1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

đánh giá ảnh hưởng của chất thải làng nghề đá non nước đến môi trường và sức khỏe cộng đồng tại phường hòa hải, quận ngũ hành sơn, thành phố đà nẵng

99 230 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 3,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ hiện trạng phát triển, hiện trạng môi trường làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước cũng như tình hình sức khỏe, bệnh tật của cộng đồng người dân đang sinh sống và làm việc trong môi

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ XUYẾN

ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA CHẤT THẢI

LÀNG NGHỀ ĐÁ NON NƯỚC ĐẾN MÔI TRƯỜNG VÀ SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG TẠI PHƯỜNG HÒA HẢI, QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Xuân Thành

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan, chưa từng dùng để bảo vệ lấy bất kỳ học vị nào và đã được sự đồng ý, cho phép của đơn vị công tác Trung tâm Tư vấn và Công nghệ môi trường – Tổng cục Môi trường

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám

ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Xuyến

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được

sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình

Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết

ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Xuân Thành (người hướng dẫn khoa học) đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô trong Khoa Môi trường - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài

và hoàn thành luận văn

Trong thời gian khảo sát thực địa, tôi xin cảm ơn cán bộ Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Đà Nẵng, Sở y tế thành phố Đà Nẵng, Trung tâm Y tế dự phòng quận Ngũ Hành Sơn, phòng Tài nguyên và Môi trường quận Ngũ Hành Sơn, Phòng Ủy ban Nhân dân phường Hòa Hải – quận Ngũ Hành Sơn, trạm y tế phường Hòa Hải, người dân làng nghề đá Non Nước đã ủng hộ, hợp tác tạo điều kiện cho việc thu thập tài liệu, điều tra phỏng vấn cũng như lấy mẫu phân tích thuận lợi

Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức Trung tâm Tư vấn và Công nghệ môi trường – Tổng cục Môi trường đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Xuyến

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục chữ viết tắt vi

Danh mục bảng vii

Danh mục hình viii

Trích yếu luận văn ix

Thesis abstract xi

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục đích nghiên cứu 2

1.3 Yêu cầu của đề tài 2

Phần 2 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu 3

2.1 Tình hình phát triển làng nghề trên thế giới và Việt Nam 3

2.1.1 Tình hình phát triển làng nghề trên thế giới 3

2.1.2 Tình hình phát triển làng nghề ở Việt Nam 4

2.2 Làng nghề Việt Nam và môi trường làng nghề 9

2.2.1 Vai trò của làng nghề trong phát triển kinh trế xã hội 9

2.2.2 Các loại làng nghề truyền thống ở Việt Nam 11

2.2.3 Những hoạt động của làng nghề tác động đến môi trường và sức khỏe 13

2.2.4 Hiện trạng sức khỏe cộng đồng tại các làng nghề Việt Nam 18

2.3 Tổng hợp tình hình nghiên cứu và xử lý chất thải làng nghề 19

2.3.1 Tổng quan về chất thải rắn nói chung và chất thải rắn làng nghề nói riêng 19

2.3.2 Tình hình quản lý chất thải rắn tại các làng nghề ở Việt Nam 21

2.4 Tổng quan về làng nghề chế tác đá ở việt nam và các bệnh tật liên quan 23

2.4.1 Tổng quan về làng nghề chế tác đá ở Việt Nam 23

2.4.2 Các bệnh tật liên quan đến làng nghề chế tác đá 25

Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 29

3.1 Địa điểm nghiên cứu 29

Trang 5

3.2 Thời gian nghiên cứu 29

3.3 Đối tượng nghiên cứu 29

3.4 Nội dung nghiên cứu 29

3.5 Phương pháp nghiên cứu 29

3.5.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: thu thập số liệu tại các phòng ban ở địa phương 29

3.5.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp: Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 30

3.5.3 Phương pháp lấy mẫu 30

3.5.4 Phương pháp so sánh 34

3.3.5 Phương pháp phân tích các thành phần môi trường 34

3.5.6 Phương pháp xử lý số liệu 35

Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 37

4.1 Điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội và giới thiệu về lịch sử hình thành & phát triển làng nghề đá non nước 37

4.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đã Nẵng 37

4.1.2 Giới thiệu về lịch sử hình thành và phát triển làng nghề đá Non Nước 41

4.1.3 Tình hình hoạt động của làng nghề đá Non Nước 43

4.1.4 Điều kiện lao động và vấn đề nước sạch làng nghề đá Non Nước 50

4.2 Đánh giá hiện trạng môi trường làng nghề đá non nước 52

4.2.1 Hiện trạng môi trường không khí 52

4.2.2 Hiện trạng môi trường nước 56

4.2.3 Kết quả điều tra phế thải rắn 60

4.3 Tình hình quản lý, bảo vệ môi trường và các vấn đề còn tồn tại của làng nghề đá non nước 61

4.3.1 Công tác quản lý môi trường tại làng nghề 61

4.3.2 Sự bất cập từ người dân 61

4.3.3 Những vấn đề còn tồn tại 62

4.4 Ảnh hưởng của môi trường làng nghề đối với sức khỏe cộng đồng 63

4.4.1 Tình hình bệnh tật làng nghề đá Non Nước 63

4.4.2 Đánh giá chung 65

4.5 Đề xuất một số biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường tại làng nghề 68

Trang 6

4.5.1 Biện pháp quản lý môi trường 69

4.5.2 Biện pháp công nghệ kỹ thuật 69

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 81

5.1 Kết luận 81

5.2 Kiến nghị 82

Tài liệu tham khảo 83

Phụ lục 85

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt

BTN&MT Bộ Tài Nguyên và Môi trường BVMT Bảo vệ môi trường

BVTV Bảo vệ thực vật

CBLT-TP Chế biến lương thực - thực phẩm CBNSTP Chế biến nông sản thực phẩm CNH - HĐH Công nghiệp hóa - hiện đạ ihóa

TCCP Tiêu chuẩn cho phép

TCVSLĐ Tiêu chuẩn vệ sinh lao động TN&MT Tài nguyên và Môi trường TNHH Trách nhiệm hữu hạn

TTCN Tiểu thủ công nghiệp

UBND Ủy ban nhân dân

CHXHCN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Trình độ kỹ thuật ở các làng nghề 15

Bảng 3.1 Vị trí lấy mẫu 33

Bảng 3.2 Phương pháp phân tích các thành phần môi trường 34

Bảng 4.1 Dân số, lao động, thu nhập bình quân đầu người làng nghề đá Non Nước 40

Bảng 4.2 Sản lượng sản phẩm hàng năm làng nghề đá Non Nước 44

Bảng 4.3 Cơ cấu lao động làng đá Non Nước 44

Bảng 4.4 Tuổi đời và tuổi nghề làng đá Non Nước 44

Bảng 4.5 Hiện trạng sử dụng nước ăn uống, sinh hoạt của hộ gia đình (theo kết quả điều tra HGĐ) 52

Bảng 4.6 Kết quả phân tích các thông số vi khí hậu và tiếng ồn môi trường không khí khu vực nghiên cứu 53

Bảng 4.7 Kết quả phân tích nước mặt tại khu vực nghiên cứu 56

Bảng 4.8 Kết quả phân tích nước ngầm tại khu vực nghiên cứu 57

Bảng 4.9 Kết quả phân tích chất lượng nước thải tại khu vực nghiên cứu 59

Bảng 4.10 Tỷ lệ chất thải rắn tương ứng với loại sản phẩm 61

Bảng 4.11 Tỷ lệ mắc các bệnh của nhóm đối tượng thuộc làng nghề sản xuất đá Non Nước và nhóm đối tượng không thuộc làng nghề 64

Bảng 4.12 Kết quả kiểm định Khi bình phương 66

Bảng 4.13 Bảng ước tính OR (tỷ suất chênh - tỷ số nguy cơ) giữa 2 biến có liên quan 66

Bảng 4.14 Các giải pháp sản xuất sạch hơn cho làng nghề sản xuất đá Non Nước 70

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Biểu đồ tỷ lệ các làng nghề có các dịch vụ xã hội trong tổng số các

làng nghề được khảo sát 9

Hình 2.2 Biểu đồ phân loại làng nghề Việt Nam theo loại hình sản xuất 13

Hình 2.3 Các yếu tố môi trường tại làng đá Non Nước ảnh hưởng đến sức khoẻ cộng đồng 27

Hình 3.1 Sơ đồ vị trí lấy mẫu 32

Hình 4.1 Vị trí địa lý làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước, phường Hòa Hải 37

Hình 4.2 Sơ đồ quy trình chế tác đá mỹ nghệ làng nghề đá Non Nước 45

Hình 4.3 Trưng bày sản phẩm điêu khắc tại cơ sở Nguyễn Long Bửu 47

Hình 4.4 Dùng axit đánh bóng sản phẩm 47

Hình 4.5 Tỷ lệ tình hình xử lý nước nước ăn và sinh hoạt trước khi sử dụng 52

Hình 4.6 Biểu đồ so sánh thông số tiếng ồn với QCVN 54

Hình 4.7 Biểu đồ so sánh thông số bụi tổng số 24 giờ với QCVN 55

Hình 4.8 Biểu đồ so sánh thông số TSP với QCVN 55

Hình 4.9 Biểu đồ so sánh thông số TSS với QCVN 59

Hình 4.10 Bản vẽ thiết kế bể tự hoại 76

Hình 4.11 Quy trình xử lý nước thải cho từng hộ sản xuất 77

Trang 10

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Nguyễn Thị Xuyến

Tên Luận văn: “Đánh giá ảnh hưởng của chất thải làng nghề đá Non Nước đến môi

trường và sức khỏe cộng đồng tại phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng”

Ngành: Khoa học Môi trường Mã số: 60.44.03.01

Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Mục đích nghiên cứu

Đánh giá thực trạng môi trường không khí, môi trường nước và chất thải rắn làng nghề đá Non Nước tại phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn, Thành phố Đà Nẵng ảnh hưởng đến sức khỏe dân cư xung quanh và đề xuất biện pháp giảm thiểu ô nhiễm tại làng nghề

Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: thu thập số liệu tại các phòng ban ở địa phương;

- Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp: Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi;

- Phương pháp lấy mẫu;

- Phương pháp phân tích các thành phần môi trường;

(2) Về hiện trạng môi trường: Hiện trạng môi trường không khí của làng nghề có dấu hiệu bị ô nhiễm tiếng ồn vượt 0,03 – 0,15 lần, bụi lơ lửng vượt 1,1 – 3 lần, bụi tổng

số 24 giờ vượt 1 – 3 lần nguồn phát sinh chủ yêu từ các khâu đục, đẽo, cắt, mài của quá trình sản xuất đá Hiện trạng môi trường nước: Nước sông Cổ Cò tại làng nghề các thông số như BOD5,COD vượt quy chuẩn từ 1 – 1,76 lần do ảnh hưởng bởi nước thải của các hộ dân sống xung quanh và hoạt động du lịch diễn ra Nước ngầm tại làng nghề chưa bị tác động bởi nước thải chứa axit Nước thải khu Làng nghề chủ yếu chứa hàm lượng chất rắn lơ lửng (TSS) khá lớn tại vị trí NT1 vượt 2,55 lần, NT3 vượt 3,2 lần, do

có lẫn nhiều bột đá từ các khâu đẽo, đục, mài sản phẩm nên độ đục cao

Trang 11

(3) Công tác quản lý môi trường tại làng nghề chưa được chú trọng và quan tâm Tại phường Hòa Hải chưa có nhân sự chuyên trách về môi trường, thiếu kinh phí và định hướng từ cấp trên

(4) Ảnh hưởng của làng nghề đá Non Nước đến sức khỏe người dân: Chỉ ra mối liên quan giữa của tình hình sức khỏe của đối tượng sống tại làng nghề và đối tượng không sống tại làng nghề đối với 05 bệnh: Bệnh hô hấp dưới (OR = 2,55; khoảng tin cậy 95% (1,31 – 4,97); Bệnh cơ, xương khớp (OR = 17,28; khoảng tin cậy 95% (8,24 – 36,24); Bệnh da liễu (OR = 8,73; khoảng tin cậy 95% (2,90 – 26,27); Chấn thương do tai nạn lao động (OR = 4,86; khoảng tin cậy 95% (2,22 – 10,63) và bệnh rối loạn tâm thần (OR = 3,13; khoảng tin cậy 95% (1,08 – 9,10)

(5) Đề xuất biện pháp giảm thiểu: Nghiên cứu đã đề xuất một số biện pháp giảm thiểu ô nhiễm bụi, tiếng ồn và nước thải cho làng nghề đá Non Nước: Áp dụng các biện pháp sản xuất sạch hơn đầu tư máy móc sản xuất,cải tạo nhà xưởng, lắp đạt hệ thống xử

lý bụi và nước thải và các biện pháp công nghệ kỹ thuật: Xử lý nước thải toilet bằng

bể tự hoại, biện pháp công nghệ xử lý nước thải cho từng hộ sản xuất

Trang 12

THESIS ABSTRACT

Master candidate: Nguyen Thi Xuyen

Thesis title: “Assessment of the impacts of waste generating from the production

on environment and health at the Non Nuoc craft-village, Hoa Hai ward, Ngu Hanh Son district, Da Nang city”

Major: Environment Scientific Code: 60.44.03.01

Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA) Research Objectives

To assess the impacts of the air, water quality and solid water on environment and health and propose solutions to reduce the pollution at the Non Nuoc craft-village, Hoa Hai ward, Ngu Hanh Son district, Da Nang city

Materials and Methods

- Collecting secondary data from departments of local government;

- Collecting primary data through questionnaire;

- Taking and analysing environment samples;

- Comparative method;

- Data processing methods

Main findings and conclusion

(1) The Non Nuoc craft-village play an important role for economic-social development of Da Nang city, especially Hoa Hai ward (approximately 100 billion VND/year)

(2) Environment status: Air quality at the Non Nuoc craft-village is polluted Noise samples is 0,03 – 0,15 times higher than the limited value, TSP is 1,1 – 3 times higher than the limited value , Average 24-hour particles is 1 – 3 times than the limited value The process of punching, shearing, cutting and grinding results in the air pollution at the craft-village BOD 5, COD values of surface water samples from Co Co River at the Non Nuoc craft village exceeded National technical regulation from 1 – 1,76 times because of tourism activities and domestic wastewater from households living around The ground water has not been affected by wastewater containing acid Wastewater generating from the production of the craft-village contained the great amount of total suspended solid (TSS), namely NT1 position exceeded 2,55 times compared to the permitted value, NT3 position exceeded 3,2 compared to the permitted value as stone powder generated from carving, grinding products

Trang 13

(3) The environment management at the craft-village is not considered There is nobody being in charge of environment, lack of budget and direction from higher authorities

(4) The impacts of the Non Nuoc craft village on health: The result of reseach shows the relationship of people health status between people living in the craft-village and people living in another place with 05 diseases: Low respiratory diseases (OR = 2,55; CI 95% (1,31 – 4,97); Muscle, osteoarthritis disease (OR = 17,28; CI 95% (8,24 – 36,24); Skin diseases (OR = 8,73; CI 95% (2,90 – 26,27); Occupational accidents (OR = 4,86; CI 95% (2,22 – 10,63) and mental disoders (OR = 3,13; CI 95% (1,08 – 9,10) (5) Proposed solutions: The results proposed solutions to reduce dust, noise and wastewater generating from the Non Nuoc craft village: Applying the cleaner production technology, investment in manufacturing machines, renovation of production areas, installation of the system treating dust and wastewater emission and the technology measures: wastewater treatment by septic tank, wastewater treatment for individual producers

Trang 14

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Cùng với sự phát triển của xã hội hiện đại, trong những năm gần đây, việc khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống đã tạo nên những chuyển biến tích cực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, giải quyết việc làm cho hàng vạn lao động, đa dạng hóa sản phẩm, tăng thu nhập cho người dân góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng

Bên cạnh mặt tích cực, từ hoạt động sản xuất tại các làng nghề nói chung đang gây ảnh hưởng xấu tới môi trường và sức khỏe cộng đồng Nhất là phế thải rắn, nước thải, khí thải bụi và tiếng ồn đã gây áp lực rất lớn cho môi trường, gây

ra các loại bệnh tật cho con người như: hô hấp, đau mắt, ngoài da, phổi một số bệnh nguy hiểm như ung thư do kim loại nặng Pb, Cr, Asen, do phát thải từ các làng nghề làm ô nhiễm môi trường không khí, ô nhiễm nước, ô nhiễm đất Kết quả nghiên cứu của các nhà chuyên môn cho thấy, chất lượng môi trường tại hầu hết tại các làng nghề đều không đạt tiêu chuẩn khiến người lao động phải tiếp xúc với các nguy cơ gây hại cho sức khỏe, trong đó 95% là từ bụi; 85,9% từ nhiệt và 59,6% từ hóa chất Kết quả khảo sát 52 làng nghề cho thấy có tới 46% làng nghề có môi trường bị ô nhiễm nặng, 27% ô nhiễm vừa, và 27% ô nhiễm nhẹ

Làng đá mỹ nghệ Non Nước có lịch sử hình thành 300- 400 năm đến nay, nằm trên địa bàn phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng với khoảng hơn 500 hộ sản xuất đã mỹ nghệ phục vụ kinh doanh tại địa phương và xuất khẩu Tuy nhiên, việc sản xuất, kinh doanh ở đây vẫn còn mang tính tự phát, không theo quy định nào Trong khi đó, các cơ sở sản xuất nằm xen kẽ trong khu dân cư Đây chính là nguyên nhân khiến tình trạng ô nhiễm ngày càng tăng cao, không khí ảnh hưởng trực tiếp đến những người sản xuất mà còn thường xuyên tác động đến cuộc sống của người dân nơi đây, đồng thời để lại ấn tượng không tốt đối với khách du lịch Vấn đề đáng ngại hiện nay là sự ô nhiễm do bụi đá, nước thải, chất thải rắn và tiếng ồn Quy mô làng nghề càng phát triển và việc áp dụng một số tiến bộ kĩ thuật vào sản xuất để tăng năng suất lao động đã làm cho môi trường bị ô nhiễm ngày càng nặng nề, nhất là bụi đá, nước thải trong sản xuất tràn chảy tự do, lượng nước hòa với axit để mài và làm bóng sản phẩm loang chảy thấm vào mạch nước ngầm, hòa lẫn vào mạch nước đang sử dụng

Trang 15

sinh hoạt ăn uống và chế biến thực phẩm, tiềm ẩn nguy cơ bệnh tật Bụi và đá dăm (đá vụn) ngày càng nhiều do quá trình cưa xẻ, khoan mài gây nên, ảnh hưởng đến sức khỏe người trực tiếp sản xuất, người dân sống trong làng nghề và các hoạt động kinh doanh du lịch, mức độ tiếng ồn cũng vượt ngưỡng cho phép Xuất phát từ hiện trạng phát triển, hiện trạng môi trường làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước cũng như tình hình sức khỏe, bệnh tật của cộng đồng người dân đang sinh sống và làm việc trong môi trường không an toàn, cần thiết phải xác định hiện trạng, tình hình môi trường không khí, nước, chất thải rắn và ảnh hưởng của các yếu tố môi trường đó đến sức khỏe môi trường và đề xuất biện pháp giảm thiểu nhằm cải thiện môi trường tại làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước

Vì vậy nghiên cứu đề tài: “Đánh giá ảnh hưởng của chất thải làng nghề

đá Non Nước đến môi trường và sức khỏe cộng đồng tại phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng” là hết sức cần thiết và cấp bách

1.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

- Đánh giá thực trạng môi trường không khí, môi trường nước và chất thải rắn làng nghề đá Non Nước tại phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn, Thành phố

Đà Nẵng;

- Đề xuất một số giải pháp nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường làng nghề

đá Non Nước tại phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn, Thành phố Đà Nẵng

1.3 YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI

- Chỉ ra được ảnh hưởng của hoạt động làng nghề đá Non Nước đến sức khỏe cộng động dân cư;

- Đề xuất được những giải pháp mang tính khả thi để khắc phục ô nhiễm môi trường làng nghề đá Non Nước tại phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn, Thành phố Đà Nẵng

1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN

Làm rõ thêm cơ sở lý luận bảo vệ môi trường làng nghề đá Non Nước ở Đà Nẵng, đặc biệt phân tích những tác động của chất thải của làng nghề ảnh hưởng đến môi trường và sức khỏe cộng đồng

Trang 16

PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM

2.1.1 Tình hình phát triển làng nghề trên thế giới

Trên thế giới, từ những năm đầu của thế kỷ XX cũng có một số công trình nghiên cứu có liên quan đến làng nghề như: “Nhà máy làng xã” của Bành Tử (1922); “Mô hình sản xuất làng xã” và “Xã hội hóa làng thủ công” của N.H.Noace (1928) Năm 1964, tổ chức WCCI (Hội đồng Quốc tế về nghề thủ công thế giới) được thành lập, hoạt động phi lợi nhuận vì lợi ích chung của các quốc gia có nghề thủ công truyền thống (Ngô Trà Mai, 2008)

Đối với các nước châu Á, sự phát triển kinh tế làng nghề truyền thống là giải pháp tích cực cho các vấn đề kinh tế xã hội nông thôn Thực tế nhiều quốc gia trong khu vực có những kinh nghiệm hiệu quả trong phát triển làng nghề, điển hình là Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Thái Lan Trung Quốc sau thời kỳ cải cách mở cửa năm 1978, việc thành lập và duy trì Xí nghiệp Hương Trấn, tăng trưởng với tốc độ 20 – 30 % đã giải quyết được 12 triệu lao động dư thừa ở nông thôn Hay Nhật Bản, với sự thành lập “Hiệp hội khôi phục

và phát triển làng nghề truyền thống” là hạt nhân cho sự nghiệp khôi phục và

phát triển ngành nghề có tính truyền thống dựa theo “Luật nghề truyền

thống”…(Trần Minh Yến, 2003)

Đối với các làng nghề CBNSTP, ở các nước châu Á như Thái Lan, Malaysia, Trung Quốc…đã đặc biệt chú trọng tới các nghề chế biến tinh bột Theo tác giả Jesuitas của Thái Lan (1996), việc sử dụng phương pháp xử lý hiếu khí bằng bể Acroten đối với nước thải chứa nhiều tinh bột thì lượng hữu cơ theo COD có thể giảm tới 70%

Một số nước đã sử dụng bể Biogas, tận dụng bã thải trong sản xuất tinh bột

để sản xuất khí sinh học, phục vụ cho các hoạt động khác (như chạy động cơ diezel) Theo các tác giả Thery và Dang (1979); sau này là Chen và Lee (1980), Trung Quốc đã sử dụng hơn 7 triệu bể lên men CH4 , trong đó có khoảng 20.000

bể lớn tạo khí chạy động cơ điezel khí sinh học với khoảng 4.000.106 m3 khí/năm (Nguyễn Thị Kim Thái, 2004)

Trang 17

Đặc biệt, “việc sử dụng cộng đồng như những nhà quản lý môi trường

không chính thức và tính cộng đồng là công cụ bảo vệ môi trường đã được thực hiện thành công ở một số nước trong khu vực và thế giới bằng các hình thức khác nhau”(Đặng Đình Long, 2005) Cũng theo Đặng Đình Long, các nghiên

cứu của World Bank đã chứng minh rằng, “dựa trên sức ép của cộng đồng, cộng

với việc tăng cường năng lực của các cơ quan quản lý môi trường có thể cải thiện được lượng phát thải tại các cơ sở gây ô nhiễm”

Một số quốc gia đã thực hiện thành công cách quản lý này như: Côlômbia, Trung Quốc, Hàn Quốc, Philippin, Băng-la-đét, Malaysia, In-đô-nê-xia… với phương pháp cho điểm đơn giản để dân chúng nhận rõ cơ sở nào tuân thủ các tiêu chuẩn chống ô nhiễm của quốc gia và địa phương; cơ sở nào không tuân thủ Trung Quốc đã cho phép tính các loại phí ô nhiễm dựa trên sự thảo luận của cộng đồng Mức định giá phí ô nhiễm dựa trên mức độ ô nhiễm, mức dân cư phải hứng chịu hậu quả của ô nhiễm, mức thu nhập bình quân… Cùng với đó, chính phủ nước này cũng thường xuyên nâng cao năng lực của cộng đồng trong nhận thức

và hành động giải quyết các vấn đề môi trường địa phương

Ở In-đô-nê-xia, dưới áp lực của cộng đồng địa phương bằng việc phát đơn kiện các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm, qua đó chính phủ và các cơ quan kiểm soát ô nhiễm làm trung gian đứng ra giải quyết, buộc các cơ sở gây ô nhiễm phải đền bù cho cộng đồng và có những giải pháp giảm thiểu ô nhiễm (Đặng Đình Long, 2005)…

Như vậy, cần thiết có sự phối hợp giữa Nhà nước, Xã hội dân sự và cộng đồng trong quản lý môi trường cũng như giải quyết xung đột môi trường Đây là giải pháp mang tính bền vững cho sự phát triển của xã hội

2.1.2 Tình hình phát triển làng nghề ở Việt Nam

Làng nghề là một trong những đặc thù của nông thôn Việt Nam Nhiều sản phẩm được sản xuất trực tiếp tại càc làng nghề đã trở thành thương phẩm trao đổi, góp phần cải thiện đời sống gia đình và tận dụng những lao động dư thừa lúc nông nhàn Đa số các làng nghề đã trải qua lịch sử phát triển hàng trăm năm, song song với quá trình phát triển KT-XH, văn hóa và nông nghiệp của đất nước

Ví du như làng nghề đúc đồng Đại Bái (Bắc Ninh) vôi hơn 900 năm phát triển, làng nghề gốm Bát Tràng (Hà Nội) có gần 500 năm tồn tại, nghề chàm bạc ở Đồng Xâm (Thái Bình) hày nghề điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước (Tp Đà

Trang 18

Nẵng) cũng đã hình thành cách đây hơn 400 năm, Nếu đi sâu vào tìm hiểu về nguồn gốc của các sản phẩm từ các làng nghề đó, có thể thấy rằng hầu hết các sản phẩm này ban đầu đều được sản xuất để phục vụ sinh hoạt hàng ngày hoặc là công cụ sản xuất nông nghiệp, chủ yếu được làm trong lúc nông nhàn Kỹ thuật, công nghệ, quy trình sản xuất cơ bản để làm ra các sản phẩm này được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác

Trước đây, làng nghề không chỉ là trung tâm sản xuất sản phẩm thủ công

mà còn là điểm văn hóa của khu vực, của vùng Làng nghề là nơi hội tụ những thợ thủ công có tay nghề cao mà còn tên tuổi đã gắn liền với sản phẩm trong làng Ngoài ra, làng nghề cũng là nơi tập kết nguyên vật liệu, là nơi tập trung những tinh hoa trong kỹ thuật sản xuất sản phẩm của làng Các mặt hàng sản xuất

ra không chỉ để phục vụ sinh hoạt mà còn bao gồm cả các sản phẩm mỹ nghệ, đồ thờ cúng, dụng cụ sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu thực tế của thị trường khu vực lân cận

Trong vài năm gần đây, làng nghè được thay đổi nhanh chóng theo nền kinh tế thị trường, các hoạt động sản xuất tiểu thủ công phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu được tạo điều kiện phát triển Quá trình công nghiệp hóa cùng với việc áp dụng các chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn, thức đẩy sản xuất tại các làng nghề đã làm tăng mức thu nhập bình quân của người dân nông thôn, các công nghệ mới đang ngày càng được áp dụng phổ biến Các làng nghề mới và các cụm công nghiệp làng nghề không ngừng được khuyến khích phát triển nhằm đạt được sự tằng trưởng, tạo công ăn việc làm và thu nhập

ổn định ở khu vực nông thôn

Do ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau như vị trí địa lý, đặc điểm tự nhiên, mật độ phân bố dân xư, điều kiện xã hội và truyền thống lịch sử, sự phân

bố và phát triển làng nghề giữa cá vùng của nước ta là không đồng đều, thông thường tập trung vào các khu vực nông thôn đông dân cư nhưng ít đất sản xuất nông nghiệp, nhiều lao động dư thừa lúc nông nhàn Trên cả nước, làng nghề phân bố tập trung chủ yếu tại Đồng bằng sông Hồng (60%); còn lại là miền trung (chiếm khoảng 30%) và miền Nam (khoảng 10%) (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2008)

Ở Việt Nam, vấn đề làng nghề được đề cập đến qua nhiều thời kỳ, với những khía cạnh và các mục đích khác nhau

Trang 19

Trên khía cạnh kinh tế, văn hóa, xã hội có nhiều công trình nghiên cứu về

nhân và các làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam Trong cuốn “Bảo tồn và

phát triển các làng nghề trong quá trình CNH – HĐH”(Dương Bá Phượng,

2001), tác giả đã đề cập khá đầy đủ từ lý luận đến thực trạng của làng nghề: từ đặc điểm, khái niệm, con đường và điều kiện hình thành làng nghề, tập trung vào một số làng nghề ở một số tỉnh với các quan điểm, giải pháp và phương hướng nhằm phát triển các làng nghề trong CNH – HĐH

Về đề tài nghiên cứu: Phải kể đến đề tài “Nghiên cứu về quy hoạch phát triển làng nghề thủ công theo hướng CNH nông thôn ở nước CHXHCN Việt Nam” của Bộ NN & PTNT hợp tác cùng với tổ chức JICA của Nhật (2002), đã

điều tra nghiên cứu tổng thể các vấn đề có liên quan đến làng nghề thủ công nước

ta về tình hình phân bố, điều kiện KT-XH của làng nghề, nghiên cứu đánh giá 12 mặt hàng thủ công của làng nghề Việt Nam (về nguyên liệu, thị trường, công nghệ, lao động…) (Trần Minh Yến, 2003)

Nhìn chung các tác giả đã làm rõ về khái niệm, lịch sử phát triển, đặc điểm, thực trạng sản xuất và xu hướng phát triển của các làng nghề

Ở khía cạnh môi trường: Gần đây, trong các nghiên cứu về làng nghề, vấn

đề môi trường đang được nhiều tác giả quan tâm, thực tế thì vấn đề này đang gây nhiều bức xúc và nan giải đối với kinh tế xã hội nói chung:

Cuốn sách “Làng nghề Việt Nam và môi trường” (Đặng Kim Chi và nnk,

2005), là một công trình nghiên cứu tổng quát nhất về vấn đề làng nghề và thực trạng ô nhiễm môi trường các làng nghề hiện nay Tác giả đã nêu rõ từ lịch sử phát triển, phân loại, các đặc điểm cơ bản làng nghề cũng như hiện trạng kinh tế,

xã hội của các làng nghề Việt Nam hiện nay Cùng với đó là hiện trạng môi trường các làng nghề (có phân loại cụ thể 5 nhóm ngành nghề chính) Qua đó cũng nêu rõ các tồn tại ảnh hưởng tới phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường của làng nghề, nêu dự báo phát triển và mức độ ô nhiễm đến năm 2010, một số định

Trang 20

hướng xây dựng chính sách đảm bảo phát triển làng nghề bền vững và đề xuất các giải pháp cải thiện môi trường cho từng loại hình làng nghề của Việt Nam

Qua nghiên cứu của tác giả, "100% mẫu nước thải ở các làng nghề được khảo sát có thông số vượt tiêu chuẩn cho phép Môi trường không khí bị ô nhiễm

có tính cục bộ tại nơi trực tiếp sản xuất, nhất là ô nhiễm bụi vượt tiêu chuẩn cho phép (TCCP) và ô nhiễm do sử dụng nhiên liệu than củi Tỷ lệ người dân làng nghề mắc bệnh cao hơn các làng thuần nông, thường gặp ở các bệnh về đường hô hấp, đau mắt, bệnh đường ruột, bệnh ngoài da Nhiều dòng sông chảy qua các làng nghề hiện nay đang bị ô nhiễm nặng; nhiều ruộng lúa, cây trồng bị giảm năng suất do ô nhiễm không khí từ làng nghề"

Nghiên cứu của Đặng Kim Chi cùng các cộng sự tại 3 làng nghề Bắc Ninh cho thấy môi trường xung quanh các làng nghề đã bị ô nhiễm ngày càng trầm trọng Tại làng nghề sản xuất giấy Dương Ổ (Phong Khê – Bắc Ninh): nồng độ

CO cao hơn 5mg/l so với TCCP (28 – 36 mg/l) Bụi ở khu vực dân cư có nồng độ cao hơn TCCP từ 1,3 đến 3 lần CO tại khu vực sản xuất cao gấp 2 lần TCCP, tiếng ồn cao hơn TCCP từ 3 – 10 dbA; tại làng nghề tái chế sắt thép Đa Hội: Không khí xung quanh khu vực hộ gia đình sản xuất cao lớn hơn TCCP 12 lần, tiếng

ồn lớn hơn 28 lần TCCP, bụi hơn 6 lần, nhiệt độ lớn hơn nhiệt độ không khí từ 4 – 5

0C; làng nghề tái chế nhựa Minh Khai: nồng độ bụi lớn hơn TCCP 1h và 24h là 1- 4 lần và 3 - 6 lần, nồng độ HCl cao hơn TCCP 1,6 lần (Lê Đức Thọ, 2008)

Bên cạnh đó còn có rất nhiều các công trình nghiên cứu của các tác giả khác về tình trạng môi trường và sức khỏe tại các làng nghề như: nghiên cứu về

“Những vấn đề về sức khỏe và an toàn trong các làng nghề Việt Nam”, các tác

giả Nguyễn Thị Hồng Tú, Nguyễn Thị Liên Hương và Lê Vân Trình (2005) đã nêu một số nét về lịch sử phát triển làng nghề Việt Nam Môi trường và sức khoẻ người lao động An toàn sản xuất làng nghề, các biện pháp phòng ngừa Chăm sóc và nâng cao sức khoẻ cho người lao động làng nghề

Nghiên cứu về các giải pháp: Hiện tại, đối với mỗi công trình nghiên cứu

về vấn đề môi trường làng nghề ít nhiều đều có đề cập đến các giải pháp khác

nhau nhằm cải thiện và bảo vệ môi trường, hướng tới sự phát triển bền vững

Tổng quát nhất có lẽ phải đề cập đến cuốn “Làng nghề Việt Nam và môi

trường” của Đặng Kim Chi và các cộng sự Dựa trên cơ sở đã nghiên cứu tổng

quan về đặc điểm cũng như thực trạng sản xuất, hiện trạng môi trường các làng nghề, tác giả đã đi đến các giải pháp chung nhất cho từng loại hình làng nghề Ở

Trang 21

đây cũng đề cập đến việc định hướng xây dựng một số chính sách đảm bảo phát triển làng nghề bền vững (như các chính sách về hỗ trợ tài chính, chính sách về thị trường, về cơ sở hạ tầng, giáo dục môi trường…) Qua đó đề xuất các giải pháp, nhìn chung tập trung vào hai nhóm chính là giải pháp kỹ thuật và giải pháp quản lý nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường cho các làng nghề Các giải pháp này được đề cập cụ thể hơn trong các nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Thị Liên Hương, Trần Minh Yến…

Ngoài những giải pháp về kỹ thuật (sản xuất sạch hơn và sử dụng công nghệ xử lý chất thải) thì trong công tác quản lý môi trường, các nhà nghiên cứu hiện đang lưu ý đến một số giải pháp có tính khả thi và có hiệu quả trong điều kiện của Việt Nam hiện nay đó là giải pháp có sự tham gia của cộng đồng và phát triển làng nghề gắn với phát triển du lịch

Theo kết quả khảo sát của các tác giả tại 3 làng nghề điển hình thì tỷ lệ những ý kiến trông chờ sự giải quyết ô nhiễm vào Nhà nước chiếm tới 56,6%; giải pháp nâng cao nhận thức môi trường chiếm 14,8%; thông cảm và cùng người sản xuất xử lý ô nhiễm chỉ có 8,5%, đặc biệt ý kiến nếu không xử lý ô nhiễm thì ngừng sản xuất chỉ có 1,1% (Đặng Đình Long, 2005) Qua đó cho thấy rằng ý thức của cộng đồng trong vấn đề phát triển kinh tế gắn với môi trường còn nhiều hạn chế, vấn đề xung đột môi trường có nguy cơ khá cao và phức tạp

Việt Nam cũng đang có nhiều cố gắng trong việc tiếp thu kinh nghiệm của các nước đi trước trên thế giới và trong khu vực trong lĩnh vực quản lý môi trường Đối với môi trường làng nghề, năm 2005 Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp với Ngân hàng thế giới (WB) cùng với Bộ Môi trường Hàn Quốc tổ chức Hội thảo áp dụng kinh nghiệm Hàn Quốc trong quản lý môi trường các làng nghề truyền thống Việt Nam

Tại hội thảo, các nhà nghiên cứu Việt Nam đã nêu rõ hiện trạng ô nhiễm môi trường làng nghề và giới thiệu nghiên cứu điển hình “Cải thiện môi trường làng nghề Vạn Phúc” Các chuyên gia về môi trường của Hàn Quốc đã trao đổi

về kinh nghiệm, định hướng quản lý môi trường nông thôn và giới thiệu công nghệ môi trường của Hàn Quốc (www.isge.monre.gov.vn, 30/1/2005)

Hơn nữa, kể từ khi Hiệp hội làng nghề Việt Nam được thành lập (2005) cho đến nay đã có nhiều chương trình hoạt động cụ thể nhằm cải thiện về mặt chính sách, ủng hộ về nguồn vốn, nâng cao kinh nghiệm quản lý, mở rộng thị trường, tạo thương hiệu cho các sản phẩm, quan tâm đến vấn đề môi trường các làng nghề…, khuyến khích cho các làng nghề phát triển về nhiều mặt

Trang 22

2.2 LÀNG NGHỀ VIỆT NAM VÀ MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ

2.2.1 Vai trò của làng nghề trong phát triển kinh trế xã hội

2.2.1.1 Chủ trương phát triển của làng nghề

Thời gian qua, xác định vai trò quan trọng của làng nghề, ngành nghề nông thôn, Đảng và Nhà nước đã tập trung chỉ đạo và ban hành nhiều chính sách như Nghị định số 66/2006/NĐ – CP ngày 07/7/2006 của Chính phủ về chính sách phát triển làng nghề nông thôn, nhằm thúc đẩy phát triển KT – XH ở nông thôn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH – HĐH, giải quyết việc làm tại chỗ, nâng cao chất lượng cuộc sống và thu nhập của người dân, tăng cường hoạt động xuất khẩu

Ngoài ra Chính phủ đã giao cho Bộ NN & PTNT thực hiện chức năng quản

lý nhà nước lĩnh vực ngành nghề nông thôn Trên cơ sở đó, Bộ NN & PTNT đã xây dựng, ban hành một số văn bản nhằm chỉ đạo thúc đẩy phát triển làng nghề (Bộ Tài nguyên và môi trường, 2008)

2.2.1.2 Làng nghề với sự phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật nông thôn

Điều kiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật là một yếu tố cực kỳ quan trọng hỗ trợ phát triển các làng nghề Khả năng tiếp cận thông tin, điện nước sạch, giao thông

và những yếu tố khác về cơ sở vật chất là rất cần thiết đối với sự tăng trưởng và phát triển của làng nghề Phát triển cơ sở hạ tầng tốt sẽ góp phần thực hiện mục tiêu nâng cao chất lượng cuộc sống người dân, tạo việc làm, xóa nghèo ở nông thôn thông qua việc phát triển ngành nghề tại các làng nghề Ngược lại, sự phát triển kinh tế của các làng nghề cũng góp phần đổi mới bộ mặt nông thôn, cải thiện và phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật tại đây (Hình 2.1)

Hình 2.1 Biểu đồ tỷ lệ các làng nghề có các dịch vụ xã hội trong tổng số các

làng nghề được khảo sát

Trang 23

Cơ sở hạ tầng ở những nơi tập trung nhiều làng nghề như khu vực Đồng bằng Sông Hồng, Bắc Trung Bộ và Đông Nam Bộ, nhìn chung phát triển khá tốt

do các làng nghề phần lớn được hình thành và phát triển ở những nơi tiếp cận thuận lợi mạng lưới đường quốc lộ, tỉnh lộ, cùng sự hỗ trợ của các chính sách từ chính quyền tỉnh/thành phố nhằm đẩy mạnh phát triển làng nghề Tại khu vực miền núi, cũng có một số làng nghề phát triển, tuy nhiên điều kiện cơ sở hạ tầng

kỹ thuật vẫn không được chú trọng đầu tư do phần lớn làng nghề ở đây không nhằm phục vụ thị trường mà chủ yếu sản phẩm chỉ phục vụ đời sống nhân dân khu vực lân cận

2.2.1.3 Làng nghề và xóa đói giảm nghèo ở nông thôn

Sự phát triển của làng nghề trong những năm gần đây đã và đang góp phần đáng kể trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở địa phương, cải thiện và nâng cao đời sống của người dân làng nghề

Tại làng nghề, đại bộ phận dân cư làm nghề thủ công vẫn tham gia sản xuất nông nghiệp ở mức độ nhất định Tại nhiều làng nghề, trong cơ cấu kinh tế địa phương trọng ngành công nghiệp và dịch vụ đạt từ 60 -80% và ngành nông nghiệp chỉ đạt 20 – 40% Trên thực tế quy mô làng nghề nhìn chung nhỏ, chưa thực hiện được cơ chế thu hút lao động có tay nghề cao, đối với làng nghề sản xuất theo thời vụ thì thường chỉ sản xuất vào lúc nông nhàn Tuy nhiên, hiện nay

ở những vùng sản xuất lớn, lao động trong các ngành nghề làm việc hầu như quanh năm với quy mô phát triển ngày càng lớn

2.2.1.4 Làng nghề truyền thống và hoạt động xóa đói giảm nghèo

Lợi ích của việc phát triển làng nghề truyền thống không chỉ là ở kinh tế, giải quyết việc làm cho lao động địa phương mà còn góp phần bảo tồn được giá trị văn hóa lâu dài Điểm chung của nhiều làng nghề là thường nằm trên trục giao thông đường bộ hay đường sông Đây là điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng các điểm tuyến du lịch lữ hành Ngoài những lợi thế như cảnh qua thiên nhiên, vị trí địa lý, nét văn hóa đặc sắc, các làng nghề còn có sức thu hút đặc biệt bởi mỗi làng nghề gắn với một vùng văn hóa hay một hệ thống di tích lịch sử Bên cạnh

đó khách tham quan còn được tận mắt theo dõi quá trình sản xuất ra các sản phẩm thậm chí là tham gia thực hành vào một khâu sản xuất, chính điều này đã

tạo nên sức hấp dẫn của du lịch làng nghề

Phát triển du lịch tại làng nghề sẽ góp phần gia tăng tỷ trọng của các nhóm ngành công nghiệp/dịch vụ ở địa phương, đồng thời tăng thêm cơ hội cho cơ sở

Trang 24

sản xuất thông qua các hoạt động truyền thống, nâng cao đời sống nhân dân

thông qua cá dịch vụ phụ trợ

2.2.2 Các loại làng nghề truyền thống ở Việt Nam

Làng nghề với những hoạt động phát triển đã tạo nên những tác động tích cực và tiêu cực ảnh hưởng đến đời sống kinh tế xã hội và môi trường nông thôn Việt Nam với đặc thù hết sức đa dạng Cần phải nhìn nhận theo nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau thì mới có thể hiểu rõ được bản chất cũng như sự vận động của các loại hình kinh tế này và các tác động của nó gây ra với môi trường Để giúp cho công tác quản lý hoạt động sản xuất cũng như quản lý, bảo vệ môi trường và làm cơ sở thực tiễn để thấy được bức tranh tổng thể về làng nghề Việt Nam, có thể phân loại làng nghề theo một số dạng sau:

a Phân loại theo làng nghề truyền thống và làng nghề mới

Cách phân loại này cho thấy đặc thù văn hóa, mức độ bảo tồn của các làng nghề, đặc trưng cho các vùng văn hóa lãnh thổ (Đặng Kim Chi và nnk, 2005)

Làng nghề truyền thống:

Làng nghề truyền thống là làng nghề đã hình thành từ lâu đời, sản phẩm có tính cách riêng biệt đặc thù, có giá trị văn hóa lịch sử của địa phương được nhiều nơi biết đến, phương thức truyền nghề - cha truyền con nối hoặc gia đình, dòng

họ Cụ thể theo nghị định 66/NĐ-CP của chính phủ tiêu chí công nhận nghề truyền thống gồm: (1) Nghề đã xuất hiện tại địa phương trên 50 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận; (2) Nghề tạo ra những sản phẩm mang đậm bản sắc dân tộc; (3) Nghề gắn liền với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên

tuổi của làng nghề (Nghị định số 66/2006/NĐ - CP, ngày 7/7/2006)

Các làng nghề truyền thống không chỉ đóng góp vào sự phát triển kinh tế chung của đất nước, nó còn có ý nghĩa rất lớn đối với thế hệ đi trước và thế hệ trẻ sau Bởi vậy, chúng ta gìn giữ và phát triển làng nghề truyền thống chính là kế thừa và phát huy những giá trị văn hóa lâu đời của dân tộc Việt Nam

Trang 25

- Việc học tập kinh nghiệm của các làng nghề lân cận, của vài hộ nhạy bén đối với thị trường và có điều kiện đầu tư cho sản xuất

- Tự hình thành do nhu cầu mới của thị trường tiêu thụ sản phẩm và thị trường nguyên liệu sẵn có

Để nhận biết được làng nghề truyền thống và làng nghề mới năm 1954 tạm được lấy làm gốc Các làng nghề hình thành sau thời điểm này được coi là các làng nghề mới Làng nghề mới là làng có nghề mới phát triển trong khoảng thời gian từ năm 1954 trở lại đây nhưng chiếm ưu thế so với nghề nông như: làng cây cảnh, làng nghề cá cảnh, …

Các làng nghề mới chiếm phần lớn trong tổng số làng nghề ở nước ta Chủ yếu các làng nghề mới được hình thành do nhu cầu mới của thị trường, do sự lan tỏa từ các làng nghề khác lân cận hay hình thành từ việc tổ chức các quan hệ gia công cho các xí nghiệp lớn, cho các tổ chức kinh doanh xuất nhập khẩu…

Bên cạnh những làng nghề truyền thống, làng nghề mới thì có cả làng nghề khác “Khác” ở đây chính là những làng nghề truyền thống sản xuất thủ công đậm đà bản sắc dân tộc nhưng sau này làng nghề đã chuyển đổi sản xuất những sản phẩm mới, sử dụng công nghệ mới không liên quan đến sản phẩm và công nghệ truyền thống với kiểu làng nghề này thì điển hình nhất là làng nghề Đồng

Kỵ, trước đây làng nghề sản xuất pháo sau khi Nhà nước cấm sản xuất, đốt pháo, làng nghề đã chuyển sang làm đồ gỗ mỹ nghệ Đây là hướng chuyển tích cực vì khi chuyển sang nghề mới làng nghề đã gây được tiếng vang và trở thành làng nghề có thương hiệu lớn (Trần Duy Khánh, 2012)

b Phân loại làng nghề theo ngành sản xuất, loại hình sản phẩm

Các làng nghề truyền thống, làng nghề mới, dựa trên các tiêu chí khác nhau

có thể phân loại theo một số dạng như sau:

- Theo ngành sản xuất, loại hình sản phẩm;

- Theo quy mô sản xuất, quy trình công nghệ;

- Theo nguồn thải và mức độ ô nhiễm;

- Theo mức độ sử dụng nguyên/ nhiên liệu;

- Theo thị trường tiêu thụ sản phẩm, tiềm năng tồn tại và phát triển

Mỗi cách phân đều có những đặc thù riêng và tùy theo mục đích mà có thể lựa chọn cách phân loại phù hợp

Trang 26

Ngành nghề nông thôn Việt Nam rất đa dạng, theo ngành sản xuất và loại hình sản phẩm Tuy nhiên trong thực tế thường dựa trên các yếu tố tương đồng

về ngành sản xuất, sản phẩm, thị trường nguyên vật liệu và tiêu thụ sản phẩm để chia hoạt động làng nghề nước ta thành 6 nhóm ngành chính:

• Làng chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi và giết mổ

• Làng nghề dệt nhuộm, ươm tơ, thuộc da

• Làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng và khai thác đá

Hình 2.2 Biểu đồ phân loại làng nghề Việt Nam theo loại hình sản xuất

Nguồn: Bộ Tài nguyên và môi trường (2008)

A: vật liệu xây dựng và khai thác đá D: công nghệ thực phẩm, chăn nuôi, giết mổ

B: thủ công mỹ nghệ E: dệt nhuộm, ươm tơ, thuộc da

2.2.3 Những hoạt động của làng nghề tác động đến môi trường và sức khỏe

2.2.3.1 Những áp lực của hoạt động làng nghề đến môi trường

Bên cạnh những mặt tích cực, sự phát triển hoạt động sản xuất tại làng nghề cũng mang lại nhiều bất cập, đặc về vấn đề môi trường và xã hội Những tồn tại từ nhiều năm qua trong quá trình phát triển làng nghề có thể coi là một trong những nguyên nhân làm cho mất chất lượng môi trường nhiều làng nghề ngày càng suy giảm, ảnh hưởng không nhỏ không chỉ tới sự phát triển sản xuất

Trang 27

bền vững ở làng nghề, mà của cả nền kinh tế đất nước (Bộ Tài nguyên và môi trường, 2008)

*/ Quy mô sản xuất: Quy mô sản xuất nhỏ, phần lớn ở quy mô hộ gia đình

(chiếm 72% tổng số cơ sở sản xuất)

Quy mô sản xuất tại nhiều làng nghề là quy mô nhỏ, khó phát triển vì mặt bằng sản xuất chật hẹp xe kẽ với khu vực sinh hoạt Sản xuất càng phát triển thì nguy cơ lấn chiếm khu vực sinh hoạt, phát thải ô nhiễm tới khu dân cư càng lớn, dẫn đến chất lượng môi trường khu vực ngày càng xấu đi

*/ Trình độ của chủ hộ

Nếp sống tiểu nông của người chủ sản xuất nhỏ có nguồn gốc nông dân đã ảnh hưởng mạnh tới sản xuất tại làng nghề, làm tăng mức độ ô nhiễm môi trường Không nhận thức được tác hại lâu dài của ô nhiễm, chỉ quan tâm đến lợi nhuận trược mắt các cơ sở sản xuất tại làng nghề thường lựa chọn quy trình sản xuất tại làng nghề thường lựa chọn quy trình sản xuất thô sơ tận dụng nhiều sức lao động, trình độ thấp Hơn thế, nhằm hạ giá thành sản phẩm, tăng tính cạnh tranh nhiều cơ sở sản xuất còn sử dụng nhiên liệu rẻ tiền , hóa chất độc hại (kể cả

đã cấm sử dụng), không đầu tư phương tiện, dụng cụ bảo hộ lao động, không đảm bảo điều kiện lao động nên đã làm tăng mức độ ô nhiễm tại đây

*/ Quan hệ sản xuất mang đặc thù của quan hệ gia đình, dòng tộc làng xã

Nhiều làng nghề đặc biệt các làng nghề truyền thống, sử dụng lao động có tính gia đình, sản xuất theo kiểu bí truyền, giữ bí mật cho dòng họ, tuân theo hương ước không cải tiến áp dụng những tiến bộ khoa học kĩ thuật, nên đã cản trở việc áp dụng những tiến bộ khoa học kĩ thuật mới, không khyến khích sáng kiến mang hiệu quả bảo vệ môi trường của người lao động

*/ Công nghệ sản xuất và thiệt bị

Công nghệ sản xuất và thiết bị phần lớn ở trình độ lạc hậu, chắp vá, kiến thức tay nghề không toàn diện dẫn đến tiêu hao nhiều nhiên nguyên liệu, làm tăng phát thải nhiều chất ô nhiễm môi trường nước, đất, khí, ảnh hưởng tới giá thành sản phẩm và chất lượng môi trường Trình độ kĩ thuật ở các làng nghề chủ yếu là thủ công, bán cơ khí Hoàn toàn chưa có làng nghề nào có áp dụng tự động hóa bảng 2.1

Trang 28

Bảng 2.1 Trình độ kỹ thuật ở các làng nghề

Đơn vị : %

Trình độ kỹ thuật

Chế biến, nông, lâm, thủy sản

Thủ công mỹ nghệ và vật liệu xây dựng

Các ngành dịch vụ

Các ngành khác

Thủ công, bán cơ khí 61,51 70,69 43,90 59,44

Nguồn: Báo cáo môi trường quốc gia về làng nghề (2008)

*/ Vốn đầu tư của các cơ sở sản xuất tại các làng nghề quá thấp, khó có điều kiệnphát triển hoặc đổi mới công nghệ theo hướng thân thiện với môi trường:

Sản xuất mang tính tự phát, không có kế hoạch lâu dài, nên khó huy động tài chính và vốn đầu tư lớn từ các nguồn khác (quỹ tín dụng, ngân hàng) Do đó, khó chủ động trong đổi mới kỹ thuật và công nghệ, lại càng không thể đầu tư cho

xử lý môi trường

*/ Trình độ của người lao động

Trình độ người lao động thủ công, học nghề, văn hóa thấp, nên hạn chế nhận thức đối với công tác BVMT:

Theo điều tra của Bộ NN &PTNT thì chất lượng lao động và atrinhf độ chuyên môn kỹ thuật ở các làng nghề nhìn chung còn thấp, chủ yếu là lao động phổ thông, số lao động chỉ tốt nghiệp cấp I, cấp II chiếm trên 60% Mặt khác đa

số người lao động có nguồn gốc nông dân nên chưa ý thức về môi trường lao động, chỉ cần việc làm có thu nhập cao hơn thu nhập từ nông nghiệp hoặc bổ sung thu nhập trong những lúc nông nhàn, nên ngại học hỏi, không quan tâm tới BVMT (Bộ Tài nguyên và môi trường, 2008)

*/ Nhiều làng nghề chưa quan tâm tới xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho BVMT:

Cạnh tranh trong một số loại hình sản xuất đã thúc đẩy một số làng nghề đầu tư đổi mới công nghệ, kỹ thuật sản xuất.Tuy nhiên đây không phải là đầu tư cho kỹ thuật BVMT.Vì vậy hầu hết các cơ sở sản xuất trong làng nghề đều không

có các hệ thống xử lý chất thải trước khi thải ra ngoài môi trường

Trang 29

Hầu hết các làng nghề koong có đủ cơ sở hạ tầng kỹ thuật để thu gom và xử

lý chất thải đạt tiêu chuẩn môi trường, như không có hệ thống thu gom và xử lý nước thải, không có bãi chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh, không chú ý đầu tư phương tiện thu gom quản lý chất thải nguy hại Đây là một thách thức lớn vì để khắc phục điều này đòi hỏi nhiều kinh phí và thời gian

2.2.3.2 Những áp lực của hoạt động làng nghề đến sức khỏe cộng đồng

Tình trạng ô nhiễm môi trường như trên đã ảnh hưởng ngày càng nghiêm trọng đến sức khỏe của cộng đồng, nhất là những người tham gia sản xuất, sinh sống tại các làng nghề và các vung lân cận

Theo Báo cáo môi trường quốc gia năm 2008 cho thấy, tại nhiều làng nghề,

tỷ lệ người mắc bệnh (đặc biệt là nhóm người trong độ tuổi lao động) đang có xu hướng gia tăng Tuổi thọ trung bình của người dân tại các làng nghề ngày càng giảm, thấp hơn 10 năm so với làng không làm nghề Ở các làng tái chế kim loại,

tỷ lệ người mắc bệnh (đặc biệt là nhóm người trong độ tuổi lao động) đang có xu hướng gia tăng Tuổi thọ trung bình của người dân tại các làng nghề Ở các làng nghề tái chế kim loại, tỷ lệ người mắc bệnh ung thư, thần kinh rất phổ biến, nguyên nhân gây bệnh chủ yếu là do sự phát thải khí độc, nhiệt cao và bụi kim loại từ sản xuất

Tại các làng sản xuất kim loại, tỷ lệ người mắc bệnh liên quan đến thần kinh, hô hấp, ngoài da, điếc và ung thư chiếm tới 60% dân số Tại các làng nghề chế biến nông sản thực phẩm, bệnh phụ khoa chiếm chủ yếu (13 - 38%), bệnh

về đường hô hấp và đường tiêu hóa (8 – 30%), bệnh viêm da (4,5 – 23%), bệnh đường hô hấp (6 – 18%), bệnh đau mắt (9 – 15%) Tỷ lệ mắc bệnh nghề nghiệp

ở làng nghề Dương liễu 70%, làng bún Phú Đô là 50% (Nguyễn Thị Liên Hương, 2006)

Các làng nghề khác nhau thì các triệu trừng bệnh và tỉ lệ về số người mắc bệnh nghề nghiệp khác nhau Ở các làng nghề cơ khí, đúc, sản xuất nguyên vật liệu do sử dụng lượng than lớn nên tỷ lệ người mắc bệnh phổi và phế quản cao

Ở làng nghề tẩy nhuộm vải sợi, mạ kim loại sử dụng nhiên liệu hóa chất độc hại, kim nặng thì tỷ lệ mắc bệnh ung thư cao, tuổi thọ giảm Các làng nghề gây ô nhiễm nguồn nước như chế biến lương thực, mây tre đan, chế biến gỗ thì tỉ lệ người mắc bệnh ngoài da, các bệnh đau mắt và bệnh phụ khoa tăng Những làng nghề gây ra tiếng ồn lớn thì tỷ lệ mắc bệnh thần kinh, bệnh não cao, tuổi thọ của con người ngày càng giảm

Trang 30

Theo kết quả điều tra của Bộ Y tế năm 2012, tại 30 cơ sở làng nghề thuộc tỉnh Bắc Ninh, Hưng Yên, Đà Nẵng phổ biến là mỹ nghệ, mây tre đan, dệt may, chế biến lương thực thực phẩm và vật liệu xây dựng Các bệnh tật trong các hộ gia đình làng nghề gồm: Đau lưng, đau cột sống, đau bụng, hội chứng đau dạ dày, viêm phế quản, viêm phổi, viêm da, dị ứng, đau mắt Các nguy cơ mà người lao động tiếp xúc tại làng nghề ở Bắc Ninh: 95% tiếp xúc với bụi; 85,9% với nóng; 59,65% hóa chất; 58,9% tai nạn Tại làng nghề đúc nhôm, chì, kẽm Văn Môn, bệnh hô hấp chiếm 44,45%; bệnh da liễu là 13,45% trong tổng số người điều tra

Các làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm thì các hóa chất, vi sinh vật, nước thải, chất thải, bức xạ nhiệt là những nguyên nhân gây bệnh cho người lao động Đáng chú ý, Coliform trong nước thải, nước bề mặt và nước ngầm rất cao,

là nguyên nhân gây các bệnh có tổn thương ở da, niêm mạc mắt, mũi và đường tiêu hóa Theo khảo sát của Tổng cục Môi trường năm 2008, tại làng nghề Dương Liễu (Hà Nội), loét chân tay chiếm tỷ lệ 19,7%; 9,43% có triệu chứng bệnh hô hấp; 0,86% có tổn thương ở mắt; 4,28% có bệnh đường tiêu hóa

Tại các làng nghề dệt may, bệnh lý hô hấp, thần kinh, tai, mũi, họng chiếm

ưu thế do bụi, tiếng ồn, tư thế làm việc Theo kết quả điều tra tại làng nghề Vạn Phúc (Hà Đông) năm 2000, hội chứng suy nhược thần kinh chiếm tỷ lệ 46%, hội chứng rối loạn tiêu hóa chiếm tỷ lệ 12%, bệnh tật hệ xương khớp chiếm tỷ lệ 29%

Các làng nghề vật liệu xây dựng và các làng nghề thủ công mỹ nghệ: Bụi

đá, sơn, dầu, hóa chất độc hại như aceton, xylen, benzen là nguyên nhân gây nên các bệnh lý đường hô hấp, tiêu hóa, tai, mũi, họng và thần kinh Theo Trung tâm Y tế Ngũ Hành Sơn (Đà Nẵng) năm 2006, tại làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước có 14% bị bệnh ngoài da; 15,1% có dấu hiệu bệnh lý thần kinh; 4,6% có bệnh đường tiêu hóa; 8,4% có bệnh lý tai, mũi, họng

Ô nhiễm làng nghề là nguyên nhân gây ra các bệnh, dịch cho người dân lao động và sinh sống ở chính làng nghề.xu hướng này đang gia tăng trong những năm gần đây Ô nhiễm môi trường làng nghề cũng làm giảm năng suất nông nghiệp tại các địa phương, tác động xấu trực tiếp tới các hoạt động phát triển kinh tế xã hội; gây ra các tổn thất kinh tế không nhỏ và dẫn tới xung đột môi trường làng nghề

Trang 31

2.2.4 Hiện trạng sức khỏe cộng đồng tại các làng nghề Việt Nam

2.2.4.1 Lao động và các vấn đề về bệnh nghề nghiệp liên quan đến làng nghề

Từ lâu, vấn đề về an toàn lao động trong các làng nghề được nhắc đến nhiều, song tình trạng tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp vẫn không giảm đáng

kể Nguyên nhân chủ yếu là do nhiều chủ cơ sở sản xuất không quan tâm đến việc trang bị phương tiện bảo hộ cho người lao động Thậm chí, chính bản thân người lao động còn thờ ơ với việc tự bảo vệ mình

Một số liệu thống kê của các tổ chức chuyên ngành cho biết, hơn 90% người lao động nông nghiệp và làng nghề tiếp xúc các yếu tố nhiệt, bụi là 65,89%, tiếng ồn: 48,8%, hóa chất: 59,5% Đối với tai nạn lao động và bệnh tật thì những nguy cơ gây bỏng, đứt tay chân, điện giật, bệnh hô hấp, bệnh ngoài da, tiêu hóa, phụ khoa luôn chiếm tỷ lệ cao Cụ thể, hơn 50% số người lao động tại các làng nghề bị nhiễm bệnh liên quan đến hô hấp

Tình trạng bệnh nghề nghiệp, số vụ tai nạn lao động ngày càng có xu hướng gia tăng tại các làng nghề, một phần do chủ các cơ sở không đầu tư máy móc, thiết bị có độ an toàn cao Theo đánh giá của ngành chức năng, máy móc sử dụng trong sản xuất tại các làng nghề phần lớn không đảm bảo an toàn Phần lớn máy móc không có tài liệu kỹ thuật để hướng dẫn, vận hành an toàn thiết bị Ngoài ra, còn có các máy tự chế, tự lắp ráp từ các bộ phận cũ, chắp vá, nhiều chi tiết hỏng không được thay thế, sửa chữa Do vậy, nguy cơ gây ra các vụ tai nạn lao động

là rất lớn Hoặc thậm chí, có người được trang bị đầy đủ các dụng cụ bảo hộ lao động nhưng vẫn chủ quan không sử dụng dẫn đến những tai nạn đáng tiếc

Đây là thực trạng chung trong việc sử dụng lao động tại hầu hết các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất ở các làng nghề Môi trường sản xuất hiện nay rất thiếu an toàn, bản thân người sử dụng lao động chưa ý thức trong việc cần phải thực hiện trách nhiệm của mình, dẫn đến những tai nạn lao động đáng tiếc Đáng tiếc hơn, những người chịu tổn thất hầu hết đều là người nghèo, người thu nhập thấp Theo các chuyên gia ngành y tế, việc bảo đảm sức khỏe cho người lao động tại các làng nghề cần phải có sự kiểm tra, theo dõi chặt chẽ hơn Với lao động tại các làng nghề truyền thống, nhất là các làng nghề có nguy cơ ô nhiễm cao, việc khám sức khỏe cho người lao động phải được tiến hành định kỳ hàng năm Đồng thời, người lao động cần tuân thủ các quy định về an toàn lao động, vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm để tự bảo vệ sức khỏe của mình

Trang 32

2.2.4.2 Các nhóm bệnh tật đặc trưng tại các làng nghề

Theo một khảo sát mới đây của Bộ LĐ- TB&XH, qua những lượt người đến khám- chữa bệnh tại các làng nghề thì có khoảng 31% số NLĐ tại các làng nghề bị mắc bệnh liên quan đến nghề nghiệp, trong đó chủ yếu là các bệnh về đường hô hấp (32,6%), bệnh về mắt (29,7%), bệnh điếc tiếng ồn (11,3%), bệnh tim mạch (18%)

2.3 TỔNG HỢP TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ XỬ LÝ CHẤT THẢI LÀNG NGHỀ

2.3.1 Tổng quan về chất thải rắn nói chung và chất thải rắn làng nghề nói riêng

Chất thải rắn còn được gọi là chất thải rắn, là các chất thải rắn bị loại ra trong quá trình sống, sinh hoạt, hoạt động sản xuất của con người và động vật Bao gồm các loại chất thải phát sinh từ các hộ gia đình, khu công nghiệp, làng nghề, khu thương mại, chợ, các công trình xây dựng, hoạt động nông nghiệp, chăn nuôi hay chính từ khu xử lý chất thải Tùy theo dạng vật chất, nguồn phát sinh, mức độ nguy hại, thành phần, tính chất của chất thải mà có nhiều cách phân loại khác nhau, bao gồm chất thải hữu cơ, chất thải vô cơ, chất thải nguy hại hay không nguy hại, chất thải công nghiệp, chất thải bệnh viện, chất thải sinh hoạt Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, cùng với nhiều chính sách phát triển kinh tế đã làm cho tốc độ phát triển kinh tế của nước ta phát triển nhanh chóng trong các năm qua Quá trình tăng trưởng cao về kinh tế đã tạo thêm nhiều việc làm cho người dân, tăng thu nhập, nâng cao mức sống kéo theo các nhu cầu nhằm đáp ứng cho cuộc sống người dân như nhu cầu tiêu dùng hàng hóa, sử dụng các dịch vụ, giao thông vận tải, không ngừng tăng cao Cùng với tốc độ gia tăng dân số nhanh như hiện nay, thì lượng chất thải rắn hằng ngày phát sinh cũng tăng theo tốc độ phát triển đó đã làm nảy sinh các nguy cơ tiềm ẩn cũng như gây sức ép lớn đến môi trường

Đối với các làng nghề ở Việt Nam chiếm một phần đáng kể trong nguồn phát sinh chất chất thải rắn nông thôn Sự phát triển mạnh mẽ các làng nghề mang lại lợi ích to lớn về kinh tế - xã hội cho các địa phương Tuy nhiên, sự phát triển đó cũng tạo ra sức ép lớn đối với môi trường khi tạo ra lượng chất thải rắn lớn

Hiện nay, cả nước có 1.324 làng nghề được công nhận và 3.221 làng có nghề Hoạt động sản xuất nghề nông thôn đã tạo ra việc làm cho hơn 11 triệu lao

Trang 33

động, thu hút khoảng 30% lực lượng lao động nông thôn Làng nghề phân bố không đồng đều giữa các vùng, miền Miền Bắc có khoảng 60%, miền Trung 30% và miền Nam 10% Trong đó các làng nghề có quy mô nhỏ, trình độ sản xuất thấp, thiết bị cũ và công nghệ lạc hậu chiếm phần lớn vì vậy đã và đang làm nảy sinh nhiều vấn đề môi trường tại các làng nghề (Bộ Tài nguyên và môi trường, 2008)

Chất thải rắn làng nghề gồm nhiều chủng loại khác nhau, mang tính đặc thù của từng loại hình sản xuất Có thể thấy chất thải làng nghề bao gồm các thành phần chính như phế phụ phẩm nông nghiệp, lương thực, chai lọ thủy tinh, nhựa, nilon, vỏ bao bì, gỗ, gốm sứ, kim loại

- Làng nghề chế biến lương thực, thực phầm: Chủ yếu việc chế biến nông sản sau khi thu hoạch bị loại bỏ sau quá trình chế biến, phế phụ phẩm bị ôi thiu,

vỏ sắn, xơ sắn, bã dong, đao, bã đậu, xĩ than, phân gia súc trong chăn nuôi Chất thải trong nghề chế biến lương thực thực phẩm rất đa dạng Nhìn chung chất thải trong nghề chế biến lương thực thực phẩm là những chất hữu cơ dễ bị phân hủy Trong khu vực các làng nghề này thường có thêm ngành nghề chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi thuỷ sản để tận thu các nguồn nguyên liệu còn thừa ra Chất thải của ngành nghề chăn nuôi gia súc, gia cầm chất thải chủ yếu là chất hữu cơ, định mức chất thải rắn đối với gia súc, gia cầm (lợn thải ra 1,5 kg/con/ngày, gà, vịt, ngan thải ra 0,1 kg/con/ngày, trâu, bò thải ra 3 kg /con/ngày) Chất thải ngành chăn nuôi là những chất hữu cơ dễ bị phân hủy, gây ô nhiễm môi trường, tạo mùi khó chịu, nếu không được xử lý tốt sẽ gây ô nhiễm cả 3 môi trường: đất, nước và không khí

.- Làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng: Tại các làng sản xuất vật liệu xây dựng ở nước ta hiện nay, công nghệ sản xuất còn thô sơ, tỷ lệ cơ khí hoá thấp, lao động giản đơn là chủ yếu, sản xuất vật liệu tiêu thụ một lượng rất lớn nhiên liệu

là than và củi Trong quá trình khai thác nguyên liệu cho sản xuất gạch ngói thiếu quy hoạch, tỷ lệ sử dụng nguyên liệu thấp đã để lại lượng chất thải rắn thải xây dựng tương đối lớn, thường tạo ra các chất thải rắn (xỉ than, gạch vỡ, gạch phồng, đất đá thải do khai thác khoáng sản

- Làng nghề tái chế phế thải: Làng nghề tái chế phế thải gồm: tái chế giấy, tái chế kim loại, tái chế nhựa , là một ngành mới được hình thành tuy nhiên trong những năm qua đã phát triển khá nhanh Tại các làng nghề tái chế phế thải,

Trang 34

lượng chất thải rắn tương đối lớn do đặc điểm sử dụng nguyên liệu tái chế cùng từng cơ sở Các chất thải phát sinh trong quá trình tái chế như sau:

+ Từ ngành tái chế giấy: tro xỉ, bột giấy, đinh ghim, nilon, giấy phế liệu + Từ các nghề tái chế nhựa: Nhựa phế liệu (nhựa không đủ phẩm chất tái chế) các tạp chất lẫn trong nhựa, tro, xỉ than

+ Từ các làng nghề tái chế kim loại: các tạp chất phi kim loại (nilon, nhựa, cao su ) bị loại bỏ, kim loại không đủ tiêu chuẩn tái chế, tro xỉ than từ quá trình nấu kim loại

- Làng nghề dệt nhuộm: Trong cơ cấu làng nghề dệt nhuộm nói chung, nghề nhuộm chiếm một vị trí quan trọng Hoạt động của các làng nhuộm không chỉ tạo

ra những giá trị về mặt kinh tế xã hội, mà còn tạo ra những giá trị văn hóa tinh thần sâu sắc Tuy nhiên vấn đề nổi cộm là nước thải, chất thải rắn chưa trở nên bức xúc Chất thải rắn gồm xỉ than từ các lò hơi, vỏ chai lọ, thùng đựng hóa chất, hóa chất nhuộm, các loại xơ vải, vải vụn

- Làng nghề ươm tơ: theo tính toán để sản xuất 1kg kén tơ cần sử dụng 1,5

kg than, 0, 08 kg củi, 01 tạ kén sử dụng 1m3 nước, chất thải phát sinh từ sản xuất

tơ tằm, nước thải có chứa các chất hữu cơ, nitơ, tơ sợi vì thế nước thải dễ phân huỷ và gây mùi khó chịu tại khu vực làng nghề này Ô nhiễm không khí từ các lò hơi, các lò than sinh ra bụi và các khí độc

- Làng nghề thủ công mỹ nghệ: Các làng nghề này hiện tượng ô nhiễm môi trường nước diễn ra ít nghiêm trọng như các làng nghề chế biến nuôi trồng thủy sản và các làng nghề tái chế Tuy nhiên, sản xuất tại các làng nghề này lại thường xuyên gây ra bụi và tiếng ồn lớn, hoặc gây ra khí độc khi tẩm sấy các đồ mây, tre đan Các loại chất thải rắn phát sinh như gỗ vụn, gỗ mảnh, mùn cưa, dăm bào, vỏ trai, giấy giáp thải, hôp đựng các dung môi (hộp sơn, hộp vecni) Tuy nhiên lượng thải thường không lớn, khoảng 20-30kg/cơ sở/ tháng và thường có khả năng tái chế

2.3.2 Tình hình quản lý chất thải rắn tại các làng nghề ở Việt Nam

2.3.2.1 Ban hành và thực thi văn bản pháp lý

Ô nhiễm môi trường làng nghề ở nước ta hiện nay vẫn đang là vấn đề nổi cộm Trong những năm qua do sự phát triển mang tính tự phát lại thiếu quy hoạch, không có các giải pháp kỹ thuật về môi trường nên tình trạng ô nhiễm môi trường ở các làng nghề rất phổ biến

Trang 35

Về mặt quản lý, Nhà nước đã ban hành các văn bản để bảo vệ môi trường các làng nghề như:

- Nghị quyết 41-NQ/TW ngày 15/1/2004 của Bộ chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước;

- Quyết định số 34/2005/QĐ-TTg ngày 22/2/2005 của Thủ tướng Chính Phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 41-NQ/TW của Bộ chính trị;

- Luật Bảo vệ môi trường số 52/2005/QH11 được Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005;

- Nghị định số 80/2006//NĐ- CP ngày 09/8/2006 của Chính phủ về quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Bảo vệ môi trường;

- Nghị định số 21/2008/NĐ-CP ngày 28/02/2008 của Chính phủ về sửa đổi,

bổ sung một số điều của Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 8 năm

2006 của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường;

- Nghị định số 29/2011/NĐ-CP ngày 18/04/2011 quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường

- Nghị định số 179/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ về xử lý

vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường;

- Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 09/4/2007 của Chính phủ về quản lý chất thải rắn;

- Nghị định số 174/2007/NĐ-CP ngày 29/11/2007 của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn thải;

- Nghị định số 04/2009/NĐ-CP ngày 14/01/2009 của Chính phủ về ưu đãi,

hỗ trợ hoạt động bảo vệ môi trường;

- Nghị quyết 35/NQ-CP ngày 18/03/2013 của Chính phủ Về một số vấn đề cấp bách trong lĩnh vực bảo vệ môi trường;

- Chỉ thị 29-CT/TW ngày 21/1/2009 của Ban Bí thư về việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị Quyết 41-NQ/TW của Bộ Chính trị;

- Thông tư số 13/2007/TT-BXD ngày 31/12/2007 Hướng dẫn một số điều của Nghị định 59/2007/NĐ-CP ngày 9/4/2007 của Chính phủ về quản lý chất thải rắn;

Trang 36

- Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT ngày 30/6/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về quản lý chất thải nguy hại;

- Thông tư số 46/2011/TT-BTNTM ngày 26/12/2011 quy định về bảo vệ môi trường làng nghề;

Chính phủ có quy hoạch và định hướng phát triển các cơ sở ngành nghề nông thôn đảm phát triển bền vững, giữ gìn tốt vệ sinh môi trường nông thôn, khuyến khích việc tiêu thụ và sử dụng các sản phẩm từ nguồn nguyên liệu tự nhiên trong nước nhằm hạn chế một phần tác hại đến môi trường của các sản phẩm chất thải hoá chất nhựa công nghiệp UBND tỉnh thành phố trực thuộc trung ương có tchất thải rắnh nhiệm quy hoạch chi tiết phát triển làng nghề chỉ đạo huyện xây dựng các cụm tiểu thủ công nghiệp quy mô nhỏ để tạo mặt bằng cho các cơ sở ngành nghề nông thôn phát triển đảm bảo vệ sinh môi trường

2.3.2.2 Hiện trạng quản lý chất thải rắn làng nghề

Hiện nay tình hình thực thi pháp luật bảo vệ môi trường tại các làng nghề ở Việt Nam còn rất nhiều bất cập, yếu kém - Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc khó kiểm soát ô nhiễm môi trường tại các làng nghề ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Thực tiễn cho thấy hầu hết các làng nghề sản xuất, kinh doanh chỉ quan tâm nhiều đến lợi nhuận kinh tế mà lờ đi yếu tố bảo vệ môi trường, giữ gìn môi trường trong lành cho cộng đồng Điều này đang trở thành tình trạng phổ biến hiện nay Tình hình ô nhiễm làng nghề tại các tỉnh thành đang rất nghiêm trọng, nhất là khu vực các tỉnh phía Bắc, Bắc Trung Bộ như: Hà Nội, Bắc Ninh, Quảng Nam, Đồng Nam….(Lê Kim Nguyệt, 2012) Theo thống kê, tỷ lệ thu gom chất thải rắn ở nông thôn và làng nghề thì có khoảng 60% số thôn hoặc xã tổ chức thu dọn định kỳ, trên 40% thôn, xã đã hình thành các tổ thu gom chất thải rắn thải tự quản Tỷ lệ thu gom CTR sinh hoạt tại khu vực nông thôn mới đạt khoảng 40 - 55% (Bộ Tài nguyên và môi trường, 2011)

2.4 TỔNG QUAN VỀ LÀNG NGHỀ CHẾ TÁC ĐÁ Ở VIỆT NAM VÀ CÁC BỆNH TẬT LIÊN QUAN

2.4.1 Tổng quan về làng nghề chế tác đá ở Việt Nam

Thời kỳ đồ đá đã lùi xa vào quá khứ nhường chỗ cho thời kỳ đồ điện tử, thế nhưng ngày nay trong mỗi gia đình người dân đất Việt vẫn còn không ít những vật dụng bằng đá tồn tại song hành cùng thời gian Từ xa xưa, nghề khai

Trang 37

thác và chế tác các sản phẩm dân dụng, mỹ nghệ từ đá đã phát triển khá mạnh, ban đầu cũng chỉ sản xuất những mặt hàng phục vụ nhu cầu đời sống hàng ngày như chày, cối đá, bia mộ, Nhưng càng về sau nghề này càng phát triển, kỹ nghệ chế tác càng điêu luyện tinh xảo hơn mới phát triển sang chế tác mỹ nghệ, điêu khắc, tạc tượng đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường

Sản phẩm của làng đá hiện nay hết sức đa dạng phong phú về đề tài, chủng loại kích cỡ, từ những vật dụng hàng ngày như cốc, chén, ấm trà bằng đá…đến các tượng lân, rồng, sấu đá,… cho các chùa, rồi đến những tượng nhân

sư, thần Vệ Nữ, danh nhân đất Việt, danh nhân thế giới, Phật Di Lặc, Phật bà Quan Âm, Sư tử, Hổ, Báo, Đại bàng Có tượng chỉ bằng ngón tay, có tượng to bằng người thật hết sức tinh xảo sinh động Sản phẩm của các làng đá không chỉ

có đá xây dựng ốp lát, xây tường, móng kè… và những vật dụng đơn giản mà còn có đá mỹ nghệ với những sản phẩm tinh xảo như: voi đá, ngựa đá, tòa sen, tượng phật, chân cột đình, bia văn tự, đỉnh lư hương, tháp nhang sân chùa, nhịp cầu bằng đá,… được lưu dấu ấn ở các công trình văn hoá, lịch sử như chùa Báo

Ân, điện Lam Kinh, thành nhà Hồ, Kinh thành Thăng Long, Văn Miếu - Quốc

Tử Giám, chùa Diên Hựu, nhà thờ đá Phát Diệm,… mà còn xâm nhập vào nhiều thị trường lớn như Mỹ, Úc, Nhật Bản, Malaysia, Indonesia, Đài Loan (Trung Quốc), Châu Âu nên chất lượng, mẫu mã, độ tinh xảo ngày càng được nâng cao hơn rất nhiều và được nhân dân các nước ưa chuộng, tin dùng

Ngoài những làng nghề chế tác đá nổi tiếng từ thời xa xưa như làng nghề Ninh Vân (Hoa Lư, Ninh Bình), làng nghề Non Nước (Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng), làng nghề Đông Sơn (Thanh Hoá),…hiện nay với sự phát triển của kinh tế thị trường và chủ trương phát triển làng nghề của nhà nước, với sự kế thừa những tinh hoa của các làng nghề truyền thống kết hợp với công nghệ hiện đại, các làng nghề chế tác đá mới cũng đã xuất hiện trên khắp mọi miền của đất nước như: làng đá Long Châu (Chương Mỹ, Hà Nội), Đại Lộc (Quảng Nam), Suối Giàng (Văn Chấn, Yên Bái), Hải Lựu (Sông Lô, Vĩnh Phúc),…cũng như nhiều công ty

đá mỹ nghệ khác: công ty TNHH đá mỹ nghệ Thái Bình, Công ty TNHH xây

dựng Đồng Tiến (thị xã Quảng Trị), Công ty TNHH Thái Thùy Linh (Chương

Mỹ, Hà Nội),…

Nghề đá phát triển, thu nhập bình quân của người dân làm nghề tạc đá ngày càng ổn định và khấm khá hơn

Trang 38

Tuy nhiên, để trở thành một làng nghề có quy mô lớn, phát triển theo hướng bền vững và đủ sức vươn ra thị trường trong và ngoài nước, nghề đá cần

có sự hỗ trợ nhiều mặt từ chính quyền địa phương và các ngành chức năng ở tỉnh

và huyện Trong đó, các giải pháp về quy hoạch, thu hút đầu tư, xúc tiến thương mại, cải tiến mẫu mã, công nghệ, môi trường, an toàn vệ sinh lao động, bệnh nghề nghiệp,…là những yếu tố cần xem xét và thực thi một cách đồng bộ với những bước đi thích hợp Được như vậy, nghề khai thác và sản xuất các sản phẩm từ đá sẽ góp phần đắc lực vào công tác giải quyết việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp- nông thôn ở địa phương (Tổng cục môi trường, 2012)

Quá trình sản xuất đá đã gây ảnh hưởng đến môi trường làng nghề đặc biệt

là môi trường không khí Môi trường nước bị ảnh hưởng bởi bui lơ lửng và axit

sử dụng trong quá trình sản xuất.Tuy nhiên mức độ ảnh hưởng của môi trường nước đến sức khỏe người dân không nhiều Không chỉ chịu ảnh hưởng nước thải

mà hàng ngày hàng giờ, người dân làng nghề đá phải chịu đựng những tác động đến sức khỏe từ môi trường không khí bị ô nhiễm với hàm lượng bụi đá tương đối lớn và tiềng ồn tương đối cao Theo kết quả phân tích môi trường làng nghề khu vực môi trường không khí xung quanh và khu vực sản xuất đều bị ô nhiễm bụi, riêng tiếng ồn chỉ có dấu hiệu ô nhiễm ở khu vực sản xuất

- Tác động đến sức khỏe của yếu tố vi khí hậu: Trong môi trường làm việc,

vi khí hậu là một yếu tố vật lý bao gồm nhiệt độ, nhiệt bức xạ, gió và độ ẩm Yếu

tố vi khí hậu tác động đáng kể đến môi trường và tình trạng sức khỏe người lao động Khi người lao động làm việc trong điều kiện vi khí hậu nóng, thân nhiệt tăng lên 380C là một trong những nguyên nhân dẫn đến các triệu trứng như say nắng Ngoài ra làm việc trong môi trường nắng nóng người lao động còn giảm sự chú ý, giảm tốc độ phản xạ do đó đẽ bị chấn thương do tai nạn lao động

Trang 39

Người lao động làm việc trong môi trường ẩm thấp đẽ bị bệnh dị ứng, hen phế quản, làm giảm sức đề kháng miễn dịch gây ra các bệnh viêm nhiễm đường

hô hấp, bệnh thấp khớp

- Tác động đến sức khỏe của yếu tố ánh sáng: Ánh sáng cao làm cho nhiệt

độ tại các vị trí làm việc nắng nóng, gây nên tác hại đến cơ thể như say nóng, làm biến đổi các chức năng sinh lý của người lao động, ánh sáng không phù hợp ảnh hưởng đến mắt, gây tổn thương võng mạc, nếu tiếp xúc thời gian dài có thể đục nhân mắt Người lao động làm việc với ánh sáng cao có thể gây sạm da, ban đỏ,

da khô mất khả năng đàn hồi và có nguy cơ gây bệnh ung thư da

- Tác động đến sức khỏe của tiếng ồn: Ô nhiễm tiếng ồn trong sản xuất là một vấn đề lớn, ảnh hưởng đến sức khỏe người lao động Tiếng ồn là nguyên nhân chính gây suy giảm thính giác của người dân và người lao động, làm mất khả năng tập trung, gia tăng các bệnh tim mạch, huyết áp ở người già Tiếng ồn kéo dài với cường độ cao ảnh hưởng đến chất lượng giấc ngủ, khả năng nghỉ ngơi tái tạo sức lao động của con người kéo theo đó là hệ lụy của những bệnh nghề nghiệp do suy giảm sức khỏe miễn dịch, căng thẳng thần kinh Tiếng ồn phát sinh trong các hộ sản xuất của làng nghề đá từ các máy mài, cưa và máy tiện sản phẩm đá Tác hại của tiếng ồn là gây mệt mỏi thính lực, đau tai, mất thăng bằng, giật mình, mất ngủ, loét dạ dày, tăng huyết áp, hay cáu giận Tiếng ồn gây ra một trong những bệnh nghề nghiệp được nhà nước công nhận

- Tác động do rung động do các thiết bị trong môi trường lao động: Làng nghề đá sử dụng rất nhiều các thiết bị phát sinh rung động như máy mài cầm tay, máy doa cầm tay, máy khoan cầm tay, máy cắt cầm tay ảnh hưởng đến sức khỏe của người lao động Ảnh hưởng của rung động trong quá trình làm việc là gây tổn thương các khớp xương, khớp cổ tay, khuỷu tay Đồng thời, người lao động làm việc lâu dài gây tổn thương xương, gai xương hay khuyết xương Ngoài ra rung động còn gây cho người lao động tổn thương cơ, thần kinh, có thắt mạch ở các ngón tay do sử dụng các thiết bị cầm tay

- Tác động đến sức khỏe do bụi đá:

Trong quá trình sản xuất của làng nghề phát sinh rất nhiều bụi và các mảnh

đá vụn như quá trình tạo phôi, đục, đẽo, tiện, mài sản phẩm mà cơ sở thì chât hẹp

và hầu hết không có hệ thống thông gió Các hộ sản xuất có dùng nước để giảm bụi trong quá trình cắt, gọt nhưng không giảm được hết lượng bụi Ngoài ra, có

Trang 40

một số cơ sở sản xuất sản xuất đá sa thạch (có màu đen) không dùng nước để giảm bụi nên lượng bụi phát sinh rất lớn Ô nhiễm bụi là một trong những nguyên nhân gây ra các bệnh liên quan đến đường hô hấp và một số bệnh nghề nghiệp như bụi phổi

Hình 2.3 Các yếu tố môi trường tại làng đá Non Nước ảnh hưởng đến sức

khoẻ cộng đồng

2.4.2.2 Các bệnh tật liên quan

Trong quá trình sản xuất và sinh hoạt tại các làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng, người dân phải trực tiếp sống trong môi trường có nồng độ bụi, tiếng ồn lớn, các khí độc cao nên tỷ lệ mắc bệnh về đường hô hấp, bệnh về da rất cao Một số bệnh điển hình tại các làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng và khai thác đá như bệnh tai mũi họng, bệnh hô hấp, bệnh mắt, bệnh thần kinh mệt mỏi, rối loạn tâm thần Tỷ lệ mắc bệnh tại các làng nghề này rất cao Theo số liệu điều tra của Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường (8-12/2002), tại làng nghề Đông Tân - Thanh Hóa, làng nghề Kiện Khê - Hà Nam, tỷ lệ mắc bệnh do nghề nghiệp là hơn 50%

Các yếu tố vật lý

- Tiếng ồn, khí hậu

- Gánh nặng công việc

- Ánh sáng, bức

Sức khỏe

Các yếu tố tai nạn

Tình trạng nguy hiểm, thảm họa tự

thương tích

Các yếu tố tâm lý

Stress, công việc

lặp đi lặp lại, tiền

Ngày đăng: 18/11/2018, 11:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w