1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển và ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến năng suất, chất lượng vải lai thanh hà tại hải dương

82 178 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 4,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu ảnh hưởng của thời điểm cắt tỉa đến khả năng sinh trưởng, ra hoa, đậu quả và năng suất của giống vải Lai Thanh Hà .... Thí nghiệm 3: Nghiên cứu ảnh hưởng của một số tổ hợp phâ

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ HẢI

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT ĐẾN NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG

VẢI LAI THANH HÀ TẠI HẢI DƯƠNG

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo

vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám

ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Hải

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn

bè, đồng nghiệp và gia đình

Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết

ơn sâu sắc tới TS Vũ Thanh Hải – Học viện Nông nghiệp Việt Nam và PGS, TS Nguyễn Quốc Hùng, TS Đào Quang Nghị – Viện Nghiên cứu Rau quả đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Rau hoa quả - Khoa Nông học - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn

Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Hải

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các bảng vi

Danh mục hình ảnh vii

Trích yếu luận văn viii

Thesis Abstract x

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích và yêu cầu 2

1.2.1 Mục đích 2

1.2.2 Yêu cầu 2

1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2

1.3.1 Ý nghĩa khoa học 2

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 NGUỒN GỐC, LỊCH SỬ VÀ PHÂN LOẠI CÂY VẢI 3

2.1.1 Nguồn gốc, lịch sử cây vải 3

2.1.2 Phân loại vải 4

2.2 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC VỀ CÂY VẢI 7

2.2.1 Yêu cầu sinh thái của cây vải 7

2.2.2 Nghiên cứu về đặc điểm thực vật học của vải 9

2.2.3 Nghiên cứu về kỹ thuật bón phân và cắt tỉa cho cây vải 13

2.3 MỘT SỐ ĐIỀU KIỆN ĐẤT ĐAI VÙNG NGHIÊN CỨU 21

2.4 NHỮNG KẾT LUẬN QUA PHÂN TÍCH TỔNG QUAN 23

PHẦN 3 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

3.1 VẬT LIỆU, ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 25

3.1.1 Vật liệu nghiên cứu 25

3.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 25

Trang 5

3.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 25

3.2.1 Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển, khả năng ra hoa, đậu quả, năng suất và chất lượng của giống vải Lai Thanh Hà tại Thanh Hà, Hải Dương 25

3.2.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của thời điểm cắt tỉa đến khả năng sinh trưởng, ra hoa, đậu quả và năng suất của giống vải Lai Thanh Hà 25

3.2.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng phân bón đến năng suất, chất lượng quả của giống vải lai Thanh Hà 25

3.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ BỐ TRÍ THÍ NGHIỆM 25

3.3.1 Thí nghiệm 1: Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển, khả năng ra hoa, đậu quả, năng suất và chất lượng của một số giống vải lai Thanh Hà tại Thanh Hà, Hải Dương 25

3.3.2 Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của thời điểm cắt tỉa đến khả năng sinh trưởng, ra hoa, đậu quả và năng suất vải Lai Thanh Hà 27

3.3.3 Thí nghiệm 3: Nghiên cứu ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón đến khả năng sinh trưởng, ra hoa đậu quả và năng suất, chất lượng của vải lai Thanh Hà 29

3.3.4 Xử lý số liệu 31

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32

4.1 ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN, KHẢ NĂNG RA HOA, ĐẬU QUẢ, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG CỦA MỘT SỐ GIỐNG VẢI TẠI THANH HÀ, HẢI DƯƠNG 32

4.1.1 Điều kiện khí hậu vùng nghiên cứu 32

4.1.2 Đặc điểm hình thái của giống vải chín sớm Lai Thanh Hà 33

4.1.3 Đặc điểm về sinh trưởng, phát triển của giống vải chín sớm Lai Thanh Hà 34

4.1.4 Khả năng ra hoa, đậu quả và thời gian thu hoạch của các giống lai Thanh Hà 37

4.1.5 Năng suất, chất lượng của giống vải lai Thanh Hà 36

4.1.6 Mức độ nhiễm một số loại sâu bệnh chủ yếu trên giống vải lai Thanh Hà 39

4.2 ẢNH HƯỞNG CỦA BIỆN PHÁP CẮT TỈA ĐẾN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, RA HOA, ĐẬU QUẢ VÀ NĂNG SUẤT VẢI LAI THANH HÀ 40

4.2.1 Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến khả năng phát sinh và phát triển các đợt lộc 40

4.2.2 Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến khả năng sinh trưởng các đợt lộc của vải lai Thanh Hà 40

Trang 6

4.2.3 Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến khả năng ra hoa, đậu quả của vải lai

Thanh Hà 42

4.2.4 Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của vải lai Thanh Hà 43

4.3 ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG THỨC PHÂN BÓN ĐẾN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, RA HOA ĐẬU QUẢ VÀ NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG CỦA VẢI LAI THANH HÀ 44

4.3.1 Ảnh hưởng của công thức phân bón đến khả năng sinh trưởng các đợt lộc 44

4.3.2 Ảnh hưởng của công thức phân bón đến khả năng ra hoa, đậu quả và năng suất của vải lai Thanh Hà 45

4.3.3 Ảnh hưởng của công thức phân bón đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất vải lai Thanh Hà 46

Phần 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 49

5.1 KẾT LUẬN 49

5.2 KIẾN NGHỊ 49

Tài liệ tham khảo 50

Phụ lục 54

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Hàm lượng dinh dưỡng thích hợp cho đất trồng vải tính theo khối lượng 17

Bảng 2.2 Phân loại đất tỉnh Hải Dương 22

Bảng 2.3 Tính chất lý hóa của đất vùng nghiên cứu 23

Bảng 4.1 Một số yếu tố khí tượng của vùng Thanh Hà – Hải Dương 32

Bảng 4.2 Đặc điểm hình thái của giống vải Lai Thanh Hà (số liệu 2015) 33

Bảng 4.3 Khả năng sinh trưởng về khung tán của giống vải Lai Thanh Hà 34

Bảng 4.4 Một số đặc điểm về lá, hoa, quả của giống vải Lai Thanh Hà 36

Bảng 4.5 Khả năng ra hoa, đậu quả và thu hoạch của giống vải Lai Thanh Hà 37

Bảng 4.6 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống vải lai Thanh Hà (số liệu 2016) 38

Bảng 4.7 Mức độ nhiễm một số loại sâu bệnh chủ yếu trên giống vải lai Thanh Hà (Số liệu năm 2015-2016) 39

Bảng 4.8 Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến thời gian ra lộc của vải lai Thanh Hà (Số liệu năm 2015) 40

Bảng 4.9 Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến khả năng sinh trưởng các đợt lộc của vải lai Thanh Hà 40

Bảng 4.10 Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến khả năng ra hoa, đậu quả của vải lai Thanh Hà (Số liệu năm 2015) 42

Bảng 4.11 Ảnh hưởng của thời điểm cắt tỉa đến khả năng giữ quả của giống vải Lai Thanh Hà 42

Bảng 4.12 Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất giống vải Lai Thanh Hà tại Hải Dương 43

Bảng 4.13 Ảnh hưởng của công thức phân bón đến khả năng sinh trưởng các đợt lộc vải lai Thanh Hà (Số liệu năm 2015) 44

Bảng 4.14 Ảnh hưởng của công thức phân bón đến khả năng ra hoa và đậu quả của vải lai Thanh Hà 45

Bảng 4.15 Ảnh hưởng của công thức phân bón đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất vải lai Thanh Hà 46

Bảng 4.16 Ảnh hưởng của công thức phân bón đến một số chỉ tiêu sinh hóa quả vải Lai Thanh Hà năm 2016 47

Bảng 4.17: Tính hiệu quả kinh tế của các công thức bón phân năm 2016 47

Trang 8

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Hình 4.1 Đường kính tán giống vải lai Thanh Hà và vải Thiều Thanh Hà tại

Hải Dương 35

Hình 4.2 Chiều cao cây của giống vải lai Thanh Hà và vải Thiều Thanh Hà 35

Hình 4.3 Chiều dài và đường kính của các đợt lộc ở các công thức cắt tỉa khác nhau 41

Hình 4.4 Động thái rụng quả của vải lai Thanh Hà ở các công thức cắt tỉa 43

Hình 4.5 Năng suất của vải Lai Thanh Hà ở các công thức thí nghiệm 44

Trang 9

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Nguyễn Thị Hải

Tên luận văn: Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển và ảnh hưởng của một số

biện pháp kỹ thuật đến năng suất, chất lượng vải Lai Thanh Hà

Ngành: Khoa học cây trồng Mã số: 60.62.01.10

Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Mục đích nghiên cứu:

Trên cơ sở nghiên cứu về đặc điểm sinh trưởng, phát triển và một số biện pháp

kỹ thuật nhằm hoàn thiện quy trình kỹ thuật sản xuất, phục vụ phát triển giống vải Lai Thanh Hà tại địa phương

Phương pháp nghiên cứu:

- Nghiên cứu, đánh giá về sinh trưởng, ra hoa, đậu quả, năng suất, chất lượng và hiệu quả của các giống tại vùng sản xuất bằng cách đánh dấu, theo dõi trực tiếp trên cây

ở các độ tuổi từ 1 đến 7 Đối chứng là giống vải thiều Thanh Hà

- Nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến khả năng sinh trưởng, ra hoa đậu quả và năng suất của giống vải Lai Thanh Hà Thí nghiệm gồm 2 công thức thí nghiệm và 1 công thức đối chứng được bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên (RCBD) thực hiện trên cây 7 năm tuổi Mỗi công thức 3 cây, nhắc lại 5 lần

- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón đến khả năng sinh trưởng,

ra hoa đậu quả và năng suất, chất lượng của vải lai Thanh Hà Thí nghiệm gồm 5 công thức (CT) được bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên (RCBD) thực hiện trên cây 7 năm tuổi từ tháng 5/2015 đến tháng 6/2016 tại Hải Dương Mỗi công thức 3 cây, nhắc lại 3 lần: 4 công thức thí nghiệm kết hợp hai mức đạm: N1: 552g N; N2: 690g N và 2 mức kaliclorua: K1: 960g K 2 O và K2: 1080g K 2 O và 1 công thức đối chứng theo cách của người dân: 460g N + 600g K 2 O cho 1 cây trong 1 năm

Kết quả chính và kết luận:

- Giống vải lai Thanh Hà sinh trưởng khỏe, khả năng ra hoa và đậu quả tốt với tỷ

lệ đậu quả đạt 0,8% (cây 3 năm tuổi) đến 1,3% (ở cây 7 năm tuổi); Cây 7 năm tuổi đạt năng suất trung bình 68kg/cây; chất lượng được đánh giá tốt, độ brix đạt 17,8% Ưu điểm nổi bật cho rải vụ là có thời gian thu hoạch sớm hơn so với vải thiều Thanh Hà từ

10 – 15 ngày bên cạnh lợi thế vỏ quả dày nên giữ được mã quả lâu hơn và vận chuyển thuận lợi hơn

Trang 10

- Biện pháp cắt tỉa 3 lần trên giống vải lai Thanh Hà tại Hải Dương đã phát sinh các đợt lộc hợp lý, không có hiện tượng phát lộc đông, ra hoa đậu quả tốt Năng suất đạt giá trị cao 74,4kg/cây, vượt 36,7% so với đối chứng

- Bón phân bổ sung 690g N + 960g K 2 O tức là bón với công thức 3 kg phân vi sinh Sông Gianh + 1,5 kg urê + 1,6 kg Kali clorua + 1,5 kg supe lân cho 1 cây trong 1 năm có năng suất đạt 78,0 kg/cây, vượt 18,5% so với bón theo mức của người dân địa phương Chất lượng quả được cải thiện

Trang 11

THESIS ABSTRACT

Name of Student: Nguyen Thi Hai

Name of study: Study on growth, development and influence of cultural techniques on

yield and quality of lychee var Lai Thanh Ha

Major: Crop Science Code: 60.62.01.10

Academic Institution: Vietnam National University of Agriculture

Objective of the study:

To complete a cultivation protocol of lychee var Lai Thanh Ha for production in Hai Duong province

Methodology

- Evaluation of growth, flowering and fruit set, fruit yield and quality of lychee varieties in Hai Duong province through representative observation of lychee trees of 1-

7 years old; Thieu Thanh Ha was the control variety

- Influence of pruning on growth, flowering and fruit set and yield of Lai Thanh

Ha variety: the experiment consisted of 2 experimental treatments and 1 control, designed in RCBD Observation was conducted on 3 seven-year-old trees each treatment, with 5 replications

- Influence of fertilizer combinations on growth, flowering and fruit set and yield of Lai Thanh Ha variety: the experiment consisted of 5 treatments arranged in RCBD Observation was conducted on 3 seven-year-old trees each treatment, with 3 replications, from May 2015 to Jun 2016 in Hai Duong province The experiment included 4 combinations of different rates of N fertilizer (N1: 552g N and N2: 690g N) and KCl fertilizer (K1: 960g K2O and K2: 1080g K2O), and a control (common in practice) of (460g N + 600g K 2 O) applied to a tree within a year of production

Main outcomes and conclusions

- The lychee var Lai Thanh Hà produced vigorous growth and high rate of flowering and fruit set, from 0.8% (on 3-year-old trees) to 1.3% (on 7-year-old trees); A 7-year-old trees yielded 68kg in average with high quality fruit (Brix: 17.8%) Particularly, Lai Thanh Ha lychee allowed early fruit harvest at 10-15 days earlier than the main-season variety of Thieu Thanh Ha; the thicker fruit skin enabled longer shelf- life providing advantage in transport

- Applying 3 times of pruning on Lai Thanh Ha lychee in Hai Duong generated reproductive new shoots without formation of winter shoots and high rate of flowering

Trang 12

and fruit set, producing a yield of 74.4kg/tree, which was 36.7% higher than that of the control

- Applying fertilizers at rate of (690g N + 960g K 2 O)/tree/year, equally (3.0 kg

of Song Gianh microorganic fertilizer + 1.5 kg urea + 1.6 kg potassium chloride + 1.5

kg super phosphate)/tree/year enabled a yield of 78.0 kg/tree, which was 18.5% higher than that of the control (common in practice); with higher fruit quality

Trang 13

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Cây Vải (Litchi chinensis Sonn) thuộc họ Bồ hòn (Sapindacea) được trồng

ở nhiều nước trên thế giới QuảVải có giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế cao, không những được dùng để ăn tươi, mà còn có thể sấy khô hoặc làm đồ hộp và chế biến nước giải khát

Hiện nay, Trên thế giới có trên 20 nước trồng vải Tuy nhiên, chỉ có một

số nước sản xuất vải mang tính chất hàng hoá như: Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, vùng lãnh thổ Đài Loan, Việt Nam

Ở Việt Nam, việc trồng vải đã có cách đây từ cách đây trên 2.000 năm, Vùng trồng vải tập trung chủ yếu ở đồng bằng sông Hồng, trung du và miền núi phía Bắc Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tổng diện tích cây vải nước ta hiện nay đạt khoảng 70.000 ha, sản lượng đạt khoảng 300.000 tấn với cơ cấu giống không hợp lý Giống vải thiều là giống chính vụ chiếm trên 95% Các giống vải khác chỉ chiếm khoảng trên 4% (Nguyễn Văn Dũng và cs, 2010) Do vậy, thời vụ thu hoạch cơ bản chỉ tập trung vào tháng 6 đã tạo áp lực lớn về lao động cũng như tiêu thụ vải thiều

Hải Dương là một trong số các tỉnh có nhiều giống vải đang được trồng tại các địa phương trong tỉnh với diện tích 10.700 ha năm 2014, sản lượng đạt 48.000 tấn (Cục Thống kê Hải Dương, 2014) Trong số các giống vải hiện có ở ở Hải Dương, giống vải chín sớm Lai Thanh Hà (hay còn được gọi là giống Tàu Lai) là giống đã được Viện Nghiên cứu Rau quả, Trung tâm Giống cây trồng và Công nghệ Nông nghiệp (thuộc Hội Giống cây trồng) tuyển chọn Đặc nổi trội của giống là: chín sớm hơn vải Thiều Thanh Hà bên cạnh tiềm năng về năng suất

và chất lượng quả Đặc biệt, giống có thể mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người trồng nhờ giá bán cao hơn khi bán vào đầu vụ Giống vải này hiện nay không những đã được Sở Nông nghiệp và PTNT Hải Dương công nhận là giống tốt mà Sở Nông nghiệp Bắc Giang cũng đã chấp nhận cho nhân giống nhằm mở rộng sản xuất, phục vụ định hướng rải vụ thu hoạch vải

Tuy nhiên hiện nay, các nghiên cứu về kỹ thuật trên giống vải này chưa

nhiều Việc Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển và ảnh hưởng của một

số biện pháp kỹ thuật đến năng suất, chất lượng vải Lai Thanh Hà sẽ góp phần

Trang 14

hoàn thiện quy trình sản xuất, làm cơ sở cho việc phát triển diện tích các giống mang tính rải vụ, nâng cao hiệu quả sản xuất và làm tăng thu nhập cho người nông dân

1.2 MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU

1.2.1 Mục đích

Trên cơ sở nghiên cứu về đặc điểm sinh trưởng, phát triển và một số biện pháp kỹ thuật nhằm hoàn thiện quy trình kỹ thuật sản xuất, phục vụ phát triển giống vải Lai Thanh Hà tại địa phương

1.2.2 Yêu cầu

- Đánh giá được các đặc điểm sinh trưởng, ra hoa, đậu quả và năng suất giống vải Lai Thanh Hà tại Hải Dương

- Xác định được một số biện pháp kỹ thuật: cắt tỉa, bón phân phù hợp

nhằm làm tăng năng suất, chất lượng vải Lai Thanh Hà tại Hải Dương

1.3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.3.1 Ý nghĩa khoa học

- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp các dẫn liệu khoa học về đặc điểm sinh trưởng, phát triển của giống vải Lai Thanh Hà và ảnh hưởng của một

số biện pháp kỹ thuật làm tăng năng suất và chất lượng của giống

- Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạy

về cây vải ở miền Bắc

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần phát triển giống mang tính rải vụ và từng bước nâng cao năng suất, phẩm chất quả và làm tăng thu nhập cho người

nông dân

Trang 15

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 NGUỒN GỐC, LỊCH SỬ VÀ PHÂN LOẠI CÂY VẢI

2.1.1 Nguồn gốc, lịch sử cây vải

Cây vải có nguồn gốc ở vùng giữa miền Nam Trung Quốc, Bắc Việt Nam, bán đảo Malaysia và đã được trồng trọt cách đây trên 3000 năm Hiện tại, ở Trung Quốc vẫn còn có những cây vải tổ trên 1000 năm tuổi ở huyện Bồ Điền tỉnh Phúc Kiến, trong đó cây to nhất có chu vi thân đạt 5,6m, đường kính tán cây chỗ lớn nhất đến 40m, chiều cao cây trên 16m và năm cho thu hoạch cao nhất đến 1,5 tấn quả (Nghê Diệu Nguyên và Ngô Tố Phần, 1998)

Nhiều tài liệu của Trung quốc cho biết, ở nhiều nơi có cây vải dại như núi

Tạ Hoài Sơn, huyện Liên Giang, tỉnh Quảng Đông; Thạch Phượng Sơn, huyện Bác Bạch, tỉnh Vân Nam Từ Hường Đạo và cộng sự căn cứ điều tra thực địa và

từ góc độ lịch sử, hình thái và đặc trưng quần lạc sinh thái đã kết luận: Đảo Hải Nam có nhiều cây vải dại Ngoài ở Dương xuân, Hóa Châu, Liêm Giang và trên sáu vạn núi lởn vùng giáp gianh huyện Bác Bạch và huyện Hồ Bắc của tỉnh Quảng Tây…đều có cây vải dại, chứng tỏ cây vải có nguồn gốc phát sinh từ Trung Quốc (Nghê Diệu Nguyên và Ngô Tố Phần, 1998)

Cuối thế kỷ thứ 17, từ Trung Quốc, cây vải đầu tiên được đưa đến Myanma, sau đó được mở rộng sang Đài Loan, Mautirus, Madagasca và Tây Ấn Cuối thế kỷ 18, vải được đưa sang Ấn Độ, Anh, Pháp, Úc, Mỹ, (Singh,1954), (Meulen,1957), (Queens and Anon,1962) Đến thế kỷ thứ 19, cây vải được đưa đến trồng tại Israel Vào những năm 30 của thế kỷ 20, các công nhân Hoa Kiều gốc Quảng Đông đã đưa vải vượt qua đường xích đạo vào Công Gô (Nghê Diệu Nguyên và Ngô Tố Phần, 1998) Hiện nay, vải được trồng ở trên 20 nước trên thế giới nhưng chủ yếu phân bố ở các nước Đông Nam Á, Châu Đại Dương, các bán đảo ở Thái Bình Dương và miền Nam Châu Phi

Ở Châu Á, các nước trồng vải là: Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Việt Nam, Myanma, Bawnglades, Campuchia, Lào, Maliaxia, Philippin, Srilanca, Indonexia và Nhật Bản

Ở châu Phi có: Nam Phi, Madagasca, Công Gô, Ga Bông, Mautitrius, và Rêuyniông

Trang 16

Châu Mỹ có Hoa Kỳ, Hundurat, Panama, Cu Ba, Tirinidat, Pooctoricô và Braxin (Nghê Diệu Nguyên và Ngô Tố Phần, 1998)

Ở Việt Nam, cây vải được trồng cách đây khoảng 2.000 năm và phân bố

từ 18 – 190 vĩ Bắc trở ra, nhưng chủ yếu vẫn là vùng đồng bằng sông Hồng, trung

du miền núi phía Bắc và một phần khu Bốn cũ Sử sách đã chép lại rằng: cách đây 10 thế kỷ, dưới thời Bắc thuộc, vải (tiếng Hán là Lệ Chi) là một trong những cống vật hàng năm Việt Nam phải đem nộp cho các vua Trung Quốc Năm 722, Mai Thúc Loan đã hiệu triệu những người dân phu đi gánh vải cống nộp cho chính quyền nhà Đường

Theo các tài liệu đã công bố, Việt Nam cũng được coi là một trong những nước có nguồn gốc phát sinh của cây Vải Theo tài liệu của Pháp để lại (C Petelot - 1952 ) có nói đến nhiều cây vải dại mọc ở sườn núi Ba Vì Theo

Vũ Công Hậu – 1982, cây Vải đã được phát hiện mọc ở chân núi Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc Đây là những cây Vải dại, quả có hình dạng, mầu sắc và gai quả giống hệt vải trồng, chỉ khác quả nhỏ khoảng 6 – 8 gam, cùi mỏng, ăn chua…Ở các vùng này người ta còn tìm được những cây vải dại quả nhỏ, gai dài, hạt to,

ăn chua…có đặc điểm tương tự như một số loài vải trồng hiện nay (Vũ Công Hậu, 1996)

Vùng Thanh Hà (Hải Dương) hiện nay còn cây vải nhà cụ Hoàng Văn Thụ trên 130 tuổi được coi là cây vải tổ Hàng năm, vào vụ vải chín người dân tôn Quý Lâm, xã Thanh Sơn, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương vẫn tổ chức ngày hội làng để tưởng nhớ người có công đã mang cây vải – cây xóa đới giảm nghèo và làm giầu về vùng quê này, góp phần đem lại ấm no cho người dân

Từ vùng Thanh Hà – Hải Dương, cây vải đã được đưa đi trồng trọt ở hầu hết các tỉnh miền Bắc, miền Trung và cả một số tỉnh Tây Nguyên

2.1.2 Phân loại vải

Vải (Litchi chinensis Sonn) thuộc họ bồ hòn (Sapindaceae), bộ Bồ hòn (Sapindales), phân lớp hoa hồng (Rosidae) Họ Bồ hòn có 150 chi, với khoảng

2.000 loài được phân bố ở vùng nhiệt đới và Á nhiệt đới, chủ yếu tập trung ở vùng Châu Á và một số ít loài thuộc Nam Mỹ, Châu Phi và Austraylia (Hoàng Thị Sản, 2003)

Vải có 3 loài phụ:

Litchi chinensis: loài này tập trung các giống vải thương mại ngày nay có

Trang 17

nguồn gốc từ miền Nam Trung Quốc Hiện tại Trung Quốc có khoảng trên 100 giống trong đó có 15 giống thương mại quan trọng, Ấn Độ có trên 50 giống, Thái

Lan có trên 20 giống, Austraylia có trên 40 giống (Boss et al., 2001).

Litchi philipinsensis: Được trồng nhiều ở Philipin và Papua New Guinea

trên những vùng núi cao, cây sinh trưởng tốt, tán lá rậm rạp mầu xanh sẫm quả nhỏ hình ô van, vỏ quả dày, gai quả nhọn, hạt to dài, cùi chỉ là một lớp mỏng bao quanh hạt, ăn có vị chua và chát

Litchi javenensis: loài phụ này có nguồn gốc từ Malay Peninsula,

Indonesia, Trung Quốc, West Java và Đông Nam Á, có đặc điểm quả nhỏ, hạt to, gai dài và ăn có vị chua

2.1.2.1 Một số giống vải chính trên thế giới

Trên thế giới hiện nay có nhiều giống vải khác nhau, trong đó Trung Quốc được coi là nơi có nh iều giống vải nhất, khoảng trên 200 giống và dòng Tuy nhiên, chỉ có khoảng 20 giống được phát triển rộng rãi (Chen and Huang, 2000)

Ở tỉnh Quảng Đông các giống vải như: Baila, Baitangying, Heiye (Hắc diệp), Fezixiao, Guiwei (Quế vị), Nuomici (Nhu mễ tư) và Huazhi (Hoài chi) được trồng với diện tích khá lớn khoảng hơn 140.000 ha, trong đó giống Guiwei, Nuomici chiếm hơn 80% diện tích Tỉnh Phúc Kiến trồng chủ yếu giống vải Lanzhu với diện tích khoảng hơn 25.000 ha Phân theo chất lượng các giống vải ở Trung Quốc

có hai nhóm chính: nhóm khi quả chín, thịt quả thường nhão và ướt còn nhóm kia khi chín thì cùi ráo và khô Phân theo vụ thu hoạch thì có 3 nhóm:

Nhóm chín sớm và cực sớm: giống Sanyuehong, Feizixiao, Edanli, Ziliangxi, các giống này được trồng tập trung chủ yếu ở tỉnh Hải Nam Giống Sanyuehong là giống chín sớm nhất vào cuối tháng 4

Nhóm chín chính vụ: Khoảng 90% sản xuất vải ở Trung Quốc là giống chính vụ, gồm các giống: Baila, Baitangying, Heiye, các giống này được trồng tập trung ở tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Phúc Kiến, Zhanjiang, Maoming và Yangjiang Thời gian thu hoạch nhóm chính vụ kéo dài khoảng 50 ngày, từ cuối tháng 5 đến giữa tháng 7

Nhóm chín muộn: Guiwei, Nuomici, Huazhi, Feizixiao, Lanzhu, các giống này được trồng tập trung ở tỉnh Quảng Đông, đông nam tỉnh Quảng Tây và tỉnh Phúc Kiến (Ghosh et al, 2000); Mitra, 2002 Giống chín muộn nhất là giống Nanmuye, vào giữa tháng 8 ở tỉnh Tứ Xuyên Tại Đài Loan, giống vải chủ yếu là giống Heiye (Hắc diệp), chiếm hơn 90% tổng diện tích Ngoài ra còn có giống

Trang 18

Yuhebao được trồng ở miền Nam và giống Feizixiao được trồng ở miền Trung (Anonymous, 2000) Tại Nam Phi giống vải chủ yếu là Kwaimi (thường được gọi là “Mauritius” v có nguồn gốc từ hòn đảo này) chiếm 75% sản xuấ t vải ở Nam Phi; tiếp đến là giống McLean -Red, chiếm 16% (Milne, 1999; Ghosh, 2001) Ấn Độ có khoảng 51 giống, trong đó giống được trồng nhiều là: Shahi, Bombai, Rose Scented, China, Deshi, Calcutia và Mazaffarpur (Chen and Huang, 2000) Giống vải trồng chủ yếu ở Thái Lan là giống Hong Huay, chiếm tới 70% diện tích, sau đó là giống Kom, chiếm 11%, còn lại là các giống khác như O -Hia, Hoài Chi (Huazhi) và Chakrapad (Subhadrabandhu and Yapwattanaphun, 2001) Giống vải của Thái Lan được chia làm hai nhóm: nhóm yêu cầu ít chặt chẽ với nhiệt độ lạnh trong mùa đông được trồng ở khu vực trung tâm của Thái Lan, nhóm yêu cầu nhiệt độ lạnh chặt chẽ hơn trong mùa đông được trồng ở các tỉnh phía Bắc (Anupunt, 2003; Teng, 2003) Ở Nam Mỹ, chỉ có 2 nước trồng vải

là Braxin và Mê -xi-cô Giống chủ yếu trồng ở Sao Paulo - Braxin là Bengali nhập từ Ấn Độ và ở Mê -xi-cô là Hắc diệp và Kwaimi do cộng đồng người Hoa đưa đến từ Trung Quốc (Yamanishi và cs, 2001) Ở Bắc Mỹ (chủ yếu là Mỹ), v ải được trồng ở Florida, chiếm 95% Một số ít được trồng ở Hawai và California Giống chủ yếu là giống Brewster (Chenzi) Từ năm 1992 có thêm giống Mauritius (Campbell, 2001, Knight, 2001) Các giống vải trồng ở Australia chủ yếu là: Kwai May Pi nk, tiếp đến là Feizixiao, Shuidong và Huaizhi Giống địa phương là Salathiel Sản xuất vải ở Australia tập trung chủ yếu ở bang Queensland: có tới 50% diện tích trồng ở phía Bắc, 40% ở phía Nam Queensland Chỉ 10% diện tích vải được trồng ở Bắc New South Wales (Menzel, 2002) Israel cũng trồng vải từ năm 1930 với những giống: Mauritius nhập nội từ Nam Phi, giống Floridian nhập nội từ Mỹ và Bengali nhập nội từ Ấn Độ (Goren

và cs, 2001) Tuy nhiên đến năm 1970, trồng vải ở Israel mới trở thành ngành sản xuất thương mại, với các giống chủ yếu là Mauritius (chiếm 80%) và Floridian (20%) (Gazit, 2001)

2.1.2.2 Một số giống vải chính ở Việt Nam

Ở Việt Nam, các giống vải được phân theo thời vụ thu hoạch như sau:

Các giống vải chín sớm: các giống có thời gian chín từ 5/5 đến 25/5 hàng

năm Đặc điểm hoa có phủ một lớp lông thưa màu nâu, quả hình tim hoặc trứng, khối lượng quả từ 30 - 40 g Các giống thuộc nhóm này là: vải tu hú, Hùng Long, Bình Khê, Yên Hưng, Yên Phú

Trang 19

Các giống vải chín chính vụ: các giống có thời gian chín từ 1/6 đến 25/6

trong điều kiện các tỉnh miền Bắc Chùm hoa có phủ lớp lông màu trắng, khối lượng quả trung bình 25 g, cùi ráo, vị thơm năng suất khá cao Các giống thuộc nhóm này là: thiều Thanh Hà, thiều Phú Hộ

Các giống vải chín muộn: là giống có thời gian chín khoảng từ 30/6 đến

15/7 hàng năm theo điều kiện các tỉnh miền Bắc Chùm hoa có phủ lớp lông màu trắng, khối lượng quả trung bình khoảng 35 g am, phẩm chất khá ngon Tuy nhiên ở nước ta hiện nay những nghiên cứu để phân lập nguồn gen của các giống chín muộn chưa có do vậy các giống chín muộn hiện nay vẫn có thể là các giống chín chính vụ do sử dụng các biện pháp kỹ thuật mà quả chín muộn hơn Các giống vải chín muộn hiện nay có các giống: chín muộn Thanh Hà, chín muộn Lục Ngạn (Trần Thế Tục, 2004) Năm 1991 nước ta nhập nội một số giống vải từ Trung Quốc là các giống:Heiye (Hắc diệp), Fezixiao (Phi Tử Tiếu), Guiwei (Quế vị), Nuomici (Nhu mễ tư) và Huazhi (Hoài chi), Kwai May Pink (Tam Nguyệt Hồng) Năm 1991, dự án VIE86 - 003 đã nhập một số giống từ Australia về Lục Ngạn như: Waichee, Taiso, Salathiel, Kwai May Pink… Qua theo d.i, các giống này đều sinh trưởng kém hơn vải thiều Thanh Hà Năm 1998, huyện Lục Ngạn tiếp tục nhập giống Bạnh Đường Anh và năm 2001, Tổng Cô ng ty Rau quả nhập giống Đại Bi Hồng cũng trồng tại Lục Ngạn, song các giống này sinh trưởng chậm và vẫn đang được tiếp tục theo dõi Theo kết quả điều tra của Nguyễn Văn Dũng cs (2005) (tại 13 huyện của 7 tỉnh miền Bắc), Việt Nam có tập đoàn vải khá phong phú Đã thu thập được 31 giống, trong đó tuyển chọn được 8 giống có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt, có tính chống chịu sâu bệnh khá, năng suất cao và ổn định Hiện nay, 5 giống đã được công nhận giống quốc gia là thiều Thanh Hà, Hùng Long, Bình Khê, Yên Hưng, Yên Phú Trong đó, trừ giống thiều Thanh Hà ra, 4 giống còn lại đều là giống chín sớm Hiện nay hơn 95% diện tích trồng vải của nước ta trồng giống vải thiều Thanh Hà, là giống chính vụ, chín rất tập trung, gây trở ngại cho chế biến và tiêu thụ Chính vì vậy, để nâng cao hiệu quả kinh tế của vườn quả, cần có một cơ cấu giống vải hợp l với thời gian thu hoạch khác nhau Trong đó, giống chín sớm được tập trung ưu tiên mở rộng diện tích do khả năng tiêu thụ và giá bán cao (Vũ Mạnh Hải, 2005)

2.2 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC VỀ CÂY VẢI

2.2.1 Yêu cầu sinh thái của cây vải

Nhiệt độ: nhiệt độ là nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến sinh trưởng sinh

Trang 20

dưỡng và sinh thực của cây vải, vùng có nhiệt độ bình quân năm từ 21-25oC vải phát triển tốt, nhiệt độ 0oC đối với giống chín muộn và 4oC đối với giống chín sớm thì cây vải ngừng sinh trưởng

Nhiệt độ lạnh vào thời kỳ phân hóa mầm hoa như là một yếu tố quyết định đến sự ra hoa của vải Tuy nhiên, nếu thời kỳ lạnh đến muộn khi lộc thu đã thành thục lâu thì cây vải sẽ xuất hiện lộc đông, cũng trong thời kỳ phân hóa hoa nếu nhiệt độ xuống quá thấp có thể phá hủy thùy hoa và ảnh hưởng đến sự phát triển của hoa (Hieke et al., 2002) Theo Yapwatanaphun (2000), ở Thái Lan các giống vải được chia làm hai nhóm: nhóm yêu cầu thời gian có nhiệt độ lạnh vào mùa đông ngắn hơn và nhóm yêu cầu nhiệt độ lạnh về mùa đông dài hơn

Menzel (1988) nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ đến tỷ lệ ra hoa trên 7 giống vải khác nhau cho thấy: nếu nhiệt độ chênh lệch ngày đêm là 25/20 và 30/25 thì cây vải không có hoa Nếu nhiệt độ duy trì ở ngưỡng thấp từ 15/10 cho đến lúc nở hoa thì số lượng chùm hoa đạt cao nhất, trong thời kỳ này nếu nhiệt

độ ngày đêm tăng dần tỷ lệ hoa đực sẽ tăng và một số chùm hoa sẽ trở lại thành cành dinh dưỡng Sự thụ tinh xảy ra tốt nhất ở nhiệt độ 19 - 22oC, nếu nhiệt độ thấp hơn sẽ ngăn chặn sự phát triển của ống phấn Ở điều kiện nhiệt độ 20/17oC hoặc 22/17oC, hạt phấn nẩy mầm trên đầu nhụy mất 5 ngày, nhưng chỉ mất 2 ngày khi điều kiện nhiệt độ là 33/27oC Tuy nhiên, nếu nhiệt độ cao và khô hạn thì tỷ lệ đậu quả thấp do hạt phấn bị khô, không nảy mầm và thụ tinh được, năng

suất sẽ giảm trầm trọng (Stern et al., 1997)

Cây vải muốn có năng suất phải qua 2 thời kỳ: ra được mầm hoa và đậu được quả Thời kỳ phân hóa mầm hoa cây vải cần có nhiệt độ lạnh, thời kỳ nở hoa phải ấm không có gió bấc và mưa phùn Năm nào nhiệt độ mùa đông thấp, khô, biên độ nhiệt độ ngày đêm lớn sẽ có lợi cho phân hóa mầm hoa, tích lũy dinh dưỡng vào quả và cây có khả năng cho năng suất cao Thời kỳ phân hóa hoa khác nhau tùy theo giống, các giống chín sớm phân hóa hoa vào tháng 11 các giống chín trung bình và muộn phân hóa tháng 12 (Trần Thế Tục, 1997)

Trần Thế Tục (2004) cho rằng, các giống vải khác nhau yêu cầu nhiệt độ thấp vào mùa đông khác nhau, các giống chín sớm có thể hình thành mầm hoa ở nhiệt độ cao hơn so với vải Thanh Hà và Phú Hộ Vũ Mạnh Hải (2000) cho thấy, nhiệt độ các tháng 12 đến tháng 2, lượng mưa tháng 11, 12, số giờ nắng tháng 11,

12 có tương quan đến năng suất giống vải Thanh Hà

Trang 21

Ánh sáng: vải là cây ưa sáng, tổng số giờ chiếu sáng trong năm khoảng

1.800 giờ thích hợp cho vải Ánh sáng đầy đủ làm tăng khả năng đồng hóa, xúc tiến quá trình phân hóa mầm hoa, tăng màu sắc của vỏ quả và làm tăng phẩm chất quả Nếu không đủ ánh sáng hoặc trồng quá dày, quá trình quang hợp bị hạn chế thì sự ra hoa đậu quả sẽ khó khăn Đối với vườn vải khi trồng quá dầy hoặc không cắt tỉa thường xuyên sẽ làm giảm số chùm hoa và chiều dài chùm hoa (Phạm Văn Côn, 2004)

Lượng mưa và độ ẩm: Đối với cây vải, thời gian vải phân hóa mầm hoa,

lượng mưa có ảnh hưởng đến tỷ lệ hoa đực và hoa cái Mưa nhiều cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ đậu quả của vải Thời kỳ nở hoa gặp mưa cộng thêm gió rét khiến cho hạt phấn phát dục kém, quá trình thụ phấn bị ảnh hưởng, mặt khác mưa ẩm làm phát sinh nhiều nấm bệnh trên cây dẫn đến giảm tỷ lệ đậu và tăng tỷ

lệ rụng quả Thời gian vải chín, nếu gặp mưa sẽ ảnh hưởng đến chất lượng quả

do vỏ quả bị nứt (Trần Thế Tục, 2004)

Lượng mưa và độ ẩm cũng là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của vải Mùa hè, lượng mưa tương đối nhiều là thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng của cây vải, mùa đông ít mưa, đất khô hạn đã ức chế sinh trưởng của rễ và cành, thuận lợi cho phân hóa mầm hoa (Ngô Diệu Nguyên và Ngô Tố Phần, 1991)

Gió: Gió có tác dụng hỗ trợ hoa thụ phấn, thụ tinh Gió Tây Bắc khô làm

khô đầu nhụy ảnh hưởng đến thụ phấn, gió Đông Nam ẩm ướt làm hoa vải có thể

bị rụng Thời gian quả phát triển gió to làm quả bị rụng, cành gãy, thậm chí đổ cây Chính vì vậy, khi thiết kế chọn vườn cần phải chọn đất và thiết kế đai rừng chắn gió, quá trình chăm sóc nên cắt tỉa thường xuyên để cây có tán thấp

Đất: Cây vải có tính thích nghi cao với nhiều loại đất khác nhau Ở các

loại đất như đất đỏ, đất vàng, đất cát pha, đất phù sa và đất thịt nặng cây vải đều phát triển được và cho năng suất Loại đất thích hợp nhất cho cây vải là đất phù

sa có tầng canh tác dầy, thoát nước tốt Vùng đất trũng cũng có thể trồng được vải, nhưng phải làm luống cao, có rãnh thoát nước Theo Trần Thế Tục (2004) yếu tố hạn chế vùng trồng vải không phải là loại đất mà chủ yếu là thời tiết khí hậu Trong đó, hai yếu tố quan trọng nhất là nhiệt độ thấp, lượng mưa ít vào tháng 12 và tháng 1 để cây phân hóa mầm hoa

2.2.2 Nghiên cứu về đặc điểm thực vật học của vải

Nghiên cứu các đặc điểm thực vật thông qua chỉ tiêu về sinh trưởng và

Trang 22

phát triển của cây trong điều kiện khí hậu của một khu vực qua nhiều năm có thể đánh giá được mức độ thích nghi, khả năng bảo tồn các đặc tính vốn có của giống cũng như tiềm năng cho năng suất

Rễ: Cây vải có bộ rễ rất khỏe gồm rễ ăn đứng và rễ ăn ngang, bộ rễ ăn

sâu, nông, rộng, hẹp tùy thuộc vào cách nhân giống, đất trồng, nước phân bón, không khí và chế độ nhiệt trong đất Đại bộ phận rễ tơ tập trung trong và phạm vi ngoài tán 10 - 50 cm, độ sâu 0 - 50 cm Hoạt động của bộ rễ vải chia làm 3 thời kỳ: Thứ nhất sau lúc hoa nở rộ đến giữa tháng 6, đây là thời kỳ bộ rễ hoạt động mạnh mẽ và nhiều rễ nhất; thứ hai vào giữa tháng 8; thứ ba sau khi lộc thu thành thục (vào khoảng trung tuần tháng 10) Với bộ rễ phát triển, có khả năng hấp thụ mạnh nên vải có khả năng chịu hạn Yuan and Huang (1993) khi nghiên cứu sự phát triển bộ rễ của giống Nuamici cho thấy, đợt rễ xuất hiện vào tháng 5 là nguyên nhân gây rụng quả trầm trọng Zhou et al, (1996) cũng nhận thấy, nếu đợt

rễ mới không phát triển vào tháng 5 đối với hai giống Huaizu và Nuamici thì tỷ

lệ rụng quả sẽ giảm hẳn Kết quả cho thấy nghiên cứu đối với sự sinh trưởng của

bộ rễ có thể tác động các biện pháp kỹ thuật làm giảm bớt tỷ lệ rụng quả sinh lý cho vải

Thân, cành: Cây trưởng thành cao tới 10 - 15 m, tán hình mâm xôi hoặc

bán cầu, đường kính tán từ 8-10 m Thân có đường kính lớn, vỏ nhẵn, màu tối, gỗ màu nâu Đối với cây vải tùy vào điều kiện sinh thái, khả năng trồng trọt, một năm cây thường ra 3 đến 4 đợt lộc Các đợt lộc có liên quan chặt chẽ với nhau, quá trình ra lộc năm nay sẽ là tiền đề cho việc ra hoa kết quả ở năm sau Thông thường cành mẹ của cây vải là cành thu, tùy theo giống, tùy tuổi cây mà một năm

có thể có từ 1 - 2 đợt cành thu (Hieke and Menzel, 2001) Hoa vải ra chủ yếu từ lộc xuân mọc từ cành thu năm trước, nhưng không phải có lộc thu là có hoa Nếu lộc thu ra quá muộn, sinh trưởng tích lũy kém, dù gặp điều kiện khí hậu thuận lợi cũng không thể phân hoá mầm hoa được Nếu lộc thu ra sớm mà ngay sau đó là đợt lộc đông thì cây cũng không có khả năng ra hoa Phân hóa mầm hoa sớm hay muộn còn do tuổi cành mẹ chi phối, cành mẹ thành thục sớm thì phân hóa mầm hoa sớm, cành mẹ thành thục muộn thì phân hóa mầm hoa muộn Nghiên cứu của Menzel (1992); Ngô Xuân Bình (2005) cho thấy, cành vải trong vụ xuân có ba loại: một loại phát sinh chùm hoa, một loại phát sinh chùm hoa có kèm theo lá và một loại phát triển thành cành dinh dưỡng (không ra hoa) Loại cành có hoa kèm theo lá thường có tỷ lệ đậu quả thấp hơn

Trang 23

Do vậy, khống chế được thời gian hình thành và tốc độ sinh trưởng của cành thu có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình phân hóa mầm hoa (Zeng et al., 2002) Nghiên cứu thời gian ra lộc của cây, xác định đợt lộc có khả năng ra hoa

và cho năng suất cao nhất, tìm ra sự liên hệ giữa các đợt lộc sẽ là nền tảng cho việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật, thúc đẩy đợt lộc tốt, hạn chế đợt lộc có khả năng cho năng suất thấp Nghiên cứu sinh trưởng của các giống vải chín sớm trồng tại Viện Nghiên cứu Rau quả cho thấy: các giống vải chín sớm có khả năng

ra lộc tốt, thời gian hoàn thành các đợt lộc hè từ 36 - 49 ngày, lộc thu từ 38 - 50 ngày Các chỉ tiêu về đường kính, chiều dài, số lá của các đợt lộc của vải chín sớm đều cao hơn vải Thanh Hà (Nguyễn Văn Dũng, 2005)

Lá: Lá vải thuộc lá kép lông chim gồm 2 - 4 đôi, mọc so le, lá chét cứng,

dai có chất sừng Cuống lá ngắn, mặt lá xanh đậm, phản quang, rìa lá không gợn sóng, nhẵn bóng, mặt dưới lá mầu trắng xám, gân nhẵn, không nổi rõ lên trên lá Mút lá nhọn, gốc lá hơi tù, lá non khi mới ra màu tím đỏ, khi cành thành thục màu xanh đậm Kích thước lá của các giống vải chín sớm lớn hơn so với vải Thanh Hà, màu sắc lá non lúc mới ra cũng sẫm hơn Theo Nguyễn Văn Dũng (2005), kích thước lá vải chín sớm dài từ 13 - 15 cm, rộng 3 - 4 cm trong khi vải Thanh Hà lá chỉ dài từ 9 - 10 cm, rộng từ 3,4 - 3,6 cm Nghiên cứu của Lê Đình Danh và Nguyễn Quang Huy (1999) cũng cho thấy: lá vải Hùng Long có kích thước to, lộc non lúc mới ra có mầu sẫm hơn so với vải Thanh Hà

Hoa: Bản chất hoa vải là hoa lưỡng tính Tuy nhiên, trong quá trình phát

triển, một số bộ phận không phát triển (nhị/nhuỵ) hoặc bị tiêu biến (cánh hoa) Một số hoa có các bộ phận mang tính đực (nhị) không phát triển bình thường, nhỏ lại các bộ phận này không có tác dụng trong sinh sản được gọi là hoa cái Ngược lại, đa số hoa có các bộ phận mang tính cái (nhuỵ, bầu) không phát triển

và không có tác dụng trong sinh sản được gọi là hoa đực:

Hoa đực có khả năng tung phấn để thụ tinh Hoa cái thường có hai bầu phát triển, sau khi thụ tinh xong, thường chỉ có một bầu phát triển thành quả (Trần Thế Tục, 2004)

Hoa cái: khi hoa phát triển hoàn toàn, ba bộ phận bầu nhụy, vòi nhụy và đầu nhụy phân hóa khá rõ Bầu nhụy phát triển thường có 2 - 3 tâm bì Khi nhụy chín đầu nhụy tiết ra dịch là thời điểm thụ phấn tốt nhất Với sản xuất hoa cái rất quan trọng, tuy nhiên tỷ lệ hoa cái nhiều hay ít tùy thuộc vào từng giống và điều kiện môt trường

Trang 24

Nhiệt độ là yếu tố môi trường chính ảnh hưởng tới tỷ lệ giới tính Một thí nghiệm cho thấy, cây 2 năm tuổi của 5 giống đặt trong điều kiện chế độ nhiệt

15o/10o, 20o/15o, 25o/20o và 30o/25oC thì ở chế độ nhiệt thấp, cây cho tỷ lệ hoa cái cao nhất, trung bình lần lượt là: 72, 49, 27 và 11% Dưới chế độ nhiệt

25o/20oC giống Bengal và Souey Tung (Thủy Đông) không ra hoa cái, còn giống Huazhi (Hoài Chi) không ra hoa cái ở chế độ nhiệt 30o/25oC (Menzel and Simpson, 1992)

Trong một chùm hoa, số hoa cái có khả năng đậu quả cũng chỉ chiếm từ

15 - 20% tổng số hoa Thông thường cành hoa ngắn, có tỷ lệ đậu quả cao, mật độ quả dầy và đều hơn so với loại hình cành hoa dài Tuy nhiên tỷ lệ đậu quả của các giống vải lại liên quan chặt chẽ đến tỷ lệ hoa cái và hoa lưỡng tính Quan sát trên các chùm hoa nở sớm cho thấy, chùm hoa thường có kích thước lớn, tỷ lệ hoa đực cao và tỷ lệ đậu quả kém Các chùm hoa nở muộn hơn thường là chùm hoa nhỏ, với tỷ lệ hoa đực ít hơn và đậu quả tốt hơn (Mezel, 1988)

Yuan and Huang (1993) khi nghiên cứu sự nở hoa của vải cho thấy, có sự tương quan chặt giữa số lượng lá trên cành mẹ với số quả đậu/chùm Trên một chùm hoa, nếu có nhiều lá lá tỷ lệ đậu quả sẽ thấp và ngược lại Khi nghiên cứu

về khả năng ra hoa của 7 giống vải chín sớm được tuyển chọn so với Thanh Hà cho thấy các giống vải chín sớm có số lượng hoa/chùm dao động từ 2.832,5 - 3.758,4 hoa/chùm so với 940,5 hoa/chùm của giống Thanh Hà (Nguyễn Văn Dũng, 2005)

Hạt phấn của giống khác đôi khi góp phần làm tăng tỷ lệ đậu quả Một số nghiên cứu về canh tác ở các trang trại trồng hồng cũng như chôm chôm, xoài và vải cho thấy: trồng xen làm tăng tỷ lệ đậu quả, giảm tỷ lệ rụng quả Tuy nhiên mỗi giống lại yêu cầu một loại cây trồng xen khác nhau Trong một chùm hoa vải, số lượng hoa đực chiếm khoảng 70 - 80% tổng số hoa Mặt khác, hoa đực và hoa cái không nở cùng một lúc mà nở xen kẽ đôi khi hoa đực nở trước sau đó hoa cái mới nở Nếu trong vườn chỉ trồng thuần một loại giống sẽ xảy ra thụ phấn không đều làm cho tỷ lệ đậu quả kém

Theo Li (2000), để vải tự thụ phấn, tỷ lệ đậu quả là 4,2%, nếu thụ phấn chéo đạt 6,9% Thời gian vải nở hoa, nếu cách ly không cho côn trùng lui tới tỷ

lệ đậu chỉ đạt 0,026 - 0,105%, để côn trùng tự do hoạt động tỷ lệ này là 0,17 - 11,25% (Trần Thế Tục, 2004) Sự thiếu hụt số lượng hạt phấn cũng như các hạt phấn khỏe mạnh vào thời điểm hoa cái nở là một trong những nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ đậu quả thấp hoặc gây rụng quả sinh lý Theo Goren (2000), một số

Trang 25

trang trại trồng vải của Israel mặc dù đã áp dụng các biện pháp kỹ thuật như bón phân, phun chất điều hòa sinh trưởng, khoanh cành mà năng suất vẫn thấp, nguyên nhân do vải không được thụ phấn đầy đủ Do vậy, khi được trồng thêm các cây thụ phấn bổ khuyết, năng suất đã tăng từ 20 - 30%

Nghiên cứu của Singh and Chaudhary (2004) ở Ấn Độ cũng cho thấy: các cây vải thụ phấn tự do có tỷ lệ quả đậu cao hơn so với các cây tự thụ phấn Kích thước quả của cây thụ phấn tự do cũng lớn hơn so với tự thụ Theo Trần Thế Tục (2004), Việt Nam chưa áp dụng thụ phấn nhân tạo cho vải nhưng ở Trung Quốc đã

có kinh nghiệm thụ phấn cho vải: trên cây vải khi hoa đực nở thu gom tất cả các hạt phấn chế thành dung dịch rồi phun cho cây vào thời kỳ hoa cái nở rộ Kết quả

có thể làm tăng tỷ lệ đậu quả ở thời kỳ đầu từ 129 - 314% so với thụ phấn tự nhiên

Quả: Có nhiều dạng: hình trứng, hình bầu dục, hình trái tim, hình cầu tùy

từng giống Cùi vải thường chiếm 60-70%, vỏ hạt chiếm 20-30% khối lượng quả, lúc còn xanh, quả có màu xanh nhạt, khi chín màu đỏ thẫm, cùi vải mầu trắng vị ngọt pha chua hoặc rất chua tùy theo giống Hạt vải hình bầu dục dài, màu nâu bóng Thời gian từ lúc hoa cái bắt đầu nở đến lúc thu hái được quả ngắn nhất cũng mất 70 ngày, dài đến hơn 100 ngày, quả vải phát dục có ba giai đoạn và có

ba lần rụng quả:

Giai đoạn 1: Tế bào tăng trưởng mạnh để phát triển phôi, vỏ hạt, vỏ quả Sau hoa cái nở 10 ngày, quả bằng hạt đậu thì rụng quả sinh lý đợt 1

Giai đoạn 2: Hạt phát triển nhanh, tăng nhanh về thể tích và khối lượng

Vỏ hạt cứng dần cho đến lúc thịt quả bao kín hạt Lúc thịt quả bao kín hạt từ 1/3 đến 2/3, do thiếu dinh dưỡng hoặc bên trong thiếu các chất kích thích sinh trưởng, xuất hiện rụng quả lần 2

Giai đoạn 3: Thịt quả phát triển rất nhanh và quả đến giai đoạn chín Từ lúc thịt quả bao kín hạt cho đến khi quả chín thời gian từ 19 - 25 ngày Thời gian này dinh dưỡng và khoáng tích lũy nhanh vào quả, vỏ quả đã có phần chuyển màu Do cường độ tích lũy nhanh nếu gặp thời tiết bất thuận (nắng hạn, mưa to)

sẽ làm rụng quả (Trần Thế Tục, 2004)

2.2.3 Nghiên cứu về kỹ thuật bón phân và cắt tỉa cho cây vải

2.2.3.1 Những nghiên cứu ngoài nước

* Nghiên cứu về kỹ thuật cắt tỉa

Ở tất cả các nước trồng vải trên thế giới đều có những nghiên cứu về các

Trang 26

biện pháp cắt tỉa, tạo hình và đều nhằm mục đích tạo cho cây có bộ khung tán cân đối, thuận lợi cho quang hợp, hạn chế sâu bệnh hại, dễ chăm sóc, quản lý, làm tăng năng suất, phẩm chất quả Sự sinh trưởng tự nhiên của cây ăn quả thường không đáp ứng yêu cầu về cấu trúc tối ưu và thuận lợi cho việc chăm sóc tán cây Cắt tỉa nhằm mục đích điều hòa sinh trưởng, ra hoa kết quả của cây Cắt tỉa làm giảm chiều dài cành, tỉa bớt cành nhánh, hướng cành ra phía ngoài làm giảm số lượng mầm sinh trưởng dẫn tới việc phân phối lại các chất giữa các cơ quan còn lại, làm cho quả phát triển to hơn Cắt tỉa còn hạ bớt chiều cao cây, giữ được ánh sáng tối ưu chiếu vào cây ăn quả, nâng cao năng suất lao động khi chăm sóc vườn Cắt tỉa nâng cao tính hoạt động sinh lý của mô tế bào và hiệu suất thoát hơi nước trong điều kiện khô hạn Đây là một trong những biện pháp cải thiện chế độ ẩm cho cây

Theo nghiên cứu của các nhà khoa học Trung Quốc: biện pháp quan trọng

để cây vải năm nào cũng ra hoa là giữ lại lộc thu đúng lúc, khống chế lộc đông Trong ba loại lộc thu: lộc thu trên cành hè, lộc thu trên cành cắt ngắn, lộc thu trên cành quả sau thu hoạch có số quả đậu trên chùm và năng suất chùm quả cao nhất (Nghê Diệu Nguyên và Ngô Tố Phần, 1991)

Tác giả Stern et al (2005) cho thấy: nếu cắt tỉa cho vải sớm từ giữa tháng

10 - 11 thì vải nở hoa đều, nếu không cắt tỉa thì chỉ có 65 - 79% số cây trong vườn nở hoa, tuy nhiên cắt tỉa muộn vào tháng 12 - 2 làm số cây nở hoa giảm đi

và năng suất giảm rõ rệt

Theo tác giả Hieke, Menzel et al (2002): khi cắt tỉa khoảng 50% số cành

của vải và tỉa đều trên toàn cây cho thấy những cây cắt tỉa cho năng suất cao hơn

từ 30 - 40% so với cây không cắt tỉa

Trong kỹ thuật làm vườn hiện đại, cắt tỉa là khâu kỹ thuật then chốt, cần

có kiến thức, kinh nghiệm và tay nghề (Phạm Văn Côn, 2004; Ngô Xuân Bình, 2005)

Phương pháp cắt tỉa nhìn chung tương đối giống nhau Tùy theo từng loại cây mà phương pháp cắt tỉa có thể là tạo tán mở hình phễu hay tạo tán hình rẻ quạt Ngoài việc cắt tỉa cành, ở Trung Quốc còn sử dụng biện pháp cắt ngắn chùm hoa nhằm hạn chế tiêu hao dinh dưỡng, giúp cho quá trình đậu quả và phát triển của quả tốt hơn

Theo Hertslet (1989), đốn, cắt tỉa, tạo hình có thể coi như là các kỹ thuật điều chỉnh sinh trưởng và phát triển của cây trồng nói chung và cây vải nói riêng

Trang 27

Muốn biết cắt tỉa vào lúc nào, những cành nào nên cắt bỏ thì phải có những nghiên cứu cụ thể, dựa trên các nguyên lý chung sau đây:

+ Sự phát triển của các bộ phận trên mặt đất và dưới mặt đất có sự cân bằng theo tỷ lệ nhất định đối với từng loài cây trồng Nếu phá vỡ sự cân bằng này, cây sẽ tự thiết lập lại một cân bằng mới, dựa vào đặc điểm này ta có thể thay lộc, cành mới hay phục tráng lại bộ rễ

+ Những cành ở trên mặt tán có hiện tượng ưu thế ngọn, kìm hãm sự phát triển của các cành phía dưới Phá vỡ hiện tượng ưu thế ngọn sẽ tạo điều kiện cho các cành phía dưới phát triển

+ Theo lý luận về giai đoạn phát dục của các vị trí cành trên cây, sự phát dục giảm dần từ cành ngọn xuống cành ở dưới Vì vậy, cần tạo cho cây có bộ tán phân bố đều Mặt khác, thông qua cắt tỉa sẽ làm tăng khả năng ra hoa, đậu quả của cây

Nguyên tắc cắt tỉa: Theo Cục hợp tác nghiên cứu về sản xuất Nông nghiệp

Úc (2001), nguyên tắc cắt tỉa với các đối tượng cây như sau:

+ Đối với cây vải trẻ: thời kỳ này cây vải mới cho quả nên cắt tỉa nhẹ, để lại nhiều cành Nói chung, chỉ cắt bỏ những cành đã mất khả năng quang hợp, cành la sát mặt đất và một số ít cành mọc sít nhau, cành tăm, cành sâu bệnh Thời

kỳ này chỉ cắt tỉa khoảng 10% số cành

+ Đối với cây vải trưởng thành: giai đoạn này cây vải đã chuyển sang thời

kỳ sai quả, tiêu hao nhiều dinh dưỡng vì vậy nên cắt tỉa nặng, để dinh dưỡng tập trung cho những cành còn lại, thúc đẩy lộc thu phát triển, bảo đảm chắc chắn sang năm có quả Thời kỳ này cắt tỉa khoảng 20 - 30% số cành

- Đối với cây vải già: căn cứ vào khả năng sinh trưởng và tình hình ra quả

vụ trước để xác định mức độ cắt tỉa nặng hay nhẹ Cây có nhiều cành, cành yếu thì cắt tỉa nặng, làm giảm sinh trưởng để tập trung dinh dưỡng ra lộc mới mập và khoẻ hơn Trọng tâm thời kỳ này là phục tráng và trẻ hóa bộ tán lá

Phương thức cắt tỉa:

+ Cắt tỉa cành: thời gian cắt tỉa tiến hành trước khi nhú lộc xuân là thích hợp Sau khi cắt tỉa, trong năm sẽ ra 2 - 3 đợt lộc để khôi phục tán Ở thời kỳ này, nếu cần phục tráng cây, có thể phải hủy bỏ 1 - 2 vụ quả tiếp theo để tập trung dinh dưỡng tái tạo lại thân, cành và bộ tán

Trang 28

+ Thay rễ mới: việc thay rễ mới cũng được coi là một biện pháp cắt tỉa

Bộ rễ có tác dụng quyết định đối với sinh trưởng của cây Nếu bộ rễ già cỗi, năng lực hấp thu kém, lộc mới sinh trưởng cũng kém, mức độ nặng dẫn đến rụng lá thậm chí cây bị chết khô Cắt đứt rễ cũ sẽ thúc đẩy phát sinh nhiều rễ mới, nâng cao khả năng hấp thu, tạo cơ sở vật chất cho cành sinh trưởng Biện pháp hữu hiệu nhất là làm đứt rễ đúng mức và cải tạo đất

Theo Menzel (2002), đốn tạo hình cho các giống như: Tai So, Kwai May Pink trong thời kì cành sinh trưởng mạnh hoặc tạo những cành mẹ, người ta cắt

đi xấp xỉ 15 cm trong vụ xuân (ở lộc xuân năm thứ 2) Việc tăng số lượng của chồi ở các điểm cắt sẽ tạo ra số lượng lớn hoa và quả, giảm bớt sự rủi ro khi cành

bị điều kiện ngoại cảnh xấu tác động Với những giống phân cành dày như: Kwai May Pink, Wai Chi thì cắt đi xấp xỉ 10 - 20% số cành trong tán ở năm thứ 3 Mặc dù đã được đốn tỉa nhưng với những giống như: Tai So thì cành vẫn

có khả năng bị bẻ gẫy (cành yếu) Để giảm bớt sự rủi ro này, người trồng vải ở Australia đã dùng biện pháp: treo cành to, nặng vào thân chính để chống cành

bị chẻ ra Biện pháp này cũng rất phù hợp với các giống ở Châu Á (Simpson et

al., 1992)

Theo Nghê Diệu Nguyên và Ngô Tố Phần (1998), khi cắt tỉa, bắt đầu tiến hành từ cành to trong tán trở ra Sau khi cắt tỉa xong, giữ cho các cành xung quanh tán phân bố đều, tầng lá dầy Khi ánh sáng chiếu xuống dưới tán chỉ thấy đốm sáng bằng đồng xu là vừa Sau khi cắt tỉa, mầm bất định ở gần vết cắt của cành mọc ra làm rối loạn hình dạng tán, tiêu hao dinh dưỡng Cần vặt bỏ kịp thời những chồi này (tỉa chồi)

Ảnh hưởng của gió, bão cũng là một trong những yếu tố cần chú ý đối với

một số giống vải Theo Nakasone et al (1998), việc đốn tỉa cho các cây còn trẻ

sẽ tạo cho chúng một cấu trúc khoẻ mạnh, hạn chế đến mức thấp nhất ảnh hưởng của gió bão và làm tăng diện tích mang quả Với những giống có cành dài như: Fay Zee Siu, Tai So cành rất dễ bị chẻ ra khi gặp gió Với những giống phân cành ngắn và dày, ví dụ như: Wai chi, No Wai Chi, gặp gió bão có thể bị bẻ gãy

ở phần sát mặt đất Cần quan tâm chăm sóc cho cây thường xuyên trong suốt 4 năm đầu tiên, tỉa bỏ những cành yếu, cành mọc trong tán và những cành có phần

vỏ sát vào nhau

Trang 29

* Nghiên cứu về kỹ thuật bón phân

Bảng 2.1 Hàm lượng dinh dưỡng thích hợp cho đất trồng vải

tính theo khối lượng

và hàm lượng dinh dưỡng trong đất của từng năm, đồng thời xác định hàm lượng các chất dinh dưỡng thích hợp cho đất trồng vải

Với cây vải trong thời kỳ chưa cho quả, bón phân chủ yếu tập trung nuôi cây và thúc đẩy sự sinh trưởng của thân cành, nguyên tắc bón phân của thời kỳ này là nên bón làm nhiều lần và bón lượng ít cho mỗi lần Năm thứ nhất do bộ rễ hẹp, tán nhỏ nên bón: 20 - 25g Urê, 15 - 20 g KCl và 50 - 70 g Lân Supe Từ những năm sau, lượng bón tăng lên 40 - 60% so với năm thứ nhất tuỳ thuộc vào

trạng thái sinh trưởng của cây, loại phân và tính chất đất (Menzel et al., 1986).

Cũng theo Menzel and Simpson (1989), khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa dinh dưỡng cho đất trồng vải đã đưa ra khoảng tối thích về dinh dưỡng cho đất với cây vải trưởng thành, trong đó, ngoài các yếu tố về đa lượng, các nguyên

tố vi lượng đặc biệt là Bo không những là yếu tố bắt buộc mà còn chiếm tỷ lệ cao hơn hẳn các nguyên tố khác

Trang 30

Từ lâu, ở các vùng trồng vải truyền thống của Trung Quốc như Quảng Tây, Phúc Kiến, Quảng Châu đã có tập quán bón phân phân hữu cơ cho vải Ở

Ấn Độ, theo tài liệu “The Litchi” 1989 của tác giả R.M PanDey, ngoài bón phân hữu cơ người ta còn kết hợp bón phân vô cơ theo độ tuổi cây Đối với cây 1 tuổi, bón 60 kg phân hữu cơ, 350 g đạm, 225 g lân và 60 g Kali

Theo H.Y.Nakasone, R.E.Paull (1997), ở Trung Quốc, trên đất đỏ Bazan, lượng bón hàng năm cho vải từ 300 đến 400 gam Ure cộng với 100 gam Superphosphate và 25 - 50 kg phân hữu cơ/cây Trong khi đó, ở Australia, lượng bón hàng năm cho cây vải 5 năm tuổi là 150 gam ure, 300 gam Superphosphate

và 150 - 200 gam Sunphat kali cho một lần bón Lượng bón này được tăng dần

20 - 30% mỗi năm cho tới khi cây đạt 15 năm tuổi

Qua phân tích đối với quả vải nếp và Hoài chi, Nghê Diệu Nguyên và Lý Quang Minh cho biết: để có được 100 kg quả thì cây vải phải lấy đi từ đất 0,14 - 0,16 kg N, 0,03 kg P2O5 và 0,13 - 0,15 kg K2O Đối với cây trên 30 tuổi thì lượng bón để đạt 100 kg quả vải tươi là 1,38 kg N, 0,8 kg P2O5, 1,5 kg K2O Nguyên tắc bón bất luận nhiều lần hay ít lần, chủ yếu xoay quanh thúc hoa, thúc quả và thúc lộc

Bón phân dựa vào tính chất nông hoá - thổ nhưỡng, nhu cầu dinh dưỡng của cây ăn quả Một số nước đã áp dụng công nghệ tin học xác định hàm lượng dinh dưỡng dựa trên phân tích lá, phân tích đất để bón phân cho cây ăn quả như ở Israel, Đài Loan, Nhật Bản

* Nghiên cứu về dinh dưỡng qua lá

Biện pháp bổ sung các loại dinh dưỡng qua lá được sử dụng rộng rãi ở tất

cả các nước trên thế giới Có rất nhiều loại chế phẩm dinh dưỡng với các nguyên

tố đa, vi lượng có thể phối trộn với một số chất điều tiết sinh trưởng Ở Trung Quốc, phun dinh dưỡng lên lá thường dùng: urê 0,3 - 0,5%, Kalidihydrogen Photphat 0,3 - 0,4%, KCl 0,3 - 0,4%; tro bếp 1 - 3% hoặc dung dịch Surperphotphat ngâm lộc 1 - 3% Thời gian lá non, nụ và quả non nên phun nồng

độ thấp, khi lá già và quả lớn thì phun nồng độ cao hơn Đây là phương pháp nhằm giúp cây hấp thu dinh dưỡng trực tiếp qua lá nhằm tăng khả năng tích luỹ trong cây, thúc đẩy các đợt lộc trong năm của cây nhanh thành thục

Theo Lương Xương, sau khi rữa hoa, thời kỳ gộp hạt và thời kỳ hạt bại dục, dùng dung dịch 0,2 % Kali dihydrogen photphat, thêm 0,8% ure + 0,1% sunphat Magie phun lên lá làm tăng tỷ lệ đậu quả 13,1% so với đối chứng

Trang 31

2.2.3.2.Những nghiên cứu trong nước

* Nghiên cứu về kỹ thuật cắt tỉa

Ở nước ta, trước những năm 1996, việc cắt tỉa hầu như không được biết đến Ngay cả ở những vùng trồng tập trung, người dân chỉ chú ý đến cắt bỏ những cành bị sâu bệnh đã chết khô trên cây Trong những năm gần đây, nhờ có các đề tài nghiên cứu khoa học, chương trình khuyến nông, các dự án giống cây

ăn quả, các chương trình hợp tác quốc tế, người dân đã được chuyển giao các biện pháp kỹ thuật, trong đó có kỹ thuật cắt tỉa và được ứng dụng ngay tại từng vườn hộ gia đình Các biện pháp cắt tỉa như tạo bộ tán thông thoáng để hạn chế sâu bệnh, tiết kiệm dinh dưỡng; đốn hạ thấp bộ tán; đốn trẻ lại đã được áp dụng ở nhiều vùng sản xuất tập trung như Thanh Hà, Hải Dương; Lục Ngạn, Bắc Giang; Đông Triều - Quảng Ninh Vùng vải Lục Ngạn - Bắc Giang cũng đã được các chuyên gia Thái Lan chuyển giao kỹ thuật đốn tỉa khống chế chiều cao cây và đã xây dựng được các mô hình trình diễn rất có hiệu quả

Hiện nay nước ta đang đưa vào cơ cấu giống các giống vải chín sớm nhằm góp phần rải vụ thu hoạch, giảm sức ép trong mùa thu hoạch Các giống vải chín sớm thường có tỷ lệ bật lộc đông cao, làm cho cây không có quả hoặc giảm năng suất Cắt tỉa, tạo hình để tạo cho cây có bộ khung cân đối, tán cây có khả năng hấp thu tốt nhất ánh sáng mặt trời, tạo điều kiện thuận lợi cho việc chăm bón, phòng trừ sâu bệnh, điều tiết sinh trưởng Đã có những nghiên cứu về cắt tỉa được tiến hành trên vải chín sớm: Cắt tỉa tạo hình cho cây trong giai đoạn kiến thiết cơ bản, cắt tỉa cho cây đang thời kỳ kinh doanh Cắt tỉa theo phương pháp bấm đầu cành sau thu hoạch và theo quy trình của Viện Nghiên cứu rau quả cho giống chín sớm Yên Hưng và Hùng Long có tác dụng điều chỉnh số lượng lộc hữu hiệu, nâng cao chất lượng lộc thu, giảm tỷ lệ lộc đông Cắt tỉa cũng làm tăng tỷ lệ hoa cái, số chùm quả/cây và làm tăng năng suất vải (Nguyễn Văn Dũng, 2005; Hoàng Chúng Lằm, 2005)

Hoàng Lâm (1999) và cs khi nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật nhằm ngăn chặn bệnh chết rũ cho cây vải thiều đã kết luận: nếu cây vải bị bệnh được cắt tỉa đúng kỹ thuật (cắt nhẹ 1/3 tán đồng thời sử dụng với các biện pháp kỹ thuật khác) thì có tới 90% số cây hồi phục bật lộc thu bình thường và 100% số cây ra hoa, đậu quả trở lại

Theo nghiên cứu của Ngô Xuân Bình (2005), cắt tỉa khoảng 10% số đầu cành sau khi thu hoạch đã tăng năng suất vải từ 16,92 kg/cây lên 27,74 kg/cây

Trang 32

Nguyễn Khắc Thái Sơn (2006) cho thấy: đốn phớt cành vải Thanh Hà sau thu hoạch từ 20 - 40 cm làm tăng đường kính lộc thu, tăng số lượng quả trên chùm và năng suất, thời điểm vải chín chậm lại từ 5-7 ngày, có ý nghĩa với công tác rải vụ thu hoạch cho vải

Vũ Mạnh Hải và cs (2006): Cắt tỉa theo phương pháp bấm đầu cành (cắt

bỏ các đầu cành ở vị trí 1 - 2 cm từ phần bẻ quả hoặc đỉnh sinh trưởng) và quy trình của Viện Nghiên cứu Rau quả (sau thu hoạch cắt tỉa toàn bộ các cành sâu bệnh, cành tăm, cành vượt, tỉa bỏ bớt cành thu kém chất lượng, tỉa hoa vụ xuân) giúp rút ngắn thời gian hoàn thành một đợt lộc từ 3 - 5 ngày, làm tăng chất lượng lộc, diện tích lá, khả năng đậu quả và làm tăng năng suất vải từ 24,6 - 29,4% so với đối chứng không cắt tỉa

Nguyễn Văn Nghiêm và cs (2006): đã cải tiến biện pháp cắt tỉa trên vải chín sớm Yên Hưng và Yên Phú từ 3 lần cắt tỉa chỉ còn 2 lần, lần 1 sau thu hoạch

15 ngày, lần 2 vào giữa tháng 11 đã tiết kiệm được công lao động, khả năng ra hoa, đậu quả tốt, năng suất không sai khác so với phương pháp cũ và cao hơn nhiều so với đối chứng

* Nghiên cứu về kỹ thuật bón phân

Ở Việt Nam, theo quy trình bón phân cho vải chín sớm của Viện Nghiên cứu Rau quả, lượng phân bón cho cây ở các thời kỳ chưa cho quả và cho quả như sau:

- Bón phân thời kỳ kiến thiết cơ bản:

Lân Supe (gam)

Kaliclorua (gam)

- Bón phân cho vải ở thời kỳ kinh doanh

Trang 33

Các nghiên cứu về sử dụng dinh dưỡng qua lá trên cây vải ở nước ta hiện còn ít Để cung cấp dinh dưỡng cho cây, người ta thường sử dụng biện pháp, bón phân vào đất, kết hợp phun dung dịch phân trên lá Tuy nhiên, trong một số trường hợp bộ rễ yếu hoặc điều kiện ngoại cảnh bất thuận ảnh hưởng đến hấp thu cũng như khi cây cần gấp bổ sung một nguyên tố nào đó thì bón phân trên lá phát huy kết quả tốt Ví dụ: vụ đông và đầu vụ xuân do đất khô hạn nhiệt độ thấp, năng lực hoạt động của rễ kém, hấp thu phân chậm thì bón phân trên lá có tác

dụng hỗ trợ cho cây sinh trưởng tốt hơn Trong thời kỳ phân hoá mầm hoa hoặc

trong thời gian hoa phát triển và thời kỳ quả non, bón phân lên lá sẽ tăng khả năng ra hoa, đậu quả

Theo Nguyễn Văn Dũng (2009), khi nghiên cứu ảnh hưởng của một số chất điều tiết sinh trưởng và dinh dưỡng qua lá đến khả năng ra hoa, đậu quả, năng suất, phẩm chất vải chín sớm cho thấy: Sử dụng các chất điều tiết sinh trưởng và dinh dưỡng qua lá có tác động tốt đến năng suất, chất lượng vải cụ thể là:

- Phun GA3 nồng độ 50 ppm làm tăng tỷ lệ đậu quả, tăng số lượng quả đậu/chùm lên 31,8% và tăng năng suất 45,4%, không thay đổi đáng kể chất lượng quả

- Phun Bo 0,1% + Urê 10g/lít rút ngắn được thời gian thành thục lộc thu 7 ngày, tăng tỷ lệ đậu quả, tăng năng suất 53,7% so với đối chứng Trong đó, phun

Bo 0,1% + Urê 10g/lít tăng hàm lượng đường tổng số, vitamin C, chất khô, giảm hàm lượng axit, nâng cao phẩm chất quả vải

2.3 MỘT SỐ ĐIỀU KIỆN ĐẤT ĐAI VÙNG NGHIÊN CỨU

Đất Hải Dương được hình thành chủ yếu từ mẫu chất phù sa với một số loại đá mẹ khác nhau Hầu hết đất khu vực đồng bằng được hình thành do quá trình lắng đọng vật liệu phù sa của hệ thống sông Thái Bình Sản phẩm mẫu chất phù sa mới gặp ở khu vực ngoài đê, còn tòan bộ khu vực trong đồng là đất phù sa không được bồi hàng năm Ngoài ra, một phần mẫu chất phù sa cổ gặp ở vùng giáp gianh giữa đồi núi với đồng bằng và ở một số diện tích đồi núi chủ yếu được hình thành từ các loại đá trầm tích như: cát, kết, bột kết, sét kết vỡ đá vôi Quá trình phong hóa các loại đá này tạo nên nhóm đất đỏ vàng (đất feralit) của tỉnh Đất Hải Dương được phân chia thành 04 nhóm với 9 loại đất khác nhau được trình bày trong bảng 2.2

Trang 34

Bảng 2.2 Phân loại đất tỉnh Hải Dương

Nguồn: Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội - Tạp chí Khoa học và phát triển (2009)

- Nhóm đất mặn (FLS): Diện tích 4.064,1 ha, chiếm 2,46% diện tích đất tự nhiên, phân bố tập trung ở vùng đất ven sông Kinh Thầy, sông Văn úc của các huyện Kinh Môn, Kim Thành, Thanh Hà, Tứ Kỳ

- Nhóm đất phèn (FLt): Diện tích 3.028,9 ha, chiếm 1,83% diện tích tự nhiên, phân bố ở các huyện Kinh Môn, Kim Thành, Thanh Hà, Tứ Kỳ

- Nhóm đất phù sa: Diện tích 85.852,9 ha, chiếm 51,88% diện tích tự nhiên Loại đất này được phân bố ở ven các con sông Đây là nhóm đất có hàm lượng dinh dưỡng khá, rất thích hợp với các loại cây trồng ngắn ngày Do sự chi phối của địa hình, khí hậu và tác động của con người trong quá trình khai thác sử dụng đã phân hoá nhóm đất phù sa thành 4 loại đất chính (đất phù sa trung tính, ít chua, đất phù sa chua, đát phù sa giây, đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng Loại đất này rất thích hợp cho trồng vải

- Nhóm đất xám: Diện tích 14320,2 ha, chiếm 8,65% diện tích tự nhiên với 1 loại đất chính là đất bạc màu trên phù sa cổ Loại đất này được phân bố ở hầu khắp các huyện trong tỉnh

Trang 35

Bảng 2.3 Tính chất lý hóa của đất vùng nghiên cứu

0-13 0,10 0,49 8,43 1,27 14,58 70 21,7 44,0 34,3 13-32 0,09 0,59 8,32 1,10 14,08 71 23,9 44,4 31,7 32-45

45-125 0,08 0,39 2,80 1,21 10,46 45 34,7 32,3 33,0 Nguồn: Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội - Tạp chí Khoa học và phát triển (2009)

Xã Thanh Cường, huyện thanh Hà, tỉnh Hải Dương là một trong những địa điểm nằm trong vùng đất được hình thành từ phù sa do con sông Thái Bình bồi đắp Đất ở đây chủ yếu là dạng đất phèn Tầng đất từ 0 - 45cm có độ pH từ 5,6 - 5,9; Mùn tổng số từ 2,0 - 2,2%; hàm lượng lân tổng số đạt 0,13 - 018%, dễ tiêu đạt 8,4 - 8,6mg%; Kali dễ tiêu đạt 4,1- 4,9mg% Tầng đất sâu từ 45 - 125cm

có độ chua cao, pH chỉ đạt 3,8, các chất khoáng đa phần có trị số thấp hơn so với tầng đất phía trên

Đây là loại đất thích hợp cho trồng lúa Để trồng cây ăn quả, đặc biệt cây vải cần phải đào mương, lên líp và cải tạo đất cho bớt chua, phèn Các chất khoáng trong đất chỉ ở mức trung bình nên cần bổ sung phân bón hợp lý khi sử dụng trong trồng trọt

2.4 NHỮNG KẾT LUẬN QUA PHÂN TÍCH TỔNG QUAN

Qua tổng hợp một số công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về cây vải có thể rút ra một số kết luận sau:

- Vải là cây ăn quả có yêu cầu khá khắt khe về điều kiện khí hậu Trên thế giới chỉ có khoảng 20 nước trồng được vải, đây chính là thế mạnh của cây ăn quả

đặc sản này Có rất nhiều giống vải trên thế giới, theo vụ thu hoạch có thể phân

làm các nhóm chính là: nhóm chín sớm, nhóm chính vụ và nhóm chín muộn Tùy

Trang 36

theo điều kiện khí hậu của từng nước khác nhau mà thời vụ thu hoạch, cung cấp vải cho thị trường có khác nhau

- Vấn đề chính hiện nay của sản xuất, tiêu thụ vải Việt Nam là: giống vải được trồng chủ yếu tại các vùng sản xuất là giống thiều Thanh Hà; Vải thường thu hoạch tập trung, quả khó bảo quản nên giá thành lúc chính vụ thấp nên cần phải rải vụ tốt hơn

- Biện pháp kỹ thuật tích cực đối với khả năng ra hoa, đậu quả của cây vải ngoài biện pháp khoanh cành và cắt tỉa vào các thời điểm khác nhau, biện pháp phun chất điều hòa sinh trưởng cũng có tác dụng nâng cao tỷ lệ ra hoa, đậu quả

và năng suất

- Ở nước ta hiện nay, các nghiên cứu đang tập trung vào chọn, tạo các giống vải có thời vụ thu hoạch sớm hoặc muộn hơn vải Thanh Hà để giảm sức ép trong vụ thu hoạch Viện Nghiên cứu Rau quả và Trung tâm Giống cây trồng và Công nghệ Nông nghiệp (thuộc Hội Giống cây trồng) tuyển chọn đã nghiên cứu tuyển chọn và công nhận được nhiều giống vải chín sớm trong đó có giống vải Lai Thanh Hà Tuy nhiên hiện nay, các nghiên cứu về kỹ thuật trên giống vải này chưa nhiều Vấn đề chính đặt ra đối với Thanh Hà nói riêng và các vùng trồng vải nói chung là phải định hình được quy mô sản xuất vải và xây dựng một cơ cấu giống hợp lý, đồng thời áp dụng các tiến bộ kỹ thuật nâng cao năng suất, chất lượng, đảm bảo sản xuất ổn định Giống vải chín sớm Lai Thanh Hà hiện đang có

xu hướng phát triển mạnh tại địa phương Cùng với các ưu điểm: chín sớm, mẫu

mã đẹp là các nhược điểm; khả năng sinh trưởng khỏe, dễ bật lộc đông; tỷ lệ đậu quả thấp, kích thước hạt lớn Do vậy, công tác nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao khả năng ra hoa, đậu quả, năng suất và phẩm chất cho giống

cụ thể này càng cần được quan tâm

Trang 37

PHẦN 3 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 VẬT LIỆU, ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

3.1.1 Vật liệu nghiên cứu

- Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển, khả năng ra hoa, đậu quả,

năng suất và chất lượng quả được thực hiện trên 2 giống: vải Lai Thanh Hà, vải

Thiều được nhân giống bằng phương pháp chiết cành, cây từ 1 đến 7 năm tuổi

- Nghiên cứu biện pháp cắt tỉa, bón phân thực hiện trên giống vải Lai Thanh Hà được nhân giống bằng phương pháp chiết cành, cây 7 năm tuổi

- Vật tư, hóa chất: Các loại phân bón: Kaliclorua (60% K2O) được phân phối bởi công ty Hà Anh, supe lân (16% P2O5) được phân phối bởi công ty supe phốt phát và hóa chất Lâm Thao, đạm urê (46% N) được phân phối bởi công ty đạm Hà Bắc

3.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Các thí nghiệm được bố trí tại: Thanh Hà - Hải Dương; từ tháng 1 năm

2015 đến tháng 6 năm 2016

3.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

3.2.1 Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển, khả năng ra hoa, đậu quả, năng suất và chất lượng của giống vải Lai Thanh Hà tại Thanh Hà, Hải Dương

- Nghiên cứu khả năng sinh trưởng của giống: đặc điểm sinh trưởng của thân, cành, khả năng sinh trưởng các đợt lộc

- Nghiên cứu khả năng ra hoa, đậu quả và năng suất của giống

- Đánh giá chất lượng quả của giống

3.2.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của thời điểm cắt tỉa đến khả năng sinh trưởng, ra hoa, đậu quả và năng suất của giống vải Lai Thanh Hà

3.2.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng phân bón đến năng suất, chất lượng quả của giống vải lai Thanh Hà

3.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ BỐ TRÍ THÍ NGHIỆM

3.3.1 Thí nghiệm 1: Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển, khả năng

ra hoa, đậu quả, năng suất và chất lượng của một số giống vải lai Thanh Hà tại Thanh Hà, Hải Dương

Trang 38

- Nghiên cứu, đánh giá về sinh trưởng, ra hoa, đậu quả, năng suất, chất lượng và hiệu quả của các giống tại vùng sản xuất bằng cách đánh dấu, theo dõi trực tiếp trên cây ở các độ tuổi từ 1 đến 7 Đối chứng là giống vải thiều Thanh Hà

- Các cây được đánh dấu theo dõi hoàn toàn ngẫu nhiên trên các vườn trồng sẵn, mỗi giống theo dõi 30 cây trên một độ tuổi

Cây thí nghiệm của các giống được chăm sóc theo cùng một quy trình (chế độ làm cỏ, bón phân, tưới nước và phòng trừ sâu bệnh)

+ Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi:

* Khả năng sinh trưởng của cây:

- Chiều cao cây (cm): đo từ mặt đất đến đỉnh ngọn bằng máy đo chiều cao cầm tay

- Đường kính tán (cm): đo theo hình chiếu từ tán cây xuống mặt đất theo hai hướng Đông - Tây và Nam - Bắc rồi lấy trung bình cộng

* Động thái ra lộc của các giống

- Số đợt lộc/năm (lộc/năm): mỗi cây đánh dấu, theo dõi trên 4 cành phân

bố đều xung quanh tán

- Thời gian xuất hiện lộc (ngày): được tính khi đầu cành có lộc nhú ra được 3-5 cm

- Thời gian lộc thành thục (ngày): được tính khi lộc non hoàn toàn chuyển sang màu xanh đậm

- Chiều dài, đường kính cành lộc (cm): đo khi lộc thành thục; mỗi cây theo dõi trên 4 cành ở 4 hướng khác nhau

* Đặc điểm nở hoa của các giống:

- Thời gian bắt đầu xuất hiện hoa

- Thời gian bắt đầu nở hoa Theo dõi khi 10% số cây nở hoa

- Thời gian kết thúc nở hoa Theo dõi khi 50% số cây nở hoa

- Tỷ lệ hoa lưỡng tính, hoa cái Chọn 4 chùm hoa/cây, về 4 hướng hàng ngày đếm số hoa đực và số hoa cái bằng cách ngắt bỏ Theo dõi cho tới khi ngắt hết hoa trên chùm

* Đặc điểm đậu quả của các giống (theo dõi 12 chùm hoa/giống)

Trang 39

- Tỷ lệ đậu quả ban đầu = số quả đậu ban đầu/tổng số hoa cái và lưỡng tính

- Tỷ lệ quả thu hoạch = số quả đậu khi thu hoạch/tổng số hoa cái và lưỡng tính

* Đánh giá các chỉ tiêu về quả (đo, đếm, cân 30 quả/giống khi thu hoạch)

- Khối lượng quả (kg): Cân lấy trị số trung bình

- Kích thước quả, hạt (cm): được đo trung bình 30 quả/giống

- Khối lượng quả, hạt (cm): được tính trung bình trên 30 quả/giống

- Thành phần cơ giới (%): Tách các phần riêng biệt, cân từng phần để tính

tỷ lệ phần trăm

3.3.2 Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của thời điểm cắt tỉa đến khả năng sinh trưởng, ra hoa, đậu quả và năng suất vải Lai Thanh Hà

+ Bố trí thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến

khả năng sinh trưởng, ra hoa đậu quả và năng suất của giống vải Lai Thanh Hà Thí nghiệm gồm 2 công thức thí nghiệm và 1 công thức đối chứng được

bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên (RCBD) thực hiện trên cây 7 năm tuổi Mỗi công thức 3 cây, nhắc lại 5 lần

Trang 40

+ Công thức 3 Cắt tỉa 3 lần:

- Lần 1: Cắt tỉa sau khi thu quả 15 ngày Tỉa bỏ các cành khô, cành sâu bệnh và các cành mọc dài vượt ra ngoài tán, bấm 5 - 10cm đầu cành Khi lộc thu dài khoảng 10 cm, tỉa bỏ những mầm yếu, mọc không hợp lý và chọn để lại 2 - 3 cành thu trên mỗi cành mẹ

- Lần 2: Cắt tỉa giữa tháng 2 Cắt bỏ những cành chất lượng kém, cành mang sâu bệnh và những cành mọc lộn xộn trong tán, những chùm hoa nhỏ Tỉa bớt những chùm hoa chen chúc nhau trong tán, chùm hoa bị sâu bệnh

- Lần 3: Cắt tỉa đầu tháng 4 Cắt bỏ những cành hè nhỏ, yếu, mọc quá xít nhau, tỉa bỏ những chùm quả nhỏ, sâu bệnh

Ngoài các yếu tố thí nghiệm, các biện pháp kỹ thuật khác được tiến hành theo quy trình của Viện Nghiên cứu Rau quả Thí nghiệm tiến hành từ tháng 5 năm 2015 đến tháng 6 năm 2016 tại Hải Dương

+ Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi:

Các chỉ tiêu về sinh trưởng:

- Thời gian bắt đầu bật lộc: được tính khi 10% số cành trên cây bật lộc

- Thời gian rộ lộc: được tính khi 50% số cành trên cây bật lộc

- Thời gian kết thúc đợt lộc: được tính khi 80% số lộc trên cây thành thục

- Kích thước các đợt lộc (cm): được theo dõi 12 cành trên mỗi cây các cành theo dõi được phân bố đều xung quanh tán: Chiều dài lộc được đo 7 ngày một lần sau khi xuất hiện lộc; Đường kính cành đo cách gốc cành 1cm khi cành

đã thành thục

Các chỉ tiêu về ra hoa, đậu quả:

- Thời điểm xuất hiện hoa: được tính từ ngày có 10% số cành nhú giò hoa

- Thời điểm bắt đầu nở hoa: được tính từ ngày có 10% số hoa trên cây nở

- Thời điểm rộ hoa: được tính khi có khoảng 50% số hoa trên cây nở

- Thời điểm thúc nở hoa (tắt hoa): được tính khi có khoảng 80% số hoa trên cây đã tàn

- Số chùm hoa (quả)/cây được tính bằng cách chia tán cây thành 6 phần đều nhau (lấy đỉnh tán là trung tâm phân chia), đếm số chùm hoa trên 3 phần ở

3 hướng khác nhau xung quanh tán, lấy giá trị trung bình của 1 phần rồi nhân với 6

Ngày đăng: 18/11/2018, 13:57

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w