1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

nhận thức và ứng xử của người dân trong xây dựng và quản lý hệ thống đường giao thông nông thôn ở huyện phúc thọ, thành phố hà nội

117 222 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 1,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAMĐỖ THỊ HƯƠNG NHẬN THỨC VÀ ỨNG XỬ CỦA NGƯỜI DÂN TRONG XÂY DỰNG VÀ QUẢN LÝ HỆ THỐNG ĐƯỜNG GIAO THÔNG NÔNG THÔN Ở HUYỆN PHÚC THỌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI Người hướn

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

ĐỖ THỊ HƯƠNG

NHẬN THỨC VÀ ỨNG XỬ CỦA NGƯỜI DÂN TRONG XÂY DỰNG VÀ QUẢN LÝ HỆ THỐNG ĐƯỜNG GIAO THÔNG NÔNG THÔN

Ở HUYỆN PHÚC THỌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Quyền Đình Hà

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo

vệ lấy bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám

ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Đỗ Thị Hương

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn

bè, đồng nghiệp và gia đình

Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết

ơn sâu sắc tới PGS TS Quyền Đình Hà đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo,

Bộ môn Phát triển nông thôn, Khoa Kinh tế và phát triển nông thôn - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành Văn phòng Ủy ban nhân dân huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội và các phòng ban trực thuộc; Lãnh đạo chính quyền và nhân dân các xã Hiệp Thuận, xã Ngọc Tảo và xã Liên Hiệp đã cung cấp số liệu, thông tin giúp tôi hoàn thành luận văn

Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Đỗ Thị Hương

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục bảng v

Danh mục biểu đồ vii

Danh mục chữ viết tắt v

Trích yếu luận văn ix

Thesis abstract xi

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn 5

2.1 Cơ sở lý luận về nhận thức và ứng xử của người dân trong xây dựng và quản lí hệ thống đường giao thông nông thôn 6

2.1.1 Các khái niệm cơ bản 6

2.1.2 Đặc điểm xây dựng và quản lí hệ thống đường giao thông nông thôn 13

2.1.3 Vai trò của xây dựng và quản lý hệ thống đường giao thông nông thôn 16

2.1.4 Nội dung nghiên cứu nhận thức và ứng xử của người dân trong xây dựng và quản lý hệ thống đường giao thông nông thôn 23

2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới nhận thức và ứng xử của người dân trong xây dựng và quản lý hệ thống đường giao thông nông thôn 26

2.2 Cơ sở thực tiễn 29

2.2.1 Nhận thức và ứng xử của người dân trong xây dựng và quản lý hệ thống đường giao thông nông thôn của một số nước trên Thế giới 29

2.2.2 Nhận thức và ứng xử của người dân trong xây dựng và quản lý hệ thống đường giao thông nông thôn ở một số địa phương của Việt Nam 32

2.2.3 Bài học kinh nghiệm nhằm nâng cao nhận thức và ứng xử của người dân trong xây dựng và quản lý hệ thống đường giao thông nông thôn huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội 35

Trang 5

Phần 3 Phương pháp nghiên cứu 37

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 37

3.3.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên 37

3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 39

3.1.3 Kết quả phát triển kinh tế của huyện trong những năm qua 43

3.2 Phương pháp nghiên cứu 45

3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 45

3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin 47

3.2.3 Phương pháp phân tích thông tin 48

3.2.4 Hệ thống các chỉ tiêu trong nghiên cứu 49

Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 50

4.1 Thực trạng nhận thức và ứng xử của người dân trong xây dựng và quản lý hệ thống đường giao thông nông thôn huyện Phúc Thọ 50

4.1.1 Thực trạng hệ thống giao thông nông thôn của huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội 50

4.1.2 Thực trạng nhận thức và ứng xử của người dân trong xây dựng và quản lý hệ thống giao thông nông thôn huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội 60

4.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới nhận thức và ứng xử của người dân trong xây dựng và quản lý hệ thống đường giao thông nông thôn ở huyện Phúc Thọ 82

4.2.1 Chính sách, pháp luật của nhà nước 82

4.2.2 Trình độ phát triển kinh tế xã hội 83

4.2.3 Trình độ của người dân 85

4.2.4 Năng lực tổ chức, tuyên truyền vận động của cán bộ địa phương 86

4.2.5 Sự phối hợp giữa chính quyền với các đoàn thể 88

4.3 Định hướng và giải pháp nâng cao nhận thức và ứng xử của người dân trong xây dựng và quản lý hệ thống giao thông nông thôn huyện Phúc Thọ 89

4.3.1 Định hướng 89

4.3.2 Một số giải pháp 90

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 96

5.1 Kết luận 96

5.2 Kiến nghị 97

Tài liệu tham khảo 98

Phụ lục 101

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Phân cấp kỹ thuật đường GTNT theo chức năng của đường và lưu

lượng xe thiết kế 11

Bảng 3.1 Đặc điểm thời tiết khí hậu huyện Phúc Thọ 38

Bảng 3.2 Hiện trạng sử dụng đất của Huyện Phúc Thọ 40

Bảng 3.3 Tình hình dân số huyện Phúc Thọ năm 2013 – 2015 40

Bảng 3.4 Một số chỉ tiêu về giáo dục của huyện Phúc Thọ năm 2013 – 2015 42

Bảng 3.5 Tình hình phát triển kinh tế huyện Phúc Thọ năm 2013 – 2015 44

Bảng 3.6 Bảng thu thập tài liệu, số liệu đã công bố 47

Bảng 3.7 Phân bổ mẫu điều tra 48

Bảng 4.1 Tổng hợp hiện trạng đường giao thông huyện Phúc Thọ năm 2015 51

Bảng 4.2 Mật độ đường giao thông huyện Phúc Thọ theo diện tích 51

Bảng 4.3 Hiện trạng các tuyến đường quốc lộ và tỉnh lộ huyện Phúc Thọ 52

Bảng 4.4 Tổng hợp hiện trạng đường huyện, đô thị huyện Phúc Thọ năm 2015 54

Bảng 4.5 Tổng hợp hiện trạng đường xã của huyện Phúc Thọ năm 2015 55

Bảng 4.6 Hiện trạng công trình cầu trên huyện Phúc Thọ 57

Bảng 4.7 Kết quả khảo sát đường giao thông nông thôn tại 3 xã 59

Bảng 4.8 Nhận thức của người dân trước khi xây dựng đường GTNT 61

Bảng 4.9 Sự tham gia của người dân vào các các hoạt động trước khi xây dựng hệ thống GTNT 63

Bảng 4.9 Đánh giá của người dân về quy hoạch xây dựng 65

Bảng 4.10 Ứng xử của người dân trước khi xây dựng hệ thống GTNT 66

Bảng 4.11 Mức độ đóng góp của người dân khi xây dựng hệ thống GTNT 70

Bảng 4.12 Đánh giá của người dân về mức độ đóng góp 72

Bảng 4.13 Ứng xử của người dân khi xây dựng hệ thống GTNT 74

Bảng 4.14 Quan điểm về vai trò quản lý hệ thống giao thông nông thôn 76

Bảng 4.15 Biện pháp quản lý hệ thống GTNT sau khi đưa vào sử dụng 79

Bảng 4.16 Ứng xử của người dân trong bảo trì, sửa chữa hệ thống GTNT 80

Bảng 4.17 Mức độ đóng góp kinh phí phân theo nhóm hộ 83

Bảng 4.18 Hiểu biết của người dân về quy hoạch xây dựng hệ thống GTNT 86

Bảng 4.19 Đánh giá của người dân về năng lực tuyên truyền của cán bộ 87

Bảng 4.20 Nhu cầu đào tạo của cán bộ 88

Bảng 4.21 Đánh giá của cán bộ về sự kết hợp giữa chính quyền với các đoàn thể, tổ chức 89

Trang 8

DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ

Hình 3.1 Vị trí địa lý huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội 54

Biểu đồ 4.1 Nguồn thông tin về quy hoạch xây dựng hệ thống GTNT 62

Biểu đồ 4.2 Đánh giá về mức độ cần thiết của xây dựng hệ thống GTNT 67

Biểu đồ 4.3 Sự tham gia của người dân vào dây dựng những quy định cộng đồng về xây dựng và quản lý đường GTNT 68

Biểu đồ 4.4 Nhận thức của người dân chuẩn bị thực hiện xây dựng 69

Biểu đồ 4.5 Quan điểm về trách nhiệm quả lý hệ thống GTNT 77

Biểu đồ 4.6 Số người dân tahm gia giám sát xây dựng đường GTNT 81

Biểu đồ 4.7 Đánh giá về tính hợp lý và pháp chế của chủ trương xây dựng hệ thống GTNT 82

Biểu đồ 4.8 Đánh giá về mức đầu tư cho sửa chữa hệ thống GNTN 84

Trang 9

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Đỗ Thị Hương

Tên luận văn: “Nhận thức và ứng xử của người dân trong xây dựng và quản lý hệ thống đường giao thông nông thôn ở huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội”

Cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Xây dựng và hoàn thiện hệ thống đường giao thông nông thôn là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước nhằm mục tiêu phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn, tạo điều kiện thuận lợi cho giao thông và phát triển sản xuất, phát triển kinh tế, rút ngắn khoảng cách phát triển giữa thành thị và nông thôn Tuy nhiên, nguồn vốn cho xây dựng là rất lớn và cần có sự tham gia đóng góp của người dân để nhằm vừa giảm gánh nặng cho ngân sách vừa nâng cao ý thức của người dân trong sử dụng và bảo vệ công trình giao thông trên địa bàn sinh sống Nâng cao nhận thức để từ đó thay đổi ứng xử của người dân trong tham gia đóng góp kinh phí, công lao động và tham gia giám sát, bảo vệ công trình giao thông trong quá trình xây dựng và sử dụng là rất cần thiết bởi vì hơn 75% số công trình giao thông phục vụ cho người dân nông thôn và thực hiện thành công chính sách xây dựng đường giao thông nông thôn trên nguyên tắc “nhà nước và nhân dân cùng làm”

Nội dung cơ bản của đề tài là nghiên cứu nhận thức và ứng xử của người dân trong xây dựng và quản lý hệ thống đường giao thông nông thôn tập trung chủ yếu vào

6 nội dung chính bao gồm: nhận thức và ứng xử trong tham gia quy hoạch, thiết kế đường giao thông nôn thôn; tham gia xây dựng các quy định của cộng đồng; đóng góp xây dựng; sử dụng và bảo vệ; duy tu và bảo dưỡng; kiểm tra, giám sát Nghiên cứu nhận thức và ứng xử của người dân trong xây dựng và quản lý hệ thống đường giao thông nông thôn ở Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan và ở một số tỉnh như Hòa Bình, Phú Thọ của Việt Nam từ đó đưa ra kinh nghiệm cho huyện Phúc Thọ nhằm nâng cao nhận thức

và ứng xử của người dân trong xây dựng và quản lý hệ thống giao thông nông thôn Thông qua phương pháp thống kê mô tả, thống kê so sánh và phân tổ thống kê đã đánh giá được hiện trạng xây dựng hệ thống giao thông nông thôn cũng như nhu cầu xây dựng đường giao thông ở các địa phương trong huyện Đề tài tập trung vào nghiên cứu và đánh giá các chỉ tiêu về đánh giá nhận thức, ứng xử và sự tham gia của người dân trong xây dựng và quản lý hệ thống đường giao thông nông thôn như: số thành viên tham gia các hoạt động xây dựng, quản lý; mức độ đóng góp kinh phí và công lao động; kết quả huy động; kết quả xây dựng; tỷ lệ người dân tự nguyện tham gia

Thực trạng cho thấy, trên địa bàn huyện Phúc Thọ hiện nay đa số các địa phương đã hoàn thành cơ bản xây dựng hệ thống đường giao thông nông thôn với 81,02

Trang 10

km đường liên xã, 447,82km đường giao thông liên thôn, 279,52km đường giao thông ngõ xóm và 632,06km đường giao thông nội đồng Tỷ lệ người dân nắm được chủ trương xây dựng chiếm tới 87,78%; người dân tham gia vào nhiều hoạt động trước khi triển khai xây dựng như tham gia ý kiến vào thiết kế công trình cũng như huy động sự đóng góp Đa số người dân tham gia vào các buổi họp dân và tìm hiểu quy hoạch xây dựng để điều chỉnh quy hoạch sao cho phù hợp để tạo sự đồng thuận trong cộng đồng Người dân trong huyện đã chủ động tham gia các hoạt động cả trước, trong và sau khi xây dựng đường giao thông nông thôn; tham gia đóng góp tài chính và công lao động theo định mức để xây dựng và quản lý, sửa chữa hệ thống đường giao thông trong quá trình sử dụng Đa số người dân đồng tình ủng hộ quá trình xây dựng và nhận thấy trách nhiệm của mình trong đóng góp xây dựng và quản lý đường giao thông trên địa bàn

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới nhận thức và ứng xử của người dân trong xây dựng và quản lý hệ thống đường giao thông như: hệ thống văn bản chính sách của Đảng

và Nhà nước; trình độ phát triển kinh tế xã hội của địa phương; trình độ văn hóa của người dân; công tác tuyên truyền, năng lực của cán bộ địa phương và sự phối kết hợp trong hoạt động tuyên truyền, giáo dục Qua phân tích các yếu tố ảnh hưởng; đánh giá thực trạng cũng như những mặt đã đạt được và còn hạn chế trong huy động sự tham gia của người dân trong xây dựng và quản lý hệ thống đường giao thông trên địa bàn huyện

đã đề xuất một số nhóm giải pháp bao gồm: hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật; tăng cường và đổi mới hoạt động tuyên truyền; nâng cao năng lực cán bộ; tăng cường

sự phối hợp trong hoạt động và tăng cường các nguồn lực đầu tư Thực hiện đồng bộ các giải pháp sẽ góp phần nâng cao nhận thức và thay đổi nhận thức của người dân trong tham gia xây dựng và quản lý hệ thống giao thông trên địa bàn huyện ở những địa phương đang và sẽ triển khai xây dựng trong thời gian tới

Trang 11

THESIS ABSTRACT

Author: Do Thi Huong

Thesis name: The perception and behavior of people in construction and management

of rural road system in Phuc Tho district, Hanoi city

Training Facility Name: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)

The construction and improvement of rural roads is a major policy of the Vietnam Communist Party and the government which aims to develop rural infrastructures, create favorable conditions for the development of transport and production, develop economy and shorten the gap between urban and rural areas However, the construction requires enormous fund to maintain infrastructure development Therefore, the participation of local people is crucial factor which not only reduces the burden on the budget but also raises people’s awareness in the use and protection of rural roads The contribution and participation of people are as more than 75% of system of rural roads aims to serve local residents The successful implementation of the policy related to rural contruction bases on the principle of "the combination between government and people."

The basic content of the thesis is to study the perception and behavior of people

in the construction and management system of rural roads The research focused on 6 main contents including: the perception and behavior of participation in planning; the participation in the regulations of communities; the contribution, protection, maintenance and monitoring in the construction Some studies related to raising people’ awareness and behavior in the construction and management system of rural roads in South Korea, China, Thailand, and in some provinces such as Hoa Binh, Phu Tho of Vietnam give Phuc Tho experiences to raise awareness and behavior of local in the construction and management of rural transport systems The research used statistic description and comparison to evaluate the current construction of rural road system as well as the construction demand of the local in the district In addition, the study evaluated criteria for assessing behavior and participation of the local in the construction and management rural road system such as the number of participants; the contribution of funds and labor; the construction results

The research results showed that most of local authorities have completed the basic construction of rural roads with 81.02 kilometers of communal roads, 447,82km kilometers of roads between towns, 279.52 kilometers of roads between hamlets and

Trang 12

632.06 kilometers of inland roads in Phuc Tho district The proportion of people understanding the construction policy accounted for 87.78%; local participated in many activities in relation to rural road system Almost all of people participated in meetings and gave their opinions in the construction planning Local people has actively participated in the activities during the period of the construction of rural roads Particularly, most of people knew their responsibility in contributing to construct and manage roads in the province

There are many factors that affect the perception and behavior of people in the construction and management of road systems such as policy documents of the Vietnam Communist Party and the government; the level of social and economic development of Phuc Tho district; the cultural level of the people; the capacity of local staffs and the coordination of communication and education activities Through analysis of the influencing factors, the research evaluated pros and cons of increasing participation of people in the construction and management of rural road system in the district Furthermore, the research proposed a variety of solutions, namely: improving the system of policies and laws; enhancing and renewing communication activities; improving staff capacity; strengthening the coordination of activities and boosting investment resources Finally, the research pointed out that the implementation of all solutions will contribute to change perceptions of people participating in the construction and management of rural road system in the district

Trang 13

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Việt Nam, trong tổng số 89,7 triệu người dân thì có 60,7 triệu người sống ở khu vực nông thôn (chiếm 67,6% tổng dân số) và 24,5 triệu lao động (chiếm 47,4%) xã hội đang làm việc và sinh sống nhờ vào các hoạt động sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp (Tổng cục Thống kê, 2015) Hệ thống giao thông nông thôn phục vụ cho hơn 75% dân số cả nước, góp phần phát triển kinh tế nông thôn, xây dựng nông thôn mới là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Để thực hiện được điều này, nông thôn cần phát triển toàn diện, trong đó hệ thống giao thông nông thôn là một trong những yếu tố quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao dân trí, phục vụ dân sinh, khai thác thế mạnh, tiềm năng của địa phương và có ý nghĩ hết sức quan trọng, tạo động lực đẩy nhanh tiến độ hoàn thành các tiêu chí xây dựng nông thôn mới

Hệ thống giao thông nông thôn không chỉ là những tuyến đường huyện để nối các trung tâm huyện với xã hoặc nối các trung tâm xã với nhau; hoặc những tuyến đường xã để nối các trung tâm xã với các thôn, xóm; mà còn là những tuyến đường liên thôn, liên xóm dùng để nối các thôn, các xóm với nhau, kể cả các đường mương, bờ thửa … Để nối các thôn, xóm dân cư với đồng ruộng, nương rẫy phục vụ đời sống dân sinh tại các vùng nông thôn Hệ thống đường huyện và đường xã hiện nay đã xây dựng được 176.863 km, chiếm 60,57% so với tổng chiều dài mạng lưới đường bộ; trong đó đường huyện là 45.999 km, chiếm 15,57%; đường xã là 130.8644 km, chiếm 44,81% Ngoài ra còn một mạng lưới đường thủy với hệ thống sông, kênh rạch dày đặc vào loại tốt nhất trong khu vực Giá trị của hệ thống giao thông nông thôn không được khai thác, quản lý, bảo trì tốt sẽ là lãng phí rất lớn và ảnh hưởng đến hưởng lợi của số đông người dân ở nông thôn

Để phát triển kinh tế nông thôn thì việc xây dựng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng nông thôn và việc làm cấp thiết và quan trọng, trước hết là xây dựng, mở rộng và phát triển hệ thống đường giao thông nông thôn Hệ thống đường giao thông nông thôn góp phần mở rộng giao lưu giữa nông thôn và thành thị, giữa vùng sản xuất và nơi tiêu thụ, giữa những vùng sản xuất với nhau Kinh nghiệm phát triển của nhiều nước cho thấy, muốn phát triển kinh tế xã hội khu vực nông thôn trước hết phải đầu tư phát triển mạng lưới giao thông nông thôn Chính vì vậy, trong những

Trang 14

năm gần đây, khu vực nông thôn luôn nhận được rất nhiều sự quan tâm của Đảng

và Chính phủ, với mục tiêu cải thiện và nâng cao mức sống cho người dân nông thôn, đặc biệt là người dân ở các vùng sâu xa, miền núi và hải đảo; với phương châm là “Nhà nước và nhân dân cùng làm”

Huyện Phúc Thọ là một huyện ngoại thành nằm phía Tây Bắc thủ đô Hà Nội, nằm gần trung tâm công nghiệp lớn phía Tây Hà Nội, là cửa ngõ thủ đô giao thương với thành phố lớn nhất miền Bắc nhưng đang trong quá trình phát triển nên hệ thống đường giao thông nông thôn đang dân được hoàn thiện nhằm tận dụng lợi thế của vùng để thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương Thành phố và huyện đã giành nhiều nguồn vốn cho đầu tư xây dựng hệ thống giao thông trên địa bàn huyện nhưng do địa bàn bàn rộng nên quá trình xây dựng triển khai theo từng giai đoạn và cần có sự tham gia của người dân Tuy nhiên thực tế cho thấy nhận thức và ứng xử của người dân trong xây dựng và quản lý hệ thống giao thông nông thôn ở các địa phương mặc dù đã có nhiều tiến triển tích cực nhưng ở một số nơi vẫn còn tâm lý ỷ lại trông trờ, ý thức xây dựng và quản lý hệ thống giao thông nông thôn của người dân chưa tốt dẫn tới tình trạng công trình giao thông xuống cấp ảnh hưởng đến hoạt động giao thông và hoạt động sản xuất, phát triển kinh tế cũng như gây lãng phí nguồn lực đầu tư xây dựng

Đã có một số nghiên cứu về sự tham gia đóng góp của người dân trong xây dựng hệ thống giao thông nông thôn, các nghiên cứu về vai trò của người dân trong xây dựng và quản lý hệ thống giao thông nông thôn ở huyện Phúc Thọ và một số địa phương nhưng chưa có nghiên cứu nào về nhận thức và ứng xử của người dân trong xây dựng và quản lý hệ thống giao thông nông thôn trên địa bàn huyện Phúc Thọ Nhằm đánh giá nhận thức và ứng xử của người dân trong xây dựng và quản lý hệ thống giao thông nông thôn, nghiên cứu và phân tích các yếu

tố ảnh hưởng từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao nhận thức của người dân trong xây dựng và quản lý hệ thống giao thông nông thôn ở huyện Phúc Thọ chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nhận thức và ứng xử của người dân trong xây dựng và quản lý hệ thống ðýờng giao thông nông thôn ở huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội”

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.1 Mục tiêu chung

Đánh giá nhận thức và ứng xử của người dân trong xây dựng và quản lý hệ thống đường giao thông nông thôn; trên cơ sở đó đề xuất những định hướng và giải pháp phát triển hệ thống đường giao thông nông thôn huyện Phúc Thọ trong thời gian tới

Trang 15

Đề xuất định hướng và một số giải pháp nâng cao khả năng nhận thức và ứng xử của người dân trong xây dựng và quản lý hệ thống giao thông nông thôn huyện Phúc Thọ trong thời gian tới

1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

Nhận thức và ứng xử của người dân trong xây dựng và quản lý hệ thống đường giao thông nông thôn dựa trên những cơ sở lý luận và thực tiễn nào?

Ứng xử của người dân trong xây dựng và quản lý hệ thống giao thông nông thôn huyện Phúc Thọ như thế nào?

Yếu tố nào ảnh hưởng tới nhận thức và ứng xử của người dân trong xây dựng và quản lý hệ thống đường giao thông nông thôn huyện Phúc Thọ?

Giải pháp nào nâng cao nhận thức và ứng xử của người dân trong xây dựng và quản lý hệ thống giao thông nông thôn huyện Phúc Thọ trong những năm tiếp theo?

1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận và thực tiễn về nhận thức và ứng xử của người dân; phân tích các yếu tố ảnh hưởng từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao nhận thức và ứng xử của người dân trong xây dựng và quản lý hệ thống đường giao thông nông thôn Đối tượng điều tra là các hộ dân, các cán bộ thôn, cán bộ xã tại địa bàn nghiên cứu

Trang 16

hoạt động xây dựng và quản lý hệ thống giao thông nông thôn, phân tích các yếu

tố ảnh hưởng đến nhận thức và ứng xử của người dân từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao nhận thức và thay đổi các ứng xử của người dân theo hướng tích cực trong hoạt động xây dựng và quản lý hệ thống giao thông ở huyện Phúc Thọ

Đề tài đi sâu vào nghiên cứu nhận thức và ứng xử của người dân cả trước, trong

và sau khi xây dựng hệ thống giao thông nông thôn, tập trung đánh giá nhận thức

và sự tham gia của người dân vào các hoạt động theo từng giai đoạn của quá trình xây dựng và sử dụng hệ thống đường giao thông nông thôn Nội dung nghiên cứu tập trung vào nhận thức và ứng xử của người dân trong: Thực hiện quy hoạch, thiết kế xây dựng; xây dựng các quy định của cộng đồng; tham gia đóng góp vào xây dựng; hoạt động giám sát thực hiện; tham gia duy tu, sửa chữa

hệ thống giao thông nông thôn

- Phạm vi về thời gian: Nghiên cứu và đánh giá thực trạng giai đoạn 2013 –

2015, đề xuất định hướng tới 2025 Số liệu sơ cấp được thu thập trong năm 2016, thời gian thực hiện đề tài từ 8/2015 – 8/2016

- Phạm vi về không gian: Đề tài tiến hành nghiên cứu trên địa bàn huyện Phúc Thọ thành phố Hà Nội, trong đó nghiên cứu chọn ra 3 xã Liên Hiệp, Hiệp Thuận và Ngọc Tảo để khảo sát nhận thức và ứng xử của người dân trong xây dựng và quản lý hệ thống giao thông nông thôn

1.5 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Đề tài “Nhận thức và ứng xử của người dân trong xây dựng và quản lý hệ thống đường giao thông nông thôn ở huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội” có một

số đóng góp và ý nghĩa như sau:

1 Đề tài đã vận dụng lý luận và kinh nghiệm trong nghiên cứu đánh giá hành vi, sự tham gia của người dân trong xây dựng quản lý hệ thống đường giao thông nông thôn ở một số quốc gia trên thế giới, ở một số địa phương trong những năm qua và áp dụng thực tế phù hợp với tình hình và điều kiện của huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội

2 Nhận thức và ứng xử của người dân trong quản lý và xây dựng hệ thống giao thông nông thôn ở huyện Phúc Thọ được nghiên cứu và đánh giá trong tình hình mới Quá trình khảo sát, đánh giá cũng như tiến hành điều tra tại các địa phương có điều kiện khác nhau và sự hỗ trợ của nhà nước khác nhau để từ đó có cái nhìn tổng quan nhất cũng như đánh giá sát với thực trạng tại địa phương

Trang 17

3 Luận văn đã chỉ ra những thuận lợi, khó khăn cũng như xác định và phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới nhận thức, ứng xử của người dân trong tham gia đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn nói chung và xây dựng hệ thống đường giao thông ở huyện Phúc Thọ nói riêng Kết quả của đề tài đánh giá trung thực trạng nhận thức và ứng xử của người dân các địa phương của huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội trong tham gia xây dựng và quản lý hệ thống đường giao thông nông thôn

4 Các giải pháp của đề tài được đề xuất trên cơ sở phân tích và đánh giá thực trạng cũng như phân tích, đánh giá các yếu tố ảnh hưởng tới nhận thức và ứng xử của người dân trong tham gia xây dựng và quản lý hệ thống giao thông nông thôn Kết quả nghiên cứu và các giải pháp của đề tài có thể áp dụng nhằm nâng cao nhận thức của người dân trong tham gia xây dựng và quản lý hệ thống đường giao thông tại các địa phương ngoại thành Hà Nội chuẩn bị hoặc sẽ triển khai xây dựng hệ thống đường giao thông trong những năm tiếp theo

Trang 18

PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHẬN THỨC VÀ ỨNG XỬ CỦA NGƯỜI DÂN TRONG XÂY DỰNG VÀ QUẢN LÍ HỆ THỐNG ĐƯỜNG GIAO THÔNG NÔNG THÔN

2.1.1 Các khái niệm cơ bản

2.1.1.1 Nhận thức

Có nhiều quan điểm khác nhau về nhận thức dựa trên mục đích nghiên cứu và các đối tượng nghiên cứu của từng môn khoa học hay từng cách tiếp cận Đối với cách tiếp cận của chủ nghĩa duy tâm thì nhận thức là tập hợp các cảm giác, ý muốn của con người và nhận thức không phản ánh thế giới hiện thực khách quan Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng nhân thức là quá trình phản ánh tái tạo lại hiện thực trong tư duy con người trên cơ sở của thực tiễn - xã hội

Trong từ điển triết học, nhận thức là quá trình tái tạo hiện thực trong tư duy của con người được quyết định bởi các quy luật phát triển của xã hội, phản ánh mục đích của thực tiễn, gắn liền thực tiễn khách quan

Nhận thức còn được hiểu là toàn bộ những quy trình mà nhờ vào đó cảm xúc được chuyển hóa, mã hóa, lưu giữ và sử dụng Thông qua quá trình đó mà cảm xúc của con người không bị mất đi mà được chuyển hóa vào đầu óc con người, được con người lưu giữ và mã hóa, sử dụng lại trong quá trình hoạt động sản xuất và tư duy (Trịnh Trúc Lâm và Nguyễn Văn Hộ, 2008)

Quan điểm khác lại cho rằng: Nhận thức là quá trình hay kết quả phản ánh

và tái tạo hiện thực vào trong tư duy của con người, nhận thức được hiểu là một quá trình, là kết quả phản ánh Nhận thức là quá trình con người nhận biết về thế giới, là kết quả của quá trình nhận thức (Nguyễn Văn Hùng, 2012)

Quan điểm của tâm lý học cho rằng: Nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan trong ý thức của con người, quá trình nhận thức bao gồm nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính, giữa các quá trình có mối quan hệ biện chứng với nhau; cơ sở, mục đích và tiêu chuẩn của nhận thức là thực tiễn xã hội

Từ những quan điểm trên về nhận thức, tác giả cho rằng: Nhận thức là quá trình phản ánh, tái tạo, lưu giữ hiện thực khách quan vào trong đầu óc của con người thông qua hai quá trình nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính

Trang 19

2.1.1.2 Ứng xử

Trên thế giới hiện nay có nhiều cách định nghĩa khác nhau về ửng xử và chưa có sự thống nhất chung nhất Theo từ điển tiếng anh thì ứng xử là từ ghép của ứng xử và giao tiếp, theo đó thì ứng xử là phản ứng của con người trước những tác động của thế giới khách quan Khái niệm ứng xử bao hàm cả bản chất

tự nhiên và xã hội của con người trước những tác động bên ngoài

Theo từ điển tiếng Việt ứng xử của các cá nhân là thái độ, hành động của các cá nhân trước một sự việt cụ thể Thông thường thái độ và hành động đúng đắn của cá nhân sẽ giúp cho việc giải quyết công việc một cách hợp lý, mang lại lợi ích cho cá nhân đó

Theo tác giả Lê Thị Bừng (1997) thì: Ứng xử còn được hiểu là sự phản ứng của con người đối với sự tác động của người khác đến mình trong một tình huống cụ thể nhất định Theo cách hiểu này, khái niệm về ứng xử là sự phản ứng thụ động của con người trước những tác động Trong phản ứng bao gồm nhiều hoạt động như tính toán, lựa chọn, hành vi, cử chỉ, lời nói, thể hiện thái độ; quá trình phản ứng của từng cá nhân cụ thể là không giống nhau và còn phụ thuộc vào từng thời điểm

Tác giả Nguyễn Khắc Viện (1991) cho rằng ứng xử là chỉ mọi phản ứng của động vật khi có kích thích một yếu tố nào đó trong môi trường; các yếu tố bên ngoài và tình trạng bên trong gộp lại thành một tình huống và tiến trình ứng

xử để kích thích có định hướng nhằm giúp chủ thể thích nghi với hoàn cảnh

Tác giả Trần Thúy Anh cho rằng: Ứng xử là triết lý sống của một cộng đồng người, là quan niệm sống, quan niệm lý giải cuộc sống; ứng xử cũng trở thành lối sống, nếp sống, lối hành động của cộng đồng người đó Chính vì vậy, ứng xử quy định các mối quan hệ giữa con người với con người, đó là tính nhân văn của các quan hệ Ứng xử mang đặc điểm cá nhân khá rõ rệt, được phản ánh thông qua các mối quan hệ nhất định, ứng xử thể hiện ra cử chỉ và hành vi, mang tính chất tình huống

Ứng xử là những phản ứng hành vi của con người nảy sinh trong quá tình giao tiếp do những rung cảm cá nhân kích thích nằm truyền đạt, lĩnh hội những tri thức, kinh nghiệm và vốn sống của cá nhân, xã hội trong những tình huống nhất định

Trang 20

Khái quát lại, theo tác giả thì: Ứng xử là những cử chỉ, hành vi của con người trước những tác động, kích thích từ môi trường bên ngoài trong những tình huống và thời gian cụ thể Ứng xử thể hiện nhận thức của con người về các tác động, nó thể hiện những tích lũy về kinh nghiệm và vốn sống của con người 2.1.1.3 Xây dựng và quản lý hệ thống giao thông nông thôn

Nông thôn

Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là UBND xã (1)

Một quan điểm khác lại cho rằng, nông thôn là khu vực địa lý, nơi đó sinh

kế cộng đồng gắn bó, có quan hệ trực tiếp đến khai thác, sử dụng, bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên cho hoạt động sản xuất nông nghiệp Hay vùng nông thôn là vùng có dân cư làm nông nghiệp là chủ yếu, tức là nguồn sinh kế chính của dân cư nông thôn trong vùng là từ hoạt động sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên những ý kiến này chỉ đúng trong từng khía cạnh cụ thể, phụ thuộc vào trình độ phát triển, cơ cấu áp dụng cho từng nền kinh tế nên nó chỉ có tính chất tương đối, có thể thay đổi theo thời gian và theo tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia

Trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam chúng ta có thể hiểu:

“Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp dân cư, trong đó có nhiều nông dân Tập hợp cư dân này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác” (Mai Thanh Cúc & Quyền Đình Hà, 2005)

- Khái niệm về giao thông nông thôn

ADam Smith cho rằng “Giao thông là một yếu tố quan trọng, nó dẫn tới các thị trường, nối liền các khu nguyên vật liệu thô, các khu vực có tiềm năng phát triển và kích thích khả năng sản xuất” Rostow mở rộng lý luận này và nâng cao vai trò của sự cần thiết phải đầu tư cho cơ sở hạ tầng giao thông ở nông thôn

“Điều kiện tiên quyết cho giai đoạn cất cánh của khu vực nông thôn” Giao thông nông thôn là một phần gắn bó không thể tách rời trong hệ thống giao thông vận tải chung, là nhân tố tác động đến mọi ngành sản xuất và là yếu tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển của moị vùng nông thôn cũng như toàn xă hội

- Khái niệm về đường giao thông nông thôn

Trang 21

Giao thông nông thôn được định nghĩa là sự di chuyển người và hàng hóa

ở cấp huyện và cấp xã Giao thông liên thôn có thể chia thành 3 loại nhỏ như sau:

cơ sở hạ tầng (đường sá, cầu, đường thủy và cảng), phương tiện vận chuyển và con người (Chính Phủ, 1999)

Đường giao thông nông thôn là đường thuộc khu vực nông thôn Được định nghĩa là loại đường giá tương đối thấp, lưu lượng xe ít, các đường nhánh, các đường phục vụ chủ yếu cho khu vực nông nghiệp nối với hệ thống đường chính, các trung tâm phát triển chủ yếu hoặc các trung tâm hành chính và nối tới các làng mạc các cụm dân cư dọc tuyến, các chợ, mạng lưới giao thông huyết mạch hoặc các tuyến cấp cao hơn (Chính Phủ, 1999)

Đường giao thông nông thôn bao gồm các tuyến đường thuộc tỉnh, huyện,

xã nối liền tới các thị trường, các khu vực kinh tế phi nông nghiệp và các dịch vụ

xã hội khác Đường giao thông nông thôn chủ yếu là đường bộ, cầu cống, bến cảng phục vụ cho nông nghiệp, nông thôn Có thể nói đường giao thông nói chung, đường giao thông nông thôn nói riêng là huyết mạch sống còn của lưu thông hàng hoá

Đường giao thông nông thôn được phân loại như sau:

+ Đường liên xã: là đường nối trung tâm hành chính xã với quốc lộ, tỉnh

lộ, hoặc đường liên xã khác (gọi chung là đường đến trung tâm xã)

+ Đường liên thôn: là đường trục chính nối các thôn, các điểm dân cư phục vụ cho nhân dân ở thôn, các thôn lân cận đi lại thường xuyên

+ Đường liên xóm: (đường nhánh rẽ) là đường nối giữa các hộ gia đình (đường chung của liên gia) trong cùng điểm dân cư nối với mạng lưới giao thông chung (đường thôn, đường xã, đường huyện, tỉnh lộ, quốc lộ)

+ Đường trục chính nội đồng: là đường chính nối từ đồng ruộng đến khu dân cư Đối với các xã có quốc lộ, tỉnh lộ, đường huyện, đường xã, đường thôn (gọi chung là hệ thống giao thông) đáp ứng được yêu cầu đi lại của xe cơ giới phục vụ sản xuất nông nghiệp thì trong qu hoạch phải tính đến việc xây dựng đường trục chính nội đồng phục vụ việc đi lại của xe cơ giới

- Khái niệm về xây dựng

Xây dựng là một quy trình thiết kế và thi công nên các cơ sở hạ tầng hoặc công trình, nhà ở

Trang 22

Công trình xây dựng là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bi lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đát, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế Công trình xây dựng bao gồm công trình xây dựng công cộng, nhà ở, công trình công nghiệp, giao thông, thủy lợi, năng lượng và các công trình khác

- Khái niệm về quản lý kinh tế trong xây dựng

Quản lý kinh tế trong xây dựng là sự tác động một cách liên tục, có tổ chức, có hướng đích đến nền kinh tế trong xây dựng bằng một hệ thống đồng bộ các biện pháp: kinh tế - xã hội, tổ chức – kỹ thuật và các biện pháp khác nhằm đạt được hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất của quá trình kinh tế trong những điều kiện xác định cụ thể và trên cơ sở vận dụng sáng tạo những quy luật kinh tế khách quan nói chung và các đặc điểm vận động của chúng nói riêng trong lĩnh vực kinh tế xây dựng (Dương Văn Cận, 2006)

- Khái niệm về quản lý đường giao thông nông thôn

Quản lý đường giao thông nông thôn là việc thực thi các chính sách do hội đồng quyết định và phối hợp các hoạt động hàng ngày để đạt được mục đích và mục tiêu của cơ quan hay tổ chức Nâng cao điều kiện sống cho người dân nông thôn thông qua cải tạo các đường giao thông liên thôn; tăng khả năng tiếp cận cho các vùng nông thôn với các dịch vụ, thương mại; góp phần vào chương trình xóa đói giảm nghèo của Chính phủ Tăng cường năng lực quản lý của các cơ quan trung ương và địa phương Giảm tác động xấu do điều kiện hệ thống đường giao thông liên thôn kém gây ra đối với sức khỏe của dân cư nông thôn và giảm thiểu tình trạng ô nhiễm môi trường nông thôn (Dương Chí Thanh, 2011)

Từ những khái niệm trên, theo tác giả: Nhận thức và ứng xử của người dân trong xây dựng và quản lý hệ thống đường giao thông nông thôn là quá trình tiếp nhận các thông tin của người dân về xây dựng và quản lý đường giao thông nông thôn Đồng thời thể hiện sự phản ứng và hành động của người dân trong các hoạt động xây dựng, quản lý và sử dụng đường giao thông nông thôn trên địa bàn mình sinh sống

2.1.1.4 Tiêu chuẩn kĩ thuật đường giao thông nông thôn

Hệ thống đường GTNT nói chung bao gồm 4 cấp kx thuật: cấp A, cấp B, cấp C, cấp D theo TCVN 10380:2014 Lựa chọn cấp hạng kỹ thuật tuyến đường tùy thuộc vào chức năng của đường và lưu lượng xe thiết kế

Trang 23

Bảng 2.1 Phân cấp kỹ thuật đường GTNT theo chức năng của đường

và lưu lượng xe thiết kế

Chức năng của đường

Cấp kỹ thuật theo TCVN 4054:2005

Cấp kỹ thuật của đường theoTCVN 10380:2014

Lưu lượng

xe thiết kế (Nn), xqđ/nđ Đường huyện: có vị trí quan trọng đối với sự

phát triển KT - XH của huyện, là cầu nối

chuyển tiếp hàng hóa, hành khách từ hệ thống

đường quốc gia (quốc lộ, tỉnh lộ) đến trung

tâm hành chính của huyện, của xã và các khu

chế xuất của huyện; phục vụ sự đi lại và lưu

thông hàng hóa trong phạm vi của huyện

Cấp IV, V,

Đường xã: có vị trí quan trọng đối với sự

phát triển kinh tế - xã hội của xã, kết nối và

lưu thông hàng hóa từ huyện tới các thôn,

làng, ấp, bản và các cơ sở sản xuất kinh

doanh của xã Đường xã chủ yếu phục vụ sự

đi lại của người dân và lưu thông hàng hóa

trong phạm vi của xã

Đường thôn: chủ yếu phục vụ sự đi lại của

người dân và lưu thông hàng hóa trong phạm

vi của thôn, làng, ấp, bản; kết nối và lưu

thông hàng hóa tới các trang trại, ruộng

đồng, nương rẫy, cơ sở sản xuất, chăn nuôi

Đường dân sinh: chủ yếu phục vụ sự đi lại

của người dân giữa các cụm dân cư, các hộ

gia đình và từ nhà đến nương rẫy, ruộng

đồng, cơ sở sản xuất, chăn nuôi nhỏ lẻ

Phương tiện giao thông trên các tuyến đường

dân sinh chủ yếu là xe đạp, xe mô tô hai

bánh, xe kéo tay, ngựa thồ

Không có

xe ô tô chạy qua

Đường nối với các khu vực sản xuất: chủ

yếu phục vụ sự đi lại của người dân và lưu

thông nguyên vật liệu, hàng hóa đến các cơ

sở sản xuất, chăn nuôi, gia công, chế biến

Nông Lâm Thủy Hải sản; vùng trồng cây

công nghiệp; cánh đồng mẫu lớn; đồng

muối; làng nghề; trang trại và các cơ sở

tương đương

Cấp IV, V,

Xe có tải trọng trục

> 6000

kg ÷10000

kg chiếm trên 10% Nguồn: Bộ Giao thông vận tải (2014)

Trang 24

 Đường cấp A

- Tốc độ tính toán: 30 (20) km/h;

- Chiều rộng mặt đường tối thiểu: 3,5 m;

- Chiều rộng lề đường tối thiểu: 1,50 (1,25) m;

- Chiều rộng nền đường tối thiểu: 6,5 (6,0) m;

- Độ dốc siêu cao lớn nhất: 6%;

- Bán kính đường cong nằm tối thiểu: 60 (30) m;

- Bán kính đường cong nằm tối thiểu không siêu cao: 350 (200) m;

- Độ dốc dọc lớn nhất: 9 (11)%;

- Chiều dài lớn nhất của đoạn có dốc dọc lớn hơn 5%: 300 m;

- Tĩnh không thông xe: 4,5 m (Bộ Giao thông vận tải, 2014)

 Đường cấp B

- Tốc độ tính toán: 20 (15) km/h;

- Chiều rộng mặt đường tối thiểu: 3,5 (3,0) m;

- Chiều rộng lề đường tối thiểu: 0,75 (0,5) m;

- Chiều rộng của nền đường tối thiểu: 5,0 (4,0) m;

- Độ dốc siêu cao lớn nhất: 5%;

- Bán kính đường cong nằm tối thiểu: 30 (15) m;

- Độ dốc dọc lớn nhất: 5 (13)%;

- Chiều dài lớn nhất của đoạn có dốc dọc lớn hơn 5%: 300 m;

- Tĩnh không thông xe: 3,5 m (Bộ Giao thông vận tải, 2014)

 Đường cấp C

- Tốc độ tính toán: 15 (10) km/h;

- Chiều rộng mặt đường tối thiểu: 3,0 (2,0) m;

- Chiều rộng nền đường tối thiểu: 4,0 (3,0) m;

- Bán kính đường cong nằm tối thiểu: 15 m;

- Độ dốc dọc lớn nhất: 5 (15)%;

- Chiều dài lớn nhất của đoạn có dốc dọc lớn hơn 5%: 300 m;

- Tĩnh không thông xe không nhỏ hơn 3,0 m (Bộ Giao thông vận tải, 2014)

Trang 25

 Đường cấp D

- Bề rộng mặt đường tối thiểu: 1,5 m;

- Bề rộng nền đường tối thiểu: 2,0 m;

- Bán kính đường cong nằm tối thiểu: 5 m (Bộ Giao thông vận tải, 2014) Các giá trị trong ngoặc đơn áp dụng đối với địa hình miền núi, địa hình đồng bằng đặc biệt khó khăn hoặc bước đầu phân kỳ xây dựng

2.1.2 Đặc điểm xây dựng và quản lí hệ thống đường giao thông nông thôn

- Đặc điểm của hệ thống đường giao thông nông thôn

Theo số liệu thống kê tính đến ngày 1-7-2011 cả nước có 8.940 xã, chiếm 98,6% tổng số xã cả nước đã có đường ô tô đến trung tâm xã (tăng 2,35 so với năm 2006), trong đó đi lại được bốn mùa là 8.803 xã, chiếm 97,1% (tăng 3,55 so với năm 2006); xã có đường ô tô đến trung tâm đã được nhựa hóa, bê tong hóa là 7.917 xã, chiếm 87,3% (tăng 17,2% so với năm 2006) (Kiều Kim Dung, 2015)

Không chỉ đường đến trung tâm huyện, xã được chú trong mà đường đến các thôn, bản miền núi cũng được các cấp chính quyền hết sức quan tâm thích đáng để hiện có 89,5% số thôn, bản có đường ô tô đến được So với năm 2005, tổng số chiều dài km đường GTNT đã tăng them 34,811 km, trong đó số km đường huyện tăng them 1.563 km, đường xã tăng 17,414 km và đường thôn, xóm tăng 15,835 km (Kiều Kim Dung, 2015)

Chỉ riêng giai đoạn từ năm 2003 đến năm 2010, cả nước đầu tư 749 dự án đường giao thông đến trung tâm xã trên địa bàn các xã nông thôn, miền núi thuộc các vùng: Trung du và miền núi Bắc Bộ; đồng bằng sông Hồng; duyên hải miền Trung; Tây Nguyên; Ðông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long với tổng mức đầu tư các dự án đường ô-tô đến trung tâm xã cả giai đoạn được các địa phương phân

bổ vốn trái phiếu Chính phủ là 32.951 tỷ đồng, các địa phương cũng đã chủ động lồng ghép các nguồn vốn khác trên địa bàn để thực hiện (Kiều Kim Dung, 2015)

Tuy có sự phát triển mạnh mẽ những năm vừa qua, song cơ sở hạ tầng GTNT vẫn còn những hạn chế, yếu kém Hiện cả nước có hơn 295 046 km đường bộ, trong đó hệ thống GTNT (đường huyện, đường xã, đường thôn) chiếm tới 85% Nếu xét trên diện rộng, mật độ GTNT trên cả nước còn thấp (0,59 km/km2); trong đó mật độ đường huyện chỉ là 0,14 km/km2 với tỷ trọng 0,55km/1.000 dân; đường xã là 0,45 km/km2 và 1,72 km/1.000 dân Tại khu vực nông thôn đồng bằng sông Hồng, mật độ này có cao hơn (khoảng 1,16 km/km2)

Trang 26

song còn xa mới đạt được tỷ lệ hợp lý (trung bình ở các nước phát triển tỷ lệ chiều dài km đường nông thôn trên diện tích khoảng 8,86 km/km2)

Để phát triển nông nghiệp, nông thôn và hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn theo chủ trương của Ðảng, Nhà nước thì những vấn đề kiện toàn công tác quy hoạch, thu hút nguồn lực đầu tư, xây dựng phát triển GTNT; xây dựng hệ thống quản lý từ trung ương tới địa phương; thực hiện thường xuyên công tác bảo trì cần phải được đặc biệt chú trọng (Dương Chí Thanh, 2011)

Hệ thống đường giao thông nông thôn gắn liền với đời sống của người dân

và các hoạt động giao thông, các hoạt động sản xuất và phát triển kinh tế của người dân sống ở nông thôn Đường giao thông nông thôn vừa là nhân tố thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội nông thôn nhưng lại phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, xã hội của nông thôn Hệ thống giao thông nông thôn có các đặc điểm sau:

+ Mang tính hệ thống, đồng bộ

Hệ thống đường giao thông nông thôn là một hệ thống cấu trúc phức tạp phân bố trên toàn lãnh thổ, trong đó có những bộ phận có mức độ và phạm vi ảnh hưởng cao thấp khác nhau tới sự phát triển kinh tế - xã hội của toàn bộ nông thôn, của vùng và của làng, xã Tuy vậy, giữa các loại hình trong hệ thống có mối liên hệ gắn kết với nhau trong quá trình xây dựng, khai thác và sử dụng, quản lý

Do vậy, việc quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống giao thông nông thôn, phối hợp kết hợp giữa đường nội đồng, đường ngõ xóm, đường liên thôn, liên xã thành một hệ thống đồng bộ, sẽ giảm tối đa chi phí và tăng tối đa công dụng của hệ thống giao thông nông thôn cả trong xây dựng cũng như trong quá trình vận hành, sử dụng, quản lý

Tính chất đồng bộ, hợp lý trong việc phối, kết hợp các tuyến đường giao thông không chỉ có ý nghĩa về kinh tế, mà còn có ý nghĩa về xã hội và nhân văn Các công trình giao thông thường là các công trình lớn, chiếm chỗ trong không gian Tính hợp lý của các công trình này đem lại sự thay đổi lớn trong cảnh quan

và có tác động tích cực đến các sinh hoạt của dân cư trong địa bàn

+ Mang tính định hướng

Đặc trưng này xuất phát từ nhiều khía cạnh khác nhau của vị trí hệ thống giao thông nông thôn: Đầu tư cao, thời gian sử dụng lâu dài, mở đường cho các hoạt động kinh tế, xã hội phát triển Cơ sở hạ tầng giao thông của toàn bộ nông

Trang 27

thôn, của vùng hay của làng, xã cần được hình thành và phát triển trước một bước và phù hợp với các hoạt động kinh tế, xã hội Dựa trên các quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội để quyết định việc xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn Đến lượt mình, sự phát triển cơ sở hạ tầng giao thông về quy mô, chất lượng lại thể hiện định hướng phát triển kinh tế, xã hội và tạo tiền đề vật chất cho tiến trình phát triển kinh tế – xã hội

Thực hiện tốt chiến lược ưu tiên trong phát triển cơ sở hạ tầng giao thông của toàn bộ nông thôn, toàn vùng, từng địa phương trong mỗi giai đoạn phát triển

sẽ vừa quán triệt tốt đặc điểm về tính tiên phong định hướng, vừa giảm nhẹ nhu cầu huy động vốn đầu tư do chỉ tập trung vào những công trình ưu tiên

+ Tính địa phương, tính vùng và khu vực

Việc xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng giao thông ở nông thôn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như địa lý, địa hình, trình độ phát triển Do địa bàn nông thôn rộng, dân cư phân bố không đều và điều kiện sản xuất nông nghiệp vừa đa dạng, phức tạp lại vừa khác biệt lớn giữa các địa phương, các vùng sinh thái

Vì thế, hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn mang tính vùng và địa phương rõ nét Điều này thể hiện cả trong quá trình tạo lập, xây dựng cũng như trong tổ chức quản lý, sử dụng chúng Yêu cầu này đặt ra trong việc xác định phân bố hệ thống giao thông nông thôn, thiết kế, đầu tư và sử dụng nguyên vật liệu, vừa đặt trong hệ thống chung của quốc gia, vừa phải phù hợp với đặc điểm, điều kiện từng địa phương, từng vùng lãnh thổ

+ Tính xã hội và tính công cộng cao

Tính xã hội và công cộng cao của các công trình giao thông ở nông thôn thể hiện trong xây dựng và trong sử dụng Trong sử dụng, hầu hết các công trình đều được sử dụng nhằm phục vụ việc đi lại, buôn bán giao lưu của tất cả người dân, tất cả các cơ sở kinh tế, dịch vụ

Trong xây dựng, mỗi loại công trình khác nhau có những nguồn vốn khác nhau từ tất cả các thành phần, các chủ thể trong nền kinh tế quốc dân Để việc xây dựng, quản lý, sử dụng các hề thống đường nông thôn có kết quả cần lưu ý: Đảm bảo hài hoà giữa nghĩa vụ trong xây dựng và quyền lợi trong sử dụng đối với các tuyến đường cụ thể Nguyên tắc cơ bản là gắn quyền lợi và nghĩa vụ Thực hiện tốt việc phân cấp trong xây dựng và quản lý sử dụng công trình cho từng cấp chính quyền, từng đối tượng cụ thể để khuyến khích việc phát triển và

sử dụng có hiệu quả đường giao thông nông thôn

Trang 28

2.1.3 Vai trò của xây dựng và quản lý hệ thống đường giao thông nông thôn

- Đối với phát triển kinh tế

 Hệ thống giao thông nông thôn hoàn chỉnh tạo điều kiện cơ bản cho phát triển kinh tế và tăng lợi ích xã hội cho nhân dân trong khu vực có mạng lưới giao thông

+ Tác động kinh tế của cơ sở hạ tầng giao thông gắn với sự phát triển sản xuất nông nghiệp được thể hiện cụ thể bằng việc nâng cao sản lượng cây trồng,

mở rộng diện tích đất canh tác và nâng cao thu nhập của người nông dân Tác giả Adam- Smith đã viết về tác động kinh tế rất mạnh mẽ khi hệ thống giao thông nông thôn ở Uganda được xây dựng vào giai đoạn 1948-1959, đã làm cho mùa màng bội thu chưa từng có, cùng với sự thay đổi tập quán canh tác trên diện rộng, thu nhập của các hộ nông dân đã tăng lên từ 100 đến 200% so với trước Sự

mở mang các tuyến đường mới ở nông thôn, nông dân đã bắt đầu sử dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, phòng trừ sâu bệnh… đã tạo ra những vụ mùa bội thu (Nguyễn Hoàng Thành, 2013)

+ Nhờ đường xá đi lại thuận tiện người nông dân có điều kiện tiếp xúc và

mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, quay vòng vốn nhanh để tái sản xuất kịp thời vụ, nhờ vậy họ càng thêm hăng hái đẩy mạnh sản xuất

Mặt khác, khi có đường giao thông tốt các vùng sản xuất nông nghiệp lại từng phần thuận tiện, các lái buôn mang ô tô đến mua nông sản ngay tại cánh đồng hay trang trại lúc mùa vụ Điều này làm cho nông dân yên tâm về khâu tiêu thụ, cũng như nông sản đảm bảo được chất lượng từ nơi thu hoạch đến nơi chế biến Tóm lại “việc mở mang mạng lưới giao thông ở nông thôn là yếu tố quan trọng làm thay đổi các điều kiện sản xuất nông nghiệp, giảm bớt thiệt hại hư hao

về chất lượng và số lượng sản phẩm nông nghiệp, hạ chi phí vận chuyển và tăng thu nhập của nông dân” – GiTec (Nguyễn Hoàng Thành, 2013)

- Tác động mạnh và tích cực đến quá trình thay đổi cơ cấu sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội nông thôn Thông qua việc đảm bảo các điều kiện cơ bản, cần thiết cho sản xuất và thúc đẩy sản xuất phát triển, thì các nhân tố

và điều kiện cơ sở hạ tầng giao thông ở nông thôn cũng đồng thời tác động tới quá trình làm thay đổi cơ cấu sản xuất và cơ cấu kinh tế ở khu vực này

- Trước hết, việc mở rộng hệ thống giao thông không chỉ tạo điều kiện cho việc thâm canh mở rộng diện tích và tăng năng suất sản lượng cây trồng mà

Trang 29

còn dẫn tới quá trình đa dạng hoá nền nông nghiệp, với những thay đổi rất lớn về

cơ cấu sử dụng đất đai, mùa vụ, cơ cấu về các loại cây trồng cũng như cơ cấu lao động và sự phân bố các nguồn lực khác trong nông nghiệp, nông thôn Tại phần lớn các nước nông nghiệp lạc hậu hoặc trong giai đoạn đầu quá độ công nông nghiệp, những thay đổi này thường diễn ra theo xu hướng thâm canh cao các loại cây lương thực, mở rộng canh tác cây công nghiệp, thực phẩm và phát triển ngành chăn nuôi Trong điều kiện có sự tác động của thị trường nói chung, “các loại cây trồng và vật nuôi có giá trị cao hơn đã thay thế cho loại cây có giá trị thấp hơn” Đây cũng là thực tế diễn ra trên nhiều vùng nông thôn, nông nghiệp nước ta hiện nay

- Hai là, tác động mạnh mẽ đến các ngành, các lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác ngoài nông nghiệp ở nông thôn như: công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, vận tải, xây dựng… Đường xá và các công trình cộng cộng vươn tới đâu thì các lĩnh vực này hoạt động tới đó Do vậy, nguồn vốn, lao động đầu tư vào lĩnh vực phi nông nghiệp cũng như thu nhập từ các hoạt động này ngày càng tăng Mặt khác, bản thân các hệ thống và các công trình cơ sở hạ tầng ở nông thôn cũng đòi hỏi phải đầu tư ngày càng nhiều để đảm bảo cho việc duy trì, vận hành và tái tạo chúng Tất cả các tác động đó dẫn tới sự thay đổi đáng kể trong cơ cấu kinh tế của một vùng cũng như toàn bộ nền kinh tế nông nghiệp Trong đó,

sự chuyển dịch theo hướng nông- công nghiệp (hay công nghiệp hoá) thể hiện rõ nét và phổ biến

- Ba là, cơ sở hạ tầng giao thông là tiền đề và điều kiện cho quá trình phân

bố lại dân cư, lao động và lực lượng sản xuất trong nông nghiệp và các ngành khác ở nông thôn cũng như trong nền kinh tế quốc dân Vai trò này thể hiện rõ nét ở trong vùng khai hoang, xây dựng kinh tế mới, những vùng nông thôn đang được đô thị hoá hoặc sự chuyển dịch của lao dộng và nguồn vốn từ nông thôn ra thành thị, từ nông nghiệp sang công nghiệp

- Cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn là điều kiện cho việc mở rộng thị trường nông nghiệp nông thôn, thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hoá phát triển

- Trong khi đảm bảo cung cấp các điều kiện cần thiết cho sản xuất cũng như lưu thông trong tiêu thụ sản phẩm hàng hoá trong nông nghiệp, nông thôn thì các yếu tố hạ tầng giao thông cũng đồng thời là mở rộng thị trường hàng hoá và tăng cường quan hệ giao lưu trong khu vực này

Trang 30

- Sự phát triển của giao thông nông thôn tạo điều kiện thuận lợi cho thương nghiệp phát triển, làm tăng đáng kể khối lượng hàng hoá và khả năng trao đổi Điều đó cho thấy những tác động có tính lan toả của cơ sở hạ tầng đóng vai trò tích cực Những tác động và ảnh hưởng của các yếu tố cơ sở hạ tầng giao thông không chỉ thể hiện vai trò cầu nối giữa các giai đoạn và nền tảng cho sản xuất, mà còn góp phần làm chuyển hoá và thay đổi tính chất nền kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng phát triển sản xuất kinh doanh hàng hoá và kinh tế thị trường Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế xã hội ở những nước có nền nông nghiệp lạc hậu và đang trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường (Nguyễn Mạnh Cường, 2012)

- Đối với phát triển xã hội

Chúng ta thấy rằng, về mặt kinh tế đường xá nông thôn có tác động tới sản xuất, sẩn phẩm và thu nhập của nông dân, thì mặt xã hội nó lại là yếu tố và phương tiện đầu tiên góp phần nâng cao văn hoá, sức khoẻ và mở mang dân trí cho cộng đồng dân cư đông đảo sống ngoài khu vực thành thị Cơ sở hạ tầng giao thông góp phần cải thiện và nâng cao đời sống dân cư nông thôn Trước hết có thể nhìn nhận và đánh giá sự đảm bảo của các yếu tố và điều kiện cơ sở

hạ tầng giao thông cho việc giải quyết những vấn đề cơ bản trong đời sống xã hội nông thôn như:

+ Góp phần thúc đẩy hoạt động văn hoá xã hội, tôn tạo và phát triển những công trình và giá trị văn hóa truyền thống, nâng cao dân trí đời sống tinh thần của dân cư nông thôn

+ Đáp ứng tốt hơn nhu cầu tiêu dùng hàng hoá và dịch vụ công cộng như giao lưu đi lại, thông tin liên lạc… và các loại hàng hoá khác

+ Cung cấp cho dân cư nông thôn nguồn nước sạch sinh hoạt và đảm bảo tốt hơn các điều kiện vệ sinh môi trường Việc giải quyết những vấn đề trên và những tiến bộ trong đời sống văn hóa-xã hội nói chung ở nông thôn phụ thuộc rất lớn vào tình trạng và khả năng phát triển các yếu tố cơ sở hạ tầng giao thông nói chung và cơ sở hạ tầng nông thôn nói riêng Sự mở rộng mạng lưới giao thông, cải tạo hệ thống điện nước sinh hoạt… cho dân cư có thể làm thay đổi và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của cá nhân trong mỗi cộng đồng dân cư nông thôn

Trang 31

Nói cách khác, sự phát triển cơ sở hạ tầng giao thông ở nông thôn sẽ góp phần quan trọng vào việc cải thiện điều kiện lao động, điều kiện sinh hoạt, làm tăng phúc lợi xã hội và chất lượng cuộc sống của dân cư nông thôn Từ đó, tạo khả năng giảm bớt chênh lệch, khác biệt về thu nhập và hưởng thụ vật chất, văn hoá giữa các tầng lớp, các nhóm dân cư trong nông thôn cũng như giữa nông thôn và thành thị (Nguyễn Mậu Thái, 2015)

Nói tóm lại, vai trò của các yếu tố và điều kiện cơ sở hạ tầng giao thông ở nông thôn nói chung và ở Việt Nam nói riêng là hết sức quan trọng, có ý nghĩa to lớn đối với sự tăng trưởng kinh tế và phát triển toàn diện nền kinh tế, xã hội của khu vực này Vai trò và ý nghĩa của chúng càng thể hiện đầy đủ, sâu sắc trong điều kiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá chuyển nền nông nghiệp và kinh tế nông thôn từ sản xuất nhỏ sang sản xuất hàng hoá và kinh tế thị trường Vì vậy, việc chú trọng đầu tư cho cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn là vô cùng cần thiết, đòi hỏi sự quan tâm của Nhà nước cùng các cấp chính quyền (7)

- Sự cần thiết phải phát triển đường giao thông nông thôn

Đối với Việt Nam, là một nước với gần 80% dân số làm nghề nông, để đạt được mục tiêu “đến năm 2020 trở thành một nước công nghiệp có trình độ khoa học công nghệ tiến” thì nhất thiết phải có sự đầu tư vào nông nghiệp mà nhất là phát triển cơ sở hạ tầng và trên hết là cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn Trong các Đại hội đại biểu toàn quốc cũng như các hội nghị phát triển nông nghiệp nông thôn, đều đã nhận định đầu tư phát triển CSHT giao thông ở nông thôn là

vô cùng cần thiết trong điều kiện hiện nay Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói

“Giao thông là mạch máu của tổ chức kinh tế, giao thông tốt thì mọi việc đều dễ dàng…”- trích Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp giao thông vận tải

Trong điều kiện nông nghiệp nước ta hiện nay, các CSHT GTNT còn rất lạc hậu, số xã chưa có đường đến trung tâm xã vẫn còn tại hầu hết các tỉnh thành, chất lượng đường kém, chủ yếu là đường đất và đường cấp phối Về lý luận cũng như những bài học kinh nghiệm rút ra từ quá trình đầu tư xây dựng, nâng cấp giao thông nông thôn cần thiết phải đầu tư vào cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn Cơ sở hạ tầng GTNT phát triển sẽ tác động đến sự tăng trưởng và phát triển kinh tế nhanh của khu vực nông thôn, tạo điều kiện cạnh tranh lành mạnh, tăng sức thu hút vốn đầu tư nước ngoài và sức huy động nguồn vốn trong nước vào thị trường nông nghiệp, nông thôn Những vùng có cơ sở hạ tầng đảm bảo, đặc biệt

Trang 32

là mạng lưới giao thông sẽ là nhân tố thu hút nguồn lao động, hạ giá thành trong sản xuất và mở rộng thị trường nông thôn (Đỗ Xuân Nghĩa, 2009)

Cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn tốt sẽ giúp giảm giá thành sản xuất, giảm rủi ro, thúc đẩy lưu thông hàng hóa trong sản xuất kinh dính nông nghiệp

và các ngành liên quan trực tiếp đến nông nghiệp - khu vực phụ thuộc nhiều vào

tự nhiên

Cơ sở hạ tầng giao thông ở nông thôn tốt sẽ tăng khả năng giao lưu hàng hoá, thị trường nông thôn được mở rộng, kích thích kinh tế hộ nông dân tăng gia sản xuất, làm thay đổi bộ mặt nông thôn, thu nhập của các hộ nông dân tăng, đời sống nông dân được nâng lên, thực hiện mục tiêu xoá đói, giảm nghèo ở nông thôn Cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn phát triển sẽ tạo điều kiện tổ chức đời sống xã hội trên địa bàn, tạo một cuộc sống tốt hơn cho nông dân, nhờ đó mà giảm được dòng di dân tự do từ nông thôn ra thành thị, giảm bớt gánh nặng cho thành thị (Đỗ Xuân Nghĩa, 2009)

Nói tóm lại, phát triển cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn là nhân tố đặc biệt quan trọng, là khâu then chốt để thực hiện chương trình phát triển kinh tế- xã hội nói chung và để thực hiện chương trình phát triển nông nghiệp nông thôn nói riêng Vì vậy, trong điều kiện khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão, cấu trúc nền kinh tế thế giới thay đổi đã đặt ra nhu cầu: cơ sở hạ tầng phải đi trước một bước để tạo điều kiện thuận lợi chi các ngành, các vùng phát triển

* Quan điểm về quản lý hệ thống đường giao thông nông thôn

Phát huy nội lực của dân cư nông thôn, dựa vào nhu cầu, trên cơ sở đẩy mạnh xã hội hóa trong đầu tư, xây dựng và quản lư, đồng thời tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước đối với hệ thống đường giao thông nông thôn Nhà nước đóng vai trò hướng dẫn hỗ trợ, có chính sách giúp đỡ các gia đình thuộc diện chính sách, người nghèo, vùng dân tộc ít người và một số vùng đặc biệt khó khăn khác Chính sách "Nhà nước và nhân dân cùng làm" trong phát triển giao thông nông thôn giai đoạn vừa qua đã đóng góp tích cực vào việc phát triển giao thông nông thôn song cũng cần được xem xét lại cho phù hợp với tình hình giai đoạn phát triển tiếp theo, đặc biệt là khi nước ta đã trở thành thành viên chính thức của

tổ chức thương mại thế giới (Dương Chí Thanh, 2011)

Sự tham gia của người dân vào việc xây dựng và quản lý hệ thống đường giao thông nông thôn được coi như nhân tố quan trọng, tạo môi trường thuận lợi

Trang 33

để chuyển hoá đa chiều các hoạt động kinh tế xã hội bên trong và bên ngoài khu vực nông thôn người dân là người trực tiếp xây dựng, giữ gìn và bảo vệ kết cấu

hạ tầng nông thôn Về mặt bản chất, tham gia chính là sự vận động của cộng đồng trong quá trình phát triển Sự đoàn kết, đùm bọc, giúp đỡ, hết lòng hết sức xây dựng Tổ quốc trở thành một truyền thống quý báu của nhân dân ta Đó cũng

là một biểu hiện của sự tham gia, là một yêu cầu tất yếu trong quá trình tồn tại và phát triển của con người do đặc điểm sinh sống thành xã hội, đặc biệt là nhu cầu tập hợp thành sức mạnh tập thể để cải biến các điều kiện thiên tai địch họa bất lợi như động đất, lũ lụt, hạn hán, chiến tranh Trong điều kiện hiện nay, khi mà sức

ép tăng trưởng dân số cùng với sức ép về nhu cầu đi lại của người dân ở nông thôn ngày càng tăng thì sự tham gia của cộng đồng lại đóng vai trò quan trọng trong xây dựng, quản lý và sử dụng các công trình đường giao thông thôn/bản, là yếu tố thúc đẩy sự phát triển của cơ sở hạ tầng nông nghiệp, nông thôn

Sự tham gia đó có một số đặc điểm chủ yếu sau:

- Người tham gia là người hưởng lợi từ các công trình đường giao thông thôn/bản, họ vừa là phương tiện vừa là mục đích Do đó, mọi người dân được tham gia họp hành, cùng nhau bàn bạc và cùng nhau giám sát, nghiệm thu thành quả của mình

- Người dân tham gia là người am hiểu thực tế nơi xây dựng đường giao thông thôn/bản Không ai có thể hiểu rõ hoàn cảnh thực tế và tích lũy kinh nghiệm quý báu như người dân tại nơi xây dựng công trình Những kinh nghiệm

ấy được sử dụng trong xây dựng và quản lý đường giao thông thôn/xóm sẽ đem lại nhiều lợi ích

- Hầu hết các công trình đầu tư xây dựng và quản lý các công trình xây dựng giao thông nói chung và đường GTNT nói riêng đều có nhu cầu sử dụng vốn khá lớn, với điều kiện còn hạn chế về tài chính, cộng đồng hưởng lợi chủ yếu tham gia trong các công trình quy mô nhỏ, chi phí thấp và đóng góp chủ yếu vẫn

là sức lao động

- Người dân thường muốn vai trò của họ trong các dự án đường được nâng cao Họ muốn rằng họ là người đầu tiên được hưởng lợi và là những người có liên quan chặt chẽ đến chất lượng và sự bền vững của các con đường giao thông này Người dân muốn tham gia trực tiếp vào việc thiết kế và giám sát thi công các con đường tại địa phương (Kiều Kim Dung, 2015)

Trang 34

Với chính sách "Nhà nước và nhân dân cùng làm" trong phát triển GTNT giai đoạn vừa qua đã đóng góp tích cực vào việc phát triển GTNT Do vậy, với chính sách này, người dân có thể trực tiếp tham gia vào các công đoạn từ khâu khảo sát, thiết kế đến nghiệm thu và quản lư…Sự tham gia này là sự đóng góp một phần hoạt động của người dân được hưởng lợi để tham gia quá trình xây dựng và quản lý đường đường giao thông nông thôn Khi các công trình GTNT được thi công trên địa bàn, người dân sẵn sàng tham gia vào công việc của công trình không chỉ ở mức tham gia thi công mà còn tham gia đóng góp vật liệu cho công trình Sau khi bản thiết kế hoàn thành, người dân được huy động triển khai công trình dưới dự chỉ đạo và giám sát của ban thiết kế Tư tưởng chủ đạo của dự

án là huy động tối đa sự đóng góp của người dân (kể cả công lao động và vật liệu xây dựng) cho các hoạt động Do được thảo luận dân chủ và quyết định tập thể nên người dân hoàn toàn đồng ý với nguyên tắc này Để có đủ vật liệu cho công trình người dân đã tổ chức nhiều cuộc họp và phân chỉ tiêu cho từng thôn để khai thác nguyên vật liệu nhằm phục vụ cho công tác xây dựng Trưởng ban kiến thiết

có trách nhiệm điều hành chung Với sự phân công nhiệm vụ rõ ràng như thế, các thôn, các cá nhân đã ý thức rõ được trách nhiệm của mình nên mặc dù trong điều kiện thời tiết không thuận lợi (mưa, rét, lụt) nhưng họ phải có biện pháp khắc phục

để hoàn thành công việc của mình đúng thời gian qui định với chất lượng đảm bảo

Bên cạnh đó, sự tham gia của người dân trong xây dựng đường giao thông nông thôn còn góp phần xây dựng các chính sách hiệu quả hơn: Sự tham gia làm cho các chính sách về giao thông, phát triển sản xuất, xóa đói, giảm nghèo trở nên có hiệu lực và hiệu quả hơn trong quá trình đi đến mục tiêu Sự tham gia của người dân sẽ góp phần bảo đảm rằng mọi thông tin liên quan đều được tính đến trong khi thiết kế, quy hoạch đường giao thông nông thôn phù hợp, thuận tiện hơn với quá trình sản xuất, kinh doanh và phù hợp với điều kiện của từng vùng nông thôn Ví dụ, trong quy hoạch phát triển đường GTNT, người dân tham gia

sẽ cho ý kiến, thông tin về địa hình thổ những từng khu vực, những ý kiến nên đầu tư xây dựng tuyến đường nào trước, tuyến đường nào sau để phù hợp hơn với tình hình thực tế đồng thời còn đưa ra được các giải pháp chính sách đối với các vấn đề Thực tế đã chứng minh là sự đa dạng những ý kiến của người dân trong một môi trường cởi mở sẽ dẫn đến những ý tưởng chưa từng có trong đầu của bất cứ một cá nhân nào cho đến khi nhóm bắt đầu cùng làm việc với nhau

Sự tham gia còn nhằm nâng cao cơ hội cho các quy hoạch về giao thông nông

Trang 35

thôn được thi hành trên thực tế một khi đã được định hướng Khi những người chịu tác động của một chính sách được thu hút tham gia vào quá trình hình thành chính sách đó, họ có thể ủng hộ quyết định cuối cùng: i) Bởi vì quyết định đó có thể có tính đến những hiểu biết và quan tâm của họ; ii) Bởi vì họ có thể cảm thấy

đó là một quyết định công bằng khi quan điểm của họ đã được xem xét, thậm chí khi quyết định cuối cùng đó không ủng hộ lợi ích hoặc quan điểm riêng của họ

Có thể nói, sự tham gia của cộng đồng trong xây dựng đường GTNT là rất đúng đắn, nó cho phép người dân thể hiện thực trạng sự mong muốn, những nhu cầu cấp thiết của họ đối với việc xây dựng đường GTNT trong sản xuất, kinh doanh, giúp họ định hướng được cần phải làm gì để đưa ra các biện pháp sản xuất kinh doanh hiệu quả hơn, góp phần trong công cuộc xoá đói giảm nghèo (Nguyễn Hoàng Thành, 2013)

2.1.4 Nội dung nghiên cứu nhận thức và ứng xử của người dân trong xây dựng và quản lý hệ thống đường giao thông nông thôn

Nghiên cứu ứng xử của người dân trong xây dựng và quản lý hệ thống đường giao thông liên thôn chính là nghiên cứu về thái độ, hành động của người dân trước một sự việc cụ thể có liên quan đến hệ thống giao thông liên thôn trên địa bàn họ đang sinh sống Hành vi ứng xử của người dân được thể hiện ở giai đoạn trước khi xây dựng, đó là mong muốn, là nhu cầu của người dân trong việc xây dựng mới các tuyến đường; ở giai đoạn xây dựng hay duy

tu, bảo dưỡng các tuyến đường, đó là mức độ đóng góp vốn, ngày công lao động của người dân khi tham gia xây dựng; và ở giai đoạn sử dụng, đó chính

là những ứng xử thể hiện sự chấp hành những quy định về trọng tải được phép lưu thông trên các tuyến đường Nghiên cứu nhận thức và ứng xử của người dân trong xây dựng và quản lý hệ thống đường giao thông nông thôn bao gồm những nội dung cơ bản sau:

1 Nhận thức và ứng xử trong tham gia thiết kế, quy hoạch xây dựng hệ thống giao thông Người dân là người trực tiếp được hưởng lợi và sử dụng các công trình đường giao thông tại địa phương mình, hệ thống giao thông nông thôn được thiết kế phù hợp sẽ đảm bảo hiệu quả sử dụng cao nhất và tạo ra sự đồng thuận, nhất quán giữa những các hộ đặc biệt là những hộ bị ảnh hưởng bởi quá trình xây dựng Người dân có biết đến các quy hoạch xây xựng đó hay không và mức độ tham gia đóng góp ý kiến của người dân trong thiết kế, quy hoạch xây dựng đường giao thông nông thôn là chỉ tiêu đánh giá sự minh bạch và dân chủ trong hoạt động quy hoạch xây dựng (Nguyễn Mậu Thái, 2015)

Trang 36

Người dân bày tỏ ý kiến của mình về quy hoạch xây dựng được cấp có thẩm quyền đưa ra, dựa trên quy hoạch đó người dân đưa ra ý kiến của mình để

có thể kịp thời điều chỉnh quy hoạch sao cho phù hợp nhất với điều kiện thực tế địa phương nhưng cũng không phá vỡ quy hoạch tổng thể Mức độ đồng tình của người dân đối với quy hoạch phản ánh mức độ phù hợp của quy hoạch đó Ứng

xử ở đây có thể hiểu là những hành động của người dân trong tham gia đóng góp

ý kiến vào quy hoạch xây dựng

2 Nhận thức và ứng xử trong xây dựng các quy định của cộng đồng về xây dựng và quản lý hệ thống đường giao thông nông thôn Điều này phản ánh những hoạt động, phản ứng của người dân trong đề ra những quy định có tính chất ràng buộc mà cộng đồng phải thực hiện trong quá trình xây dựng, quản lý và

sử dụng công trình giao thông sau khi tiến hành quá trình xây dựng Các quy định của cộng đồng về về quản lý đường giao thông nông thôn được xây dựng giống như các hương ước của thôn, được xây dựng thông qua lấy ý kiến đóng góp và thống nhất trong các cuộc họp thôn khác nhau Sự tham gia của người dân càng nhiệt tình và có trách nhiệm càng đảm bảo quá trình xây dựng các quy định một cách chặt chẽ, bình đẳng và hợp lý (Nguyễn Mậu Thái, 2015)

3 Ứng xử trong đóng góp về tài chính, công lao động và các nguồn lực cho xây dựng đường giao thông nông thôn Xây dựng hệ thống giao thông nông thôn trong xây dựng nông thôn mới là một trong những hạng mục xây dựng hạ tầng cần nguồn vốn rất lớn cả về tài chính và công lao động Với quan điểm nhà nước và nhân dân cùng làm nhằm vừa nâng cao tinh thần trách nhiệm của người dân, vừa nâng cao tính tự giác và tinh thần làm chủ cũng là để giảm áp lực cho nguồn vốn ngân sách đầu tư cho xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn Huy động đóng góp của nhân dân về tài chính, nhân lực, vật lực và hiến đất cho xây dựng đường giao thông nông thôn có vai trò quan trọng, đảm bảo cung ứng

đủ các nguồn lực cho xây dựng hệ thống giao thông nông thôn

Mức độ đóng góp về tài chính, công lao động cho từng hộ phụ thuộc vào khối lượng công việc ở từng địa phương, trên cơ sở tính toán đầy đủ các chi phí xây dựng và được người dân thông qua Vai trò của công tác tuyên truyền vận động là hết sức quan trọng, nếu công tác này không làm tốt người dân sẽ thiếu tinh thần tự giác, nếu làm tốt người dân sẽ tự giác tham gia đóng góp đầy đủ kinh phí và công lao động được phân bổ Đối với những hộ dân có đất đai và hoa màu

bị ảnh hưởng do quá trình xây dựng cần vận động để người dân thấy được tác

Trang 37

dụng của việc xây dựng hệ thống giao thông nông thôn qua đó người dân tự nguyện hiến đất, hoa màu cho xây dựng mà không đòi hỏi việc bồi thường giải phóng mặt bằng Bên cạnh đó, mức độ đóng góp cần được tính toán cụ thể và hợp lý, tránh tình trạng mức thu quá cao hoặc lạm thu, mức độ đóng góp kinh phí cần phải tính cho từng khẩu chứ không nên quy định theo từng hộ Khi người dân hiểu và nắm được chủ trương xây dựng sẽ tự nguyện tham gia đóng góp, nếu quá trình vận động không tốt sự tham gia của người dân không đầy đủ gây khó khăn

và kéo dài thời gian thi công công trình (Kiều Kim Dung, 2015)

4 Ứng xử trong sử dụng và quản lý đường giao thông nông thôn Quá trình sử dụng hệ thống đường giao thông nông thôn găn liền với hoạt động quản

lý, nếu không có sự quản lý chặt chẽ công trěnh sẽ xuống cấp vŕ hư hỏng nhanh chóng vừa gây lãng phí đầu tư vừa gây mất an toàn giao thông Làm sao để người dân có ý thức và trách nhiệm trong quản lý và sử dụng hệ thống giao thông nông thôn, để người dân thấy được hệ thống giao thông là tài sản chung của cộng đồng

và ai cũng phải có trách nhiệm bảo vệ, quản lý là rất cần thiết Tuyên truyền vận động nâng cao ý thức trách nhiệm kết hợp với việc sử dụng những quy định của cộng đồng trong quản lý đường giao thông là giải pháp nâng cao ý thức trách nhiệm trên cơ sở vừa nâng cao tính tự giác vừa mang tính bắt buộc (Nguyễn Hoàng Thành, 2015)

5 Ứng xử trong tham gia duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa hệ thống đường giao thông nông thôn Đối với những công trình hạ tầng nhất là hệ thống đường giao thông nông thôn bị áp lực rất lớn bởi lưu lượng giao thông nên thường bị hư hỏng một số đoạn, nhất là những điểm có địa chất kém Chính vì vậy, việc thường xuyên duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa đường giao thông nông thôn là cần thiết nhằm đảm bảo công trình không bị xuống cấp, hư hỏng, khắc phục kịp thời những sự cố để đảm bảo tính thông suốt trong giao thông, phục vụ nhu cầu đi lại, nhu cầu sản xuất và giao lưu hàng hóa Ứng xử của người dân trong hoạt động này là hành động tự giác và tính thường xuyên tham gia duy tu, sửa chữa hệ thống đường giao thông Hàng năm thường xuyên thực hiện phát dọn, khơi thông cống rãnh thoát nước; đối với những chỗ hư hỏng do bong nền hoặc sụt lún thì tùy vào mức độ hư hỏng mà đóng góp kinh phí để tiến hành sửa chữa Quản lý tốt và thường xuyên tiến hành hoạt động duy tu, bảo dưỡng sẽ đảm bảo cho công trình giao thông ít bị hư hỏng, đảm bảo nhu cầu đi lại và phát triển sản xuất (Nguyễn Hoàng Thành, 2015)

Trang 38

6 Ứng xử trong kiểm tra, giám sát thực hiện quá trình xây dựng và thực hiện các quy định cộng đồng về quản lý hệ thống đường giao thông nông thôn Hoạt động kiểm tra, giám sát thực hiện quá trình thực hiện xây dựng và quản lý

hệ thống giao thông có vai trò quan trọng, thông qua quá trình kiểm tra sẽ phát hiện những sai sót, bất cập trong thực hiện để kịp thời điều chỉnh Hoạt động giám sát thực hiện các quy định của cộng đồng về quản lý hệ thống giao thông đảm bảo cho các quy định được thực hiện tự giác và nghiêm túc Việc theo dõi, giám sát tùy vào từng địa phương mà áp dụng hình thức tổ giám sát nhân dân hoặc mọi người đều được tham gia, giám sát nhưng vẫn phải thống nhất trong quá trình giám sát để vừa đảm bảo tính chính xác vừa đảm bảo tính thống nhất (Kiều Kim Dung, 2015)

2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới nhận thức và ứng xử của người dân trong xây dựng và quản lý hệ thống đường giao thông nông thôn

2.1.5.1 Chính sách, pháp luật của nhà nước

Xây dựng nông thôn mới nói chung và xây dựng hạ tầng giao thông nông thôn là một chủ trương lớn và đúng đắn của Đảng và nhà nước với mục tiêu thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền Dựa trên quy hoạch phát triển tổng thể, mỗi địa phương tùy thuộc vào điều kiện thực tế mà xây dựng quy hoạch, lộ trình xây dựng sao cho hợp lý và đúng mục đích Nhà nước cần xây dựng chủ trương huy động sự tham gia đóng góp của người dân về tài chính, nhân lực, vật lực và khuyến khích người dân hiến đất cho xây dựng đường giao thông nông thôn

Cần có những khuôn khổ pháp lý rõ ràng để huy động sự tham gia của người dân, để người dân nhận thấy mục đích xây dựng đường giao thông nông thôn là đúng đắn và phải có trách nhiệm tham gia Bên cạnh đó cần đưa ra những định mức đóng góp về tài chính phù hợp với điều kiện thực tế của từng vùng miền, từng loại đường giao thông cũng như xác định những đối tượng được miễn hoặc giảm đóng góp tài chính Bên cạnh đó, nhà nước còn xây dựng những hướng dẫn thực hiện và những ưu đãi đối với các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân tham gia thực hiện xã hội hóa trong đầu tư xây dựng hệ thống giao thông nông thôn trong xây dựng nông thôn mới (Kiều Kim Dung, 2015)

Do việc quản lý hiện nay vẫn mang nặng tính chất áp đặt từ trên xuống, không bám sát thực tế và do vậy còn thiếu các qui định rõ ràng, phù hợp với thực

tế đang phát triển Việc xây dựng quy định chỉ mang tính tương đối, không phù

Trang 39

hợp với điều kiện, thực tế của nhiều vùng hoặc đôi khi chỉ mang tính chất cho có Bên cạnh đó vẫn còn thiếu các hướng dẫn cụ thể để có thể quản lý tốt lĩnh vực xây dựng, quản lý và khai thác các công trình giao thông nông thôn Trong thời gian tới cần khắc phục ngay những yếu điểm này để việc quản lý đi vào khuôn khổ và tạo tiền đề cho những nội dung khác

2.1.5.2 Trình độ phát triển kinh tế xã hội

Vốn là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến ứng xử của hộ khi quyết định tham gia đóng góp kinh phí cho công tác làm đường Ở nhiều địa phương, người dân rất muốn được làm mới lại các tuyến đường, song do gặp phải khó khăn về vốn mà họ không thể thực hiện được Đặc biệt là đối với các hộ nghèo, đóng góp kinh phí xây dựng mới các tuyến đường, thật sự là một khoản đóng góp lớn đối với họ Đứng trước những khó khăn này, điều mà người dân mong muốn

là nhận được nhiều hơn nữa sự hỗ trợ của Nhà nước, của chính quyền cho công tác xây dựng, làm mới các tuyến đường giao thôn trên địa bàn

Việc huy động đóng góp tài chính đối với từng hộ cần phải tính toán phù hợp dựa trên tổng kinh phí xây dựng, chi phí phân bổ cho từng người phải đảm bảo tính công bằng Những địa phương có điều kiện phát triển kinh tế hơn thì sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho huy động sự đóng góp tài chính và ngược lại Kinh tế phát triển người dân cũng có điều kiện nâng cao hiểu biết, tiếp cận thông tin về chủ trương, chính sách về xây dựng đường giao thông nông thôn qua đó thấy được trách nhiệm, quyền lợi của mình và chủ động tham gia (Dương Chí Thanh, 2011)

2.1.5.3 Trình độ nhận thức của người dân

Trình độ văn hóa hay trình độ lao động có ảnh hưởng rất lớn đến nhận thức của người dân Nếu một người có hiểu biết, nhận thức cao thì chắc chắn sẽ

có nhận thức khác một người hiểu ít hay mức độ nhận thức thấp Khi một người

có sự hiểu biết hơn người khác về một vấn đề nào đó thì chắc chắn họ sẽ đưa ra những quyết định phù hợp và đúng đắn hơn Vai trò của người dân trong xây dựng và quản lý hệ thống đường giao thông nông thôn cũng vậy Khi người dân nhận thức được những lợi ích mà các tuyến đường giao thông mang lại thì sự tham gia của người dân vào các hoạt động xây dựng và những đóng góp của họ cho công tác này cũng tích cực hơn (Phạm Văn Hùng, 2013)

Ngoài ra việc tuyên truyền giáo dục và kiểm tra việc thực hiện các quy định pháp luật về đường bộ trong phạm vi quản lý của địa phương Tổ chức quán triệt

Trang 40

sâu rộng trong nhân dân về chủ trương, biện pháp phát triển GTNT làm cho mọi người thấy rõ vị trí và vai trò của GTNT đối với lợi ích của chính mình cũng như của toàn xã hội để dân tự giác tham gia xây dựng các chương trình phát triển giao thông hàng năm của xã Phân công trách nhiệm của xã với các thôn, thực hiện các chủ trương biện pháp của huyện, tỉnh về công tác phát triển GTNT Quản lý và sử dụng hợp lý các nguồn lực do huyện giao và nguồn lực huy động tại xã Quản lý, bảo vệ hệ thống đường bộ của địa phương và những con đường đi qua địa phương 2.1.5.4 Năng lực tổ chức, tuyên truyền vận động của chính quyền địa phương

Sự thay đổi nhận thức và ứng xử của người dân theo chiều hướng tích cực hay không tích cực còn phụ thuộc vào hoạt động tuyên truyền, vận động của chính quyền và các ban ngành ở địa phương Để làm tốt công tác tổ chức tuyên truyền vận động đòi hỏi cán bộ xã, thôn phải có năng lực tổ chức, khả năng tuyên truyền, thuyết phục quần chúng Để người dân hiểu và nắm được những nội dung của hoạt động xây dựng đường giao thông nông thôn cũng như trách nhiệm của mình trong tham gia đóng góp và xây dựng thì công tác tuyên truyền đóng vai trò quan trọng, hoạt động tuyên truyền cần diễn ra thường xuyên, liên tục và áp dụng nhiều hình thức khác nhau (Nguyễn Mậu Thái, 2015)

Để làm tốt công tác tổ chức tuyên truyền cần nâng cao năng lực cho cán bộ địa phương nhất là cán bộ thôn để họ nắm được quy hoạch xây dựng, quy trình triển khai thực hiện, thường xuyên mở các lớp tập huấn cho cán bộ, đưa cán bộ đi tham quan thực tế tại các địa phương và rút kinh nghiệm trong quá trình triển khai thực hiện Hoạt động tuyên truyền cần đa dạng, nên tổ chức tuyên truyền, vận động vào những buổi họp thôn để người dân có điều kiện đóng góp ý kiến và được giải đáp những thắc mắc Bên cạnh đó cần đẩy mạnh tuyên truyền trên hệ thống truyền thông của xã, tuyên truyền bằng khẩu hiệu và Aphich, kết hợp với vận động tuyên truyền của các đoàn thể với hội viên của mình (Nguyễn Mậu Thái, 2015) 2.1.5.5 Sự phối hợp giữa chính quyền với các đoàn thể, tổ chức

Tình trạng đường giao thông nông thôn nói chung là là rất xấu do vốn cho công tác duy tu bảo dưỡng còn hết sức hạn chế, nhiều tuyến trọng tải xe bị hạn chế

do cầu yếu hoặc các công trình thoát nước kém Vì vậy nhiều xã đã có đường về trung tâm nhưng không đảm bảo đi lại thông suốt va an toàn quanh năm Thực tế hiện nay để thúc đẩy quá trình phát triển đường giao thông nông thôn chúng ta cần huy động nguồn tài chính khá lớn phục vụ cho sự phát triển chung Chính phủ cần

Ngày đăng: 18/11/2018, 11:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w