HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM NOUMAY SAKBOUAVONG NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA KỸ THUẬT GHÉP VÀ PHÂN BÓN QUA LÁ ĐẾN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG CỦA CÂY GIỐNG QUÝT KHÔNG HẠT NNH-VN52 TẠI GIA LÂM,
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NOUMAY SAKBOUAVONG
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA KỸ THUẬT GHÉP
VÀ PHÂN BÓN QUA LÁ ĐẾN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG CỦA CÂY GIỐNG QUÝT KHÔNG HẠT
NNH-VN52 TẠI GIA LÂM, HÀ NỘI
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Mai Thơm
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP – 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo
vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
NOUMAY SAKBOUAVONG
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết
ơn sâu sắc TS Nguyễn Mai Thơm đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Canh tác học, Khoa Nông học - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp
đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức Trung tâm Thực nghiệm và Đào tạo nghề đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
NOUMAY SAKBOUAVONG
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục viết tắt v
Danh mục bảng vi
Trích yếu luận văn vii
Thesis abstract ix
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 MỤc tiêu nghiên cỨu 2
1.3 PhẠm vi nghiên cứu 2
1.4 Những đóng mới, ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 2
Phần 2 Tổng quan tài liệu 3
2.1 Nguồn gốc, phân loại cam quýt 3
2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cây ăn quả có múi trên thế giới và ở Việt Nam 3
2.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cây ăn quả có múi trên thế giới 3
2.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cây ăn quả có múi ở Việt Nam 6
2.3 Tình hình nghiên cứu về phân bón trên cây ăn quả có múi trên thế giới và tại Việt Nam 10
2.3.1 Tình hình nghiên cứu về phân bón trên cây ăn quả có múi trên thế giới 10
2.3.2 Tình hình nghiên cứu về phân bón trên cây ăn quả có múi ở Việt Nam 13
2.3.3 Nghiên cứu về việc cung cấp phân bón qua lá cho cây cam quýt 15
2.4 Một số nghiên cứu về nhân giống trên cây ăn quả 17
2.4.1 Các phương pháp nhân giống vô tính cây ăn quả 18
2.4.2 Các phương pháp ghép 21
Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 25
3.1 Địa điểm nghiên cứu 25
3.2 Thời gian nghiên cứu 25
3.3 Đối tượng, vật liệu nghiên cứu 25
3.3.1 Đối tượng nghiên cứu 25
3.3.2 Vật liệu nghiên cứu 25
Trang 53.4 Nội dung nghiên cứu 26
3.5 Phương pháp nghiên cứu 26
3.5.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 26
3.5.2 Các chỉ tiêu theo dõi 29
3.5.3 Phương pháp xử lý số liệu 31
Phần 4 Kết quả và thảo luận 32
4.1 Ảnh hưởng của phương pháp ghép nêm chéo và ghép mắt nhỏ có gỗ đến nhân giống cây quýt không hạt nnh-vn52 32
4.1.1 Ảnh hưởng của phương pháp ghép đến tỷ lệ bật mầm của quýt không hạt NNH-VN52 32
4.1.2 Ảnh hưởng của phương pháp ghép đến chiều dài mầm ghép 33
4.1.3 Ảnh hưởng của phương pháp ghép đến đường kính mầm ghép 34
4.1.4 Ảnh hưởng của phương pháp ghép đến số lá/mầm ghép 35
4.1.5 Ảnh hưởng của phương pháp ghép đến mức độ nhiễm sâu bệnh hại 35
4.1.6 Ảnh hưởng của phương pháp ghép đến tỷ lệ xuất vườn 36
4.2 Ảnh hưởng của một số loại phân bón qua lá đến khả năng sinh trưởng của cây giống quýt không hạt NNH-VN52 37
4.2.1 Ảnh hưởng của một số loại phân bón qua lá đến khả năng sinh trưởng và phát triển của cây giống quýt không hạt NNH-VN52 37
4.2.2 Ảnh hưởng của phân bón lá đến khả năng phát triển của lộc 42
4.2.3 Ảnh hưởng bón phân lá đến mức độ nhiễm sâu bệnh hại 49
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 50
5.1 Kết luận 50
5.2 Kiến nghị 50
Tài liệu tham khảo 51
Phụ lục 53
Trang 6TKKD Thời kỳ kinh doanh
KTCB Kiến thiết cơ bản
LSD0,05 Sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa ở mức 0,05
MN Mắt nhỏ có gỗ
NC Nêm chéo
NL Nhắc lại
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Tình hình sản xuất, chế biến và tiêu thụ cam quýt tại một số
quốc gia trên thế giới giai đoạn 2009 đến nay 4
Bảng 2.2 Tình hình sản xuất cam ở Việt Nam giai đoạn 2008 – 2012 7
Bảng 2.3 Lượng dinh dưỡng cây ăn quả có múi lấy đi từ 1 tấn sản phẩm 10
Bảng 2.4 Đánh giá mức độ thiếu đủ căn cứ vào hàm lượng dinh dưỡng trong lá 11
Bảng 2.5 Đánh giá mức độ thiếu đủ căn cứ vào hàm lượng dinh dưỡng trong lá (lá 4 tháng tuổi/cành không mang quả) 11
Bảng 2.6 Lượng phân bón cho cây ăn quả có múi ở thời kỳ KTCB 12
Bảng 2.7 Lượng phân khuyến cáo cho cam quýt thời kỳ kinh doanh 13
Bảng 2.8 Lượng phân bón hàng năm cho cây có múi 14
Bảng 2.9 Chế độ phân bón cho cây cam quýt 14
Bảng 2.10 Phương pháp áp dụng các nguyên tố vi lượng cho cam quýt 15
Bảng 4.1 Tỉ lệ bật mầm của dòng quýt không hạt NNH VN52 32
Bảng 4.2 Ảnh hưởng của phương pháp ghép đến chiều dài mầm ghép 33
Bảng 4.3 Ảnh hưởng của phương pháp ghép đến đường kính mầm ghép 34
Bảng 4.4 Ảnh hưởng của phương pháp ghép đến số lá/ mầm ghép 35
Bảng 4.5 Ảnh hưởng của phương pháp ghép đến mức độ nhiễm sâu bệnh hại 35
Bảng 4.6 Ảnh hưởng của phương pháp ghép và tỷ lệ xuất vườn 36
Bảng 4.7 Ảnh hưởng của phân bón lá đến động thái phát triển chiều cao cây 38
Bảng 4.8 Ảnh hưởng của phân bón lá đến động thái phát triển đường kính thân 39
Bảng 4.9 Ảnh hưởng của phân bón lá đến động thái phát triển chiều dài lá 40
Bảng 4.11a Thời gian các pha của đợt lộc xuân của quýt không hạt NNH-VN52 43
Bảng 4.11b Thời gian các pha của đợt lộc xuân hè của quýt không hạt NNH-VN52 43
Bảng 4.12 Ảnh hưởng của phân bón lá đến động thái ra lộc trên cây giống quýt không hạt NNH- VN52 44
Bảng 4.13 Ảnh hưởng của phân bón lá đến số lá/lộc cây giống quýt không hạt NNH- VN52 46
Bảng 4.14 Ảnh hưởng của phân bón lá đến động thái chiều dài lộc/cây 47
Bảng 4.15 Ảnh hưởng của phân bón lá đến động thái phát triển đường kính cành lộc 48
Bảng 4.16 Ảnh hưởng của phân bón lá đến mức độ nhiễm sâu bệnh hại 49
Trang 8TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: NOUMAY SAKBOUAVONG
Tên Luận văn: Nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ thuật ghép và phân bón qua lá đến khả
năng sinh trưởng của cây giống quýt không hạt NNH - VN52 tại Gia Lâm - Hà Nội
Phương pháp
Thí nghiệm 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của phương pháp ghép đến khả năng nhân
giống quýt không hạt NNH- VN52
Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCB) với 2 công thức ghép là ghép nêm chéo (NC), ghép mắt nhỏ (MN) và 3 lần nhắc lại Mỗi công thức tiến hành ghép trên 30 cây
Các chỉ tiêu theo dõi gồm: Tỷ lệ sống, tỷ lệ bật mầm, thời gian bật mầm, động thái tăng trưởng chiều cao cây, đường kính mầm ghép, động thái ra lá của mầm ghép, thời gian xuất vườn, tỷ lệ xuất vườn
Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón qua lá đến sinh
trưởng, phát triển cây giống quýt không hạt NNH- VN52
Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCB) với 9 công thức và 3 lần nhắc lại Mỗi công thức tiến hành trên 30 cây Liều lượng và nồng độ phun theo khuyến cáo của nhà sản xuất
Công thức 1: Daiwan Ron 1,95 SL
-Pha 10 ml trong 12 lít nước
Công thức 2: Đầu Trâu 502
- Pha 10 gam trong 10 lít nước
Công thức 3: Seaweed- Rong biển
- Pha 10 gam trong 16 lít nước
Trang 9Công thức 4: X1
- Pha 10 gam trong 12 lít nước
Công thức 5: Sutraco KanHumatP
- Pha 10 ml trong 10 lít nước
- Pha 10 ml trong 16 lít nước
Công thức 9: Đối chứng (phun nước lã)
Chỉ tiêu theo dõi gồm: Đường kính thân, chiều cao thân, số lộc, chiều dài lộc, số lượng cành cấp 1, 2, kích thước lá
Kết quả chính và kết luận:
1) Phương pháp ghép nêm chéo cho tỉ lệ bật mầm đạt 83,33% cao hơn phương pháp ghép mắt nhỏ chỉ đạt 77,67% tỉ lệ bật mầm Tỷ lệ xuất vườn ở phương pháp ghép nêm chéo cũng cao hơn so với phương pháp ghép mắt nhỏ có gỗ (68,5% so với 64,7%) Bên cạnh đó các chỉ tiêu về chiều dài mầm, đường kính mầm và số lá/mầm ghép của phương pháp ghép nêm chéo luôn đạt giá trị cao hơn phương pháp ghép mắt nhỏ 2) Phân bón lá Antonik 1.8 DD có ảnh hưởng rõ rệt nhất đến khả năng sinh trưởng của cây giống quýt không hạt NNH- VN52so với công thức khác và công thức đối chứng: Chiều cao cây đạt 80,5 cm (so với đối chứng chỉ đạt 70,6 cm) cao hơn 0,99 cm, đường kính cây đạt 1,4 cm (đối chứng là 1,2 cm) tăng hơn 1,2 cm, chiều dài lá là 14,8
cm (đối chứng là 12,6 cm) dài hơn 2,2 cm, chiều rộng lá 5,8 cm (đối chứng chỉ đạt 4,7 cm) tăng hơn 1,1 cm, số lộc trên cây 33,3 lộc (đối chứng là 17,1 lộc) cao hơn 16,2 cm,
số lá trên lộc đạt 12,53 lá/lộc (đối chứng là 9,74 lá/lộc) cao hơn 3,79 lá/lộc, chiều dài lộc đạt 9,46 cm (đối chứng chỉ là 7,96 cm) tăng cao hơn 1,50 cm, đường kính lộc là 0,53
cm (trong khi đối chứng chỉ là 0,40 cm) tăng hơn 0,13 cm
Trang 10THESIS ABSTRACT
PhD candidate: NOUMAY SAKBOUAVONG
Thesis title: To study the effect of grafting techniques and fertilizers through the leaves to
the growth of seedless mandarin trees NNH - VN52 at Gia Lam – Hanoi
Major: Crop Science Code: 60.62.01.10
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)
Research Objectives
Research suitable breeding methods and the influence of some kind of leaf fertilizer for seedling growth stages nutrition to contribute to building technical process seedless tangerine seed production NNH - VN52 at Gia Lam – Hanoi
Materials and Methods
Experiment 1: Study the effect of grafting method to seedless mandarin trees NNH - VN52
The experiment was arranged in complete randomized block design (RCB) with 2 treatment is grafted cross wedge grafting (NC), small eye grafting (MN) and 3 replicates Each treatment grafting conducted on 30 trees
The monitoring indicators are: Survival, the rate on sprouts, sprouts burning duration, growth dynamics plant height, diameter of the scion, moves the leaves of the scion, time of the garden, the incidence garden
Experiment 2: To study the effect of some sort of leaf fertilizer on the growth and development of seedless mandarin trees NNH - VN52
The experiment was arranged in complete randomized block design (RCB) for 9 formulations and 3 replicates Each recipe conducted on 30 trees The dosage and injection concentration recommended by the manufacturer
Formula 1: 1.95 Daiwan Ron SL
Phase 10 ml of 12 liters of water
Formula 2: 502 Buffalo Head
- Mix 10 grams in 10 liters of water
Formula 3: Seaweed- Seaweed
- Mix 10 grams in 16 liters of water
Formula 4: X1
- Mix 10 grams in 12 liters of water
Trang 11Formula 5: Sutraco KanHumatP
- Mix 10 ml in 10 liters of water
- Mix 10 ml in 16 liters of water
Formula 9: Control (spray water) Monitoring indicators including body diameter, body height, number of buds, buds length, number of branches of Level 1, 2, leaf size
Main findings and conclusions
1) Method for cross wedge grafting ratio reached 83,33% on higher stem grafting small eyes, who only reached 77,67% on sprouts The ratio of the garden in cross wedge grafting, also higher than the small eye grafting wood (68,5% versus 64,7%) Besides the length of childhood indicators, stem diameter and the number of leaves / scion of cross wedge grafting always achieve higher value grafting small eyes
2) DD 1.8 Foliar fertilizers Antonik most marked influence on the growth of seedless mandarin seedlings with different formula VN52so NNH- and control formula: 80.5 cm Plant height gain (compared to certification achieved 70,6 cm) than 0.99 cm, 1.4 cm diameter trees (control was 1.2 cm) more than 1.2 cm, length 14.8 cm leaf (reference is 12.6 cm) longer than 2.2 cm, 5.8 cm leaf width (control only 4.7 cm) more than 1.1 cm, the buds on the tree buds 33.3 (control was 17, 1 loc) than 16.2 cm, the leaves on the buds reached 12.53 leaves / buds (control was 9.74 leaves / buds) higher than 3.79 leaves / buds, buds length reaches 9.46 cm (for certification is 7.96 cm) higher than 1.50 cm, 0.53 cm in diameter and fortune is (while the control is only 0.40 cm) more than 0.13 cm
Trang 12PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Cam quýt là một trong những cây ăn quả đặc sản lâu năm của Việt Nam bởi giá trị dinh dưỡng và kinh tế cao Trong thành phần thịt quả có chứa 6-12% đường, hàm lượng vitamin C từ 40-90 mg/100g tươi, các axit hữu cơ 0,4-1,2% trong đó có nhiều loại axit có hoạt tính sinh học cao cùng với các chất khoáng và dầu thơm, mặt khác các sản phẩm của cây có múi có thể dùng ăn tươi, làm mứt, nước giải khát, chữa bệnh
Trong những năm gần đây diện tích trồng cam, quýt, bưởi ở Việt Nam ngày càng được mở rộng, việc phát triển được xem như là một giải pháp trong chuyển dịch cơ cấu cây trồng ở nhiều địa phương Tuy nhiên, sản xuất cam quýt
ở Việt Nam đang gặp rất nhiều khó khăn về chất lượng giống, sâu bệnh hại, kỹ thuật canh tác, năng suất, chất lượng quả chưa cao, khí hậu thời tiết thất thường, thị trường cạnh tranh gay gắt,v.v
Bên cạnh đó nhu cầu thị trường ở Việt Nam rất cao với những sản phẩm quả không hạt, chất lượng ngon, dễ bảo quản, vận chuyển Các sản phẩm cam, bưởi, quýt không hạt có độ đường cao vẫn phải nhập khẩu từ các nước trong khu vực: Trung Quốc, Thái Lan Đây là một trong những vấn đề cấp thiết trong việc chọn tạo những giống mới có chất lượng, mẫu mã đẹp đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của Việt Nam và tương lai hướng ra thị trường thế giới
Quýt không hạt NNH- VN52 là dòng quýt mới do GS.TS Vũ Văn Liết và
TS Nguyễn Mai Thơm tuyển chọn từ tập đoàn cây có múi nhập nội vào Việt
Nam, đây là dòng quýt chất lượng cao, không hạt bước đầu cho thấy đây là dòng
có khả năng thích ứng rộng, có tiềm năng phát triển và mở rộng diện tích Tuy nhiên, các nghiên cứu chuyên sâu về dòng quýt này mới đang bước đầu được tiến hành, vì vậy để hoàn thiện quy trình trồng và chăm sóc chúng tôi tiến hành
thực hiện đề tài: Nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ thuật ghép và phân bón qua lá
đến khả năng sinh trưởng của cây giống quýt không hạt NNH - VN52 tại Gia Lâm - Hà Nội
Trang 131.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Nhằm xác định được phương pháp ghép phù hợp để nhân giống cây quýt không hạt NNH-VN52 đồng thời xác định được loại phân bón lá phù hợp cho cây quýt không hạt NNH-VN52 ở giai đoạn cây giống
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Thí nghiệm được tiến hành trên dòng quýt không hạt NNH-VN52 tại Trung tâm Thực nghiệm và Đào tạo Nghề, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, từ tháng 8 năm 2015 đến tháng 5 năm 2016
1.4 NHỮNG ĐÓNG MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
- Đề tài sẽ góp phần cung cấp thêm các dẫn liệu khoa học về phương pháp nhân giống cũng như hiệu quả phân bón lá trên cây có múi nói chung và cây quýt không hạt NNH-VN52 nói riêng phục vụ cho sản xuất, nghiên cứu và giảng dạy
- Kết quả của đề tài cũng sẽ góp phần bổ sung và hoàn thiện quy trình trồng và chăm sóc dòng quýt không hạt NNH- VN52
Trang 14PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 NGUỒN GỐC, PHÂN LOẠI CAM QUÝT
Nguồn gốc: Cam quýt đang được trồng hiện nay có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới và cận nhiệt đông Nam châu Á
Phân loại: Cam quýt là tên gọi chung của các loài cây ăn quả thuộc họ cam
Rutaseae, họ phụ cam quýt Aurantiodeae, chi Citrus bao gồm: cam, chanh, quýt,
bưởi, chanh yên, bưởi chùm Họ phụ Aurantiodeae được chia thành 2 tộc chính là
Clauseneae (1) và Citreae (2) Tộc 2 được chia thành 3 tộc phụ, trong đó tộc phụ
thứ 2 - Citrineae bao gồm phần lớn các loài và giống cam quýt nhà trồng hiện nay
Citrineae chia thành 3 nhóm A, B, C Nhóm C được chia thành 6 chi phụ: Fortunella, Eremocitrus, Poncirus, Clymenia, Microcitrus và Citrus
2.2 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ CÂY ĂN QUẢ CÓ MÚI TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM
2.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cây ăn quả có múi trên thế giới
Với nhu cầu tiêu thụ quả của thị trường nói chung cũng như cam quýt nói riêng ngày một cao, đã từng bước thúc đẩy cây cam quýt ngày càng có vị thế trong sản xuất nông nghiệp Chính vì thế nghề trồng cây ăn quả của thế giới, ngành sản xuất cam quýt đã không ngừng phát triển về mặt số lượng cũng như chất lượng
Cam quýt nổi tiếng thế giới hiện nay được trồng phổ biến ở những vùng có khí hậu khá ôn hòa thuộc vùng á nhiệt đới hoặc vùng khí hậu ôn đới ven biển chịu ảnh hưởng của khí hậu đại dương
- Địa Trung Hải và Châu Âu bao gồm các nước: Tây Ban Nha, Italia, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Ai Cập, Isaren, Tunisia, Algeria
- Vùng Bắc Mỹ bao gồm các nước: Hoa Kỳ, Mexico
- Vùng Nam Mỹ bao gồm các nước: Braxin, Venezuela, Argentina, Uruguay
- Vùng Châu Á bao gồm các nước: Trung Quốc và Nhật Bản
- Các hòn đảo Châu Mỹ bao gồm các nước: Jamaica, Cu Ba, Cộng hòa Dominica
Trang 15Năm 2010, tổng sản lượng cây ăn quả trên thế giới đạt 608,926 triệu tấn, trong đó sản lượng cây có múi đạt 122,976 triệu tấn chiếm 20,2 % tổng sản lượng cây ăn quả trên thế giới Riêng đối với cam quýt đạt sản lượng 55,942 triệu tấn chiếm khoảng 9% tổng sản lượng quả toàn thế giới và 48% tổng sản
lượng cây có múi (Trương Văn Hân, 2015)
Cam là thứ quả tiêu thụ nhiều nhất chiếm 73% quả có múi, tập trung ở các
giới hạn phân bố từ vĩ độ 35 vĩ độ nam và bắc bán cầu, có khi lên tới 40 vĩ độ nam và bắc bán cầu Dự báo trong những năm đầu của thế kỉ 21 mức tiêu thụ quả
có múi của thị trường thế giới tăng khoảng 20 triệu tấn
Các nước xuất khẩu cam quýt chủ yếu đó là: Tây Ban Nha, Israel, Maroc, Italia Các giống cam quýt trên thị trường được ưa chuộng là: Washington, Navel, Valenxia Late của Maroc, Samouti của Isarel, Maltaises của Tunisia, và các giống quýt Địa trung hải như: Clemention, quýt Đỏ Danxy and Unshiu được rất nhiều người ưa chuộng
Bảng 2.1 Tình hình sản xuất, chế biến và tiêu thụ cam quýt tại một số
quốc gia trên thế giới giai đoạn 2009 đến nay
Trang 16Quốc gia
Tiêu thụ tươi (1000 tấn)
2009 –
2010 2010 – 2011 2011 – 2012 2012 - 2013 2013 – 2014 T1/2015 2014 - Brazil 4.827 5.488 7.255 5.421 5.462 5.544
Liên minh châu Âu 5.717 5.324 5.536 5.387 5.757 5.386
Trang 17Bảng 2.1 cho thấy Brazil vẫn là quốc gia sản xuất cam quýt lớn nhất thế giới, sản lượng năm 2014 của Brzil đạt 16.320 nghìn tấn quả tươi gấp gần 2,5 lần
so với quốc gia đứng thứ 2 là Trung Quốc (6.900 nghìn tấn) Phần lớn cam quýt được tiêu thụ phục vụ nhu cầu quả ăn tươi, tuy nhiên sản xuất cam quýt tại Brazil lại chủ yếu để chế biến (2/3 sản lượng) phục vụ xuất khẩu sang các quốc gia khác dưới dạng nước ép hoa quả, siro…
Tại Việt Nam, năm 2014 tổng sản lượng cam quýt đạt 675 nghìn tấn, lượng tiêu thu quả tươi lên tới 750 nghìn tấn Cho thấy hàng năm nước Việt Nam phải nhập khẩu khoảng 75 nghìn tấn hoa cam quýt (chủ yếu từ Trung Quốc) để phục
vụ nhu cầu trong nước Nhưng thực tế con số này chắc chắn còn lớn hơn rất nhiều Việc sản xuất cam quýt của Việt Nam 3 năm trở lại đây không có dấu hiệu tăng về sản lượng, bên cạnh đó nhu cầu tiêu thụ lại tăng khá đều và cũng tiếp tục tăng cao trong thời gian tới Sản xuất cây ăn quả nói chung và cam quýt nói riêng tại Việt Nam cần có giải pháp mới, phát triển diện tích, áp dụng tiến bộ khoa học
kỹ thuật vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất, sản lượng có như vậy mới đáp ứng đủ nhu cầu tiêu thụ hoa quả trong nước, không phụ thuộc vào thị trường nước ngoài đặc biệt là hoa quả Trung Quốc và xa hơn có thể xuất khẩu sang các quốc gia lân cận
2.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cây ăn quả có múi ở Việt Nam
Việt Nam là một trong những nước nằm trong trung tâm phát sinh cây có múi (Trung tâm Đông Nam Á), khí hậu nhiệt đới, thích hợp với nhiều loại cây trồng trong đó có các loại cây ăn quả, đặc biệt là các loại cam quýt
Cam quýt được trồng phổ biến nhiều nơi trên khắp mọi miền của đất nước, phong phú về chủng loại giống, có nhiều giống nổi tiếng đặc trưng cho vùng Tuy nhiên việc mở rộng diện tích cam quýt còn gặp nhiều khó khăn, đó là do điều kiện thời tiết thất thường, cơ sở hạ tầng yếu kém, tiếp cận thị trường khó khăn, trình độ thâm canh thấp, việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn chậm chạp do trình độ dân trí không đồng đều giữa các vùng, công tác bảo vệ thực vật chưa được quan tâm chu đáo, công tác tuyển chọn giống và sản xuất cây giống chất
lượng chưa được chú trọng đúng mức (Nguyễn Văn Luật, 2006)
Cây ăn quả: Sản lượng một số cây ăn quả đạt khá, trong đó sản lượng cam năm 2013 ước tính đạt 530,9 ngàn tấn, tăng 1,7% so với năm 2012; chuối đạt 1,9 triệu tấn, tăng 5,6%; bưởi đạt 449,3 ngàn tấn, tăng 2,2% Tuy nhiên, một số cây khác do ảnh hưởng của thời tiết và một phần diện tích đang được cải tạo, chuyển đổi nên sản lượng giảm như: Sản lượng vải, chôm chôm đạt 641,1 ngàn tấn, giảm 1,1% so với năm 2012; quýt đạt 177,7 ngàn tấn, giảm 2,4%
Trang 18Diện tích và sản lượng cây có múi chủ yếu tập trung ở Đồng bằng sông Cửu Long Hàng năm diện tích và sản lượng cam quýt ở nước ta tăng nhanh nhưng năng suất còn khá khiêm tốn do điều kiện khí hậu thời tiết, do kỹ thuật chưa được
áp dụng Theo kết quả điều tra của Nguyễn Minh Châu và cs (2000) thì năng suất cam chanh là 105 tạ/ha, quýt 87 tạ/ha, chanh 88 tạ/ha, bưởi 74 tạ/ha; tuy nhiên cá biệt có trang trại đạt năng suất cam chanh 237 tạ/ha, chanh 128 tạ/ha, quýt 240 tạ/ha, bưởi 177 tạ/ha Lãi suất đối với một ha trồng cam là 84,2 triệu đồng, quýt 54,6 triệu đồng, chanh 43,7 triệu đồng, bưởi 21 triệu đồng (Trương Văn Hân, 2015)
Đồng bằng sông Cửu Long có sản lượng lớn nhất toàn quốc nhưng năng suất còn quá thấp so với năng suất của nhiều nước trồng cam trên thế giới (từ 20
- 40 tạ/ha) Tuy nhiên cũng có năng suất điển hình như ở Phủ Quỳ đạt 400 - 500 tạ/ha (Nguyễn Thị Vân Quỳnh, 2012)
Phát triển cam quýt ở nước ta phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước là chủ yếu và một phần rất nhỏ dùng cho xuất khẩu Hiện nay với khoảng 60% dân số nước ta sống ở các thành phố, thị xã, thị trấn, mức tiêu thụ quả đang có xu hướng tăng lên Điều tra tiêu dùng riêng về quả ở thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh năm 2014 đã lên tới 900 nghìn tấn quả tươi các loại được tiêu thụ trong năm, tính riêng các loại quả có múi khoảng
có xu hướng giảm bởi có một số diện tích đã già cỗi, người dân chưa kịp thời trồng mới nhưng năng suất trồng cam tăng đều qua các năm, cụ thể năng suất
Trang 19bình quân năm 2008 là 10,62 tấn/ha, năm 2009 là 10,75 tấn/ha, năm 2010 là 11,86 tấn/ha, năm 2011 năng suất vượt mức 12 tấn/ha (12,16 tấn/ha) và đến năm 2012 năng suất đạt 12,18 tấn/ha Do vậy, mặc dù diện tích trồng cam của nước ta những năm 2009-2012 có giảm mạnh (giảm 30%) nhưng sản lượng chỉ giảm khoảng 162.000 tấn (giảm 23%) Chứng tỏ người dân có sự đầu tư chăm sóc, áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất để đem lại hiệu quả kinh tế cao và
kế hoạch tiếp tục mở rộng diện tích trồng cam trong những năm tới là một trong những hướng phát triển sản xuất của người dân
Tổ chức tiêu thụ sản phẩm quả có múi cũng rất đa dạng, ngoài hệ thống chỉ đạo sản xuất lưu thông phân phối của Nhà nước và Tổng Công ty Rau quả Trung ương với các đơn vị trực thuộc, dưới tác động của cơ chế thị trường, hệ thống tổ chức tiêu thụ quả tươi của tư nhân được hình thành một cách rộng khắp
và chặt chẽ từ khâu thu mua đến khâu vận chuyển đường dài, bán buôn, bán lẻ cũng tỏ ra có hiệu quả hơn Chính hình thức tổ chức kinh tế nhiều thành phần mà quả tươi được phân bố, lưu thông đi các nơi trên mọi miền đất nước Đây là một động lực phát triển sản xuất cây ăn quả ở Việt Nam
Tóm lại, cam quýt là một trong những cây ăn quả quan trọng ở Việt Nam Diện tích và sản lượng cam quýt không ngừng tăng, đặc biệt trong thời gian qua diện tích trồng cam quýt tăng khoảng 4 lần và sản lượng tăng khoảng
3 lần Điều này cho thấy mặc dù có một số hạn chế về mặt sinh thái, cam quýt
vẫn được quan tâm phát triển mạnh ở Việt Nam
- Vùng đồng bằng sông Cửu Long
Theo Trần Thế Tục (1980), lịch sử trồng cam quýt ở đồng bằng sông Cửu Long có từ lâu đời, nên người dân ở đây rất có kinh nghiệm trồng trọt, chăm sóc loại cây ăn quả có múi Cam quýt được trồng chủ yếu ở các vùng đất phù sa ven sông hoặc trên các cù lao lớn nhỏ của sông Tiền, sông Hậu có nước ngọt quanh năm, nơi đây có tập đoàn giống cam quýt rất phong phú như: Cam chanh, cam Sành, Bưởi, chanh Giấy Điều này hoàn toàn phù hợp với vị trí của các tỉnh đồng bằng sông Cửu long nằm ở 9015’ đến 10030’ vĩ bắc và 1050 đến 106045’ độ kinh đông, địa hình rất bằng phẳng, có độ cao từ 3-5 m so với mặt nước biển Các yếu
tố khí hậu, nhiệt độ, ẩm độ, lượng mưa và ánh sáng ở vùng này rất phù hợp với việc phát triển sản xuất cây có múi
Theo Gurdwer (1967), cam của Nam Bộ quả lớn, hương vị đặc biệt thơm
Trang 20ngon, vượt xa loại cam mang từ Trung Hoa vào cùng mùa Nhiều giống được ưa chuộng và trồng phổ biến hiện nay như: Cam Sành, cam Mật, quýt Tiều (quýt hồng), quýt Siêm, quýt đường, bưởi đường, bưởi Năm Roi, bưởi Long Tuyễn ở điều kiện khí hậu, đất đai vùng đồng bằng sông Cửu Long các giống nêu trên thường cho năng suất tương đối cao
- Vùng miền núi phía Bắc
Tuyên Quang, Yên Bái, Lào Cai, Hà Giang, Bắc Cạn, Cao Bằng, Lạng Sơn
và Thái Nguyên là các vùng trồng cam lớn ở các tỉnh miền núi phía bắc Cam quýt được trồng thành từng khu tập trung từ 500 ha đến hàng nghìn ha như ở Bắc Sơn - Lạng Sơn, Bạch Thông - Bắc Cạn, Hàm Yên, Chiêm Hóa - Tuyên Quang, Bắc Quang - Hà Giang, nhìn chung cam quýt trở thành thu nhập chính của hộ nông dân tại đây Do địa hình sinh thái phong phú dẫn đến có nhiều loại cam quýt đặc trưng, đặc biệt ở vùng núi phía Bắc là nơi chứa đựng tập đoàn giống cam quýt đa dạng (Bùi Huy Kiểm, 2000)
Nói đến cam Sành chúng ta không thể không nghĩ đến khu vực huyện Bắc
với chất lượng ngon, màu sắc đẹp, cung cấp một lượng cam lớn cho miền Bắc vào dịp Tết và sau Tết Khi phân tích các chỉ tiêu như chế độ nhiệt, chế độ mưa,
ẩm và những điều kiện thời tiết đặc biệt như: Bão, sương muối, mưa đá và đi đến kết luận rằng ở đây có các yếu tố thời tiết đặc biệt có lợi cho cam phát triển, các yếu tố khác như: Nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa hoàn toàn phù hợp với yêu cầu sinh thái và có thể hình thành nên vùng trồng cam quýt xuất khẩu Bên cạnh đó nơi đây cũng rất nổi tiếng với 4 giống quýt; quýt Chum, quýt Chun, quýt Đỏ và quýt Vàng có triển vọng phát triển với thời gian cho năng suất cao, kéo dài và có giá trị thương phẩm (Hoàng Ngọc Thuận, 2000)
- Vùng khu 4 cũ
quýt vùng này là vùng Phủ Quỳ - Nghệ An Các giống cam ở Phủ Quỳ có khả năng sinh trưởng tốt và năng suất tương đối ổn định Hai giống Sunkiss và Xã Đoài có ưu thế tiềm về tiềm năng, năng suất và sức chống chịu sâu bệnh hại năng trên cả cây và quả (Nguyễn Duy Lâm và cs., 2001)
Huyện Hương Khê là một trong những vùng đất miền núi của tỉnh Hà Tĩnh Nhân dân ở đây đã có tập quán trồng bưởi lâu đời, đặc biệt là bưởi Phúc
Trang 21Trạch, một trong những giống bưởi đặc sản ngon nhất hiện nay (Đỗ Xuân Trường, 2003) Ngoài bưởi Phúc Trạch ở vùng này còn có một giống cam quýt rất nổi tiếng đó là cam Bù Cam Bù có quả to, ngon, màu sắc hấp dẫn, chín muộn nên có thể đưa vào cơ cấu cam quýt chín muộn ở Việt Nam hiện nay Cam Bù có năng suất cao nhờ có bộ lá quang hợp tốt và số lượng lá/cây lớn, có tính chịu hạn tốt Cam Bù thường được trồng với mật độ cao (600 - 1000 cây/ha) để cho cây chóng giao tán, che phủ đất trống xói mòn và hạn chế ánh sáng trực xạ ở vùng núi thấp (Phạm Văn Côn, 1987)
2.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ PHÂN BÓN TRÊN CÂY ĂN QUẢ
CÓ MÚI TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM
2.3.1 Tình hình nghiên cứu về phân bón trên cây ăn quả có múi trên thế giới
Koo (1985), Chapman (1968) cho rằng hàng năm một lượng dinh dưỡng nhất định trong đất đã bị một số loại cây ăn quả có múi lấy đi và không hoàn trả lại đất Lượng dinh dưỡng này được cây sử dụng phục vụ cho sự sinh trưởng, hình thành và phát triển tế bào quả Do vậy, cần phải bổ sung lượng dinh dưỡng nhất định bao gồm cả vi lượng và đa lượng cho đất sau mỗi đợt thu hoạch tùy
thuộc vào sản lượng thu hoạch của vụ đó
Bảng 2.3 Lượng dinh dưỡng cây ăn quả có múi lấy đi từ 1 tấn sản phẩm
Loại cây Dinh dưỡng đa lượng (Gam/tấn quả tươi)
Cam 1773 506 3194 367 1009 142 Quýt 1532 376 2465 184 706 111 Chanh 1638 366 2056 209 658 74 Bưởi 1058 298 2422 283 573 90
Loại cây Fe Dinh dưỡng vi lượng (Gam/tấn quả tươi) Mo Zn Cu B
Quaggio et al (2012) cho rằng đối với cây có múi đã có tiến bộ rất lớn
về việc dùng kết quả phân tích lá để hướng dẫn sử dụng phân bón Người ta chuẩn đoán dinh dưỡng lá cho cây có múi bằng cách lấy lá mùa xuân, 4 - 6 tháng tuổi ở những cành không mang quả để phân tích từ đó có căn cứ để xác định lượng phân bón cần bổ sung, điều chỉnh cho cây
Trang 22Bảng 2.4 Đánh giá mức độ thiếu đủ căn cứ vào hàm lượng dinh dưỡng trong lá
Dinh dưỡng Đơn vị Thấp Tối ưu Cao
Nguồn: Quaggio et al (2012)
Trong một nghiên cứu khác của Srivastiva et al (2007) đã cho kết quả khá
tương đồng hầu hết các chỉ tiêu nghiên cứu Kết quả được thể hiện trong bảng 2.5
Bảng 2.5 Đánh giá mức độ thiếu đủ căn cứ vào hàm lượng dinh dưỡng
trong lá (lá 4 tháng tuổi/cành không mang quả)
Dinh dưỡng Thiếu Thấp Tối ưu Cao Thừa
Nguồn: Srivastiva et al (2007)
Trang 23Như vậy, ta có thể căn cứ vào các mức độ đánh giá: Thiếu - Thấp - Tối ưu
này để điều chỉnh loại và lượng phân bón vào mùa sau, sao cho đạt được hiệu quả tối ưu Các chỉ số này cũng cho ta biết phần nào đặc điểm đất trồng của ta so với nhu cầu loại cây ăn quả có múi hiện có Như vậy, người làm vườn chuyên nghiệp rất cần quan tâm đến những chỉ số có tính chất hướng dẫn này để tích lũy kinh nghiệm trồng trọt và làm tăng năng suất cây trồng, tăng phẩm chất hàng hóa
và tăng hiệu quả kinh tế trồng trọt
- Phân bón ở thời kỳ kiến tiết cơ bản (KTCB)
Lượng phân khuyến cáo bón cho thời kỳ KTCB ở một số nước như sau:
Bảng 2.6 Lượng phân bón cho cây ăn quả có múi ở thời kỳ KTCB
Đơn vị: g/cây Nước Tuổi N P2O5 K2O MgO Bột xương Tro gỗ
Thường những nơi có đào hốc để trồng thì nên bón phân theo hốc vì rất ít
rễ có thể mọc xa hơn Những nơi không đào hốc để trồng thì bón theo tán lá Thường bón từ khoảng cách xa hơn tán lá 30 cm hướng tới gần gốc cây Số lần
Trang 24bón cũng giảm dần từ năm thứ nhất đến các năm sau đó Năm đầu bón 5 - 7 lần
và năm thứ 5 chỉ bón 3 - 4 lần Tuy nhiên những nơi bón cho đất qua con đường nước tưới thì có thể bón tới 25 - 30 lần/năm trong suốt 5 năm
- Bón phân ở thời kỳ kinh doanh (TKKD)
Chế độ phân bón ảnh hưởng trực tiếp tới cả năng suất và chất lượng sản phẩm Thường người ta căn cứ vào cả lượng dinh dưỡng cây lấy đi do sản lượng hàng năm và vào cả số liệu phân tích lá và đất để làm kế hoạch phân bón hàng năm
Đối với cây cam quýt thì N và K là 2 nguyên tố quan trọng bậc nhất Thường cần 3 - 6 kg N cho 1 tấn sản phẩm quả và lượng N cần bón cũng được làm cơ sở để tính tới nhu cầu các nguyên tố khác Lân ít quan trọng hơn vì nó được sử dụng với 1 lượng rất ít trong thành phần sản phẩm Phân bón cho cam quýt thường có tỷ lệ N : P2O5 : K2O = khoảng 5:1:5; Magie cũng cần được quan tâm ở những nơi cần
Bảng 2.7 Lượng phân khuyến cáo cho cam quýt thời kỳ kinh doanh
Có thể nhận thấy, lượng phân bón được khuyến cáo bón cho cây cam quýt
là thấp hơn tương đối nhiều so với Nhật Bản và Mỹ Tại Mỹ lượng phân bón lân khá thấp thấp hơn 3 lần so với Nhật Bản Ngoài ra, tại Mỹ được khuyến cáo bón thêm một lượng tương đối lớn MgO (75-210 kg/ha)
2.3.2 Tình hình nghiên cứu về phân bón trên cây ăn quả có múi ở Việt Nam
Theo Vũ Công Hậu (1996), bón phân cho cây có múi được tác giả đề nghị lấy công thức bón của Brazil sau đây làm chuẩn: Bón vào hố trước khi trồng cho mỗi cây 20 kg phân chuồng hay hữu cơ + 2 kg phân gà vịt + 75 g đạm nguyên chất
Mỗi năm bón theo số lượng ở bảng 2.8 dưới đây
Trang 25Bảng 2.8 Lượng phân bón hàng năm cho cây có múi
Phân đạm nên bón làm 3 lần, lần 1 sau khi thu hoạch, lần 2 khi cành lá mới hình thành và lần 3 khi quả đang lớn Phân lân có thể chỉ bón 1 lần sau khi thu hoạch kết hợp bón toàn bộ lượng phân hữu cơ, phân vi sinh Kali chia 2 lần: 1/2 trước khi nở hoa và 1/2 sau khi đậu quả
Tiến hành rạch hố theo hình chiếu tán, sâu 8 – 10 cm, bón đều lượng phân của đợt bón sau đó lấp đất và tưới nước cho cây
Theo Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong (2004) thì chế độ bón phân cho cây có múi như sau (bảng 2.9):
Bảng 2.9 Chế độ phân bón cho cây cam quýt Năm tuổi N (g/cây) P2O5 (g/cây) K2O (g/cây)
- Dùng phân NPK bón cho cây ăn quả có múi trong thời kỳ KTCB
Năm thứ nhất: Năm thứ nhất cây cần nhiều lân để phát triển bộ rễ nên chọn loại phân có tỷ lệ lân khá cao như NPK 5-10-5; 5-8-6; 6-8-4 v.v bón với lượng 80 g N/cây
Trang 26Năm thứ 2 đến năm thứ 4: Có thể coi như thời gian này cây vẫn còn trong thời kỳ KTCB, mặc dù lúc này cây đã cho một sản lượng nhất định Chọn các loại phân NPK 10-10-5, 15-15-6, 14-8-6, 12-6-9, 15-15-10-5, 16-16-
8, 20-15-7, 20-20-15, 20 -20-10-5, 20-15-15-7 Tính toán để bón với lượng
100 - 200 g N/cây
- Bón phân vi lượng TKKD
Các nguyên tố vi lượng: Ngoài tác dụng tăng sức đề kháng cho cây, một
số nguyên tố vi lượng có tác dụng nâng cao tỷ lệ đậu hoa, quả và khả năng giữ quả của cam quýt Bên cạnh đó, vi lượng còn làm tăng chất lượng và mẫu mã quả cho cam quýt Có thể dùng kết quả phân tích lá và quan sát bằng mắt thường để đánh giá Cần điều chỉnh ngay các biểu hiện thừa, thiếu để đảm bảo sức khoẻ cho cây Cách sử dụng và thời gian cung cấp nguyên tố vi lượng cho cây cam quýt được thể hiện trong bảng 2.10
Bảng 2.10 Phương pháp áp dụng các nguyên tố vi lượng cho cam quýt
Liều lượng và phương pháp Mn Zn Cu Fe B Mo Phun lên lá (khi cây có hầu hết
lá mới đã to hết cỡ) Được Được Được Không Được Được Liều lượng (g/lít) 0,9 1,3 0,9 - 0,06 - Bón vào đất (bất cứ lúc nào) Được Không Được Được Được Không Liều lượng (kg/ha) 10,0 - 5,4 - 1,0 -
Nguồn: Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong (2004)
Như vậy, trong quá trình sử dụng các loại phân bón lá, cần lưu ý đến thành phần các nguyên tố có trong phân để lựa chọn thời gian và phương pháp hợp lý khi cung cấp cho cây cam quýt
2.3.3 Nghiên cứu về việc cung cấp phân bón qua lá cho cây cam quýt
Bản chất của phân bón lá là các chế phẩm mà trong đó chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng dạng đa lượng, trung lượng và vi lượng, nhằm cung cấp kịp thời cho cây Mỗi chất có vai trò khác nhau đối với cây nhưng nếu thiếu cây trồng sẽ sinh trưởng và phát triển kém, năng suất, chất lượng nông sản giảm rõ rệt
Theo Hoàng Minh Tấn và cs (2006) trong thế giới thực vật nói chung và cam quýt nói riêng, lá cây ngoài chức năng là thoát hơi nước, quang hợp còn có
Trang 27vai trò quan trọng trong việc hấp thu các chất đinh dưỡng cho cây, sự hấp thu này được thực hiện qua lỗ khí khổng và qua các khoảng gian bào, các chất dinh dưỡng được di chuyển theo hướng từ trên xuống dưới với tốc độ 30 cm/giờ, chất dinh dưỡng di chuyển một cách tự do trong cây
Nhiều công trình nghiên cứu đều khẳng định rằng; khi bón phân qua lá dạng hòa tan thì lá cây sẽ hấp thu hết 95% lượng phân Vì vậy, việc cung cấp các chất dinh dưỡng dạng vi lượng cho cây thông qua lá là việc làm đem lại hiệu quả rất cao, có thể nói cao gấp 8-10 lần so với cung cấp vào đất Ngoài tác dụng bổ sung các chất dinh dưỡng kịp thời cho cây, phân bón lá còn tăng cường khả năng chống chịu sâu bệnh và các điều kiện ngoại cảnh bất lợi khác như nóng, lạnh, khô, hạn Tuy nhiên hiệu quả của phân bón lá phụ thuộc vào các giống cây trồng, các giai đoạn sinh trưởng của cây, loại phân, nồng độ phân, liều lượng và thời gian sử dụng Các loại phân bón lá đang được sử dụng rộng rãi hiện nay là Komix FT, Komix, Superzin K, Thiên nông Poster, Yogen, Atomic (Nguyễn Thị Nhuận và cs., 1966)
Ở những vườn cây ăn quả không thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của bộ rễ, thì việc cung cấp các loại phân bón qua lá giúp cho cây sinh trưởng mạnh hơn, ngăn ngừa các bệnh về thiếu dinh dưỡng và giúp cho cây sinh trưởng tốt hơn
Các loại phân bón lá như Komix FT, Komix Superzin K, Thiên nông, FoFer và Pomior, đã có tác dụng tốt trên một số loại cây trồng như: Rau, cà phê
và một số cây ăn quả Kết quả nghiên cứu của Bùi Thị Nhuận và cs (1966) cho thấy chúng đều có tác dụng hạn chế rụng quả non, góp phần làm tăng năng suất đồng thời không làm ảnh hưởng đến chất lượng và mẫu mã quả
Kết quả nghiên cứu của Phạm Thị Hương (2004) cho thấy: Pomior là loại phân bón lá tốt, có thể bổ sung cho vườn cây ăn quả để nâng cao tỷ lệ ghép sống, rút ngắn thời gian cây con trong vườn ươm, cũng như nâng cao chất lượng cây giống của vải, nhãn, xoài Nên phun Pomior ở nồng độ 0,4%, thời gian 10 ngày/lần từ trước khi ghép 1 tháng đến khi cây con đạt tiêu chuẩn xuất vườn Nếu phun Pomior ở nồng độ 0,4% ướt đẫm lá với khoảng cách 10 và 20 ngày một lần sau khi hoa tàn đến khi quả ngừng lớn trên bưởi Diễn có tác dụng cải thiện các đợt lộc và tăng năng suất quả, tuy nhiên phun 10 ngày 1 lần có tác dụng tốt hơn so với phun 20 ngày một lần
Trang 28Bộ môn Sinh lý thực vật, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã nghiên cứu và tạo được chế phẩm đậu hoa, đậu quả cho nhiều loại cây trồng và sử dụng
có hiệu quả trong sản xuất Chế phẩm dạng bột gồm a.NAA dưới dạng hoà tan trong nước là nguồn auxin bổ sung cho nguồn nội sinh, một số nguyên tố vi lượng cần thiết như B, Cu và còn có thêm một lượng nhỏ nguyên tố đa lượng N,
P, K Phun chế phẩm này đã làm tăng quá trình đậu quả, hiệu quả này được tăng lên khi cung cấp đủ nước và các chất dinh dưỡng cho cây trồng
Hoàng Ngọc Thuận (2000), cho biết phân bón lá dạng phức hữu cơ Pomior là một loại phân tổng hợp có chứa các nguyên tố đa, trung và vi lượng với 20 axit amin cùng với một số chất điều hòa sinh trưởng Loại phân này đã được tiến hành thử nghiệm và đạt hiệu quả cao trên nhiều loại cây trồng Đặc biệt một số kết quả thử nghiệm những năm gần đây Pomior đã thể hiện tác dụng xúc tiến rõ rệt đến khả năng sinh trưởng, tăng khả năng ra hoa, tăng khả năng đậu quả, tăng trọng lượng và phẩm chất quả trên cây có múi
2.4 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ NHÂN GIỐNG TRÊN CÂY ĂN QUẢ
Cây ăn quả có thể nhân giống bằng nhiều phương pháp khác nhau như bằng hạt, giâm, chiết, ghép Mỗi phương pháp nhân giống đều có những ưu nhược điểm khác nhau tùy vào từng loại cây trồng, điều kiện, trình độ thâm canh mỗi vùng
Khi nghiên cứu về ảnh hưởng của thời vụ và phương pháp ghép tới kết quả ghép hồng tại Bắc Kan, Nguyễn Khắc Thái Sơn đã đưa ra kết luận: Thời vụ
và phương pháp ghép ảnh hưởng đến các chỉ tiêu ghép hồng ở vườn ươm và tỷ lệ sống sau khi trồng ra sản xuất Thời vụ ghép tốt nhất cho phương pháp ghép mắt
là từ đầu tháng 8 đến giữa tháng 8, còn thời vụ tốt nhất cho ghép đoạn cành là từ giữa tháng 11 đến đầu tháng 1 năm sau
Khi nghiên cứu ảnh hưởng của phương pháp ghép đến khả năng nhân giống của dòng bưởi NNH- VN50 và dòng Quýt NNH- VN52, Nguyễn Thị Vân Quỳnh (2012) cho biết: Trong 2 phương pháp ghép nêm chéo và mắt nhỏ có gỗ thì phương pháp ghép nêm chéo trên dòng bưởi NNH- VN50 cho tỷ lệ bật mầm,
tỷ lệ sống, cây sinh trưởng tốt hơn so với phương pháp ghép mắt nhỏ có gỗ Đối với dòng quýt NNH- VN52 thì phương pháp ghép mắt nhỏ có gỗ lại cho tỷ lệ bật mầm, tỷ lệ sống cao hơn so với ghép nêm chéo
Trang 29Đánh giá về sự thích hợp của 2 dòng bưởi NNH- VN50 và quýt không hạt NNH- VN52 trên các loại gốc ghép khác nhau cho kết quả nếu ghép trên gốc bưởi chua thì cho tỷ lệ xuất vườn cao nhất
2.4.1 Các phương pháp nhân giống vô tính cây ăn quả
Phương pháp nhân giống vô tính cây ăn quả là phương pháp mà thông qua các cách làm khác nhau tạo ra những cây hoàn chỉnh từ những phần riêng biệt ở
cơ quan sinh dưỡng của cây mẹ
• Phương pháp chiết cành
Cơ sở khoa học của phương pháp là sau khi ta tiến hành khoanh vỏ, dưới ảnh hưởng của các chất nội sinh trong tế bào như auxin, cytokinin khi gặp những điều kiện nhiệt độ, độ ẩm thích hợp thì dễ được hình thành và chọc thủng biểu bì đâm ra ngoài
* Những ưu điểm của phương pháp chiết cành
- Cây giống giữ nguyên được đặc tính di truyền của cây mẹ
- Cây sớm ra hoa kết quả, rút ngắn được thời gian kiến thiết cơ bản
- Thời gian nhân giống nhanh
- Cây trồng bằng cành chiết thường thấp, phân cành cân đối, thuận lợi cho chăm sóc và thu hoạch
* Những nhược điểm của phương pháp chiết cành
- Hệ số nhân giống không cao, chiết nhiều cành trên cây sẽ ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển của cây mẹ
- Đối với một số giống cây ăn quả, dùng phương pháp chiết cành cho tỷ lệ
ra rễ thấp
* Phương pháp tiến hành
- Cành chiết được lấy trên các cây giống đã được chọn lọc ở thời kỳ sinh trưởng khoẻ, cây có năng suất cao, ổn định và không có sâu bệnh nguy hiểm gây hại Chọn những cành có đường kính từ 1 - 2 cm ở tầng tán giữa và phơi ra ngoài ánh sáng, không chọn cành na, cành dưới tán và các cành vượt
- Dùng dao cắt khoanh vỏ với chiều dài khoanh vỏ bằng 1,5 - 2 lần đường kính gốc cành Sau khi bóc lớp vỏ ngoài, dùng dao cạo sạch phần tượng tầng đến lớp gỗ
Trang 30Sau khi khoanh vỏ 1 - 2 ngày thì tiến hành bó bầu Đất bó bầu gồm 2/3 là đất vườn hoặc đất bùn ao phơi khô, đập nhỏ + 1/3 là mùn cưa, rơm rác mục, xơ dừa tưới ẩm, bọc bầu bằng giấy polyêtylen và buộc kín hai đầu bằng lạt mềm Sau 60 - 90 ngày, tuỳ thuộc vào thời vụ chiết, cành chiết rễ Khi cành chiết
có rễ ngắn chuyển từ màu trắng sang màu vàng ngà là có thể cắt cành chiết đưa vào vườn ươm
Thời vụ chiết thích hợp cho đa số các chủng loại cây ăn quả là vụ xuân và
vụ thu
• Phương pháp giâm cành
Giâm cành là phương pháp nhân giống cây trồng bằng cơ quan sinh dưỡng Cơ sở khoa học của phương pháp tương tự như nhân giống bằng phương pháp chiết cành
* Những ưu điểm của phương pháp giâm cành
- Giữ nguyên được đặc tính di truyền của cây mẹ
- Tạo ra cây giống sau trồng sớm ra hoa kết quả
- Thời gian nhân giống nhanh
- Có thể nhân nhiều giống mới từ một nguồn vật liệu giới hạn ban đầu
* Những nhược điểm
Đối với những giống cây ăn quả, nhất là những giống khó ra rễ, sử dụng phương pháp này đòi hỏi phải có những trang thiết bị cần thiết để có thể khống chế được điều kiện nhiệt độ, ẩm độ và ánh sáng trong nhà giâm
* Phương pháp tiến hành
Đối với các cây ăn quả dạng gỗ cứng, có rụng lá mùa đông, thường lấy cành giâm khi cây bước vào thời kỳ ngủ nghỉ Đối với các cây ăn quả gỗ mềm, không rụng lá thường lấy cành giâm vào mùa sinh trưởng
Nền giâm được sử dụng là cát khô, than bùn, xơ dừa hoặc là nền đất tuỳ thuộc vào điều kiện giâm cành, thời vụ giâm, chủng loại giống và loại cành giâm khác nhau
Cành giâm được chọn ở giữa tầng tán tương tự chọn cành chiết, chiều dài hom giâm thích hợp từ 15 - 20 cm Đối với những cành giâm lấy vào mùa sinh trưởng nên để lại trên hom giâm từ 2 - 4 lá
Trang 31Để tăng khả năng ra rễ của cành giâm, có thể nhúng phần gốc hom giâm
- 4000 ppm trong vài giây hoặc ngâm phần gốc hom giâm vào các dung dịch trên
ở nồng độ 20 - 40 ppm trong thời gian 10 - 20 phút
Sau khi giâm cần tưới ướt bề mặt lá thường xuyên ở dạng phun sương để tránh thoát hơi nước gây rụng lá Khi cành giâm có một đợt lộc mới ổn định sinh trưởng và có đầy đủ rễ thì tiến hành ra ngôi và chăm sóc cây cho đến khi đạt tiêu chuẩn xuất vườn
Giai đoạn từ giâm cho tới khi có rễ và lộc mới ổn định cần được tiến hành trong nhà giâm, khi ra ngôi cần chọn thời điểm có điều kiện thời tiết thuận lợi hoặc ra ngôi trong điều kiện có mái che
• Nhân giống cây ăn quả bằng phương pháp ghép
Cơ sở khoa học của phương pháp là khi ghép, bằng những phương pháp nhất định làm cho tượng tầng của gốc ghép và thân ghép tiếp xúc với nhau, nhờ
sự hoạt động và khả năng tái sinh của tượng tầng làm cho mắt ghép và gốc ghép gắn liền với nhau
* Những ưu điểm của phương pháp ghép
- Cây ghép sinh trưởng, phát triển tốt nhờ sự phát triển, hoạt động tốt của
bộ rễ gốc ghép và khả năng thích nghi với điều kiện khí hậu, đất đai của cây gốc ghép
- Cây ghép giữ được các đặc tính của giống muốn nhân
- Hệ số nhân giống cao, trong thời gian ngắn có thể sản xuất được nhiều cây giống đáp ứng yêu cầu của sản xuất
- Giống làm gốc ghép sớm cho ra hoa kết quả vì mắt ghép chỉ tiếp tục giai đoạn phát dục của cây mẹ
- Tăng cường khả năng chống chịu của cây với điều kiện bất thuận như: chịu hạn, chịu úng, chịu rét và sâu bệnh
- Thông qua gốc ghép có thể điều tiết được sự sinh trưởng của cây ghép
- Có khả năng phục hồi sinh trưởng của cây, duy trì giống quý thông qua các phương pháp ghép như: ghép nối cầu hay ghép tiếp rễ
Trang 32* Yêu cầu của giống gốc ghép
- Giống làm gốc ghép phải sinh trưởng khoẻ có khả năng thích ứng rộng với điều kiện địa phương
- Giống làm gốc ghép phải có khả năng tiếp hợp tốt với thân cành ghép
- Giống làm gốc ghép phải có khả năng chống chịu sâu bệnh và có khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh bất thuận
- Giống làm gốc ghép phải sinh trưởng nhanh, dễ gây giống, ít mọc mầm phụ ở gốc cây con
* Những yêu cầu kỹ thuật để nâng cao tỷ lệ ghép sống và tỷ lệ cây đạt tiêu chuẩn xuất vườn
- Chăm sóc cây con trước khi ghép: sau khi ra ngôi cần áp dụng đầy đủ các quy trình khác của kỹ thuật chăm sóc để cây gốc ghép sớm đạt tiêu chuẩn ghép Trước khi ghép 1 - 2 tuần cần tiến hành vệ sinh vườn cây gốc ghép và tăng cường chăm sóc để cây có nhiều nhựa, tượng tầng hoạt động tốt
- Chọn cành, mắt ghép tốt: cành ghép được lấy từ vườn chuyên lấy cành ghép hoặc trên vườn sản xuất với những cây mang đầy đủ các đặc tính của giống muốn nhân Cành ghép được chọn ở giữa tầng tán, không có các đối tượng sâu bệnh nguy hiểm gây hại Tuổi cành ghép chọn phù hợp tuỳ thuộc vào thời vụ ghép khác nhau Trong điều kiện cần vận chuyển đi xa, cần bảo quản trong điều kiện đủ ẩm, tránh nhiệt độ cao
- Chọn thời vụ ghép tốt: trong điều kiện khí hậu miền Bắc nước ta, đa số các giống cây ăn quả được tập trung ghép vào vụ xuân và vụ thu
- Thao tác kỹ thuật ghép: đây là khâu kỹ thuật có tính chất quyết định, phụ thuộc vào sự thành thạo của người ghép Các thao tác ghép cần được tiến hành nhanh và chính xác
- Chăm sóc cây con sau khi ghép: tất cả các khâu kỹ thuật từ mở dây sau ghép, xử lý ngọn gốc ghép, tỉa mầm dại, tưới nước làm cỏ, bón phân, tạo hình cây ghép cho tới công tác phòng trừ sâu bệnh hại cần được tuân thủ một cách nghiêm ngặt, đúng kỹ thuật
2.4.2 Các phương pháp ghép
+ Tuỳ thuộc vào mục đích áp dụng, từng đối tượng cây ăn quả mà có thể
sử dụng các phương pháp khác nhau Một số phương pháp ghép chủ yếu đang
Trang 33được áp dụng để nhân giống cây ăn quả được chia thành hai nhóm là ghép mắt và ghép cành
Sau ghép 15 - 20 ngày tuỳ thuộc vào chủng loại cây ăn quả, tiến hành cởi dây ghép Nếu mắt ghép còn xanh thì sau 2 - 3 ngày tiến hành cắt ngọn gốc ghép,
áp dụng các biện pháp kỹ thuật chăm sóc cây con sau khi ghép
Sau ghép 20 - 25 ngày tuỳ thuộc vào chủng loại cây ăn quả, tiến hành cởi dây ghép Nếu mắt ghép còn xanh thì sau 2 - 3 ngày tiến hành cắt ngọn gốc ghép,
áp dụng các biện pháp kỹ thuật chăm sóc cây con sau khi ghép
Trang 34+ Nhóm các phương pháp ghép cành
- Phương pháp ghép áp
Phương pháp ghép áp được áp dụng chủ yếu để nhân giống trồng với số lượng nhỏ hoặc áp dụng với những cây ăn quả khó nhân giống bằng các phương pháp khác
Trên cành ghép và gốc ghép, mở vết cắt có kích thước tương tự nhau, dài
từ 8 - 10 cm, áp hai vết cắt vào nhau và cuốn kín lại bằng dây nilông, dùng dây buộc cố định của gốc ghép trên thân cây chọn cành ghép Sau ghép khoảng 1,5 -
2 tháng, tiến hành cởi dây ghép và cắt ngọn của gốc ghép Sau đó khoảng 7 - 10 ngày, cắt tiếp phần gốc của cành ghép và tạo được cây giống hoàn chỉnh
Trang 35Trước hết cuốn nhiều vòng dây để cố định cành ghép vào gốc ghép, sau
đó trải rộng dây nilông và cuốn kín một lượt xung quanh cành ghép, đưa dây nilông trở lại cố định dây tại gốc ghép Sau ghép 15 - 20 ngày, mầm ghép bắt đầu mọc xuyên qua dây cuốn, tiến hành các biện pháp chăm sóc cây con sau khi ghép
- Phương pháp ghép sửa chữa thân và sửa chữa rễ
Các phương pháp ghép này được sử dụng khi cần nối phần vỏ bị tổn thương của cây hoặc cải tạo bộ rễ cây đã bị gây hại
Đối với phương pháp ghép sửa chữa thân, sử dụng các đoạn cành của cùng giống cây ăn quả ghép nối lại phần vỏ qua vị trí bị tổn thương Trên cành ghép, cắt tạo vết cắt tương tự như mở vết cắt của phương pháp ghép cành bên nhưng dài từ 3 - 5 cm ở cả hai đầu của đoạn cành Trên thân cây, bóc vỏ mở vết ghép có kích thước tương tự với vết cắt của cành ghép Cài cành ghép vào thân cây và cuốn kín lại bằng dây nilông Khi vết ghép gắn liền, tiến hành cởi dây ghép
Đối với phương pháp ghép sửa chữa rễ, tiến hành trồng các cây gốc ghép xung quanh gốc cây cần ghép sửa chữa, cắt ngọn gốc ghép tạo vết cắt tương tự như đoạn cành của phương pháp ghép sửa chữa thân, bóc vỏ mở vết ghép có kích thước tương tự với vết cắt của cành ghép Cài vết cắt của gốc ghép vào thân cây và cuốn kín vết ghép bằng dây nilon khi vết ghép gắn liền, tiến hành cởi dây ghép
Trang 36PHẦN 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
- Địa điểm: Thí nghiệm được tiến hành tại Trung tâm Thực nghiệm và Đào tạo Nghề - Học viện Nông nghiệp Việt Nam
3.2 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
- Thời gian: Từ tháng 8 năm 2015 đến tháng 5 năm 2016
3.3 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU
3.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Thí nghiệm được tiến hành trên dòng quýt không hạt NNH-VN52.
3.3.2 Vật liệu nghiên cứu
Thí nghiệm 1 :
- Cây làm gốc ghép đạt tiêu chuẩn 1 năm tuổi
- Cây đầu dòng quýt không hạt NNH-VN52
Thí nghiệm 2 :
- Cây giống quýt không hạt NNH- VN52 1 năm tuổi
- Các loại phân bón qua lá
+ Đầu trâu 502: NPK 30-21-10
Cu 0,02%, B 0,01%, Fe 0,01%, Mn 0,01%, PENACP, GA3, @NAA, Bnoa
+ Seaweed- Rong biển:
Thành phần: hc 50%, p205 3%, k20 20%, s 1,5%, mg 0,45%, b 125 ppm, fe
200 ppm, mn 10 ppm, cu 30 ppm, zn 65 ppm, alanin 0,32%, arginin 0,04%, cystin 0,01%, serin 0,08%, glycin 0,29%, histidin 0,08%, valin 0,28%, isolecucin 0,26%, luucin 0,41%, trytophan 0,07%, glutamic axid 0,93%, aspartic axid 0,62%, man nitol 0,11%, laminarnin 0,08%, alginic axid 0,8%, cytokinin 600 ppm, auxin 37 ppm, gibberelin 21 ppm
+ Sutraco KanHumatP:
Thành phần: NPK (%) 2-3-3, axit humic 1%, Mg 300 ppm, Ca 300 ppm,
Zn 300 ppm, Cu 200 ppm, B 500 ppm, Fe 100 ppm, Mn 100 ppm, Mo 30 ppm
Trang 37+ X1
Thành phần: B: Mn: Zn: S- 500: 500: 600: 300 (ppm), humix: N: P2O5: K2O- 4:4:4:4 (%) phụ gia đặc biệt
Thành phần: hợp chất Nitơ thơm 1.8%, natri - 2,4 dinitrophenol 0.15%
3.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1) Nghiên cứu ảnh hưởng của phương pháp ghép đến khả năng nhân giống Quýt không hạt NNH - VN52
2) Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón qua lá đến sinh trưởng, phát triển cây giống quýt không hạt NNH - VN52
3.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.5.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm
- Thí nghiệm 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của phương pháp ghép đến khả
năng nhân giống quýt không hạt NNH - VN52
Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCB) với 2 công thức ghép là ghép nêm chéo (NC), ghép mắt nhỏ (MN) và 3 lần nhắc lại Mỗi công thức tiến hành ghép trên 30 cây
Trang 38• Thời vụ ghép: Thí nghiệm tiến hành ghép vào ngày 1/8/2015
• Yêu cầu kỹ thuật
- Chọn cây gốc ghép khỏe mạnh, không sâu bệnh, có đường kính thân từ 0,8-1,0 cm
- Chọn lấy cành ghép trên những cây đã được tuyển chọn có năng suất cao, ổn định, phẩm chất tốt có độ tuổi từ 6-7 năm tuổi trở lên Cây sinh trưởng khỏe, không sâu bệnh Trên cây chọn những cành bánh tẻ ra từ vụ thu năm trước hoặc vụ xuân để lấy cành ghép, trên cành chọn những mắt đã nổi rõ hoặc nhú để ghép Sau khi cắt cành khỏi cây mẹ thì phải bảo quản cẩn thận, tránh mất nước nếu phải vận chuyển đi xa hoặc chưa ghép kịp thì phải sử dụng giẻ ướt để quấn
• Các thao tác ghép:
1- Phương pháp ghép nêm chéo:
Dùng kéo cắt ngọn gốc ghép ở vị trí cách mặt đất khoảng 25-30 cm chọn cắt chỗ thân cây nhẵn, thẳng Sau đó dùng dao cắt một đoạn cành ghép có từ 3-4 mắt dài khoảng 4-5 cm, phần ngọn đoạn cành ghép cắt phẳng, phần gốc dùng dao vát chéo 450 mắt vát dài khoảng 1,5-2 cm, mặt vát phải phẳng, nhẵn sau đó quay ngược phía sau mặt vát dùng dao vát chéo một ít ở đuôi phần vát Đặt đoạn cành ghép đã chuẩn bị vào giữa hai ngón tay cuối của bàn tay trái, đồng thời tay trái giữ cây gốc ghép dùng dao vát một ít phía định chẻ trên gốc ghép sau đó dùng dao chẻ dọc về một bên từ trên gốc ghép xuống, đường chẻ dài tương đương hay bằng vết vát trên cành ghép là tốt nhất Phần chẻ gần vỏ và một ít gỗ, sau đó đặt nhanh đoạn cành ghép đã chuẩn bị vào vết chẻ trên gốc ghéo sao cho tượng tầng của cành ghép và gốc ghép trùng với nhau (ít nhất một bên) Dùng dây nilông tự
Trang 39hoại quấn chặt chỗ tiếp giáp giữa cành ghép và gốc ghép sau đó quấn kín cả đoạn cành ghép
2- Phương pháp ghép mắt nhỏ có gỗ:
Trên cây giống (cây mẹ) chọn những cành nảy lộc từ đầu xuân đã hóa gỗ hoàn toàn, cành có màu nâu xám và có đường kính gần bằng đường kính gốc ghép Dùng dao sắc cắt một phiến mầm bao gồm cả phiến lá và mầm ngủ Phiến mầm dài khoảng 1,5-2,5 cm, có hình lưỡi gà trong đó phia gốc dày khoảng 0,2cm, rộng khoảng 0,5 cm sau đó tại điểm định ghép trên gốc ghép (cách mặt đất khoảng 15-20 cm) Cát vát một lát hình lưỡi gà từ trên xuống bao gồm cả vỏ
ghép có tiết diện tương ứng hoặc hơi to hơn tiết diện phía trong của phiến mầm Đặt phiến mầm vào vết vát thật khít rồi buộc kín và chặt bằng dây nilon trắng trong, buộc từ dưới lên theo kiểu lợp mái nhà Sau ghép khoảng 15-20 ngày có thể mở dây buộc, sau mở khoảng 3 ngày kiểm tra thấy phiến mầm vẫn xanh tươi thì cắt ngọn gốc ghép đi Vết cắt cách mầm ghép 1,5cm và nghiêng về phía sau mầm ghép
Chú ý: Cả hai phương pháp ghép đều phải thao tác đúng và nhanh Vết cắt phải rất phẳng và nhẵn thì tỷ lệ ghép sống mới cao
- Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón qua lá
đến sinh trưởng, phát triển cây giống Quýt không hạt NNH- VN52
Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCB) với 9 công thức và 3 lần nhắc lại Mỗi công thức tiến hành trên 30 cây Liều lượng và nồng độ phun theo khuyến cáo của nhà sản xuất
Công thức 1: Daiwan Ron 1,95 SL
-Pha 10 ml trong 12 lít nước
Công thức 2: Đầu Trâu 502
- Pha 10 gam trong 10 lít nước
Công thức 3: Seaweed- Rong biển
- Pha 10 gam trong 16 lít nước
Công thức 4: X1
- Pha 10 gam trong 12 lít nước
Trang 40Công thức 5: Sutraco KanHumatP
- Pha 10 ml trong 10 lít nước
- Pha 10 ml trong 16 lít nước
Công thức 9: Đối chứng (phun nước lã)
Tiến hành phun dung dịch phân bón qua lá làm 5 lần kéo dài trong 2,5 tháng
Phun mỗi tháng 2 ngày vào ngày mùng 1 và 15 hàng tháng
Phun ướt đều toàn cây, đều lên trên và mặt dưới lá Mỗi ngày phun 2 lần vào buổi sáng từ 8h đến 10 h lúc trời nắng, buổi chiều bắt đầu phun phân bón lá
từ 15 h đến 17 h trong ngày Sau 3 h nếu trời không mưa thì đạt yêu cầu, nếu sau phun mà trời mưa thì phải phun lại
* Sơ đồ bố trí thí nghiệm:
NLI CT1 CT5 CT3 CT8 CT2 CT6 CT7 CT4 CT9
NLII CT3 CT5 CT1 CT9 CT8 CT2 CT6 CT4 CT7
NLIII CT9 CT7 CT2 CT6 CT1 CT3 CT4 CT5 CT8
3.5.2 Các chỉ tiêu theo dõi
* Các chỉ tiêu theo dõi thí nghiệm 1
- Tỷ lệ sống (%)= (Tổng số mắt sống/ tổng số mắt ghép) x 100
- Tỷ lệ bật mầm (%) = (Tổng mầm bật/ tổng số mắt ghép) x 100
- Thời gian bật mầm (ngày) được tính khi có 50% số cây bật mầm
- Động thái tăng trưởng chiều cao mầm ghép (cm): được đo từ vị trí bật mầm đến đỉnh sinh trưởng