1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

chuyển đổi cây trồng, vật nuôi trên đất lúa kém hiệu quả tại huyện vụ bản, tỉnh nam định

135 191 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 135
Dung lượng 1,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam Chuyển đổi cây trồng vật nuôi trên đất lúa kém hiệu quả là một nội dung quan trọng của tái cơ cấu ngành nông nghiệp, là việc làm cần thiết nh

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Văn Song

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo

vệ lấy bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám

ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Trần Thị Quỳnh Anh

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được

sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình

Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết

ơn sâu sắc tới GS.TS Nguyễn Văn Song đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Kinh tế Tài nguyên Môi trường, Khoa Kinh tế và phát triển Nông thôn, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài

và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ công chức huyện Vụ Bản đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Trần Thị Quỳnh Anh

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục chữ viết tắt vi

Danh mục bảng vii

Trích yếu luận văn ix

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3

1.4 Đóng góp mới của luận văn về lí luận và thực tiễn 3

Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về chuyển đổi cây trồng, vật nuôi trên đất lúa kém hiệu quả 5

2.1 Cơ sở lý luận về chuyển đổi cây trồng, vật nuôi trên đất lúa kém hiệu quả 5

2.1.1 Lý luận về chuyển đổi cây trồng, vật nuôi 5

2.1.2 Lý luận về đất lúa và hiệu quảsử dụng đất lúa 8

2.1.3 Nội dung nghiên cứu chuyển đổi cây trồng, vật nuôi trên đất lúa kém hiệu quả 13

2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển đổi cây trồng, vật nuôi trên đất lúa kém hiệu quả 17

2.2 Cơ sở thực tiễn 20

2.2.1 Tình hình chuyển đổi cây trồng, vật nuôi ở một số nước trên thế giới 20

2.2.2 Tình hình chuyển đổi cây trồng, vật nuôi trên đất lúa kém hiệu quả tại một số tỉnh 20

2.2.3 Tình hình chuyển đổi cây trồng, vật nuôi trên đất lúa kém hiệu quả tại một số địa phương của tỉnh Nam Định 26

Trang 5

2.3 Bài học kinh nghiệm rút ra từ tổng quan cơ sở lý luận và thực tiễn 29

Phần 3 Phương pháp nghiên cứu 31

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 31

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 31

3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội 34

3.1.3 Những thuận lợi, khó khăn của địa bàn nghiên cứu 42

3.2 Phương pháp nghiên cứu 43

3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 43

3.2.2 Nguồn số liệu 43

3.2.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 47

3.2.4 Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo 48

3.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 48

3.3.1 Chỉ tiêu phản ánh thực trạng chuyển đổi cây trồng, vật nuôi trên đất lúa hiệu quả thấp 48

3.3.2 Chỉ tiêu phản ánh kết quả và hiệu quả sản xuất 48

Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 50

4.1 Thực trạng chuyển đổi cây trồng, vật nuôi trên đất lúa kém hiệu quả tại huyện vụ bản 50

4.1.1 Thực trạng cơ cấu cây trồng, vật nuôi của huyện Vụ Bản giai đoạn 2012 – 2014 50

4.1.2 Cơ sở của chuyển đổi cây trồng, vật nuôi trên đất lúa kém hiệu quả tại huyện Vụ Bản 56

4.1.3 Thực trạng chuyển đổi cây trồng, vật nuôi trên đất lúa kém hiệu quả tại huyện Vụ Bản 57

4.1.4 Thực trạng chuyển đổi cây trồng, vật nuôi trên đất lúa kém hiệu quả của nhóm hộ điều tra 61

4.1.5 Hiệu quả kinh tế của một số mô hình chuyển đổi cây trồng, vật nuôi trên đất lúa kém hiệu quả 63

4.1.6 Hiệu quả xã hội 77

4.1.7 Hiệu quả môi trường của chuyển đổi cây trồng, vật nuôi trên đất lúa kém hiệu quả 79

Trang 6

4.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới chuyển đổi cây trồng, vật nuôi đất lúa kém

hiệu quả tại huyện Vụ Bản 81

4.2.1 Nguồn lực của hộ 81

4.2.2 Điều kiện tự nhiên 87

4.2.3 Điều kiện kinh tế - xã hội 88

4.2.4 Thị trường 90

4.3 Giải pháp đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả chuyển đổi cây trồng, vật nuôi đất lúa kém hiệu quả tại huyện Vụ Bản 93

4.3.1 Quan điểm của Nhà nước về chuyển đổi cây trồng, vật nuôi trên đất lúa 93

4.3.2 Giải pháp 93

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 101

5.1 Kết luận 101

5.2 Kiến nghị 102

Tài liệu tham khảo 104

Phụ lục 109

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Các loại đất của huyện Vụ Bản 33

Bảng 3.2 Tình hình phân bổ và sử dụng đất đai huyện Vụ Bản giai đoạn 2012 – 2014 35

Bảng 3.3 Tình hình dân số và lao động huyện Vụ Bản giai đoạn 2012 – 2014 37

Bảng 3.4 Kết quả phát triển kinh tế xã hội huyện Vụ Bản giai đoạn 2012 - 2014 39

Bảng 4.1 Diện tích và cơ cấu một số cây trồng chính của huyện vụ bản giai đoạn 2012 – 2014 51

Bảng 4.2 Số lượng gia súc, gia cầm và sản phẩm chăn nuôi của huyện Vụ Bản giai đoạn 2012 - 2014 53

Bảng 4.3 Kết quả khai thác và nuôi trồng thủy sản huyện Vụ Bảngiai đoạn 2012 – 2014 55

Bảng 4.4 Diện tích chuyển đổi cây trồng, vật nuôi trên đất lúa kém hiệu quả tại huyện Vụ Bản 58

Bảng 4.5 Các mô hình chuyển đổi cây trồng, vật nuôi trên đất lúakém hiệu quả năm 2015 59

Bảng 4.6 Tình hình chuyển đổi cây trồng, vật nuôi trên đất lúakém hiệu quả của nhóm hộ điều tra 61

Bảng 4.7 Thuận lợi và khó khăn trong quá trình chuyển đổi của nhóm hộ điều tra 62

Bảng 4.8 Lịch mùa vụ của các hộ chuyển đổi theo mô hình 3 vụ màu 64

Bảng 4.9 Tình hình chuyển đổi cây trồng, vật nuôi trên đất lúa kém hiệu quả của nhóm hộ chuyển đổi theo mô hình 3 vụ màu 65

Bảng 4.10 Hiệu quả kinh tế trên 1 sào chuyển đổi của mô hình 3 vụ màu theo công thức luân canh 67

Bảng 4.11 Hiệu quả kinh tế trên 1 sào chuyển đổi của mô hình 3 vụ màu 68

Bảng 4.12 Hiệu quả kinh tế trên 1 sào chuyển đổi của mô hình cây cảnh 70

Bảng 4.13 Hiệu quả kinh tế trên 1 sào chuyển đổi của mô hình lúa – cá 72

Bảng 4.14 Hiệu quả kinh tế trên 1 sào chuyển đổi củamô hình gia trại kết hợp 73

Bảng 4.15 Tổng hợp hiệu quả kinh tế các mô hình chuyển đổi 75

Bảng 4.16 Tổng hợp mức đầu tư tăng thêm và hiệu quả tăng thêm của các mô hình chuyển đổi 76

Bảng 4.17 Tổng hợp công lao động gia đình của các mô hình chuyển đổi 78

Trang 9

Bảng 4.18 Tổng hợp công lao động thuê ngoài của các mô hình chuyển đổi 78 Bảng 4.19 Ý kiến của hộ về hiệu quả môi trường sau chuyển đổi 80 Bảng 4.20 So sánh mức độ sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vậttrên 1 sào ở

mô hình lúa – cá 81 Bảng 4.21 Ảnh hưởng của quy mô đất đai đến chuyển đổi cây trồng, vật nuôi trên

đất lúa kém hiệu quả 82 Bảng 4.22 Ảnh hưởng của vốn đầu tư đến chuyển đổi cây trồng của hộtrên đất cao 83 Bảng 4.23 Ảnh hưởng của vốn đến hiệu quả chuyển đổi cây trồng của hộ trên

đất trũng 84 Bảng 4.24 Ảnh hưởng của số lao động nông nghiệp đến chuyển đổi cây trồng, vật

nuôi trên đất lúa kém hiệu quả của hộ 86 Bảng 4.25 Ảnh hưởng của trình độ chủ hộ đến chuyển đổi cây trồng, vật nuôi trên

đất lúa kém hiệu quả của hộ 87 Bảng 4.26 Nguồn cung cấp thông tin khi bán sản phẩm và khi quyết định chuyển

đổi cây trồng, vật nuôi 91 Bảng 4.27 Phương thức tiêu thụ nông sản của hộ 92

Trang 10

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

1 Tên tác giả: Trần Thị Quỳnh Anh

2 Tên luận văn: “Chuyển đổi cây trồng, vật nuôi trên đất lúa kém hiệu quả tại huyện

Vụ Bản, tỉnh Nam Định.”

4 Cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Chuyển đổi cây trồng vật nuôi trên đất lúa kém hiệu quả là một nội dung quan trọng của tái cơ cấu ngành nông nghiệp, là việc làm cần thiết nhằm đem lại thu nhập ổn định cho người nông dân, sử dụng hiệu quả tài nguyên đất và góp phần phát triển kinh

tế và ổn định an ninh xã hội vùng nông thôn Nhận thức được điều đó, Nam Định đã thực hiện chuyển đổi trên 5000ha đất trồng lúa hiệu quả thấp sang các loại cây trồng, vật nuôi

có giá trị kinh tế cao Giá trị lợi nhuận mang lại từ các mô hình chuyển đổi cao hơn trồng lúa từ 3-10 lần Vụ Bản là một trong những địa phương đi đầu trong chuyển đổi cây trồng, vật nuôi trên đất lúa kém hiệu quả của tỉnh Nam Định, bước đầu đã đạt được một

số thành tựu nhưng vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế như diễn ra còn chậm và manh mún, chất lượng sản phẩm chưa đủ sức cạnh tranh, chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường, chưa có sự liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm…Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã lựa chọn đề tài “Chuyển đổi cây trồng, vật nuôi trên đất lúa kém hiệu quả tại huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định” để nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là : (1) Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về chuyển đổi cây trồng, vật nuôi trên đất lúa kém hiệu quả; (2) Đánh giá thực trạng chuyển đổi cây trồng, vật nuôi trên đất lúa kém hiệu quả tại huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định; (3) Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển đổi cây trồng, vật nuôi trên đất lúa kém hiệu quả tại huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định; (4) Đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy và nâng cao hiệu quả của chuyển đổi cây trồng, vật nuôi trên đất lúa kém hiệu quả tại huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định

Để thực hiện đề tài, bên cạnh sử dụng nguồn số liệu đã được công bố (thứ cấp),

để có được những số liệu cần thiết phục vụ đề tài của mình, tôi còn tiến hành xây dựng bảng hỏi và điều tra trực tiếp 80 hộ nông dân chuyển đổi cây trồng, vật nuôi trên đất lúa kém hiệu quả trên địa bàn 5 xã có diện tích chuyển đổi cây trồng, vật nuôi trên đất lúa kém hiệu quả lớn đặc trưng cho các mô hình chuyển đổi, đó là: Tân Thành, Thành Lợi, Đại Thắng, Hợp Hưng, Hiển Khánh; phỏng vấn bán cấu trúc đối với 20 cán bộ trên địa bàn huyện Bên cạnh đó, đề tài còn sử dụng hai công cụ trong phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA) là điều tra theo tuyến và xây dựng sơ đồ mặt cắt

và lịch mùa vụ.Trong phân tích và xử lý số liệu, đề tài đã sử dụng các phương pháp phân

tổ thống kê, thống kê mô tả, so sánh, hạch toán chi phí và tính giá thành sản phẩm,…

Trang 11

Vụ Bản là một trong những địa phương đi đầu trong chuyển đổi cây trồng, vật nuôi trên đất lúa kém hiệu quả của tỉnh Nam Định Diện tích đất lúa kém hiệu quả được chuyển đổi tăng nhanh qua các năm Tính đến tháng 12/2015, huyện đã chuyển đổi được 404ha trên tổng số 1.600ha diện tích đất lúa kém hiệu quả Bốn mô hình chuyển đổi chủ yếu trên địa bàn huyện là mô hình 3 vụ màu và mô hình cây cảnh trên chân đất cao hạn, mô hình lúa – cá và mô hình gia trại kết hợp, mỗi mô hình phù hợp với từng hộ chuyển đổi có điều kiện khác nhau Trên chân đất cao hạn, mô hình 3 vụ màu tuy đem lại thu nhập hỗn hợp thấp nhất nhưng đây lại là mô hình có hiệu quả sử dụng vốn lớn, tính linh hoạt cao, rất phù hợp với những hộ có ít vốn Mô hình cây cảnh đem lại thu nhập cao hơn so với mô hình 3 vụ màu trên chân đất cao nhưng lại phải đầu tư nhiều vốn cho sản xuất Trên chân đất trũng, mô hình lúa – cá rất phát triển không những giúp cải thiện đáng kể thu nhập cho bà con nông dân mà đây còn là mô hình giúp bảo vệ và cải tạo môi trường, cần được khuyến khích phát triển Bên cạnh đó, mô hình gia trại kết hợp là mô hình sản xuất theo hướng tập trung, có thể tận dụng các sản phẩm thừa của trồng trọt, chăn nuôi là hướng phát triển trong tương lai Tuy nhiên, mô hình này cần lượng vốn rất lớn, tuy bước đầu thu nhập đạt cao nhưng do còn nhiều hạn chế nên hiệu quả sử dụng vốn thấp

Qua tìm hiểu, nghiên cứu thực trạng ở địa phương, có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến chuyển đổi, cây trồng vật nuôi trên đất lúa kém hiệu quả ở huyện Vụ Bản nhưng yếu tố ảnh hưởng trực tiếp nhất là nguồn lực của hộ Kết quả điều tra phân tích cho thấy, các nhóm hộ có điều kiện về đất đai, vốn, lao động càng cao thì có xu hướng chuyển đổi càng nhiều và hiệu quả chuyển đổi càng cao Tuy nhiên, do hạn chế về nguồn lực đặc biệt là sự thiếu hụt về vốn đã làm cho hiệu quả chuyển đổi chưa được cao như mong đợi Bên cạnh đó, cả thị trường đầu vào và đầu ra của hộ còn nhiều hạn chế, đặc biệt là việc thiếu thông tin thị trường đã gây ảnh hưởng khó khăn không nhỏ tới chuyển đổi cây trồng, vật nuôi của hộ theo hướng đáp ứng nhu cầu thị trường Ngoài ra, điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế xã hội cũng tác động đến chuyển đổi cây trồng, vật nuôi trên đất lúa kém hiệu quả ở Vụ Bản

Xuất phát từ thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển đổi cây trồng, vật nuôi trên đất lúa kém hiệu quả ở huyện Vụ Bản, đề tài đã đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả của chuyển đổi cây trồng, vật nuôi Đó là: (1) Xây dựng

và hoàn thiện quy hoạch vùng chuyển đổi cây trồng, vật nuôi trên đất lúa kém hiệu quả; (2) Tăng cường huy động nguồn lực cho hộ nông dân trong chuyển đổi; (3) Tổ chức cung cấp thông tin thị trường và phát triển thị trường tiêu thụ theo hướng tập trung; (4) Đầu tư xây dựng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp

Trang 12

THESIS ABSTRACT

1 Master candidate: Tran Thi Quynh Anh

2 Thesis title: "Converting crops and livestock on inefficientrice land in Vu Ban district, Nam Dinh province."

4 Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)

Conversion plants and animals on inefficient riceland is an important part toreconstruct agricultural sector, provide a stable income for farmers anduse efficiently land resources and contribute to economic development, social stability and security in rural areas Aware of this situation, Nam Dinh province has made a change over 5000ha low efficiency of paddy land to the high economic valuecrops and animals Profit value from these models is higher than rice cultivation fromthree to ten times Vu Ban is one

of the first localities in conversion plants and animals on inefficient rice land in Nam Dinh province, and get some initially achievement, however, it stills have some weakness such as slow transition and fragmented, product quality is not competitive enough, failing to meet the requirements of the market, without the associated between production and consumption of products From all reasons above,study on

"Converting crops and livestock on inefficient riceland in Vu Ban district, Nam Dinh province" was conducted The goals of the research were: (1) To systemizesome theoretical issues and practical of converting crops and livestock on inefficient riceland; (2) Assessment the situation of conversion plants and animals on inefficient rice land in

Vu Ban district, Nam Dinh province; (3) Analysis factors affecting on conversion of crops and livestock on inefficient rice land in Vu Ban district, Nam Dinh province; (4)

to propose a number of solutions to promote and improve the conversion efficiency of plant and animal on inefficient rice land in Vu Ban district, Nam Dinh province

To implement the study, besides the use of published data (secondary data), to obtain thenecessary data for the research, I designed questionnairesand conducted surveys directly on 80 farmers to change crops and livestock on inefficient rice land in 5 communes have characterize transformation modekl, they are Tan Thanh, Thanh Loi, Dai Thang, Hop Hung, Hien Khanh; Semi-structured interviews with 20 officers in the district In additions, the study used two tools for Participatory Rural Appraisal (PRA) are line investigating, construction diagrams and seasonal calendar section In the data analysis and processing, the research was using disaggregated statistical methods, descriptive statistics, comparisons, cost accounting and final product price,

Trang 13

Vu Ban is one of the first localities in conversion plants and animals on inefficient riceland in Nam Dinh province Rice land area converted increased over the years As in December 2015, the district has been converted 404ha in the total of 1.600ha inefficient land rice Four main transition model of the district are three vegetable seasons and ornamental plants on high-dry land, the rice - fish combinaion and home farm models, each model is suitable with each household which have different conditions On the high-dry land, three vegetable seasonsmodel haslowest income, but this model has greater capital efficiency and high flexibility, very suitable for those with little capital Landscaped models giveshigher income compared with the former but it need invest more capital for production On low-wet lands, rice - fish are developed, it not only is significant raising income for farmers, but also is a model to help protect and improve the environment, it should be encouraged to grow Besides, the home farm combines modelis the one which produce towards concentration, that can use the waste products of farming, animal husbandry It is the good development direction in the future However, this model needs a large amount of capital, eventhough the first step reach high income but it still limited due to the low capital efficiency

Through research on local reality, I found that there are many factors affecting conversion plants and animals on inefficient rice land in Vu Ban district, and the factor that most directly affect household is resources The data analysis result shows that the group of household has good conditions of land, capital, labor, tends to convert more and get higher efficiency than others However, due to limited resources, especially the shortage of capital has made the conversion efficiency is not as high as expected Besides, the market's input and output of household is limited, especially the lack of market information gives some difficulties to convert crops and livestock of households towards meeting market demand In addition, natural conditions and socio-economic conditions also affect conversion plants and animals on inefficient rice land in Vu Ban

From the reality situation and the factors that affect on conversion plants and animals on inefficient riceland in Vu Ban district, the study has proposed a number of measures to strengthen and improve the efficiency of conversion crop and livestock These are: (1) Completing and finishing plan of conversion plants and animals on inefficient riceland; (2) Strengthening mobilization of resources for farmers in conversion; (3) Providing information and developmentconsumption markettowards concentrating; (4) Investment in the construction and infrastructure to distribute to agricultural production

Trang 14

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Với 68,4% dân số sống ở nông thôn và 41,7% lao động hoạt động trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp, Việt Nam là quốc gia có nền sản xuất nông nghiệp lâu đời (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2015) Được thiên nhiên ưu đãi cho những điều kiện tự nhiên thuận lợi cho thâm canh cây lúa, sản xuất lúa gạo là một hoạt động kinh tế hàng đầu và đã hình thành những vùng thâm canh lúa, những vựa lúa lớn cả về diện tích và sản lượng, chất lượng như Đồng bằng Sông Hồng, Đồng bằng Sông Cửu Long Tuy nhiên,dosự ảnh hưởng của các yếu tố thiên tai, thời tiết cũng như sự tác động của con người tới đất đai do yêu cầu của phát triển kinh tế, nhiều diện tích đất lúa đã bị ảnh hưởng, canh tác không còn mang lại hiệu quả như mong đợi Ở nhiều địa phương trên cả nước, hiện tượng

bỏ hoang ruộng đất đã xuất hiện như Hải Dương, Nghệ An, Nam Định…mà một phần nguyên nhân là do ruộng đất xấu không thể canh tác hoặc canh tác nhưng đem lại hiệu quả rất thấp.Chính vì vậy, chuyển đổi cây trồng vật nuôi trên đất lúa kém hiệu quả là một việc làm cần thiết nhằm đem lại thu nhập ổn định cho người nông dân, sử dụng hiệu quả tài nguyên đất và góp phần phát triển kinh tế và ổn định an ninh xã hội vùng nông thôn

Nam Định là tỉnh phía Nam đồng bằng sông Hồng – một nền văn minh lúa nước đã hình thành hàng nghìn năm Theo quy hoạch sử dụng đất tỉnh Nam Định đến năm 2020, Nam Định hiện có khoảng hơn 103.497, 97 ha đất nông nghiệp, trong đó đất trồng lúa chiếm tới 42,09% (Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Nam Định, 2012) Tuy nhiên, việc sản xuất lúa tại một số diện tích như: chân ruộng cao khó khăn về nước tưới, ruộng trũng ngập úng thường xuyên, nhiễm mặn… đều không đạt hiệu quả kinh tế cao, thậm chí còn không có lãi Thực trạng trên đặt ra cho các cấp, các ngành và chính quyền địa phương trong tỉnh phải nỗ lực tìm ra giải pháp chuyển đổi cơ cấu từ trồng lúa kém hiệu quả sang các đối tượng cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao, nâng cao hiệu quả sản xuất cho nông dân Những năm qua, ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã phối hợp với các địa phương thực hiện chuyển đổi trên 5.000ha đất trồng lúa hiệu quả thấp sang các loại cây trồng, con nuôi có giá trị và cho hiệu quả kinh tế cao, góp phần tăng giá trị sản xuất trên 1ha đất canh tác từ 75,4 triệu đồng năm 2010 lên 92 triệu đồng năm 2014, năm 2015 ước đạt 100 triệu đồng/ha (Ngọc Ánh, 2015) Việc chuyển đổi đất trồng lúa kém hiệu quả sang các mô hình sản xuất mới đã

Trang 15

giúp hình thành nhiều vùng sản xuất nông nghiệp, thuỷ sản tập trung, cho sản lượng lớn, sạch và thân thiện với môi trường Giá trị lợi nhuận mang lại từ các

mô hình chuyển đổi cao hơn trồng lúa từ 3 – 10 lần, góp phần thực hiện thành công Đề án tái cơ cấu ngành Nông nghiệp, tăng thu nhập, cải thiện đời sống dân

cư nông thôn và xây dựng thành công nông thôn mới tại các địa phương

Vụ Bản là huyện thuần nông của tỉnh Nam Định, cây lúa vẫn là cây trồng chủ yếu của địa phương Trong những năm qua, Vụ Bản là một trong những địa phương đi đầu trong chuyển đổi cây trồng, vật nuôi trên đất lúa kém hiệu quả của tỉnh Nam Định Tính đến hết năm 2015 huyện đã chuyển được 404 ha đất lúa kém hiệu quả sang sản xuất các loại cây trồng và vật nuôi có giá trị và năng suất cao qua đó giúp nâng cao đời sống bà con nông dân, bộ mặt nông thôn ngày được đổi mới (Phòng NN&PTNT huyện Vụ Bản,2016) Tuy nhiên, việc chuyển đổi cây trồng, vật nuôi còn nhiều tồn tại, hạn chế như diễn ra còn chậm và manh mún, nhiều mô hình chuyển đổi trên đất trồng lúa kém hiệu quả mang lại hiệu quả cao hơn được khẳng định trong thực tế nhưng việc mở rộng còn hạn chế Bên cạnh đó, chất lượng sản phẩm chưa đủ sức cạnh tranh, chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường, chưa có sự liên kết sản xuất theo chuỗi, gắn với sản xuất chế biến và tiêu thụ sản phẩm, doanh nghiệp khó thu mua được sản phẩm chất lượng tốt với khối lượng lớn cùng một thời điểm Vậy, có những yếu tố nào ảnh hưởng đến chuyển đổi cây trồng vật nuôi trên đất lúa kém hiệu quả ở huyện Vụ Bản, những hạn chế còn tồn tại là do đâu? Có những giải pháp nào nhằm đẩy mạnh chuyển đổi cây trồng, vật nuôi trên đất lúa kém hiệu quả ở nơi đây?

Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã lựa chọn đề tài “Chuyển đổi cây trồng, vật nuôi trên đất lúa kém hiệu quả tại huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định”

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về chuyển đổi cây trồng, vật nuôi trên đất lúa kém hiệu quả;

Trang 16

- Đánh giá thực trạng chuyển đổi cây trồng, vật nuôi trên đất lúa kém hiệu quả tại huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định;

- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển đổi cây trồng, vật nuôi trên đất lúa kém hiệu quả tại huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định;

- Đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy và nâng cao hiệu quả của chuyển đổi cây trồng, vật nuôi trên đất lúa kém hiệu quả tại huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định

1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các nội dung liên quan đến vấn đề chuyển đổi cây trồng, vật nuôi trên đất lúa kém hiệu quả Các nội dung này được thể hiện qua các đối tượng khảo sát sau:

- Hộ nông dân chuyển đổi cây trồng, vật nuôi trên đất lúa kém hiệu quả

- Cán bộ phụ trách nông nghiệp của huyện Vụ Bản

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

1.3.2.1 Phạm vi nội dung

Đề tài tập trung nghiên cứu các nội dung liên quan đến chuyển đổi cây trồng, vật nuôi trên đất lúa kém hiệu quả tại huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định 1.3.2.2 Phạm vi không gian

Đề tài nghiên cứu tại huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định

1.3.2.3 Phạm vi thời gian

Số liệu thứ cấp được thu thập và tổng hợp từ năm 2012 đến nay

Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua điều tra, khảo sát năm 2016

Thời gian nghiên cứu đề tài: Từ ngày 20/9/2015 đến tháng 10/2016 1.4.ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN VỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Luận văn đã hệ thống hóa lý luận và thực tiễn về chuyển đổi cây trồng, vật nuôi trên đất lúa kém hiệu quả

Luận văn đã đánh giá thực trạng chuyển đổi cây trồng, vật nuôi trên đất lúa kém hiệu quả tại huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định, chỉ ra những thuận lợi, khó khăn, những thành tựu cũng như hạn chế của quá trình chuyển đổi Những điều kiện chuyển đổi, hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của các mô hình chuyển đổi cũng được chỉ ra và phân tích

Trang 17

Luận văn đã phân tích một cách cụ thể tác động của những yếu tố ảnh hưởng (điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội, nguồn lực của hộ và thị trường) đến chuyển đổi cây trồng, vật nuôi trên đất lúa kém hiệu quả tại huyện

Vụ Bản

Luận văn đã đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả của chuyển đổi cây trồng, vật nuôi trên đất lúa kém hiệu quả tại huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định

Những kết quả nghiên cứu trên của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu cùng lĩnh vực sau này và làm căn cứ để UBND huyện Vụ Bản có thể tham khảo nhằm đưa ra những hướng đi đúng đắn cho quá trình chuyển đổi cây trồng, vật nuôi trên đất lúa kém hiệu quả ở địa phương mình, hướng tới mục tiêu cuối cùng nhằm tăng hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và nâng cao thu nhập cho người nông dân

Trang 18

PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHUYỂN ĐỔI CÂY TRỒNG, VẬT NUÔI TRÊN ĐẤT LÚA KÉM HIỆU QUẢ

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHUYỂN ĐỔI CÂY TRỒNG, VẬT NUÔI TRÊN ĐẤT LÚA KÉM HIỆU QUẢ

2.1.1 Lý luận về chuyển đổi cây trồng, vật nuôi

2.1.1.1 Khái niệm cơ cấu cây trồng và chuyển đổi cây trồng, vật nuôi

a Khái niệm cơ cấu cây trồng, vật nuôi

Cơ cấu cây trồng, vật nuôi là thành phần các giống, loài cây trồng, vật nuôi có trong một vùng ở một thời điểm nhất định, nó liên quan tới cơ cấu cây trồng, vật nuôi trong nông nghiệp, nó phản ánh sự phân công lao động trong nội

bộ ngành nông nghiệp, phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của mỗi vùng, nhằm cung cấp được nhiều nhất những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu con người (Đào Thế Tuấn, 1984; Cao Liêm và Trần Đức Viên, 1990)

Cơ cấu cây trồng, vật nuôi hợp lý là cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của vùng Cơ cấu cây trồng, vật nuôi hợp lý còn thể hiện tính hiệu quả của mối quan hệ giữa cây trồng được bố trí trên đồng ruộng, làm cho sản xuất ngành trồng trọt và chăn nuôi phát triển toàn diện, mạnh

mẽ, vững chắc theo hướng thâm canh gắn với đa canh hàng hóa và có hiệu quả kinh tế cao (Lý Nhạc và cs., 1987; Đào Thế Tuấn, 1989)

b Khái niệm chuyển đổi cây trồng, vật nuôi

Chuyển đổi cây trồng, vật nuôi là việc thay đổi cây trồng, vật nuôi theo mùa vụ gieo trồng, thay đổi thành phần cây trồng, vật nuôi trong từng vụ hay thay đổi tỷ lệ diện tích các loại cây trồng, vật nuôi khác nhau trong một vùng sản xuất nông nghiệp, nhằm mục đích sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên của vùng, đồng thời tạo ra hiệu quả kinh tế cao hơn cho người nông dân trên một đơn vị diện tích (Nguyễn Văn Quy, 2007)

2.1.1.2 Sự cần thiết phải chuyển đổi cây trồng, vật nuôi

Sản xuất nông nghiệp là hoạt động phụ thuộc rất lớn vào điều kiện tự nhiên, vì vậy hoạt động này thường xuyên gặp rủi ro khi môi trường tự nhiên thay đổi như đất đai, khí hậu,… những điều này làm cho một số cây trồng, vật nuôi của nhiều vùng, địa phương không còn phù hợp hay không đem lại hiệu quả

Trang 19

kinh tế cao như mong đợi nữa Điều này sẽ gây ảnh hưởng không nhỏ đến thu nhập của bà con nông dân cũng như sự phát triển kinh tế xã hội của vùng, địa phương Đây chính là lý do để chúng ta tiến hành chuyển đổi cây trồng, vật nuôi với mục đích làm cho cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp hơn với điều kiện tự nhiên, môi trường của vùng (Nguyễn Văn Quy, 2007)

Bên cạnh đó còn có một số yếu tố tác động dẫn đến phải chuyển đổi cây trồng, vật nuôi, đó là:

- Cơ cấu cây trồng, vật nuôi cũ thường gặp rủi ro: Do quá trình công nghiệp hóa kết hợp với việc tàn phá tài nguyên thiên nhiên làm cho môi trường nông nghiệp bị thay đổi Việc thay đổi này khiến cho cơ cấu cây trồng, vật nuôi

cũ của nhiều vùng không còn thích nghi nữa dẫn đến năng suất giảm, mất mùa

Vì vậy việc thay đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi đưa vào sản xuất một số loại cây trồng và giống vật nuôi có khả năng chống chịu với sự thay đổi là việc làm hết sức cần thiết để hạn chế các điều kiện bất lợi của tự nhiên Một số rủi ro thường gặp như sâu bệnh phá hoại, hạn hán và lũ lụt, đất đai bị thoái hóa…(Nguyễn Duy Tính, 1995)

- Cơ cấu cây trồng, vật nuôi cũ có năng suất và hiệu quả kinh tế thấp: Ở tại một số nơi cũng có những cơ cấu cây trồng, vật nuôi tồn tại hàng trăm năm và trở thành tập quán canh tác truyền thống của người dân Tuy nhiên các cơ cấu cây trồng, vật nuôi này có năng suất và hiệu quả kinh tế thấp do hạn chế về kỹ thuật hoặc không chủ động được trong tưới tiêu Trước chủ trương nâng cao đời sống người dân của Đảng và Nhà nước thì việc hướng dẫn bà con chuyển đổi sang các loại cây trồng, vật nuôi khác có năng suất và hiệu quả kinh tế cao hơn là việc làm hết sức cần thiết (Lý Nhạc và cs., 1987)

- Chuyển đổi cây trồng, vật nuôi theo nhu cầu của thị trường: Sự phát triển về kinh kế sẽ kéo theo đời sống và thu nhập của người dân ngày càng được nâng cao Vì vậy nhu cầu về sản phẩm nông nghiệp ngày càng được nâng cao, có

sự thay đổi về chất lượng cao hơn, an toàn hơn và sản phẩm phải đa dạng hơn

Do vậy việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo yêu cầu của thị trường sẽ giúp sản phẩm nông sản làm ra ít gặp phải những rủi ro về giá cả và thị trường tiêu thụ (Nguyễn Văn Quy, 2007)

- Chuyển đổi cây trồng, vật nuôi theo quy hoạch của vùng và Nhà nước

- Chuyển đổi cây trồng, vật nuôi để tạo vùng sản xuất tập trung, chuyên môn hóa (Nguyễn Văn Quy, 2007)

Trang 20

2.1.1.3 Yêu cầu của chuyển đổi cây trồng, vật nuôi

Theo Nguyễn Trí Đại (2012), khi thực hiện chuyển đổi cây trồng, vật nuôi cần phải đảm bảo các yêu cầu sau:

- Phải căn cứ vào yêu cầu thị trường Điều này có nghĩa là phải sản xuất thứ mà thị trường cần, không phải sản xuất cái mà mình có

- Phải khai thác hiệu quả các tiềm năng về điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế xã hội của mỗi vùng, đảm bảo sử dụng nguồn lực của địa phương một cách có hiệu quả nhất

- Bố trí cây trồng vật nuôi phải biết lợi dụng triệt để những đặc tính sinh học của mỗi loại cây trồng, vật nuôi cho phù hợp với các điều kiện ngoại cảnh, nhằm giảm tối đa sự phá hoại của dịch bệnh và các điều kiện thiên tai khắc nghiệt gây ra

- Chuyển đổi cây trồng, vật nuôi phải tính đến sự phát triển của khoa học kỹ thuật và việc áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp

- Về mặt kinh tế, việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi phải đảm bảo

có hiệu quả kinh tế, sản xuất ra nhiều sản phẩm hàng hóa có giá trị kinh tế cao

Nghiên cứu cơ cấu cây trồng vật nuôi là một trong những biện pháp kinh

tế kỹ thuật nhằm mục đích sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên, nâng cao năng suất cây trồng và chất lượng sản phẩm Nội dung chuyển đổi cây trồng vật nuôi cần tìm ra cơ cấu cây trồng vật nuôi phù hợp nhất với điều kiện đất đai, môi trường, thị trường đảm bảo cho hiệu quả kinh tế cao nhất giúp tăng thu nhập cho

hộ gia đình nông dân nông thôn (Nguyễn Trí Đại, 2012)

2.1.1.4 Xu hướng chuyển đổi cây trồng, vật nuôi

Thực tiễn phát triển sản xuất nông nghiệp nói chung và việc chuyển đổi cây trồng vật nuôi nói riêng ngày càng chứng tỏ hơn các xu hướng sau đây:

* Chuyển đổi cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa (Nguyễn

Bá Thanh, 1996): xu hướng này phản ánh quy luật cung – cầu trong xã hội, có thể thấy rõ trên các khía cạnh:

- Nhu cầu ngày càng tăng về lượng lẫn chất của sản phẩm từ cây lương thực, thực phẩm, vật nuôi

- Thị trường cung – cầu của sản xuất trồng trọt, chăn nuôi ngày càng mang tính xã hội hóa và quốc tế hóa

Trang 21

- Công nghiệp hóa và hiện đại hóa có quan hệ tương tác với nông nghiệp

và đã thành công không chỉ trong việc xóa đói giảm nghèo mà ngay cả các ngành phi nông nghiệp cũng tăng trưởng rất nhanh Trong các giai đoạn sau thì vai trò của nông nghiệp có khác trước, nhưng không có nghĩa là không quan trọng đối với một nền kinh tế phát triển Ngày nay, người ta càng nhận rõ vấn đề an toàn lương thực, thực phẩm là đặc biệt quan trọng đối với mỗi quốc gia

* Chuyển đổi cây trồng vật nuôi theo hướng bảo vệ tốt môi trường sinh thái (Nguyễn Bá Thanh, 1996):

Kinh tế phát triển, nhất là kinh tế hàng hóa luôn có mặt trái của nó Trong

đó có sự tác hại đến môi sinh, sự phá hủy môi trường sinh thái là điển hình Do

đó, chuyển đổi cây trồng, vật nuôi theo hướng tiến bộ không thể không chú ý đến việc hạn chế sự tàn phá môi trường và hướng tới bảo vệ sự đa dạng, bền vững của môi trường sinh thái

2.1.2 Lý luận về đất lúa và hiệu quảsử dụng đất lúa

2.1.2.1 Khái niệm đất lúa và đất lúa kém hiệu quả

a Khái niệm và phân loại đất nông nghiệp

* Khái niệm

Khái niệm đất nông nghiệp có rất nhiều cách định nghĩa Theo quan niệm truyền thống của người Việt Nam thì đất nông nghiệp thường được hiểu là đất trồng lúa, trồng cây hoa màu như ngô, khoai, sắn và những loại cây được coi là cây lương thực Tuy nhiên, trên thực tế việc sử dụng đất nông nghiệp tương đối phong phú, không chỉ đơn thuần là để trồng lúa, hoa màu mà còn dùng vào mục đích chăn nuôi gia súc, nuôi trồng thủy sản hay để trồng cây lâu năm…(Ngô Đức Cát, 2000)

Trang 22

Theo quan điểm của người sử dụng và nghiên cứu kinh tế thì đất nông nghiệp là toàn bộ đất đai được sử dụng trong quá trình sản xuất nông nghiệp (Ngô Đức Cát, 2000)

Điều 42 Luật Đất đai năm 1993 có định nghĩa: “Đất nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp”

* Phân loại

Theo quy định tại khoản 1 Điều 13 Luật Đất đai năm 2003, đất nông nghiệp được phân loại thành:

- Đất trồng cây hàng năm: bao gồm đất lúa và đất trồng cây hàng năm khác

- Đất trồng cây lâu năm

- Đất lâm nghiệp

- Đất nuôi trồng thủy sản

- Đất làm muối

- Đất nông

b Khái niệm đất lúa

Theo Nghị định số35/2015/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 13/04/2015, đất trồng lúa được định nghĩa như sau: “Đất trồng lúa là đất có các điều kiện phù hợp để trồng lúa, bao gồm đất chuyên trồng lúa nước và đất lúa khác.”

Đất chuyên trồng lúa nước là đất trồng được hai vụ lúa nước trở lên trong năm

Đất trồng lúa khác bao gồm đất trồng lúa nước còn lại và đất trồng lúa nương

Đất trồng lúa nước còn lại là đất chỉ phù hợp trồng được một vụ lúa nước trong năm

c Khái niệm đất lúa kém hiệu quả

Cho đến nay, chưa có tài liệu nào đưa ra khái niệm rõ ràng về đất lúa kém hiệu quả Trong phạm vi đề tài này, tác giả cho rằng: “Đất lúa kém hiệu quả là đất lúa khi canh tác đem lại thu nhập thấp hoặc không có thu nhập.”

Để đánh giá đất lúa kém hiệu quả, có thể căn cứ vào các chỉ tiêu sau đây:

- Số vụ lúa trồng được trong năm

Trang 23

- Giá trị sản xuất

- Thu nhập hỗn hợp

- Thu nhập hỗn hợp trên một công lao động

Trên thực tế cho thấy, khi canh tác trên đất lúa kém hiệu quả, các chỉ tiêu trên chỉ đạt được khoảng từ 1/3 đến 1/2 so với đất lúa thông thường

2.1.2.2 Hiệu quả sử dụng đất lúa

a Khái quát về hiệu quả

* Khái niệm hiệu quả

Theo Schiller (2002):“Hiệu quả có nghĩa là thu được nhiều nhất từ cái anh

có, tức là việc sử dụng các yếu tố sản xuất theo cách có lợi nhất, thu được sản lượng tối ưu từ một số kiểu phân bổ nguồn lực khác nhau.”

Hiệu quả phản ánh quan hệ so sánh giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra

để đạt được kết quả đó (Nguyễn Bạch Nguyệt và Từ Quang Phương, 2007)

* Phân loại hiệu quả

Theo các tác giả Nguyễn Bạch Nguyệt và Từ Quang Phương (2007), hiệu quả thường được phân loại theo các tiêu thức sau đây:

Theo lĩnh vực hoạt động của xã hội, hiệu quả bao gồm hiệu quả kinh tế, hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả xã hội, hiệu quả quốc phòng

Theo phạm vi lợi ích, hiệu quả bao gồm hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế xã hội

Theo mức độ phát sinh, hiệu quả bao gồm hiệu quả trực tiếp và hiệu quả gián tiếp

Theo cách tính toán, hiệu quả bao gồm hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tương đối Hiệu quả tuyệt đối được tính bằng hiệu số giữa kết quả và chi phí Hiệu quả tương đối được tính bằng tỷ số giữa kết quả và chi phí

Trong phạm vi đề tài này, khi xem xét đến hiệu quả trong sử dụng đất lúa, hiệu quả sẽ được xem xét dưới 3 khía cạnh: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường

b Hiệu quả kinh tế

* Khái niệm và bản chất hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất nông nghiệp

Theo Bùi Nữ Hoàng Anh (2014): “Hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất

Trang 24

nông nghiệp là một phạm trù khoa học phản ánh quan hệ so sánh giữa kết quả kinh tế và chi phí kinh tế đã bỏ ra để đạt được kết quả đó trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp được sử dụng trong một thời kỳ nhất định”

Bản chất của hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất nông nghiệp là trên một diện tích nhất định sản xuất ra một khối lượng của cải vật chất nhiều nhất, với một lượng đầu tư chi phí về vật chất và lao động thấp nhất nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng về vật chất của xã hội Xuất phát từ vấn đề này mà trong quá trình đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cần phải chỉ ra được loại hình sử dụng đất có hiệu quả kinh tế cao (Trần Thị Thu Hà, 2002, Nguyễn Thị Hải, 2005)

Khi nói đến hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất nông nghiệp, người ta thường nói đến mối quan hệ giữa hiệu quả kĩ thuật, hiệu quả phân bổ và hiệu quả kinh tế

Hiệu quả kỹ thuật (Technical Effciency) là khả năng người sản xuất có thể sản xuất mức đầu ra tối đa với một tập hợp công nghệ đầu vào cho trước Hiệu quả kỹ thuật được áp dụng phổ biến trong kinh tế vi mô để xem xét tình hình sử dụng nguồn lực từng nguồn lực cụ thể Nó chỉ ra rằng một đơn vị nguồn lực dùng vào sản xuất sẽ đem lại bao nhiêu đơn vị sản phẩm Hiệu quả kỹ thuật của việc sử dụng các nguồn lực trong sản xuất nông nghiệp được thể hiện thông qua mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra, giữa các đầu vào với nhau và giữa các sản phẩm khi nông dân ra quyết định sản xuất Hiệu quả kỹ thuật phụ thuộc nhiều vào bản chất kỹ thuật và công nghệ áp dụng vào sản xuất nông nghiệp, kỹ năng của người sản xuất cũng như môi trường kinh tế xã hội mà trong đó kỹ thuật được áp dụng Hiệu quả kỹ thuật chỉ là điều kiện cần cho hiệu quả kinh tế, đôi khi hiệu quả kỹ thuật cao nhưng vẫn không có lãi (Đỗ Kim Chung và cs., 2009; Phạm Văn Hùng

Trang 25

Hiệu quả kinh tế (Economic Efficiency) là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt cả hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ Nó là thước đo phản ánh mức độ thành công của người sản xuất trong việc lựa chọn Nếu chỉ đạt được một trong yếu tố hiệu quả kỹ thuật hay hiệu quả phân bổ thì chưa đủ điều kiện

để đạt hiệu quả kinh tế Chỉ khi nào việc sử dụng nguồn lực đạt cả chỉ tiêu hiệu quả kỹ thuật và phân bổ thì khi đó mới đạt được hiệu quả kinh tế (Đỗ Kim Chung và cs., 2009)

* Nội dung của hiệu quả kinh tế

Hiệu quả kinh tế luôn liên quan đến các yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh Theo Nguyễn Trí Đại (2012), nội dung xác định hiệu quả kinh

tế bao gồm:

- Xác định các yếu tố đầu ra: đây là công việc xác định mục tiêu đạt được, các kết quả đạt được có thể là giá trị sản xuất, khối lượng sản phẩm, giá trị sản phẩm, giá trị gia tăng, lợi nhuận

- Xác định các yếu tố đầu vào: đó là chi phí sản xuất, chi phí dịch vụ, chi phí lao động

Đánh giá hiệu quả kinh tế của sản xuất nông nghiệp trong điều kiện kinh

tế thị trường, việc xác định các yếu tố đầu vào, đầu ra có nhiều khó khăn:

- Những khó khăn trong xác định yếu tố đầu vào: Trong sản xuất nông nghiệp, việc sử dụng tư liệu sản xuất vào nhiều quá trình sản xuất không đồng đều, có loại rất khó xác định giá trị đào thải và chi phí sửa chữa lớn Vì thế, việc khấu hao và phân bổ chi phí để tính đúng chi phí sản xuất chỉ có tính tương đối Các chi phí sản xuất chung như chi phí xây dựng cơ sở hạ tầng, chi phí thông tin tuyên truyền, giáo dục đào tạo, khuyến cáo kỹ thuật cần phải được hạch toán vào chi phí, nhưng thực tế không tính được một cách cụthể Ảnh hưởng của thị trường làm giá cả biến động, mức độ trượt giá gây khó khăn trong việc xác định các loại chi phí sản xuất Bên cạnh đó, các yếu tố về điều kiện tự nhiên tác động lớn đến quá trình sản xuất nông nghiệp và hiệu quả của nó Tuy nhiên, mức độ tác động của các yếu tố này đến nay vẫn chưa có phương pháp chuẩn xác

- Những khó khăn trong việc xác định các yếu tố đầu ra: Kết quả sản xuất

về mặt vật chất có thể lượng hóa để tính và so sánh trong thời gian và không gian

cụ thể nào đó nhưng những kết quả về mặt xã hội, môi trường sinh thái, độ phì của đất, khả năng nông nghiệp cạnh tranh trên thị trường của một doanh nghiệp

Trang 26

hay của vùng sản xuất thì không thể lượng hóa và chỉ được bộc lộ trong thời gian dài Đó là việc khó khăn trong việc xác định đúng và đủ các yếu tố đầu ra

c Hiệu quả xã hội

Theo Nguyễn Thị Vòng (2001): “Hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa kết quả xét về mặt xã hội và tổng chi phí bỏ ra”

Hiệu quả về mặt xã hội trong sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu được xác định bằng khả năng tạo việc làm trên một diện tích đất nông nghiệp (Nguyễn Duy Tính, 1995)

Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có mối quan hệ mật thiết với nhau, chúng là tiền đề của nhau và là một phạm trù thống nhất, phản ánh mối quan hệ giữa kết quả sản xuất với các lợi ích xã hội mà nó mang lại Trong giai đoạn hiện nay, việc đánh giá hiệu quả xã hội các loại hình sử dụng đất nông nghiệp là nội dung được các nhà khoa học quan tâm (Trần Thị Thu Hà, 2002; Nguyễn Thị Hải, 2005)

d Hiệu quả môi trường

Hiệu quả môi trường là xem xét sự phản ứng của môi trường đối với hoạt động sản xuất Tất cả các hoạt động sản xuất, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp đều có tác động không nhỏ đến môi trường Thông thường hiệu quả kinh tế sẽ mâu thuẫn với hiệu quả môi trường Chính vì vậy, khi xem xét hiệu quả môi trường cần đảm bảo tính cân bằng với phát triển kinh tế (Trần Thị Thu Hà, 2002)

Hiệu quả môi trường trong sử dụng đất nông nghiệp được thể hiện ở chỗ loại hình sử dụng đất phải bảo vệ được độ màu mỡ của đất đai, ngăn chặn sự thoái hóa đất, bảo vệ môi trường sinh thái (Bùi Duy Hiền, Nguyễn Văn Bộ, 2001) 2.1.3 Nội dung nghiên cứu chuyển đổi cây trồng, vật nuôi trên đất lúa kém hiệu quả

2.1.3.1 Cơ sở của chuyển đổi cây trồng, vật nuôi trên đất lúa kém hiệu quả

Cơ sở pháp lý của chuyển đổi cây trồng, vật nuôi trên đất lúa kém hiệu quả là hệ thống các văn bản, quy định của Chính phủ, tỉnh, huyện về chuyển đổi cây trồng, vật nuôi trên đất lúa kém hiệu quả nói riêng và tái cơ cấu ngành nông nghiệp nói chung

Bên cạnh đó, cơ sở thực tiễn của chuyển đổi là phải dựa trên nhu cầu thị trường; khai thác lợi thế về đất đai, nguồn nước, khí hậu, thời tiết gắn với sản

Trang 27

xuất hàng hóa, tập trung, hiệu quả và bền vững đồng thời dựa trên cơ sở khoa học, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật để nâng cao năng suất, chất lượng; tổ chức lại sản xuất theo chuỗi giá trị; tăng cường bảo quản, chế biến, tăng giá trị gia tăng và khả năng cạnh tranh trên thị trường, nâng cao thu nhập cho nông dân (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2014)

2.1.3.2 Thực trạng chuyển đổi cây trồng, vật nuôi trên đất lúa kém hiệu quả

Nghiên cứu, đánh giá thực trạng chuyển đổi cây trồng, vật nuôi trên đất lúa kém hiệu quả giúp nghiên cứu có được cái nhìn tổng quát nhất về chuyển đổi cây trồng, vật nuôi trên đất lúa kém hiệu quả Từ đó, những thuận lợi cũng như khó khăn, hạn chế của chuyển đổi cây trồng, vật nuôi được bộc lộ Để đánh giá được thực trạng của chuyển đổi, cần xác định được diện tích đất lúa kém hiệu quả, diện tích đất lúa kém hiệu quả đã được chuyển đổi, tỷ lệ diện tích đã được chuyển đổi trên diện tích đất lúa kém hiệu quả… và những biến động của các chỉ tiêu này qua các năm, từ đó chỉ ra những thành tựu và hạn chế của quá trình chuyển đổi để đề ra giải pháp phù hợp

Thực tế những năm qua cho thấy, khi chuyển đổi sang trồng các loại cây trồng khác, thị trường tiêu thụ không ổn định, trong khi công tác dự báo, định vị các sản phẩm phù hợp với nhu cầu, thị hiếu thị trường còn hạn chế Mặt khác,

cơ sở hạ tầng hiện tại chủ yếu phục vụ cho sản xuất lúa, nên việc chuyển đổi sang cây trồng khác chưa có sự thích ứng kịp thời, hiệu quả sản xuất chưa cao,

hệ thống chính sách chưa khuyến khích được bà con nông dân tham gia Bên cạnh đó, lao động trong nông nghiệp, nông thôn đang có sự chuyển dịch sang hoạt động công nghiệp, nên lao động nông nghiệp đang có xu hướng thiếu về số lượng và yếu kém về chất lượng trong khi sản xuất các loại cây trồng mới cần nhiều lao động Hơn nữa, các địa phương chưa hoàn thiện quy hoạch, kế hoạch chuyển đổi với những giải pháp đồng bộ về thời vụ, vùng chuyển đổi, cây trồng, kỹ thuật, tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm gây khó khăn cho chuyển đổi (Hương Thơm, 2016)

2.1.3.3 Các mô hình chuyển đổi

Mỗi mô hình chuyển đổi được áp dụng sẽ phù hợp với điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội của từng địa phương cũng như điều kiện nguồn lực của nông hộ Ở các chân đất khác nhau sẽ áp dụng các mô hình khác nhau, các hộ có nguồn lực khác nhau cũng sẽ có cách chuyển đổi khác nhau Do vậy các mô hình chuyển đổi rất đa dạng, phong phú Mỗi mô hình chuyển đổi là một phương thức

Trang 28

chuyển đổi khác nhau, với mức đầu tư khác nhau và hiệu quả mà chúng mang lại cũng khác nhau Do vậy các mô hình chuyển đổi rất đa dạng, phong phú Việc nghiên cứu các mô hình chuyển đổi thực tiễn được áp dụng ở địa phương, điều kiện áp dụng các mô hình là căn cứ đểđánh giá mô hình đó là tốt hay không tốt, phù hợp với điều kiện địa phương và điều kiện của hộ nông dân hay không, từ đó

đề xuất những hướng đi hợp lý (Nguyễn Thị Phương Dung, 2012)

2.1.3.4 Hiệu quả của chuyển đổi cây trồng, vật nuôi trên đất lúa kém hiệu quả

Đánh giá hiệu quả của chuyển đổi là một nội dung quan trọng của chuyển đổi cây trồng, vật nuôi trên đất lúa kém hiệu quả Suy đến cùng, mục đích của chuyển đổi cây trồng, vật nuôi là đem lại hiệu quả cao hơn cho hộ nông dân cũng như nâng cao hiệu quả trên một đơn vị diện tích đất Muốn xác định được hiệu quả kinh tế của chuyển đổi cây trồng, vật nuôi thì cần xác định được các chi phí cũng như kết quả sản xuất trước và sau chuyển đổi, từ đó đem ra so sánh.Việc đánh giá phải dựa trên một hệ thống chỉ tiêu phù hợp, phản ánh chính xác, toàn diện hiệu quả chuyển đổi cây trồng, vật nuôi

* Nguyên tắc lựa chọn chỉ tiêu đánh giá hiệu quả chuyển đổi

- Hệ thống chỉ tiêu phải có tính thống nhất, tính toàn diện và tính hệ thống Các chỉ tiêu phải có mối quan hệ hữu cơ với nhau, phải đảm bảo tính so sánh thang bậc (Nguyễn Đình Hợi, 1993; Bùi Văn Ten, 2000)

- Để đánh giá chính xác, toàn diện cần phải xác định các chỉ tiêu cơ bản biểu hiện hiệu quả một cách khách quan, chân thật và đúng đắn theo quan điểm

và tiêu chuẩn đã chọn, các chỉ tiêu bổ sung để hiệu chỉnh chỉ tiêu cơ bản, làm cho nội dung kinh tế biểu hiện đầy đủ hơn, cụ thể hơn (Nguyễn Duy Tính, 1995,Vũ Thị Phương Thụy, Đỗ Văn Viện, 1996)

- Các chỉ tiêu phải phù hợp với đặc điểm và trình độ phát triển nông nghiệp ở nước ta, đồng thời có khả năng so sánh quốc tế trong quan hệ đối ngoại, nhất là những sản phẩm có khả năng hướng tới xuất khẩu (Vũ Thị Phương Thụy

và Đỗ Văn Viện, 1996)

- Hệ thống chỉ tiêu phải đảm bảo tính thực tiễn và tính khoa học và phải có tác dụng kích thích sản xuất phát triển (Vũ Thị Phương Thụy và Đỗ Văn Viện, 1996)

* Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế

- Hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp

Trang 29

+ Giá trị sản xuất (GO): Giá trị sản xuất là toàn bộ của cải vật chất được tạo ra trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm)

+ Giá trị gia tăng (VA): Giá trị gia tăng là giá trị tăng thêm của quá trình sản xuất sau khi đã loại bỏ chi phí vật chất và dịch vụ

VA = GO – IC + Thu nhập hỗn hợp (MI):Thu nhập hỗn hợp là phần trả cho người lao động chân tay và lao động quản lý của hộ nông dân cùng tiền lãi thu được trên từng loại công thức luân canh hoặc từng loại cây trồng Nó là phần đảm bảo đời sống và tích lũy cho hộ

MI = VA – (T + A) – Công lao động thuê ngoài (nếu có) Trong đó: T là thuế, A là Khấu hao

- Hiệu quả kinh tế tính trên một đồng chi phí trung gian bao gồm giá trị sản xuất trên chi phí trung gian (GO/IC) và giá trị gia tăng trên chi phí trung gian (VA/IC) Đây là chỉ tiêu tương đối của hiệu quả

- Hiệu quả kinh tế trên một ngày công lao động quy đổi, bao gồm giá trị sản xuất trên số lao động (GO/lao động), giá trị gia tăng trên số lao động (VA/lao động), thu nhập hỗn hợp trên số lao động (MI/lao động) Chỉ tiêu này thực chất là đánh giá kết quả đầu tư lao động sống cho từng kiểu sử dụng đất và từng cây trồng, làm cơ sở để so sánh với chi phí cơ hội của người lao động

Các chỉ tiêu phân tích được đánh giá định lượng (giá trị tuyệt đối) bằng tiền theo giá hiện hành, định tính (giá tương đối) được tính bằng mức độ cao, thấp Các chỉ tiêu đạt được càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn

* Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội

Trang 30

Theo Nguyễn Đình Hợi (1993), hiệu quả xã hội được phân tích bởi các chỉ tiêu sau:

- Đảm bảo an toàn lương thực, gia tăng lợi ích của người nông dân

- Đáp ứng được mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế của vùng

- Thu hút nhiều lao động, giải quyết công ăn việc làm cho nông dân

- Góp phần định canh, định cư, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật

- Tăng cường sản phẩm hàng hóa, đặc biệt là hàng xuất khẩu

* Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả môi trường

Hiệu quả môi trường được đánh giá thông qua mức độ sử dụng đạm, lân, kali và thuốc bảo vệ thực vật (Đỗ Thị Tám và Nguyễn Thị Hải, 2013)

2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển đổi cây trồng, vật nuôi trên đất lúa kém hiệu quả

2.1.4.1 Điều kiện tự nhiên

Sự phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên là một trong những đặc điểm đặc trưng của sản xuất nông nghiệp do nó là môi trường sinh trưởng của cây trồng, vật nuôi

* Đất đai: Đất đai là tư liệu sản xuất không thể thay thế trong sản xuất nông nghiệp Chuyển đổi cây trồng, vật nuôi phải gằn liền với đất đai (Đỗ Kim Chung, 2009)

* Thời tiết, khí hậu: Yếu tố thời tiết, khí hậu ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp Nhiệt độ bình quân, ánh sáng, lượng mưa, độ ẩm, số giờ nắng… trực tiếp ảnh hưởng đến sự phân bố, sinh trưởng và phát triển của cây trồng, vật nuôi Lượng mưa có ý nghĩa quan trọng trong việc giữ nhiệt độ, độ ẩm của đất cũng như khả năng đảm bảo cung cấp nước cho quá trình sinh trưởng của cây trồng, vật nuôi Do vậy, phải dựa vào điều kiện thời tiết, khí hậu để lựa chọn chuyển đổi cây trồng, vật nuôi cho phù hợp (Nguyễn Văn Quy, 2007)

2.1.4.2 Điều kiện kinh tế xã hội

Chế độ sở hữu tư liệu sản xuất và điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau sẽ tác động đến việc quản lý sử dụng đất nông nghiệp, khống chế phương thức và hiệu quả sử dụng đất, từ đó tác động đến hiệu quả của chuyển đổi cây trồng, vật nuôi Trình độ phát triển kinh tế xã hội càng cao thì khả năng sử dụng đất nông nghiệp của con người càng cao (Hoàng Hùng, 2001)

Trang 31

Trong điều kiện kinh tế xã hội thì những chính sách và quy định của Nhà nước là nhân tố ảnh hưởng lớn nhất đến chuyển đổi cây trồng, vật nuôi.Chính sách là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, các giải pháp mà Nhà nươc sử dụng để tác động lên các chủ thể kinh tế xã hội nhằm giải quyết vấn đề để thực hiện một mục tiêu nhất định Chính sách là căn cứ pháp lý để các địa phương thực hiện công tác quản lý và các chương trình hỗ trợ cho chuyển đổi cây trồng, vật nuôi ở địa phương (Phan Kim Chiến, 2007)

Có bốn nhóm chính sách tác động đến quá trình cũng như hiệu quả của chuyển đổi cây trồng vật nuôi: nhóm thứ nhất thường có ảnh hưởng trực tiếp là các chính sách liên quan đến sử dụng đất nông nghiệp; nhóm thứ hai bao gồm các chính sách liên quan đến giá sản phẩm, giá đầu vào; nhóm thứ ba gồm các chính sách phát triển cơ sở hạ tầng như giao thông, thủy lợi, giáo dục, thông tin, nghiên cứu và phát triển khoa học công nghệ và nhóm thứ tư gồm các chính sách liên quan đến tín dụng và lãi suất (Hoàng Hùng, 2001)

Bên cạnh đó, cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất cũng là nhân tố cơ bản quyết định hiệu quả của chuyển đổi cây trồng, vật nuôi Cơ sở hạ tầng bao gồm giao thông, thủy lợi, thông tin liên lạc, các dịch vụ về sản xuất và khoa học kỹ thuật Những yếu tố này tác động cả trực tiếp và gián tiếp đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp nói chung và hiệu quả chuyển đổi cây trồng, vật nuôi nói riêng (Hoàng Hùng, 2001)

2.1.4.3 Kỹ thuật, công nghệ

Bản chất của kỹ thuật hay công nghệ áp dụng vào nông nghiệp có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất đất đai và hiệu quả kinh tế Như chúng ta đã biết, đổi mới công nghệ trong nông nghiệp có thể hướng vào việc tiết kiệm các nguồn lực, phát triển các công nghệ đòi hỏi mức đầu tư thấp, ít sử dụng chất hóa học trong sản xuất nông nghiệp, phát huy kiến thức cổ truyền của nông dân và thực hiện mục tiêu đa dạng sinh học Hiệu quả của chuyển đổi cây trồng, vật nuôi phụ thuộc rất lớn vào công nghệ áp dụng trong sản xuất Có khi cùng chủng loại và số lượng đầu vào nhưng đổi mới cách thức, kỹ năng sử dụng cũng có thể dẫn đến sự thay đổi lớn trong kết quả cũng như hiệu quả kinh tế (Lê Huy Bá và cs., 2006)

Biện pháp kỹ thuật canh tác cũng có ảnh hưởng lớn đến quá trình cũng như hiệu quả của chuyển đổi cây trồng, vật nuôi Biện pháp kỹ thuật canh tác là các tác động của con người vào đất đai, cây trồng, vật nuôi nhằm tạo nên sự hài hòa giữa các yếu tố của quá trình sản xuất để hình thành, phân bổ và tích lũy

Trang 32

năng suất kinh tế Theo Đường Hồng Dật (2004):“Biện pháp kỹ thuật canh tác

là những tác động thể hiện sự hiểu biết sâu sắc của con người về đối tượng sản xuất, về thời tiết, về điều kiện môi trường, thể hiện những dự báo thông minh

và sắc xảo, sự lựa chọn các tác động kỹ thuật, lựa chọn chủng loại cũng như cách sử dụng đầu vào phù hợp với các quy luật tự nhiên của sinh vật nhằm đạt mục tiêu đề ra”

Theo một số nhà nghiên cứu về đất đai, ở các nước phát triển, khi có tác động tích cực của kỹ thuật, giống mới, thủy lợi, phân bón tới hiệu quả thì yêu cầu đối với tổ chức sử dụng đất cũng được đặt ra Thực tế cũng cho thấy, ứng dụng công nghệ sản xuất tiến bộ là một đảm bảo vật chất cho kinh tế nông nghiệp tăng trưởng nhanh Cho đến giữa thế kỉ XXI, trong nông nghiệp Việt Nam, quy trình

kỹ thuật có thể góp phần đến 30% của năng suất kinh tế Như vậy, nhóm các biện pháp kỹ thuật đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong quá trình khai thác đất, nâng cao hiệu quả sử dụng đất và chuyển đổi cây trồng, vật nuôi (Hoàng Hùng, 2001) 2.1.4.4 Nguồn lực của nông hộ

Kiến thức và kỹ năng của nông dân góp phần quan trọng trong chuyển đổi cây trồng, vật nuôi Khả năng tiếp thu kỹ thuật canh tác cây trồng, vật nuôi có liên quan chặt chẽ đến kiến thức và kỹ năng canh tác của nông dân Trình độ văn hóa và kinh nghiệm có thể được coi là những biến độc lập quy định đến năng suất cây trồng, vật nuôi và hiệu quả chuyển đổi cây trồng, vật nuôi (Lê Huy Bá

và cs., 2006)

Bên cạnh đó, diện tích đất, số lượng lao động, lượng vốn mà hộ nông dân

có để phục vụ sản xuất nông nghiệp… cũng là những biến số quan trong nhân tố này, đặc biệt là vốn Theo Đỗ Kim Chung (2009), bất cứ hoạt động nông nghiệp nào cũng cần có vốn, vốn là yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa

2.1.4.5 Thị trường trong nông nghiệp

Bàn về thị trường trong nông nghiệp cần kể đến thị trường đầu vào và đầu

ra Phần lớn các thị trường trong nông nghiệp mang tính cạnh tranh cao hơn so với các ngành khác trong nền kinh tế Vì vậy, tạo ra thị trường cạnh tranh lành mạnh cũng là một trong những điều kiện thúc đẩy quá trình chuyển đổi cây trồng, vật nuôi nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất nông nghiệp nói riêng

và sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp nói chung Môi trường cạnh tranh lành mạnh, trong đó các thành phần kinh tế quốc doanh, tư nhân và hợp tác xã có

Trang 33

quyền ngang nhau trong việc tạo vốn, sử dụng các thông tin mua và bán sản phẩm (Lê Huy Bá và cs., 2006)

2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN

2.2.1 Tình hình chuyển đổi cây trồng, vật nuôi ở một số nước trên thế giới

Trong những năm qua, cùng với sự phát triển thành công về sản xuất nông nghiệp, và tăng trưởng về mức sống, nhiều nước như Trung Quốc, Ấn Độ, Philippin, Malaysia ,… đã đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng và đa dạng hoá sản xuất, cố gắng phát huy lợi thế so sánh, chấp nhận nhập khẩu nguyên liệu và các mặt hàng sản xuất không có lợi thế để tập trung sản xuất thật hiệu quả một số mặt hàng xuất khẩu có khả năng cạnh tranh với khối lượng lớn Xu thế chung của quá trình chuyển đổi này là: chuyển từ sản xuất lúa sang trồng rau màu, cây ăn quả và cây công nghiệp dài ngày; chuyển từ độc canh lúa sang luân canh màu trên nền lúa; chuyển từ trồng lúa sang nuôi trồng thuỷ sản; chuyển từ trồng cây dài ngày như cây ăn quả, cây công nghiệp dài ngày sang trồng xen canh giữa cây ngắn ngày và cây dài ngày; chuyển từ cây trồng có giá trị thấp và bị giảm giá trên thị trường sang cây trồng có giá trị cao và ổn định về thương mại Bên cạnh đó, việc tập trung vào chế biến sâu như các sản phẩm đóng hộp, chế biến các sản phẩm từ mủ cao su, sản xuất các sản phẩm từ gỗ tận thu… và phát triển chăn nuôi, thức ăn chăn nuôi cũng được đẩy mạnh.Để đáp ứng các xu thế phát triển này, mỗi nước đều đưa ra các chính sách của mình để tạo điều kiện cho nông dân chuyển đổi sản xuất, như chính sách đầu tư cho khoa học công nghệ, phát triển chế biến bảo quản, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, tiếp thị và phát triển thị trường, các chính sách vĩ mô khác như tín dụng, các hình thức tổ chức sản xuất kết hợp tiếp thị… Mặc dù mức độ thành công của mỗi nước khác nhau, song những bước đi của họ đều có thể là bài học đáng tham khảo cho Việt Nam trong quá trình chuyển đổi cơ cấu và đa dạng hoá cây trồng (Phạm Quang Diệu, 2001) 2.2.2.Tình hình chuyển đổi cây trồng, vật nuôi trên đất lúa kém hiệu quả tại một số tỉnh

2.2.2.1 Bình Định

Bình Định là một trong những địa phương thực hiện khá tốt chương trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên diện tích đất trồng lúa bấp bênh, năng suất thấp Nếu như năm 2013, diện tích chuyển đổi cây trồng cạn trên đất lúa tại Bình Định

là 3.630,2ha, đạt 54% kế hoạch thì năm 2014, diện tích chuyển đổi cơ cấu cây trồng đã lên tới 5.433ha Trong đó diện tích chuyển đổi đất trồng màu kém hiệu

Trang 34

quả 2.971ha, tập trung ở Phù Cát (1.035ha đất trồng sắn chuyển sang trồng lạc, dưa, ớt ), Tây Sơn (1.035ha chuyển sang trồng dưa hấu, lạc, ngô lai ); diện tích chuyển đổi sản xuất cây trồng cạn trên đất lúa là 2.462ha, cụ thể, vụ đông xuân 815ha, tập trung ở 2 huyện Phù Cát và Phù Mỹ, vụ hè thu, vụ mùa 1.647ha Riêng vụ đông xuân 2014-2015, diện tích chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên địa bàn Bình Định là 2.156ha, trong đó diện tích chuyển đổi đất trồng màu kém hiệu quả 1.505ha, diện tích chuyển đổi sản xuất cây trồng cạn trên đất lúa là 651,5 ha (Khánh Nguyên, 2015)

Thực tiễn sản xuất cho thấy, nhiều công thức luân canh có giá trị thu nhập cao đã được áp dụng hiệu quả tại một số địa phương trong tỉnh Bình Định Xã Cát Hải (huyện Phù Cát) chuyển đổi 340ha từ sản xuất 1 vụ lúa bấp bênh sang cơ cấu 1 vụ lạc - 2 vụ hành/năm cho thu nhập 150-180 triệu đồng/ha/năm Xã Cát Tài (Phù Cát) chuyển đổi từ 3 vụ lúa bấp bênh/năm sang canh tác các loại cây trồng cạn, giá trị thu nhập 120 – 150 triệu đồng/ha/năm Xã Tây Giang (Tây Sơn)

áp dụng công thức: đậu phộng (lạc) - dưa leo - khổ qua (mướp đắng) hoặc đậu phộng - 2 vụ hành lá - dưa leo, giá trị thu nhập trên 200 – 300 triệu đồng/ha/năm (Khánh Nguyên, 2015)

2.2.2.2 Quảng Nam

Theo thống kê, hiện nay tỉnh Quảng Nam có hơn 41.000 ha đất chuyên trồng lúa nước (không kể hơn 5.000 ha đất lúa rẫy và lúa gieo không có nước tưới), trong đó đã bố trí luân canh lúa - màu gần 3.000 ha (chủ yếu vùng mặn, hạn) (Lê Anh, 2015) Trong nhiều năm qua, ngành NN&PTNT tỉnh Quảng Nam

đã thường xuyên khuyến cáo nông dân chuyển đổi đất lúa bấp bênh về nước tưới sang cây trồng cạn khác có hiệu quả cao hơn theo hướng lấy giá trị và hiệu quả sản xuất làm mục tiêu phấn đấu

Tuy nhiên, các diện tích đất này lại gặp rất nhiều khó khăn trong sản xuất cây trồng cạn như: Đất ở các vùng trung du thường có địa hình bậc thang, manh mún khó cơ giới hoá, nhiều diện tích dễ bị úng ngập khi có mưa lớn, tầng canh tác đất mỏng và dạng đất sét nên rất khó để vận động chuyển đổi cây trồng có hiệu quả Diện tích đã được chuyển đổi hoàn toàn từ cây lúa sang cây trồng cạn như ngô, đậu phụng còn rất ít, năm 2012 mới thực hiện được khoảng 300 ha Đến nay, có trên 1.400 ha đất lúa được chuyển đổi sang cây trồng khác Tại một số diện tích có điều kiện, nông dân đã thực hiện việc luân canh cây trồng đem lại hiệu quả cao (Lê Anh, 2015)

Trang 35

Vụ đông xuân 2014 – 2015 vừa qua đã chuyển đổi 100ha từ đất trồng lúa sang trồng cây đậu xanh 50ha, dưa hấu 25ha, nho 20ha và trồng cỏ chăn nuôi là 5ha, tập trung ở 2 huyện Thuận Nam và Ninh Phước Riêng vụ hè thu 2015, diện tích dự kiến chuyển đổi từ đất chuyên lúa sang cây trồng khác là 340ha (trên tổng

số 16.133ha), cụ thể cây đậu xanh khoảng 70ha, dưa hấu 30ha, bắp lai và một số cây trồng khác khoảng 240ha, tập trung ở hai huyện Ninh Phước và Thuận Bắc (Khánh Nguyên, 2015)

Đối với chân đất lúa bấp bênh về nước tưới, thực hiện ở 8 huyện, thành phố đồng bằng, trung du (Đại Lộc, Hội An, Điện Bàn, Quế Sơn, Thăng Bình, Tiên Phước, Tam Kỳ, Núi Thành), áp dụng một số công thức luân canh như: lúa đông xuân - sắn/lạc/mè vụ hè thu; lạc đông xuân xen sắn trên đất lúa nước trời ở Quế Sơn Đối với đất lúa chủ động nước tưới, nông dân đã chủ động chuyển đổi phương thức canh tác từ chuyên canh lúa sang các công thức luân canh: lúa đông xuân - dưa hấu xuân hè - lúa hè thu, dưa hấu đông xuân - dưa hấu xuân hè - lúa

hè thu, lúa đông xuân - ngô (hoặc đậu phụng) hè thu, đậu phụng đông xuân (ĐX)- ngô hè thu (HT),… Tại các mô hình này, cây trồng chuyển đổi đều cho năng suất cao, ngô đạt 60 – 70 tạ/ha, dưa hấu 24 tạ/ha, lạc 25 – 30 tạ/ha, và cho thu nhập khá: Ngô ĐX – lúa HT 87 triệu đồng và 46 triệu đồng/ha/năm; lạc ĐX – lúa HT 99 triệu đồng và 54 triệu đồng/ha/năm; lạc ĐX – ngô HT 114 triệu đồng

và 87 triệu đồng/ha/năm; ngô ĐX – lạc HT 102 triệu đồng và 76 triệu đồng/ha/năm (Khánh Nguyên, 2015)

2.2.2.3 Hưng Yên

Tỉnh Hưng Yên hiện có hơn 58 nghìn ha đất nông nghiệp, trong đó hơn 41 nghìn ha đất chuyên trồng lúa, còn lại là đất trồng cây lâu năm, nuôi trồng thủy sản theo quy hoạch của tỉnh, đến năm 2020, diện tích đất nông nghiệp còn hơn 46 nghìn ha Hơn 12 nghìn ha sẽ chuyển sang đất phi nông nghiệp phục vụ phát triển công nghiệp, đô thị, giao thông và đất chuyên cấy lúa 35 nghìn ha Do vậy, vấn

đề quản lý, quy hoạch sử dụng đất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng đang là vấn đề bức bách (Trung Hà và cs., 2013)

Trong những năm qua, tỉnh Hưng Yên đã tạo điều kiện cho nông dân chuyển đổi cây trồng, vật nuôi trên đất lúa kém hiệu quả nhất là ở những vùng đất cao, điều kiện tưới, tiêu khó khăn nhưng không làm biến dạng đất lúa Việc tạo môi trường thuận lợi cho nông dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi mang lại nhiều lợi ích, nông dân không phải chuyển đổi tự phát nữa mà chuyển

Trang 36

đổi theo quy hoạch Các địa phương có điều kiện hỗ trợ nông dân xây dựng cơ sở

hạ tầng phục vụ sản xuất theo quy hoạch, hỗ trợ kỹ thuật sẽ nâng cao hiệu quả chuyển đổi cây trồng, vật nuôi khuyến khích các hộ nông dân liên kết hợp tác với nhau, với các doanh nghiệp, các nhà khoa học để xây dựng những vùng chuyên canh lớn có năng suất cao, sản lượng, chất lượng ổn định, có thương hiệu, đảm bảo đầu ra thuận lợi

Trong giai đoạn 2011 - 2014, toàn tỉnh đã chuyển đổi gần 6.000 ha đất trồng lúa hiệu quả thấp sang trồng cây hàng năm kết hợp chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản trên đất trồng lúa, trong đó: huyện Khoái Châu có diện tích chuyển đổi nhiều nhất 1962,4 ha, huyện Mỹ Hào có diện tích chuyển đổi ít nhất 201 ha Việc chuyển đổi từ đất trồng lúa kém hiệu quả sang các cây trồng khác và kết hợp chăn nuôi đã đem lại hiệu quả kinh tế cao: chuyển sang trồng hoa, cây cảnh, cây công trình cho thu lãi cao hơn 8 – 10 lần so với trồng lúa; trồng lúa kết hợp thả

cá, chăn nuôi gia súc, gia cầm và trồng cây ăn quả, rau mầu ngắn ngày cho thu lãi cao hơn 6 – 7 lần trồng lúa; trồng cây ăn quả hàng năm cho thu lãi cao hơn 4 – 6 lần so với trồng lúa; trồng rau, ngô ngọt, cây dược liệu, dưa chuột… cho thu lãi cao hơn 3 – 4 lần so với trồng lúa (Trần Hữu Chất, 2015)

Trong thời gian tới, tỉnh sẽ tập trung chỉ đạo, thực hiện rà soát, điều chỉnh,

bổ sung Quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp, nông thôn giai đoạn

2011-2015, định hướng 2020; chuyển đổi cơ cấu trà vụ, giống cây trồng; duy trì diện tích trồng cây ăn quả có thế mạnh của tỉnh như nhãn, vải lai, chuối, cây có múi, dược liệu một cách hợp lý; duy trì tỷ lệ gieo cấy lúa chất lượng cao khoảng 58-60% diện tích Bên cạnh đó, tỉnh cũng tổ chức thực hiện tốt Quyết định số 438/QĐ-UBND ngày 13/2/2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc phê duyệt Kế hoạch khung về chuyển đổi từ trồng lúa kém hiệu quả sang trồng cây hàng năm, kết hợp chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản trên đất trồng lúa đến năm 2020 (Trần Hữu Chất, 2015)

2.2.2.4 Bắc Giang

Để sản xuất nông nghiệp đạt hiệu quả cao, cải thiện đời sống cho người nông dân, trong những năm qua, tỉnh Bắc Giang đã tích cực chuyển đổi diện tích lúa cho năng suất không cao sang trồng các loại cây trồng khác như ngô, lạc, đậu tương, rau các loại… hoặc trồng lúa kết hợp với nuôi trồng thủy sản cho hiệu quả kinh tế cao hơn Qua đó, một số mô hình canh tác chính trên đất lúa đã cho giá trị sản xuất cao như: Lúa Xuân kết hợp với thả cá đạt bình quân 100 triệu đồng/ha;

Trang 37

lạc Xuân – lúa Mùa – cây màu vụ Đông đạt bình quân 145 triệu đồng/ha; trồng cần kết hợp với thả cá đạt bình quân hơn 500 triệu/ha Giai đoạn 2014 – 2020, Bắc Giang đăng ký kế hoạch chuyển đổi đất trồng lúa sang trồng các cây trồng khác Cụ thể, năm 2014 chuyển đổi diện tích là 820 ha, năm 2015, chuyển đổi là

420 ha; giai đoạn 2016 – 2020 chuyển đổi là 850 ha diện tích trồng lúa sang trồng các cây trồng khác như: Ngô; đậu tương; vừng, lạc; rau quả thực phẩm các loại; cây thức ăn gia súc; cây trồng hàng năm khác; trồng lúa kết hợp với nuôi trồng thủy sản (Hải Huyền, 2015)

Tuy nhiên, hiện nay việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng còn gặp nhiều khó khăn, nguyên nhân chủ yếu là do kết cấu hạ tầng, thủy lợi chưa đồng bộ dẫn đến khó khăn trong tiêu nước cho cây trồng cạn hay tình trạng thiếu nước tưới vào mùa khô; giá cả nông sản bấp bênh, sản xuất không có hợp đồng bao tiêu sản phẩm dẫn đến người nông dân không mạnh dạn trong chuyển đổi, đầu tư thâm canh sản xuất

Để việc chuyển đổi thực hiện được theo kế hoạch, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã đề xuất tỉnh hỗ trợ các địa phương kinh phí xây dựng cơ

sở hạ tầng, hệ thống thủy lợi, dồn điền đổi thửa, chỉnh trang đồng ruộng cho vùng chuyển đổi để việc triển khai sản xuất được thuận lợi và hiệu quả Đồng thời, tỉnh cũng có hỗ trợ giống, phân bón, cơ giới hóa đối với vùng chuyển đổi sản xuất thành vùng tập trung theo mô hình “Cánh đồng mẫu lớn” Bên cạnh đó, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vay vốn để doanh nghiệp liên kết sản xuất với nông dân thông qua hợp đồng bao tiêu sản phẩm; cung ứng giống, phân bón, vật tư cho nông dân theo hình thức trả chậm, tạo điều kiện cho nông dân mạnh dạn chuyển đổi, đầu tư thâm canh, mở rộng sản xuất cũng được thực hiện 2.2.2.5 Thanh Hóa

Thanh Hóa là tỉnh thuộc khu vực Bắc Trung bộ có địa hình rất đa dạng, từ miền núi, trung du đến đồng bằng Trong thời gian qua, Thanh Hóa cũng đã đẩy mạnh thực hiện chuyển đổi cây trồng, vật nuôi trên đất lúa kém hiệu quả nhằm cải thiện đời sống người nông dân và thay đổi bộ mặt nông thôn

Ở huyện Nga Sơn, hiện tượng nước mặn xâm nhập thường xuyên diễn ra nên một số diện tích cói ở các xã Nga Tân, Nga Thủy, Nga Tiến trong đê Ngự Hàm 3 và ở triền sông Lèn.Việc canh tác cói trên đất nhiễm mặn ở các xã ven biển Nga Sơn trong những năm gần đây ngày càng xuất hiện nhiều sâu bệnh, hiệu quả kinh tế thấp Bên cạnh đó, đất ngoài đê xã Nga Điền ảnh hưởng của đắp

Trang 38

đập tạm sông Càn nên thiếu nước tưới, khó khăn cho sản xuất, năng suất không cao, diện tích đất bị hoang hóa có nguy cơ mở rộng Để khắc phục tình trạng trên, ngày 17/4/2013, UBND huyện Nga Sơn đã ban hành Quyết định số 25 về chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, khắc phục tình trạng sử dụng đất kém hiệu quả Huyện coi đây là nhiệm vụ chính trị, chỉ đạo các đơn vị, các xã thực hiện nghiêm túc; đồng thời, thành lập ban chỉ đạo cấp huyện về vấn đề này để thường xuyên kiểm tra, theo dõi, chỉ đạo khắc phục các vấn đề phát sinh Ngay từ những ngày đầu triển khai, huyện đã khảo sát và quyết định chuyển đổi 175,08

ha đất cói ở các xã ven biển sang canh tác các giống lúa có khả năng chịu mặn, như: VT404, C.Ưu đa hệ số 1 Thống kê từ Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Nga Sơn: Vụ mùa năm 2013, toàn huyện đã chuyển đổi 59,58

ha đất trồng cói sang trồng lúa, trong đó Nga Điền 10,65 ha, Nga Phú 25,27 ha, Nga Thái 23,66 ha Vụ xuân năm 2014, huyện tiếp tục vận động nhân dân chuyển đổi được 115,5 ha, trong đó: xã Nga Điền 30 ha, Nga Thái 10 ha, Nga Tiến 75,5

ha Để tạo sự đồng thuận cao của các hộ dân, huyện hỗ trợ 70% kinh phí làm đất cải tạo đất cói chuyển sang đất cấy lúa, tương đương 6,3 triệu đồng/ha, tổng số tiền hỗ trợ hơn 1,1 tỷ đồng (Lê Đồng, 2014)

Từ cách làm trên, vụ mùa 2013, diện tích lúa được chuyển đổi từ đất trồng cói đạt năng suất 55 tạ/ha Vụ xuân năm 2014, năng suất lúa tiếp tục được nâng lên 65 tạ/ha, riêng xã Nga Tiến bố trí bằng giống lúa C.Ưu đa hệ số 1, năng suất đạt khoảng 70 tạ/ha 46 ha đất nhiễm mặn trồng cói tại Nga Tân (35 ha), Nga Tiến (5 ha), Nga Thủy (6 ha) cũng đã được nhân dân các xã đầu tư, chuyển sang trang trại tổng hợp kết hợp với nuôi trồng thủy sản Các trang trại này đã cho thu hoạch, đồng thời mang lại kỳ vọng tạo ra sự đột phá đáng kể trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi trên đất nhiễm mặn của Nga Sơn (Lê Đồng, 2014)

Tại Hà Trung, huyện cũng đã đẩy mạnh tuyên truyền, vận động người dân tích cực chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, lựa chọn cây, con giống phù hợp

để phát triển kinh tế, ổn định đời sống Từ năm 2013 đến nay, huyện Hà Trung

đã thực hiện chuyển đổi hơn 500 ha đất chiêm trũng kém hiệu quả sang mô hình trang trại, gia trại kết hợp; thực hiện chuyển đổi 100 ha đất trồng lúa tại những khu vực khó tưới, kém năng suất sang trồng các loại cây rau màu giá trị cao, như: dưa chuột, ớt, ngô ; đưa các giống lúa lai, lúa thuần có năng suất và chất lượng cao vào sản xuất như Nam Dương 99, BT7, KD18, Nhị Ưu 986 năng suất bình quân đạt 56tạ/ha; 400 ha rừng sản xuất trước đây trồng các loại cây kém hiệu quả nay chuyển sang trồng keo cho năng suất cao Đối với chăn nuôi, bà con nông

Trang 39

dân đã biết áp dụng tiến bộ khoa học về xây dựng chuồng trại, thức ăn, quy trình chăm sóc trong chăn nuôi lợn, vịt, gà Hiện nay, toàn huyện có 3.014 con trâu, 5.300 con bò, 23.400 con lợn, 7.300 con dê, 800.000 con gia cầm; duy trì 1.260

ha nuôi trồng thủy sản (Quốc Hương, 2015)

Trong thời gian tới, huyện Hà Trung tiếp tục tập trung rà soát, mở rộng quy hoạch các vùng sản xuất hàng hóa, khuyến khích người dân thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi; tuyên truyền, vận động người dân đưa cơ giới hóa vào sản xuất nông nghiệp, tuân thủ các cam kết, quy trình trong sản xuất; đẩy mạnh đầu tư phát triển hệ thống giao thông, thủy lợi; triển khai hiệu quả các chính sách hỗ trợ sản xuất nông, lâm nghiệp tạo điều kiện cho nông dân tiếp cận với thị trường hàng hóa, dịch vụ, có đầu ra ổn định

2.2.3 Tình hình chuyển đổi cây trồng, vật nuôi trên đất lúa kém hiệu quả tại một số địa phương của tỉnh Nam Định

2.2.3.1 Giao Thủy

Giao Thủy là địa phương thành công với các mô hình chuyển đổi đổi diện tích trồng lúa và sản xuất muối kém hiệu quả sang nuôi trồng thủy sản bán công nghiệp, công nghiệp và cao sản.Toàn huyện có 1.151 ha bao gồm 710 ha mặt nước hồ, ao trong dân cư, 441 ha chuyển đổi từ đất trồng lúa kém hiệu quả sang nuôi trồng thủy sản Hầu hết các chủ trang trại, hộ nuôi đều mạnh dạn đầu

tư vốn để cải tạo ao nuôi chuyển sang nuôi thả những con nuôi có giá trị kinh tế cao như ếch, lươn, cá chuối ta, cá rô đồng, cá chim trắng; năng suất đạt từ 3 đến

5 tấn/ha/năm, cho thu nhập vài, ba trăm triệu đồng mỗi năm (Nguyễn Văn Đồng, 2014)

Giao Thủy đã lấy con ngao làm chủ lực trong phát triển kinh tế biển Năm

2014, toàn huyện đã quy hoạch và đưa 5.241 ha bãi bồi ven biển vào nuôi trồng thủy sản; trong đó diện tích nuôi ngao chiếm gần 30% Nghề nuôi ngao phát triển mạnh ở xã Giao Xuân Hiện nay ở xã có gần 700 hộ dân nuôi ngao, với diện tích khoảng 400 ha, năng suất ổn định khoảng 60 tấn/ha/năm Với giá bán tại bãi hiện nay khoảng 10.000 đồng/kg, giá trị thu nhập nuôi ngao mang lại gấp hàng chục lần so với trồng lúa (Nguyễn Văn Đồng, 2014)

Từ những mô hình nuôi ngao khá thành công ở Giao Xuân, UBND huyện Giao Thủy đã xây dựng vùng nuôi ngao chung cho cả huyện, tập trung ở bốn xã: Giao Xuân, Giao Long, Giao Hải và Giao Lạc Hiệu quả của nghề nuôi ngao trong những năm qua cho thấy đây là chủ trương đúng và tạo được bước đột phá

Trang 40

trong phát triển kinh tế - xã hội ở những xã vùng chân sóng vốn còn nhiều khó khăn Giao Thủy đã có vùng nuôi ngao chiếm gần 30% diện tích nuôi trồng thủy sản mặn lợ, tạo việc làm, thu nhập ổn định cho 3.000 lao động thường xuyên và hàng chục nghìn lao động thời vụ Sản phẩm ngao Giao Thủy chiếm hơn 44% sản lượng ngao thương phẩm của các tỉnh ven biển phía bắc Các hộ nuôi ngao ở Giao Thủy đang chuyển từ làm ăn riêng lẻ sang hợp tác theo nhóm từ ba đến năm

hộ, nhằm hỗ trợ nhau về tài chính, trao đổi kinh nghiệm sản xuất, áp dụng chung quy tắc sản xuất an toàn, hỗ trợ nhau nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường và người tiêu dùng (Nguyễn Văn Đồng, 2014)

Giao Thủy cũng là địa phương được lựa chọn để xây dựng mô hình chuyển đổi đất trồng lúa kém hiệu quả sang trồng cỏ nuôi dê sinh sản tại xã Giao Thiện với mục tiêu nâng cao giá trị thu nhập trên một diện tích đất canh tác cho người nông dân Kết quả bước đầu mô hình đã đem lại hiệu quả kinh tế cao gấp nhiều lần trồng lúa, đảm bảo vệ sinh môi trường, có khả năng phát triển lâu dài.Theo tính toán, mỗi sào cỏ nuôi được 3 con dê sinh sản, lợi nhuận từ trồng cỏ nuôi dê theo phương thức nuôi nhốt hoàn toàn cho lợi nhuận là 5,8 triệu đồng/sào/năm, gấp rất nhiều lần so với trồng lúa.Mô hình chuyển đổi đất trồng lúa kém hiệu quả sang trồng cỏ nuôi dê sinh sản theo phương thức nhốt chuồng bước đầu đem lại nhiều lợi ích như: không mất công chăn thả, không bị lây nhiễm nguồn bệnh từ bên ngoài, rủi ro thấp; khắc phục được tình trạng nuôi tận dụng, phụ thuộc vào nguồn cỏ tự nhiên và nguồn phụ phẩm nông nghiệp; hạn chế

ô nhiễm môi trường (Ngọc Ánh, 2015)

2.2.3.2 Nghĩa Hưng

Nghĩa Hưng là huyện ven biển của tỉnh Nam Định, có diện tích đất lúa kém hiệu quả khá lớn Những năm gần đây, địa phương này đã xây dựng nhiều

mô hình chuyển đổi đất sản xuất lúa kém hiệu quả và đạt được những thành tựu

to lớn Trong đó tiêu biểu là mô hình chuyển đổi sang trồng dưa lê tại xã Nghĩa Thành với quy mô 5ha Giống dưa Lê siêu ngọt Ngân Huy là giống có thời gian sinh trưởng vụ xuân 2014 với thời gian 80 ngày, trọng lượng quả từ 350 đến 500 gam/quả, mật độ trồng dàn 750 cây/sào, năng suất thực thu 712 kg/sào (19,78 tấn/ha) Với giá bán 7.000 đ/kg, sau khi trừ chi phí (công lao động, giống, phân bón, thuốc BVTV và chi phí khác) lợi nhuận mang lại là 2.547.000 đ/sào (70.750.000 đ/ha) cao hơn trồng lúa 6,6 lần (Trung tâm khuyến nông – khuyến ngư tỉnh Nam Định, 2014)

Ngày đăng: 18/11/2018, 11:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w