1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống cẩm chướng trồng chậu (dianthus chinensis l ) và nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật tới giống ideal crimson tại gia lâm – hà nội

112 127 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 7,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Tên tác giả: Nguyễn Thị Thanh Thảo Tên Luận văn: “Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống cẩm chướng trồng chậu Dianthus Chinensis L và nghiên cứu

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ THANH THẢO

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN

CỦA MỘT SỐ GIỐNG CẨM CHƯỚNG TRỒNG CHẬU (Dianthus Chinensis L.) VÀ NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG

CỦA MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT TỚI GIỐNG IDEAL CRIMSON TẠI GIA LÂM – HÀ NỘI

Chuyên ngành: Khoa học cây trồng

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Văn Phú

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thanh Thảo

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của nhiều tập thể, cá nhân trong và ngoài nhà trường trong quá trình nghiên cứu Lời đầu tiên tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Văn Phú, người thầy

đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thiện luận văn tốt nghiệp này

Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô trong Khoa Nông học – Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian học tập cũng như hoàn

thành luận văn tốt nghiệp

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo cùng toàn thể các cán bộ, kỹ sư thuộc Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Hoa cây cảnh – Viện Nghiên cứu Rau quả đã tạo điều kiện cho tôi về vật chất và thời gian trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Để hoàn thành nghiên cứu này tôi còn nhận được sự động viên, khích lệ và giúp

đỡ của bạn bè và những người thân trong gia đình Tôi xin chân thành cảm ơn những tình cảm quý báu đó

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thanh Thảo

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục chữ viết tắt vi

Danh mục bảng vii

Danh mục hình viii

Trích yếu luận văn ix

Thesis abstract xi

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục đích, yêu cầu của đề tài 1

1.2.1 Mục đích 1

1.2.2 Yêu cầu 2

1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2

1.3.1 Ý nghĩa khoa học 2

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2

Phần 2 Tổng quan tài liệu 3

2.1 Giới thiệu chung về cây hoa cẩm chướng 3

2.1.1 Phân loại, nguồn gốc và phân bố 3

2.1.2 Giá trị sử dụng và giá trị kinh tế 3

2.1.3 Đặc điểm thực vật học 4

2.1.4 Yêu cầu ngoại cảnh của cây hoa cẩm chướng 4

2.2 Tình hình sản xuất hoa cẩm chướng và hoa trồng chậuError! Bookmark not defined.11 2.2.1 Tình hình sản xuất hoa cẩm chướng Error! Bookmark not defined.11 2.2.2 Tình hình sản xuất hoa trồng chậu Error! Bookmark not defined.11 2.3 Tình hình nghiên cứu về hoa cẩm chướng và hoa trồng chậu 11

2.3.1 Tình hình nghiên cứu về chọn tạo giống hoa cẩm chướng 11

2.3.2 Tình hình nghiên cứu về biện pháp kỹ thuật cho hoa trồng chậu 15

Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu

3.1 Địa điểm nghiên cứu

Trang 5

3.2 Thời gian nghiên cứu

3.3 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu

3.3.1 Đối tượng nghiên cứu:

3.3.2 Vật liệu nghiên cứu

3.4 Nội dung nghiên cứu

3.5 Phương pháp nghiên cứu

3.5.1 Thiết kế thí nghiệm

3.5.2 Các chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp xác định

3.5.3 Phân tích số liệu

3.5.4 Quy trình kỹ thuật

Phần 4 Kết quả và thảo luận

4.1 Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển, năng suất, chất lượng của một số giống cẩm chướng trồng chậu

4.1.1 Đặc điểm hình thái

4.1.2 Khả năng sinh trưởng, phát triển

4.1.3 Các yếu tố cấu thành năng suất và chất lượng hoa của các giống cẩm chướng trồng chậu

4.1.4 Tình hình sâu, bệnh hại

4.2 Ảnh hưởng của giá thể trồng đến khả năng sinh trưởng, phát triển của giống hoa cẩm chướng Ideal Crimson

4.2.1 Ảnh hưởng của giá thể trồng đến tỷ lệ sống và thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng của giống cẩm chướng Ideal Crimson

4.2.2 Ảnh hưởng của giá thể trồng đến khả năng bật mầm của giống cẩm chướng Ideal Crimson

4.2.3 Ảnh hưởng của giá thể trồng đến chiều cao cây của giống cẩm chướng Ideal Crimson

4.2.4 Ảnh hưởng của giá thể trồng đến các yếu tố cấu thành năng suất và chất lượng của giống cẩm chướng Ideal Crimson

4.3 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến sinh trưởng, phát triển và khả năng ra hoa, chất lượng hoa của giống Ideal Crimson

4.3.1 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến khả năng sinh trưởng, phát triển của giống cẩm chướng Ideal Crimson

Trang 6

4.3.2 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến các yếu tố cấu thành năng

suất và chất lượng của giống Ideal Crimson

4.4 Ảnh hưởng của phân bón gốc có tỷ lệ npk khác nhau đến sinh trưởng, phát triển và chất lượng hoa của giống Ideal Crimson

4.4.1 Ảnh hưởng phân bón qua gốc có tỷ lệ NPK khác nhau đến động thái tăng trưởng chiều cao cây của giống cẩm chướng Ideal Crimson

4.4.2 Ảnh hưởng phân bón qua gốc có tỷ lệ NPK khác nhau đến các yếu tố cấu thành năng suất và chất lượng của giống Ideal Crimson

Phần 5 Kết luận và kiến nghị

5.1 Kết luận

5.2 Kiến nghị

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 7

khi so sánh ở xác suất 95%

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Một số đặc điểm của các giống hoa cẩm chướng trồng chậu 22

Bảng 4.1 Một số đặc điểm hình thái của các giống cẩm chướng trồng chậu 29

Bảng 4.2 Tỷ lệ sống và thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng của các giống cẩm chướng trồng chậu

Bảng 4.3 Khả năng bật mầm của các giống cẩm chướng trồng chậu

Bảng 4.4 Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các giống cẩm chướng trồng chậu

Bảng 4.5 Động thái tăng trưởng số lá của các giống cẩm chướng trồng chậu

Bảng 4.6 Các yếu tố cấu thành năng suất của các giống cẩm chướng trồng chậu

Bảng 4.7 Chất lượng hoa của các giống cẩm chướng trồng chậu

Bảng 4.8 Mức độ sâu, bệnh hại chính của các giống cẩm chướng trồng chậu

Bảng 4.9 Tỷ lệ sống và thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng của giống cẩm chướng Ideal Crimson trồng các loại giá thể khác nhau

Bảng 4.10 Ảnh hưởng của giá thể đến khả năng bật mầm của giống cẩm chướng Ideal Crimson

Bảng 4.11 Ảnh hưởng của giá thể trồng đến động thái tăng trưởng chiều cao cây của giống cẩm chướng Ideal Crimson

Bảng 4.12 Ảnh hưởng của giá thể trồng đến các yếu tố cấu thành năng suất và chất lượng của giống cẩm chướng Ideal Crimson

Bảng 4.13 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến khả năng bật mầm của giống cẩm chướng Ideal Crimson

Bảng 4.14 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến động thái tăng trưởng chiều cao của giống cẩm chướng Ideal Crimson

Bảng 4.15 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến động thái tăng trưởng chiều dài lá của giống cẩm chướng Ideal Crimson

Bảng 4.16 Ảnh hưởng của các loại phân bón qua lá đến các yếu tố cấu thành năng suất và chất lượng của giống hoa cẩm chướng trồng chậuIdeal Crimson

Bảng 4.17 Ảnh hưởng của phân bón qua gốc có tỷ lệ NPK khác nhau đến động thái tăng trưởng chiều cao cây của giống cẩm chướng Ideal Crimson

Bảng 4.18 Ảnh hưởng của phân bón qua gốc có tỷ lệ NPK khác nhau đến các yếu tố cấu thành năng suất và chất lượng của giống cẩm chướng Ideal Crimson

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 4.1 Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các giốngcẩm chướng trồng chậu Hình 4.2 Động thái tăng trưởng số lá trên cây của các giốngcẩm chướng trồng chậu Hình 4.3 Ảnh hưởng của giá thể trồng đến động thái tăng trưởng chiều cao cây

của giống cẩm chướng Ideal Crimson Hình 4.4 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến động thái tăng trưởng

chiều cao cây của giống cẩm chướng Ideal Crimson Hình 4.5 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến động thái tăng trưởng

chiều dài lá của giống cẩm chướng Ideal Crimson Hình 4.6 Ảnh hưởng của phân bón qua gốc có tỷ lệ NPK khác nhau đến động

thái tăng trưởng chiều cao cây của giống cẩm chướng Ideal Crimson

Trang 10

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Nguyễn Thị Thanh Thảo

Tên Luận văn: “Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống cẩm chướng

trồng chậu (Dianthus Chinensis L) và nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật tới giống Ideal Crimson tại gia lâm – Hà Nội”

- Xác định được một số biện pháp kỹ thuật thích hợp cho giống cẩm chướng chậu Ideal Crimson tại Gia Lâm – Hà Nội

Phương pháp nghiên cứu

* Thí nghiệm 1: Đánh giá khả năng sinh trưởng và phát triển của 5 giống hoa

cẩm chướng trồng chậu nhập nội và so sánh với giống đối chứng Đỏ cờ (giống đang trồng phổ biến trong sản xuất hiện nay) trong vụ thu đông 2015 Thí nghiệm gồm 6 công thức với 6 giống hoa cẩm chướng: Ideal Violet Picotee, Ideal Crimson, Telstar Mixed, Rainbow Pink, Pink và giống Đỏ cờ (Đ/C)

* Thí nghiệm 2:Ảnh hưởng của giá thể trồng đến khả năng sinh trưởng, phát

triển của giống Ideal Crimson; nghiên cứu trên 4 loại giá thể: Đất phù sa (đối chứng), 1/2 đất phù sa + 1/2 xơ dừa; 1/3 đất phù sa + 1/3 xơ dừa + 1/3 phân chuồng; 1/2 đất phù

sa + 1/2 phân chuồng

* Thí nghiệm 3:Ảnh hưởng của phân bón lá đến sinh trưởng, phát triển và khả

năng ra hoa, chất lượng hoa của giống Ideal Crimson; nghiên cứu trên 4 loại phân bón qua lá: Đầu Trâu 009; Plant soul 3; Seaweed 95%; Komix; đối chứng không phun

* Thí nghiệm 4:Ảnh hưởng của phân bón qua gốc có tỷ lệ NPK khác nhau đến

sinh trưởng, phát triển và chất lượng hoa của giống Ideal Crimson (dùng phân Đầu Trâu); nghiên cứu 3 loại phân: NPK 20-20-15; NPK 20-20-15 + Te; NPK 13-13-13 + Te; đối chứng (không bón phân)

Trang 11

Các thí nghiệm đều được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên đầy đủ (CRB) với 3 lần nhắc lại Các công thức đều được bố trí trồng trong chậu Mỗi chậu trồng 3 cây, kích thước chậu trồng là 14 x16cm Mỗi ô tương ứng với 1 công thức thí nghiệm/1 lần nhắc lại Kích thước mỗi ô thí nghiệm có chiều rộng là 1m, chiều dài 2m; mỗi ô thí nghiệm gồm 20 chậu Theo dõi 10 cây/công thức, định kỳ theo dõi 15 ngày/lần

Các thí nghiệm đều được bố trí trong điều kiện tự nhiên

Các thí nghiệm: Thí nghiệm 1, thí nghiệm 3 và thí nghiệm 4 trồng trên nền giá thể 1/3 đất phù sa + 1/3 phân chuồng + 1/3 xơ dừa

Thời vụ trồng: Tháng 10/2015

Yếu tố phi thí nghiệm: Các thí nghiệm được chăm sóc theo quy trình của Viện Nghiên cứu Rau quả năm 2015

Kết quả nghiên cứu chính và kết luận

Kết quả bước đầu đã xác định được 3 giống triển vọng gồm Ideal Crimson, Ideal violet Picotee, Rainbow Pink Đây là những giống có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt (tỷ lệ sống >87%, năng suất, chất lượng hoa cao (tỷ lệ cây đạt tiêu chuẩn xuất vườn

>84%, số cành hoa/câyđạt từ 4,53-5,00 cành), đặc biệt có độ bền hoa chậu cao từ 28-31 ngày, màu sắc hoa đẹp và mới lạ được thị trường chấp nhận (màu đỏ nhung, đỏ sẫm, hồng viền trắng)

Trồng cẩm chướng chậu trên giá thể được phối trộn 1/3 đất phù sa +1/3 xơ dừa + 1/3 phân chuồng cây sinh trưởng phát triển tốt tỷ lệ sống tăng 1,1%, năng suất và chất lượng hoa cao Trong quá trình sinh trưởng phát triển của cây bón phân qua gốc NPK 20-20-15 + Te và phun bổ sung phân bón qua lá Đầu trâu 009 hoặc Plant soul 3 có tác dụng thúc đẩy quá trình sinh trưởng phát triển của cây, tăng năng suất và chất lượng hoa Tỷ lệ cây đạt tiêu chuẩn xuất vườn đạt >90%, độ bền hoa chậu >32 ngày đặc biệt chậu hoa có bộ tán đẹp, cân đối

Từ khóa: Cẩm chướng trồng chậu, tuyển chọn giống, sinh trưởng, phát triển

Trang 12

THESIS ABSTRACT

Author: Nguyen Thi Thanh Thao

Title of the thesis: "Evaluation of growth and development of potential potted Dianthus

cultivars (Dianthus chinensis L.) and influence of technical measures on growth and

development of Ideal Crimson cultivar in Gia Lam, Hanoi

Sector: Crop Science Code: 60.62.01.10

Education organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)

* Experiment 1: Evaluation of growth and development of the 5 introduced

potted Dianthus cultivars, and comparing with the control variety Do Co (which is currently popular in practice) in the autumn and winter season in 2015 The experiment consisted of 6 treatments with 6 cultivars of Dianthus: Violet Picotee Ideal, Ideal Crimson, Telstar Mixed, Rainbow Pink, Pink and Do Co (Control) The experiment was arranged in randomized block design (RBD) with three replications Each cultivar/variety was considered a treatment; mornitoring and measurement was conducted on 10 plants/treatment/replication every 15 days

* Experiment 2: Effect of potting media on growth and development of

Crimson Ideal cultivar; 4 different media: Alluvial soil (control); 1/2 alluvium soil + 1/2 cocopeat; 1/3 alluvial soil + 1/3 cocopeat + 1/3 manure; 1/2 alluvial soil + 1/2 manure

* Experiment 3: Effect of foliar fertilizers on growth and development and

flower quality of the Ideal Crimson cultivar; 4 types of foliar fertilizers: Dau Trau 009; Plant soul 3; Seaweed 95%; Komix; the control treatment was applied no foliar spray

* Experiment 4: Effect of NPK fertilizers (Dau Trau fertilizers) at different

NPK proportions on growth, development and flower quality of the Ideal Crimson

Trang 13

cutivar; 4 treatments with different NPK proportions were NPK 15; NPK

20-20-15 + Te; NPK 13-13-13 + Te; and the control treatment (no fertilizer application)

The experiments were arranged in completely randomized block design (CRBD) with 3 replications The plants were planted in pots Each pot, sized 14 cm x16 cm, consisting of 3 plants Each plot was 1 m wide and 2 m long; containing 20 pots Mornitoring and measurement was conducted on 10 plants each treatment every 15 days

Potting medium in the experiment 1, 3 and 4 was a mixture of 1/3 alluvial soil + 1/3 manure+ 1/3 cocopeat;

Planting season: October 2015

Non-experimental factors: The cultivation protocol of the Fruit and Vegetable Research Institute (2015) was employed in the study

The main results and conclusions

The initial results suggest three potential cultivars of Crimson Ideal, Ideal Picotee Violet, Rainbow Pink Those were capable of growing and developing well (survival proportion > 87% (proportion for transplanting was 84%, number of shoots per plant ranged from 4.53 -5.00), and producing high-quality flowers with long longevity (28-31 days), and beautiful colors (red velvet, dark red, pink and white- bordered)

Studying technical measures on the Ideal Crimson cultivar indicated that: the potting mixture of 1/3 alluvium + 1/3 cocopeat + 1/3 manure produced the best growth and development, increasing the plant’s survival rate by 1.1% and high flower quality Application of the fertilizer of NPK (20-20-15) + Te with additional foliar spray of Plant Soul 3 or Buffalo 009 promoted the plants' growth and development, improving flower yield and quality Percentage of the plants satisfied requirements for marketing were over 90%, with longevity > 32 days, and particularly beautiful and well- proportioned canopy

Keywords: potted Dianthus, varietal selection, growth and development

Trang 14

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Trong những năm gần đây, hoa là mặt hàng nông sản đã làm thay đổi bộ mặt của nhiều vùng quê Việt Nam Nhiều hộ gia đình đã giàu lên, nhờ mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu từ các cây trồng khác sang trồng hoa Hoa không chỉ là vẻ đẹp của thiên nhiên, có giá trị về thẩm mỹ mà còn có giá trị kinh tế cao Hoa đã trở thành một sản phẩm đặc biệt, có vị trí quan trọng trong sản xuất nông nghiệp Ngành sản xuất hoa hiện nay tập trung theo 2 hướng chính là sản xuất hoa cắt cành và sản xuất hoa chậu Sản xuất hoa chậu đang có tiềm năng phát triển rất lớn, tuy nhiên ở Việt Nam đây vẫn còn là một ngành khá mới mẻ và chưa có sự quan tâm và đầu tư nhiều

Trong các chủng loại hoa chậu đang được sản xuất ở Việt Nam hiện nay

thì cẩm chướng (Dianthus Chinensis L.) đang là loại hoa rất được ưa chuộng do

có khả năng thích nghi cao nên có thể trồng được nhiều vụ trong năm Tuy nhiên, các giống cẩm chướng chậu đang sản xuất hiện nay vẫn còn hạn chế cả về chủng loại và màu sắc Cùng với đó, các biện pháp kỹ thuật sử dụng trong sản xuất hoa cẩm chướng chậu hiện nay đều dựa vào những kinh nghiệm là chủ yếu chưa có

sự quan tâm nghiên cứu dẫn đến năng suất và chất lượng không cao Để đáp ứng được nhu cầu của thị trường hiện nay thì đòi hỏi hoa cẩm chướng chậu phải có

bộ giống phong phú, đẹp và đa dạng hơn, các biện pháp kỹ thuật cũng cần phải được quan tâm nghiên cứu sâu hơn để nâng cao năng suất và chất lượng hoa Do vậy song song với công tác nhập nội giống để tuyển chọn ra các giống mới phục

vụ cho sản xuất cũng phải nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật phù hợp tạo điều kiện cho giống sinh trưởng phát triển tốt cho năng suất và chất lượng hoa cao

nhất Xuất phát từ những l ý do trên, chúng tôi tiến hành đề tài: “Đánh giá khả năng sinh trưởng phát triển của một số giống cẩm chướng trồng chậu (Dianthus Chinensis L.) và nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật tới giống Ideal Crimson tại Gia Lâm – Hà Nội”

1.2 MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI

1.2.1 Mục đích

Đề xuất được các giống cẩm chướng trồng chậu có triển vọng phục vụ tiêu dùng và trang trí cảnh quan, góp phần làm phong phú thêm bộ giống hoa cẩm chướng trồng chậu cho Hà Nội

Trang 15

Đề xuất được một số biện pháp kỹ thuật thích hợp cho giống cẩm chướng chậu Ideal Crimson tại Gia Lâm – Hà Nội

1.2.2 Yêu cầu

- Xác định một số đặc điểm hình thái của các giống hoa cẩm chướng trồng chậu

- Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của các giống hoa cẩm chướng trồng chậu

- Đánh giá khả năng chống chịu với sâu bệnh hại của các giống hoa cẩm chướng trồng chậu

- Đánh giá năng suất và chất lượng hoa của các giống hoa cẩm chướng trồng chậu

- Đánh giá ảnh hưởng của giá thể trồng đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng hoa của giống Ideal Crimson

- Đánh giá ảnh hưởng của phân bón lá tới khả năng sinh trưởng phát triển

và chất lượng hoa của giống cẩm chướngIdeal Crimson

- Đánh giá ảnh hưởng của tỷ lệ phân bón (qua gốc) đến sinh trưởng phát triển, năng suất và chất lượng hoa của giống Ideal Crimson

1.3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN

1.3.1 Ý nghĩa khoa học

- Kết quả nghiên cứu của đề tài đã cung cấp các dẫn liệu khoa học có giá trị về đặc điểm sinh trưởng, phát triển và năng suất, chất lượng của một số giống hoa cẩm chướng trồng chậu mới nhập nội tại Gia Lâm – Hà Nội

- Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở để xây dựng và hoàn thiện quy trình trồng và chăm sóc hoa cẩm chướng trồng chậu tại Hà Nội

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của đề tài đã giới thiệu được cho sản xuất giống hoa cẩm chướng Idial Crimson trồng chậu mới đáp ứng được nhu cầu thị trường và trang trí cảnh quan đồng thời đã xây dựng được một số biện pháp kỹ thuật trồng

và chăm sóc để nâng cao chất lượng hoa cho giống Ideal Crimson làm cơ sở để pháp triển rộng ngoài sản xuất

Trang 16

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÂY HOA CẨM CHƯỚNG

2.1.1 Phân loại, nguồn gốc và phân bố

Tên khoa học: Dianthus chinensis L

Tên Việt Nam: Cẩm chướng Gấm, cẩm

chướng lùn, cẩm chướng chậu, cẩm chướng

Tàu, Thạch trúc (Trung tâm dữ liệu thực vật

Việt Nam, 2016)

Tên Tiếng Anh: Annual Pink, China Pink,

Indian Pink (Lim T.K., 2013)

Mông Cổ), Ấn Độ, Nepal (US National plant germplasm system, 2016), Kazahkhstan và phía đông nam nước Nga (Lim T.K., 2013) Cây có khả năng thích nghi rộng, hiện nay được trồng rộng rãi ở các khu vực ôn đới và cận nhiệt đới (Lim T.K., 2013) Cây cẩm chướng gấm được du nhập vào Việt Nam từ đầu thế kỷ 20 và hiện nay được trồng nhiều ở một số địa phương như Sa Pa, Hà Nội, Hải Phòng, Đà Lạt, thành phố Hồ Chí Minh…

2.1.2 Giá trị sử dụng và giá trị kinh tế

Hoa cẩm chướng Gấm có ưu điểm cành nhỏ, màu sắc hoa đa dạng, bắt mắt, dễ vận chuyển nên được trồng chủ yếu được trồng trong chậu làm hoa cảnh

ở công viên và các nơi công cộng, hoặc làm hoa cắt cành (Missouri botanical garden, 2016)

Cây cẩm chướng Gấm cũng là một trong những cây dược liệu quan trọng được người Trung Quốc sử dụng trong suốt hơn 2000 năm Cây có chứa saponin

và tinh dầu (gồm có eugenol, phenylethyl alcohol, metyl salicylat) có tác dụng

Trang 17

lợi tiểu, và chữa các bệnh về đường ruột

Hoa cẩm chướng gấm có vị cay mát, còn có thể được sử dụng để chế biến món ăn như làm bánh, súp và trộn sa-lát (Lim T.K., 2013)

2.1.3 Đặc điểm thực vật học

- Rễ: Cây cẩm chướng có bộ rễ chùm phát triển mạnh, ăn sâu dưới đất từ

10-15cm Rễ chính cùng với rễ phụ tạo thành bộ rễ khoẻ mạnh để chống đổ và hút nước, các chất dinh dưỡng

- Thân: Cẩm chướng gấm là loại cây thân thảo hàng năm, cao trung bình

từ 30 tới 50 cm, thường mọc thành bụi nhỏ Thân cây mọc thẳng đứng, nhỏ và mảnh mai, có nhiều đốt ngắn và phân nhánh nhiều (Botacchi A.C., 1986)

- Lá: cây cẩm chướng có lá đơn, màu xanh lục hoặc xanh xám, mọc đối

diện với nhau từ các đốt thân Phiến lá dày, hình lưỡi mác, có kích thước khoảng 3-5 cm dài và 2-4 cm rộng; mép lá trơn, mặt lá nhẵn không có độ bóng (Flora of China, 2016) Trên mặt lá có phủ một lớp phấn trắng, mỏng và mịn, có tác dụng làm giảm sự thoát hơi nước

- Hoa: cẩm chướng lùn có dạng hoa đơn và hoa kép Hoa mọc ở đầu cành,

có kích thước 2.5-4 cm Đài hoa hình trụ, kích thước 1.5 2.5 cm × 0.4 5 mm Hoa có 4 lá bắc nhỏ, hình trứng; cuống hoa nhỏ, dài 1-3 cm Cánh hoa có đường kính 2,5-4cm, các cạnh có răng cưa, cánh hoa dính nhau Hoa cẩm chướng thường không có mùi (Botacchi A.C., 1986); có nhiều màu sắc từ trắng, hồng nhạt tới đỏ sẫm; ngay cả trên một bông hoa cẩm chướng cũng có thể có 2-3 màu khác nhau (Missouri botanical garden, 2016) Cây cẩm chướng gấm có thể trồng

và ra hoa quanh năm; tuy nhiên với khí hậu của miền Bắc Việt Nam, vụ đông là phù hợp hơn vụ hè

- Quả: Thuộc quả nang mở van ở đỉnh Quả hình trụ có một đầu nhọn,

trong quả có 5 ngăn hạt Mỗi quả thường có từ 100-200 hạt

- Hạt: Hạt cẩm chướng nhỏ và nằm bên trong quả Hạt thường có màu đen

hình trứng (Lim T.K., 2013)

2.1.4 Yêu cầu ngoại cảnh của cây hoa cẩm chướng

- Ánh sáng: Cẩm chướng Gấm là loại cây ưa nắng Ánh sáng thích hợp

trong giai đoạn cây nảy mầm từ 10000-20000 Lux Giai đoạn cây phát triển mạnh yêu cầu ánh sáng cao hơn khoảng 30.000 Lux (Pan American Seed, 2003) Trong quá trình phân hoá, nếu cường độ ánh sáng cao (>30.000 Lux) cây sẽ

Trang 18

ra hoa sớm, còn nếu cường độ ánh sáng thấp (<10.000 Lux) sẽ kéo dài thời gian sinh trưởng, cây ra nụ và nở hoa muộn (Botacchi A.C., 1986)

- Nhiệt độ: Cẩm chướng Gấm là loại cây trồng ưa thời tiết mát mẻ Nhiệt

độ thích hợp cho hạt nảy mầm và cho cây sinh trưởng là 18-25oC, tối ưu là 15 ~

20oC Cây sau ra ngôi yêu cầu nhiệt độ ban đêm khoảng 15oC và nhiệt độ ban ngày cao hơn khoảng 5-7oC (Botacchi A.C., 1986) Nhiệt độ ban đêm thấp (dưới

15oC) có thể làm chậm quá trình ra hoa ở một số giống hoa cẩm chướng lai

(Dansereau K.et al., 2007)

- Đất: Cây cẩm chướng ưa các loại đất thịt nhẹ, tơi xốp, có nhiều mùn,

giàu dinh dưỡng, đất thoát khí, giữ ẩm tốt, và có khả năng trao đổi ion cao Vì vậy giá thể trồng cẩm chướng phải đảm bảo độ tơi xốp, thông thoáng và có khả năng giữ ẩm và thoát nước tốt (Botacchi A.C., 1986)

- Độ ẩm đất và nước tưới: Cẩm chướng là cây trồng cạn, không chịu

được úng ngập, độ ẩm đất thích hợp là 40-70%, tối thích là 60-70% Vì vậy, cần tưới nước theo nhu cầu của cây, không tưới quá nhiều nước để tránh hiện tượng thối rễ (Botacchi A.C., 1986), biện pháp tưới nước phù hợp nhất là tưới nhỏ giọt

- Độ pH: độ pH từ 5,8-6,5 là thích hợp nhất với cây cẩm chướng Giá

thể trồng quá kiềm và quá chua đều ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng, phát triển của cây (Pan American Seed, 2003)

2.2 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT HOA CẨM CHƯỚNG VÀ HOA TRỒNG CHẬU

2.2.1 Tình hình sản xuất hoa cẩm chướng

2.2.1.1 Tình hình sản xuất hoa cẩm chướng trên thế giới

Hoa cẩm chướng là một trong những loại hoa được ưa chuộng nhất trên thế giới Các nước chuyên sản xuất hạt giống hoa cẩm chướng (Dianthus chinensis L.) trên thế giới gồm Pháp, Nhật, Mỹ (Kwong F.Y., 2005a)

Trung Quốc đứng đầu thế giới về diện tích canh tác hoa cẩm chướng với trên 5000 ha Trong giai đoạn 2005-2013, diện tích canh tác hoa củaTrung Quốc tăng mạnh (68%), riêng diện tích hoa cẩm chướng tăng 125%, từ 2362 ha năm

2005 tới 5312 ha vào năm 2013 (Gordon Hanks, 2015c)

Columbia đứng thế hai thế giới về diện tích canh tác cẩm chướng, khoảng hơn 1000 ha (Gordon Hanks, 2015d) Sản lượng hoa cẩm chướng Colombia xuất sang Thụy Điển trong giai đoạn 2005-2009 chiếm khoảng 65%

Trang 19

sản lượng hoa cẩm chướng được nhập vào nước này, và 98% hoa cẩm chướng được nhập từ nước phát triển vào Thụy Điển, đạt giá trị khoảng 1,7 triệu bảng Anh (The Swedish Chambers of Commerce, 2011) Tương tự, tại thị trường Vương quốc Anh, quốc gia Nam Mỹ Colombia thu được hơn 14 triệu bảng Anh

từ xuất khẩu cẩm chướng (Gorden Hanks, 2015a)

Cùng với Colombia, Hà Lan là nước đứng đầu về sản lượng hoa cẩm chướng xuất khẩu vào thị trường EU với hơn 88 triệu bảng Anh (Gordon Hanks, 2015b) Riêng ở thị trường Vương quốc Anh, Hà Lan (2013) thu về khoảng 35 triệu bảng Anh từ việc xuất khẩu hoa cẩm chướng sang thị trường Vương quốc Anh, trở thành nước đạt doanh thu lớn nhất về xuất khẩu hoa cũng như hoa cẩm chướng tại nước này (Gorden Hanks, 2015a)

Tây Ban Nha và Ý được biết đến là hai nước châu Âu sản xuất hoa cẩm chướng đẹp nhất châu Âu.Tại đây, hoa cẩm chướng là một trong những loại hoa truyền thống quan trọng nhất, cùng với hoa cúc và hoa hồng Mặc dù Tây Ban Nha, diện tích cẩm chướng có xu hướng giảm mạnh, từ 923 ha (2008) xuống còn

469 ha (2012); khiến sản lượng giảm một nửa, từ hơn 1324 triệu cành xuống còn

788 triệu cành (Gordon Hanks, 2015g), tuy nhiên Tây Ban Nha vẫn là một trong những nước thu được doanh thu lớn thông qua xuất khẩu hoa cẩm chướng Năm

2013, xuất khẩu cẩm chướng của Tây Ban Nha sang UK đạt khoảng 6 triệu £, trở thành nước thứ 4 có sản lượng xuất khẩu hoa cẩm chướng lớn nhất tại thị trường này (Gorden Hanks, 2015a) Tương tự, nước Ý với 722 ha hoa cẩm chướng (Gordon Hanks, 2015h) đã thu về khoảng 4,4 triệu bảng Anh thông qua xuất khẩu hoa này sang UK, xếp thứ 6 về sản lượng nhập khẩu tại Vương quốc Anh (Gordon Hanks, 2015k)

Nhật Bản cũng là một trong những nước có thế mạnh về canh tác các loại hoa truyền thống Cẩm chướng có diện tích canh tác lớn thứ 5 trong số các loại hoa được canh tác chính tại Nhật Bản Tuy nhiên, diện tích trồng cẩm chướng của Nhật Bản trong những năm gần đây có xu hướng giảm nhẹ, đạt khoảng 367

ha năm 2012, giảm hơn 14% so với năm 2006; sản lượng đạt 388 triệu cành (2008), giảm hơn 20% so với năm 2006 (Gordon Hanks, 2015d)

Tại Kenya, cẩm chướng là loại hoa quan trọng thứ 2 sau hoa hồng Trong những năm gần đây, diện tích cẩm chướng tại Kenya có xu hướng tăng Năm

2012, diện tích trồng hoa cẩm chướng tại nước này đạt 252 ha, tăng hơn 36% so với năm 2010 (Gordon Hanks, 2015e) Năm 2013, Kenya thu về khoảng 9 triệu

Trang 20

bảng Anh từ xuất khẩu hoa cẩm chướng sang thị trường UK, xếp thứ ba sau Hà Lan và Colombia (Gorden Hanks, 2015a)

Với điều kiện tự nhiên thuận lợi, một số nước Nam Mỹ cũng phát triển mạnh sản xuất hoa cẩm chướng, chủ yếu phục vụ cho xuất khẩu, như Mexico Nước này có khoảng 447 ha đất ruộng và khoảng 18 ha nhà kính trồng cẩm chướng trên cả nước (2012) So với năm 2006, diện tích canh tác trên ruộng đã giảm khoảng 20% và diện tích nhà kính tăng khoảng 80% (Gordon Hanks, 2015f)

2.2.1.2 Tình hình sản xuất hoa cẩm chướng ở Việt Nam

Ở Việt Nam, hoa cẩm chướng được trồng rộng rãi ở Hà Nội, Hải Phòng,

Đà Lạt, thành phố Hồ Chí Minh Các vùng chuyên hoa như An Hải (Hải Phòng), Tây Tựu- Từ Liêm, Phú Thượng- Tây Hồ (Hà Nội) trồng nhiều hoa cẩm chướng Trước đây, vào mùa hè, hoa cẩm chướng trên thị trường nước ta chủ yếu phải nhập từ Côn Minh (Trung Quốc) và Hà Lan, vài năm gần đây, để đáp ứng nhu cầu thị trường cẩm chướng đã được trồng ở Đà Lạt, Bắc Hà, Sa Pa và đang dần chiếm lĩnh thị trường trong nước Do nhu cầu thị trường ngày một tăng, các vùng sản xuất hoa cẩm chướng gần đây cũng hướng tới sản xuất hoa cẩm chướng chậu, phục vụ người tiêu dùng trên cả nước

Hiện nay, ở nước ta đã tiến hành trồng được 3 loài hoa thuộc chi Dianthus làm hoa cảnh là Dianthus barbatus L., D.sinensis L và D.caryophyllus L (Hiệp

hội hoa Đà Lạt, 2016) Trong thời gian gần đây, một số giống hoa cẩm chướng mới được du nhập vào nước ta có màu sắc đẹp, thích hợp với nhiều điều kiện trồng khác nhau, trong đó có nhiều giống cẩm chướng trồng chậu, như các giống Dianthus Amazon, Amazon Cherry và Neon Purple, giống Magic, Bouquet Purple, các giống thuộc series Ideal…

Đà Lạt được xem là trung tâm sản xuất hoa của cả nước với sản lượng và chủng loại hoa đa dạng, phong phú.Tổng diện tích trồng cẩm chướng tại Đà lạt đạt khoảng 50 ha, hàng năm cung cấp khoảng 100-120 triệu cành và chậu hoa cẩm chướng các loại cho thị trường Trong 6 tháng đầu năm 2013, xuất khẩu hoa cẩm chướng cả nước ước tính đạt khoảng 10 triệu đồng/1.000m2/tháng Năm 2015, với hơn 100 ha trồng hoa cúc, hồng, cẩm chướng, lily… công ty Dalat Hasfam, vốn 100% nước ngoài có trụ sở tại Đà Lạt, đã cung cấp ra thị trường 140 triệu cành hoa, 2 triệu chậu hoa các loại như hồng, cẩm chướng, cúc, đồng tiền…, đạt tỉ trọng 50% thị trường nội địa, 50% xuất khẩu, vươn lên trở thành đơn vị dẫn đầu của địa phương về xuất khẩu hoa tươi với 12 thị

Trang 21

trường thường xuyên trên thế giới như: Nhật, Đài Loan, Úc, Malaysia, Singapore… (Sơn Nghĩa, 2016)

Thị trường nhập khẩu hoa lớn nhất của Việt Nam là Nhật Bản, với kim ngạch đạt 6,2 triệu USD, tăng 50,6% so với cùng kỳ 2008 Kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này chiếm tới 84% tổng kim ngạch xuất khẩu hoa các loại Sản phẩm hoa xuất khẩu chủ yếu là hoa cúc, hoa cẩm chướng trồng chậu và cắt cành Trong đó sản lượng hoa cẩm chướng đứng thứ 2 sau hoa cúc, với đơn giá xuất khẩu trung bình 0,19 USD

2.2.2 Tình hình sản xuất hoa trồng chậu

2.2.2.1 Tình hình sản xuất hoa trồng chậu trên thế giới

Các nước sản xuất hoa và hoa cây cảnh trồng chậu chính trên thế giới

là khối Liên minh Châu Âu (EU), Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Colombia, Canada, Hàn Quốc, Brazil, Ecuador, Kenya Trong đó, EU chiếm tới hơn 44% giá trị sản xuất hoa toàn thế giới; sau đó là Trung Quốc (12,9%) và Mỹ

(11,8%)(Advisory group on Flowers and Ornamental Plants, 2012)

Năm 2011, EU đã xuất khẩu hơn 171 triệu tấn hoa trồng chậu, chiếm khoảng 28,7% tổng sản lượng hoa xuất khẩu từ EU, thu về khoảng 498 triệu bảng Anh; tăng 6,1% so với sản lượng năm 2010 và tăng khoảng 1,7 lần so với sản lượng năm 2001 Các thị trường xuất khẩu hoa chậu chính của EU gồm Thụy Sỹ, Nga, Na Uy, Mỹ Các chủng loại hoa xuất khẩu chính là tulip, hoa hồng, hoa lily, hoa lan, cúc, cẩm chướng, hướng dương… (Advisory group on Flowers and Ornamental Plants, 2012)

Trong khối EU, Hà Lan là nước có sản lượng hoa nói chung và hoa chậu xuất khẩu nói riêng lớn nhất Năm 2011, Hà Lan xuất hơn 81 triệu tấn hoa chậu sang các thị trường ngoài EU, thu về gần 300 triệu bảng Anh, tăng 8,1% so với năm 2010 và tăng 42% so với năm 2001 Bên cạnh đó, các nước Ý, Đức, Đan Mạch, Bỉ cũng là những nước xuất khẩu hoa chậu chính sang thị trường nước thứ

ba, với trên 40 triệu bảng Anh doanh thu năm 2011 Các chủng loại hoa chính gồm có tulip, hồng, lily, đồng tiền (Advisory group on Flowers and Ornamental Plants, 2012)

Tại Mỹ, sản xuất hoa trồng chậu là một trong những hướng sản xuất chính của ngành sản xuất hoa, xếp thứ 2 chỉ sau hoa cắt cành Theo thống kê của USDA, giá trị sản xuất hoa trồng chậu tại Mỹ năm 2013 vào khoảng 778 triệu USD (USDA-NASS, 2014a) Trong số 5 bang sản xuất hoa trồng chậu lớn nhất,

Trang 22

California và Florida là 2 bang đóng góp lớn nhất với giá trị lần lượt là 38% và 22% (tương đương với khoảng 297 và 168 triệu USD) trong số 15 bang được thống kê (USDA-NASS, 2014b) Các chủng loại hoa chậu chính gồm có hoa

đồng tiền, cẩm chướng, trạng nguyên Cây trạng nguyên (Euphorbia

pulcherrima) cho giá trị sản xuất lớn nhất, chiếm tới 146 triệu USD Cũng theo

thống kê của USDA, năm 2013 có khoảng 982 nhà sản xuất hoa chậu trên toàn nước Mỹ (Greenhouse management, 2014)

Tương tự Mỹ, bên cạnh hoa cắt cành, hoa trồng chậu cũng là một hướng sản xuất chính ở Canada Giá trị sản xuất hoa trồng chậu của Canada năm 2012

là hơn 653 triệu đô la Mỹ, đóng góp hơn 60% tổng giá trị sản xuất của ngành; trong đó, tỉnh Ontario chiếm tới một nửa giá trị sản xuất của cả nước với trên 327 triệu đô la Mỹ (Flowers Canada Growers, 2012) Theo Cục Thống kê Canada, nước này sản xuất hơn 215,8 triệu chậu hoa cảnh trong năm 2015, tăng khoảng

24 triệu chậu so với năm 2014 (Statistics Canada, 2016) Các chủng loại hoa chính được trồng chậu bao gồm: các loại cẩm chướng, hoa hồng mini, hoa trạng nguyên, hoa cúc và hoa lily Giá trị sản xuất của 5 loại cây này chiếm tới hơn 50% tổng giá trị sản xuất hoa, cây cảnh trồng chậu tai Canada (Flowers Canada Growers, 2012)

Với điều kiện tự nhiên thuận lợi, nước Nam Mỹ Costa Rica đã trở thành nước chính cung cấp hoa nói chung, và hoa trồng chậu nói riêng cho thị trường

EU Năm 2011, khoảng 27,7 triệu tấn hoa trồng chậu nhập khẩu vào EU có nguồn gốc từ Costa Rica, chiếm 33, 9% tổng sản lượng hoa trồng chậu nhập vào

EU Cũng theo thống kê của EU, khoảng 50% lượng hoa nhập khẩu từ Costa Rica vào thị trường Liên minh là hoa trồng chậu Các chủng loại hoa chính gồm

có hoa hồng, hoa đồng tiền, hoa hướng dương, hoa cẩm chướng

Năm 2011, Kenya thu về khoảng 35 triệu bảng Anh từ việc xuất khẩu hoa chậu sang EU, đứng đầu về doanh thu trong số các nước xuất khẩu hoa chậu sang

EU, và đứng thứ 2 trong số các nước xuất khẩu hoa sang EU (sau Kenya) (Advisory group on Flowers and Ornamental Plants, 2012)

Trung Quốc cũng là có ngành sản xuất hoa nói chung và hoa trồng chậu nói riêng khá phát triển Đây cũng là một trong những nước xuất khẩu hoa chậu chính của thị trường EU Các chủng loại hoa chính của Trung Quốc gồm hoa lan, hoa đồng tiền, hoa hồng, đỗ quyên, cẩm chướng Khoảng 70% tổng sản lượng hoa nhập khẩu từ nước này sang EU gồm 5 loại hoa chính: cẩm chướng, dạ yên

Trang 23

thảo, trang nguyên, ngọc thảo, tô liên Năm 2011, Trung Quốc xuất sang thị trường EU khoảng 16 triệu tấn hoa trồng chậu, chiếm 19,6% sản lượng hoa chậu nhập khẩu vào EU; đạt doanh thu khoảng 26,6 triệu bảng Anh từ việc xuất khẩu hoa và cây cảnh trồng chậu sang thị trường EU (Advisory group on Flowers and Ornamental Plants, 2012)

Một số nước khác ở Nam Mỹ, châu Phi và châu Á cũng phát triển sản xuất hoa chậu và chủ yếu hướng tới phục vụ thị trường EU Năm 2011, Guatamela xuất sang thị trường EU gần 6,4 triệu tấn hoa trồng chậu; Honduras xuất 4,8 triệu tấn; Sri Lanca xuất 2,6 triệu tấn; Thái Lan và Israel xuất hơn 2 triệu tấn (Advisory group on Flowers and Ornamental Plants, 2012)

2.2.2.2 Tình hình sản xuất hoa trồng chậu tại Việt Nam

Không đòi hỏi diện tích đất quá lớn, dễ chăm sóc và các đặc tính riêng như gọn, nhẹ, dễ vận chuyển và giá cả hợp lý, hoa trồng chậu đang trở nên ngày càng phổ biến tại Việt Nam Hoa trồng chậu có thể được sử dụng để trang trí trong nhà, tiểu cảnh, vườn hoa và phục vụ các công trình công cộng Các loại hoa trồng chậu chủ yếu là các loại hoa truyền thống như hoa cúc, cẩm chướng, đồng tiền, hồng Những năm gần đây, các loại hoa cao cấp trồng chậu như hoa lily, hoa cát tường, phăng xê, dạ yến thảo cũng đang ngày được ưa chuộng Tại nhiều địa phương, người nông dân đã thành lập các nhóm, tổ hợp tác phối hợp tổ chức sản xuất nhằm nâng cao chất lượng hoa và tìm kiếm thị trường tiêu thụ

Đặc biệt, tại Việt Nam, nhu cầu về hoa trong các dịp lễ tết có xu hướng tăng mạnh, góp phần thúc đẩy sản xuất hoa cây cảnh nói chung và hoa trồng chậu nói riêng Tại HTX hoa kiểng Hòa Long (Cần Thơ), mỗi năm một hộ có thể sản xuất khoảng 2000 chậu hoa cúc, thu lãi 5000 đồng/chậu Riêng trong dịp Tết năm

2014, HTX hoa kiểng Hòa Long với 8 thành viên và diện tích đất 1200 m2 đã sản xuất hơn 2.500 chậu hoa các loại (cúc, đồng tiền, cẩm chướng) và 2000 cây trồng dưới đất (Ngọc Hoa, 2014) Tương tự, với 19 thành viên, tổ hợp tác An Lạc (Quảng Trị) sản xuất khoảng 25.000 chậu hoa phục vụ Tết năm 2010, trong đó khoảng 18000 chậu cúc, 7000 ngàn các giống hoa khác gồm có đồng tiền, hồng, cẩm chướng (Lâm Thanh, 2016)

Với hiệu quả kinh tế cao, hoa trồng chậu đã được đưa vào quy hoạch phát triển nông nghiệp của nhiều địa phương Để nâng cao hiệu quả sản xuất hoa, UBND huyện Quảng Điền (Huế) đã quy hoạch xây dựng mô hình trồng hoa chậu với các chủng loại đồng tiền, cẩm chướng, tô liên, cúc, hồng môn với 6 hộ tham

Trang 24

gia, quy mô 1.200 chậu phục vụ Tết năm 2016 Qua thời gian trồng và chăm sóc sau khi trừ chi phí bình quân mỗi hộ lãi ròng từ 7-8 triệu đồng (Khuyến nông Quảng Điền, 2015) Với nhu cầu về hoa cao, người sản xuất hoa tại Hà Nội mỗi năm cũng cung cấp cho thị trường khoảng 0,8 – 1,0 triệu chậu hoa cảnh, trong đó gồm cả các loại hoa truyền thống (như hồng, cúc, đồng tiền, cẩm chướng) và hoa cao cấp (như lily, lan hồ điệp) Thành phố Hồ Chí Minh cũng là một thị trường

có nhu cầu về hoa lớn, do đó sản xuất hoa chậu ở đây cũng phát triển khá mạnh Năm 2015, thành phố Hồ Chí Minh sản xuất khoảng 6,7 triệu chậu hoa lan, 3,3 triệu chậu hoa mai, 28,6 triệu chậu hoa nền cẩm chướng, cúc, hồng môn (UBND

TP Hồ Chí Minh, 2016)

2.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ HOA CẨM CHƯỚNG VÀ HOA TRỒNG CHẬU

2.3.1 Tình hình nghiên cứu về chọn tạo giống hoa cẩm chướng

2.3.1.1 Nghiên cứu về chọn tạo giống cẩm chướng trên thế giới

Chi Dianthus (với hơn 300 loài) được Hiệp hội Quỹ gen Cây thân thảo

làm cảnh Mỹ (OPGC) xếp vào danh sách 30 chi thực vật hoa cây cảnh quan trọng nhất (OPGC, 2003), cần được ưu tiên nghiên cứu với các tiêu chí về tiềm năng thị trường, độ bền hoa cao, nhu cầu về bottleneck genes, có khả năng nghiên cứu, nguồn quỹ gen sẵn có, và có thể sử dụng cho các mục đích khác nhau (Tay D., 2005b)

Về chọn tạo giống cẩm chướng, hầu hết các chương trình đều đặt mục tiêu chọn tạo các giống mới lạ về kiểu dáng, màu sắc, hoa bền, đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng Bên cạnh đó, một số chương trình nghiên cứu cũng hướng tới chọn tạo các giống mới có khả năng thích nghi với nhiều điều kiện sinh thái, có khả năng chống chịu hoặc kháng sâu bệnh hại Nguồn vật liệu cho chọn giống có thể là giống địa phương, giống đã được thương mại hóa và cả các loài hoang dại trong

tự nhiên Phương pháp chọn tạo giống mới được áp dụng chủ yếu kết hợp lai truyền thống với công nghệ sinh học hiện đại như chuyển gen, nuôi cấy mô tế bào, đột biến invitro…

Được giới thiệu lần đầu tại thị trường Mỹ vào năm 1970, giống hoa China

Doll (D chinensis) đã trở thành một trong những giống hoa thuộc họ cẩm

chướng đầu tiên đáp ứng được các tiêu chí của hoa trồng chậu trang trí cảnh quan (Goldsberry K.L., 1979) Giống China Doll được công ty Steven Bailey Ltd chọn lọc và sản xuất (Royal Horticultural Society, 2005) bằng cách lai giữa hai

Trang 25

giống cẩm chướng gấm Doris và Bailey’s Daily Mail Giống hoa China Doll đã được giải thưởng All American Selections (AAS) của Mỹ năm 1970 Bên cạnh

China Doll, nhiều giống thuộc loài D chinensis cũng đã được thương mại hóa

chủ yếu để làm hoa trồng chậu, như các giống OP (open-pollinated) Persian Carpet, Pastel Breeder; các giống lai có sức sinh trưởng khỏe, màu sắc độc đáo như giống lai Snowfire - đạt giải thưởng AAS 1978, Magic Charm - đạt giải thưởng AAS 1974 (Colorado State University, 2010), Corona Cherry Magic – đạt giải thưởng AAS 2003 (Edmonton Horticultural Society, 2005)

Thành công của giống China Doll đã trở thành tiền đề cho nhiều nghiên cứu về hoa cẩm chướng trồng chậu sau đó Goldsberry (1979) đã tiến hành đánh giá 10 giống hoa thuộc họ Cẩm Chướng trong 6 năm tại Trường Đại học Colorado, Mỹ để tìm ra giống phù hợp để trồng chậu cho địa phương Tiêu chí đánh giá là giống có màu sắc đẹp, thích nghi với điều kiện trồng tại Colorado, hoa có độ đồng đều cao và ra đúng thời điểm nhu cầu thị trường cao Các giống được đánh giá thuộc Magic Charm Series, bao gồm White, Scarlet, Coral,

Crimson, Pink, Orchid Lace F1, Snowflake, Merry-go-round (Chinensis) và Color-spride (Sinensis) Kết quả cho thấy, hầu hết các giống có khả năng thích

nghi tốt với điều kiện môi trường địa phương Trong đó các giống được cho là có tiềm năng cao, đáp ứng với các tiêu chỉ của hoa trồng chậu là giống White, Crimson, Merry-go-round (Goldsberry K.L., 1979)

So với các cây trong họ và trong cùng chi, D chinensis là đối tượng phù

hợp nhất để áp dụng các kỹ thuật công nghệ sinh học (đột biến đa bội, chuyển gen…), và được sử dụng làm vật liệu di truyền cho công tác cải tạo giống (M Nakano, M Mii, 1993) Nghiên cứu cho thấy trong cùng điều kiện môi trường và

bằng biện pháp dung hợp tế bào trần, D.chinensis và các con lai của loài này thể

hiện khả năng tái tạo thân mới từ mô lá tốt hơn so với các loài trong cùng họ (M.Nakano, M.Mii, 1993)

Bênh cạnh đó, D.chinensis cũng được chứng minh là có khả năng kết hợp tốt với các loài khác trong chi Dianthus để tạo ra các con lai soma Trong các phép lai giữa các loài thuộc họ Dianthus, lai xa giữa D.chinensis và D.barbatus

là phương pháp lai phổ biến nhất do các tổ hợp con lai thu được mang tính trạng tốt của cả hai loài bố mẹ (Colorado State University, 2010) Theo thống kê của ACES (2007), hiện có khoảng 36 giống/ bộ giống (series) thương mại là con lai

của D.chinensis với các loài trong chi Dianthus Các giống này chủ yếu được

Trang 26

trồng trong nhà kính, và sử dụng làm hoa trồng chậu và hoa cắt (Dansereau K.et

al., 2007)

Phép lai giữa D.chinensis và D.barbatus lần đầu tiên được thực hiện

thành công bằng phương pháp lai vô tính soma (somatic hybridization) (M.Nakano, M.Mii, 1993) Nghiên cứu này đã khẳng định khả năng áp dụng

phương pháp lai vô tính soma nhằm cải tiến các giống trong chi Dianthus Các

giống lai trên có khả năng ra hoa kích thước lớn, phù hợp với nhiều thời vụ trồng, chống chịu nhiệt độ cao và sương giá tốt hơn các loài bố Phổ biến nhất trong số đó là các giống thuộc bộ Ideal Series với 18 màu sắc hoa khác nhau Giống Ideal Violet có lá màu xanh sáng được giải thưởng AAS năm 1992; hoa của giống Ideal Cherry Picotee có 2 màu với viền cánh màu hồng độc đáo (Colorado State University, 2010)

Với phương pháp đột biến, FAO thống kê trên thế giới có 18 giống hoa cẩm chướng thương mại Trong đó, Pháp có 4 giống, Đức 4 giống, Nhật 1 giống, Mỹ 1 giống, Netherlands 7 giống, Thái Lan 1 giống (Maluszynski, M

et al., 2000)

Công nghệ chuyển gen cũng được áp dụng rộng rãi trong chọn tạo giống cẩm chướng Một số giống hoa chuyển gen có màu sắc đặc biệt và được thị trường ưa chuộng, như các giống cẩm chướng xanh Moondust và Moonshadow Theo nghiên cứu của Yuko Fukui và cộng sự (2003), các giống này sản xuất ra

chất delphinidin do sự thể hiện của gen tổng hợp nên flavonoid delphinidin

3’,5’-hydroxylase(Yuko F et al., May 2003) Các giống này đã được công ty

Floringene (Úc) phát triển bằng phương pháp chuyển gen quy định tính trạng hoa

màu xanh (do tổng hợp được flavonoid delphinidin) chiết tách từ hoa dạ yến thảo (Petunia hybrida) (Holton T.A., 1996) Cũng bằng phương pháp chuyển gen,

công ty Florigene đã đưa ra thị trường nhiều giống hoa cẩm chướng xanh khác như Moonvista, Moonlite, Moonshade, Moonaqua (Francis, 2009)

Bên cạnh tiêu chí chọn lọc hình thái hoa mới, một số nghiên cứu trên thế giới cũng hướng tới chọn tạo các loại cẩm chướng trồng chậu có độ bền hoa lâu hơn Theo nghiên cứu của Kinouchi T., và các cộng sự (2006) của Trường Đại học Tokohu, Nhật Bản, hoa cẩm chướng trồng chậu thường có độ bền kém hơn

so với loại hoa cùng giống không trồng chậu Trong khi đó, các chất bảo quản để giữ hoa tươi lâu không thể dùng cho các loại hoa chậu Vì vậy, nhóm nghiên cứu

đã tiến hành chuyển gen slaACS (ACS: 1-aminocyclopropane-1-carboxylate

Trang 27

synthase) và slaACO (ACO: 1-aminocyclopropane-1-carboxylate synthaseoxidase) – là các gen được chứng minh có tác dụng ức chế sản xuất/hoạt

động của ethylene làm già hóa hoa - trên cây cẩm chướng Kết quả cho thấy các

dòng cẩm chướng được chuyển gen slaACO ít có sự chuyển hóa ACC

(1-aminocyclopropane-1-carboxylate) thành ethylene, minh chứng cho giảm biểu

hiện của (DC-ACO1) trên các cây được chuyển gen (Kinouchi T et al., 2006)

2.3.1.2 Nghiên cứu về chọn tạo giống cây cẩm chướng tại Việt Nam

Hướng chọn tạo giống cẩm chướng tại Việt Nam cũng không nằm ngoài

xu hướng nghiên cứu của thế giới Song song với tận dụng nguồn quỹ gen sẵn có, đẩy mạnh nghiên cứu, đánh giá và chọn lọc các giống cẩm chướng nhập nội tiềm năng cho thị trường trong nước, nhiều nhà khoa học đã dày công nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học để tạo ra giống hoa mới đặc sắc Nhìn chung, các nghiên cứu phần lớn tập trung vào hoa cẩm chướng cắt cành; các nghiên cứu về chọn tạo giống cẩm chướng trồng chậu còn khá hạn chế

Nguyễn Thị Lý Anh và cs (2014) đã nghiên cứu và tạo thành công dòng cẩm chướng gấm tứ bội (2n = 4x), đặt tên là D7 và D9, từ giống cẩm chướng tím viền trắng bằng xử lý colchicine invitro với nồng độ thích hợp Nghiên cứu cho thấy, khi xử lý colchicine invitro ở nồng độ 0,05 và 0,1% trong 48h tạo ra các dạng biến dị có chất lượng tốt nhất Các dạng đột biến D7

và D9 được xác định là hai dạng cẩm chướng đột biến đa bội mới có chất lượng tốt, có thể dùng làm nguyên liệu cho chọn tạo giống mới (Nguyễn Thị Lý Anh và cs., 2014)

Cùng chương trình nghiên cứu, Nguyễn Thị Lý Anh và cộng sự đã tạo được 02 giống cẩm chướng đột biến là Hồng Ngọc và Hồng Hạc từ giống gốc nhập nội của Hà Lan Các giống mới có màu sắc hoa khác biệt hoàn toàn so với giống gốc, chịụ được nhiệt độ 25-30oC (sinh trưởng, phát triển, cho hoa trong tháng 4-5 tại vùng đồng bằng Bắc bộ) và có giá trị kinh tế cao hơn giống gốc 12-15% Hai giống này đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công nhận

là giống sản xuất thử năm 2011 Đây là những giống cẩm chướng đầu tiên có bản quyền của Việt Nam được tạo ra bằng công nghệ xử lý đột biến invitro (Nguyễn Thị Lý Anh và cs., 2011)

Từ đề tài nghiên cứu về phát triển hoa cắt cành cho tỉnh Lâm Đồng, Trung tâm nghiên cứu khoai tây, rau và hoa Đà Lạt đã nghiên cứu và chọn lọc được 44 dòng cẩm chướng Trong đó, các giống DO6.1, DO6.9 và DO6.10 rất có triển

Trang 28

vọng đưa vào sản xuất đại trà do thích ứng với điều kiện sản xuất của Đà Lạt và vùng phụ cận (Da Lat Hightech B&A, 2012) Các giống D06.9, D06.10 đã được khảo nghiệm thể hiện sức sinh trưởng và phát triển, năng suất cao và ổn định (Phạm Xuân Tùng và cs, 2011) Các giống hoa cho cành cứng, khỏe, và có khả

năng kháng bệnh rỉ sắt do Uromyces dianthi và bệnh héo rũ do Fusarium

oxysporum f sp Dianthi tốt, và được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

công nhận năm 2011 (Bùi Chí Bửu và cs, 2015) Trước đó, Trung tâm cũng đã nghiên cứu và phát triển thành công các giống cẩm chướng Ever Green và Niva,

và đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công nhận đưa vào sản xuất đại trà Các giống này đều cho hoa có màu sắc đẹp (xanh bơ và trắng thuần), kích

thước hoa lớn, và đều có khả năng kháng bệnh rỉ sắt do Uromyces dianthi và bệnh héo rũ do Fusarium oxysporum f sp Dianthi (Nguyễn Thế Nhuận, 2011)

* Nhận xét chung: Trong sản xuất hoa cẩm chướng thương mại, để nâng cao sản lượng, chất lượng đáp ứng nhu cầu thị hiếu của thị trường trong nước và xuất khẩu thì chọn tạo ra các giống có khả năng sinh trưởng tốt, chất lượng hoa đẹp và phong phú về chủng loại đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao giá trị và hiệu quả cho sản xuất Ở nước ta, bên cạnh một số giống đã được chọn tạo thì nhập nội giống từ nước ngoài có ý nghĩa lớn góp phần làm phong phú nguồn giống hoa có chất lượng phục vụ sản xuất Tuy nhiên, trước khi được giới thiệu cho sản xuất, đánh giá về khả năng thích ứng của các giống mới trong từng điều kiện sinh thái cụ thể là hết sức cần thiết

2.3.2 Tình hình nghiên cứu về biện pháp kỹ thuật cho hoa trồng chậu

2.3.2.1 Nghiên cứu về biện pháp kỹ thuật cho hoa trồng chậu trên thế giới

* Nghiên cứu về giá thể cho hoa trồng chậu

Đối với hoa cảnh nói chung và hoa chậu nói riêng, giá thể là yếu tố quan trọng, ảnh hưởng tới sự sinh trưởng, phát triển của cây, hệ rễ cũng như tình trạng dinh dưỡng của cây Giá thể tốt ngoài yêu cầu sạch sâu bệnh, cần phải có hàm lượng chất dinh dưỡng cao, giữ nước tốt, có độ pH, kích thước các lỗ rỗng, khối lượng theo thể tích, EC và tỉ lệ C/N thích hợp Các loại vật liệu thường được sử dụng làm giá thể trồng hoa chậu bao gồm than bùn, mùn cưa, vỏ cây (vỏ cà phê,

bã mía…), dớn, xơ dừa, trấu hun, và một số giá thể trơ cứng (cát, sỏi, perlite, vermiculite) Trên thực tế, các giá thể để trồng hoa nói chung và hoa chậu nói riêng có thể là một loại vật liệu duy nhất hoặc bao gồm nhiều loại giá thể được phối trộn với nhau theo tỉ lệ thích hợp Đối với cây cẩm chướng, giá thể trồng

Trang 29

phải thoáng khí, có khả năng thoát nước tốt Vì vậy, giá thể thường được phối trộn thêm các vật liệu trơ cứng như đá perlite hoặc cát để tăng độ thông thoáng

Trong nghiên cứu hoa cẩm chướng trồng chậu của Klock K.A (1997), các chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển (khối lượng chất khô, chiều cao, đường kính hoa…) cao nhất trên nền giá thể gồm 60% phân compost +25% vermiculite+15% perlite Ngoài ra, các chỉ tiêu có xu hướng tăng khi hàm lượng phân compost tăng từ 0-60%, và giảm khi giá thể là 100% phân compost Tuy nhiên, khả năng sinh trưởng của cây cẩm chướng trồng trên giá thể 100% phân compost tốt hơn cây trên giá thể không có phân compost Lý giải cho điều này, các nhà nghiên cứu đã phân tích hàm lượng các chất dinh dưỡng và muối khoáng trong các giá thể Kết quả cho thấy hàm lượng N, P, K, Ca, Mg, và nồng độ muối hòa tan tăng tuyến tính khi hàm lượng compost tăng từ 0% đến 100%; nồng độ muối trong giá thể 100% phân compost cao hơn 28 lần so với giá thể không có phân compost, và cao hơn 2 lần so với giá thể có 30-60% phân compost (Klock, K A., 1997) Nghiên cứu của Klock K.A (1997) cũng chỉ ra rằng giá thể chứa phân compost có nguồn gốc hữu cơ sinh học (biosolids) + thân cây khô (yard trimmings) cho hoa có kích thước lớn hơn cây trồng trên giá thể thân cây khô + than (peat), đá perlite và vermiculite (Klock, K A., 1997) Sự khác biệt về các chỉ tiêu sinh trưởng của cây thể hiện khả năng giữ nước và dinh dưỡng của các giá thể khác nhau Giá thể có phân ủ từ chất hữu cơ sinh học (biosolids + yard trimmings) có cấu tạo từ các hạt nhỏ hơn các hạt của giá thể là thân cây khô và vật liệu khoáng (peat, perlite, vermiculite + yard trimmings), do đó có khả năng giữ nước tốt hơn, tạo ra sự khác biệt về khối lượng chất khô và kích thước thân cây Thêm vào đó, giá thể có phân ủ từ chất hữu cơ sinh học rất giàu N, đảm bảo cung cấp đủ cho nhu cầu dinh dưỡng của cây; trong khi giá thể từ thân cây khô

và vật liệu khoáng lại có hàm lượng C khá cao, gây ảnh hưởng tới hàm lượng N cung cấp cho cây (Klock, K A., 1997)

Nghiên cứu của Klock (1999) đánh giá khả năng sinh trưởng phát triển

của cây thu hải đường trồng chậu (Begonia x semperflorenscultorum Hort.) và cây mai địa thảo trồng chậu (Impatiens wallerana) trên các giá thể chứa phân

compost có nguồn gốc là chất hữu cơ sinh học và các vật liệu khoáng sử dụng trong nhà kính cũng cho kết quả tương tự như thí nghiệm với cây cẩm chướng (Klock, 1999)

Trang 30

Theo Shahina Yasmeen (2012), các vật chất có EC, hàm lượng chất dinh dưỡng, và chất hữu cơ thích hợp có thể được phối trộn với các vật liệu hữu cơ ở các tỉ lệ khác nhau để tạo thành giá thể phù hợp với cây cẩm chướng trồng chậu Kết quả của nghiên cứu cho thấy, giá thể phân chuồng hoai mục cho cây có các chỉ tiêu về sinh trưởng đạt giá trị nhỏ nhất do nồng độ pH và EC cao, hạn chế sự phát triển của cây Giá thể là hỗn hợp lá cây hoai mục + cát (phối trộn ở tỷ lệ 1:1) cho các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển tốt nhất Các giá thể đất bùn phù sa và đất vườn (đối chứng) cũng cho các cây có sinh trưởng phát triển tốt hơn giá thể phân

chuồng (Shahina Yasmeen et al., 2012)

Nghiên cứu của Terra S.B., (2011) về ảnh hưởng của các loại giá thể tới

sinh trưởng phát triển của hoa cúc trồng chậu (Dendranthema grandiflora) cho

thấy giá thể là trấu hun và các giá thể phối trộn với trấu hun đều có thể được sử dụng cho cây trồng chậu Giá thể 100% trấu hun cho hoa có kích thước to hơn 6% so với hoa trồng trên giá thể thương mại được sử dụng phổ biến ở Brazil

Theo F Larcher và cộng sự (2011), vỏ thông cũng có thể được sử dụng để

thay thế một phần cho dớn (Sphagnum peat) để làm giá thể cho hoa trồng chậu

Trong thí nghiệm với các giá thể được phối trộn từ nhiều thành phần ở các tỉ lệ khác nhau, cây hoa trà trồng chậu cho các chỉ tiêu sinh trưởng (chiều cao cây, khối lượng khô của cành và lá, SPAD) tốt nhất với tỉ lệ sống cao (> 97%) khi được trồng trên các giá thể đối chứng S (89% dớn + 11% agriperlite), giá thể SP (70% giá thể S + 30% pumice), và giá thể SPB (70% giá thể S + 3-% vỏ thông)

(Larcher F et al., 2011)

* Nghiên cứu về phân bón

El-Naggar (2009) đã tiến hành đánh giá ảnh hưởng của nồng độ phân bón

lá tới sinh trưởng và phát triển của cây cẩm chướng (Dianthus caryophyllus L.)

Loại phân được sử dụng là Sangral, có chứa các chất đa lượng (20% N, 20% P, 20% K và 0,12% Mg) và các chất vi lượng (70 ppm Fe, 14 ppm Zn, 16 ppm Cu,

42 ppm Mn, 72 pp, B và 24 ppm Mo) Kết quả cho thấy sử dụng phân bón lá tăng đáng kể giá trị các chỉ tiêu sinh trưởng (chiều cao và đường kính thân, khối lượng tươi và khối lượng khô của thân, số là và khối lượng tươi/khô của lá) và các chỉ tiêu về đặc tính hoa (thời gian ra hoa, số hoa/cây, đường kính hoa, khối lượng hoa) so với công thức đối chứng không sử dụng phân bón lá ( El-Naggar A.H., 2009) Trong đó, công thức tưới phân bón lá với nồng độ 0.6% cho các chỉ tiêu

Trang 31

vượt trội hơn so với các công thức tưới nồng độ 0,2 %, 0,4 %; mặt khác tưới phân ở nồng độ cao (0,8% và 1,0%) làm giảm khả năng sinh trưởng của cây Sự vượt trội về sinh trưởng, phát triển trong công thức có nồng độ phân bón lá 0,6%

có thể được giải thích do hàm lượng các chất dinh dưỡng là phù hợp và cân đối với cây cẩm chướng, tạo điều kiện tổng hợp các hợp chất hữu cơ chứa N, carbonhydrate, proteins và các chất sinh trưởng cần thiết cho quá trình phân chia

và phân hóa tế bào, thúc đẩy sinh trưởng, phát triển của cây Nghiên cứu cũng cho thấy mối tương quan thuận giữa nồng độ phân bón lá và hàm lượng các chất trong lá Hàm lượng N, Ca, P, Zinc và Fe có xu hướng tăng khi nồng độ phân bón lá tăng, và đạt cao nhất ở nồng độ 1,0% Điều này có thể được giải thích do

bề mặt lá có khả năng hấp thụ nhanh các chất dinh dưỡng trong phân bón

Trong một nghiên cứu khác cũng trên cây cẩm chướng, El-Naggar A.H đánh giá ảnh hưởng của bón P qua lá kết hợp với chất điều hòa sinh trưởng GA3

và rút ra kết luận bón P riêng và bón P kết hợp GA3 qua lá có tác dụng kích thích cây sinh trưởng, phát triển và nâng cao chất lượng hoa (El-Naggar A.H et al., 2009) Kết quả tốt nhất (chiều cao và đường kính thân, tổng khối lượng tươi/khô của cây và lá, số lá/cành, thời gian ra hoa, số hoa/cây và đường kính hoa) thu được ở công thức bón kết hợp 50 ppm GA3 và 100 ppm P2O5 Bên cạnh đó, các chỉ tiêu về tổng số các hạt sắc tố (chlorophyll, carotenoids), hàm lượng carbonhydrates và phốt pho trong lá cũng tăng đáng kể so với công thức đối chứng không phun Kết quả thu được có thể được giải thích do phối hợp phân bón P và chất kích thích sinh trưởng ở nồng độ thích hợp đã kích thích các phản ứng enzymes, đẩy mạnh trao đổi chất và phân chia tế bào, tăng cường tổng hợp các hợp chất hữu cơ và carbonhyrates trong cây

Dunn B.L (2015) nghiên cứu về chế độ phân bón thích hợp cho các giống cẩm chướng TelstarWhite và Telstar Red, với các công thức bón 0, 10 và

20 g phân NPK (16-3,9-10) Kết quả cho thấy sử dụng phân bón được bón thúc hoặc trộn lẫn với giá thể đều làm tăng đáng kể tỉ lệ sống và khả năng sinh trưởng của cây

Theo nhóm nghiên cứu của Mona H Mahgoub, phân bón lá có chứa dẫn xuất của Khellinone (1-(5-hydroxy-4,7-dimethoxy-1-benzofuran-6-yl)-3-(4 methoxyphenyl)-propan-1-one) ở nồng độ 150ppm tăng đáng kể số lượng cành, khối lượng tươi và khối lượng khô của thân cây, cũng như số hoa trên cây cẩm chướng gấm Nghiên cứu cho thấy số lượng các carotennoit chlorophyll a,

Trang 32

chlorophyll b và hàm lượng carbonhydrates tăng cao nhất ở công thức này (Mona

Mahgoub H., et al., 2015) Tăng về số lượng cành trên cây có thể được giải thích

bởi hàm lượng cytokinins cao khi sử dụng chất ức chế sinh trưởng, dẫn tới hàm lượng gibberellins thấp cản trở biểu hiện của ưu thế ngọn Bên cạnh đó, số lượng các hạt diệp lục và carotenoids trong lá tăng góp phần thúc đẩy hiệu quả của quá trình quang hợp, quá trình đồng hóa carbon, từ đó làm tăng hàm lượng carbonhydrates của cây Các kết quả của nghiên cứu phù hợp với công trình của

(El-Naggar A.H., 2009 và (El-Naggar A.H et al., 2009) trên cây cẩm chướng

2.3.2.2 Nghiên cứu về biện pháp kỹ thuật cho hoa trồng chậu ở Việt Nam

* Nghiên cứu về giá thể cho hoa trồng chậu

Nghiên cứu về hoa trồng chậu, Phạm Thị Minh Phượng và cộng sự đã xác

định được giá thể phối trộn phù hợp với cây tô liên (Torenia fournieri L.) là (50%

đất:30% trấu hun:20% phân chuồng), tốt hơn giá thể TN1 (giá thể trồng hoa cảnh của Viện Thổ nhưỡng Nông hóa) được bán sẵn trên thị trường Kết quả sinh trưởng, phát triển tốt của cây hoa tô liên (chiều cao cây, số lá/cây, tổng số nụ hữu hiệu/cây và đường kính tán) trên giá thể được nghiên cứu là do các tỉ lệ phối trộn phù hợp của các thành phần trong giá thể, tạo điều kiện tốt cho cây phát triển bộ rễ

và hấp thụ dinh dưỡng từ giá thể Các công thức giá thể còn lại trong thí nghiệm có thành phần trấu hun lớn (40% và 50%), làm giảm khả năng giữ nước và chất dinh dưỡng của giá thể, ảnh hưởng đến lượng dinh dưỡng cây hấp thụ, làm giảm chất lượng của cây Công thức đối chứng (100% đất phù sa) cho các chỉ tiêu sinh trưởng phát triển có giá trị nhỏ nhất do đất bị vón cục, chai cứng sau một thời gian chăm sóc (bón nước, tưới phân…), làm bộ rễ không phát triển được, do vậy cây sinh trưởng, phát triển kém và ít hoa (Phạm Thị Minh Phượng và cs., 2010)

Cũng với thành phần là đất + trấu hun + phân chuồng hoai mục (1:1:1), cây hoa chuông trồng chậu cho các chỉ tiêu về số lượng lá, nụ, hoa trên cây, đặc điểm và độ bền hoa vượt trội hơn cây trồng trên các giá thể đối chứng đất phù sa+ phân chuồng hoai mục (3:1) và giá thể đất phù sa + phân chuồng + vỏ lạc (1:1:1) (Lã Thi Thu Hằng và cs., 2012)

Nghiên cứu trên cây hồng môn chậu, Bùi Thị Hồng và cộng sự (2011) đã xác định được các giá thể có thành phần là đất+phân chuồng+xơ dừa, với tỷ lệ phối trộn

xơ dừa cao (1/2) cho các chỉ tiêu tốt hơn các giá thể khác trong thí nghiệm Giá thể

½ xơ dừa+1/4 phân chuồng+1/4 trấu hun là phù hợp nhất, cho cây sinh trưởng phát triển khỏe, chất lượng hoa chậu đạt tốt nhất (Bùi Thị Hồng và cs., 2010)

Trang 33

* Nghiên cứu về phân bón

Nghiên cứu trên cây hoa tô liên cho thấy hàm lượng NPK trong phân bón

và sự sinh trưởng của cây trồng có mối tương quan thuận với nhau (Phạm Thị Minh Phượng và cs., 2010) Việc tưới phân đã có tác dụng tốt tới sự sinh trưởng, phát triển của cây, làm tăng chiều cao cây, số lá trên cây, đường kính thân, số nụ hữu hiệu và đường kính tán Tuy nhiên, hàm lượng N, P, K trong phân bón cũng đòi hỏi phải được phối trộn ở tỉ lệ phù hợp.Với công thức có hàm lượng N, K cao

và P thấp, sinh trưởng và phát triển của cây bị ảnh hưởng Công thức cho kết quả tốt nhất được bón với phân Bình Điền NPK (20:20:20 +Te)

Một nghiên cứu khác cho thấy công thức có hàm lượng phân lân cao, phù hợp với tỉ lệ N, K sẽ cho cây hoa hồng môn sinh trưởng và phát triển khỏe Trong

số các công thức thí nghiệm có tỉ lệ NPK khác nhau (CT1 Đ/C: không bón; CT2: 22-20-15; CT3: 20-20-15+Te; CT4: 20-10-15+Te), công thức có tỉ lệ phân lân cao 20-20-15+Te là tốt nhất cho cây hồng môn chậu, cho hoa chất lượng tốt (Bùi Thị Hồng và cs., 2010)

Tương tự phân bón qua rễ, phân bón lá còn cung cấp thêm cho cây trồng các loại vi lượng ở dạng dễ hấp thụ và một số chất điều tiết sinh trưởng có tác dụng tới cây trồng theo mong muốn của người sử dụng Nghiên cứu ảnh hưởng 4

loại phân bón lá trên cây hoa cẩm chướng (Dianthus interspecific L.) để tìm ra

loại phân bón lá thích hợp nhất cho thấy thời gian sinh trưởng, phát triển của cây chịu tác động của các loại phân bón lá Công thức sử dụng các loại phân bón lá HVP (20-20-20) cho cây có thời gian sinh trưởng ngắn nhất (44 ngày) và giá trị các chỉ tiêu sinh trưởng (chiều cao cây, số lá/cây) lớn nhất Đồng thời, các công thức bón phân Đai Trâu 009 và HVP cho số nụ và hoa, kích thước hoa, cũng như

độ bền hoa cao nhất Công thức đối chứng (không sử dụng phân bón lá) cho các chỉ tiêu có giá trị thấp nhất (Nguyễn Thị Xuân Ngọc, 2011)

Nghiên cứu trên cây tô liên trồng chậu cũng cho thấy các công thức có

sử dụng phân bón qua lá đều cho sự sinh trưởng, phát triển vượt trội hơn công thức đối chứng (không bón) Trong đó, công thức CT3 sử dụng phân Komix BEC 201 (N = 2,6%, P2O5 = 7,5%, K2O = 2,2%, liều lượng 30 ml/8 l nước) cho chiều cao cây, số nụ hữu hiệu và đường kính tán cao nhất (Phạm Thị Minh Phượng và cs., 2010)

* Từ các kết quả nghiên cứu trên cho thấy sản xuất hoa cẩm chướng cắt cành và trồng chậu đều được các nước trên thế giới quan tâm nghiên cứu và đã

Trang 34

mang lại lợi ích kinh tế Tuy nhiên, ở Việt Nam trong những năm qua, kết quả nghiên cứu trên cây hoa cẩm chướng cắt cành nói chung và hoa cẩm chướng trồng chậu nói riêng còn hạn chế, trong khi nhu cầu tiêu dùng và phục vụ trang trí cảnh quan ngày càng lớn, yêu cầu phải có những giống mới đáp ứng được thị trường, đồng thời đòi hỏi các biện pháp kỹ thuật phù hợp để nâng cao năng suất chất lượng giống Chính vì vậy,, các nội dung nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần

bổ sung vào bộ giống cẩm chướng trồng chậu và đưa ra được các biện pháp kỹ thuật phù hợp, hiệu quả cho sản xuất

Trang 35

PHẦN 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

Địa điểm: Thí nghiệm được bố trí trong khu thí nghiệm của Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Hoa, Cây cảnh - Viện Nghiên cứu Rau quả - Gia Lâm -

Hà Nội

3.2 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

Thời gian: từ tháng 10/2015 - tháng 3/2016

3.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU

3.3.1 Đối tượng nghiên cứu:

- Đề tài tiến hành trên 6 giống hoa cẩm chướng trồng chậu nhập nội từ Trung Quốc: Ideal Violet Picotee, Ideal Crimson, Telstar Mixed, Pink, Rainbow Pink,

Đỏ cờ (ĐC)

- Cây giống cẩm chướng là cây giâm cành Cây đạt tiêu chuẩn xuất vườn có chiều cao cây từ 4-6cm, số lá trên cây đạt từ 4-6 lá, số rễ ≥5 rễ

Bảng 3.1 Một số đặc điểm của các giống hoa cẩm chướng

trồng chậu nghiên cứu

Đặc điểm

Giống

Chiều cao cây Hình dạng, màu sắc hoa Đường kính

hoa Ideal violet

Hoa đơn theo chùm, màu đỏ sẫm, cánh hoa có răng cưa nhọn 3,2-3,5cm

Ideal Crimson

20-25cm Hoa đơn theo chùm, màu đỏ nhung,

cánh hoa có răng cưa nhọn 3,2-3,5cm

Telstar Mixed

18-23cm Hoa đơn theo chùm, mùa đỏ viền

trắng, cánh hoa có răng cưa nhọn 3,1-3,3cm

Rainbow Pink

20-25cm Hoa đơn theo chùm, màu hồng viền

trắng, cánh hoa có răng cưa tròn 3,2-3,5cm

Pink

18-23cm Hoa đơn theo chùm, màu hồng nhạt,

cánh hoa có răng cưa nhọn 2,8-3,1cm

Đỏ cờ

Hoa đơn theo chùm, màu đỏ cờ, cánh hoa có rằn cưa nhọn 3,1-3,4cm

Trang 36

3.3.2 Vật liệu nghiên cứu

+ Đầu trâu 009 do công ty phân bón Bình Điền cung cấp thành phần gồm: 20% N + 20% P2O5 + 20% K2O +S + Mg + Ca + Zn + Fe + Cu + Mn + B + Mo + gibberellin, αNAA

+ Komix: do công ty cổ phần Thiên Sinh cung cấp, thành phần dinh dưỡng theo thể tích như sau: N: 2,6%; K2O: 2,2%; P2O5: 7,5%, Zn, B, Mg, Mn, Cu…

Phân bón gốc

+ NPK Đầu Trâu (20-20-15+Te) do công ty phân bón Bình Điền cung cấp, thành phần gồm: Nitơ (N): 20%; Phospho (P2O5hh): 20%; Kali (K2O): 15%; Canxi (CaO): 0.25%; Magiê (MgO): 0.35%; Lưu huỳnh (S): 0.5%; Fe: 10ppm; Cu: 5ppm; Zn: 5ppm; B: 10ppm

+ Đầu Trâu (13-13-13+Te) do công ty phân bón Bình Điền cung cấp, thành phần gồm: Nitơ (N): 13%;Phospho (P2O5hh): 13%; Kali (K2O): 13%; Canxi (CaO): 1%; Magiê (MgO): 0,6%; Lưu huỳnh (S): 6%; Sắt (Fe): 90ppm; Kẽm (Zn):15ppm; Đồng (Cu): 10ppm; Bo (B): 90ppm

+ NPK Đầu Trâu (20-20-15) do công ty phân bón Bình Điền cung cấp, thành phần gồm: Nitơ (N): 20%; Phospho (P2O5 hh): 20%; Kali (K2O): 15%

Giá thể

Đất phù sa, xơ dừa, phân chuồng

3.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Đánh giá khả năng sinh trưởng và phát triển của 6 giống cẩm chướng trồng chậu trong vụ thu đông năm 2015 tại Gia Lâm – Hà Nội

- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến sinh trưởng

Trang 37

phát triển, năng suất và chất lượng hoa của giống cẩm chướng chậu Ideal Crimson tại Gia Lâm – Hà Nội

3.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.5.1 Thiết kế thí nghiệm

* Thí nghiệm 1: Đánh giá khả năng sinh trưởng và phát triển của 6 giống cẩm

chướng trong vụ thu đông năm 2015 tại Gia Lâm – Hà Nội

Thí nghiệm gồm 6 công thức tương ứng với 6 giống thí nghiệm:

G1: Ideal violet Picotee G4: Rainbow Pink

G2: Ideal Crimson G5: Pink

G3: Telstar Mixed G6: Đỏ cờ (Đối chứng)

*Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể trồng đến sinh trưởng, phát

triển của giống Ideal Crimson

Thí nghiệm được bố trí trên 4 công thức:

+ Công thức 1: Đất phù sa (Đối chứng)

+ Công thức 2: 1/2 Đất phù sa + 1/2 xơ dừa

+ Công thức 3: 1/3 Đất phù sa + 1/3 xơ dừa + 1/3 phân chuồng

+ Công thức 4: 1/2 Đất phù sa + 1/2 phân chuồng

* Thí nghiệm 3: Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón lá đến sinh trưởng, phát

triển và khả năng ra hoa, chất lượng hoa của giống Ideal Crimson

Thí nghiệm được bố trí trên 5 công thức:

+ Công thức 1: Không phun - Đối chứng (ĐC)

+ Công thức 2: Phun phân bón lá Đầu Trâu 009 (20g/bình 16L)

+ Công thức 3: Phun phân bón lá Plant soul 3 (20g/bình 16L)

+ Công thức 4: Phun phân bón lá Seaweed 95% (10g/bình 16L)

+ Công thức 5: Phun phân bón lá Komix (20ml/bình 16L)

Bắt đầu phun sau trồng 15 ngày đến khi cây bắt đầu xuất hiện nụ hoa, phun 10 ngày/lần Phun vào buổi chiều mát, phun ướt đều mặt lá và thân với lượng phun 0,2l/1m2

* Thí nghiệm 4: Ảnh hưởng của phân bón có tỷ lệ NPK khác nhau đến sinh trưởng,

Trang 38

phát triển và chất lượng hoa của giống Ideal Crimson (dùng phân Đầu Trâu)

+ Công thức 1: Bón phân NPK 20-20-15

+ Công thức 2: Bón phân NPK 13-13-13+Te

+ Công thức 3: Bón phân NPK 20-20-15+Te

+ Công thức 4: Không bón phân (Đối chứng)

Bón phân theo liều lượng 1kg/100l nước tưới cho 500 chậu, định kỳ 7 ngày tưới 1 lần Bắt đầu tưới phân sau trồng 15 ngày

- Các thí nghiệm đều được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên đầy đủ (CRB) với 3 lần nhắc lại Các công thức đều được bố trí trồng trong chậu Mỗi chậu trồng 3 cây, kích thước chậu trồng là 14 x16cm Mỗi ô tương ứng với 1 công thức thí nghiệm có chiều rộng là 1m, chiều dài 2m; mỗi ô thí nghiệm 20 chậu Theo dõi 10 cây/công thức, định kỳ dõi 15 ngày/lần Kỹ thuật chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh thực hiện theo quy trình kỹ thuật của Viện nghiên cứu Rau quả

- Các thí nghiệm: Thí nghiệm 1, thí nghiệm 3 và thí nghiệm 4 trồng trên nền giá thể 1/3 đất phù sa + 1/3 phân chuồng + 1/3 xơ dừa với khối lượng 0,4kg giá thể/chậu

- Thời vụ trồng: Tháng 10/2015

3.5.2 Các chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp xác định

* Đặc điểm hình thái của cây hoa

Quan sát và mô tả đặc điểm hình thái bên ngoài cây hoa cẩm chướng, bao gồm đặc điểm về thân, lá, hoa…

* Các giai đoạn sinh trưởng phát triển

+ Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng

- Thời gian hồi xanh: tính từ khi trồng đến khi hồi xanh (ngày)

- Thời gian từ trồng đến bấm ngọn: từ khi trồng đến bấm ngọn (ngày)(thời điểm bấm ngọn là khi cây có 4-6 đốt thân)

- Thời gian từ trồng đến nở hoa: từ trồng đến nở hoa (ngày)

(Các giai đoạn được xác định khi có 50% số cây đạt các chỉ tiêu trên) + Các chỉ tiêu về sinh trưởng, phát triển

- Chiều cao cây (cm): được đo từ gốc cây sát với mặt đất đến đỉnh của lá cao nhất

Trang 39

- Số lá/cây (lá): Đếm toàn bộ số lá trên nhánh chính

- Chiều dài lá (cm): Đo từ cuống lá đến hết đầu lá

- Số mầm/cây (mầm): Đếm trực tiếp số mầm sinh ra trên cây mẹ (5 ngày đếm 1 lần, đếm sau bấm ngọn lần 1, 2)

- Tỷ lệ sống (TLS): Theo dõi sau trồng 10 ngày

TLS % = Số cây sống x 100

Tổng số cây trồng

* Chỉ tiêu về năng suất, chất lượng

- Số cành hoa/cây: Số cành trung bình trên các cây theo dõi

- Số nụ trên cây: Số nụ trung bình trên các cây theo dõi

- Độ bền hoachậu (ngày): Tính từ khi 50% hoa nở đến khi hết hoa

- Đường kính hoa (cm): Đo khi hoa nở hoàn toàn và tính trung bình

- Tỷ lệ cây nở hoa (%): Tỷ lệ % giữa cây nở hoa trên tổng số câytheo dõi

- Tỷ lệ cây xuất vườn (%): tổng số cây xuất vườn trên tổng số câytheo dõi

* Tình hình sâu bệnh hại

Các chỉ tiêu sâu, bệnh hại: được xác định theo tài liệu QCVN 01-38:

2010/BNNPTNT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về phương pháp điều tra phát hiện

dịch hại cây trồng năm 2010

- Sâu hại (Sâu ăn lá): Theo dõi và đếm số con/cây

- Rệp, nhện và bọ trĩ:

• Cấp 1: Nhẹ (xuất hiện rải rác)

• Cấp 2: Trung bình (phân bố dưới 1/3 cây)

• Cấp 3: Nặng (phân bố trên 1/3 cây)

- Bệnh hại: Tính tỷ lệ % số cây bị bệnh

Tỷ lệ cây bị bệnh % = Số cây bị bệnh x 100

Tổng số cây theo dõi

* Tiêu chí chậu hoa cẩm chướng xuất vườn

- Chiều cao cây: Các cây trong cùng 1 chậu có chiều cao tương đương

Trang 40

nhau và có chiều cao cây dưới 30cm

- Màu sắc hoa: Hoa lộ rõ trên mặt tán và có màu sắc

- Tán cây: Với chậu trồng 3 cây, đường kính tán từ 20-23cm, tán cây cân đối

- Chậu trồng: Có thể sử dụng chậu nhựa, chậu sứ hoặc bầu đen với kích thước như 14x16, 16x18,17x21

- Cây giống: Cây giâm cành có chiều cao cây từ 4-6cm, số lá trên cây đạt từ 4-6 lá, số rễ ≥5 rễ

- Cách trồng: Trước khi trồng tưới ẩm 70-80% Trồng 3-5 cây/ chậu tùy kích thước, chia đều khoảng cách các cây Trồng cây vào buổi chiều, sau khi trồng tưới bằng doa tưới

từ từ để cây thích nghi dần với điều kiện tự nhiên

+ Bón phân: sau trồng 10 ngày bón thúc lần 1: Bón kết hợp NPK và Supe Lân với liều lượng 0,5kg NPK + 2kg Supe Lân/100l nước tưới cho 500 chậu Giai đoạn sau: định kỳ bón NPK (20-20-15+TE) 10 ngày/1 lần với liều lượng 1kg/100l nước tưới cho 500 chậu

+ Bấm ngọn tạo tán: Sau trồng 10-12 ngày tiến hành bấm ngọn lần 1 để lại

từ 3-4 cặp lá Sau 15-17 ngày tiếp theo thì tiến hành bấm lần 2 để lại từ 2-3 cặp lá

Ngày đăng: 18/11/2018, 13:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w