải dài trên cả nước Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, Việt Nam được đánh giá là quốc gia có nguồn tài nguyên nước khá phong phú cả về lượng mưa, nguồn nước mặt trong các hệ thống sông, hồ và nguồn nước dưới đất (Cục Quản
lý tài nguyên nước, 2015)
Về lượng mưa: Lượng mưa trung bình năm của Việt Nam vào khoảng
số quốc gia có lượng nước mưa vào loại lớn trên thế giới Tuy nhiên, lượng mưa của Việt Nam phân bố rất không đều theo không gian và thời gian Lượng mưa tập trung chủ yếu trong 4-5 tháng mùa mưa (chiếm 75-85% tổng lượng mưa năm), lượng mưa trong mùa khô chỉ chiếm 15-25% Khu vực có lượng mưa lớn là các khu vực phía Đông Trường Sơn thuộc vùng Bắc Trung
Bộ, Trung Trung Bộ, Tây Nguyên và khu vực trung du, miền núi Bắc Bộ (Cục Quản lý tài nguyên nước, 2015)
Trang 21Về nước mặt: Tổng lượng dòng chảy hàng năm khoảng 830-840 tỷ m3, trong đó tập trung chủ yếu khoảng 57% ở lưu vực sông Cửu Long, hơn 16% ở lưu vực sông Hồng-Thái Bình, hơn 4% ở lưu vực sông Đồng Nai, còn lại ở các lưu vực sông khác Tuy nhiên, lượng nước sinh ra ở phần lãnh thổ Việt Nam chỉ
Hồng - Thái Bình, Đồng Nai, Cả, Ba, Vũ Gia - Thu Bồn (Cục Quản lý tài nguyên nước, 2015)
Để đáp ứng các yêu cầu trữ lượng, điều tiết dòng chảy phục vụ cấp nước trong mùa khô và phòng, chống và giảm lũ lụt trong mùa mưa, Việt Nam đã, đang và tiếp tục phát triển hệ thống các hồ chứa nước Theo kết quả thống kê của Cục quản lý tài nguyên nước, cả nước có trên 2.900 hồ chứa thủy điện, thủy lợi
đã vận hành, đang xây dựng hoặc đã có quy hoạch xây dựng với tổng dung tích
hành, 231 hồ đang xây dựng và hơn 500 hồ đã có quy hoạch xây dựng và hơn
xây dựng xong, đang vận hành Các lưu vực sông có số lượng hồ chứa và tổng
nguyên nước, 2015)
Về nước dưới đất: Tiềm năng nguồn nước dưới đất của Việt Nam là tương
bằng Bắc Bộ, đồng bằng Nam Bộ và khu vực Tây Nguyên (Cục Quản lý tài nguyên nước, 2015)
Tổng lượng dòng chảy hàng năm trên tất cả các sông suối chảy qua Việt
63% tổng lượng dòng chảy năm Lượng nước của các LVS chính được phân chia theo bảng 2.1 (Báo cáo Tài nguyên nước của Bộ TN&MT, 2009)
Trang 22Nhóm 1: Nhóm hệ thống sông mà thượng nguồn của lưu vực nằm ngoài lãnh
thổ Việt Nam gồm các sông Sêsan, Nậm Rốm, hệ thống sông Bằng Giang - Kỳ Cùng, sông thuộc Tây Thừa Thiên Huế Tổng lượng dòng chảy của nhóm các hệ
Quang Sơn rồi chảy qua địa phận Việt Nam rồi lại đổ về Trung Quốc (Báo cáo Tài nguyên nước của Bộ TN&MT, 2009)
Nhóm 2: Nhóm hệ thống sông ngòi mà phần trung lưu và phần hạ lưu của
lưu vực nằm trong lãnh thổ Việt Nam Trong nhóm này có 4 lưu vực sông chính
là sông Mêkông, sông Hồng, sông Mã, sông Cả với tổng lượng dòng chảy toàn
ảnh hưởng rất lớn đến sử dụng nước ở Việt Nam khi các nước ở thượng nguồn khai thác triệt để nguồn nước sinh ra trên lãnh thổ của nước mình Như sông
lượng dòng chảy của sông Hồng Đối với sông Mã và sông Cả tổng lượng dòng chảy sản sinh ra ở Việt Nam là tương đối lớn cho nên việc điều tiết dòng chảy bằng các biện pháp công trình có thể thực hiện được (Báo cáo Tài nguyên nước của Bộ TN&MT, 2009)
Nhóm 3: Nhóm hệ thống sông mà lưu vực nằm hoàn toàn trong lãnh thổ Việt
Nam Các sông thuộc nhóm này bao gồm toàn bộ các sông còn lại ở Việt Nam với
chảy toàn bộ Lượng nước này chúng ta hoàn toàn chủ động khai thác không ảnh hưởng đến các quốc gia khác (Báo cáo Tài nguyên nước của Bộ TN&MT, 2009) Theo các kết quả quan trắc cho thấy chất lượng nước ở thượng lưu của hầu hết các con sông chính của Việt Nam còn khá tốt, trong khi mức độ ô nhiễm ở hạ lưu của các sông này ngày càng tăng do ảnh hưởng của các đô thị và các cơ sở công nghiệp Đặc biệt, mức độ ô nhiễm tại các sông tăng cao vào mùa khô khi lưu lượng nước đổ về các sông giảm
Trang 23Ô nhiễm nước mặt khu đô thị: Trong khu vực nội thành của các thành phố lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Huế, hệ thống các ao, hồ, kênh rạch và các sông nhỏ là nơi tiếp nhận và vận chuyển nước thải của các khu công nghiệp, khu dân cư Hiện nay hệ thống này đều ở tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng vượt quá mức tiêu chuẩn cho phép 5-10 lần (đối với tiêu chuẩn nguồn nước mặt loại B1 theo QCVN 08-2008/BTNMT) Các hồ trong nội thành phần lớn ở trạng thái phú dưỡng Nhiều hồ bị phú dưỡng hoá đột biến và tái nhiễm bẩn hữu cơ
Trang 24Bảng 2.1 Trữ lượng nước mặt của các sông
Nhóm
sông Sông
Các sông có liên quan
Diện tích lưu vực (km 2 ) Tổng lượng nước sông (km 3 /năm)
Toàn bộ Trong nước Ngoài nước Toàn bộ Trong nước Ngoài nước
Tổng 45.705 43.725 1980 38,85 37,17 1,68 Nhóm 2
Đồng Nai 41.100 37.400 3.700 30,6 29,20 1,40 Mêkông 795.000 40.000 765.000 505 25,2 497,8
Tổng 1.060.000 199.230 861.170 716,9 189,62 543,28 Nhóm 3
3.240 2.900
3,3 2,6
3,3 2,6 Cái Ninh
Trang 252.4 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG NƯỚC MẶT
Suy thoái chất lượng nước là hậu quả tất yếu của các tác động tổng hợp khác nhau của quá trình khai thác và sử dụng tài nguyên nước cho phát triển và hoạt động sản xuất của con người Suy thoái chất lượng nước ở Việt Nam có thể
kể đến các nguyên nhân sau:
2.4.1 Khai thác và sử dụng quá mức tài nguyên nước
Trong vòng 15-20 năm trở lại đây, tốc độ phát triển kinh tế của nước ta khá cao, tốc độ đô thị hóa ngày một nhanh, sự gia tăng dân số, quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá mạnh mẽ tạo nên nhu cầu sử dụng nước lớn trong khi nguồn tài nguyên nước không thay đổi dẫn đến suy giảm nghiêm trọng cả về chất và lượng đối với tài nguyên nước Thực tế cho thấy lượng nước dưới đất được khai thác rất lớn, chỉ nói riêng đồng bằng Bắc Bộ, ngoài các công trình khai thác nước tập trung với quy mô lớn ở các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định
ngoài ra còn hàng vạn lỗ khoan nhỏ kiểu UNICEF do chương trình nước sạch được thực hiện tại vùng nông thôn của các địa phương Tỷ lệ khai thác nước dưới đất ở Đông Nam Bộ tương đối cao, đặc biệt là ở thành phố Hồ Chí Minh đã vượt cao hơn khả năng tự tái nạp rất nhiều và mực nước ngầm bị tụt giảm nhanh chóng trong vòng 10 năm từ độ sâu 4m (1994) xuống đến 20m Cũng tương tự ở Đồng bằng sông Cửu Long, mực nước ngầm giảm trên diện rộng và gây ô nhiễm nước dưới đất Ngoài các công trình khai thác nước dưới đất còn có hàng nghìn
lỗ khoan xuyên vào tầng trữ nước với các mục đích khác nhau như: Thăm dò địa chất, khảo sát phục vụ xây dựng dân dụng, giao thông, thủy lợi…Hiện nay, việc khai thác quá mức nguồn nước đã và đang làm suy giảm nghiêm trọng chất lượng nước (Tổng cục môi trường, 2011)
2.4.2 Suy thoái chất lượng nước do hoạt động công nghiệp và khu vực đô thị
Trong khu vực nội thành của các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Huế, hệ thống các hồ, ao, kênh rạch và các sông nhỏ là nơi tiếp nhận và vận chuyển nước thải của các khu công nghiệp, khu dân cư Hiện nay các hệ thống này đều ở tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng vượt quá tiêu chuẩn cho phép 5-10 lần (đối với QCVN 08-2008/BTNMT loại B1) Các hồ trong nội thành phần lớn ở trạng thái phú dưỡng Nhiều hồ bị phú dưỡng hoá đột biến và tái nhiễm bẩn hữu cơ
Trang 26Hầu hết nước thải đô thị đều chưa được xử lý trước khi xả thải ra môi trường Theo thống kê sơ bộ của BTNMT cả nước có khoảng 70 khu công nghiệp thì chỉ khoảng 4,26% lượng nước thải công nghiệp được xử lý đảm bảo tiêu chuẩn môi trường, có khoảng hơn 4000 cơ sở gây ô nhiễm, trong đó có 439
cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng, cần phải di dời, đóng cửa hoặc phải chấp nhận
áp dụng các công nghệ sạch và tiến hành xử lý nước thải Nước thải công nghiệp, nước thải sinh hoạt, nước rỉ từ các bãi chôn lấp rác thải ngấm xuống đất và xâm nhập gây ô nhiễm các tầng chứa nước dưới đất Đây là nguy cơ chính gây ra ô nhiễm kim loại nặng, nitơ và asen…trong nước ngầm (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2012)
Khu công nghiệp Thái Nguyên đã biến sông Cầu thành con kênh đen, mặt nước nổi bọt kéo dài trên 10km, có trường hợp nước thấm vào ao, giếng và sau
đó trâu bò ăn, uống vào và chết hàng loạt, lúa cũng bị khô vàng ở một số nơi
Thành phố Hồ Chí Minh và khu công nghiệp Biên Hoà - Đồng Nai là những vùng nóng về ô nhiễm nguồn nước Ở đây, các con sông hầu như có hàm lượng các chất lơ lửng rất cao, lượng oxy hoà tan thấp, nhu cầu oxy sinh hoá rất cao (1.000mg/l), pH có nơi xuống rất thấp (dưới 2,5) Kênh Tân Hoà – Lò Gốm, kênh Tham Lương là những ví dụ về ô nhiễm hữu cơ và kim loại nặng rất cao Nước sông ngòi, ao hồ của Hà Nội có mức độ ô nhiễm rất cao, nước có màu đen, chứa rất nhiều chất vô cơ, hữu cơ và ký sinh trùng…Các nhà máy giấy, thuộc
da, hoá chất, cao su, cơ khí… hàng ngày đã đổ vào các con kênh và sông ở Hà Nội
cặn lơ lửng 50-200mg/l (Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản JICA và Bộ tài nguyên môi trường)
Nước thải bệnh viện: Hiện nay trên cả nước có khoảng hơn 1.000 bệnh viện
lý hoặc xử lý không đạt tiêu chuẩn môi trường Đây là nguồn thải chứa nhiều
Trang 27thành phần nguy hiểm gây ô nhiễm nghiêm trọng cho môi trường, cũng là nguồn gây bệnh truyền nhiễm cho cộng đồng nếu không có biện pháp xử lý hiệu quả trước khi xả thải ra môi trường (Cục Quản lý môi trường y tế, 2015)
Ngoài ra nước rò rỉ từ các bãi rác cũng là một trong những nguồn gây ô nhiễm nước mặt và nước ngầm nghiêm trọng vì đặc trưng của loại nước thải này
có hàm lượng chất gây ô nhiễm cao, độ màu lớn Hiện nay, cả nước chỉ có một phần nhỏ bãi chôn lấp rác có hệ thống xử lý nước rác hoạt động thường xuyên và đảm bảo tiêu chuẩn môi trường
Theo đánh giá chung của Cục Quản lý tài nguyên nước, ở nước ta nói riêng cũng như trên thế giới nói chung, nước ngầm được xem là tương đối sạch so với nước mặt Nhưng với đà “tăng trưởng” ô nhiễm này nếu không có biện pháp ngăn chặn kịp thời thì trong tương lai không xa con người sẽ phải đối mặt với vấn đề ô nhiễm nước ngầm trên phạm vi toàn cầu
2.4.3 Suy thoái chất lượng nước do hoạt động nông nghiệp và khu vực nông thôn
Theo báo cáo diễn biến môi trường vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc giai đoạn 2006 – 2011 của Tổng cục môi trường trong sản xuất nông nghiệp sử dụng các loại phân hoá học cũng như việc sử dụng thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ không đúng quy cách cũng góp phần làm nhiễm bẩn, suy thoái chất lượng đất, nước Hàng năm lượng hoá chất bảo vệ thực vật được sử dụng trong nông nghiệp khoảng 0,5-3,5kg/ha/vụ, dư lượng hoá chất bảo vệ thực vật và phân khoáng trong hoạt động sản xuất nông nghiệp gây ra hiện tượng phú dưỡng hoặc nhiễm độc nước Trong canh tác nông nghiệp về nguyên tắc phải bón phân đạm và lân cho cây trồng
vì các yếu tố trên thiếu trong đất trồng trọt, tuy nhiên lượng phân bón mà cây trồng không hấp thụ do nhiều nguyên nhân như: Thời gian phân hủy chậm, rửa trôi, hoặc
do tạo thành dạng không tan làm cây trồng không thể hấp thụ
Ngoài ra hoạt động của 1.450 làng nghề trên cả nước tạo ra một lượng chất thải (nước thải và chất thải rắn) xả vào môi trường một cách bừa bãi và không được xử lý nên gây tình trạng ô nhiễm trầm trọng nguồn nước tại nhiều điểm, đặc biệt là các làng nghề làm giấy, giết mổ gia súc, dệt nhuộm, tái chế chất thải…
2.4.4 Ô nhiễm nước từ các nguồn khác
Ngoài những nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước như trên còn phải kể đến những nguyên nhân tự nhiên như hiện tượng bất thường của tự nhiên: Bão,
lũ, động đất, sóng thần…
Trang 28Bên cạnh đó còn những nguyên nhân khác như sự cố tràn dầu, các chất thải từ hoạt động vui chơi, giải trí, du lịch, dịch vụ, từ chất độc hoá học trong chiến tranh để
lại cũng đã gây suy thoái chất lượng nước
2.5 QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG NƯỚC MẶT
2.5.1 Cơ sở pháp lý
2.5.1.1 Luật Tài nguyên nước năm 2012
Luật Tài nguyên nước được ban hành theo Luật số 17/2012/QH13 ngày 21/6/2012 Luật Tài nguyên nước gồm 79 điều thuộc 10 chương quy định các vấn đề liên quan đến khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước của quốc gia
2.5.1.2 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014
Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 được ban hành theo luật số 55/2014/QH13 ngày 23/6/2014 và chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2015 để thay thế cho Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 Luật Bảo vệ môi trường năm
2014 bao gồm 20 chương và 170 điều quy định về hoạt động bảo vệ môi trường trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Trong đó có một số nội dung liên quan trực tiếp đến bảo vệ và quan trắc chất lượng nước như:
- Chương VI: Bảo vệ môi trường nước, đất và không khí (Mục 1 - Bảo vệ môi trường nước sông)
- Chương VII: Quan trắc môi trường
2.5.1.3 Các văn bản dưới Luật
Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường
Thông tư số 21/2012/TT-BTNMT ngày 19/12/2012 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về Hướng dẫn đảm bảo chất lượng và kiểm soát chất lượng trong quan trắc môi trường
Thông tư số 29/2011/TT-BTNMT ngày 01/8/2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về Quy định quy trình kỹ thuật quan trắc môi trường nước mặt lục địa Quyết định số 81/2006/QĐ-TTg ngày 14/4/2006 của Thủ tướng chính phủ
về Phê duyệt chiến lược quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2020
Quyết định số 1216/2012/QĐ-TTg ngày 05/9/2012 của Thủ tướng chính phủ phê duyệt Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030
Trang 292.5.1.4 Các quy chuẩn môi trường liên quan
QCVN 08:2008/BTNMT Quy chuẩn Việt Nam về chất lượng nước mặt QCVN 14:2008/BTNMT Quy chuẩn Việt Nam về nước thải sinh hoạt QCVN 40:2011/BTNMT Quy chuẩn Việt Nam về nước thải công nghiệp QCVN 28:2010/BTNMT Quy chuẩn Việt Nam về nước thải y tế
QCVN 38:2011/BTNMT Quy chuẩn Việt Nam về chất lượng nước mặt bảo
vệ đời sống thủy sinh
QCVN 39:2011/BTNMT Quy chuẩn Việt Nam về chất lượng nước dùng cho tưới tiêu
2.5.2 Tổ chức quản lý nhà nước về môi trường nước
Trong nhiều năm qua, công tác quản lý và BVMT nước mặt luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm Từng bước xây dựng và kiện toàn hệ thống tổ chức quản lý bảo vệ môi trường nước trên toàn quốc, từ cấp trung ương, liên vùng cho đến các địa phương Tuy nhiên việc phân công quản lý nhà nước về BVMT nước mặt nói chung, môi trường nước lưu vực sông (LVS) nói riêng, giữa một số Bộ, ngành đã không rõ ràng, thậm chí còn chồng chéo Ở cấp trung ương, vẫn còn sự giao thoa, chồng chéo giữa BTNMT với Bộ NN&PTNT và một số bộ, ngành khác Giữa các đơn vị quản lý cũng còn thiếu sự phân định rõ ràng về trách nhiệm cụ thể và cơ chế phối hợp
2.5.2.1 Cấp trung ương
Bộ Tài nguyên và Môi trường được giao trách nhiệm quản lý thống nhất
về tài nguyên nước Một số bộ, ngành khác được giao trách nhiệm quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên nước theo mục tiêu phát triển của ngành Tham mưu cho BTNMT thực hiện các chức năng quản lý nhà nước về tài nguyên nước là Tổng cục môi trường và Cục Quản lý tài nguyên nước (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2012)
Các bộ liên quan có trách nhiệm quản lý chất lượng nước trong các LVS gồm Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Xây Dựng, Bộ Công thương,
Bộ Kế hoạch và Đầu tư BTNMT đã phối hợp với địa phương trình Thủ tướng thành lập 03 ủy ban bảo vệ môi trường LVS là: LVS Cầu, LVS Nhuệ - Đáy, LVS Đồng Nai
Trang 302.5.2.2 Cấp liên vùng và địa phương
Ở cấp địa phương, tại các Sở TN&MT cũng từng bước kiện toàn bộ máy quản lý Theo đó, trực thuộc Sở TN&MT có 03 đơn vị trực thuộc có chức năng liên quan đến BVMT nước gồm:
- Chi cục BVMT: Là đơn vị giúp Sở TN&MT thực hiện chức năng quản lý nhà nước về môi trường
- Phòng Tài nguyên nước giúp Sở TN&MT thực hiện chức năng quản lý nhà nước về TNN
- Trung tâm Quan trắc tài nguyên và môi trường: Là đơn vị thự hiện công tác quan trắc, giám sát chất lượng môi trường địa phương nói chung, môi trường nước nói riêng
Hoạt động phối hợp giữa các bộ, ngành và địa phương để giải quyết các vấn
đề về LVS còn yếu Giữa các địa phương trong cùng LVS chưa tìm được tiếng nói chung trong công tác quản lý
2.6 HƯỚNG NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG NƯỚC MẶT
Hiện nay, trên Thế giới cũng như ở Việt Nam có rất nhiều phương pháp đánh giá chất lượng nước, tùy thuộc vào các nghiên cứu và khả năng áp dụng
mà người ta có thể lựa chọn các phương pháp khác nhau cụ thể bao gồm:
2.6.1 Phương pháp đánh giá chất lượng nước dựa theo tiêu chuẩn môi trường
Tiêu chuẩn môi trường là một trong các yếu tố cần thiết để tiến hành chương trình quan trắc môi trường, mục đích chính của việc sử dụng tiêu chuẩn môi trường nhằm:
- Giảm số lượng các trạm đo, các thông số cần đo bằng cách tập trung vào các thông số có trong tiêu chuẩn kiểm soát ảnh hưởng ô nhiễm;
Trang 31- Cho phép so sánh các số liệu về kiểm soát ô nhiễm và đánh giá hiện trạng môi trường đối với các khu vực nghiên cứu cụ thể
2.6.1.1 Chất lượng nước cho mục đích sinh hoạt
Nước sinh hoạt là nước được sử dụng trong các hoạt động sinh hoạt hàng ngày của cá nhân và gia đình như: Tắm, giặt, ăn, uống…
Nước sạch đảm bảo vệ sinh phục vụ cho sinh hoạt của con người phải đáp ứng được các tiêu chuẩn:
- Về mặt cảm quan: Nước trong, không có mùi vị khó chịu
- Về mặt vi trùng gây bệnh: Tuyệt đối không được chứa các vi trùng và siêu vi trùng cũng như các ký sinh trùng gây bệnh
- Về mặt hóa học: Các thành phần hóa học có trong nước phải đảm bảo các yếu tố vi lượng cần thiết cho con người nhưng phải nằm trong giới hạn an toàn cho sức khỏe Không gây tác hại về sức khỏe (mãn tính hoặc cấp tính) sau thời gian sử dụng lâu dài Hàm lượng các chất kim loại nặng có trong nước phải nằm trong giới hạn cho phép để không ảnh hưởng đến sức khỏe con người và các thiết bị trong quá trình sử dụng nước
Nguồn nước phục vụ các nhà máy nước còn phải được quy định về độ mặn
và các thông số liên quan đến xâm nhập mặn do nước biển vì các thông số này gây cảm quan xấu đối với người sử dụng nước cấp
Tại Việt Nam, chất lượng nước phục vụ cho mục đích sinh hoạt phải đáp
ứng theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt QCVN
02:2009/BYT của Bộ Y tế
Trang 32Bảng 2.2 Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt
2.6.1.2 Tiêu chuẩn nước phục vụ giải trí, du lịch
Nguồn nước sông, hồ, biển phục vụ mục đích vui chơi giải trí như: Bơi lội, đua thuyền, lướt ván cần đạt các tiêu chuẩn của nguồn nước chứa các hóa chất độc hại và vi khuẩn với nồng độ dưới ngưỡng có khả năng gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe Đồng thời nguồn nước này cũng cần phải đạt tiêu chuẩn thẩm
mỹ, cảm quan cao Độ mặn và các thông số tự nhiên của nước biển không quy định đối với nguồn nước giải trí, du lịch
Trang 332.6.1.3 Chất lượng nước cho mục đích thủy lợi
Một nguồn nước đạt tiêu chuẩn nước tưới cho cây trồng phải thỏa mãn điều kiện:
- Các tác nhân lý hóa trong nước không gây tác hại đến cây trồng (Gây chết cây hoặc giảm năng suất)
- Các tác nhân vi sinh trùng trong nước không tồn lưu trong nông phẩm đến mức có khả năng truyền bệnh cho con người
Tại Việt Nam chất lượng nước phục vụ cho mục đích tưới tiêu phải đáp ứng Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 39:2011/BTNMT ban hành theo Thông
tư số 43/2011/TT-BTNMT ngày 12 tháng 12 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy định cụ thể như sau:
Bảng 2.3 Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước tưới tiêu
tưới rau và thực vật ăn tươi sống)
2.6.1.4 Tiêu chuẩn nước phục vụ nuôi trồng thủy sản
Yêu cầu dùng nước cho thủy sản có thể mâu thuẫn với các ngành dùng nước khác Khai thác thủy sản tự nhiên cần sự lưu thông dòng chảy từ thượng tới hạ nguồn Nuôi thủy sản nhân tạo cần hạn chế lưu thông tự nhiên giữa các thủy vực để bảo vệ nguồn lợi và hạn chế dao động của chế độ nước, do đó mâu thuẫn với các đối tượng có nhu cầu tiêu thụ nước cao, hoặc nhu cầu tích nước để kiểm soát lũ và cấp nước vào mùa kiệt Nuôi trồng thủy sản có thể sử dụng nước thải đô thị và phân tươi, nên một mặt nó là tác nhân làm sạch môi
Trang 34trường rẻ tiền và hiệu quả, mặt khác nó tạo nguy cơ lan truyền ô nhiễm tới các thủy vực cấp nước chất lượng cao, nhất là nước dưới đất và có nguy cơ lan truyền ô nhiễm Chính vì vậy, việc kiểm soát nguồn nước này theo tiêu chuẩn quy định là cần thiết Tiêu chuẩn chất lượng nước phục vụ nuôi trồng thủy sản cần đạt được các yêu cầu trong TCVN 6774 – 2000
2.6.1.5 Tiêu chuẩn nước phục vụ sản suất công nghiệp
Yêu cầu về chất lượng nước cấp cho công nghiệp đa dạng và phân hóa, tăng, giảm phức tạp tùy thuộc đối tượng và mục đích dùng nước So với các ngành sản xuất công nghiệp khác, tiêu chuẩn cũng như lưu lượng nước dùng cho công nghiệp thực phẩm là cao và nhiều nhất Về chất lượng, nước cấp cho ngành sản xuất này yêu cầu cao như chất lượng cấp nước cho mục đích sinh hoạt Lượng nước cấp trên một đơn vị sản phẩm công nghiệp phụ thuộc vào sơ đồ quy trình công nghệ, loại thiết bị, điều kiện tự nhiên và nhiều yếu tố khác Do vậy, các cơ sở sản xuất cùng một mặt hàng cũng có thể tiêu thụ nước không giống nhau, còn nhu cầu cho các ngành khác nhau là hoàn toàn khác nhau
2.6.2 Phương pháp đánh giá theo thang điểm
Chỉ số chất lượng nước (Water Quality Index - WQI) là một chỉ số tổ hợp được tính toán từ các thông số chất lượng nước xác định thông qua một công thức toán học WQI dùng để mô tả định lượng về chất lượng nước và được biểu diễn qua một thang điểm Việc sử dụng sinh vật trong nước làm chỉ thị cho mức
độ sạch ở Đức từ năm 1850 được coi là nghiên cứu đầu tiên về WQI
Hiện nay có rất nhiều quốc gia xây dựng và áp dụng chỉ số WQI Phương pháp này chủ yếu dựa vào tính chất của nước, tùy theo Quốc gia (Bỉ, Anh, Mỹ, Nga…) lựa chọn các thông số để phân loại chất lượng nước Trên cơ sở các số liệu quan trắc về nồng độ các thông số chọn lọc, người ta phân nguồn nước trong toàn khu vực bằng cách quy định điểm số cho nồng độ từng thông số và tổng hợp các điểm số này Thông thường hay áp dụng phương pháp phân loại chất lượng nước theo chỉ số chất lượng nước (WQI) của Mỹ
Chỉ số chất lượng nước (WQI) là một thông số tổ hợp được tính toán từ các thông số chất lượng nước xác định thông qua một công thức toán học WQI dùng để mô tả định lượng về chất lượng nước và được biểu diễn qua một thang điểm Theo phương pháp này, các thông số thể hiện chất lượng nước tổng thể cũng như tầm quan trọng của từng thông số được lựa chọn dựa trên ý kiến của
Trang 35các chuyên gia về lĩnh vực chất lượng nước Một số các thông số đầu vào được
bảng câu hỏi sẽ được gửi đến các chuyên gia, trong đó ghi rõ các thông số thường được sử dụng trong việc đánh giá chất lượng nước để có cơ sở thống nhất cho các chuyên gia lựa chọn Trong bảng câu hỏi cũng đưa ra các khoảng giá trị của từng thông số để các chuyên gia đánh giá chất lượng nước Dựa vào ý kiến của các chuyên gia, đường cong phân hạng của từng thông số sẽ được xây dựng để có thể xác định chỉ số phụ Cuối cùng dựa vào các số liệu quan trắc, chỉ
số chất lượng nước sẽ được tính toán để xác định và đánh giá chất lượng nước mặt tổng thể của lưu vực
Theo các nghiên cứu trước đây, cách tính chỉ số chất lượng nước theo công thức chỉ số học có trọng số được lựa chọn để tính toán Chỉ số số học có trọng số (Water Quality Index weighted Arithmetic) do Brown và các cộng sự thiết lập:
n WQIA= ∑ qi Wi i=1 Trong đó: Wi: là trọng số (là số biểu thị độ quan trọng của thông số chất lượng nước); qi: là chỉ số phụ của thông số chất lượng nước thứ i
Trên cở sở WQI tính được, người ta phân loại và đánh giá chất lượng nước theo các thang điểm WQI từ 0 đến 100, với giá trị càng cao, chất lượng nước càng tốt
Bảng 2.4 Phân loại dòng chảy dựa trên chỉ số chất lượng nước
2.6.3 Phương pháp đánh giá tổng hợp chất lượng nguồn nước
Chất lượng nguồn nước được đánh giá trên cơ sở số liệu phân tích các chỉ tiêu
lý - hóa - sinh Do khả năng tự làm sạch của nguồn nước, các chất bẩn trong nước
Trang 36thải xả vào nguồn sẽ dần được pha loãng và bị phân hủy - khoáng hóa Sự phân hủy các chất diễn ra, do vậy trong điều kiện bình thường nguồn nước cũng dần được phục hồi trở lại như trước khi có nước thải xả vào Quá trình tự làm sạch là quá trình lâu dài và vùng nhiễm bẩn của nước có thể kéo dài hàng chục, hàng trăm km Quy mô của vùng nhiễm bẩn tùy thuộc vào tỷ lệ giữa lượng nước thải và nước nguồn, nồng độ và tính chất các chất bẩn, vận tốc dòng chảy, điều kiện địa hình, thủy động lực và nhiều yếu tố khác Sau đây là phân loại mức nhiễm bẩn nước thải theo Liên Xô:
Bảng 2.5 Phân loại mức nhiễm bẩn nước thải theo Liên Xô
Trang 372.6.4 Phương pháp đánh giá thông qua mô hình
Trong thực tế, các chỉ số gián tiếp đánh giá chất lượng nước được dùng rất phổ biến, có thể đưa ra một số hướng đánh giá chính:
- Đánh giá thông qua mật độ dân số
- Đánh giá thông qua mật độ cơ sở sản xuất
- Đánh giá thông qua mô hình
Dựa vào các quy luật biến đổi nồng độ của các tác nhân ô nhiễm trong các lưu vực sông, bằng phương pháp tính toán thực nghiệm một số mô hình tính toán
sự lan truyền các chất ô nhiễm theo không gian và thời gian đã được ra đời như:
- Mô hình tính toán sự lan truyền các tác nhân không bền vững
- Mô hình tính toán sự phát tán các tác nhân ô nhiễm bền vững
- Mô hình tính toán tải lượng và sức chịu tải của các thủy vực
- Mô hình tính toán sự phát tán các vi sinh vật theo thời gian
2.6.5 Phương pháp đánh giá theo chỉ thị sinh vật
Căn cứ vào các vi sinh vật chỉ thị sự nhiễm bẩn nguồn nước (chủ yếu là
do phân) như: Coliform tổng số, E.Coli, Enterococci… mà người ta xác định được mức độ ô nhiễm Các vi sinh vật chỉ thị nhiễm bẩn nguồn nước do ô nhiễm phân gồm:
Coliforms và Faecal Coliforms: Coliform là các vi khuẩn hình que gram âm
năng sống ở ngoài đường ruột của động vật (tự nhiên), đặc biệt trong môi trường khí hậu nóng Nhóm vi khuẩn Coliform chủ yếu bao gồm các giống như: Citrobacter, Enterobactrer, Escherichia, Klebsiella và cả Faecal Coliforms (trong
đó E.Coli là loài thường dùng để chỉ thị ô nhiễm nguồn nước bởi phân) Chỉ tiêu tổng hợp Coliform không thích hợp để làm chỉ tiêu chỉ thị cho việc nhiễm bẩn nguồn nước bởi phân Tuy nhiên, việc xác định số lượng Faecal Coliform có thể sai lệch do có một số sinh vật (không có nguồn gốc từ phân) có thể phát triển ở
cho việc quản lý nguồn nước
Việc phát hiện, xác định từng loại vi sinh vật gây bệnh khác rất khó, tốn kém thời gian và tiền bạc Do đó, để phát hiện nguồn nước bị ô nhiễm bởi phân người ta dùng các chỉ thị như: Faecal Coliforms, Faecal Streptococci, Clostridium perfringens và Pseudomonas acruginosa
Trang 38Bảng 2.6 Vi sinh vật chỉ thị nguồn nước theo mục đích sử dụng
Nguồn nước ngọt cho các dịch vụ giải trí
Faecal Coliform
E coli Enterococci
Nguồn nước lợ cho các dịch vụ giải trí
Faecal Coliform Coliform tổng số (Total Coliform) Enterococci
cho nước thải đã xử lý
Đôi khi cần phải xác định là nguồn nước bị nhiễm bẩn bởi phân người hay phân gia súc để có những biện pháp quản lý thích hợp Khi đó, người ta thường sử dụng tỷ lệ Faecal Coliform trên Faecal Streptococci Các số liệu về
tỷ lệ Faecal Coliform/Faecal Streptococci được trình bày như sau:
Bảng 2.7 Số lượng các vi sinh vật chỉ thị có ở phân người và phân động vật Sinh vật
Trung bình mật độ cá thể/gam phân
Qua bảng trên cho thấy, tỷ lệ FC/FS của gia súc, gia cầm đều nhỏ hơn
1, trong khi tỷ lệ FC/FS của người lớn hơn 4 Nếu FC/FS nằm trong khoảng từ 1
Trang 39đến 2 và mẫu được lấy cạnh khu vực nghi ngờ bị ô nhiễm bởi phân, có thể suy luận là nguồn nước bị ô nhiễm bởi cả phân người và phân gia súc Để việc suy luận đạt được độ tin cậy, các điều kiện sau đây phải được thỏa mãn:
- pH của mẫu phải từ 4 đến 9 để đảm bảo không có ảnh hưởng xấu tới cả 2 nhóm vi khuẩn này
- Mỗi mẫu phải được đếm ít nhất 2 lần
- Để giảm thiểu sai số do tỷ lệ chết khác nhau, mẫu phải được lấy tại nơi cách nguồn gây ô nhiễm không quá 24 giờ (tính theo vận tốc dòng chảy)
được dùng để tính tỷ lệ FC/FS
2.6.6 Phương pháp đánh giá qua ước tính thiệt hại kinh tế
Dưới quan điểm kinh tế, môi trường là một loại tài sản vì nó cung cấp cho con người nhiều loại hàng hoá và dịch vụ khác nhau Môi trường có thể cung cấp những hàng hoá trực tiếp như thực phẩm, các nguồn nguyên vật liệu đầu vào của quá trình sản xuất, các dịch vụ sinh thái như hạn chế bão lũ, chống xói mòn, điều hoà khí hậu, điều tiết nước ngầm, cũng như các giá trị đa dạng sinh học, các giá trị văn hoá lịch sử khác Nói cách khác, môi trường cung cấp cho con người
và hệ thống kinh tế các loại giá trị và khi sử dụng chúng, bằng cách này hay cách khác thì con người sẽ thu về những lợi ích nhất định
Căn cứ chi phí bảo vệ môi trường tại nguồn gây ô nhiễm, chí phí xử lý ô nhiễm tại nguồn gây ô nhiễm, chi phí xử lý ô nhiễm môi trường xung quanh người ta cũng xác định được các mức độ ô nhiễm và chất lượng nước tại
vùng nghiên cứu
Ô nhiễm môi trường đã gây ra nhiều tác động xấu đến chất lượng môi trường xung quanh, ảnh hưởng sức khỏe con người và gây thiệt hại kinh tế Ảnh hưởng này rất đa dạng, với nhiều loại tác động trong các lĩnh vực khác nhau Một trong những hoạt động có liên quan đến thiệt hại kinh tế là chi phí xử lý chất thải:
Có 02 phương án xử lý chất thải chính:
- Xử lý ô nhiễm môi trường tại nguồn gây ô nhiễm
- Xử lý ô nhiễm môi trường xung quanh
Trang 40Xử lý ô nhiễm môi trường tại nguồn gây ô nhiễm: Xử lý nước thải tại nguồn
gây ô nhiễm (Theo nguyên tắc xử lý đầu đường ống) là biện pháp quan trọng nhằm phòng chống ô nhiễm Mối quan hệ giữa chi phí xây dựng các thiết bị xử lý nước thải và khối lượng nước thải xử lý là mối quan hệ thuận Khối lượng nước thải càng lớn thì chi phí xây dựng càng cao
Trong hạch toán chi phí xử lý chất thải của cơ sở sản xuất có loại chi phí đạt tiêu chuẩn - là chi phí xử lý chất thải sau khi xử lý được xả, đổ vào môi trường bên ngoài với nồng độ đạt TCVN:2005
Xử lý ô nhiễm môi trường xung quanh: Hoạt động BVMT tại các thủy vực ở
nước ta là một trong những vấn đề cần quan tâm và đã đạt được những hiệu quả nhất định Tuy nhiên đây là vấn đề phức tạp cần kinh phí rất lớn Những kinh nghiệm BVMT thủy vực của các nước trên thế giới là cơ sở tốt để Việt Nam tham khảo, học tập và thực hiện