1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

đánh giá hiện trạng và đề xuất một số biện pháp bảo vệ môi trường tại khu công nghiệp hoàng long, phường tào xuyên, thành phố thanh hóa, tỉnh thanh hóa

82 282 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 3,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay KCN Hoàng Long chưa được nghiên cứu, đánh giá một cách đầy đủ và khoa học về hiện trạng môi trường để từ đó đề xuất những biện pháp, giải pháp nhằm giảm thiểu ô nhiễm, giảm thiể

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN TRƯỜNG GIANG

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT

MỘT SỐ BIỆN PHÁP BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI

KHU CÔNG NGHIỆP HOÀNG LONG,

PHƯỜNG TÀO XUYÊN, THÀNH PHỐ THANH HÓA,

TỈNH THANH HÓA

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thế Bình

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Tôi cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Nguyễn Trường Giang

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Thế Bình, người

đã trực tiếp hướng dẫn tôi rất tận tình, chu đáo trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các thầy giáo, cô giáo Khoa Tài nguyên Môi trường, Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam đã dành nhiều tâm huyết để truyền đạt những kiến thức quý báu về chuyên ngành khoa học môi trường cho chúng tôi

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn toàn thể cán bộ, chuyên viên Trung tâm Quan trắc bảo vệ môi trường, Chi cục Bảo vệ Môi trường thuộc Sở TNMT tỉnh Thanh Hóa; BQL Khu công nghiệp Hoàng Long, Cán bộ Ban Quản lý Khu kinh tế Nghi Sơn và các khu công nghiệp tỉnh Thanh Hóa chủ đầu tư KCN Hoàng Long đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình khảo sát, thu thập thông tin và tài liệu liên quan để xây dựng luận văn

Cuối cùng tôi muốn gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè tôi, những người đã luôn động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và rèn luyện tại Học viện Nông Nghiệp Việt Nam

Tác giả luận văn

Nguyễn Trường Giang

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Danh mục chữ viết tắt vi

Danh mục bảng vii

Danh mục hình viii

Trích yếu luận văn ix

Thesis abstract xi

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Phạm vi nghiên cứu 2

1.4 Những đóng góp mới, khoa học và thực tiễn 2

Phần 2 Tổng quan tài liệu 3

2.1 Thực trạng phát triển các khu công nghiệp 3

2.1.1 Thực trạng phát triển KCN trên thế giới 3

2.1.2 Thực trạng phát triển KCN ở Việt Nam 5

2.1.3 Thực trạng phát triển khu công nghiệp ở Thanh Hóa 6

2.2 HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG TẠI CÁC KCN 9

2.2.1 Hiện trạng môi trường tại các KCN trên thế giới 9

2.2.2 Hiện trạng môi trường tại các KCN tại Việt Nam 10

2.2.3 Hiện trạng môi trường KCN trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa 16

2.3 Thực trạng quản lý môi trường tại các khu công nghiệp 18

2.3.1 Thực trạng quản lý tại các KCN trên Thế Giới 18

2.3.2 Thực trạng quản lý môi trường tại Việt Nam 21

2.3.3 Hệ thống văn bản quản lý tại các KCN 22

Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 27

3.1 Địa điểm nghiên cứu 27

3.2 Thời gian nghiên cứu 27

3.3 Đối tượng, vật liệu nghiên cứu 27

Trang 5

3.4 Nội dung nghiên cứu 27

3.4.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, Kinh tế xã Hội 27

3.4.2 Thực trạng hoạt động của KCN 27

3.4.3 Hiện trạng môi trường KCN 27

3.5 Phương pháp nghiên cứu 27

3.5.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 27

3.5.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 28

3.5.3 Phương pháp khảo sát, lấy mẫu hiện trường 28

3.5.4 Phương pháp lấy mẫu, chỉ tiêu phân tích, phương pháp phân tích 31

Phần 4 Kết quả và thảo luận 33

4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội thành phố thanh hóa 33

4.2 Tổng quan đặc điểm khu công nghiệp hoàng long 38

4.2.1 Vị trí của KCN Hoàng Long 38

4.2.2 Quy hoạch phân khu chức năng của KCN Hoàng Long 40

4.2.3 Hiện trạng đầu tư cơ sở hạ tầng 40

4.3 Đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường kcn hoàng long 46

4.3.1 Hiện trạng môi trường không khí 46

4.3.2 Hiện trạng, chất lượng môi trường nước mặt 49

4.3.3 Hiện trạng chất lượng môi trường nước thải 50

4.3.4 Hiện trạng chất lượng môi trường nước ngầm 53

4.3.5 Hiện trạng môi trường đất 54

4.4 Hiện trạng quản lý đối với chất thải rắn tại kcn 55

4.5 Thực trạng công tác quản lý , giám sát môi trường tại kcn hoàng long 55

4.5.1 Hiện trạng bộ máy quản lý môi trường tại KCN Hoàng Long 57

4.5.2 Công tác quản lý, phối hợp xử lý các nguồn thải phát sinh tại KCN 57

4.6 Kết quả đánh giá ảnh hưởng 58

4.6.1 Tác động đến kinh tế xã hội 58

4.6.2 Tác động đến tài nguyên và môi trường 59

4.7 Đề xuất giải pháp bảo vệ môi trường cho KCN hoàng long, 60

4.7.1 Xây dựng phương án phòng ngừa sự cố môi trường 60

4.7.2 Quy hoạch, xây dựng hệ thống cây xanh 61

Trang 6

4.7.3 Xây dựng hoặc thu hút các nhà đầu tư 64

4.7.4 Tăng cường công tác thanh tra, 65

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 67

5.1 Kết luận 67

5.2 Kiến nghị 68

Tài liệu tham khảo 69

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Các văn bản về quản lý môi trường các KCN đã ban hành 22

Bảng 3.1 Tổng hợp đối tượng lấy mẫu 28

Bảng 3.2 Các phương pháp và thiết bị phân tích các chỉ tiêu môi trường 31

Bảng 4.1 Danh sách các doanh nghiệp trong KCN Hoàng Long 42

Bảng 4.2 Kêt quả phân tích hiện trạng môi trường không khí 47

Bảng 4.3 Hiện trạng môi trường nước mặt 49

Bảng 4.4 Kết quả phân tích chất lượng nước thải công nghiệp 51

Bảng 4.5 Kết quả phân tích chất lượng nước ngầm 53

Bảng 4.6 Kết quả phân tích chất lượng đất 54

Bảng 4.7 Hiện trạng chất thải rắn tại các doanh nghiệp trong KCN Hoàng Long 56

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Sơ đồ nguyên tắc các mối quan hệ trong hệ thống quản lý môi trường KCN 25

Hình 4.1 Sơ đồ dây chuyền sản xuất hàng may mặc 44

Hình 4.2 Sơ đồ quy trình công nghệ sản xuất thức ăn chăn nuôi 45

Hình 4.3 Quy trình công nghệ sản xuất phân bón 45

Hình 4.4 Hiện trạng bộ máy QLMT tại KCN Hoàng Long 57

Hình 4.5 Hoạt động trồng cây xanh tại Công ty TNHH giày HongFu 62

Hình 4.6 Hệ thống cây xanh trong KCN 62

Hình 4.7 Hệ thống cây xanh và đường giao thông nội bộ trong KCN 63

Trang 10

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Nguyễn Trường Giang

Tên đề tài: Đánh giá hiện trạng và đề xuất một số biện pháp bảo vệ môi trường tại khu

công nghiệp Hoàng Long, phường Tào Xuyên, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa

Ngành: Khoa học môi trường Mã số: 60.44.03.01

Cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Mục tiêu và đối tượng nghiên cứu:

Mục tiêu

- Mục tiêu về lý luận: Góp phần xây dựng luận cứ khoa học cho việc Đánh giá

hiện trạng môi trường ở các khu công nghiệp

- Mục tiêu thực tiễn: Đánh giá chất lượng môi trường không khí, môi trường nước, môi trường đất tại Khu công nghiệp Hoàng Long

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Khu công nghiệp Hoàng Long, phường Tào Xuyên, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa

Các phương pháp nghiên cứu đã sử dụng:

Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp

+ Niên giám thống kê tỉnh Thanh Hóa năm 2014, 2015;

+ Báo cáo tổng kết về kinh tế, xã hội thành phố Thanh Hóa năm 2015;

+ Số liệu từ trạm khí tượng thủy văn Thanh Hóa

Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp

- Khảo sát thực địa tìm hiểu tình hình xả thải ra môi trường liên quan đến môi trường đất, không khí, nước đối chiếu với các báo cáo về địa điểm quan trắc của các doanh nghiệp trong khu công nghiệp

Kết quả chính và kết luận:

Đối với môi trường nước các kết quả quan trắc cho thấy hầu hết các chỉ tiêu quan trắc nước thải phát sinh từ KCN Hoàng Long luôn đạt dưới ngưỡng cho phép và chưa có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường Đối với môi trường không khí Thông qua kết quả quan trắc môi trường tại một số nhà máy có nguồn thải chính trong KCN đã cho thấy có dấu hiệu ô nhiễm nhẹ bởi bụi (vượt 1,05 lần) Tiếng ồn tại một số khu vực sản xuất tại các doanh nghiệp thứ cấp vượt giới hạn (từ 1,04 đến 1,08 lần) do đặc thù sản xuất, biện pháp giảm thiểu được áp dụng là trang bị bảo hộ lao động cho lao động làm việc trực tiếp tại khu vực Đối với công tác quản lý rác thải công nghiệp, rác thải

Trang 11

sinh hoạt và chất thải nguy hại: Lượng chất thải rắn, CTNH phát sinh từ các doanh nghiệp thứ cấp hoạt động trong KCN hàng năm là rất lớn Các loại chất thải rắn, chất thải sinh hoạt đều được các doanh nghiệp thứ cấp đều đã ký hợp đồng với các đơn vị thu gom và xử lý theo quy định

Trang 12

THESIS ABSTRACT

Master candidate: Nguyen Truong Giang

Thesis title: Assessment of current status and proposed solutions for environment

protection in Hoang Long Industrial Park, Tao Xuyen Ward, Thanh Hoa City, Thanh Hoa Province

Major: Environmental science Code: 60.44.03.01

Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA) Thesis Objective:

Assesing air, soil, water quality in Hoang Long Industrial Parkin order to propose several solutions for environmental protection in the industrial area, Tao Xuyen Ward, Thanh Hoa City, Thanh Hoa Province

Scope of study: Hoang Long Industrial Park, Tao Xuyen Ward, Thanh Hoa City,

Thanh Hoa Province

Methods:

Review secondary data:

+ Yearly statistic data 2014 and 2015 at ThanhHoa Statistic office

+ Yearly report on socio-economic development in ThanhHoa city 2015

+ Meteorology data from ThanhHoameteo-station

Collection of primary data:

+ Field survey to examine environmental problem, waste water discharge and its influencing on soil, air and water

+ To compare the existing data from monitoring data by companies at the industrial zone

Main findings and Conclusions

Results reveal that water quality in Hoang Long industrial zone is still in accepted range of Vietnamese environmental Standards.However, air quality was slightly higher than Vietnamese standards (dust level over 1.05 times) Noise levels in several sampled locations at secondary enterprises were over accepted level of Vietnamese Environmental Standard (from 1.04 to 1.08 times) due to specific production Only few protection measures for workers were applied in the industrial area The amount of industrial waste including regular waste and hazard waste was still high based on whole year All solid waste, domestic wastes were contracted with environmental service offices to collect, remove and treatment according to Vietnamese laws

Trang 13

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Ngày nay, để thúc đẩy sự phát triển kinh tế, các quốc gia đang phát triển tập trung vào xây dựng và phát triển các khu công nghiệp tập trung Lợi ích từ việc xây dựng và phát triển khu công nghiệp tập trung là tạo bước chuyển biến vượt bậc trong nền kinh tế của một quốc gia Tuy nhiên, song hành với những lợi ích đạt được thì vấn đề ô nhiễm, suy thoái môi trường và cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên đang ngày càng gia tăng là vấn đề được đặt ra không chỉ với từng quốc gia mà là câu hỏi của toàn cầu Thêm vào đó, các khu công nghiệp hiện nay vẫn là những hệ thống mở Đó là nguyên nhân dẫn đến sự suy thoái môi trường

tự nhiên theo đà phát triển công nghiệp

Thanh Hóa là tỉnh nằm ở cực bắc miền trung của đất nước và là một tỉnh lớn về diện tích và dân số Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa có 1 khu kinh tế và 7 khu công nghiệp với tổng diện tích 1.814 ha Trong đó, KCN Hoàng Long, phường Tào Xuyên là một trong những KCN lớn của tỉnh, do UBND tỉnh Thanh Hóa làm chủ đầu tư và giao cho Ban quản lý khu kinh tế Nghi Sơn và các khu công nghiệp tỉnh Thanh Hóa quản lý Mục tiêu của khu công nghiệp là đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng KCN Hoàng Long với diện tích 37ha đầy đủ phân khu chức năng và tổ chức hệ thống kỹ thuật hạ tầng; Thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước thuê đất xây dựng nhà máy, xí nghiệp trong KCN Tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu, đồng thời đảm bảo điều kiện bảo vệ cảnh quan môi trường

KCN Hoàng Long đã đi vào hoạt động từ năm 2004, đến nay đã có 14 doanh nghiệp thứ cấp đầu tư nhà máy, xí nghiệp và hoạt động sản xuất kinh doanh trong khu công nghiệp Trong quá trình hoạt động của Khu công nghiệp Hoàng Long đã có những tác động nhất định đến môi trường, ảnh hưởng đến các thành phần môi trường trong và xung quanh khu công nghiệp

Hiện nay KCN Hoàng Long chưa được nghiên cứu, đánh giá một cách đầy đủ

và khoa học về hiện trạng môi trường để từ đó đề xuất những biện pháp, giải pháp nhằm giảm thiểu ô nhiễm, giảm thiểu sự phát thải của KCN và phát triển KCN theo hướng thân thiện với môi trường

Trang 14

Xuất phát từ các lý do trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiện trạng và đề xuất một số giải pháp bảo vệ môi trường tại Khu công nghiệp Hoàng Long, phường Tào Xuyên, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.”

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

- Xác định các vấn đề môi trường thông qua việc đánh giá hiện trạng môi trường trong và ngoài khu công nghiệp Hoàng Long, phường Tào Xuyên, thành phố Thanh Hóa

- Đề xuất một số giải pháp quản lý về môi trường tại khu công nghiệp Hoàng Long, phường Tào Xuyên, thành phố Thanh Hóa.trong thời gian tới

1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

+ Không gian: Trong khu công nghiệp Hoàng Long và khu vực lân cận + Thời gian: Từ tháng 9 năm 2015 đến 6 tháng năm 2016

1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN

Khu công nghiệp Hoàng Long từ khi đi vào hoạt động đến nay chưa có một đề tài nào đánh giá hiện trạng môi trường và đưa ra giải pháp khắc phục cho KCN do đó việc thực hiện đề tài là rất cần thiết

Đề tài được thực hiện nghiên cứu trên cơ sở các thông tin, số liệu, tài liệu điều tra trung thực, chính xác, đảm bảo độ tin cậy và phản ánh đúng thực trạng môi trường và quản lý môi trường tại Khu công nghiệp Hoàng Long, tác động của sự phát triển khu công nghiệp này đến chất lượng môi trường trong địa bàn nghiên cứu

Việc phân tích, xử lý số liệu thưc hiện trên cơ sở khoa học, có định tính và định lượng bằng các phương pháp nghiên cứu phù hợp

Trang 15

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP

2.1.1 Thực trạng phát triển KCN trên thế giới

Khu công nghiệp là một khái niệm chung bao gồm nhiều hình thức từ các hình thức truyền thống như: khu mậu dịch tự do, cảng tự do… xuất hiện từ thế kỷ XIX đến các hình thức mới xuất hiện cuối thế kỷ XX như khu công nghệ cao, khu chế xuất, khu công nghiệp tập trung, khu văn phòng, khu thương mại Trên thế giới, sự tồn tại của khu công nghiệp đã trải qua nhiều bước phát triển,

có thế kể ra bốn thế hệ của khu công nghiệp; gọi chung là Business Park

(Nguyễn Cao Lãnh, 2013)

Thế hệ đầu tiên của khu công nghiệp, được xây dựng vào những năm 1970,

có thể được phân biệt với các thế hệ khác bởi cách sắp xếp văn phòng, kho tàng, kiến trúc khá đơn giản Các khu vực của các tòa nhà hành chính chiếm 10 - 15%

tổng diện tích của công viên, công trình theo mẫu và cho thuê ( Geneva,1993) Mặc

dù hoàn hảo trong ý tưởng nhưng nhìn chung, tiêu chuẩn về quy hoạch và kiến trúc

là thấp Với chức năng cơ bản là công nghiệp và tỷ lệ các bộ phận chức năng, đặc biệt là cây xanh chưa hợp lý; KCN thế hệ thứ nhất luôn biệt lập vào ban ngày, vắng

vẻ vào ban đêm và khó có thể đạt được một chất lượng môi trường, dịch vụ và hạ

tầng cao (Nguyễn Cao Lãnh, 2013)

Trong giai đoạn từ năm 1975 và 1985, các khu công nghiệp văn phòng, đã được sử dụng bởi các công ty kinh doanh với khoa học, công nghệ và kinh doanh chiếm không gian lớn hơn nhiều Đặc điểm khu công nghiệp thế hệ thứ hai này là

một kiến trúc phức tạp hơn (Nguyễn Văn Tuấn) Các KCN thế hệ thứ hai có xu

hướng lấp đầy các khoảng trống còn lại ở vành đai đô thị, nhằm khôi phục và tiếp thêm sức sống cho các khu vực ngoại ô và nhằm xoá bỏ ấn tượng xấu về kiến trúc

và cảnh quan của các khu vực công nghiệp Ví dụ khu Chiswick (London, Anh), Irvine Spectrum (California, Hoa Kỳ) (Nguyễn Cao Lãnh,2013)

Kể từ nửa cuối những năm 1980, thế hệ thứ ba khu công nghiệp được xây dựng Các Business Park thế hệ thứ ba tuân thủ các nguyên tắc quy hoạch tổng thể và xây dựng cơ sở hạ tầng của một đô thị nhỏ mới Các công trình phục vụ công cộng được hợp thành một địa điểm nổi bật hay một trung tâm đô thị nhỏ phục vụ các đơn vị phát triển Các đơn vị phát triển này với mật độ và kích thước

Trang 16

lô đất khác nhau tạo ra sự đa dạng cho mọi đối tượng sử dụng trong KCN Đại diện trong số này là một vài KCN thế hệ thứ ba như khu Stockley (Heathrow,

Anh), Meridian (Carolina, Hoa Kỳ(Nguyễn Cao Lãnh,2013) Các tòa nhà hành

chính và danh mục đầu tư các dịch vụ đặc trưng cho thế hệ thứ tư của khu công

nghiệp đó bắt đầu phát sinh từ giữa những năm 1990 (Geneva, 1993) Kể từ nửa

cuối những năm 1990, khu công nghiệp đã là một phần của một mạng lưới quốc

tế các khu hợp tác Tất cả Business Park thế hệ thứ tư đều đạt được một trình độ

tổ chức kỹ thuật, xã hội rất cao và có thể trở thành địa điểm nổi bật, có giá trị và quan trọng của toàn vùng Ví dụ khu Marina Village (California, Hoa Kỳ), Edinburgh (Edinburgh, Scotland) (Nguyễn Cao Lãnh,2013)

Nền tảng của các khu công nghiệp được tìm thấy tại Anh, là nơi có hệ thống nhà máy và khu công nghiệp đầu tiên được thành lập Đây là những thiết lập bởi nhiều đơn vị sản xuất, các nhà máy đầu tiên xuất hiện ngẫu nhiên, tuy nhiên, sự xuất hiện sau đó lại đại diện cho một hành động có tổ chức theo ý tưởng nhất định về quy hoạch đô thị và chính sách khu vực Khu công nghiệp đầu tiên, Trafford Park, được thành lập bởi một công ty tên là Shipcanal và Docks gần Manchester vào năm 1896 (Geneva, 1993)

Các khu công nghiệp được thành lập ở Đức, cũng vậy Khu công nghiệp đầu tiên được thành lập năm 1963 (Euro-Industriepark Munchen) Số lượng lớn khu công nghiệp và công viên với các công ty công nghiệp vừa và nhỏ xuất hiện sớm hơn trong nửa cuối của năm 1980 và cơ bản là một sáng kiến của nhà đầu tư

tự do Có 22 khu công nghiệp và đầu tư xuất hiện ở Tây Đức vào năm 1984 Bên cạnh đó, các khu tư nhân được thành lập Có sự xuất hiện ở khu vực đông dân cư, diện tích khá nhỏ và tập trung vào các lĩnh vực thị trường khác nhau Khu vực với nhiều loại hình khác nhau có thế kể đến khu Dussseldorf (23 dự án hoàn thành vào năm 1992) và Frankfurt am Mein (19 dự án hoàn thành vào năm 1992), vẫn còn tồn tại và phát triển đến ngày nay (Geneva, 1993)

Năm 1995, Liên Hiệp Quốc đã thống kê thế giới có khoảng 12.000 KCN với diện tích nhỏ nhất là 1ha, lớn nhất đến 10.000ha (Nguyễn Mộng, 2010) Theo chương trình môi trường Liên Hợp Quốc có thể phân các khu công nghiệp trên thế giới thành các loại hình sau đây: Khu công nghiệp tập trung; khu chế xuất; khu tự do; khu chế biến công nghiệp; trung tâm công nghệ cao; khu công nghệ sinh học; khu công nghệ sinh thái

Trang 17

Hiện nay, các KCN được phát triển ở hầu hết tất cả các quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển, để phục vụ các hoạt động công nghiệp hơn là nghiên cứu hay theo hướng thương mại

2.1.2 Thực trạng phát triển KCN ở Việt Nam

Tại Việt Nam cũng đã có nhiều loại hình khu công nghiệp đang được xây dựng, bao gồm: Khu công nghiệp; khu chế xuất; khu công nghệ sinh học; khu công nghiệp sinh thái; khu kinh tế mở hay khu kinh tế thương mại khác Tuy nhiên hiện tại vẫn phổ biến loại hình khu công nghiệp truyền thống, khu công nghiệp tập trung, khu chế xuất Về bản chất, đây là các KCN thuộc thế hệ đầu tiên với tiêu chuẩn và chất lượng thấp

Có thể phân loại khu công nghiệp nằm trong phạm vi, đối tượng điều tiết của Nghị định 36-CP thành ba nhóm chính sau

Các khu công nghiệp mang tính truyền thống, được thành lập một cách phổ biến ở Việt Nam Ban đầu, các KCN hình thành từ những năm 1960 và 1970 theo mô hình công nghiệp của Liên Xô cũ, tập trung ở một số thành phố khu vực phía Bắc: Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên, Phú Thọ, Việc hình thành và phát triển các KCN này chưa có sự định hình, qui hoạch như hiện nay, còn bộc lộ nhiều thiếu sót mà cho đến nay vẫn chưa hoàn toàn giải quyết được Về sau thì các KCN được xây dựng theo mô hình mới Đây là những khu vực được quy hoạch mang tính liên vùng, liên lãnh thổ và có phạm vi ảnh hưởng không chỉ ở một khu vực địa phương Trong khu công nghiệp không có dân cư sinh sống, nhưng ngoài khu công nghiệp phải có hệ thống dịch vụ phục vụ nguồn nhân lực làm việc ở khu công nghiệp

Khu chế xuất (KCX): Ngoài những đặc điểm chung giống như các khu công nghiệp truyền thống, các KCX còn có một số đặc điểm riêng, đó là: Được quy hoạch phân tách khỏi phần nội địa bằng tường rào kiên cố, việc ra vào khu phải thông qua sự kiểm soát của hải quan và các cơ quan chức năng Quan hệ thương mại giữa các doanh nghiệp trong KCX và nội địa được điều chỉnh bằng hợp đồng ngoại thương, theo các thủ tục xuất, nhập khẩu; các doanh nghiệp trong khu chế xuất chỉ được bán tối đa 20% giá trị sản phẩm của mình vào thị trường nội địa và được hưởng những ưu đãi đặc biệt Ngày 25/1/1991 KCX Tân Thuận được thành lập, đây được xem như là khu công nghiệp tập trung đầu tiên ở Việt Nam (Lê

Thế Giới, 2010)

Trang 18

Các khu công nghệ cao (KCNC) Tại Việt Nam hiện có khu công nghệ cao Hòa Lạc, KCNC Sài Gòn Trong khu công nghệ cao có thể có doanh nghiệp chế xuất Công nghệ sử dụng trong khu công nghệ cao mang tính tiên phong đi trước thời đại, phát triển kinh doanh của doanh nghiệp trong nhiều trường hợp được coi

là mạo hiểm và có khả năng được bù đắp cao Trong khu công nghệ cao, còn tiến hành các dịch vụ nghiên cứu và chuyển giao công nghệ, thực hiện chức năng đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao

2.1.3 Thực trạng phát triển khu công nghiệp ở Thanh Hóa

Quy hoạch phát triển đến năm 2020, ngoài Khu kinh tế Nghi Sơn, Thanh Hóa hình thành 10 khu công nghiệp tập trung, hiện đã có 1 khu kinh tế, và

5 khu công nghiệp được thành lập đó là:

+ Khu kinh tế Nghi Sơn

Khu kinh tế (KTT ) Nghi Sơn có tổng diện tích 18.612 ha, nằm cách Thành phố Thanh Hóa 40 km về phía nam, giáp với tỉnh Nghệ An và biển Đông; có lợi thế đặc biệt về giao thông như: đường bộ, đường thủy, đường sắt Hệ thống hạ tầng trong khu kinh tế (điện, nước, giao thông, và các dịch vụ khác ) từng bước đang được đầu tư xây dựng Trong đó, cảng nước sâu với quy hoạch 10 cầu cảng, công suất trên 10 triệu tấn/ năm, cho tàu 10 vạn tấn (hiện nay đã hoàn thành 2 bến cho tàu 3 vạn tấn), là đầu mối giao lưu kinh tế với cả nước, khu vực

và quốc tế Đường bộ và đường sắt nối liền các vùng kinh tế khu vực và các vùng trọng điểm kinh tế Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ Đây là vùng kinh tế động lực thúc đẩy phát triển kinh tế của tỉnh Thanh Hóa, vùng Nam Thanh - Bắc Nghệ và Bắc Trung Bộ

Trong KTT Nghi Sơn có Khu phi thuế quan và khu thuế quan Khu thuế quan có các khu chức năng: khu đô thị trung tâm, các khu công nghiệp, khu cảng và dịch vụ hậu cần cảng, khu du lịch - dịch vụ và khu dân cư Khu phi thuế quan bao gồm các loại hình sản xuất kinh doanh chủ yếu: sản xuất gia công, tái chế, lắp ráp; thương mại hàng hóa; thương mại dịch vụ và xúc tiến thương mại

Các dự án đầu tư vào KTT Nghi Sơn, ngoài việc được hưởng các chính sách ưu đãi áp dụng đối với địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và chính sách áp dụng cho các khu kinh tế ở Việt Nam theo Luật đầu tư và các quy định hiện hành, còn được hưởng mức thuế thu nhập doanh nghiệp 10%

Trang 19

áp dụng trong 15 năm, miễn thuế thu nhập doanh nghiệp 4 năm và giảm 50% cho 9 năm tiếp theo; được miễn thuế nhập khẩu 5 năm đối với vật tư, nguyên liệu phục vụ sản xuất Đối với một số dự án đặc biệt sẽ được hưởng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 10% trong suốt thời gian dự án Hiện nay, Nhà máy

Xi măng Nghi Sơn liên doanh với Nhật Bản công suất 2,15 triệu tấn/năm và đang triển khai mở rộng nâng công suất lên gấp đôi Dự án nhà máy đóng mới

và sửa chữa tàu thủy công suất 100.000 tấn/năm đang triển khai xây dựng Nhà máy nhiệt điện công suất 3.000 MW đã có quyết định phê duyệt dự án Tại đây trong thời gian tới tập trung phát triển các ngành công nghiệp: lọc - hóa dầu, thép và cơ khí chế tạo, sản xuất vật liệu xây dựng, nhiệt điện, sản xuất hàng tiêu dùng, chế biến nông lâm thủy sản (Ban quản lý khu kinh tế Nghi Sơn và các khu công nghiệp Tỉnh Thanh Hóa, tháng 6 năm 2016)

+ Khu công nghiệp Lễ Môn:

Đây là khu công nghiệp tập trung lớn của tỉnh nằm cách Thành phố Thanh Hóa 5 km về phía đông, cạnh quốc lộ 47 nối liền Thành phố Thanh Hóa với thị xã Sầm Sơn, diện tích quy hoạch 87 ha Khu công nghiệp Lễ Môn đã được đầu tư cơ sở hạ tầng một cách đồng bộ, đảm bảo cung cấp: điện, nước, thông tin liên lạc và các dịch vụ khác Đến nay đã có trên 30 doanh nghiệp đăng

ký thuê đất để đầu tư xây dựng với tổng số vốn đầu tư trên 700 tỉ đồng, trong đó 14 doanh nghiệp đã xây dựng xong với số vốn đầu tư gần 500 tỉ đồng, đang đi vào sản xuất kinh doanh có hiệu quả như: Công ty xuất nhập khẩu thủy sản, Công ty TNHH Tân Thành, Công ty sữa MILAS…

Tại khu công nghiệp Lễ Môn khuyến khích đầu tư các dự án ứng dụng công nghệ cao, chế tạo và gia công từ nguồn nguyên liệu trong tỉnh, sử dụng nhiều lao động và sản xuất các mặt hàng xuất khẩu có giá trị kinh tế cao; nhóm ngành sản xuất hàng tiêu dùng, dệt may, giày da; chế biến nông, lâm, thủy sản; lắp ráp cơ khí, điện tử, thiết bị viễn thông (Ban quản lý khu kinh tế Nghi Sơn và các khu công nghiệp Tỉnh Thanh Hóa, tháng 6 năm 2016)

+ Khu công nghiệp Hoàng Long:

Đây là khu công nghiệp tập trung lớn của tỉnh nằm cách Thành phố Thanh Hóa 5 km về phía Tây, cạnh quốc lộ 1A, diện tích quy hoạch 37,0 ha Khu công nghiệp Hoàng Long đã được đầu tư cơ sở hạ tầng một cách đồng bộ, đảm bảo cung cấp: điện, nước, thông tin liên lạc và các dịch vụ khác Đến nay đã

có trên 15 doanh nghiệp đăng ký thuê đất để đầu tư xây dựng với tổng số

Trang 20

vốn đầu tư trên 500 tỉ đồng, trong đó 10 doanh nghiệp đã xây dựng xong với

số vốn đầu tư gần 300 tỉ đồng, đang đi vào sản xuất kinh doanh có hiệu quả như: Công ty TNHH sản xuất giày dép HongFu, Công ty TNHH sản xuất giày dép Hồng Mỹ…… (Ban quản lý khu kinh tế Nghi Sơn và các khu công nghiệp Tỉnh Thanh Hóa, tháng 6 năm 2016)

+ Khu công nghiệp Đình Hương

- Tây Bắc Ga: Khu công nghiệp Đình Hương

- Tây Bắc Ga có diện tích 150 ha, nằm ở phía bắc thành phố Thanh Hóa, cách trung tâm thành phố 2km, cách cảng Lễ Môn 7 km, cách ga đường sắt Bắc Nam 3 km Các lĩnh vực ưu tiên đầu tư là: sản xuất lắp ráp hàng điện tử, viễn thông; may mặc, bao bì; sản xuất đồ gia dụng, thủ công mỹ nghệ; chế biến nông lâm sản thực phẩm, thức ăn gia súc, gia cầm; các ngành cơ khí chế tạo, lắp ráp và dịch vụ (Ban quản lý khu kinh tế Nghi Sơn và các khu công nghiệp Tỉnh Thanh Hóa, tháng 6 năm 2016)

+ Khu công nghiệp Bỉm Sơn:

Khu công nghiệp Bỉm Sơn có diện tích hiện tại 540 ha, sau năm 2010 tiếp tục mở rộng về phía tây lên 1000 ha, nằm ở phía bắc của tỉnh, cách thành phố Thanh Hóa 35 km Điều kiện giao thông rất thuận lợi, nằm gần đường quốc lộ 1A và đường sắt Bắc Nam, cách Hà Nội 110 km và cách cảng biển Nghi Sơn 75 km, có hệ thống nhà ga rất thuận tiện cho việc tập kết và trung chuyển hàng hóa Cơ sở hạ tầng như điện, nước, giao thông vận tải, bưu chính viễn thông và các dịch vụ khác… đã được đầu tư đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Hiện tại đã có nhà máy xi măng Bỉm Sơn đang hoàn thiện dây chuyền 2 để đưa công suất nhà máy lên 4 triệu tấn/ năm; nhà máy

ô tô VEAM công suất 33.000 xe ô tô các loại/năm với số vốn đầu tư trên 417 tỉ đồng đang được hoàn thiện đưa vào sản xuất

Với ưu thế về diện tích, lợi thế về giao thông, cơ sở hạ tầng, ưu tiên kêu gọi vào khu công nghiệp Bỉm Sơn các dự án: sản xuất vật liệu xây dựng, bê tông đúc sẵn, gạch ngói, cơ khí, chế biến hàng nông lâm sản, hàng may mặc… (Ban quản lý khu kinh tế Nghi Sơn và các khu công nghiệp Tỉnh Thanh Hóa, tháng 6 năm 2016)

+ Khu công nghiệp Lam Sơn:

Thuộc huyện Thọ Xuân, nằm phía tây của tỉnh, cách thành phố Thanh Hóa

Trang 21

40 km, cạnh quốc lộ 15A, đường Hồ Chí Minh, gần sân bay Sao Vàng Diện tích quy hoạch trên 1.000 ha, hiện nay đã hình thành trên quy mô 300 ha với các nhà máy đường Lam Sơn công suất 6.000 tấn mía/ngày, nhà máy giấy Mục Sơn công suất 10 ngàn tấn/năm, nhà máy sản xuất phân bón vi sinh có công suất 80.000 tấn/năm và nhiều xí nghiệp khác đang hoạt động

Các dự án khuyến khích đầu tư vào khu công nghiệp là mía đường và các sản phẩm sau đường; giấy, bột giấy; chế biến lâm sản, thực phẩm; cơ khí chế tạo, lắp ráp; phân bón, hóa chất (Ban quản lý khu kinh tế Nghi Sơn và các khu công nghiệp Tỉnh Thanh Hóa, tháng 6 năm 2016)

2.2 HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG TẠI CÁC KCN

2.2.1 Hiện trạng môi trường tại các KCN trên thế giới

Hiện nay kết quả của quá trình công nghiệp hoá ở các nước trên thế giới

đã không ngừng làm tăng quy mô và tốc độ phát triển công nghiệp trên phạm vi toàn cầu.Tuy nhiên chính quy mô và tốc độ phát triển công nghiệp là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến những tác động bất lợi lớn đối với các yếu tố của môi trường sinh thái như suy giảm các nguồn tài nguyên hữu ích cho cuộc sống, ô nhiễm khói bụi,nước gây ra những thảm hoạ về môi trường,tàn phá cảnh quan môi trường

* Một số nghành công nghiệp gây ô nhiễm trên thế giới

- Công nghiệp khai khoáng trong việc khai khoáng công nghiệp thì khó khănlớn nhất là xử lý chất thải dưới dạng đất đá và bùn Trong chất thải này có thể có các hóa chất độc hại mà người ta sử dụng để tách quặng khỏi đất đá Trong chất thải ở các mỏ thường có các hợp chất nsulfid-kim loại, chúng có thể tạo thành a xít, với khối lượng lớn chúng có thể gây hại đối với đồng ruộng và nguồn nước ở xung quanh Bùn từ các khu mỏ chảy ra sông suối có thể gây ùn tắc dòng chảy từ đó gây lũ lụt Ảnh hưởng đến sức khỏe: Thường rất đa dạng và gây hại kéo dài như: đau mắt, gây hại đối với hệ thống hô hấp, tiêu hóa, tim mạch, thận, gan và hệ thần kinh

- Các lò nung và chế biến hợp kim Trong quá trình sản xuất và chế biến các loại kim loại như đồng, nicken, kẽm, bạc, kobalt, vàng và kadmium môi trường bị ảnh hưởng nặng nề Hydrofluor, sunfua-dioxit, Nitơ-oxit khói độc cũng như các kim loại nặng như chì, Arsen, Chrom, Kadmium, Nickel, đồng và kẽm bị thải ra môi trường Một lượng lớn a xít-sunfuaric được sử dụng để chế biến Chất

Trang 22

thải rắn độc hại cũng gây hại đến môi trường Thông thường con người hít thở các chất độc hại này hoặc chúng thâm nhập vào chuỗi thực

phẩm Bụi mịn gây hại nặng nề và ảnh hưởng tới nguồn nước

- Chất thải phóng xạ và chất thải từ việc khai thác Uran Chất phóng xạ được sử dụng để sản xuất điện, dùng trong lĩnh vực Quân sự và Yhọc Việc xử

lý chất thải phóng xạ từ các lò phản ứng dưới dạng thanh đốt vô cùng khó khăn.Việc chôn vĩnh viễn loại chất thải này hầu như là chuyện không thể Quá trình khai thác Uran tuy không tạo ra chất thải phóng xạ nguy hiểm, nhưng lại tạo ra một lượng lớn chất thải có lượng phóng xạ tương đối thấp Những nước sản xuất Uran với khối lượng lớn thường là những nước như Kazakhstan, Nga, Niger, Namibia, Uzbekistan, Ukraine và Trung Quốc, những quy định về bảo

vệ môi trường và an toàn thường không thực hiện nghiêm chỉnh Ảnh hưởng đến sức khỏe: chất phóng xạ có thể ảnh hưởng tới chức năng của cơ thể, về lâu dài có thể gây một số bệnh ung thư Những người bị ảnh hưởng phóng xạ với nồng độ thấp có những biến đổi đối với máu, chóng mặt, mệt mỏi, gây quái thai, mù mắt, trì độn Nếu bị tác động của tia phóng xạ với nồng độ cao sẽ bị chết chỉ sau vài giờ

- Nước thải không được xử lý Ở nhiều vùng nghèo khổ trên thế giới phân người và nước thải sinh hoạt không được xử lý mà quay trở lại vòng tuần hoàn của nước Do đó bệnh tật có điều kiện để lây lan và gây ô nhiễm môi trường Nước thải không được xử lý chảy vào sông rạch và ao hồ gây thiếu hụt oxy làm cho nhiều loại động vật và cây cỏ không thể tồn tại Theo dự đoán của WHO trong năm 2008 có khoảng 2,6 tỷ người không được tiếp cận với các công trình

vệ sinh

Đây chính là nguyên nhân vì sao ở các thành phố nước bị ô nhiễm nặng nề bởi chất bài tiết của con người Ảnh hưởng đến sức khỏe: tình trạng trên dẫn đến một loạt bệnh như tả, thương hàn, kiết lị, viêm gan A và bệnh giun sán

Theo dự đoán của WHO mỗi năm có khoảng 1,5 triệu người bị chết liên quan đến nước thải không được xử lý

2.2.2 Hiện trạng môi trường tại các KCN tại Việt Nam

Trong thời đại ngày nay, phát triển bền vững là yêu cầu đặt ra cho tất cả các quốc gia Phát triển công nghiệp dù ở mức độ nào cũng đều gây nên tình trạng ô nhiễm và ảnh hưởng tiêu cực đến việc thực hiện yêu cầu phát triển bền

Trang 23

vững Với Việt Nam hiện nay, hàng loạt vấn đề về môi trường đang đặt ra hết sức cấp thiết dẫu rằng trình độ phát triển công nghiệp chưa cao (Báo Thanh Niên số

35 ngày 28/7/2014)

Nước ta thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá và đương nhiên là kéo theo đô thị hoá Theo kinh nghiêm của nhiều nước, tình hình ô nhiễm môi trường cũng gia tăng nhanh chóng Nếu tốc độ tăng trưởng GDP trong vòng 10 năm tới tăng bình quân khoảng 7%/năm, trong đó GDP công nghiệp khoảng 8-9%/năm, mức đô thị hoá từ 23% năm lên 33% năm 2010, thì đến năm 2016 lượng ô nhiễm

do công nghiệp có thể tăng lên gấp 2,4 lần so với bây giờ, lượng ô nhiễm do nông nghiệp và sinh hoạt cũng có thể gấp đôi mức hiện nay Trong quá trình phát triển, nhất là trong thập kỷ vừa qua, các đô thị lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Đồng Nai.Khánh Hoà,Cần Thơ… đã gặp phải nhiều vấn đề môi trường ngày càng nghiêm trọng, do các hoạt động sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải và sinh hoạt gây ra (Báo Thanh Niên số 35 ngày 28/7/2014) Dưới đây là những vấn đề môi trường xung quanh các khu công nghiệp nổi bật trong thời gian gần đây:

* Môi trường ở các khu công nghiệp Miền Nam

+ Tại Đồng Nai : Nổi bật là vi phạm về hệ thống xử lý nước thải của nhà

máy Vedan gây hậu quả nghiêm trọng tới môi trường: Từ đầu năm 1994, công ty Vedan đã lắp đặt và vận hành hệ thống bơm, đường ống kĩ thuật để bơm dịch thải lỏng và các chất dịch thải đặc vào sông Thị Vải (Báo Thanh Niên số 35 ngày 28/7/2014)

Trước đó, những chất thải này được “tạm trú” trong các bể chứa lớn có dung tích từ 6.000m3 – 15.000m3 Từ đây, với một hệ thống đường ống nổi, chìm được thiết kế tinh vi có các van đóng mở linh hoạt và 2 trụ bơm được cắm sâu xuống sông Thị Vải, chất thải được tuồn xuống sông vào ban đêm Trong đó nhiều đường ống xả chất thải được chôn sâu dưới lòng đất và thông ngầm ra sông là nước thải chưa qua xử lý được đổ trực tiếp ra sông Thị Vải Trong suốt

14 năm qua, Vedan đã thải vào sông Thị Vải một lượng vô cùng lớn chất thải độc hại, đã làm con sông Thị Vải trở nên ô nhiễm trầm trọng, nước sông trở nên đen

và có mùi hôi rất khó chịu gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống của nhân dân xung quanh Tổng lượng nước mà Vedan đã xã ra sông Thị Vãi là 4000m3 /ngày Sông Thị Vãi đã trở thành con sông ô nhiễm nặng và phải cần rất nhiều công sức, tiền của và thời gian mới có thể khắc phục được hậu quả này (Báo Thanh Niên số 35 ngày 28/7/2014)

Trang 24

+ Tại Cần Thơ: Theo sở TN-MT Cần Thơ, hiện có 3 KCN đang hoạt

động là Trà Nóc1, Trà Nóc 2& Thốt Nốt chưa xây dựng hệ thống nước thải tập trung Thực tế các DN thuộc các KCN này bắc các ống cống trực tiếp thải ra sông Hậu Thực tế tại cơ sở, hầu hết các miệng cống từ các doanh nghiệp tại các KCN này thường xuyên thải ra thứ nước đen ngòm, đặc quánh Trên địa bàn Cần Thơ ngoài hàng trăm DN đang ngày đêm bức tử sông Hậu còn có 500 ao, bè cá, trên dưới 5.000 cơ sở tiểu thủ công nghiệp, bệnh viện, cơ sở y tế… đều chưa có

hệ thống xử lý nước thải chung Tổng cộng, mỗi ngày bình quân dòng sông này phải “uống” hàng triệu m3 nước thải ô nhiễm (Báo Thanh Niên số 35 ngày 28/7/2014)

Theo thống kê sơ bộ, tại TP Cần Thơ, nước ở sông Hậu đã bị ô nhiễm cấp

độ 2, rạch Sang Trắng (Phước Thới, Ô Môn) ô nhiễm cấp độ 7, rạch Bò Ót (Thới Thuận, Thốt Nốt) ô nhiễm cấp độ 4

+ Tại Long An: Với các KCN, CCN hiện có, mỗi ngày dự tính thải ra môi

trường khoảng 363 tấn rác công nghiệp và 151.000m3 nước thải công nghiệp

+ Tại TPHCM : Có 25 khu công nghiệp tập trung hoạt động với tổng số

611 nhà máy trên diện tích 2298 ha đất Theo kết quả tính toán, hoạt động của các khu công nghiệp này cùng với 195 cơ sở trọng điểm bên ngoài khu công nghiệp, thì mỗi ngày thải vào hệ thống sông Sài Gòn - Đồng Nai tổng cộng 1.740.000 m3 nước thải công nghiệp, trong đó có khoảng 671 tấn cặn lơ lửng, 1.130 tấn BOD5 (làm giảm nhu cầu ôxy sinh hoá), 1789 tấn COD (làm giảm nhu cầu ôxy hoá học), 104 tấn Nitơ, 15 tấn photpho và kim loại nặng

Lượng chất thải này gây ô nhiễm cho môi trường nước của các con sông vốn là nguồn cung cấp nước sinh hoạt cho một nội địa bàn dân cư rộng lớn, làm ảnh hưởng đến các vi sinh vật và hệ sinh thái vốn là tác nhân thực hiện quá trình phân huỷ và làm sạch các dòng sông.Nhà máy hoá chất Tân Bình sau khi xảy ra sự

cố hỏng rơle tự động làm thoát khí thải độc hại có nồng độ ô nhiễm cao ra môi trường sống khu vực P15-Q.Tân Bình &P12-Q.Gò Vấp,gây ảnh hưởng nghiêm

trọng tới sức khoẻ của dân cư trong vùng (Báo Thanh Niên số 35 ngày 28/7/2014)

* Môi trường ở các khu công nghiệp Miền Bắc:

+ Tại Hà Nội : Ô nhiễm môi trường trở thành vấn đề bức xúc tác động

tiêu cực đến đời sống và kìm hãm sự phát triển của Hà Nội Thành phố đang thực

sự bị “bủa vây” bởi đủ các loại ô nhiễm rác thải, khí thải và nước thải…(Báo Thanh Niên số 35 ngày 28/7/2014)

Trang 25

Theo kết quả của sở Tài Nguyên Môi Trường và nhà đất, tại Hà Nội có hơn 400 cơ sở công nghiệp thì có tới 200 cơ sở gây ô nhiễm không khí Hàng năm các cơ sở này “đóng góp” thêm vào bầu không khí khoảng 80000 tấn khói bụi, 9000 tấn SO2, 19000 tấn khí NO2 Chất lượng không khí ở Hà Nội, đặc biệt

là khu vực nội thành đã có biểu hiện suy thoái, nồng độ các chất độc hại, bụi trong không khí đã vượt tiêu chuẩn cho phép từ 1-2 lần, nhiều nơi gấp 6-7 lần Tại các khu vực có nhiều công trường xây dựng như Hà Đông, Mỹ Đình, Từ Liêm, Cầu Giấy, Hoàng Mai bụi cuốn mù mịt, làm người đi đường tức ngực, nhức mắt Nguồn nước ở thành phố (cả nước mặt và nước ngầm) cũng đang bị ô nhiễm nặng (Báo Thanh Niên số 35 ngày 28/7/2014)

Hầu hết lượng nước thải sinh hoạt và sản xuất đều xả thẳng ra môi trường

mà không qua xử lý Đa số các khu công nghiệp chưa có trạm xử lý nước thải hoặc có nhưng hoạt động không hiệu quả 90% lượng nước thải công nghiệp, y tế

ở thành phố không được xử lý Mới có 1/10 khu công nghiệp vừa và nhỏ, 8/48 bệnh viện, trung tâm y tế trên địa bàn thành phố (chưa kể đến số bệnh viện, trung tâm y tế do Trung ương quản lý đóng trên địa bàn thành phố) có trạm xử lý nước thải tập trung Tại làng nghề dệt lụa Vạn Phúc, làng rèn Đa Sỹ (Hà Đông), kim khí Phùng Xá (Thạch Thất), ô nhiễm môi trường cũng đang ở mức "báo động đỏ" Mỗi ngày, làng nghề Vạn Phúc thải ra môi trường hàng nghìn mét khối nước

có chứa hóa chất tẩy, nhuộm Còn ở làng nghề Đa Sỹ, Phùng Xá lượng bụi sắt, khí thải độc hại trong không khí vượt mức cho phép hơn chục lần

Theo Sở TN & MT Hà Nội, hầu hết các làng nghề ở khu vực Hà Tây (cũ) hoạt động không đảm bảo các yêu cầu về môi trường, đang từng ngày từng giờ biến các sông Nhuệ, sông Đáy, sông Tích thành những dòng sông "chết".Hàng loạt các doanh nghiệp vi phạm:nhà máy bia,… (Báo Thanh Niên số 35 ngày 28/7/2014)

- Tại Phú Thọ: Hiện nay, nhiều doanh nghiệp của tỉnh Phú Thọ bị phát

hiện gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Đặc biệt mới đây là trường hợp của

là công Công ty Miwon, gây bất bình trong dư luận Từ ngày 06 đến 08/10, Sở TN&MT đã tiến của Công ty Miwon, kết quả cho thấy, tại thời điểm kiểm tra, công ty Miwon đang tiến hành việc xả thải nước thải trực tiếp ra ngoài môi

trường khi Kênh tiêu, nơi Miwon xả thải công trình xử lý nước thải chưa được

nghiệm thu; chưa được cấp phép xả thải vào môi trường và chưa kê khai nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp mới phát sinh Ngoài ra các cơ

Trang 26

sở công nghiệp như: Công ty giấy Bãi Bằng, Công ty dệt Vĩnh Phú, Công ty rượu bia Vieger Phú Thọ, Công ty giấy Lửa Việt, Công ty Pangrim Neotex cũng gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng về nước thải, khí thải, chất thải rắn có chứa hoá chất độc hại Một trong những nguyên nhân dẫn đến việc suy thoái môi trường ở

Phú Thọ chính là vấn đề chất thải sản xuất công nghiệp (Báo Thanh Niên số 35 ngày 28/7/2014)

Thực tế cho thấy, tại nhiều cơ sở công nghiệp hiện nay, các doanh nghiệp vẫn đang sử dụng công nghệ, thiết bị lạc hậu Việc đổi mới dây chuyền sản xuất còn nhiều hạn chế dẫn tới việc chất thải ra môi trường chưa đạt tiêu chuẩn cho phép Do ảnh hưởng của chất thải công nghiệp, nước sông Hồng bị ô nhiễm nặng cục bộ tại các khu công nghiệp và đô thị, nước sông Lô đã có biểu hiện ô nhiễm cần phải có biện pháp xử lý, khắc phục kịp thời; một số nơi đã và đang trở thành

“điểm nóng” do ô nhiễm môi trường như xã Thạch Sơn, huyện Lâm Thao và mới

đây nhất là những vi phạm của công ty Miwon (Báo Thanh Niên số 35 ngày 28/7/2014)

- Tại Quảng Ninh : Nổi bật về ô nhiễm môi trường là của ngành than, ở

các bến cảng tiếp nhận than phân tán, nhỏ lẻ, hạ tầng yếu kém và đa số không có công trình bảo vệ môi trường Nhiều bến - bãi đã có quyết định của tỉnh QN ngừng hoạt động nhưng không chấp hành, gây ô nhiễm môi trường trầm trọng như tuyến đường 337 (Hạ Long) hoặc Mông Dương (Cẩm Phả) Đánh giá của Sở TNMT cho thấy: Nồng độ bụi ở khu vực Mông Dương (Cẩm Phả); Hà Trung, Hồng Hải (TP.Hạ Long); Khe Ngát (Uông Bí) - đều vượt tiêu chuẩn cho phép gấp nhiều lần Kiểm tra nước thải tại Cty than Hà Lầm có hàm lượng BOD (nhu cầu ôxy sinh hoá), COD (nhu cầu ôxy hoá học), TSS (hàm lượng cặn lửng lơ) vượt tiêu chuẩn cho phép từ 3,9- 5,7 lần; hàm lượng TTS trong nước thải của Cty than Dương Huy (Cẩm Phả) vượt đến 16 lần Chưa kể nhiều DN không hề có hệ thống xử lý nước thải (Báo Thanh Niên số 35 ngày 28/7/2014)

* Môi trường xung quanh các khu công nghiệp Miền Trung

- Theo thống kê chưa đầy đủ, khu vực kinh tế động lực của miền Trung

(từ Thừa Thiên - Huế đến Bình Định) đã có khoảng 20 khu công nghiệp (KCN) được xây dựng và thu hút gần 500 dự án.Đây là một tín hiệu đáng mừng cho miền Trung chậm phát triển Thế nhưng cùng với việc phát triển nhanh các KCN thì môi trường nơi đây cũng đang trong tình trạng báo động bởi nạn ô nhiễm nặng nề do chất thải từ các nhà máy (Báo Thanh Niên số 35 ngày 28/7/2014)

Trang 27

- Đà Nẵng : Sống chung với ô nhiễm Phường Hòa Hiệp Nam (quận Liên

Chiểu) không thể gieo cấy được vì ô nhiễm Hơn 400 hộ nông dân ở các đội sản xuất Hòa Hiệp Vụ lúa đông xuân năm nay hơn 120ha ruộng của ngao ngán trước tình trạng lúa cấy xuống bị héo rũ vì nguồn nước thải của KCN Hòa Khánh tràn

ra các thửa ruộng Từ ngày KCN Hòa Khánh hình thành, toàn bộ đất trên cánh đồng Gia Tròn, đồng Phở, đồng Cửa nằm sát hồ Bàu Tràm bị nước thải của Nhà máy sản xuất giấy Wei Sen Xin làm ô nhiễm Nước thải chảy tràn lâu ngày thấm sâu vào Nước ruộng bị ô nhiễm đất khiến đất chuyển sang màu đen đục, mùi hôi thối gây bệnh lở loét, ghẻ quánh đặc trong không khí Không những thế,tại khu vực Nam Ô(thuộc KCN Liên Chiểu)bụi xi măng của nhà máy xi măng Hải Vân làm cho không khí đặc quánh vì nông độ bụi tăng cao (Báo Thanh Niên số 35 ngày 28/7/2014)

Bụi không chỉ phủ trắng trên những mái nhà, khung cửa, vật dụng trong các hộ gia đình xung quanh mà toàn bộ cây xanh trồng ở khu vực này đều bị bụi ximăng nhuộm một màu trắng đục Người dân phải ăn, ngủ với bụi ximăng từ hơn một năm nay Và không chỉ có Nhà máy ximăng Hải Vân thải bụi, Nhà máy Thép Đà Nẵng ở gần đó cũng mặc nhiên xả mạt sắt thép ra ngoài khiến không khí ở đây càng đặc quánh lại “Mỗi lần nhà máy này xả mạt ra cả khu vực đen đặc như sương mù” (Báo Thanh Niên số 35 ngày 28/7/2014)

- Ở Quảng Nam: Rác công nghiệp hành hạ người dân Tại KCN Điện Nam

- Điện Ngọc được xem là KCN lớn nhất và là niềm tự hào về phát triển công nghiệp của tỉnh Quảng Nam Và KCN này cũng đang nổi lên như một điểm nóng

về ô nhiễm môi trường ở miền Trung Bởi vì, cũng như nhiều KCN khác ở miền Trung, KCN này vẫn chưa xây dựng hệ thống xử lý chất thải Và hiển nhiên, tất thảy những gì thải ra ở KCN này người dân xung quanh phải gánh chịu

Trong đó,Nhà máy bia Larger đã gây ra mùi khăm khẳm khó chịu quánh đặc trong không khí Càng đi vào sát khu vực nhà máy bia, mùi hôi càng nồng nặc Sau hơn sáu năm hoạt động, các nhà máy tại KCN Điện Nam - Điện Ngọc chẳng được cơ quan chức năng nào giám sát chất thải được xử lý như thế nào Và toàn bộ chất thải, kể cả rắn, khí, lỏng đều tự do thải ra ngoài môi trường Con mương dẫn nước thải của KCN chảy tự do ra sông Ngân Hà, làm dòng sông trong xanh từ bao đời nay trở nên đen kịt Cá tôm chết tiệt Trạm bơm Tứ Câu gần như ngừng hoạt động vì nguồn nước bị ô nhiễm không thể tưới tiêu cho gần 200ha ruộng của Điện Ngọc 1, Điện Ngọc 2 (Báo Thanh Niên số 35 ngày 28/7/2014)

Trang 28

- Tại Quảng Ngãi : Sông Trà Khúc & kênh Bầu Lăng đang chết dần Hàng

chục hộ dân đang sống gần KCN Quảng Phú (thành phố Quảng Ngãi) nhiều năm nay phải khốn khổ vì chất thải của các nhà máy trong KCN này thải ra môi trường Điều đáng nói là từ khi hình thành đến nay, KCN này không có một hệ thống xử lý môi trường chung theo qui định Nước thải từ Khu công nghiệp Điện Nam - Điện Ngọc chưa qua xử lý được thải thẳng ra sông Ngân Hà làm ô nhiễm toàn bộ dòng chảy của con sông này KCN Quảng Phú được chính thức hoạt động

từ đầu năm 2000 và đến nay đã thu hút trên 24 dự án sản xuất lâm sản, thủy sản, phân bón, bao bì, giấy Đây là KCN lớn nhất của Quảng Ngãi, thế nhưng từ khi

đi vào hoạt động đến nay KCN này chưa có hệ thống xử lý nước thải chung, nên các nhà máy đã xả chất thải ra kênh Bầu Lăng Trước đây người dân dùng nước kênh để sinh hoạt sản xuất, nhưng bây giờ nguồn nước trở nên đen ngòm và hôi thối Ngoài kênh Bầu Lăng thì sông Trà Khúc cũng chung số phận, bởi một số nhà máy của Công ty Đường Quảng Ngãi đã đưa chất thải trực tiếp ra sông Nhiều lần cá trên sông Trà Khúc bị chết nổi trắng dòng do ô nhiễm (Báo Thanh Niên số 35 ngày 28/7/2014)

Kết quả quan trắc môi trường của Sở Tài nguyên - môi trường Quảng Ngãi mới đây cho thấy nước thải KCN Quảng Phú vượt tiêu chuẩn cho phép (về các chỉ tiêu COD, BOD, dầu, SS, CN), trong đó đáng chú ý là chỉ tiêu CN - chất

có mức độc hại cao gây nguy hiểm đến đời sống của thủy sinh vật cũng như con người

2.2.3 Hiện trạng môi trường KCN trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa

2.2.3.1 Nước thải

Trong số 07 KCN và 01 KTT tại Thanh Hóa thì có 02 KCN (KCN Lễ Môn

và KCN Bỉm Sơn) đã đầu tư hệ thống xử lý nước thải tập trung Tuy nhiên, chỉ

có KCN Lễ Môn đã đồng bộ hóa việc đấu nối nước thải từ các cơ sở sản xuất kinh doanh trực thuộc vào hệ thống xử lý chung trước khi thải ra môi trường, hầu hết các cơ sở sản xuất đều có biện pháp xử lý nước thải cục bộ trước khi đấu nối; còn lại KCN Bỉm Sơn chỉ một số cơ sở lớn có đấu nối nhưng hầu hết là chưa qua

xử lý trước khi đấu nối Tại KKT Nghi Sơn là nơi tập trung rất nhiều cơ sở sản xuất quy mô lớn (Nhà máy lọc hóa dầu Nghi Sơn, Nhà máy xi măng Công Thanh, Nhà máy xi măng Nghi Sơn, Nhà máy sản xuất chả cá và chế biến hải sản Sông Việt,…) trên phạm vi đất rộng, do đó việc yêu cầu các cơ sở sản xuất đấu nối nước thải vào hệ thống xử lý nước thải tập trung là không thể thực hiện được,

Trang 29

do đó hệ thống xử lý nước thải tập trung chỉ xử lý cho một số nhà máy tập trung tại khu vực trung tâm KKT, còn lại đã tự đầu tư hệ thống xử lý nước thải riêng có quy mô và công nghệ phù hợp với loại hình sản xuất của từng cơ sở Đối với 02 KCN là KCN Lam Sơn, KCN Hoàng Long và KCN Thạch Quảng do chưa xây dựng hoàn thiện, việc xây dựng đồng thời với hoạt động sản xuất, do đó mà hệ thống xử lý nước thải tập trung chưa được đầu tư đúng quy định nhưng các cơ sở sản xuất trực thuộc đã có đầu tư hệ thống xử lý nước thải cục bộ KCN Đình Hương - Tây Bắc Ga là KCN xây dựng từ khá lâu nhưng chưa có hệ thống xử lý nước thải tập chung, tại đây tình trạng xả nước thải trực tiếp ra nguồn tiếp nhận

là sông Hạc rất phổ biến, tuy nhiên, mấy năm gần đây, nhờ sự vào cuộc mạnh mẽ của cơ quan chức năng chuyên môn yêu cầu các cơ sở sản xuất trực thuộc phải tự xây dựng hệ thống xử lý nước thải riêng, tuyệt đối nghiêm cấm việc xả nước thải không qua xử lý trực tiếp ra sông Nhờ đó, tình trạng ô nhiễm nước sông Hạc đã được cải thiện đáng kể nhưng việc đầu tư hệ thống xử lý nước thải tập chung cho toàn bộ KCN này là rất cần thiết KCN Bãi Trành cũng là KCN chưa được đầu tư

hệ thống xử lý nước thải tập trung

2.2.3.2 Chất thải rắn

Về chất thải rắn từ các KCN tại Thanh Hóa cũng là vấn đề đáng quan tâm

do khối lượng và chủng loại ngày càng tăng Trong khi đó các bãi rác trên địa bàn KCN đóng thì gần như đang trong tình trạng quá tải, đồng thời các bãi rác này chỉ có chức năng chứa và xử lý rác thải sinh hoạt Rác thải công nghiệp, đặc biệt là chất thải nguy hại theo quy định phải được phân loại, lưu trữ và xử lý riêng nhưng tình trạng không phân loại mà để chung cùng rác thải sinh hoạt là rất phổ biến tại các KCN hiện nay Nguyên nhân do ý thức của các cơ sở sản xuất,

do kinh phí xử lý rác thải công nghiệp tương đối cao và một phần do cơ quan quản lý chưa quản lý chặt chẽ tình trạng này

2.2.3.3 Không khí

Các nhà máy trong các KCN tại Thanh Hóa hầu hết đã có biện pháp xử lý khí thải trước khi thải ra môi trường, gần như không có tình trạng thải trực tiếp Tuy nhiên, công nghệ xử lý một số cơ sở còn thô sơ, chưa thực sự phù hợp với quy

mô và công nghệ sản xuất mà dẫn đến vẫn gây ô nhiễm môi trường không khí KCN Lễ Môn tập trung các nhà máy sản xuất phát sinh khí thải không phức tạp nên tình trạng gây ô nhiễm môi trường không khí do khí thải tại đây tương đối ít

Bên cạnh đó đối với môi trường lao động của công nhân cũng là vấn đề

Trang 30

cần đặc biệt quan tâm Hiện nay, trong các nhà xưởng, các khu sản xuất, chế biến đặc thù có sử dụng hóa chất gần như chưa có biện pháp bảo vệ sức khỏe cho công nhân Đã có tình trạng công nhân bị ngộ độc hóa chất như trường hợp công nhân bị ngất hàng loạt trong tình trạng khó thở và không có bảo hộ lao động tại xưởng dán keo của Nhà máy sản xuất và gia công giầy xuất khẩu Hong Fu trong KCN Hoàng Long (Ban Quản lý Khu kinh tế Nghi Sơn và các Khu công nghiệp Thanh Hóa, 2015)

2.3 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP 2.3.1 Thực trạng quản lý tại các KCN trên Thế Giới

Kinh tế càng phát triển thì nhu cầu sử dụng tài nguyên thiên nhiên càng tăng cao Vấn đề là làm thế nào duy trì được mối quan hệ hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền đang được nhiều nước áp dụng có thể hạn chế được một cách hợp lý tình trạng ô nhiễm môi trường trong quá trình phát triển

Đã có nhiều nỗ lực ở các nước đang phát triển nhằm giảm thiểu mức độ ô nhiễm không khí, các quốc gia Bắc Âu, Ấn Độ đang tăng tỷ trọng nguồn năng lượng mới như năng lượng gió trong tổng sản lượng của ngành năng lượng Công nghệ sạch, công nghệ thân thiện với môi trường càng được sử dụng nhiều Tỷ lệ các chất thải được tái chế, đưa vào sử dụng ngày càng tăng lên Tại các quốc gia đang phát triển, ngoài việc áp dụng công nghệ sạch để giảm thiểu ô nhiễm, các nước này đã tập trung nhiều nỗ lực bảo vệ rừng, bảo vệ đa dạng sinh học, kiểm soát sự gia tăng dân số, cải thiện điều kiện sinh hoạt cho nhân dân, tạo việc làm

và nâng cao mức sống xã hội Một số kinh nghiệm của các quốc gia trong việc khắc phục sự cố môi trường:

+ Nhật Bản

Sau khi chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc, các nhà hoạt động chính sách của Nhật Bản đã ưu tiên cho mục đích phát triển kinh tế mà không chú ý tới hậu quả môi trường Các thành phố lớn như Osaka, Tokyo, Yokoham bị ô nhiễm nặng Nhiều nhà máy công nghiệp như hóa dầu, công nghiệp dệt, cơ khí cũng được xây dựng tại các địa phương Ô nhiễm môi trường lan rộng tới khu vực kém phát triển hơn Trước làn sóng phản ứng của cộng đồng, chính quyền địa phương đã thông qua các đạo luật về bảo vệ môi trường năm 1958 Cụ thể là luật bảo vệ chất lượng nước, luật kiểm soát chất thải nhà máy, luật điều chỉnh lượng khói bụi thoát ra Tuy nhiên biện pháp này kém hiệu quả

Trang 31

Vào cuối những năm 1960 có một số sự kiện đáng chú ý là 4 trường hợp

Minamata (nhiễm độc thủy ngân), Niigata Minamata Disease, Itai - Itai Disease

(nhiếm độc Catmi) và Yokkaichi Ashma (ô nhiễm không khí gây ra bởi các cơ sở công nghiệp) Trong trường hợp Minamata có rất nhiều các biện pháp đã được tiến hành để giải quyết bệnh Minamata như: Kiểm soát ô nhiễm môi trường; trợ giúp bệnh nhân (bồi thường thu nhập bị mất đi, hỗ trợ chi phí y tế ); thúc đẩy các hoạt động điều tra, nghiên cứu liên quan đến bệnh và khảo sát ảnh hưởng sức khỏe tiềm tàng đối với người dân quanh khu vực bị ô nhiễm; nạo vét cặn lắng ô nhiễm từ vịnh Minamata và sông Agano Với sự nỗ lực và nhiều biện pháp kết hợp kết quả là đến tháng 7/1997, mức độ an toàn trong vịnh Minamata đã được đảm bảo (Lê Thành Quân, 2011)

Để nhằm kiểm soát ô nhiễm, một số Luật và quy định đã được ban hành ví

dụ như Luật về Kiểm soát Ô nhiễm môi trường (1967,1970), Luật Kiểm soát Ô nhiễm nước (1970) Trong đó, Luật Kiểm soát ô nhiễm nước đã quy định đối với việc quan trắc ô nhiễm, xả thải đối với các chất như thủy ngân, cadmium và các chất hóa học khác (Lê Thành Quân, 2011)

Năm 1971 cơ quan môi trường được thành lập, cơ quan này đã đưa ra kế hoạch về chính sách môi trường để ngăn chặn tình trạng ô nhiễm môi trường đang thời kỳ tăng trưởng cao Những năm sau đó, các quy định về luật kiểm soát

ô nhiễm môi trường đã được nâng cấp, bao gồm những điều luật về ô nhiễm không khí và tiếng ồn ô tô xe máy

Để bắt kịp với sự thay đổi của luật môi trường, các chính quyền địa phương

và chính phủ đã huy động mọi nguồn đầu tư kiểm soát môi trường Nhờ các biện pháp kiểm soát môi trường mạnh mẽ ở cả hai khu vực tư nhân và nhà nước, một mặt do quá trình chuyển dịch cơ cấu các ngành công nghiệp, mức độ ô nhiễm môi trường nhanh chóng giảm đi từ giữa thập kỷ 1970 Tuy nhiên vẫn còn rất nhiều vấn đề chưa thể giải quyết được, đặc biệt là việc quản lý chất độc hại, chất thải rắn và chất thải nguy hiểm đối với sức khỏe cộng đồng Thay vì việc hạn chế chất thải công nghiệp, nhà nước khuyến khích các công ty tìm mọi cách xử lý chất thải trước khi thoát ra ngoài cơ sở sản xuất công nghiệp Như vậy kinh nghiệm của Nhật Bản đã khẳng định phòng ngừa tốt hơn khắc phục hậu quả, chính sách đặt mục tiêu tăng trưởng lên trên bảo vệ môi trường là sai lầm

+ Italia

Trang 32

Là một quốc gia phát triển với khoảng gần 60 triệu người trên lãnh thổ nhỏ Mật độ dân số cao dẫn đến áp lực mạnh mẽ lên môi trường

Giữa thế kỷ 20 là thời kỳ phép lạ kinh tế, tại Italia người ta coi việc làm và lợi nhuận quan trọng hơn là bảo vệ môi trường Chính điều này đã dẫn đến một

sự kiện ô nhiễm môi trường nghiêm trọng nhất tại đây Vào năm 1976 xảy ra vụ

nổ lớn tại nhà máy hóa chất ICMESA tại Seveso, miền Bắc Italia làm thải ra môi trường chung quanh khoảng 30 kg dioxin, một hóa chất độc hại vào hàng số một

mà con người biết đến Cư dân trong vùng và các vùng phụ cận bị phơi nhiễm độc chất Ngay trong ngày đó, hàng ngàn cư dân bị các triệu chứng như ói mửa, nhức đầu, và đau mắt Một số trẻ em phải nhập bệnh viện vì các triệu chứng liên quan đến da Sau đó người dân được khẩn trương sơ tán khỏi Seveso, cơ quan chức năng vào cuộc và tiến hành tẩy uế môi trường cũng như dọn dẹp lại khu vực này Tháng 1 năm 1977, một kế hoạch hành động bao gồm các phân tích khoa học, viện trợ kinh tế, giám sát y tế và phục hồi/khử trùng đã được hoàn thành Chương trình giám sát dịch tễ học được thành lập như sau: phá thai (1982); dị tật (1982); khối u (1997), tử vong (1997) Theo dõi sức khỏe của người lao động tại công ty ICMESA và các dự án tẩy độc, và bị chloracne (1985)

Ngay sau khi tai nạn xảy ra, ý thức được tiềm năng độc hại của dioxin, và với

sự hỗ trợ của chính phủ Ý, các nhà nghiên cứu khoa học và bác sĩ đã thiết lập ngay một chương trình nghiên cứu qui mô về tác hại của dioxin đến sức khỏe cư dân trong vùng (Nguyễn Văn Tài và Nguyễn Văn Huy, 2010) Và trong nhiều năm tiếp theo có rất nhiều công trình nghiên cứu tác hại của dioxin Kinh nghiệm từ công trình nghiên cứu Seveso cho thấy nghiên cứu tác hại lâu dài của độc chất da cam hay dioxin là một việc làm hoàn toàn khả dĩ Việc nghiên cứu sử dụng các mẫu tại Seveso được thực hiện trong hơn hai thập kỷ qua có thể giúp xác định mức độ dioxin rất nguy hiểm, và giúp đỡ trong việc đánh giá rủi ro chính xác hơn trong các quốc gia khác

Italia quan tâm đến môi trường rất lâu trước khi có sự ra đời của một chính sách môi trường Trong mười năm qua, Italy đã đạt hoặc gần như đáp ứng một số mục tiêu trong nước và cam kết quốc tế Góp phần đáng kể củng cố các tổ chức môi trường quốc gia, ban hành pháp luật mới về môi trường, và tiếp tục phân cấp trách nhiệm môi trường cho các cơ quan khu vực và địa phương trong khi giữ trách nhiệm lập kế hoạch chiến lược và pháp lý phối hợp ở Trung ương Đánh giá tác động môi trường dự án, thực hiện ở cấp quốc gia từ năm 1989, đã được một

Trang 33

hiệu quả đáng kể Những năm 1990 chứng kiến sự phát triển của công cụ kinh tế

và thỏa thuận tự nguyện: Các biện pháp được áp dụng để hạn chế không khí ô nhiễm, thuế các-bon đã được giới thiệu vào tháng 1/1999, Eco-kiểm toán đề án, nhãn sinh thái cũng đã được phát triển

Trong cam kết quốc tế, Italia đã tiếp tục hỗ trợ môi trường hợp tác quốc tế một cách rất tích cực, phê chuẩn hầu hết các thỏa thuận và ban hành hầu hết các chỉ thị của EU, bao gồm cả cho sự biến đổi khí hậu và ô nhiễm không khí Phát triển môi trường hợp tác với các nước láng giềng: Italia, Pháp và Monaco dành ra

100 000 km2 cho khu bảo tồn bảo vệ các loài động vật biển có vú, đặc biệt là cá voi Italy cũng đã được rất tích cực trong việc thúc đẩy hợp tác quốc tế ở khu vực hạn hán và sa mạc hóa và phê chuẩn công ước quốc tế liên quan đến bảo tồn và

đa dạng sinh học

2.3.2 Thực trạng quản lý môi trường tại Việt Nam

Phát triển không hợp lý là điều tất yếu dẫn đến suy thoái môi trường Hiện nay ở Việt Nam, các cấp, các ngành đã có nhiều cố gắng trong việc thực hiện chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường Các chính sách pháp luật này tuy còn thiếu sót nhưng nếu thực hiện tốt thì việc bảo vệ môi trường là khá hiệu quả Trách nhiệm thực thi pháp luật còn yếu kém, còn nhiều lỗ hổng nên việc ngăn chặn sự ô nhiễm,

bảo vệ cuộc sống của cộng đồng không thực hiện được

Những vụ ô nhiễm môi trường do các công ty và nhà máy gây ra đang ngày càng gióng lên hồi chuông cảnh báo về cách thức các công ty xử lý rác thải

từ quá trình sản xuất, cũng như cách họ chịu trách nhiệm trong việc bảo tồn hệ sinh thái và môi trường Nhiều cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng tạo nên các điểm nóng về môi trường hiện nay như sông Thị Vải, tỉnh Khánh Hoà, lưu vực sông Nhuệ, sông Đáy Những vụ sai phạm rất điển hình như vụ Công ty Vedan Việt Nam, vụ Công ty Hyundai - Vinashin, vụ Nhà máy Miwon ở Phú Thọ, Công ty Tung kuang đều đã không bị xử lý hình sự

Trong vụ việc Cty Vedan làm ô nhiễm môi trường sông Thị Vải biện pháp

xử phạt đưa ra là xử phạt hành chính, truy thu phí, bồi thường thiệt hại đối với những hộ dân bị ảnh hưởng Công ty Vedan bị đình chỉ hoạt động xả thải để khắc phục ô nhiễm môi trường, phải cải tạo toàn bộ hệ thống thu gom, xử lý nước thải đảm bảo quy chuẩn kỹ thuật về chất thải theo quy định thì mới cho phép hoạt động trở lại (Sơn Đỉnh, 2008)

Trang 34

Như vậy, Việt Nam mới chỉ đưa ra một số liệu pháp chữa cháy mỗi khi có điểm nóng bùng lên Trong khi đó, bản thân vấn đề môi trường không thể giải quyết bằng cách chữa cháy Việc này đòi những giải pháp mang tính lâu dài, có

độ chính xác kỹ thuật, sự cân nhắc kỹ lưỡng chính sách kinh tế tài chính và điều

vô cùng quan trọng là một bộ luật nghiêm khắc, kỹ lưỡng, thấu đáo làm sao tất cả mọi người, mọi ngành có thể thực hiện được Điều quan trọng là không nên vì theo lợi nhuận kinh tế trước mắt, đi theo tốc độ tăng trưởng mà quên nhiệm vụ chính là bảo vệ môi trường

2.3.3 Hệ thống văn bản quản lý tại các KCN

a Hệ thống văn bản quản lý môi trường tại các KCN

Trong quá trình CNH-HĐH đất nước, nhiệm vụ BVMT luôn được Đảng và Nhà nước coi trọng Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 25/6/1998, tiếp đến là Nghị quyết 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác BVMT trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước đã đưa ra những định hướng rất quan trọng, trong đó nhấn mạnh các đô thị, các KCN phải sớm có và thực hiện tốt phương án xử lý chất thải, ưu tiên xử lý chất thải độc hại Quan điểm phát triển đất nước của Đảng ta cũng đã đã được khẳng định trong Chiến lược phát triển KTXH giai đoạn 2001-2010 được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng thông qua là "Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế

đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và BVMT"

Rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành quy định nội dung quản lý môi trường KCN Nghị định 36/CP ngày 24/4/1997 về ban hành quy chế KCN, KCX, khu công nghệ cao là văn bản đầu tiên tạo cơ sở điều chỉnh các hoạt động của KCN như cấp phép đầu tư, thành lập BQL, cơ chế phối hợp giữa các Bộ/ngành và địa phương Nghị định 36/CP cho phép thành lập BQL các KCN, KCX được nhìn nhận như là đại diện được uỷ quyền của Bộ ngành và địa phương

để quản lý KCN

Bảng 2.1 Các văn bản về quản lý môi trường các KCN đã ban hành

ban hành

1 Chỉ thị số 199/TTg của Thủ tướng Chính phủ về những biện pháp

cấp bách trong công tác quản lý CTR ở các đô thị và KCN

3/4/1997

2 Nghị định số 36/CP về ban hành quy chế KCN, KCX, Khu công

nghệ cao;

24/4/1997

Trang 35

3 Quyết định số 152/1999/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về

việc phê duyệt chiến lược quản lý CTR tại các khu đô thị và KCN

đến năm 2020

10/7/1999

4 Thông tư liên tịch số 1590/1997/TTLT/BKHCNMT-BXD của Bộ

Khoa học, Công nghệ và Môi trường, Bộ Xây dựng hướng dẫn thi

hành chỉ thị số 199/TTg ngày 3/4/1997 của Thủ tướng Chính phủ

về các biện pháp cấp bách trong quản lý CTR ở các đô thị và

6 Quyết định số 183/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về cơ

chế hỗ trợ vốn ngân sách Trung ương đề đầu tư xây dựng kết cấu

hạ tầng kỹ thuật KCN tại các địa phương có điều kiện KTXH khó

khăn

19/10/2004

7 Thông tư số 36/2005/TT-BNV về xếp hạng BQL các KCN, BQL

KKT, BQL KKT mở, BQL KKT cửa khẩu, BQL KKT – thương

mại, BQL khu công nghệ cao và BQL có tên gọi khác

06/4/2005

9 Nghị định số 80/2006/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định chi

tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BVMT;

09/8/2006

10 Quyết định số 1107/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc

phê duyệt quy hoạch phát triển các KCN ở Việt Nam đến năm

2015 và định hướng đến đến năm 2020

21/8/2006

11 Thông tư 08/2006/TT-TNMT của Bộ TN&MT hướng dẫn chi tiết

thực hiện một số nội dung về ĐMC, ĐTM và cam kết BVMT;

08/9/2006

12 Nghị định số 59/2007/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý chất thải

rắn

09/4/2007

13 Nghị định số 88/2007/NĐ-CP của Chính phủ quy định về thoát

nước đô thị và khu công nghiệp;

16 Thông tư 05/2008/TT-BTNMT hướng dẫn về đánh giá môi trường

chiến lược, đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi

trường, thay thế Thông tư số 08/2006/TT-BTNMT ngày

08/9/2006 của Bộ TN&MT hướng dẫn về đánh giá môi trường

chiến lược, đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi

trường

8/12/2008

Trang 36

17 Thông tư số 08/2009/TT-BTNMT của Bộ TN&MT quy định quản

lý và BVMT KKT, khu công nghệ cao, KCN và CCN

15/7/2009

18 Quyết định số 1419/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt

“Chiến lược sản xuất sạch hơn trong công nghiệp đến năm 2020;”

07/9/2009

19 Thông tư số 48/2011/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi

trường về sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số

08/2009/TT-BTNMT của Bộ TN&MT quy định quản lý và

BVMT KKT, khu công nghệ cao, KCN và CCN

22 Nghị đinh 18/2015 Quy định về quy hoạch bảo vệ môi trường,

đánh giá tác động môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi

trường và Kế hoạch BVMT

14/2/2015

23 Thông tư 27/ 2015/TT-BTNMT về Đánh giá môi trường chiến

lược, Đánh giá tác động môi trường và Kế hoạch BVMT

29/5/2015

24 Thông tư 26/2015/TT-BTNMT Quy định về đề án BVMT chi tiết,

đề án BVMT đơn giản

28/5/2015

25 Thông tư số 36/2015/BTNMT về quản lý chất thải nguy hại 30/6/2015

Nhìn chung, hiện chưa có sự thống nhất giữa các văn bản quy định về quản

lý môi trường đối với các KCN Đến nay hầu hết các văn bản liên quan đến KCN đều tập trung vào những vấn đề cải thiện môi trường đầu tư, còn hành lang pháp

lý về quản lý môi trường KCN rất chậm được ban hành Tại một số địa phương, vấn đề bảo vệ môi trường KCN chưa được quan tâm đúng mức, nhiều vi phạm môi trường diễn ra liên tục, nhiều năm nhưng không được xử lý cương quyết

b Hệ thống quản lý môi trường khu công nghiệp

Theo Luật BVMT và các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật, liên quan đến quản lý môi trường KCN có các đơn vị sau: Bộ TN&MT (đối với các KCN và các dự án trong KCN có quy mô lớn); UBND tỉnh (đối với KCN và các dự án trong KCN có quy mô thuộc thẩm quyền phê duyệt của tỉnh), UBND huyện (đối với một số dự án quy mô nhỏ) và một số bộ ngành khác (đối với một số dự án có tính đặc thù)

Bên cạnh đó, cũng theo Luật BVMT và các Nghị định của Chính phủ, liên quan đến BVMT và quản lý môi trường của các KCN còn có: Ban quản lý KCN, chủ đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng kỹ thuật KCN, các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong KCN

Trang 37

Hình 2.1 Sơ đồ nguyên tắc các mối quan hệ trong hệ thống quản lý môi trường KCN

Thông tư 08/2009/TT-BTNMT của Bộ TN&MT tập trung vào việc quy định trách nhiệm, quyền hạn của các đơn vị và các vấn đề liên quan đến quản lý

và BVMT của các KCN, trong đó đặc biệt nâng cao trách nhiệm của BQL các KCN Theo đó, BQL các KCN chịu trách nhiệm trực tiếp quản lý công tác

CHÍNH PHỦ

UBND CẤP

TỈNH

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

BỘ/NGÀNH KHÁC

SỞ/NGÀNH KHÁC

UBND CẤP

HUYỆN

SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

BAN QUẢN LÝ CÁC KHU CÔNG NGHIÊP

KHU CÔNG NGHIÊP

Chủ đầu tư xây dựng và Kinh doanh

hạ tầng

Các doanh nghiệp, cơ

sở sản xuất trong khu công nghiệp

Trang 38

BVMT tại KCN theo sự ủy quyền của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Điều 4, khoản 1) Để thực hiện nhiệm vụ này, BQL các KCN phải có tổ chức chuyên môn, cán bộ phụ trách về BVMT theo quy định tại Nghị định số 81/2007/NĐ-CP ngày 23/5/2007 của Chính phủ quy định tổ chức, bộ phận chuyên môn về BVMT tại cơ quan nhà nước và doanh nghiệp nhà nước

BQL các KCN thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước về môi trường KCN theo uỷ quyền như tổ chức thực hiện thẩm định và phê duyệt báo cáo ĐTM; chủ trì hoặc phối hợp thực hiện giám sát, kiểm tra các vi phạm về BVMT đối với các dự án, cơ sở sản xuất, kinh doanh tại KCN; phối hợp với Bộ TN&MT, Sở TN&MT thực hiện việc thanh tra và xử lý vi phạm về BVMT trong KCN

Sở TN&MT thực hiện chức năng quản lý nhà nước về môi trường, chủ trì công tác thanh tra việc thực hiện các quy định về BVMT và các nội dung của Quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM theo thẩm quyền; chủ trì hoặc phối hợp với BQL các KCN tiến hành kiểm tra công tác BVMT trong KCN; phối hợp giải quyết các tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về BVMT KCN

Công ty Phát triển hạ tầng KCN có chức năng xây dựng và quản lý cơ sở hạ tầng KCN; quản lý và vận hành hệ thống xử lý nước thải tập trung, các công trình thu gom, phân loại và xử lý chất thải rắn theo đúng kỹ thuật; theo dõi, giám sát hoạt động xả thải của các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ đổ vào hệ thống

xử lý nước thải tập trung của KCN

Tuy nhiên, thực tiễn đặt ra rất nhiều vấn đề cần điều chỉnh, cụ thể hơn trong các quy định quản lý môi trường KCN Do vậy, ngày 28/12/2011, Bộ Tài nguyên

và Môi trường đã ban hành Thông tư số 48/2011/TT-BTNMT về sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 08/2009/TT-BTNMT của Bộ TN&MT quy định quản lý và BVMT KKT, khu công nghệ cao, KCN và CCN, trong đó có nội dung về chế độ quan trắc và báo cáo môi trường, thẩm quyền quản lý nhà nước

về bảo vệ môi trường đối với các doanh nghiệp trong KCN là UBND huyện trên địa bàn quản lý (không phải là BQL các KCN như trước đây)…

Trang 39

PHẦN 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

Khu công nghiệp Hoàng Long, phường Tào Xuyên, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa

3.2 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

Từ tháng 9 năm 2015 đến tháng 8 năm 2016

3.3 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU

+ Nguồn thải và quản lý nguồn thải bao gồm các yếu tố: đất, nước, không khí, khu công nghiệp Hoàng Long, phường Tào Xuyên, thành phố Thanh Hóa

3.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

3.4.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, Kinh tế xã Hội

3.4.2 Thực trạng hoạt động của KCN

+ Các loại hình hoạt động sản xuất chính trong khu công nghiệp

3.4.3 Hiện trạng môi trường KCN

+ Hiện trạng môi trường Không Khí;

+ Hiên trang môi trường nước mặt;

+ Hiện trạng môi trường nước ngầm;

+ Hiện trạng môi trường đất;

+ Hiện trạng chất thải rắn;

+ Hiện trạng công tác Quản lý môi trường;

+ Đánh giá hiện trạng môi truờng và công tác quản lý môi trường;

+ Đề xuất các giải pháp BVMT cho KCN

3.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.5.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp

+ Niên giám thống kê tỉnh Thanh Hóa năm 2014, 2015

+ Báo cáo tổng kết về kinh tế, xã hội thành phố Thanh Hóa năm 2015 + Số liệu từ trạm khí tượng thủy văn Thanh Hóa

Trang 40

+ Báo cáo kết quả hoạt động của một số doanh nghiệp trong khu công nghiệp năm 2014, 2015…

3.5.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp và xử lý số liệu

- Khảo sát thực địa tìm hiểu tình hình xả thải ra môi trường liên quan đến môi trường đất, không khí, nước đối chiếu với các báo cáo về địa điểm quan trắc của các doanh nghiệp trong khu công nghiệp

3.5.3 Phương pháp khảo sát, lấy mẫu hiện trường

Tiến hành khảo sát thực địa, lấy mẫu để phân tích đánh giá hiện trạng môi trường Việc lấy mẫu đảm bảo tuân thủ theo đúng quy định Các mẫu mang tính đại diện cho khu vực lấy mẫu

- Sơ đồ các vị trí lấy mẫu được trình bày như sau:

Bảng 3.1 Tổng hợp đối tượng lấy mẫu

Tháng 12/2015

Tháng 3/2016

Tháng 6/2016

1 Mẫu không

khí

K1, K2

K3, K4

K5, K6

K7, K8

Thời điểm không có mưa

2 Mẫu Nước

Thời điểm không có mưa

3 Mẫu nước

Thời điểm không có mưa

4 Mẫu đất

không có mưa

Kết quả lấy mẫu của đề tài, 2015,2016

+ Đề tài tiến hành lấy 8 mẫu không khí theo đầu và cuối hướng gió với tần xuất 3 tháng/lần, từ tháng 9/2015 đến tháng 6/2016 (tháng 9 và tháng 12/2015 lấy mẫu không khí ở đầu và cuối hướng gió Đông Bắc, tháng 3 và tháng 6/2016 lấy mẫu không khí ở đầu và cuối hướng gió Đông Nam)

+ Các vị trí lấy mẫu là những mẫu mang tính chất đặc trưng của các loại hình sản xuất của KCN vị trí lấy mẫu cụ thể như sau:

Ngày đăng: 18/11/2018, 11:18

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w