HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM NGUYỄN HỮU ĐỒNG THÀNH PHẦN SÂU MỌT HẠI NGUYÊN LIỆU THUỐC BẮC NHẬP KHẨU QUA CỬA KHẨU CHI MA, LẠNG SƠN NĂM 2015; ĐẶC ĐIỂM SINH VẬT HỌC, SINH THÁI HỌC CỦA L
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN HỮU ĐỒNG
THÀNH PHẦN SÂU MỌT HẠI NGUYÊN LIỆU THUỐC BẮC NHẬP KHẨU QUA CỬA KHẨU CHI MA, LẠNG SƠN NĂM 2015; ĐẶC ĐIỂM SINH VẬT HỌC, SINH THÁI HỌC CỦA
LOÀI ARAECERUS FASCICULATUS (DEGEER)
(COLEOPTERA: ANTHRIBIDAE)
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Hữu Đồng
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được rất nhiều sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của cơ quan, các thầy cô, bạn bè và người thân Trước tiên, tôi xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới Cô giáo PGS TS Hồ Thị Thu Giang – Trưởng Bộ môn Côn trùng – Khoa Nông học – Học viện nông nghiệp Việt Nam đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành bản luận văn này
Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ của tập thể các thầy, cô giáo bộ môn Côn trùng – Khoa Nông học, Ban quản lý đào tao Học viện nông nghiệp Việt Nam đã giúp đỡ và tạo điều kiện tốt cho tôi trong suốt quá trình học tập
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến sự giúp đỡ nhiệt tình của Ban lãnh đạo và tập thể cán bộ Chi cục Kiểm dịch thực vật vùng 7– Cục Bảo vệ thực vật đã động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khóa học và thực hiện đề tài nghiên cứu Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn của mình đến tất cả bạn bè, người thân và gia đình đã luôn động viên giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn này
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Hữu Đồng
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục bảng v
Danh mục hình vi
Trích yếu luận văn vii
Thesis abstract ix
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 2
1.4 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
Phần 2 Tổng quan tài liệu 3
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3
2.2 Những nghiên cứu khoa học 4
2.2.1 Những nghiên cứu nước ngoài 4
2.2.2 Những nghiên cứu trong nước 12
Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 18
3.1 Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu 18
3.2 Vật liệu nghiên cứu 18
3.3 Nội dung nghiên cứu 18
3.4 Phương pháp nghiên cứu 18
3.4.1 Phương pháp điều tra thành phần sâu mọt hại trên nguyên liệu thuốc bắc nhập khẩu 18
3.4.2 Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái học loài Araecerus fasciculatus Degeer trên mặt hàng nguyên liệu thuốc bắc nhập khẩu 21
3.4.3 Thử nghiệm biện pháp phòng trừ trong phòng thí nghiệm 25
3.5 Phương pháp xử lý mẫu vật 3.6 Phương pháp xử lý số liệu 27
Phần 4 Kết quả và thảo luận 28
Trang 54.1 Thành phần sâu mọt hại nguyên liệu thuốc bắc nhập khẩu qua cửa khẩu
Chi Ma, Lạng Sơn và trong kho bảo quản các hộ kinh doanh 28
4.1.1 Thành phần sâu mọt hại trên nguyên liệu thuốc bắc nhập khẩu tại cửa khẩu Chi Ma, Lạng Sơn năm 2015 28
4.1.2 Thành phần sâu mọt hại nguyên liệu thuốc Bắc trong kho bảo quản của các hộ kinh doanh tại Lạng Sơn năm 2015 31
4.2 Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học và sinh thái học của loài mọt Araecerus fasciculatus Degeer 40
4.2.1 Nghiên cứu đặc điểm hình thái của mọt Araecerus fasciculatus Degeer 40
4.2.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh học của loài mọt Araecerus fasciculatus Degeer 44
4.2.3 Nghiên cứu mức độ gây hại của loài Araecerus fasciculatus Degeer 49
4.2.4 Nghiên cứu đặc điểm sinh thái học của loài mọt Araecerus fasciculatus Degeer 51
4.3 Thử nghiệm một số biện pháp phòng trừ loài mọt Araecerus fasciculatus Degeer 56
4.3.1 Thử nghiệm bằng thuốc xông hơi Phostoxin 56
4.3.2 Thử nghiệm bằng thuốc xông hơi Methyl Bromide 58
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 60
5.1 Kết luận 60
5.2 Kiến nghị 60
Tài liệu tham khảo 62
Phụ lục 67
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1 Thành phần sâu mọt hại nguyên liệu thuốc bắc nhập khẩu từ Quảng
Đông, Trung Quốc tại cửa khẩu Chi Ma, Lạng Sơn năm 2015 29 Bảng 4.2 Thành phần sâu mọt hại nguyên liệu thuốc bắc nhập khẩu từ An Huy,
Trung Quốc tại cửa khẩu Chi Ma, Lạng Sơn năm 2015 30 Bảng 4.3 Thành phần sâu mọt hại nguyên liệu thuốc Bắc trong kho bảo quản
của các hộ kinh doanh tại Lạng Sơn 33
Bảng 4.4 Kích thước các pha phát dục của mọt Araecerus fasciculatus Degeer 40 Bảng 4.5 Thời gian phát dục của mọt Araecerus fasciculatus Degeer ở 2 mức
nhiệt độ khác nhau 44
Bảng 4.6 Ảnh hưởng của thức ăn khác nhau đến sức sinh sản của mọt Araecerus
fasciculatus Degeer 46
Bảng 4.7 Ảnh hưởng của các loại thức ăn khác nhau đến tỷ lệ sống sót các pha
trước trưởng thành của mọt Araecerus fasciculatus Degeer 48
Bảng 4.8 Ảnh hưởng của các loại thức ăn đến sự gia tăng mật độ của loài mọt
Araecerus fasciculatus Degeer 49
Bảng 4.9 Mức độ gây hại của Araecerus fasciculatus Degeer trên ba loại thức
ăn khác nhau 50
Bảng 4.10 Mật độ mọt Araecerus fasciculatus Degeer trên các loại nguyên liệu
thuốc bắc nhập khẩu từ An Huy, Trung Quốc qua của khẩu Chi Ma, Lạng Sơn năm 2015 53
Bảng 4.11 Mật độ mọt Araecerus fasciculatus Degeer trên các loại nguyên liệu
thuốc bắc nhập khẩu trong kho lưu trữ 55
Bảng 4.12 Hiệu lực phòng trừ mọt Araecerus fasciculatus Degeer của thuốc
Phostoxin 56% ở các liều lượng khác nhau 57
Bảng 4.13 Hiệu lực phòng trừ mọt Araecerus fasciculatus Degeer của thuốc
Methyl Bromide 58
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1 Mọt cà phê Araecerus fasciculatus Degeer 34
Hình 4.2 Mọt thuốc lá Lasioderma serricorne Fabricius 35
Hình 4.3 Mọt đậu xanh Callosobruchus chinensis Linnaeus 35
Hình 4.4 Mọt thuốc bắc Stegobium panicerum Linnaeus 36
Hình 4.5 Mọt đậu đỏCallosobruchus maculatus Fabricius 36
Hình 4.6 Mọt khuẩn đen nhỏ Alphitobius laevigatus Fabricius 36
Hình 4.7 Mọt gạo Sitophilus oryzae Linnaeus 37
Hình 4.8 Mọt đục hạt nhỏ Rhizopertha dominica Fabricius 37
Hình 4.9 Mọt thóc đỏ Tribolium castaneum Herbst 38
Hình 4.10 Mọt gạo dẹt Ahasverus advena Waltl 38
Hình 4.11 Mọt râu dài Cryptolestes minutus Olvo 38
Hình 4.12 Mọt thòi đuôi điểm vàng Carpophilus hemipterus Linnaeus 39
Hình 4.13 Mọt răng cưa Oryzaephilus surinamensis Linnaeus 39
Hình 4.14 Đặc điểm hình thái các pha sâu non của mọt Araecerus fasciculatus Degeer 42
Hình 4.15 Đặc điểm sinh hình thái pha nhộng của loài Araecerus fasciculatus Degeer 42
Hình 4.16 Đặc điểm hình thái pha trưởng thành của loài Araecerus fasciculatus Degeer 43
Hình 4.17 Ảnh hưởng của yếu tố thức ăn đến nhịp điệu sinh sản của mọt Araecerus fasciculatus Degeer 47
Hình 4.18 Mật độ mọt Araecerus fasciculatus Degeer trên các loại nguyên liệu thuốc bắc nhập khẩu từ Quảng Đông, Trung Quốc qua của khẩu Chi Ma, Lạng sơn năm 2015 52
Hình 4.19 Diễn biến mật độ mọt Araecerus fasciculatus Degeer trên các loại nguyên liệu thuốc bắc nhập khẩu trong kho lưu trữ hộ kinh doanh tại Lạng Sơn năm 2015 56
Trang 8TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Nguyễn Hữu Đồng
Tên Luận văn: Thành phần sâu mọt hại nguyên liệu thuốc bắc nhập khẩu qua cửa khẩu
Chi Ma, Lạng Sơn năm 2015; đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của loài Araecerus
fasciculatus (Degeer) (Coleoptera: Anthribidae)
nắm được một số đặc điểm sinh học, sinh thái của mọt Araecerus fasciculatus Degeer
Từ đó đề xuất biện pháp quản lý hạn chế sự du nhập, lây lan của dịch hại quan trọng trên nguyên liệu thuốc bắc nhập khẩu từ Trung Quốc về Việt Nam qua cửa khẩu Chi
Ma, Lạng Sơn
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu trên đối tượng mọt Araecerus fasciculatus Degeer Điều tra xác định
thành phần sâu mọt nhập khẩu tại Lạng Sơn được tiến hành theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia : QCVN 01- 141: 2013/BNNPTNN về phương pháp lấy mẫu Kiểm dịch thực vật
Đặc điểm sinh học, sinh thái của mọt cà phê Araecerus fasciculatus Degeer theo
David Rees (2007), Ardakani (2014), Rejesus (2014)
Thử nghiệm biện pháp phòng trừ trong phòng thí nghiệm theo các tiêu chuẩn quốc gia QCVN 01-19: 20.103 / BNNPTNT
Kết quả chính và kết luận
Thành phần sâu hại trên nguyên liệu thuốc bắc nhập khẩu từ Quảng Đông, Trung Quốc gồm 11 loài Trên lô hàng từ An Huy, Trung Quốc ghi nhận được 8 loài Thành phần sâu hại trên nguyên liệu thuốc bắc ở các kho lưu trữ của các hộ kinh doanh ở Lạng
Sơn ghi nhận 12 loài Trong đó mọt Araecerus fasciculatus Degeer là loài xuất hiện với
mức độ phổ biến nhất
Vòng đời của loài mọt Araecerus fasciculatus Degeer ở nhiệt độ 25oC trung bình
là 34,82±2,55 ngày và ở nhiệt độ 30oC trung bình là 30,43±1,82 ngày)
Tổng số trứng đẻ trung bình của một trưởng thành cái cao nhất là 114,53±7,56 quả/cái khi được nuôi với thức ăn là Hoài Sơn và có sự sai khác có ý nghĩa về sức sinh
Trang 9sản khi thức ăn là Đương Quy và Bạch Truật
Nhịp điệu sinh sản cảu mọt Araecerus fasciculatus Degeer không chịu ảnh hưởng cảu các loại thức ăn Mọt Araecerus fasciculatus Degeer trưởng thành đều sinh sản
mạnh vào ngày thứ 1-3 sau vũ hóa và đỉnh cao số trứng đẻ cao nhất vào ngày thứ 3 sau
vũ hóa và từ ngày thứ 4 trở đi số lượng trứng thu được một ngày/cái bắt đầu giảm và không đồng đều, đến ngày thứ 46 là kết thúc đẻ trứng
Tại thời điểm 120 ngày thí nghiệm, mật độ mọt nuôi trên Hoài Sơn là 144,33±4,04 con/kg, Đương Quy là 121,67± 7,64 con/kg, Bạch Truật là 119,67±6,11 con/kg
Với thời gian lưu trữ từ 60- 120 ngày thì tỷ lệ hao hụt dao động từ 31,53- 59,00% với Hoài Sơn, từ 15,33- 38,00% với Đương Quy và từ 14,60- 30,27% Bạch Truật
Phostoxin có hiệu quả cao trong việc tiêu diệt mọt Araecerus fasciculatus
Degeer ở liều lượng 2g/m3 trong 72 giờ ủ thuốc
Metyl bromide có hiệu quả cao trong việc tiêu diệt mọt Araecerus fasciculatus
Degeer ở liều lượng 24g/m3 trong 72 giờ ủ thuốc
Trang 10THESIS ABSTRACT
Master candidate: Nguyen Huu Dong
Thesis title: Composition of insects on medicinal herbs imported at Chi Ma border
gate, Lang Son province in 2015; Biological, ecological characteristics Araecerus
fasciculatus (Degeer) (coleoptera: anthribidae)
Major: Plant protection Code: 60 62 01 12
Education organization:: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)
Materials and Methods:
-Monitoring the composition of insect pests on medicinal herbs importing from diferent province of China throught Lang Son, Vietnam was according to the national standard by QCVN 01 - 141: 2013 / BNNPTNT
-Biological, ecological characteristics of Araecerus fasciculatus Degeer
according to David Rees (2007), Ardakani (2014), Rejesus (2014)
-Control measures test in the laboratory on Araecerus fasciculatus Degeer
according to the national standard by QCVN 01 - 19: 2013 / BNNPTNT
Main findings and conclusions:
- The composition of stored insect pests on medicinal herbs imported at Chi Ma border gate, Lang Son includes 11 species from Guangdong China Medicinal herbs merchandise from Anhui China were collected 8 species The composition of stored insect pests on medicinal herbs at houldhold business houseware includes 12 species
Araecerus fasciculatus Degeer were the most common species
The life cycle of Araecerus fasciculatus Degeer at 25oC and 30oC was 34.82±2.55 days and 30.43±1.82 days respectively.Mean total fecundity per female was
significantly higher when Araecerus fasciculatus Degeer fed by Dioscorea hamiltonii
The mean total number of eggs laid by individual female was 114.53±7.56 eggs However were not significantly different in fecundity by effects of the different host
Trang 11plant Angelica sinensis and Atractylodes macrocephala
Number of eggs laid/female/day decline as females aged The ovipositional peak occurred at 1 st to 3 rd after emergence
At 120th day after exposed Araecerus fasciculatus Degeer, density of Araecerus
fasciculatus Degeer fed by Dioscorea hamiltonii were 144.33±4.04 individual/kg, by Angelica sinensis were 121.67± 7.64 individual/kg, by Atractylodes macrocephala were
119.67±6.11 individual / kg
Damage on stored products after 60-120 days of stored, the percentage weight
loss caused by Araecerus fasciculatus Degeer from 31.53 to 59.00 % of host plant
Dioscorea hamiltonii, 15.33 to 38.00% of Angelica sinensis and 14.60 to 30.27% of Atractylodes macrocephala
Application of phosphine and use of the treated medicinal herbs with Araecerus
fasciculatus Degeer was 72 hours exposure at 2g/m3 Metyl bromide use of the treated
medicinal herbs with Araecerus fasciculatus Degeer was 72 hours exposure at 24g/m3
Trang 12PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Y học cổ truyền Việt Nam đã có lịch sử phát triển lâu đời và đó đạt được những thành quả to lớn trong việc bảo vệ sức khoẻ của nhân dân Thuốc dùng trong Y học cổ truyền thường bao gồm thuốc Nam và thuốc Bắc Thuốc Bắc ngoài việc có tác dụng chữa bệnh rất tốt mà còn có tác dụng tăng cường sức khoẻ, sức đề kháng của cơ thể Nguyên liệu thuốc Bắc nhập khẩu vào Việt Nam chủ yếu từ Trung Quốc Lượng nguyên liệu thuốc Bắc nhập khẩu qua các cửa khẩu Lạng Sơn , theo số liệu báo cáo hàng năm của Chi cục kiểm dịch thực vật vùng 7- Cục Bảo vệ thực vật như sau : năm 2012: 16.623,704 tấn; năm 2013: 17.151,693 tấn; năm 2014: 19.842 tấn; sáu tháng đầu năm 2015 là 8.853,52 tấn Qua công tác điều tra thành phần dịch hại hại trên các lô hàng nguyên liệu thuốc Bắc nhập khẩu qua các năm gần đây thì một trong những nhóm gây hại có nguy cơ làm ảnh hưởng rõ rệt nhất tới sự tổn thất là do nhóm côn trùng hại gây ra
trong số đó có loài Araecerus fasciculatus Degeer xuất hiện ở mức độ phổ biến
qua các các đợt nhập khẩu nguyên liệu thuốc bắc tại của khẩu Chi Ma, Lạng Sơn
Mục tiêu của công tác Kiểm dịch thực vật là ngăn chặn sự lây lan của các loài dịch hại (sâu, bệnh, cỏ dại, tuyến trùng…) nguy hiểm theo hàng hoá trong quá trình xuất nhập khẩu để bảo vệ tốt nền sản xuất trong nước, đảm bảo uy tín chất lượng sản phẩm hàng hoá Việt Nam trên trường quốc tế, tránh thiệt hại cho người sản xuất, kinh doanh, người tiêu dùng, bảo vệ môi trường sinh thái và sức khoẻ của con người Trong công tác Kiểm dịch thực vật, việc điều tra thành phần, nghiên cứu đặc điểm hình thái, đặc tính sinh học của các loài dịch hại chủ yếu là công việc rất cần thiết, giúp cho việc phát hiện và xử lý kịp thời, nhanh chóng, chính xác sinh vật gây hại nói chung, côn trùng nói riêng, là cơ sở khoa học để phân tích đánh giá và quản lý dịch hại trên hàng nông sản nhập khẩu vào Việt Nam Để góp phần đáp ứng yêu cầu của khoa học và thực tiễn, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
"Thành phần sâu mọt hại nguyên liệu thuốc bắc nhập khẩu qua cửa khẩu Chi Ma, Lạng Sơn năm 2015; đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của loài Araecerus fasciculatus (Degeer) (Coleoptera: Anthribidae)
Trang 131.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Xác định thành phần sâu mọt gây hại trên mặt hàng nguyên liệu thuốc bắc nhập khẩu qua cửa khẩu Chi Ma - Lạng Sơn, đi sâu nghiên cứu một số đặc điểm
sinh học, sinh thái của loài Araecerus fasciculatus Degeer từ đó đề xuất biện
pháp quản lý dịch hại có nguy cơ theo hàng nguyên liệu thuốc Bắc nhập khẩu từ Trung Quốc qua cửa khẩu Lạng Sơn
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
+ Mặt hàng thực vật điều tra: Nguyên liệu thuốc bắc nhập khẩu (Hoài Sơn, Đương Quy, Bạch Truật);
+ Loài mọt Araecerus fasciculatus Degeer
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
+ Điều tra thành phần sâu mọt hại trên nguyên liệu thuốc bắc nhập khẩu
từ Trung Quốc qua cửa khẩu Chi Ma và trong các kho bảo quản của các hộ kinh doanh tại Lạng Sơn;
+ Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái của loài Araecerus
fasciculatus Degeer
+ Thử nghiệm phòng trừ sâu mọt hại nguyên liệu thuốc bắc bằng thuốc Phosphine và Methyl Bromide, tại phòng kỹ thuật Chi cục Kiểm dịch thực vật vùng 7- Lạng Sơn
1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
- Cung cấp dẫn liệu về mức độ phổ biến của sâu mọt hại nguyên liệu thuốc bắc nhập khẩu qua cửa khẩu Chi Ma, Lạng Sơn Nhằm phát hiện kịp thời loài sâu mọt thuộc danh mục đối tượng Kiểm dịch thực vật của Việt Nam, đối tượng phải kiểm soát và sinh vật gây hại lạ
- Cung cấp thêm một số dẫn liệu về đặc điểm sinh học, sinh thái của loài
Araecerus fasciculatus Degeer trên mặt hàng nguyên liệu thuốc bắc nhập khẩu
Trang 14PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
Những cây thảo dược là một nguồn thuốc tự nhiên rất quý Trong các bữa ăn hàng ngày có thể chế biến thành nhiều món ăn từ thực vật như một vị thuốc rất tốt cho cơ thể Ngày nay thuốc bắc được nghiên cứu và sử dụng trong việc chữa trị, ngăn chặn bệnh ung thư Theo số liệu thống kê của Bộ y tế (2003) đã được công bố có khoảng hơn 400 loài cây thuốc bắc liên quan đến chữa bệng ung thư
Nhờ sự phát triển nhanh chóng và ứng dụng các thiết bị công nghệ hiện đ ại, những thành phần hoạt tính tự nhiên của cây thuốc có tiềm năng chữa bệnh ung thư đã được phân tích và xác định (Bộ y tế, 2003)
Những thành phần hoạt tính cơ bản nhất bao gồm: sesquiterpenes, diterpenes, triterpenes, alkloids, lignans, flavonoids, tannins, stilbenes, curcuminoids, polysaccharides (Bộ y tế, 2003)
Nhu cầu sử dụng cây thuốc ngày càng tăng trong công tác chăm sóc sức khoẻ của nhân dân, bên cạnh việc chăm sóc và đ iều trị của nền y học hiện đại Nền y học cổ truyền có công đóng góp rất lớn Muốn chữa bệnh bằng y học cổ truyền có hiệu quả, ngoài những nguồn dược liệu quý hiếm sẵn có trong nước, chúng ta vẫn cần phải sử dụng những dược liệu quý hiếm nhập khẩu từ nước ngoài Do đó hàng năm chúng ta vẫn phải nhập khẩu một lượng lớn các nguyên liệu thuốc bắc
Theo Arbogast et al (2002a) Hiện nay nhiều người dân Mỹ đã sử dụng
và rất ưa chuộng thảo dược, vì thảo dược ít gây ra những phản ứng phụ
Sự giao lưu hàng hóa nói chung và sản phẩm nông nghiệp nói riêng trên thế giới đã trở nên phổ biến, nên sinh vật gây hại thực vật trên sản phẩm thực vật xâm nhập vào trong nước là một điều khó tránh khỏi Chúng là mối quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam Vấn đề dịch hại ngoại lai gây sự chú ý rất lớn đến công tác KDTV, được nhiều quốc gia quan tâm, như : Úc, Newzeland, Mỹ, Nhật…Các quốc gia này đã thực hiện theo chế độ KDTV toàn bộ, các loài sinh vật còn sống đều không được nhập vào Các mặt hàng thực vật khi nhập vào nếu có sinh vật gây hại đều phải xử lý bằng biện pháp khử trùng xông hơi thuốc hoá học Nếu không thực hiện tốt công tác
Trang 15KDTV, khi để lọt sâu hại còn sống đã tạo nên những dịch hại nguy hiểm cũng
như gây thiệt hại đáng kể cho nền sản xuất nông nghiệp và ảnh hưởng lớn đến
nền kinh tế của các quốc gia đó
Một trong những nhóm sinh vật gây hại làm ảnh hưởng lớn nhất đến sự tổn
thất thường thấy là do côn trùng hay còn gọi là sâu mọt gây ra Sâu mọt gây hại
mang tính tiềm ẩn chúng xuất hiện, phát triển và gây hại trong quá trình trồng trọt, vận chuyển, bảo quản, buôn bán và sử dụng Nguyên liệu thuốc bắc bị nhiễm
côn trùng do một số yếu tố sau:
- Côn trùng sinh sống trong các nguyên liệu thuốc bắc (có sẵn);
- Nguyên liệu thuốc bắc bị nhiễm côn trùng trong kho bảo quản, trong quá
trình vận chuyển, lưu thông…;
- Do phương tiện vận chuyển, trong quá trình xuất nhập khẩu đã sẵn có
(trong conteiner, hầu tàu, sàn xe, bao bì đóng gói…)
Bùi Công Hiển (1995) kết luận ở đâu có sự tồn trữ và lưu trữ, ở đó xuất
hiện các loài sinh vật gây hại Nhiều khi chỉ vài tuần, sinh vật gây hại đã xuất
hiện và phát triển thành quần thể với số lượng lớn Nó gây hại một phần hoặc
toàn bộ hàng hoá bảo quản trong kho
Đỗ Tất Lợi (2001) rằng cho: Người dân Trung Quốc với kinh nghiệm
trồng cây thuốc lâu năm đã áp dụng được nhiều biện pháp phòng trừ dịch hại, nó
có ý nghĩa trong việc giải quyết vấn đề " Dược liệu an toàn và hiệu quả"
2.2 NHỮNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
2.2.1 Những nghiên cứu nước ngoài
2.2.1.1 Thành phần sâu mọt gây hại thuộc diện kiểm dịch của các nước
Việc công bố những loài sinh vật thuộc dịch hại KDTV là một trong
những điều cần thiết đối với công tác quản lý xuất nhập khẩu hàng hoá thuộc
diện KDTV, do vậy các nước đã đề ra những quy định riêng của mình
Ở Trung Quốc đã đưa ra 4 3 9 loài sinh vật thuộc diện dịch hại
KDTV, trong đó có 148 loài côn trùng (China's Ministry of Agriculture, 2011)
Theo Russian Ministry of Agriculture (2014), Nga công bố 176 loài sinh
vật thuộc diện dịch hại KDTV, trong đó có 76 loài côn trùng
Thái Lan công bố: 369 loài sinh vật thuộc diện dịch hại KDTV, trong
đó có 79 loài côn trùng (Thailand’s Agriculture and Cooperatives, 2015)
Trang 16Offshore Pest Information System (OPIS) (2012) cho biết Mỹ đã công bố
451 loài sinh vật thuộc diện dịch hại KDTV, trong đó có 154 loài côn trùng
Ở mỗi quốc gia công tác KDTV còn có nhiệm vụ xác định những vùng có dịch hại nguy hiểm, từ đó đưa ra những quyết định cụ thể nhằm ngăn chặn, tránh để lây lan ra những vùng lân cận
Trung Quốc là nước có nền nông nghiệp rất phát triển Nền Y học cổ truyền đã có từ xa xưa, là nước sử dụng và xuất khẩu cây thuốc nhiều nhất trên thế giới
2.2.1.2 Nghiên cứu sâu mọt hại trong kho bảo quản
Semple et al.(1988) cho biết trên thế giới có khoảng trên 100 loài côn
trùng liên quan đến các sản phẩm bảo quản trong kho Trong đó bộ cánh cứng chiếm tỷ lệ 60% và bộ cánh vảy chiếm 8-10% Sâu mọt hại các sản phẩm được bảo quản gây ra thiệt hại khổng lồ cho các sản phẩm sau thu hoạch và hạt giống, các sản phẩm đóng gói kể cả các sản phẩm có nguồn gốc động vật và thực vật Bên cạnh việc gây thiệt hại khi sinh trưởng, chúng còn gây cảm giác kinh tởm, khó chịu và giận giữ cho người nhìn thấy chúng sinh trưởng trong các sản phẩm nói trên Tại những vùng trồng, cũng như các cây thuốc mọc hoang dại dễ bị dịch hại tấn công mạnh mẽ
Một số loài côn trùng quan trọng gây hại sản phẩm trong kho ở vùng nhiệt đới chủ yếu bộ cánh cứng và bộ cánh vảy, trong đó bộ cánh cứng bao gồm 13 loài thuộc 8 họ, còn bộ cánh vảy thuộc 4 loài của 2 họ
Cox and Simms (1978) khi điều tra sâu mọt hại bột đậu nành đã thu được
24 loài Ở nhiệt độ và độ ẩm tương đối thu được các loài chủ yếu : Ahasverus
advena, Crytoleste ferrugineus, Ephestia cautella, Ephestia tectus, Lasioderma serricorne, Plodia interpunctella, Ptinus tectus, Stegobium, Tinea columbariella, Tineola bisselliella, Tribolium castaneum và Trogoderma granarium
Cox and Simms (1978) cho biết sự hoạt động khác nhau của các loài
thuộc giống Tribolium, Tenebrio và Ephestia Chúng có tính thích nghi cao và
có thể tồn tại và sinh trưởng trong điều kiện khô hạn Đó cũng chính là lí do dẫn đến sự thất thoát và tiêu diệt của các loài khác Các loài thuộc giống trên phát triển mạnh với số lượng lớn lấn át các dịch hại khác, chúng tranh cướp nguồn thức ăn, gây hại cho con người và còn là tác nhân truyền bệnh cho cây trồng, vật nuôi và cả con người
Trang 17Bhadriraju and David (1996) đã thống kê được số lượng loài sâu mọt gây hại trong các kho bảo quản và dự trữ trên thế giới gồm 43 loài, trong đó có 19 loài gây hại chủ yếu và 24 loài gây hại thứ yếu
Số côn trùng hại kho thuộc bộ cánh cứng (Coleoptra) có khoảng 250.000 loài, trong đó có nhiều loài gây hại quan trọng Có khoảng 40 họ thuộc bộ cánh cứng có liên quan tới sản phẩm trong kho Có 14 loài sâu mọt hại trên sản phẩm dược liệu được bảo quản, trong đó có có 9 loài thuộc bộ cánh cứng và 3 loài thuộc bộ cánh vảy xuất hiện trong kho hàng thuộc tỉnh Berlin- Liên bang Đ ức Có 33 loài sâu mọt trên sản phẩm dự trữ của tư nhân, những loài sâu mọt phổ biến nhất trong kho dự trữ và trong kho hàng đó là: họ
ngài đêm (Ephestia elutella Hbn) và mọt thuốc bắc( Stegobium panoceum L)
(Bhadriraju and David, 1996)
Có hơn 1.000 loài bọ gặm nhấm được mô tả Phần đa là mọt đục thân gỗ
Nhưng có hai loài là mọt thực phẩm (mọt thuốc bắc- Stegobium panoceum L (được biết tới ở Anh là mọt bánh qui) và mọt thuốc lá Lasioderma serricorne F.)
Chúng tấn công các sản phẩm được bảo quản
Nhiệt độ, độ ẩm ảnh hưởng trực tiếp tới điều kiện sống của sâu mọt nói chung trong đó có mọt thuốc bắc và mọt thuốc lá
Cox and Simms (1978) đã chỉ ra có 24 loài côn trùng được tìm thấy trên bột đậu nành Khi độ ẩm đạt 70% và nhiệt độ 25oC hoặc 30oC là điều kiện tốt nhất để côn trùng sinh sống và trưởng thành
Khi so sánh ở hai mức độ ẩm , ở mức 80% các loài sâu mọt phát triển trên các loại thức ăn, còn ở mức 70% phát triển ít hơn Điều này có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của một số loài Đánh giá trên số lượng con trưởng thành và các pha Các loài có thể tấn công vào bột đậu nành và dược liệu ở trong
điều kiện nhiệt độ môi trường như: Stegobium panoceum, Ptinus tectus, Tineola
bisslliella, Ephestia cautella và Lasioderma serricorne (Cox and Simms, 1978)
Để thu thập côn trùng trên nông sản bảo quản, theo nghiên cứu tác giả
Morgan et al.(1998) đã tiến hành một thí nghiệm dùng bẫy sinh học áp dụng đơn
lẻ được sử dụng như là một phương pháp chuẩn mực kiểm tra sự phản ứng của sâu mọt đối với sức hấp dẫn mạnh của các chất thu hút côn trùng Trong đó mọt thuốc
bắc Stegobium panoceum được thí nghiệm, những yếu tố nghiên cứu là thời gian
thử nghiệm, kích thước miệng bẫy và kích thước khu vực thử nghiệm: là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến số lượng côn trùng thu được trên bẫy
Trang 182.2.1.3 Nghiên cứu về loài mọt Araecerus fasciculatus Degeer
Loài mọt Araecerus fasciculatus Degeer là dịch hại quan trọng có mặt ở
tất cả các nước vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, miền Trung và Nam Mỹ, châu Phi và châu Á, nơi hạt cà phê hoặc ca cao được trồng CABI (2014) Mọt
Araecerus fasciculatus Degeer có xuất xứ từ Ấn Độ rồi phát tán sang châu Âu và
Bắc Mỹ, chúng gây hại cả trong kho và ngoài đồng ruộng (dẫn theo Bùi Công Hiển, 1995)
*Phạm vi ký chủ và thiệt hại :
Theo David (2004) mọt Araecerus fasciculatus Degeer là loài gây hại
nguyên phát và là loài côn trùng phổ biến Đặc biệt ở những nước nhiệt đới chúng có thể tấn công trên nhiều loại hàng hóa bảo quản như: coca, cà phê, sắn
khô, ngô, hạt dẻ, khoai mỡ, tỏi, gừng Mọt Araecerus fasciculatus Degeer tấn
công trên một số loại quả như: na, chuối, cây bông Trong những nước có khí hậu
nhiệt đới thì mọt Araecerus fasciculatus Degeer là loài mọt chính gây hại trên
nông sản được bảo quản, chúng tấn công sản phẩm nông sản khi đang được làm khô Trưởng thành bay giỏi và thấy xuất hiện ở hàng hóa trước thu hoạch, thiệt
hại kinh tế của mọt Araecerus fasciculatus Degeer gây ra là rất lớn
Merdelyn and Ireneo (2011) chỉ ra rằng mọt Araecerus fasciculatus Degeer là
loài gây hại trên nhiều ký chủ khác nhau, đặc biệt là trên các sản phẩm trong kho như
cà phê và ca cao, tuy nhiên ở Philippines ghi nhận loài này gây hại trên quả đu đủ
Theo CABI (2014) thì mọt Araecerus fasciculatus Degeer là loài mọt gây
hại chủ yếu trên sản phẩm lưu trữ trong kho, mặc dù nó có thể tấn công quả cà
phê trong khi còn ở trên cây Mọt Araecerus fasciculatus Degeer có phổ ký chủ
Trang 19rộng và là dịch hại quan trọng trên cà phê, ca cao, sắn và thảo dược Tác động
kinh tế của Araecerus fasciculatus Degeer là đặc biệt nghiêm trọng trên quả cà
phê , đậu và hạt cacao nơi có điều kiện thuận lợi cho các loài côn trùng (tức là
nơi mà các hàng hóa có độ ẩm cao hơn 70-80%) Mọt Araecerus fasciculatus Degeer có thể làm thiệt hại nghiêm trọng cho nông sản ,thảo dược được bảo quản
trong kho
*Đặc điểm hình thái, sinh học của mọt Araecerus fasciculatus Degeer
Dennis (1983) chỉ ra rằng, trứng của loài này đẻ riêng lẻ từng quả, nhộng
được hình thành từ một vị trí nào đó trên hạt Trưởng thành của loài A
fasciculatus dài khoảng 3mm và có râu đầu đặc trưng Trưởng thành có khả năng
bay khỏe, ở Hồng Kông chúng có thể bay vào và gây hại trong kho tại thời điểm nhất định trong năm
Theo David (2004) mọt trưởng thành tròn, có chiều dài 3-5 mm Trên cánh cứng có vân là những chấm nâu tối xen lẫn các vạch màu sáng trông giống như kẻ ô vuông Cánh cứng ngắn không che phủ được đốt cuối cùng của bụng Râu gồm 11 đốt, ba đốt cuối cùng của râu phình to ra Sâu non có lông, chân không phát triển Trứng được đẻ dưới bề mặt lương thực bị tấn công Sâu non đục và phát triển trong nông sản dự trữ đến tận khi hóa trưởng thành Giai đoạn sâu non và nhộng phát triển hoàn toàn bên trong nông sản chúng phá hại, chỉ sau khi vũ hóa trưởng thành mới chui ra ngoài hoạt động giao phối và đẻ trứng Vòng đời của loài này kéo dài 22-66 ngày ở nhiệt độ 28-300C và ẩm độ lớn hơn 60%
Yamazaki and Sugiura (2004) cho rằng: Ở Nhật Bản, loài A fasciculatus
gây hại trên các sản phẩm lưu trữ trong kho như bông, cà phê, đậu, và đặc biệt
chúng ăn trên thân của giống cúc vàng Ambrosia trifida tại thành phố Osaka
Theo Mohamed and Sayed (2008) cho biết số lượng trứng đẻ của trưởng thành cái phụ thuộc vào ẩm độ Số lượng trứng đẻ tối đa là 25 trứng trên ngô ở
270C, ẩm độ 90-100% ở ẩm độ thấp hơn số lượng trứng đẻ là thấp hơn và khả năng phát triển thấp hơn
Nghiên cứu của Rejesus (2014) ghi nhận vòng đời của loài mọt Araecerus
fasciculatus Degeer kéo dài 85,062 ± 2,38 ngày trong đó: thời gian phát dục của
giai đoạn trứng là 4,656 ± 0,082 ngày; giai đoạn sâu non là 6,84 ± 0,027 ngày và thời gian sống là 82,82 ngày đối với trưởng thành đực và 87,3 ngày đối với trưởng thành cái Trứng của loài này được đẻ đơn lẻ, khoảng 2 trứng/ 1 ngày
Trang 20Thời gian tiền đẻ trứng kéo dài trung bình là 11,92 ± 0,545, gian đẻ trứng kéo dài trung binh là 30,5±1,6346 ngày Trưởng thành cái thích đẻ trứng trên sắn, ca cao,
cà phê và lạc
Theo CABI (2014) Trưởng thành của loài Araecerus fasciculatus Degeer
gây hại bên ngoài các nông sản dự trữ và có thể sống 17 tuần ở độ ẩm tối ưu là 80% Trưởng thành cái đẻ khoảng 50 trứng và thời gian phát dục của trứng khoảng 5-9 ngày Sâu non mới nở đục vào bên trong các hạt bảo quản Thời gian phát triển của sâu non khác nhau tùy thuộc đáng kể vào loại hàng hóa, thủy phần của hàng hóa và độ ẩm tương đối Trên ngô, thời gian phát triển của sâu non ở điều kiện tối ưu (27°C, 100% RH) là 29 ngày nhưng tăng lên 56 ngày khi độ ẩm
xuống 60% Trưởng thành cái của loài Araecerus fasciculatus Degeer ưu tiên tấn
công hạt ca cao ở thủy phần hạt từ 17 đến 20%, nhưng sẽ tấn công hạt khác ở
thủy phần thấp là 12% Araecerus fasciculatus Degeer tấn công đáng kể hạt cà
phê ở thủy phần 12-13% nhưng sâu non không thể sống sót trên hạt cà phê có thủy phần dưới 8% Sâu non hóa nhộng trong các sản phẩm bảo quản và giai đoạn nhộng kéo dài khoảng 8 ngày phụ thuộc vào độ ẩm
Ardrakani and Nasserzadeh (2014) đã thông báo loài mọt Araecerus
fasciculatus Degeer lần đầu tiên được phát hiện trên kho bảo quản hạt xoan rừng
(Melia azedarach L.) Mọt trưởng thành phát triển mạnh trên hạt được bảo quản
trong kho có độ ẩm 75% nhiệt độ 27oC Các pha phát dục tồn tại trên hạt bảo
quản khô qua năm Vòng đời của mọt Araecerus fasciculatus Degeer là 43 ngày
với điều kiện trong phòng thí nghiệm
2.2.1.4 Nghiên cứu về các biện pháp phòng trừ sâu mọt trong kho bảo quản
Một cách để khắc phục những tác hại của việc kiểm soát trong nông nghiệp dựa trên thuốc trừ sâu là dùng chất hoá học Đối với những pheromones, các chất này có thể áp dụng trong những cái bẫy để phát hiện và giám sát sự xuất hiện, phát sinh, phát tán của các loài sâu bọ Sự xuất hiện xác thực giúp ích cho thời gian phun thuốc trừ sâu, xác định lượng thuốc trừ sâu cần sử dụng và những nơi cần áp dụng Mục đích của công việc này là đưa ra một cách nhìn tổng tổng quát về những pheromonoes liên quan đến sâu bọ trên các sản phẩm tích trữ và sự tận dụng chúng trong việc kết hợp quản lý, phòng trừ sâu bọ
+ Hoạt tính của các chất pyrethroids tổng hợp được Digvir et al (1995)
cho biết: Các chất Allethrin, bioallethrin, resmethrin, bioresmethrin, cismethrin,
Trang 21tetramethrin cũng như các chất pyrethrin tự nhiên, fenitrothion, malathion được kiểm tra dựa trên mức độ tổn thương , sức đề kháng của sâu mọt trưởng thành khi chúng tấn công và phá hoại các sản phẩm trong kho Cismethrin là chất có khả năng hoạt động tốt nhất, được dùng hoặc kết hợp với các chất để
chống lại các loài sâu mọt: Tribolium castaneum, Lasioderma serricorne hoặc
Stegobium panoceum Có thể dùng dung dịch dầu lửa không mùi phun trực
tiếp để diệt Tribolium castaneum hiệu quả tiêu diệt sẽ tăng lên gấp khoảng 6,9
lần so với việc dùng pyrethrins, bioresmethrin
+ Hashem (2000) cho rằng: Nồng độ của khí CO2 chiếm trên 60% có thể kiểm soát được pha nhộng của đa số các loài côn trùng
+ K h i đ ánh giá việc xử lý sâu mọt g â y hại t r o n g k h o b ả o q u ả n bằng các khí độc, Hashem (2000) cho biết: Ở giai đoạn nhộng, trưởng thành
của Stegobium panoceum và Lasioderma serricorne dễ bị tác động bởi hỗn
hợp khí CO2, kết quả thí nghiệm với các nồng độ 20%, 30%, 40% và 60% Khi hàm lượng khí CO2 càng tăng dẫn đến hàm lượng khí O2 giảm, do đó sẽ dẫn đến tử vong của sâu mọt cao hơn
+ Khi sử dụng các chất hoá học để xử lý sâu mọt hại trong kho, có: Ba công thức aerosol hoặc ở nồng độ 0,75; 1 hay 1,5% prallethrin Như là một thành phần hoạt tính được sử dụng để kiểm tra trên 7 loài sâu mọt gây hại phổ biến nhất sống trên các sản phẩm tích trữ Khi dùng 0,2 gam nhôm (Al) để khử
trùng trên một thể tích 28,3 m3 sẽ tiêu diệt hết Cadrra cautella (Walker) và
Plodia interpunctella (Hubner) và có tới 99% Oryzaphilus surinamensis (L.), Trogoderma variabile (Ballion) và Tribolium castaneum (Herbst) đã trưởng
thành Cũng với một lượng 0,3 gam Al khi xử lý trên một thể tích 28,3 m3 tiêu
diệt tới 90% Stegobium panoceum (L.) đã trưởng thành Khi sử dụng tới 0,5 gam Al để xử lý trên một thể tích 28,3 m3 tiêu diệt gần 93% Tribolium
confusum (Duv) trưởng thành và gần73% số ấu trùng Attagenus megatoma bị
tiêu diệt Đánh giá tỷ lệ chết khi sử dụng Al xử lý hiệu quả rất cao Đối với những cá thể trưởng thành còn sót lại sau 1,2 hoặc 3 ngày sẽ bị tiêu diệt 100% Khả năng phòng trừ sâu mọt của 3 hợp chất1-(2.6-disubstitited- benzoyl)-3-phenylureas được đánh giá dựa trên số sâu mọt thuộc bộ cánh cứng hại sản phẩm trong kho dễ bị tổn thương và có sức kháng cự Những hợp chất đó là: DU 1911(1-(2,6-dichlorobenzoyl)-3-(4-chlorophenyl)-urea), PH60-38 (1-(2,6-
Trang 22dichlorobenzoyl)-3-(4-chlorophenyl)-urea, và PH60-40 (1- difluorobenzoyl)-urea) Nhận thấy hợp chất PH 60-40 được xem là hợp chất có
chlorophenyl)-3-(2,6-tác dụng nhất, dựa trên mức độ bị tiêu diệt của các loài Sitophilus granarius,
Sitophlus oryzae, Tribolium castaneum và Lasioderma serricorne Cả 3 hợp
chất trên đều không có hiệu lực tiêu diệt đối với Stegobium panoceum
Hạt lúa mì được phun PH60-40 với nồng độ 2; 5; 10 ppm sẽ có tác
dụng phòng chống được các loại Tribolium castaneum, Sitophilus granaries,
Oryzaephilus surinamensis và Sitophlusoryzae, Tribolium castaneum (Kuala
Lumpur strain) sau 40 tuần bảo quản ở nhiệt độ 20oC và sau 44 tuần bảo quản
ở nhiệt độ 35oC Hợp chất PH60-40 có khả năng an toàn khi sử dụng để bảo quản ngũ cốc Hợp chất này có tầm quan trọng trong việc thay thế các chất để bảo quản, đặc biệt ở những nơi mức độ sâu hại ngày càng tăng và khó khăn cho
sự kiểm soát
Rất nhiều các sản phẩm cất giữ trong kho bị các loài sâu mọt gây hại xâm nhập để ăn hoặc làm ô nhiễm Để hạn chế sự gây hại đó, điều cần thiết là phải phân loại, phát hiện và tiêu diệt các loài sinh vật gây hại sản phẩm đang trong quá trình bảo quản
Theo Paul and Noel (2002) Methyl bromide được sử dụng để xông hơi các nhà máy bột mì và thức ăn chăn nuôi, hầm tầu, các sản phẩm trái cây, ngũ cốc và cho các mục đích kiểm dịch chung Methyl bromide có tác dụng nhanh chóng trong vòng 48 giờ xử lý xông hơi Nó có tác động phổ rộng kiểm soát không chỉ các loài côn trùng mà còn các loài tuyến trùng và vi khuẩn gây bệnh cho thực vật Theo Zhao (2010) Phosphide đã được sử dụng rộng rãi trong lưu trữ ngũ cốc toàn cầu bởi vì nó có hiệu quả, dễ sử dụng, có sự thâm nhập mạnh mẽ và ít tốn kém Ở Trung Quốc để phục vụ việc dự trữ ngũ cốc , hàng năm tiêu thụ 2500 tấn phosphide, trong đó có 1000 tấn được áp dụng sử dụng cho máy đảo khí phosphide Mặc dù các loài sinh vật hại kháng phosphine ngày càng tăng, nhưng với sự kết hợp các biện pháp khác nhau với máy đảo khí, việc sử dụng phosphide vẫn đảm bảo hiệu quả diệt trừ sinh vật gây hại
Tiến hành xử lý mọt gây hại bằng phương pháp nhiệt Julius (2010) cho rằng các phương pháp vật lý đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát dịch hại cũng như phòng trừ sâu bệnh Phương pháp sấy nhiệt độ cao hiệu quả cho các nông sản có cấu trúc rỗng, tuy nhiên nó gây ảnh hưởng đến phẩm chất của
Trang 23sản phẩm Phương pháp đông lạnh ở nhiệt độ –180C là phương pháp tốt nhất để đảm bảo chất lượng sản phẩm, nhưng chi phí thực hiện cao và có nhiều yếu tố hạn chế Trong tương lai, quy trình kiểm soát dịch hại (sấy khô, xay, đùn) nên kết hợp với việc vô trùng, thông gió và khiểm soát nhiệt độ nhằm giữ cho sản phẩm có chất lượng cao nhưng vẫn đảm bảo kiểm soát hiệu quả dịch hại
Tiến hành xử lý sâu mọt gây hại bằng tia phóng xạ, Guy (2013) kết luận việc dùng tia phóng xạ có hiệu quả trong việc kiểm soát sinh vật gây hại trên nông sản bảo quản trong kho Mức độ hiệu quả khi xử lý mọt gây hại bằng
tia phóng xạ trong khoảng 0.05 kGy đối với Tenebrio molitor L đến 0.45 kGy đối với Sitotroga cereallella Ít nhất có 33 quốc gia cho phép xử lý một số các
sản phẩm nông sản lưu trữ trong kho bằng tia phóng xạ, trong đó có 14 nước cho phép xử lý toàn bộ nông sản lưu trữ trong kho bằng tia phóng xạ
2.2.2 Những nghiên cứu trong nước
2.2.2.1 Những nghiên cứu trong công tác kiểm dịch thực vật
Với chính sách mở cửa, việc buôn bán giữa Việt Nam với các nước ngày càng phát triển nên lượng hàng hoá thuộc diện KDTV nhập khẩu vào nước ta với số lượng ngày càng tăng, đa dạng về chủng loại, xuất xứ từ nhiều vùng lãnh thổ khác nhau trên thế giới
Theo thống kê của cơ quan KDTV: Hàng triệu tấn hàng thuộc diện KDTV nhập khẩu vào Việt Nam nhằm phục vụ sản xuất trong nước, mặt khác với chủ trương đi tắt đón đầu về công nghệ, đa dạng hoá cây trồng, chúng ta đã và đang tích cực đưa các loại giống cây trồng chủ đạo có năng xuất cao vào thay thế dần các giống cũ trong nước (Báo cáo Công tác Chi cục KDTV7) Các mặt hàng thuộc diện KDTV được nhập khẩu từ Trung Quốc vào nước ta khá lớn, nó cũng tạo điều kiện thuận lợi cho sınh vật gây hạı nói chung, sâu mọt gây hại nói riêng xâm nhập, lây lan
Những năm qua tình hình sınh vật gây hạı xuất hiện trên hàng nhập khẩu diễn biến tương đối phức tạp, thành phần rất đa dạng như nấm bệnh, côn trùng, cỏ dại, tuyến trùng, vi khuẩn, virus….Hầu hết các lô hàng nông sản đều bị nhiễm sınh vật gây hạı nhưng với mức độ và tính chất khác nhau, nguồn gốc
đa dạng phong phú
Việt Nam công bố: 114 loài sinh vật thuộc diện đối tượng KDTV trong
đó có 60 loài côn trùng
Trang 24Việc nghiên cứu thành phần sınh vật gây hạı nói chung và sâu mọt gây hại nói riêng trên các sản phẩm thuộc nông sản xuất nhập khẩu của ngành BVTV cho thấy: từ năm 1998 đến năm 2002: đã phát hiện hơn 40 loài côn trùng, gần 30 loài nấm bệnh, 58 loài cỏ dại, hàng chục loài tuyến trùng, vi khuẩn, vi rus là dịch hại thuộc đối tượng KDTV … Trong đó đã nhiều lần phát hiện dịch hại thuộc đối
tượng KDTV của Việt Nam Như : Radopholus similis; Ephilis oryzae;
Trogoderma granarium; Trogoderma inclusum; Spongospora subterranea; Lolium temulentum; Zabrotes subfasciatus; Acanthoscelides obtectus…(Cục
BVTV, 2002)
Đặc biệt năm 2002: Toàn ngành đã phát hiện 531 lần dịch hại thuộc đối tượng KDTV, một trong những dịch hại quan trọng đó là bệnh ghẻ bột khoai tây phát hiện tới 350 lần và 124 lần phát hiện Trogoderma inclusum, 53 lần phát hiện Trogoderma granarium…Trong những năm qua sınh vật gây hạı xuất hiện trên hàng thực vật nhập khẩu ngày càng tăng, đa dạng về loài; đặc biệt là các dịch hại thuộc đối tượng KDTV bị phát hiện gần 900 lần Chúng có nguồn gốc xuất xứ từ nhiều vùng lãnh thổ khác nhau trên thế giới Những dịch hại trên đã được xử lý triệt để tại các cửa khẩu …(Viện BVTV, 2008)
Việc phát hiện, nắm rõ thông tin khoa học và thành phần sınh vật gây hạı cũng như nguồn gốc xuất xứ của các lô vật thể thuộc diện KDTV làm cơ sở để phân tích, đánh giá nguy cơ dịch hại từ đó đề xuất những biện pháp xử lý và quản lý sınh vật gây hạı trên hàng nhập khẩu vào Việt Nam
2.2.2.2 Nghiên cứu về loài mọt Araecerus fasciculatus Degeer
Bùi Công Hiển (1995) cũng cho rằng thủy phần nông sản cũng có ảnh hưởng đến đời sống của mọt Qua theo dõi hai kho ngô ở Trùng Khánh (Cao
Bằng) vào tháng 7 năm 1969 là tháng mà mật độ mọt Araecerus fasciculatus Degeer khá cao thì thấy: cùng bảo quản thời gian như nhau (3 tháng), trong cùng một loại kho nhưng ở kho ngô có thuỷ phần 14,2% mật độ mọt Araecerus
fasciculatus Degeer trung bình là 16 con/kg, trong khi đó ngô có thuỷ phần
12,9% thì mật độ mọt Araecerus fasciculatus Degeer trung bình là 6 con/kg
Nguyễn Kim Vũ và cs (2003) đã điều tra thành phần và mức độ phổ biến của côn trùng hại kho trong bảo quản ngô tại vùng ngoại thành Hà Nội có
18 loài mọt thông thường gây hại chủ yếu thì loài Araecerus fasciculatus Degeer xuất hiện với tần suất lớn
Trang 25Kết quả nghiên cứu về các loài côn trùng gây hại trong kho ở Việt Nam
năm 2001-2002 của Hà Thanh Hương và cs (2004) ở 3 vùng sinh thái Đồng
bằng sông Hồng, Trung du và miền núi cho thấy: ở miền Bắc có 57 loài côn trùng gây hại được tìm thấy trên thóc, gạo, ngô, thức ăn chăn nuôi chúng thuộc
4 bộ với 28 họ khác nhau và 2 lớp Trong đó có 39 loài hại nguyên phát, 10 loài hại thứ phát, 5 loài ăn nấm, 2 loài ăn thịt và 1 loài ve bét Trong số 39 loài gây
hại nguyên phát, mọt A fasciculatus được tìm thấy trong ngô và kho thức ăn
chăn nuôi
Chu Thị Thơm và cs (2006) kết luận :Mọt Araecerus fasciculatus Degeer
gây hại chủ yếu trên cà phê, ngô, đậu , hạt bông, quả khô, ngô, khoai Mọt trưởng thành dài 2,5-4,5mm, thân hình trứng màu xám tro Râu màu nâu đỏ, nhỏ, dài, cuống rậm có 3 đốt rời rạc, râu 11 đốt hình sợi, đốt thứ 9-11 hình tam giác bằng
và dẹt Cuối bụng có mảnh hở nhỏ hình tròn có nhiều lông nhỏ màu xám trắng Mọt cái đẻ trứng ở phôi hạt, tối đa là 140 trứng Loài mọt này ưa hoạt động Sâu non nhỏ, màu trắng không có chân, có nhiều lông và nếp nhăn trên bề mặt
Theo Tạ Phương Thảo (2007) thì nhiệt độ có ảnh hưởng đến thời gian
phát dục của mọt Araecerus fasciculatus Degeer Vòng đời trung bình của mọt A
fasciculatus ở 25oC là 34,86 ngày dài hơn khi nuôi ở 30oC có vòng đời trung bình
là 31,56 ngày Khả năng sinh sản của mọt Araecerus fasciculatus Degeer ở
25oC (Tổng số trứng đẻ trung bình là 97,65 quả, số trứng đẻ/con cái/ngày là 2,37) ít hơn ở nhiệt độ 30oC (tổng số trứng đẻ trung bình là 106,83 quả; số trứng đẻ/ con cái/ngày là 2,78) Thời gian đẻ trứng ở nhiệt độ 25oC là 42,75 ngày dài hơn ở nhiệt độ 30oC là 38,50 ngày
Vũ Quốc Trung (2008) cho biết thức ăn có ảnh hưởng rất rõ rệt đến đời sống của mọt, trong điều kiện thức ăn thích hợp mọt thực hiện vòng đời ngắn, thời gian sống kéo dài, sức phá hoại lớn Các tác giả ngoài nước đã nghiên cứu cho thấy: ở 20oC và độ ẩm 80% thì thời gian thực hiện vòng đời, thời gian sống và thời gian phát triển số lượng gấp đôi (bắt đầu là 10 cặp) của loài
Araecerus fasciculatus Degeer ở các loại thức ăn khác nhau có thuỷ phần trung
bình là 13% là không giống nhau: ở thóc vòng đời là 102 ngày, thời gian sống 69-100 ngày; ở ngô hạt vòng đời là 41 ngày, thời gian sống 93-104 ngày ; ở lúa
mì là: vòng đời 86 ngày, thời gian sống 76-121 ngày; ở sắn vòng đời là 34 ngày, thời gian sống 90- 95 ngày Từ đó các tác giả kết luận, thức ăn thích hợp nhất của chúng là sắn lát
Trang 26Theo Bùi Công Hiển và cs (2014) mọt Araecerus fasciculatus Degeer gây
hại nhiều cho khoai, sắn lát ngô, lạc, tỏi và các loại dược liệu dạng củ như xuyên
khung, bạch chỉ, 22 huyền sâm, sinh địa
Vòng đời của mọt Araecerus fasciculatus Degeer gồm bốn pha phát dục
- Pha trưởng thành: cơ thể có chiều dài thân dao động từ 2,5-4,5 mm, có hình bầu dục, màu nâu xám hay màu xám tro, có phủ lông nhung màu vàng nâu đến đỏ nâu Râu tương đối dài có 11 đốt, nhỏ dài màu hung đỏ
- Pha trứng: có hình bầu dục, chiều dài khoảng 0,56 mm, màu trắng có ánh bóng
- Pha sâu non: khi sâu đẫy sức cơ thể nhỏ và có chiều dài thân từ 6mm, , mầu trắng sữa không có chân, nhiều lông và nếp nhăn trên bề mặt, đầu
4,5-và đuôi hướng về phía bụng nên hơi cong lại Đầu to hình tròn màu 4,5-vàng nhạt, miệng màu nâu đỏ
- Pha nhộng: chiều dài khoảng 5mm, màu vàng nhạt, toàn thân có lông nhỏ màu xám trắng Đầu và ngực rộng lớn, râu nhỏ và dài
Sâu non phát triển qua ba lần lột xác Pha sâu non và nhộng phát triển hoàn toàn trong vật chất và chúng gây hại và khi vũ hoá trưởng thành thì mới
chui ra ngoài hoạt động Mọt Araecerus fasciculatus Degeer ưa hoạt động thích
bay, bò và có thể nhảy rất nhanh Ở 20oC, trưởng thành đực sau vũ hóa 3 ngày và trưởng thành cái sau khi vũ hoá 4 ngày sẽ tiến hành giao phối và sau khi giao phối xong khoảng 30 phút thì trưởng thanh cái bắt đầu đẻ trứng Mỗi con cái đẻ tối đa 130-140 trứng
Nhiệt độ thích hợp để mọt Araecerus fasciculatus Degeer phát triển là 27-
32oC và độ ẩm tương đối đạt trên 60% và dưới 90% Một vòng đời được kéo dài khoảng 30-35 ngày
Thức ăn có ảnh hưởng rất rõ rệt đến đời sống của mọt, trong điều kiện thức ăn thích hợp mọt thực hiện vòng đời ngắn, thời gian sống kéo dài, sức phá hoại lớn
2.2.2.3 Nghiên cứu về các biện pháp phòng trừ sâu mọt trong kho bảo quản
Hiện nay trong bảo quản nông sản trong kho phòng trừ côn trùng là biện pháp cần thiết Trong đó trước hết là đề phòng côn trùng gây hại trong kho bằng cách: tiến hành biện pháp kiểm dịch chặt chẽ, thường xuyên điều tra phát hiện
Trang 27kịp thời sự xuất hiện gây hại của các loài côn trùng kho, thực hiện cách ly giữa các sản phẩm cũ và mới Sau đó là áp dụng các biện pháp diệt trừ như biện pháp vật lý, biện pháp xử lý nhiệt hay xông hơi khử trùng
Theo kết quả nghiên cứu của Cục bảo vệ thực vật (1999) thì thủy phần sản phẩm nông sản có liên quan đến thành phần và mật độ của mọt hại Ở những kho nông sản mới nhập, nông sản được phơi thật khô, thủy phần nông sản dưới 10% hầu như không tìm thấy mọt hại; tại các kho mà nông sản có thủy phần 10-12%
có tìm thấy vài cá thể trưởng thành của một số loài nhưng khi thủy phần sắn vượt quá 13% thì thành phần và mật độ các loài mọt rất cao Như vậy việc phơi nông sản thật khô, cất trữ ở các kho kín, cao ráo, không bị dột ướt để giữ được thủy phần nông sản dưới 13% có ý nghĩa trong việc hạn chế sự phát sinh gây hại của tập đoàn mọt
Cũng như các nước trên thế giới, thuốc hóa học sử dụng trong bảo quản kho tại Việt Nam cũng gồm 2 loại chính là Methyl bromide và Phosphine Kết quả nghiên cứu của Cục bảo vệ thực vật (1999) cho thấy thuốc xông hơi khử trùng nông sản bảo quản bằng Methyl bromide 35g/m3 và Aluminium phosphide 2g/m3 với quy trình khử trùng nghiêm túc thì có thể diệt triệt để pha trưởng thành
và sâu non các loài mọt
Hà Quang Hùng (2005) cho rằng: Quá trình quản lý sâu mọt gây hại phải kết hợp các biện pháp kỹ thuật một cách hiệu quả vừa đảm bảo vấn đề kinh tế, vừa đảm bảo ngăn chặn các sản phẩm khỏi sự xâm nhập của các loài gây hại nhằm đảm bảo cả về số lượng và chất lượng Việc kết hợp áp dụng các biện pháp bao gồm:
- Nâng cao chất lượng sản phẩm
- Chọn lựa các sản phẩm từ vùng không có các loài sinh vật gây hại
- Ngăn chặn sự tràn vào phá hoại trong quá trình vận chuyển, cất giữ
và bảo quản
- Sử dụng biện pháp xông khói
- Sự chế biến của các sản phẩm sau thu hoạch và bảo quản
Kết quả nghiên cứu của Dương Minh Tú (2005) đã cho biết :Với ngưỡng mật độ để phòng trừ của các loại sâu mọt gây hại chính (mọt gạo, mọt đục hạt nhỏ, mọt bột đỏ và mọt thóc Thái Lan) là 20con/kg nông sản thì tiến hành sử
Trang 28dụng thuốc hóa học để diệt trừ Ngoài ra còn có nhóm thuốc sát trùng mà chủ yếu
là Sumithion 50EC sử dụng để sát trùng kho, vật dụng trong kho khi đã xuất hết
lô hàng cũ và chuẩn đưa lô hàng mới vào bảo quản Sumithion cũng dùng để xua đuổi, ngăn chặn sự xâm nhiễm côn trùng vào gây hại trong kho bằng cách phun vào rèm vải ở cửa kho và các khu vực xung quanh kho
Theo Tạ Phương Thảo (2007) ghi nhận lá xoan Ấn Độ và chế phẩm Thanh
hao hoa vàng có hiệu lực trừ đối với loài Araecerus fasciculatus Degeer đạt 63%
ở tỷ lệ trộn 2% sau 75 ngày bảo quản Mặt khác, mô hình bảo quản sắn lát kết hợp sử dụng chế phẩm thảo mộc Gu Chong Jin 0,04% qui mô nông hộ cho
hiệu quả phòng trừ rõ rệt đối với loài Araecerus fasciculatus Degeer
Theo Hà Thanh Hương (2008) hiệu quả của phosphine trong phòng trừ côn trùng hại kho nông sản như sau: 1/2 viên PH3/ tấn trong 5-7 ngày, trừ các loài côn trùng hại trên nông sản đóng bao hoặc đổ rời; 2 viên PH3/tấn trong 5 ngày ở kho dự trữ ; 1-3 viên PH3/ tấn trong 15 ngày trừ sâu non Rhizopertha
dominica và Sitophilus oryzae ; 2 viên/tấn trừ sâu non Ephestia, Tribolium castaneum, S oryzae , Oryzaephilus surinamensis và sâu non R.dominica trong
kho gạo thô, 1/2 viên/35 kg trong 24 giờ trừ S oryzae, sâu non T castaneum
trong ngăn dự trữ thóc; 1,16 mg/l PH3 trong 24 giờ hoặc 4,66 mg/l PH3 trong 8
giờ trừ S oryzae và S cerealella trong kho thóc; 1-3 g phosphine /m2 trừ R
dominica, T castaneum, S oryzae và O surinamensis; 1,5-3,5 g/1000 kg trong
4-5 ngày trừ côn trùng hai trong kho hạt giống
Nguyễn Xuân Huy (2009) đã thử nghiện hiệu lực của thuốc Aluminium phosphide 56% đối với các loài côn trùng gây hại trên sắn, kết quả cho thấy hiệu lực đạt 100% tại thời điểm 7 ngày sau xử lý ở các nồng độ 19,2g/tấn và 25,6g/tấn Tác giả cũng khuyến cáo để tiêu diệt hoàn toàn các loài côn trùng gây
hại sắn bảo quản nói chung và mọt đục hạt nhỏ R dominica nói riêng nên sử
dụng thuốc Aluminium phosphide 56% với nồng độ là 19,2g thuốc/tấn đồng nghĩa với sử dụng 6 viên thuốc/tấn
Nguyễn Cao Sơn (2010) đã nghiên cứu biện pháp sử dụng lá xoan, lá trúc đào để bảo quản đậu đỗ cho thấy nếu rải lá cùng với đậu đỗ trong khu vực bảo quản giúp hạn chế phần nào sự sinh sản của mọt đậu xanh trên đậu đỗ bảo quản Thuốc hóa học Gu Chong Jing cũng được tác giả nghiên cứu cho thấy hiệu lực không cao đối với mọt đậu xanh trong quá trình bảo quản đậu đỗ
Trang 29PHẦN 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu:
+ Loài mọt Araecerus fasciculatus Degeer
- Thời gian nghiên cứu:
+ Từ tháng 08/2015 đến tháng 08/2016
- Địa điểm nghiên cứu:
+ Điều tra, nghiên cứu thành phần sâu mọt: tại cửa khẩu Chi Ma - Lạng Sơn + Chi cục Kiểm dịch thực vật vùng 7- Lạng Sơn
3.2 VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU
+ Nguyên liệu thuốc bắc nhập qua các cửa khẩu Chi Ma - Lạng Sơn (Hoài Sơn, Đương Quy, Bạch Truật)
+ Dụng cụ thí nghiệm: Ống nghiệm, vợt bắt côn trùng, bộ rây côn trùng, đĩa petri đường kính 10 cm, các loại hộp nhựa có đường kính 15 cm, cao 20 cm, nắp lưới., túi đựng mẫu, pince, kéo, bút lông, bút chì, khay đựng dụng cụ, kính hiển vi, kính lúp, xiên các loại, đồ dùng mở bao, hộp, cốc đong, găng tay, cân, hoá chất
3.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
+ Điều tra xác định thành phần của sâu mọt hại nguyên liệu thuốc bắc xuất
xứ ở các vùng khác nhau của Trung Quốc được nhập khẩu qua cửa khẩu Chi Ma
- Lạng Sơn
+ Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái, sinh học và sinh thái của loài
Araecerus fasciculatus Degeer
+ Thử nghiệm phòng trừ loài (Araecerus fasciculatus Degeer) bằng thuốc
hoá học Phosphine và Methyl Bromine một cách có hiệu quả
3.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.4.1 Phương pháp điều tra thành phần sâu mọt hại trên nguyên liệu thuốc bắc nhập khẩu
Mẫu được lấy theo tiêu chuẩn Việt Nam QCVN01-141:2013/BNNPTNT
về phương pháp lấy mẫu kiểm dịch thực vật
Trang 30Các điểm lấy mẫu được quy định theo nguyên tắc 5 điểm chéo góc
* Số lượng bao được chỉ định lấy mẫu ban đầu phân bố đều trong lô
Chú thích: - Trên 1.000 bao thì chia làm nhiều lô nhỏ
- Mỗi bao lấy ngẫu nhiên 1kg đưa về phòng kỹ thuật để tiến hành sàng và thu bắt mọt
Trang 31* Mật độ của loài được tính theo công thức:
Mật độ mọt (con/kg) = Tổng số mọt điều tra
Tổng số đơn vị lấy mẫu
- Kiểm tra bên ngoài phương tiện, thùng xe, container và nơi chứa nguyên liệu thuốc bắc Nếu có điều kiện thì kiểm tra bên trong phương tiện chuyên chở, chứa đựng, bên ngoài bao bì
- Nếu không có điều kiện quan sát chi tiết như trên thì việc quan sát, lấy mẫu nguyên liệu thuốc bắc được tiến hành trong quá trình bốc dỡ vào kho bãi tại cửa khẩu nhập hoặc bốc dỡ sang xe
Lưu mẫu qua từng đợt điều tra và mẫu được kiểm tra sau các thời gian 1,
3, 6 tháng theo dõi sự xuất hiện các loài mọt trên các mặt hàng nguyên liệu thuốc bắc
- Tính độ thường gặp để đánh giá mức độ phổ biến của từng loài côn trùng theo không gian điều tra
Na: Số điểm điều tra có chứa loài a
N: Tổng số điểm điều tra
Tỷ lệ thành phần loài (%) = Số lượng loài sâu mọt trong họ (bộ) X 100
Tổng số các loài thu được
Trang 323.4.2 Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái học loài Araecerus fasciculatus Degeer trên mặt hàng nguyên liệu thuốc bắc nhập khẩu
3.4.2.1 Nhân nuôi nguồn mọt Araecerus fasciculatus Degeer
+ Nguồn mọt: Thu thập mọt Araecerus fasciculatus Degeer từ các lô hàng
thuốc bắc nhập khẩu tại cửa khẩu Chi Ma, Lạng Sơn
+ Phương pháp nhân nguồn mọt: Sử dụng khoảng 50g nguyên liệu thuốc bắc Hoài Sơn bên trong có mọt để trong hộp lồng (kích thước 15cm x 20cm), sử dụng 5 hộp nuôi mọt để lúc nào cũng có nguồn mọt để phục vụ nghiên cứu
3.4.2.2 Nghiên cứu đặc điểm hình thái loài Araecerus fasciculatus Degeer
Theo dõi mô tả quan sát đặc điểm hình thái theo từng pha phát dục (trứng, sâu non, nhộng và trưởng thành) thực hiện bằng cách cho 10 - 12 cặp trưởng thành thả vào lọ có đường kính 15 cm, cao 20 cm, nắp lưới Bên trong lọ có chứa 0,5 kg nguyên liệu là Hoài Sơn (nguyên liệu đã được sấy ở 700C trong 2h) sau 24h tiến hành đưa trưởng thành mọt ra khỏi hộp ghi chép ngày thí nghiệm và hàng ngày tách sản phẩm có mọt ở bên trong để quan sát thời gian phát dục và đo kích thước các pha Số lượng cá thể các pha quan sát n=30
- Pha trứng: Đo chiều dài và chiều rộng
- Pha sâu non: Đo chiều dài và độ rộng mảnh đầu
- Pha nhộng và pha trưởng thành: Đo chiều dài và phần rộng nhất cơ thể
- Kích thước trung bình tính theo công thức:
Xi: là giá trị kích thước thứ i
N: là số cá thể theo dõi
3.4.2.3 Nghiên cứu đặc điểm sinh học loài Araecerus fasciculatus Degeer
* Thời gian phát dục của các pha
Thí nghiệm nghiên cứu theo phương pháp nuôi cá thể Sau khi trứng nở cùng ngày tách riêng từng cá thể sâu non, nuôi cá thể trong hộp có kích thước 4
cm X 7 cm bên trong có sẵn thức ăn là Hoài Sơn (hộp nuôi mọt để trong tối) trong phòng thí nghiệm với 2 mức nhiệt độ là 25oC và 30oC Hàng ngày theo
Trang 33dõi sự phát triển của mọt cho đến khi trưởng thành vũ hóa từ đó xác định được thời gian phát dục, tỷ lệ chết của các pha trước trưởng thành (sâu non, nhộng) ở mỗi mức nhiệt độ tương ứng Khi trưởng thành vũ hóa ghép đôi và xác định thời gian trước đẻ trứng
Thời gian phát dục trung bình của cá thể tính theo công thức:
N
n X
Trong đó:
Xi: thời gian phát dục của cá thể thứ i
X : Thời gian phát dục của từng giai đoạn ni: Số cá thể lột xác trong ngày thứ i N: Số cá thể theo dõi
Tính sai số theo công thức:
N
t X
X = ± δ . Trong đó:
t: Tra bảng Student- Fisher với độ tin cậy P = 0.9 và độ tự do v = n-1 N: Số cá thể theo dõi
δ: Độ lệch chuẩn, được tính theo công thức:
δ
*Nghiên cứu sức sinh sản của trưởng thành loài Araecerus fasciculatus
Degeer
Thả một cặp trưởng thành mới vũ hoá vào hộp có đường kính 15 cm, cao
20 cm, nắp lưới Bên trong đựng 3- 5 gam nguyên liệu, đặt vào 3 hộp khác nhau tương ứng với 3 loại nguyên liệu thuốc bắc là Hoài Sơn, Đương Quy và Bạch Truật (Nguyên liệu đã được khử trùng bằng phosphine 5 ngày trước khi thí nghiệm) sau 24h tiến hành đưa trưởngthành mọt ra khỏi hộp, những nguyên liệu thuốc bắc đã được tiếp xúc với mọt được quan sát dưới kính lúp soi nổi để xác định số trứng đẻ, hàng ngày chuyển trưởng thành sang hộp mới có sẵn nguyên
Trang 34liệu Hoài Sơn, Đương Quy, Bạch Truật tương ứng Thí nghiệm theo dõi cho đến khi trưởng thành chết sinh lý (N= 15 cặp)
+ Sức sinh sản trung bình của một con cái (quả/con cái):
Số trứng trung bình Tổng số trứng đẻ (quả)
của một con cái =
(quả/ con cái) Tổng số con cái (con)
*Nghiên cứu nhịp điệu sinh sản của mọt Araecerus fasciculatus Degeer
Dựa vào số liệu tổng hợp được sau khi nghiên cứu sức sinh sản của mọt
Araecerus fasciculatus Degeer, xác định số trứng trung bình mỗi ngày của 15 cặp
mọt đang được theo dõi Tổng hợp số liệu từ ngày đầu tiên cho đến khi mọt
trưởng thành chết sinh lý, lập đồ thị nhịp điệu sinh sản của mọt Araecerus
fasciculatus Degeer tương ứng với 3 loại thức ăn khác nhau là Hoài Sơn, Đương
Quy và Bạch Truật Qua đồ thị, đánh giá sự ảnh hưởng của các loại thức ăn khác
nhau đến nhịp điệu sinh sản của loài Araecerus fasciculatus Degeer
+ Số trứng trung bình một ngày của các cặp mọt
hộp cho vào 100 trứng loài Araecerus fasciculatus Degeer Quan sát cho đến khi
trưởng thành vũ hóa hoàn toàn Như vậy sẽ xác định được tỷ lệ sống sót của các
pha trước trưởng thành (Trứng, sâu non và nhộng) của loài Araecerus
fasciculatus Degeer
+ Tỷ lệ sống sót các pha trước trưởng thành của loài Araecerus
fasciculatus Degeer:
Tỷ lệ sống sót các Tổng con trưởng thành vũ hóa(con)
pha trước trưởng thành (%) = x100
Tổng trứng theo dõi (quả)
Trang 35* Nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố thức ăn đến sự gia tăng quần thể của loài
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của các loại thức ăn khác nhau
đến khả năng gia tăng mật độ trưởng thành của loài Araecerus fasciculatus
Degeer, mật độ mọt ban đầu đưa vào thí nghiệm ở các công thức thức ăn khác nhau là 5 cặp mọt/kg Đếm các cá thể trưởng thành sau vũ hóa trên mỗi loại thức
ăn tại các thời điểm cụ thể Sử dụng số liệu thu thập được tính mật độ mọt trên từng loại thức ăn theo công thức sau :
+ Phương pháp tính mật độ trường thành
Tổng số mọt tại thời điểm theo dõi Mật độ (con/kg) =
Tổng số lượng thức ăn làm thí nghiệm
* Đánh giá mức độ gây hại của loài Araecerus fasciculatus Degeer trên
các nguyên liệu thuốc bắc khác nhau
Làm thì nghiệm tương tự như Nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố thức ăn đến sự gia tăng quần thể loài Tại mỗi thời điểm kiểm tra, xác định khối lượng chất khô của thức ăn
Thí nghiệm bố trí theo các công thức sau: thức ăn là nguyên liệu thuốc bắc Công thức 1: Hoài Sơn
Công thức 2: Đương Quy
Trong đó: OW: khối lượng chất khô của mẫu ban đầu
CW: khối lượng chất khô của mẫu thí nghiệm cuối cùng
Trang 363.4.2.4 Nghiên cứu đặc điểm sinh thái học của loài Araecerus fasciculatus Degeer
* Điều tra mật độ của loài Araecerus fasciculatus Degeer trên các nguyên
liệu thuốc bắc nhập khẩu từ các vùng sinh thái khác nhau qua cửa khẩu Chi Ma, Lạng Sơn
-Mẫu được lấy theo tiêu chuẩn Việt Nam QCVN 01-141:2013/BNNPTNT
về phương pháp lấy mẫu kiểm dịch thực vật
- Điều tra định kỳ (1 tháng 4 lần khoảng 7 – 10 ngày ) tùy theo thời gian các lô hàng được nhập về qua cửa khẩu Chi Ma ghi chép nguồn gốc xuất xứ của
lô hàng ở các vùng khác nhau của Trung Quốc
3.4.3 Thử nghiệm biện pháp phòng trừ trong phòng thí nghiệm
*Thử nghiệm hiêụ lực của thuốc Phosphine đối với sâu mọt hại nguyên liệu thuốc Bắc tại Phòng kỹ thuật - Chi cục KDTV vùng 7
+ Hoá chất thử nghiệm là thuốc: PHOSPHINE (Phostoxin 54%)
+Thí nghiệm được thực hiên theo quy chuẩn Việt Nam 01-19 : 2010/BNNPTNT: Quy chuẩn Kỹ thuật quốc gia về qui trình kỹ thuật xông hơi khử trùng
+ Liều lượng tiến hành thử nghiệm là các công thức: 1g PH3 /m3, 2g PH3 /m3, 3g PH3 /m3 nhắc lại 3 lần cho mỗi công thức Đối chứng là không xử lý thuốc
+ Thời gian xử lý là 24 giờ, 48 giờ, 72 giờ
+ Côn trùng thí nghiệm: Trưởng thành loài Araecerus fasciculatus
Degeer) sau khi vũ hóa 1-2 ngày được dùng thí nghiệm 100 trưởng thành/công thức/lần nhắc lại Côn trùng thí nghiệm được đặt trong trong các lọ nhựa có chứa thức ăn Các lọ có đường kính 15 cm, cao 20 cm, nắp lưới Xung quanh lọ được bôi một lớp Fluon để ngăn không cho côn trùng bò lên trên Mỗi lọ có chứa 0,5
kg nguyên liệu thuốc Bắc khô
- Tiến hành xông hơi: Các lọ côn trùng thí nghiệm được đặt vào các thùng, đưa thuốc PHOSPHINE vào các thùng khử trùng theo đúng nồng độ yêu cầu Sau khi thông thoáng khoảng 30 phút, lấy các lọ có chứa côn trùng thí nghiệm ra và kiểm tra số lượng côn trùng sống trong các lọ
Chỉ tiêu theo dõi: Theo dõi lượng cá thể sống chết tại thời điểm 24 giờ, 48 giờ sau xử lý Hiệu lực của thuốc được tính theo công thức Abbott
Trang 37* Thử nghiệm diệt trừ mọt Araecerus fasciculatus Degeer bằng thuốc
xông hơi Methyl bromide
+ Hoá chất thử nghiệm là thuốc: Methyl bromide
+Thí nghiệm được thực hiên theo quy chuẩn Việt Nam 01-19 : 2010/BNNPTNT: Quy chuẩn Kỹ thuật quốc gia về qui trình kỹ thuật xông hơi khử trùng
+ Liều lượng tiến hành thử nghiệm là các công thức lần lượt là 16 g/m3, 24g/m3,32 g/m3 nhắc lại 3 lần cho mỗi công thức Công thức đối chứng không
xử lý
+ Thời gian xử lý khác nhau là 24 giờ, 48 giờ, 72 giờ
+ Côn trùng thí nghiệm: Trưởng thành loài Araecerus fasciculatus
Degeer) sau khi vũ hóa 1-2 ngày được dùng thí nghiệm 100 trưởng thành/công thức/lần nhắc lại
+Mọt được đặt trong các hộp nhựa có sẵn thức ăn là Hoài Sơn, thủy phần 12,5% và nắp có gắn lưới ngăn côn trùng Các hộp nhựa có ký hiệu riêng cho từng lần lặp lại của mỗi công thức Đưa các hộp nhựa chứa mọt thí nghiệm vào trong thùng gỗ ép có thể tích 1m3 Đặt ống dẫn thuốc Methyl bromide vào trong thùng xông hơi rồi dùng giấy Kraft và hồ làm kín thùng xông hơi Tiến hành xả thuốc theo các công thức thí nghiệm Kết thúc thời gian xông hơi, mở nắp dùng quạt đảo khí để thông thoáng trong thời gian 2 giờ Sau đó lấy các hộp đựng côn trùng ra khỏi thùng xông hơi để kiểm tra số lượng cá thể sống, chết ở các thời điểm sau khi kết thúc xông hơi
Chỉ tiêu theo dõi:
Theo dõi lượng cá thể sống chết tại thời điểm 24 giờ, 48 giờ, 72 giờ sau
xử lý
Hiệu lực của thuốc được tính theo công thức Abbott
Ca- Ta ĐHH (%) = - x 100
Ca Trong đó: Ca là số sâu sống ở công thức đối chứng sau thí nghiệm
Ta là số sâu sống ở công thức thí nghiệm sau thí nghiệm
Trang 383.5 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ MẪU VẬT
- Phương pháp xử lý và bảo quản sâu mọt:
Phương pháp xử lý và bảo quản sâu mọt theo Bùi Công Hiển (1995)
- Phương pháp xử lý mẫu:
+ Đối với côn trùng trưởng thành: Giết chết trong lọ độc có chứa KCN, sau
đó sấy khô ở nhiệt độ thấp rồi tăng dần nhiệt độ lên làm khô mẫu (sấy ở nhiệt độ
30 – 40oC trong 2 ngày, sau đó tăng nhiệt độ lên 50 – 60oC trong 7-10 ngày tùy theo kích thước côn trùng)
- Phương pháp bảo quản mẫu:
Đối với côn trùng sau khi giết, cho vào lọ bảo quản nơi khô ráo có ghi nhãn gồm ký hiệu mẫu, ngày thu thập, vật phẩm bị bại nơi thu thập và người thu thập Đối với sâu non, nhộng thì ngâm vào cồn 70o
Mẫu thu được của từng địa điểm đợt điều tra được để riêng trong lọ có nhãn theo quy định Tất cả các mẫu thu thập được ở các địa điểm đều phải đưa về phòng thí nghiệm giám định bằng kính lúp soi nổi theo các khóa phân loại hiện hành và chụp ảnh tại Phòng Kỹ thuật của Chi cục Kiểm dịch thực vật vùng 7 Lạng Sơn
Định loại côn trùng theo tài liệu của Bousquet (1990), Gorham (1987) và Bùi Công Hiển (1995)
3.6 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU
Số liệu thí nghiệm được xử lý bằng phần mềm IRRISTART 4.0 và Microsoft Ecxel 2007
Trang 39PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 THÀNH PHẦN SÂU MỌT HẠI NGUYÊN LIỆU THUỐC BẮC NHẬP KHẨU QUA CỬA KHẨU CHI MA, LẠNG SƠN VÀ TRONG KHO BẢO QUẢN CÁC HỘ KINH DOANH
4.1.1 Thành phần sâu mọt hại trên nguyên liệu thuốc bắc nhập khẩu tại cửa khẩu Chi Ma, Lạng Sơn năm 2015
Nguyên liệu thuốc bắc được nhập khẩu về Việt Nam có nguồn gốc ở trung Quốc tập trung ở 2 vùng là Quảng Đông và An Huy chúng tôi đã tiến hành điều tra thu thập thành phần sâu mọt có trên nguyên liệu thuốc Bắc nhập khẩu vào Việt Nam có nguồn gốc khác nhau để xác định thành phần loài cũng như mức độ phổ biến của các loài có sự khác nhau về nguồn gốc hàng nhập khẩu Kết quả điều tra trên các lô hàng nguyên liệu thuốc bắc nhập khẩu qua cửa khẩu Chi Ma – Lạng Sơn, lô hàng có nguồn gốc từ tỉnh Quảng Đông – Trung Quốc, chúng tôi thu được kết quả tại Bảng 4.1 gồm 11 loài thuộc 8 họ trong bộ Coleoptera.Trong
11 loài thu được gồm 2 loài thuộc họ Anobiidae, 1 loài thuộc họ Anthribidae, 1 loài thuộc họ Bostrichidae, 1 loài thuộc họ Bruchidae, 1 loài thuộc họ Curculionidae, 1 loài thuộc họ Nitidulidae, 1 loài thuộc họ Silvanidae và 3 loài thuộc họ Tenebrionidae
Thành phần côn trùng trên lô hàng nguyên liệu thuốc bắc nhập khẩu gồm cả những loài gây hại sơ cấp và thứ cấp được phân bố ở nhiều vị trí trên lô hàng, trong
đó những loài gây hại sơ cấp thường tập trung ở bề mặt của khối hàng, những loài gây hại thứ cấp thường tập trung dưới đáy và xung quanh chân khối hàng
Chúng tôi nhận thấy, các loài như Araecerus fasciculatus Degeer; Rhizopertha
dominica Fabricius; Stegobium paniceum Linnaeus xuất hiện với mức độ rất phổ
biến qua các đợt điều tra thu mẫu Mọt đậu xanh và mọt gạo xuất hiện với mức độ phổ biến còn các loài khác ghi nhận xuất hiện ở mức độ ít phổ biến
Bên cạnh đó, kết quả điều tra trên các lô hàng nguyên liệu thuốc bắc nhập khẩu qua cửa khẩu Chi Ma – Lạng Sơn, lô hàng có nguồn gốc từ tỉnh An Huy – Trung Quốc, chúng tôi thu được kết quả tại Bảng 4.2 gồm 8 loài thuộc 8 họ của
bộ Coleoptera Trong đó rất phổ biến là các loài Araecerus fasciculatus Degeer
và loài Rhizopertha dominica; Loài xuất hiện với mức độ phổ biến là
Callosobruchus chinensis và Sitophilus oryzae Các loài còn lại xuất hiện với
mức độ rất ít phổ biến
Trang 40Bảng 4.1 Thành phần sâu mọt hại nguyên liệu thuốc bắc nhập khẩu từ Quảng Đông, Trung Quốc
tại cửa khẩu Chi Ma, Lạng Sơn năm 2015
1 Mọt thuốc lá Lasioderma serricorne Fabricius Anobiidae Coleoptera +
2 Mọt thuốc bắc Stegobium paniceum Linnaeus Anobiidae Coleoptera +++
3 Mọt cà phê Araecerus fasciculatus Degeer Anthribidae Coleoptera +++
4 Mọt đục hạt nhỏ Rhizopertha dominica Fabricius Bostrichidae Coleoptera +++
5 Mọt đậu xanh Callosobruchus chinensis Linnaeus Bruchidae Coleoptera ++
6 Mọt gạo Sitophilus oryzae Linnaeus Curculionidae Coleoptera ++
7 Mọt thòi đuôi điểm vàng Carpophilus hemipterus Linnaeus Nitidulidae Coleoptera +
8 Mọt gạo dẹt Ahasverus advena Waltl Silvanidae Coleoptera +
9 Mọt răng cưa Oryzaephilus surinamensis Linnaeus Silvanidae Coleoptera +
10 Mọt khuẩn đen nhỏ Alphitobius laevigatus Fabricius Tenebrionidae Coleoptera +
11 Mọt thóc đỏ Tribolium castaneum Herbst Tenebrionidae Coleoptera +
Ghi chú: Mức độ phổ biến; - : Rất ít phổ biến (Độ bắt gặp < 5%) ; +: Ít phổ biến (Độ bắt gặp 5 - 25%)
++: Phổ biến: (Độ bắt gặp >25 - 50%) +++: Rất phổ biến (Độ bắt gặp > 50%)