HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM HOÀNG THỊ YẾN MAI ẢNH HƯỞNG CỦA PHOTPHO VÀ PHÂN BÓN LÁ ĐẾN SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN, NĂNG SUẤT ĐẬU TƯƠNG GIỐNG D140 VỤ ĐÔNG 2015 TẠI GIA LÂM, HÀ NỘI Chuyê
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
HOÀNG THỊ YẾN MAI
ẢNH HƯỞNG CỦA PHOTPHO VÀ PHÂN BÓN LÁ ĐẾN SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN, NĂNG SUẤT
ĐẬU TƯƠNG GIỐNG D140 VỤ ĐÔNG 2015
TẠI GIA LÂM, HÀ NỘI
Chuyên ngành: Khoa học cây trồng
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Vũ Quang Sáng
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo
vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Yến Mai
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
PGS.TS Vũ Quang Sáng, người hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ với tinh thần trách nhiệm cao và đóng góp nhiều ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thành luận văn này Tập thể Thầy, Cô giáo khoa Nông học, đặc biệt các Thầy, Cô giáo trong Bộ môn Sinh lý thực vật-Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã trực tiếp giảng dạy và đóng góp nhiều ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thành luận văn
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các bạn bè, đồng nghiệp, gia đình và người thân
đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, thực hiện đề tài
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Yến Mai
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hình ix
Trích yếu luận văn x
Thesis abstract xii
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 2
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2
1.3.1 Ý nghĩa khoa học 2
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
Phần 2 Tổng quan tài liệu 4
2.1 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới và Việt Nam 4
2.1.1 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới 4
2.1.2 Tình hình sản xuất đậu tương tại Việt Nam 4
2.2 Vai trò sinh lý của photpho, molipden đối với cây đậu tương và những nghiên cứu về bón P, Mo 5
2.2.1 Vai trò sinh lý của photpho và Mo đối với đậu tương 5
2.2.2 Những nghiên cứu về bón photpho cho cây đậu tương 8
2.2.2 Những nghiên cứu về bón molipden cho cây đậu tương 12
2.3 Dinh dưỡng qua lá 11
2.3.1 Cơ sở khoa học của việc hấp thụ khoáng chất qua lá 11
2.3.2 Những ưu điểm và tồn tại của phương pháp dinh dưỡng qua lá 12
2.3.3 Những nghiên cứu về dinh dưỡng qua lá cho cây và cho đậu tương 14
2.3.4 Một số kết quả nghiên cứu sử dụng phân bón lá 15
Trang 5Phần 3 Vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu 21
3.1 Vật liệu nghiên cứu 21
3.2 Địa điểm và thời gian thí nghiệm 22
3.3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 20
3.3.1 Nội dung 20
3.3.2 Phương pháp nghiên cứu 20
3.3.3 Phương pháp xử lý số liệu 24
3.3.4 Quy trình chăm sóc 24
Phần 4 Kết quả và thảo luận 26
4.1 Ảnh hưởng của lượng photpho (phân lân) bón gốc kết hợp phun mo qua lá đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống đậu tương d140 trồng vụ đông 2015 tại gia lâm – hà nội 26
4.1.1 Ảnh hưởng của photpho và Molipden đến động thái tăng trưởng chiều cao cây đậu tương giống D140 26
4.1.2 Ảnh hưởng của photpho và Molipden đến động thái ra lá của cây đậu tương 30
4.1.3 Ảnh hưởng của photpho và Molipden đến sự phân cành của cây đậu tương giống D140 32
4.1.4 Ảnh hưởng của photpho và Molipden đến sự hình thành nốt sần của cây đậu tương giống D140 31
4.1.5 Ảnh hưởng của photpho và Molipden đến diện tích lá của cây đậu tương giống D140 33
4.1.6 Ảnh hưởng của photpho và Molipden đến động thái tích lũy chất khô của cây đậu tương giống D140 36
4.1.7 Ảnh hưởng của photpho và Molipden đến hiệu suất quang hợp (HSQH) của cây đậu tương giống D140 38
4.1.8 Ảnh hưởng của photpho và Molipden đến chỉ số SPAD của cây đậu tương giống D140 39
4.1.9 Ảnh hưởng của photpho và Molipden đến các yếu tố cấu thành năng suất của đậu tương giống D140 trồng vụ Đông tại Gia Lâm, Hà Nội 41
4.1.10 Ảnh hưởng của photpho và Molipden đến năng suất của đậu tương giống D140 trồng vụ Đông tại Gia Lâm, Hà Nội 43
Trang 64.1.11 Hiệu quả kinh tế 45
4.2 Ảnh hưởng của phân sinh học Facorv đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống đậu tương d140 trồng vụ đông 2015 tại gia lâm – hà nội 46
4.2.1 Ảnh hưởng của Facorv đến động thái tăng trưởng chiều cao thân chính đậu tương giống D140 46
4.2.2 Ảnh hưởng của Facorv đến động thái ra lá đậu tương giống D140 50
4.2.3 Ảnh hưởng Facorv đến sự phân cành cây đậu tương giống D140 49
4.2.4 Ảnh hưởng Facorv đến sự hình thành nốt sần của đậu tương giống D140 51
4.2.5 Ảnh hưởng Facorv đến chỉ số diện tích lá của đậu tương giống D140 52
4.2.6 Ảnh hưởng Facorv đến chỉ số SPAD của đậu tương giống D140 55
4.2.7 Ảnh hưởng Facorv đến khả năng tích lũy chất khô của đậu tương giống D140 56
4.2.8 Ảnh hưởng Facorv đến hiệu suất quang hợp của đậu tương giống D140 58
4.2.9 Ảnh hưởng Facorv đến các yếu tố cấu thành năng suất của đậu tương giống D140 59
4.2.10 Ảnh hưởng Facorv đến năng suất của đậu tương giống D140 62
4.2.11 Hiệu quả khinh tế khi sử dụng Facorv cho cây đậu tương giống D140 63
Phần 5 Kết luận và đề nghị 68
5.1 Kết luận 68
5.2 Đề nghị 68
Tài liệu tham khảo 69
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Diện tích, năng suất sản lượng đậu tương của 4 nước sản xuất đậu
tương chủ yếu trên thế giới trong 3 năm gần đây 4 Bảng 2.2 Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam từ năm 2008-2015 5 Bảng 4.1 Ảnh hưởng của photpho và Molipden đến sự tăng trưởng chiều cao
cây đậu tương giống D140 27 Bảng 4.2 Ảnh hưởng của photpho và Molipden đến động thái ra lá của cây đậu
tương giống D140 31 Bảng 4.3 Ảnh hưởng của photpho và Molipden đến sự phân cành của cây đậu
tương giống D140 31 Bảng 4.4 Ảnh hưởng của photpho và Molipden đến sự hình thành nốt sần của
cây đậu tương giống D140 32 Bảng 4.5 Ảnh hưởng của photpho và Molipden đến diện tích lá LA – dm 2 /cây
và chỉ số diện tích lá LAI – m 2 lá/m 2 đất của cây đậu tương giống D140 35 Bảng 4.6 Ảnh hưởng của photpho và Molipden đến động thái tích lũy chất khô
của cây đậu tương giống D140 39 Bảng 4.7 Ảnh hưởng của photpho và Molipden đến hiệu suất quang hợp
(HSQH) của cây đậu tương giống D140 39 Bảng 4.8 Ảnh hưởng của photpho và Molipden (Mo) đến chỉ số SPAD của cây
đậu tương giống D140 40 Bảng 4.9 Ảnh hưởng của photpho và Molipden (Mo) đến các yếu tố cấu thành
năng suất đậu tương giống D140 42 Bảng 4.10 Ảnh hưởng của photpho và Molipden đến năng suất của giống đậu
tương D140 44 Bảng 4.11 Hiệu quả kinh tế khi bón photpho và kết hợp phun Molipden (Mo)
đến năng suất của giống đậu tương D140 45 Bảng 4.12 Ảnh hưởng của Facorv đến động thái tăng trưởng chiều cao thân
chính đậu tương giống D140 49 Bảng 4.13 Ảnh hưởng Facorv đến động thái ra lá đậu tương giống D140 48 Bảng 4.14 Ảnh hưởng Facorv đến sự phân cành cây đậu tương giống D140 50 Bảng 4.15 Ảnh hưởng Facorv đến sự hình thành nốt sần của đậu tương giống
D140 51
Trang 9Bảng 4.16 Ảnh hưởng Facorv đến diện tích lá LA (dm 2 /cây) chỉ số diện tích lá
LAI (m 2 lá/m 2 đất ) của đậu tương giống D140 53 Bảng 4.17 Ảnh hưởng Facorv đến chỉ số SPAD của đậu tương giống D140 58 Bảng 4.18 Ảnh hưởng Facorv đến khả năng tích lũy chất khô của đậu tương
giống D140 59 Bảng 4.19 Ảnh hưởng Facorv đến hiệu suất quang hợp (g chất khô/m 2 lá/ngày
đêm) của đậu tương giống D140 59 Bảng 4.20 Ảnh hưởng Facorv đến các yếu tố cấu thành năng suất của đậu tương
giống D140 60 Bảng 4.21 Ảnh hưởng Facorv đến năng suất của đậu tương giống D140 62 Bảng 4.22 Hiệu quả kinh tế khi sử dụng Facorv cho cây đậu tương giống D140 64
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1 Ảnh hưởng của photpho và Molipden đến sự tăng trưởng chiều cao cây
đậu tương giống D140 30 Hình 4.2 Ảnh hưởng của photpho và Molipden đến diện tích lá LA – dm 2 /cây và chỉ
số diện tích lá LAI – m 2 lá/m 2 đất của cây đậu tương giống D140 36 Hình 4.3 Ảnh hưởng của photpho và Molipden (Mo) đến chỉ số SPAD của cây
đậu tương giống D140 40 Hình 4.4 Ảnh hưởng của Facorv đến động thái tăng trưởng chiều cao thân chính
đậu tương giống D140 50 Hình 4.5 Ảnh hưởng Facorv đến động thái ra lá đậu tương giống D140 49 Hình 4.6 Ảnh hưởng Facorv đến diện tích lá LA (dm 2 /cây) chỉ số diện tích lá LAI
(m 2 lá/m 2 đất ) của đậu tương giống D140 54
Trang 11TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Hoàng Thị Yến Mai
Tên Luận văn: Ảnh hưởng của photpho và phân bón lá đến sinh trưởng phát triển,
năng suất đậu tương giống D140 vụ Đông 2015 tại Gia Lâm, Hà Nội
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp bố trí thí nghiệm: Bố trí 2 thí nghiệm về phân bón trong vụ Đậu tương Đông 2015 để xác định liều lượng và cách thức bón phân thích hợp cho năng suất
và hiệu quả kinh tế cao nhất Thí nghiệm bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh RCBD với 3 lần nhắc lại Mỗi thí nghiệm có 1 nhân tố là Phân bón, với thí nghiệm 1 đánh giá ảnh hưởng của liều lượng photpho bón gốc kết hợp phun Mo qua lá, thí nghiệm 2 đánh giá ảnh hưởng của phân sinh học Facorv tới giống đậu tương D140 trong
vụ Đông 2015
- Phương pháp đánh giá các chỉ tiêu:
+ Đặc điểm nông sinh học, hình thái, năng suất được đánh giá theo Quy chuẩn kĩ
thuật quốc gia QCVN 01-58 : 2011/BNNPTNT
+ Bố trí thí nghiệm theo phương pháp của Gomez K.A and Gomez A.A (1984) + Phương pháp xử lý số liệu theo chương trình IRRISTAT 5.0, Microsoft Excel
2003
Kết quả chính và kết luận:
1 Bón phân photpho kết hợp phun Molipdatnatri 0,05% (0,5g/lít nước) có tác dụng
rõ rệt đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của cây đậu tương giống D140 trồng vụ Đông 2015 trên đất Gia Lâm – Hà Nội
Lượng bón 90 kg P 2 O 5 / ha kết hợp phun Molypdatnatri 0,05% cho hiệu quả nhất (về các chỉ tiêu sinh trưởng phát triển, sinh lý và năng suất) năng suất đạt 18,08 tạ/ha và cho lãi thuần 11,204 triệu đồng/ha
Trang 12Tuy nhiên sai khác về năng suất giữa các công thức bón phân là không có ý nghĩa thống kê sinh học, bởi vậy các liều lượng bón P kết hợp Mo không cho hiệu quả khác biệt khi bón cho đậu tương giống D140, vụ Đông 2015 trên đất Gia Lâm, Hà Nội
2 Phân bón sinh học Facorv bón qua gốc và lá có ảnh hưởng tích cực đến sinh trưởng, phát triển và năng suất cây đậu tương giống D140 trồng vụ Đông 2015 tại Gia Lâm – Hà Nội
Công thức 3 bón ½ Nền (Nền: 1 tấn phân HCVS + 40 kg N + 60 kg P 2 O 5 + 40 kg
K 2 O / ha) + Phun Facorv dạng lỏng 0,2% cho hiệu quả kinh tế cao nhất Ở lượng bón này năng suất đạt 22,56 tạ/ha cho lãi thuần 18,755 triệu đồng/ha
Trang 13
THESIS ABSTRACT
Master candidate: Hoang Thi Yen Mai
Thesis title: Influence of Phosphorus fertilizer and Foliar fertilizer on growth,
development and yield of Soybean D140, Winter crop season 2015 in Gia Lam, Ha Noi
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA) Research Objectives
Identification of suitable Phosphorus fertilizer content to Molipden (Mo) and Foliar fertilizing, contributing the most effectiveness to growth and productivity of Soybean D140 variety in winter crop season 2015 This study aimed to conduct the process of intensive cultivation for productivity improvement of soybean in Gia Lam, Hanoi
Materials and Methods
- Methods of arranging experiments: Two experiments of fertilizer in winter crop season 2015 were conducted to identify the content and providing mode of fertilizer, which is suitable for productivity and is the most effective in economy Experiments were conducted following Randomized Complete Block Design (RCBD) with three replications Each experiment has one factor, which is fertilizer The first experiment was to evaluate the effect of phosphor content (root fertilizer) in combination with Mo content (foliar fertilizer) The second experiment was to evaluate the effect of biological fertilizer Facorv on soybean D140 variety in winter crop season 2015
- Methods of evaluation criteria:
+ Agronomic traits, morphological characters and yield were evaluated
following National standard QCVN 01-58: 2011/BNNPTNT
+ Arrangement experimental method Gomez K.A and Gomez A.A (1984) + Data processing method according to the program IRRISTAT 5.0, Microsoft Excel 2003
Main findings and conclusions
- Diverse phosphor contents in combination with providing Molipdatnatri 0.05% (0.5 g/l in water) had different effect on growth and yield of D140 variety in winter crop season 2015 in Gia Lam – Hanoi Ninety kilogram of P 2 O 5 in combination with Mo 0.05% showed the most effectiveness (about growth characters, physiology and yield), the yield was 18.08 tons/ha (higher than control by 0.17 tons/ha) and the profit was 11.204 million VND/ha
Trang 14However, difference between yield of fertilized formulas is not significant in biological statistics Therefore, P fertilized contents in combination with Mo didn’t bring significant effect for apply in winter season 2015 for soybean D140 variety in Gia Lam, Ha Noi
- Biological fertilizer Facorv provided for foot and leaves, had positive effect on growth, development and yield of D140 variety in winter crop season 2015 in Gia Lam – Ha Noi Treament No 3 (½ background / ha (background: 1 ton Organic fertilizer + 40
kg N + 60 kg P 2 O 5 + 40 kg K 2 O) + Facorv liquid 0.2%), showed more effectiveness in compare with other treatments for growth and factors related to yield and the yield of this treament was 22.56 tons/ha, contributing the profit by 18.755 million VND/ha
Trang 15PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Cây đậu tương (Glycine max (L) Merrill) đã được biết đến và trồng từ rất
lâu đời và được xem như là “cây thần diệu”, “vàng mọc từ đất”, “cây đỗ thần”… Cây đậu tương cung cấp thực phẩm cho người, nguyên liệu cho công nghiệp, thức ăn cho gia súc và là cây làm cải tạo đất (Phạm Văn Thiều, 2009)
Hàm lượng protein cao có thể chế biến tới 600 mặt hàng thực phẩm khác nhau như các loại thức ăn cổ truyền của phương Đông ( đậu phụ, tương chao, sữa đậu nành…) hay các sản phẩm chế biến khác: cà phê đậu tương, socola đậu tương, bánh kẹo, pate, thịt nhân tạo… (Trần Thanh Bình, Trần Thị Trường và Trần Đình Long, 2006)
Chính vì vậy cây đậu tương được mệnh danh là người đầu bếp của thế kỷ Đậu tương giữ vai trò quan trọng hàng đầu chiếm tới 30-35% sản lượng dầu thực vật Trong công nghiệp, dầu đậu tương còn được sử dụng làm: xi, sơn, mực in, chất dẻo, cao su nhân tạo, len nhân tạo, thuốc trừ sâu… (Đoàn Thị Thanh Nhàn
và cs., 1996) Nhờ khả năng cố định đạm của vi khuẩn nốt sần Rhizobium
japonicum sống cộng sinh ở rễ nên cây đậu tương có vai trò quan trọng trong hệ
thống luân canh, xen canh, gối vụ với cây trồng khác, góp phần cải tạo đất, tăng
độ phì cho đất, nâng cao năng suất và hiệu quả sử dụng đất Trong điều kiện nhiệt đới nóng ẩm như nước ta, cây ngắn ngày như đậu tương còn góp phần giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người nông dân Vì vậy, đậu tương đang được xem là cây trồng mũi nhọn trong chiến lược phát triển nền nông nghiệp nói riêng và phát triển kinh tế cả nước nói chung Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn định hướng đến 2015 và 2020 sẽ đẩy mạnh phát triển sản xuất đậu tương theo hướng hàng hóa Trong đó, tập trung phát triển đậu tương đông, đậu tương xuân ở phía Bắc nâng tổng diện tích đậu tương phía Bắc lên 200 nghìn hécta vào năm 2015; và 250 nghìn hécta vào 2020 trên cơ sở áp dụng tiến
bộ kỹ thuật nâng cao năng suất đáp ứng nhu cầu trong nước (Đường Hồng Dật, 2012) Tuy nhiên năng suất hiện nay còn rất thấp so với thế giới Do vậy, để tăng năng suất làm động lực cho việc mở rộng diện tích gieo trồng thì ngoài vấn đề giống, các biện pháp kỹ thuật phù hợp, nhất là phân bón như phân lân (photpho) và cung cấp dinh dưỡng qua lá được xem là một tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp bền
Trang 16vững (Nguyễn Văn Luật, 2005).Trong phân bón lá có nhiều nguyên tố đa lượng, vi lượng đóng vai trò quan trọng trong việc tăng năng suất và phẩm chất cây trồng nói chung và cây đậu tương nói riêng như Molipden (Mo) là nguyên tố vi lượng có ảnh hưởng lớn đến hoạt động enzim nitrogenaza cố định nitơ phân tử N 2 thành NH 3 để cây sử dụng nhờ nốt sần ở rễ cây họ đậu (Hoàng Minh Tấn và cs., 2006)
Vì vậy, chúng tôi tiến hành đề tài: “Ảnh hưởng của photpho và phân bón
lá đến sinh trưởng phát triển, năng suất đậu tương giống D140 vụ đông 2015
tại Gia Lâm, Hà Nội”
1.2 MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU
1.2.1 Mục đích
Xác định được lượng photpho thích hợp với Molipden (Mo) và phân bón lá hiệu quả nhất cho sự sinh trưởng phát triển, năng suất đậu tương giống D140 vụ đông năm 2015 nhằm góp phần vào việc xây dựng quy trình thâm canh tăng năng suất đậu tương tại Gia Lâm, Hà Nội
1.2.2 Yêu cầu
- Xác định được lượng photpho (phân lân) thích hợp kết hợp với Mo bón lá
để cây đậu tương sinh trưởng, phát triển tốt và cho năng suất cao;
- Đánh giá được ảnh hưởng của phân sinh học Facorv đến sinh trưởng phát triển và năng suất đậu tương;
- Đánh giá hiệu quả kinh tế khi sử dụng phân bón cho cây đậu tương
1.3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ đóng góp vào việc xây dựng quy trình thâm canh tăng năng suất, làm cơ sở mở rộng diện tích trồng đậu tương vụ đông tại Hà Nội nói riêng và Miền Bắc Việt Nam nói chung
Trang 17PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT ĐẬU TƯƠNG TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
2.1.1 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới
Đậu tương được trồng ở nhiều nước trên thế giới, tuy nhiên bốn nước sản xuất đậu tương lớn nhất thế giới là Mỹ, Braxin, Achentina và Trung Quốc chiếm khoảng 90 – 95% tổng sản lượng lương thực thế giới
Bảng 2.1 Diện tích, năng suất sản lượng đậu tương của 4 nước sản xuất đậu
tương chủ yếu trên thế giới trong 3 năm gần đây
Sản lượng (triệu tấn)
Diện tích (triệu ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
Diện tích (triệu ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
FAOSTAT | © FAO Statistics Division 2015 | 05 October 2015
2.1.2 Tình hình sản xuất đậu tương tại Việt Nam
Ở Việt Nam cây đậu tương được biết đến từ rất sớm Thế kỷ XVI, đậu tương đã được trồng ở khu vực Bắc Bộ nước ta Đến nay cây đậu tương giữ vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp và đời sống kinh tế – xã hội
Tình hình sản xuất đậu tương của Việt Nam trong một số năm gần đây được tổng hợp qua bảng 2.2
Hiện nay ở hầu hết các tỉnh, thành phố trong cả nước đều chú trọng đến phát triển cây đậu tương, đặc biệt là trên chân đất lúa vào vụ đông Các tỉnh
Trang 18thành phố đều có chính sách khuyến khích hỗ trợ người dân sản xuất đậu tương
vụ đông như: Hỗ trợ giống, máy gieo hạt, Đậu tương đông trên đất lúa đã thực
sự đem lại hiệu quả cho sản xuất nông nghiệp
Bảng 2.2 Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam từ năm 2008 – 2015 Năm Diện tích (nghìn ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (nghìn tấn)
Nguồn: Tổng cục thống kê, * số liệu dự báo của USDA (Www, Viettrade.Gov.vn (2014)
2.2 VAI TRÒ SINH LÝ CỦA PHOTPHO, MOLIPDEN ĐỐI VỚI CÂY ĐẬU TƯƠNG VÀ NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ BÓN P, Mo
2.2.1 Vai trò sinh lý của photpho và Mo đối với đậu tương
Đậu tương cũng giống như bất kì một cây trồng nào khác, muốn cây sinh trưởng phát triển tốt cần phải cung cấp đầy đủ, cân đối các yếu tố dinh dưỡng Nếu thiếu một hoặc vài nguyên tố đều ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của cây
Trong suốt quá trình sinh trưởng và phát triển đậu tương cũng cần được cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết, trong đó quan trọng nhất là các nguyên
tố đa lượng như N, P, K, nếu thiếu một nguyên tố nào thì cây cũng đều phát triển không bình thường Ngoài ra đối với đậu tương các nguyên tố vi lượng cũng có ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng phát triển của cây, trong đó đặc biệt phải kể đến
là Mo vì nó có ảnh hưởng lớn đến vi khuẩn nốt sần cộng sinh với đậu tương
Nguyên tố phốt pho (P)
Phospho là yếu tố dinh dưỡng đặc biệt quan trọng với cây đậu tương P có mặt trong thành phần hệ thống men, có ý nghĩa trong trao đổi gluxit, sự cố định đạm; tổng hợp protein, lipit và chuyển hóa năng lượng trong quá trình quang hợp
và hô hấp P có tác dụng kích thích sự ra rễ đặc biệt là rễ bên và lông hút, sự hình thành nốt sần; thúc đẩy việc ra hoa, hình thành quả và phẩm chất hạt (Đoàn Thị Thanh Nhàn và cs., 1996)
Trang 19Cây đậu tương được cung cấp đủ P có số lượng và khối lượng nốt sần tăng mạnh cũng như khả năng cố định N 2 thành đạm sinh học tăng do P có trong thành phần ATP, NADPH 2 là năng lượng và hợp chất khử rất cần cho việc cố định N 2 > NH 3 (Vũ Quang Sáng và cs., 2015) P cũng ảnh hưởng tốt đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất đậu tương (1kg P 2 O 5 làm tăng 8 – 10
kg quả), tăng tỷ lệ đậu quả, kéo dài thời gian ra hoa, phân cành nhều, tăng số quả/cây, số hạt/quả, tỉ lệ quả chắc và khối lượng hạt Đồng thời P cũng ảnh hưởng tốt đến hàm lượng protein trong hạt, tăng khả năng chống chịu hạn và sâu bệnh cho đậu tương
Lân (photpho) là một yếu tố dinh dưỡng đặc biệt quan trọng với cây đậu tương và nhu cầu về lân của cây đậu tương cũng rất lớn (lớn hơn dinh dưỡng đạm
và kali), đặc biệt giai đoạn cây hút lân có ý nghĩa quan trọng nhất là thời kỳ đầu sinh trưởng (Nguyễn Như Hà, 2006) Vì vậy, cần cung cấp đầy đủ và kịp thời dinh dưỡng lân cho cây đậu tương để sinh trưởng, phát triển tốt, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm
Tỉ lệ lân trong đất thường biến động trong khoảng 0,03 - 0,12% đặc biệt là một số loại đất hình thành trên đá mẹ giàu lân thì có tỉ lệ lân tổng số có thể lên đến 0,6% Tỉ lệ lân trong đất phụ thuộc vào thành phần đá mẹ hình thành nên đất, chất hữu cơ có trong đất Đất được hình thành trên đá mẹ giàu lân (Basalt, đá vôi), đất giàu chất hữu cơ thì tỉ lệ lân cao Tuy nhiên, hàm lượng lân trong đất chủ yếu ở dạng khó tiêu cây trồng không thể hấp thu được (Vũ Hữu Yêm, 1995) Theo Dickson và Graswell (1987), hàm lượng lân dễ tiêu trong đất thấp
là nguyên nhân quan trọng nhất gây ra năng suất thấp ở nhiều nước Châu Á Tianaran và cs (1987) đã khẳng định, nhiều vùng sản xuất đậu đỗ ở Thái Lan
có hàm lượng lân dễ tiêu trong đất thấp (1 - 5ppm), khi được bón bổ sung lân năng suất tăng lên gấp 2 lần Tác giả cho rằng mức lân trong đất thích hợp với đậu tương khoảng 8ppm Nhìn chung, đất càng chua mức độ dễ tiêu của lân trong đất với cây trồng càng giảm Chailakyan M.K (1968) cho biết: việc bón phân lân cho đậu tương đã làm tăng đáng kể năng suất ở nhiều vùng của Indonexia Kết quả nghiên cứu của Dickson và cs (1987) về lượng phân lân bón ở 27 cánh đồng Queenland của Úc đã cho thấy năng suất đậu tương tăng đáng kể khi được bón lân
Theo Trần Văn Điền (2001), khi nghiên cứu ảnh hưởng của lượng phân lân đến năng suất và khả năng cố định đạm của đậu tương trên đất đồi ở trung
du phía bắc Việt Nam đã cho rằng: khi bón phân lân cho đậu tương tăng lên, với
Trang 20giống đậu tương không có nốt sần thì hầu như không có phản ứng, với giống đậu tương có nốt sần thì có tác dụng làm tăng năng suất hạt và thân lá rõ rệt Mengel (1987) cho biết, lân có vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển nốt sần ở rễ đậu tương, bón bổ sung vào đất với lượng 400 - 500 mg
P 2 O 5 / kg đất có tác dụng kích thích hoạt động của vi khuẩn nốt sần
Theo Borkert and Sfredo (1994), ở đất chua nếu pH được nâng lên thì quá trình khoáng hoá lân - Phytat được tăng lên, nhờ đó nâng cao lượng lân dễ tiêu cho cây trồng Các tác giả này cũng cho rằng bón phân lân là biện pháp cơ bản nâng cao năng suất đậu tương, đặc biệt là với đất chua, đất có khả năng giữ chặt lân cao Vì thiếu lân sẽ ngăn cản cây trồng hấp thu các yếu tố dinh dưỡng khác Theo Nguyễn Văn Bộ (2001), ở Việt Nam trên đất phèn nếu không bón phân lân cây chỉ hút được 40 – 50kg N/ha, song bón phân lân đã làm cho cây trồng hút được 120 – 130 kg N/ha
Theo Võ Minh Kha (1996), trên đất đồi chua hàm lượng Fe 3+ , Al 3+ cao, bón phân lân và phân đạm có tác dụng nâng cao năng suất đậu tương rõ rệt Như vậy, nhiều nghiên cứu đã khẳng định vai trò quan trọng của phân lân đến năng suất chất lượng đâu tương
Nguyên tố vi lượng Molipden
Các nguyên tố vi lượng chỉ chiếm 0,05% chất sống của cây nhưng lại đóng vai trò sinh lý cực kỳ quan trọng Về mặt số lượng cây không có yêu cầu nhiều, nhưng mỗi nguyên tố đều có vai trò xác định trong đời sống của cây không thể thay thế lẫn nhau (Vũ Hữu Yêm, 1995)
Molipden tồn tại trong đất ở 3 dạng: dạng tan được trong dung dịch đất như các ion molypdat (Mo, HMo −
4
O ), dạng trao đổi được hấp phụ trên các hạt keo sét, dạng bị giữ chặt có trong các chất hữu cơ hoặc cấu thành của chất khoáng chất Hàm lượng molipden tan được trong đất là rất thấp Theo kết quả phân tích đất ở bang California, hàm lượng Mo trong đất dao động từ 0,3 - 3,9ppm (tính theo đất khô kiệt) Tuy vậy, hàm lượng rất nhỏ này đã được coi là các hàm lượng cao bất thường Khác với các nguyên tố khác, khi tăng pH đất lại làm tăng lượng
Mo di động (Hoàng Minh Tấn, Nguyễn Quang Thạch và Vũ Quang Sáng, 2006) Một phần hàm lượng Mo trong đất thường ở dạng các oxyt: trioxyt molipden (MoO 3 ), dioxyt molipden (MoO 2 ), pentoxyt molipden (Mo 2 O 5 ) Các dạng này là khó tiêu đối với cây trồng Dạng MoO 3 có thể sau khi tương tác với
Trang 21các cation thì trở nên di động và cây có thể lấy được Như thế, sự tăng cường oxy hóa đã làm tăng khả năng dễ tiêu của Mo ngược với mangan, chất này trở nên dễ tiêu hơn khi bị khử mạnh hơn Các anion molypdat (Mo 2−
4
O , HMo −
4
O ) có thể được hấp phụ trên keo sét tượng tự như các ion sulphat và phosphat Các ion này
có thể trao đổi với các ion OH - (Hoàng Minh Tấn, Nguyễn Quang Thạch và Vũ Quang Sáng, 2006)
Một số nước như Trung Quốc, Nhật, Đài Loan, châu Âu và Mỹ đã công bố năng suất đậu tương tăng do bón thêm vi lượng Mo Lượng Mo dùng để xử lý hạt cần 17g/ha, trong khi đó nếu bón vào đất cần 800 g/ha Bón vôi để giữ pH đất 6,2
có thể có tác dụng phòng chống hiện tượng thiếu Mo
Mo có vai trò quan trọng trong sự cố định nitơ và đồng hóa nitrat Do đó molipden có tác dụng rất tốt đối với sự sinh trưởng của các loài cây họ đậu Mo còn có vai trò quan trọng trong sự tổng hợp vitamin C của cây Thiếu molipden cấu trúc bình thường của lục lạp cũng bị ảnh hưởng
Do đó khi thiếu các nguyên tố vi lượng, mà điển hình là Mo sẽ ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng, phát triển, làm giảm năng suất thu hoạch
2.2.2 Những nghiên cứu về bón photpho cho cây đậu tương
- Một số kết quả nghiên cứu sử dụng phân lân cho đậu tương trên thế giới
Photpho là một thành viên quan trọng trong quá trình trao đổi chất nên lân
có khả năng làm tăng tính chống chịu của cây vói các yếu tố bất thuận như: rét, hạn, chịu độ chua, một số loại sâu bệnh Lân có tác dụng làm tăng quá trình tổng hợp nên nhiều chất hữu cơ quan trọng và thúc đẩy mô phân sinh phân chia nhanh
vì thế thúc đẩy sự phát triển của rễ, đẻ nhánh nảy chồi tạo điều kiện cho cây
chống hạn và ít đổ
Đặc biệt là đối với cây họ đậu thì phân lân (photpho) không thể thiếu và nhu cầu tăng lên do photpho tham gia quá trình tao ATP và các hợp chất khử ( NADPH 2 ) phục vụ cho việc cố định nitơ phân tử N 2 thành NH 3 trong nốt sần rễ cây họ đậu
Tại Queensland – Úc, Dickson và các cs (1987) nghiên cứu ảnh hưởng của lượng phân lân bón đã chỉ ra rằng năng suất đậu tương được tăng lên rất đáng kể khi đậu tương được bón phân lân
Oliver S and S A Barler (1996) cho biết: Hoạt động cố định N của vi khuẩn nốt sần được đo bằng hàm lượng Legemoglobin vào cuối thời kỳ ra hoa đã tăng 2,5 lần ở 600 ppm P và 800 ppm K Nhưng Ca lại làm giảm hoạt động của vi sinh vật Khi bón nhiều lân, tốc độ cố định N cao hơn và lượng acid glutamic tăng
Trang 22Tang et al (2007) cho biết năng suất sinh khối, khối lượng hạt và năng suất
hạt đậu tương có tương quan thuận vói lượng P tích lũy trong cây và lượng P hấp thu của cây đậu tương Lượng P bón vào đất để đạt năng suất đậu tương cao biến động theo giống và lượng phân bón dễ tiêu đang có trong đất Tác giả cũng cho rằng với cây đậu tương bón với lượng 150 kg P 2 O 5 /ha vẫn có tác dụng làm tăng năng suất hạt
Borkert and Sfredo (1994) cho rằng, mặc dù giống đậu tương có phản ứng rất khác nhau với độ chua và hàm lượng nhôm trao đổi của đất, song nhìn chung năng suất đậu tương thấp ở điều kiện đất chua và thiếu lân Thiếu lân sẽ làm chậm sinh trưởng sinh dưỡng của cây đậu tương, giảm khả năng sinh trưởng của
rễ, giảm LAI, giảm số hạt, kích thước hạt và năng suất Đặc biệt phân P đóng vai trò quan trọng đối với sự hình thành và phát triển nốt sần, thiếu lân sẽ làm giảm quá trình cố định N sinh học của cây đậu tương do làm chậm quá trình hình thành
và phát triển nốt sần
Theo Salesh và Sumarno, ở Inđônesia bón phân lân cho đất có hàm lượng lân dễ tiêu thấp hơn 18ppm làm cho năng suất tăng rõ rệt Khi nghiên cứu yêu cầu lân của các cây trồng khác nhau đã chỉ ra rằng để đạt 95% năng suất tối đa cây đậu tương cần có hàm lượng lân hòa tan trong dung dịch đấtlà 0,2 ppm và mức này được coi là mức khủng hoảng về hàm lượng lân dễ tiêu trong dung dịch đất đối với cây đậu tương Dựa vào điều này, người ta có thể xây dựng 1 phương pháp tính toán lượng P cần thiết để bón bằng việc thêm vào đất 1 lượng P nào đó
để nâng hàm lượng lân hòa tan trong dung dịch đất lên ở mức 0,22 ppm từ đó xác định được lượng phân lân tối ưu cần bón, mặt khác khả năng cung cấp lân phụ thuộc vào độ chua đất Để đạt được 2 tấn/ha thì cần phải bón 15 kg lân (FAO), nhưng hiện nay ngươi ta vẫn chưa khai thác hết tiềm năng năng suất của giống,
vì khả năng lân bị giữ chặt trong đất, đặc biệt là đất chua thường quá cao Việc năng cao pH bằng cách bón vôi sẽ nâng cao hàm lượng lân dễ tiêu đối với cây trồng nói chung và cây đậu tương nói riêng Bên cạnh đó cũng cần bón thêm các loại phân khác (N, K, Phân chuồng) mới nâng cao hiệu quả sử dụng lân
Ngoài ra sự hấp phụ lân và phản ứng của đậu tương với phân lân cũng bị ảnh hưởng của độ ẩm đất Ở điều kiện thiếu nước, khả năng hút lân của cây giảm Sau khi tưới nước cho cây bị khô dài hạn nó sẽ hút lân ở lỷ lệ cao hơn so với cây được tưới nước ở mức nước thích hợp (Phan Thị Lãng, 1989)
- Một số kết quả nghiên cứu sử dụng phân lân cho đậu tương ở Việt Nam
Trang 23Nghiên cứu ở trại thí nghiệm Đông Mai – Quảng Ninh (1964) cho thấy bón supe lân cho đậu tương xuân cho năng suất cao nhất đạt 13 tạ/ha cao hơn 44% so với đối chứng, hiệu suất phân bón cao nhất 6,6 kg hạt/1kg P 2 0 5 (Lê Văn Kính và Dương Thanh Liêm, 1995) Theo Nguyễn Thị Dần (1996) khi nghiên cứu chế độ bón phân thích hợp cho cây đậu đỗ trên đất bạc màu Hà Bắc đã chỉ ra rằng: Bón phân lân cho đậu tương và lạc trên đất bạc màu cho hiệu quả kinh tế cao
Võ Minh Kha (1996) đã khẳng định trên đất đồi chua, hàm lượng nhôm, sắt cao bón phân lân và đạm có tác dụng nâng cao năng suất đậu tương rõ rệt Theo tác giả, trên đất tương đối nhiều dinh dưỡng, bón đạm làm tăng năng suất đậu tương lên 10 – 20% còn trên đất thiếu dinh dưỡng bón đạm làm tăng năng suất tới 40 – 50% Bón lân thường mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn
Theo nghiên cứu của Phan Thị Lãng (1989): Trong các loại đồng đất thì hiệu quả nhất là bón lân cho đất phèn, đối với đất phù sa sông Hồng trước đây bón phân lân thường cho ít hiệu quả nhưng trong điều kiện thâm canh cao như như hiện nay việc bón phân lân cũng cho năng suất tăng lên đáng kể, vì ngoài việc cung cấp dinh dưỡng lân còn làm giảm độ độc trong đất cho nên bón lân cho đất này thường có yêu cầu cao hơn
Để đánh giá khả năng cung cấp lân trong đất cho cây trồng màu cũng như cây đậu tương người ta thường dựa vào hàm lượng lân dễ tiêu để xếp lượng lân bón Theo phương pháp Oniani và phương pháp Olsen áp dụng với đất Việt Nam như sau:
- P dễ tiêu < 5 mg/100g đất: Đất rất cần bón lân, nếu bón lân sẽ cho hiệu lực cao
- P dễ tiêu 5 – 10 mg/100g đất: Đất có lân trung bình nếu bón lân sẽ có hiệu lực trung bình
- P dễ tiêu 10 – 15 mg/100g đất: Đất có lân khá, bón lân cho hiệu quả thấp
- P dễ tiêu > 15 mg/100g đất: Đất giàu lân, bón lân không có hiệu lực Dựa vào kết quả nghiên cứu ở trên, người ta có thể đánh giá được sự thiếu hụt lân trong đất và từ đó xây dựng được 1 phương thức tính toán được lượng phân lân cần thiết để thêm vào đất một lượng lân nào đó nhằm nâng cao hàm lượng lân dễ tiêu trong đất
Hiên nay diện tích đất canh tác của nước ta đa số là nghèo lân vì diện tích đất phèn, đất chua, đất bạc màu khá nhiều Riêng ở Miền Bắc trong hơn 2 triệu
Trang 24ha đất canh tác thì có hơn 1 triệu ha là đất chua pH (KCl) = 4 – 5,5 Hàm lượng
Fe, Al di động trong đất lên tới 20 – 25 mg/100g đất (Phan Thị Lãng, 1989) Ngoài ra để hiệu suất sử dụng phân lân cao thì cần có sự kết hợp của nhiều yếu tố dinh dưỡng khác, lúc đó yếu tố lân mới phát huy hết tác dụng Theo nghiên cứu của Lê Đình Sơn (1988) đã chỉ ra rằng: Lân, đạm có tác dụng thúc đẩy nhau trong việc làm tăng số các cành cho quả, số quả trên cây Còn theo Nguyễn Văn Bộ (2001) nếu chỉ bón riêng N chỉ cho bội thu 1,4 tạ/ha, trong khi
đó bón lượng đạm như vậy cho bội thu 2,3 tạ/ha trên nền có bón lân Theo Vũ Đình Chính (2012) nghiên cứu trên đất bạc màu nghèo dinh dưỡng bón lân cho đậu tương với mức 90 kg P 2 0 5 /ha trên nền phân 40kgN/ha, đã làm tăng số lượng nốt sần, số quả trên cây và năng suất hạt Công thức bón phân khoáng thích hợp nhất cho giống đậu tương xanh lơ (Hà Bắc) trong điều kiện vụ Hè trên đất bạc màu Hiệp Hòa – Hà Bắc là: 20 kgN + 90 kg P 2 0 5 + 90kgK 2 0/ha
Theo Nguyễn Như Hà (2006) đậu tương hút lân trong suốt quá trình sinh trưởng và phát triển nhưng quan trọng nhất là ở thời kỳ đầu sinh trưởng Thời kỳ cây hút nhiều lân nhất từ lúc bắt đầu ra quả cho đến 10 ngày trước khi hạt chín hoàn toàn Ở thời kỳ sinh trưởng cuối, lân được chuyển từ lá về quả hạt
Kết quả ảnh hưởng của liều lượng phân lân đến năng suất và khả năng cố định đạm của đậu tương trên đất đồi vùng trung du phía Bắc Việt Nam, Trần Văn Điền (2001) đã kết luận: bón lân cho đậu tương tăng lên, với giống đậu tương không có nốt sần thì hầu như không có phản ứng gì: còn với giống đậu tương có nốt sần thì có tác dụng tăng năng suất hạt và thân rõ rệt Trên đất phèn, nếu không bón lân, cây trồng chỉ hút được 40-50 kg N/ha; nếu bón lân thì có thể hút được 120-130 kg N/ha (Nguyễn Văn Bộ, 2001)
2.2.3 Những nghiên cứu về bón molipden cho cây đậu tương
Thiếu Mo thì quá trình trao đổi đạm bị gián đoạn, hiệu suất quang hợp giảm dẫn đến năng suất hạt giảm Các loại cây đậu đỗ được xử lý bằng dung dịch muối molipden trước khi gieo đều cho quả sáng, hạt to và ít lép (Hoàng Minh Tấn, Nguyễn Quang Thạch và Vũ Quang Sáng, 2006)
Nguyễn Tấn Lê (1990 – 1992) nghiên cứu ảnh hưởng của các nguyên tố vi lượng B, Mo và NaSO 3 đến các chỉ tiêu sinh học của lạc ở Quảng Nam – Đà Nẵng Kết quả cho thấy đã làm tăng tỉ lệ nảy mầm của hạt từ 17,8 – 32,2%, tổng
số quả chắc trên cây từ 10 – 19,2%, trọng lượng quả khô tăng từ 7,6 – 11,9%, năng suất trung bình trong ba vụ tăng từ 6,2 – 11,1% so với đối chứng
Trang 25Theo Hà Thị Thanh Bình và cs (2002) nghiên cứu ảnh hưởng của (NH 4 ) 2 Mo 4 0,05% và CoSO 4 0,03% đối với đậu tương DT74 trồng trên đất đồi Mai Sơn – Hà Sơn Bình Các dung dịch được phun ở giai đoạn 3 lá, 5 lá, 7 lá kết quả cho thấy, Mo và Co có ảnh hưởng tốt đến sinh trưởng của cây (hàm lượng chlorophill, chiều cao cây, diện tích lá) và năng suất do Mo là 20,2%, Co là 7%, hỗn hợp Mo + Co là 13,8% hàm lượng protein tương ứng là 13%, 0% và 13,5%, hàm lượng lipit tương ứng là 10%, 13,4% và 9,5%
Molipden là thành phần của men nitrogenaza rất cần thiết cho quá trình cố định đạm của vi khuẩn Rhyzobium Japonicum sống cộng sinh trong nốt sần ở
rễ cây đậu tương Mo cũng được tìm thấy trong men khử nitrat chịu trách nhiệm trong quá trình khử nitrat trong cây và trong đất Mo còn có vai trò quan trọng trong việc vận chuyển các electron trong hệ thống men thực hiện các phản ứng oxi hóa khử trong cây Mo cũng rất cần thiết cho sự chuyển hóa đạm trong tế bào cũng như trong cây (Vũ Hữu Yêm, 1995) Molipden còn có tác dụng tăng cường hiệu quả việc sử dụng phân lân (Đường Hồng Dật, 2012) Phân lân đối với cây họ đậu rất cần thiết nên phải tăng lượng bón qua gốc để tăng khả năng
cố định nitơ phân tử (N 2 ) trong nốt sần ở hệ thống rễ Hiệu quả tăng lên nếu kết hợp với phun nguyên tố vi lượng qua lá
2.3 DINH DƯỠNG QUA LÁ
2.3.1 Cơ sở khoa học của việc hấp thụ khoáng chất qua lá
Thông thường bộ lá của cây làm nhiệm vụ quang hợp, tổng hợp chất hữu cơ
để nuôi cây Các chất khí cũng dễ dàng được đồng hóa qua khí khổng của lá Tuy nhiên lá cũng có thể hấp thu các nguyên tố khoáng dưới dạng ion từ dung dịch Việc hấp thu này có thuận lợi hay không phụ thuộc vào tầng cutin ở lớp ngoài cùng của lá Tầng cutin có thể dày, mỏng khác nhau tùy theo loại thực vật và tuổi của cây Mặc dù vậy các chất khoáng xâm nhập qua các lỗ siêu nhỏ trên tầng cutin là chủ yếu Đường kính các lỗ lớn hơn 1nm và mật độ các lỗ rất cao10 10 lỗ/dm 2 lá (Horst, 1992) Với đường kính như vậy các chất tan như: Ure có đường kính 0,44nm dễ dàng đi qua nhưng các phân tử có kích thước lớn như: phân tử hữu cơ, chelat rất khó qua được
Độ dày mỏng của tầng cutin rất khác nhau giữa các loài cây, do vậy hiệu quả của dinh dưỡng qua lá là rất khác nhau tùy thuộc vào đặc điểm giải phẫu lá
và môi trường Để tăng khả năng hấp thu qua lá, khi phun phải tạo ra một lớp màng mỏng dinh dưỡng trên bề mặt của lá
Trang 26Điều kiện nhiệt độ và thời tiết cũng ảnh hưởng tới hiệu quả dinh dưỡng qua
lá, do đó khi sử dụng dinh dưỡng qua lá người ta thường kết hợp các chất bề mặt
lá phun vào lúc trời râm mát, không mưa (Phu Nguyen Van, 2002)
Qua quá trình hấp thu dinh dưỡng bởi các tế bào lá cũng giống như hấp thu dinh dưỡng bởi rễ cây, bước căn bản của quá trình này là sự vận chuyển các chất khoáng qua màng sinh học Về mặt cơ bản đây là một quá trình bị động
Tỷ lệ hấp thu dinh dưỡng bị ảnh hưởng bởi tình trạng sinh lý của lá và dinh dưỡng của cây
Phương pháp dinh dưỡng qua lá có hiệu quả nhanh trong những điều kiện đất nghèo dinh dưỡng và sự hấp thu dinh dưỡng của cây bị hạn chế Đây được coi là phương pháp hỗ trợ để bổ sung dinh dưỡng vào những giai đoạn mất cân bằng dinh dưỡng khi cây chuyển từ giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng sang sinh trưởng sinh thực với các nguyên tố đa lượng Do các chất khoáng tập trung nhiều vào việc hình thành cơ quan sinh sản, sự sinh trưởng của bộ rễ bị giảm mạnh làm khả năng hấp thu các chất khoáng bị suy yếu Vì thế việc bổ sung một phần bằng biện pháp phun qua lá sẽ khắc phục được sự mất cân bằng về dinh dưỡng của cây
ở giai đoạn đó, giúp cây sinh trưởng phát triển tốt hơn (Phu Nguyen Van, 2002) Mặt khác, theo nhiều tác giả cho biết ở các loại cây lấy hạt, việc sử dụng một lượng nhỏ phân đạm bón qua lá vào giai đoạn vào chắc có thể làm tăng hàm lượng protein trong hạt, cải thiện được chất lượng nông sản và nâng cao năng suất cây trồng (Horst, 1992)
2.3.2 Những ưu điểm và tồn tại của phương pháp dinh dưỡng qua lá
• Ưu điểm
Theo Tlutos et al (2001), Vũ Quang Sáng và cs (2015) thì phương pháp
dinh dưỡng qua lá đặc biệt có hiệu quả trong các trường hợp sau:
- Tầng đất nghèo dinh dưỡng và khô hạn khả năng dinh dưỡng của cây bị hạn chế
- Dinh dưỡng qua lá đặc biệt có hiệu quả và phổ biến đối với các nghuyên
tố trung lượng như: Mg, S và nhất là các nguyên tố vi lượng, dinh dưỡng qua lá hoàn toàn có thể thay thế dinh dưỡng vào đất
- Dinh dưỡng qua lá cho hiệu quả sử dụng cao đạt 95% so với dinh dưỡng vào đất chỉ đạt 40 – 50% nên tiết kiệm phân bón và giảm ô nhiễm đất
Trang 27- Điều chỉnh sự mất cân bằng của cây khi chuyển từ giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng sang sinh trưởng sinh thực Lúc này bộ rễ không sinh trưởng thêm thậm chí còn giảm đi làm cho quá trình hút khoáng giảm dẫn đến mất cân bằng dinh dưỡng nên bổ sung dinh dưỡng qua lá sẽ khắc phục được tình trạng này
- Dinh dưỡng qua lá rất có hiệu quả khi đất có hiện tượng đối kháng ion Theo Phu Nguyen Van (2002), trong điều đất giàu K + lớn hơn 300 mg/kg đất và
Mg 2+ lớn hơn 160 mg/kg đất, sự hấp thu Mg 2+ sẽ bị ngăn cản do hiện tượng đối kháng ion cây có biểu hiện thiếu Mg 2+ , bón Mg 2+ vào đất sẽ làm cây mất cân bằng dinh dưỡng và chết do ngộ độc Mg 2+ Trong khi đó bón phân Mg 2+ qua lá giúp cho cây sinh trưởng tốt Cây được bón phân qua lá sinh trưởng ổn định, ít sâu bệnh, chống chịu được các điều kiện bất thuận (ngập, hạn, mặn, phèn,…)
- Bón phân qua lá ít bị mất như bón qua rễ Do hàm lượng ít mà hiệu quả cao nên cuối cùng hiệu quả kinh tế trên đơn vị diện tích cao hơn bón vào đất hoặc không bón
- Bón phân qua lá tăng chất lượng sản phẩm như tăng lượng đường trong mía, tăng đậu quả, đậu hạt, chín sớm, trái đẹp mã, tăng giá trị thương phẩm, tăng hàm lượng các nguyên tố vi lượng, nâng cao chất lượng nông sản
• Nhược điểm
- Một lượng nhỏ chất khoáng có thể hút qua lá đối với các nguyên tố đa lượng (N, P, K) khoảng 10% là được hút qua lá cho nên phương pháp này không phổ biến với các nguyên tố đa lượng, với các nguyên tố này dinh dưỡng qua lá chỉ áp dụng bón bổ sung
- Rất dễ bị rửa trôi khỏi lá khi có mưa và bị cháy lá khi phun vào lúc nhiệt
độ cao Do đó khi sử dụng dinh dưỡng qua lá thường kết hợp với các chất làm tăng bám dính bề mặt lá và phun vào lúc trời râm mát không mưa Vào mùa hè, nhiệt độ khá cao do đó phun vào lúc chiều tối sẽ đem lại hiệu quả cao
- Có thể gây cháy lá cục bộ do mất cân bằng dinh dưỡng, vì thế phải sử dụng đúng nồng độ
- Dinh dưỡng qua lá không áp dụng với tất cả các loại cây trồng, những cây trồng bề mặt lá và các cơ quan có lớp sáp dày bao phủ và không thấm nước, bón qua lá sẽ không hiệu quả (Phu Nguyen Van, 2002)
Trang 282.3.3 Những nghiên cứu về dinh dưỡng qua lá cho cây và cho đậu tương
Thành phần của phân bón lá ngoài các nguyên tố đa lượng, trung lượng như đạm, lân, kali, canxi, lưu huỳnh, còn có thêm các nguyên tố vi lượng được hòa tan trong nước và phun lên cây Mặc dù hàm lượng rất ít nhưng các nguyên tố vi lượng có vai trò quan trọng ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng nông sản Trong khi đó đối với các chất dinh dưỡng đa lượng vì cây trồng cần một lượng lớn trong khi lá cây chỉ có thể đón nhận một lượng tương đối nhỏ so với nhu cầu
Do đó việc áp dụng bón phân qua lá (BPQL) để cung cấp các chất dinh dưỡng đa lượng trên thực tế không thông dụng lắm Vì vậy khi BPQL ta phải biết là tại sao
ta sử dụng PBL, khi nào áp dụng và cách áp dụng BPQL ra sao
Khi phun phân bón lá trên những chân đất bị thiếu hụt hoặc không có nguyên tố vi lượng nào đó, hoặc khi bộ rễ bị tổn thương, khả năng hấp phụ dinh dưỡng kém… thì hiệu lực của phân bón lá cao hơn Phun phân bón lá chủ yếu là
để bổ sung dinh dưỡng chứ không thể cung cấp toàn bộ nhu cầu dinh dưỡng trong suất quá trình sinh trưởng phát triển của cây trồng Chính vì vậy phân bón
lá không thể thay thế được phân bón vào gốc, chỉ nên phun phân bón lá ở những thời điểm cần thiết
Tác dụng của phân bón lá: giúp cây sinh trưởng nhanh, đâm chồi đẻ nhánh, kích thích tăng trưởng, phát triển, ra đọt, ra hoa kết trái Hạn chế tác động của sâu bệnh, tăng sức đề kháng với nhiều loại sâu bệnh Cung cấp dinh dưỡng cho bộ rễ phát triển mạnh, cây phân hóa nhiều cành, xanh tốt phát triển
tự nhiên Tăng khả năng ra hoa, tỷ lệ đậu quả, giúp quả nhanh lớn, hạt to, chắc mẩy, tăng chất lượng hạt Ngoài ra còn cung cấp vi lượng, chất khoáng giúp cho
vi khuẩn nốt sần hoạt động
Ứng dụng phân bón lá ngày càng trở thành một cách hiệu quả nhất để tăng năng suất và khả năng sinh trưởng của cây trồng Các thí nghiệm đã chỉ ra rằng hấp thụ phân bón qua lá có thể làm tăng năng suất từ 12 đến 25% khi so sánh với việc chỉ bón phân qua đất thông thường Phân bón lá được sử dụng rộng rãi cho các loại rau và củ quả, chứa nhiều vi chất dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển
và năng suất cây trồng Ứng dụng phân bón lá rất phù hợp cho việc kích thích lá non phát triển và dễ dàng hấp thụ các chất dinh dưỡng ( Njogu, R.N.E., Kariuki, D.K., Kamau, D.M and Wachira, F.N., 2014)
Sự hiệu quả của phương pháp BPQL ảnh hưởng bởi:
Trang 29- Lí và hóa tính của phân bón sử dụng
Sự hấp thu các chất dinh dưỡng tùy thuộc vào các anion kết nối Thí dụ sự hấp thu Zn(NO 3 ) 2 cao hơn so với ZnSO 4 có thể được giải thích bởi một sự kết nối cation – anion Bunyamin Yildirim et al (2008) đã thực nghiệm bằng cách nhúng các lá Vicia faba vào dung dịch 1% Zn – nitrate và dung dịch 1% Zn – Sulphate thì thấy rằng Zn được liên kết với gốc nitrat thì khả năng hấp thụ lớn hơn gấp 3,5 lần so với gốc Sulphate
- Khả năng xâm nhập các chất dinh dưỡng vào bên trong tế bào chất ảnh hưởng bởi chủng giống, loại và tuổi của lá cây, hóa tính của phân bón, vào các điều kiện của môi trường như ẩm độ, nhiệt độ, ngày hay đêm và phương pháp
áp dụng
- Khả năng lưu động bên trong lá cây của các chất dinh dưỡng sử dụng được xác định bởi khả năng cơ động của các mô libe liên hệ, chủng tính và độ già của lá cây và sự bất động của các phần tử hiện diện tại nơi áp dụng BPQL
2.3.4 Một số kết quả nghiên cứu sử dụng phân bón lá
2.3.4.1 Một số kết quả nghiên cứu sử dụng phân bón lá trên thế giới
Phân bón qua lá phát huy được hiệu lực nhanh, hiệu quả đến 90% chất ding dưỡng, trong khi đó bón qua đất cây chỉ sử dụng được 40 – 45%
Theo Phu Nguyen Van (2001), cho thấy phun phối hợp Mg và N làm tăng sản lượng chất khô và đặc biệt bón phối hợp N + Mg, N + Mg + Mn, N + Mg +
Zn tăng năng suất của lúa mỳ 30 – 30,9%
Phu Nguyen Van (2001), kết luận rằng bón Mg, N + Mg làm tăng hàm lượng diệp lục trong lá, tăng sản lượng chất khô của lúa mỳ, tăng năng năng suất của rau trong hai điều kiện đất nghèo Mg ++ và đất giàu Mg ++ và K + Lam và Morahan (1993) phát hiện ra rằng năng suất và hàm lượng đường của củ cải đường trong điều kiện thiếu đạm đã tăng lên khi sử dụng hỗn hợp đạm nitrat phun qua lá nhưng không làm tăng năng suất trong điều kiện đủ đạm
Hai nguyên tố Mg ++ và K + có mối quan hệ đối kháng nhau trong đất Nếu hàm lượng K + và Mg ++ đều cao, Mg ++ có thể trở thành nguyên tố bị thiếu đối với cây Nhưng bón Mg ++ vào đất có thể gây mất cân bằng ion và gây ngộ độc đối với cây, đó đó việc bón Mg ++ qua lá là phương pháp tốt nhất để điều chỉnh sự mất cân bằng dinh dưỡng và cải thiện sự sinh trưởng của cây (Borkert, 1994)
Trang 30Chitosan là một hợp chất hữu cơ tự nhiên giàu cacbon, nito được phối trộn với các nguyên tố khoáng khác dạng chế phẩm dinh dưỡng qua lá Chitosan có vai trò như một chất kích thích sinh trưởng của cây, tăng khả năng ra chồi, mầm hoa, tăng khả năng chống lại một số mấm và vi sinh vật gây hại Chitosan có mặt ở các
bộ phận rễ, lá, hoa và quả của cây nhưng ở nồng độ thấp, nó có tác dụng kích thích hoạt động của các bộ phận trong cây (Ouakfaoui S.E and A.Asseliu, 1992)
Theo nghiên cứu của Hiroko C.B, (2002), khi sử dụng Chitosan cho cây lúa
ở Thái Lan với nồng độ 20ppm đã làm tăng khả năng sinh trưởng, tích lũy chất khô, đặc biệt tăng số bông và tăng năng suất lúa Chitosan còn tốt cho cây đậu
đỗ, kích thích phân cành và tăng chiều cao cây, tăng chỉ số SPAD (tăng màu sắc lá) ở nồng độ 0,1 – 0,5%
Theo Smit (1988), trên các chân đất có pH < 5,5 thì việc bổ sung Mo sẽ làm tăng năng suất đậu tương lên mức có ý nghĩa Còn theo tác giả Dave Mengel (1987), một chuyên gia thổ nhưỡng tại đại học Kansas State University thì trên đất có tính axit thường thiếu Mo và việc bón vôi không thể khắc phục sự thiếu hụt hoàn toàn này Mo sẽ phát huy tốt khi phối hợp với P Việc sử dụng phân chứa nhiều S sẽ làm giảm hấp thu Mo Trong đất có nồng độ pH trên 6,5 thì ứng dụng Mo là không cần thiết Với đất pH < 6 thì Mo có thể được cố định với các hidroxit Fe(OH) 3 , Al(OH) 3 , Fe 2 O 3 Mo cần thiết cho hầu hết tất cả các cây họ đậu, cải bắp, súp lơ, cà chua, thuốc lá Mo có tính độc nên việc sử dụng thường phun qua lá Nếu dùng để xử lý bổ sung Mo cho hạt giống thì cần phải có dụng
cụ bảo hộ lao động phù hợp
2.3.4.2 Một số kết quả nghiên cứu sử dụng phân bón lá ở Việt Nam
Ở Việt Nam trên thị trường hiện nay có rất nhiều loại phân bón qua lá Trong đó có những loại do các nhà máy trong nước sản xuất như: HVP301 N, Đầu trâu 502, Comix, HB101, Biofact, BK104, CSF002, HUMID Các loại phân bón lá nhập từ nước ngoài có Rong biển 95%, Atomix, Lục thủy phần, Open all đã và đang được sử dụng rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp
Theo Hà Thị Thanh Bình và cs (1998) phun vi lượng cho cây đậu tương và lạc trên đất Mai Sơn – Hà Sơn Bình ở giai đoạn 3, 5, 7 lá đã ảnh hưởng tốt đến sinh trưởng và phát triển của cây và tăng năng suất từ 13,8 – 20,2%, chất lượng cũng tăng Phun chế phẩm hữu cơ Penshipao (PSB) vào 3 giai đoạn (trước phân cành, trước ra hoa và sau hết hoa 10 ngày) cho đậu tương giống D912 đã tăng năng suất từ 0,81 – 2,74 tạ/ha (Vũ Quang Sáng và cs., 2006)
Trang 31Phân bón lá phức hữu cơ Pomior đã được thử nghiệm trên nhiều địa phương cho nhiều cây trồng khác nhau cho thấy: năng suất tăng nhanh, cây sinh trưởng tốt, ít sâu bệnh, tiết kiệm phân bón và nhân lực, phẩm chất rau và quả đạt chất lượng cao (Hoàng Ngọc Thuận và cs., 2005)
Bùi Thị Hồng Vân (1995), đã sử dụng chế phẩm qua lá ở trong nước là phân Sài Gòn Safer (HQ và VA) được chiết xuất từ các hợp chất hữu cơ vi lượng
và khuyến nông 301 trên vụ lạc xuân giống Trạm Xuyên tại hợp tác xã Xa La thị
xã Hà Đông thấy phân qua lá đã có tác dụng rõ rệt: cây phát triển nhanh, thân cây
to, lá dày, màu xanh sáng, ít sâu bệnh hơn so với không phun Số quả chắc trên cây chênh lệch không đáng kể nhưng số quả hai hạt trên cây tăng rõ Mặt khác bón phân qua lá giúp cho cây trồng trong những điều kiện hạn hán hoặc ngập lụt, thời kỳ khủng hoảng của cây trồng, cây suy kiệt Bằng cách này là con đường duy nhất giúp cây phục hồi nhanh
Phân bón lá một tiến bộ kỹ thuật được sử dụng nhiều trong những năm gần đây nhưng không thể thay thế được 100% bón phân qua đất, phân bón lá là một giải pháp chiến lược an toàn dinh dưỡng cho cây trồng (Vũ Cao Thái, 1996) Khi
sử dụng phân bón lá cho cây trồng tại đồng bằng sông Cửu Long cho thấy: đáp ứng nhanh nhu cầu dinh dưỡng của cây, cây sinh trưởng ổn định, khỏe, ít sâu bệnh và chống chịu tốt với các điều kiện bất thuận khác, tăng giá trị thương phẩm như cây đường, mía, đậu (Nguyễn Văn Uyển, 1995) Trần Thị Hiền và cs (1998) cho biết, chế phẩm vi sinh hữu hiệu (EM) phun qua lá dạng EM thứ cấp phun qua lá có hiệu quả tốt cho cây đậu tương ( đặc biệt trồng trong điều kiện thiếu nước) sinh trưởng, phát triển tốt và năng suất đậu tương trồng vụ thu đông Nguyễn Tấn Lê (1992) đã sử dụng Mo và Bo xử lý cho cây lạc trồng tại Quảng Nam-Đà Nẵng, năng suất trung bình 3 vụ tăng 6,2 – 11,1% so với đối chứng Theo Nguyễn Đình Thi và Cs (2008), sử dụng B, Mo, Zn phun cho cây lạc tại Thừa Thiên Huế cho thấy: xử lý phối hợp 2 nguyên tố, đặc biệt cả 3 nguyên tố kết quả tốt hơn so với xử lý riêng rẽ Xử lý phối hợp 0,03% B + 0,03% Mo + 0,03% Zn làm tăng năng suất kinh tế lên 22,40% so với đối chứng không xử lý Đối với cây lạc, phun vi lượng kết hợp α.NAA làm tăng suất từ 15 – 17% Phun phân bón lá cho cây trồng là phương pháp bổ sung dinh dưỡng hiệu quả nhất, sản lượng tăng trung bình 20 % đối với cây lấy lá, 10 – 20 % đối với cây lấy quả, củ
và 5 – 10 đối với lúa (Vũ Cao Thái, 1996) Kết quả nghiên cứu của Vũ Tiến Bình (2014) cho thấy, khi bón qua gốc với nền phân: 30kgN + 90kgP 2 0 5 + 60kgK 2 0 +
Trang 32500kg vôi/ha kết hợp phun Molipdatnatri 0,05% qua lá vào các giai đoạn cây lạc được 4 lá thật, bắt đầu ra hoa và 70% số cây đâm tia quả xuống đất đã làm tăng hiệu quả sử dụng lân của cây lạc, do đó số lượng nốt sần hữu hiệu tăng và dẫn đến năng suất tăng 4,39 tạ/ha so đối chứng (phun nước) Đặc biệt hiệu quả khi trồng lạc trên đất nghèo dinh dưỡng
Còn theo Trịnh An Vĩnh (1995), nếu xét khía cạnh bền vững và lành mạnh môi trường thì phân vi sinh, phân hữu cơ bón lá và các phân tương tự khác cần được khuyến khích nghiên cứu và đưa vào sản xuất nông nghiệp có ý nghĩa lớn trong việc phát triển nông nghiệp bền vững
Trang 33PHẦN 3 VẬT LIỆU, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU
- Giống đậu tương D140
+ Nguồn gốc: Giống đậu tương D140 do nhóm TS Vũ Đình Chính (Bộ môn Cây công nghiệp, Học viện Nông Nghiệp Việt Nam) chọn tạo từ tổ hợp lai DL02 x DDH4 theo phương thức lai hữu tính và chọn lọc phả hệ, được công nhận giống quốc gia năm 2002
+ Đặc điểm hình thái: Thuộc dạng hình sinh trưởng hữu hạn, dạng cây đứng, lá có hình trứng nhọn, xanh đậm, hoa tím, vỏ quả chín nâu đậm, hạt vàng, rốn vàng Là giống thấp cây, phân cành mạnh
+ Đặc tính sinh học: Thời gian sinh trưởng trung bình, từ 90 – 92 ngày ở vụ xuân, 84 – 86 ngày trong vụ hè và vụ đông Giống có khả năng chống bệnh tốt, chống đổ khá
+ Phân bón sinh học Facorv:
* Do Công ty TNHH quốc tế Bình Sinh sản xuất theo công nghệ Isarel
* Đặc quyền phân phối: Công Ty Rồng Vàng đất Việt
* Thành phần:
- Dạng lỏng: N: 6%; P 2 O 5 : 6%; K 2 O: 6%; Ca: 0,1%; Mg: 0,2%; S: 0,05%; B: 200ppm; Zn: 500ppm; Mo: 50ppm; 16 acid amin sử dụng làm phân bón lá
- Dạng bột (hạt): N: 30%; P 2 O 5 : 9%; K 2 O: 9%; CaO: 1%; Bo: 0,2%; Zn: 0,01%; Fe: 0,008%; Cu: 0,05% sử dụng làm phân bón gốc
3.2 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN THÍ NGHIỆM
- Thí nghiệm được tiến hành tại khu thí nghiệm của khoa Nông học – Học Viện Nông nghiệp Việt Nam
Trang 34- Thí nghiệm được tiến hành trong vụ Đông năm 2015
Ngày gieo: 20/9/2015
Ngày thu hoạch: 20/12/2015
3.3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.3.1 Nội dung
- Ảnh hưởng của lượng photpho (P 2 O 5 ) bón gốc kết hợp phun Mo qua lá đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống đậu tương D140 trồng vụ Đông 2015 tại Gia Lâm – Hà Nội
- Ảnh hưởng của phân sinh học Facorv đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống đậu tương D140 trồng vụ Đông 2015 tại Gia Lâm – Hà Nội
3.3.2 Phương pháp nghiên cứu
a Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của lượng photpho (P 2 O 5 ) bón gốc kết hợp phun
Mo qua lá đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống đậu tương D140 trồng vụ Đông 2015 tại Gia Lâm – Hà Nội
Thí nghiệm gồm 4 công thức (CT) được bố trí trên nền phân bón (tính cho 1ha):
1 tấn phân HCVS + 40Kg N + 40Kg K 2 O/ha + phun Mo 0,05%
Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh RCBD, mỗi công thức được nhắc lại 3 lần, diện tích mỗi ô thí nghiệm là 5 m 2
Trang 35Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của phân sinh học Facorv đến sinh trưởng, phát
triển và năng suất của giống đậu tương D140 trồng vụ Đông 2015 tại Gia Lâm –
Hà Nội
Thí nghiệm gồm 4 công thức (CT) được bố trí trên nền phân bón (tính cho 1ha):
1 tấn phân HCVS + 40 kg N + 60 kg P 2 O 5 + 40 kg K 2 O / ha
+ CT1: Nền + Phun nước lã (Đối chứng)
+ CT2: ½ Nền + 10 kg Facorv bón gốc/ha + Phun nước lã
+ CT3: ½ Nền + phun Facorv 0,2%
+ CT4: ½ Nền + 10 kg Facorv bón gốc /ha + Phun Facorv 0,2%
Phân sinh học Facorv bón gốc trước khi trồng Các chế phẩm trên được phun ở 3 thời kỳ: Phân cành, bắt đầu ra hoa, sau tắt hoa 10 ngày
Lượng phun: 280 lit/ha (lúc cây phân cành); 420 lit/ha (lúc cây bắt đầu ra hoa) và 560 lit/ha (sau 10 ngày tắt hoa)
Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh RCBD, mỗi công thức được nhắc lại 3 lần, diện tích mỗi ô thí nghiệm là 5 m 2
Trang 36Sơ đồ thí nghiệm:
b Các chỉ tiêu theo dõi
• Các chỉ tiêu về sinh trưởng và phát triển của cây đậu tương
+ Động thái tăng trưởng chiều cao (cm): mỗi ô thí nghiệm theo dõi 5 cây định kỳ 7 ngày theo dõi 1 lần Đo từ đốt 2 lá mầm đến đỉnh sinh trưởng ngọn
Σ chiều cao các cây (cm)
Chiều cao cây trung bình ( cm/cây ) =
Σ cây theo dõi ( cây )
+ Động thái ra lá (số lá/cây): đếm số kép mở hẳn trên cây Mỗi ô thí nghiệm theo dõi 5 cây định kỳ 7 ngày đếm 1 lần
Σ Số lá các cây (lá)
Số lá trung bình / cây =
Σ cây theo dõi (cây)
+ Diện tích lá tính bằng phương pháp cân trực tiếp, mỗi ô thí nghiệm lấy 3 cây, cân toàn bộ lá tươi của 3 cây cân được trong lượng P1, cắt 1dm 2 phần giữa
lá cân được trọng lượng P2
P1 Diện tích lá (dm 2 / cây) =
Trang 37Số cây/m 2 x diện tích lá 1 cây Chỉ số diện tích lá (m 2 lá/m 2 đất) =
(LAI) 1 m 2 mặt đất
Theo dõi ở 3 thời kỳ: Bắt đầu ra hoa - quả non - quả mẩy
+ Sự phân cành (cành/cây): mỗi ô theo dõi 5 cây, đếm số cành trên cây định kỳ 7 ngày 1 lần
Σ số cành các cây (cành)
Số cành trung bình/ cây =
Σ cây theo dõi (cây) + Sự hình thành nốt sần: lấy mẫu theo phương pháp ngẫu nhiên Mỗi ô thí nghiệm lấy 3 cây rửa sạch, đếm tổng số nốt sần và số nốt sần hữu hiệu
Theo dõi ở 3 thời kỳ: bắt đầu ra hoa – quả non – quả mẩy
Σ số nốt sần
Số nốt sần/ cây =
Σ số cây theo dõi
Σ số nốt sần hữu hiệu
Số nốt sần hữu hiệu (nốt/cây) =
Σ số cây theo dõi + Tích lũy chất khô: mỗi ô lấy 3 cây, rửa sạch, đem sấy ở 80 độ C đến khối lượng không đổi, sau đó đem cân Theo dõi ở 3 thời kỳ: bắt đầu ra hoa– quả non – quả mẩy
+ Sự ra hoa: Theo dõi ngày bắt đầu ra hoa và kết thúc ra hoa của mỗi ô thí nghiệm
Σ số hoa các cây
Số hoa/cây =
Σ số cây theo dõi
+ Hiệu suất quang hợp (HSQH): (g/m 2 lá/ngày đêm)
P 2 - P 1
HSQH =
1/2 ( L 1 + L 2 ) t
Trang 38Trong đó: P 1 , P 2 là trọng lượng chất khô theo dõi lần 1và lần 2 ( g )
L 1, L 2 là diện tích lá theo dõi lần 1và lần 2 ( m 2 )
t là thời gian giữa 2 lần lấy mẫu ( ngày đêm )
+ Chỉ số SPAD – Chỉ số diệp lục
Xác định bằng máy đo SPAD 502 Nhật Bản
Xác định ở hai thời kỳ : quả non và quả mẩy
• Chỉ tiêu về năng suất
Σ quả
+ Số quả trung bình/cây (quả/cây) =
Σ cây theo dõi
Σ quả chắc
+ Số quả chắc/cây =
Σ cây theo dõi
+ Tỷ lệ quả 1 hạt, 2 hạt, 3 hạt, 4 hạt (tính theo % so với quả chắc)
+ Khối lượng 1000 hạt (g)
+ Năng suất cá thể (g/cây)
+ Năng suất lý thuyết (tạ/ha) = Năng suất cá thể x mật độ x 10000 m 2
Năng suất ô thí nghiệm (kg)
+ Năng suất thực thu (kg/ha) = x 10000 m 2
- Lượng phân bón cho 1 ha:
Thí nghiệm 1: 1 tấn phân hữu cơ vi sinh + 40kg N + 30 đến 120 kg P 2 O 5 + 40kg K 2 O
Thí nghiệm 2: 1 tấn phân hữu cơ vi sinh + 40kg N + 60kg P 2 O 5 + 40kg K 2 O
Trang 39Với cách bón như sau:
+ Bón lót : 100% phân hữu cơ vi sinh + 100% P 2 O 5
+ Lần 2: sau lần 1 khoảng 15 ngày (2 tuần) kết hợp với vun cao chống đổ
- Tưới nước đảm bảo độ ẩm 70 – 80% để cây sinh trưởng và phát triển tốt
- Phòng trừ sâu bệnh: 4 lần
+ Lần 1: Phun thuốc trừ sâu đục thân (Ophiomyza phaseoli) – Sử dụng
Vibasu 40EC 1,5 – 2 lit/ha; pha 20 – 25 ml/bình 8 lit
+ Lần 2: Phun thuốc trừ giòi đục lá (Phytomyza atricornis) – Sử dụng
Fastac 5EC 0,8 – 1 lit/ha; pha 10 – 15 ml/bình 8 lit
+ Lần 3: Phun thuốc trừ sâu cuốn lá ( Luaprosena indiedra ) – Sử dụng Bulldock 25 EC 0,8 – 1 lit/ha; pha 10 – 15 ml/bình 8 lit
+ Lần 4: Phun thuốc trừ sâu đục quả (Etiella zinckenella Treit ) – Sử dụng Fastac 5EC 0,8 – 1 lit/ha; pha 10 – 15 ml/bình 8 lit
Trang 40PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 ẢNH HƯỞNG CỦA LƯỢNG PHOTPHO (PHÂN LÂN) BÓN GỐC
KẾT HỢP PHUN MO QUA LÁ ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CỦA GIỐNG ĐẬU TƯƠNG D140 TRỒNG VỤ ĐÔNG 2015 TẠI GIA LÂM – HÀ NỘI
4.1.1 Ảnh hưởng của photpho và Molipden đến động thái tăng trưởng chiều cao cây đậu tương giống D140
Chiều cao thân chính là một trong những chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh trưởng phát triển, khả năng chống đổ cũng như các chỉ tiêu liên quan đến năng suất của đậu tương Thân có chức năng quan trọng như: chống đỡ, dẫn truyền nước và chất khoáng từ rễ lên các bộ phận trên mặt đất của cây như thân, lá, hoa, quả… và dẫn truyền các chất nhựa luyện từ lá đến các nơi tiêu thụ Động thái tăng trưởng chiều cao cây một mặt phụ thuộc vào bản chất di truyền của giống, mặt khác phụ thuộc vào các điều kiện ngoại cảnh như chế độ ánh sáng, nhiệt độ và điều kiện canh tác như chế độ dinh dưỡng, mật độ gieo trồng Trong quá trình sinh trưởng, phát triển thì chiều cao cây có quan hệ chặt chẽ với tốc độ ra lá, khả năng phân cành, phân đốt hữu hiệu, hoa hữu hiệu trên cây Tuy nhiên, nếu tăng trưởng quá mạnh hoặc quá yếu đều làm mất cân đối sinh trưởng sinh dưỡng
và sinh trưởng sinh thực, làm ảnh hưởng không tốt đến sinh trưởng, phát triển, sự phân hóa mầm hoa và hình thành quả, năng suất của đậu tương sau này Chiều cao cây hợp lý sẽ làm tăng khả năng chống đổ của cây, từ đó tăng diện tích quang hợp và là tiền để tăng năng suất sau này
Do chiều cao thân chính của đậu tương chịu ảnh hưởng bởi điều kiện canh tác, chế độ chăm sóc nên khi ta sử dụng bất kỳ một biện pháp kỹ thuật nào tác động đều làm thay đổi chiều cao thân chính theo những chiều hướng khác nhau Cùng một giống đậu tương D140 được gieo trồng với mật độ như nhau, chế độ chăm sóc như nhau trên cùng một nền phân bón nhưng khi sử dụng phương pháp bón phân bổ sung khác nhau trên các công thức ở các lần nhắc lại trong điều kiện
vụ Đông tại đất Gia Lâm – Hà Nội cho thấy có sự khác nhau về sự tăng trưởng chiều cao thân chính Chúng tôi thu được kết quả trình bày ở bảng 4.1