DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Nghĩa tiếng việt BOD 5 Nhu cầu oxy sinh hóa trong 5 ngày BTNMT Bộ Tài nguyên và Môi trường COD Nhu cầu oxy hóa học CPI Hợp phần sản xuất sạch hơn tr
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
ĐỖ NGỌC THƯ
NGHIÊN CỨU ÁP DỤNG SẢN XUẤT SẠCH HƠN TẠI LÀNG NGHỀ SẢN XUẤT ĐẬU PHỤ
THÔN XUÂN LÔI, TỈNH HƯNG YÊN
Người hướng dẫn khoa học: Nguyễn Thanh Lâm
Trang 2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo
vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được ghi rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Đỗ Ngọc Thư
Trang 3LỜI CÁM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viện của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ long kính trọng và biết
ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Thanh Lâm đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức Phòng Tài nguyên
và Môi trường huyện Văn Lâm, UBND xã Đình Dù và đồng chí trưởng thôn thôn Xuân Lôi đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thận, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Đỗ Ngọc Thư
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục bảng v
Danh mục hình, sơ đồ vi
Danh mục chữ viết tắt vii
Trích yếu luận văn viii
Thesis abstract ix
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
1.2.1 Mục tiêu 2
1.2.2 Yêu cầu 2
Phần 2 Tổng quan tài liệu 3
2.1 Tổng quan về sản xuất sạch hơn 3
2.1.1 Định nghĩa sản xuất sạch hơn 3
2.1.2 Các giải pháp sản xuất sạch hơn 3
2.1.3 Đánh giá sản xuất sạch hơn 7
2.1.4 Sản xuất sạch hơn ở trên thế giới 10
2.1.5 Sản xuất hơn ở Việt Nam 11
2.2 Tổng quan về làng nghề sản xuất đậu phụ 17
2.2.1 Quy trình sản xuất đậu phụ 18
2.2.2 Sản xuất đậu phụ và các vấn đề môi trường 21
Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 24
3.1 Đối tượng nghiên cứu 24
3.2 Phạm vi nghiên cứu 24
3.3 Nội dung nghiên cứu 24
3.4 Phương pháp nghiên cứu 24
3.4.1 Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp 24
3.4.2 Phương pháp lấy mẫu 25
Trang 53.4.3 Thu thập số liệu sơ cấp 25
3.4.4 Phương pháp cân bằng vật chất 26
3.4.5 Phương pháp phân tích chi phí lợi ích 26
3.4.6 Phương pháp họp nhóm 27
3.4.7 Phương pháp đánh giá các đề xuất sản xuất sạch hơn 27
3.4.8 Tổng hợp và phân tích số liệu 27
Phần 4 Kết quả và thảo luận 29
4.1 Làng nghề sản xuất đậu phụ thôn Xuân Lôi 29
4.1.1 Giới thiệu về làng nghề sản xuất đậu phụ thôn Xuân Lôi 29
4.1.2 Hiện trạng môi trường làng nghề thôn Xuân Lôi 34
4.2 Phân tích đánh giá quy trình 41
4.3 Phân tích đánh giá công đoạn 43
4.3.1 Đánh giá công đoạn 43
4.3.2 Trọng tâm kiểm toán sản xuất sạch hơn 45
4.4 Đánh giá lựa chọn các giải pháp 50
4.4.1 Phân tích nguyên nhân và lựa chọn các giải pháp 50
4.4.2 Đề xuất các giải pháp sản xuất sạch hơn 51
4.5 Phân tích tính khả thi của các phương pháp sản xuất sạch hơn 54
4.5.1 Mô tả giải pháp 54
4.5.2 Tính khả thi về mặt kỹ thuật 57
4.5.3 Tính khả thi về mặt kinh tế 59
4.5.4 Tính khả thi về mặt môi trường 61
4.5.5 Lựa chọn giải pháp 62
4.6 Kế hoạch thực hiện giải pháp sản xuất sạch hơn 64
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 65
5.1 Kết luận 65
5.2 Kiến nghị 66
Tài liệu tham khảo 67
Phụ lục 69
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Kết quả thực hiện sxsh trên toàn quốc 12
Bảng 2.2 Lượng nước thải trong sản xuất đậu phụ (trên 1 tấn sản phẩm) 22
Bảng 2.3 Khối lượng chất thải rắn do sản xuất đậu phụ 22
Bảng 4.1 Diện tích đất xã Đình Dù 31
Bảng 4.2 Quy mô về lao động làng nghề sản xuất đậu phụ Xuân Lôi 33
Bảng 4.3 Hiện trạng môi trường không khí xung quanh làng nghề sản xuất đậu phụ Xuân Lôi 35
Bảng 4.4 Hiện trạng môi trường nước thải tại làng nghề sản xuất đậu phụ Xuân Lôi 36
Bảng 4.5 Hiện trạng môi trường nước mặt tại làng nghề sản xuất đậu phụ Xuân Lôi 38
Bảng 4.6 Hiện trạng môi trường nước ngầm tại làng nghề sản xuất đậu phụ Xuân Lôi 40
Bảng 4.7 Hiện trạng môi trường đất tại làng nghề sản xuất đậu phụ Xuân Lôi 41
Bảng 4.8 Phân tích công đoạn quá trình sản xuất đậu phụ 44
Bảng 4.9 Câng bằng vật chất và năng lượng cho 1 chu kỳ sản xuất 48
Bảng 4.10 Định mức tiêu hoa năng lượng tiêu thụ 50
Bảng 4.11 Phân tích nguyên nhân tại làng nghề làm đậu thôn Xuân Lôi 51
Bảng 4.12 Đề xuất các cơ hội sản xuất sạch hơn 52
Bảng 4.13 Phân loại và sàng lọc các giải pháp 53
Bảng 4.14 Kết quả sàng lọc các giải pháp 54
Bảng 4.15 Tính khả thi về mặt kỹ thuật của các giải pháp SXSH 58
Bảng 4.16 Tính khả thi về mặt kinh tế của một số giải pháp 59
Bảng 4.17 Tính khả thi về mặt môi trường của các giải pháp 62
Bảng 4.18 Bảng thứ tự ưu tiên các giải pháp sản xuất sạch hơn 63
Bảng 4.19 Kế hoạch thực hiện các biện pháp sản xuất sạch hơn khả thi 64
Trang 7DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ
Hình 2.1 Các bước thực hiện sản xuất sạch hơn 8
Hình 2.2 Sơ đồ đánh giá sản xuất sạch hơn tại Việt Nam 9
Hình 4.1 Vị trí làng nghề sản xuất đậu phụ thôn Xuân Lôi 29
Sơ đồ 2.1 Các giải pháp sản xuất sạch hơn 4
Sơ đồ 2.2 Quy trình sản xuất đậu phụ 18
Sơ đồ 4.1 Quy trình sản xuất đậu phụ 42
Sơ đồ 4.2 Cân bằng vật chất cho một chu kỳ sản xuất 49
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nghĩa tiếng việt
BOD 5 Nhu cầu oxy sinh hóa (trong 5 ngày) BTNMT Bộ Tài nguyên và Môi trường
COD Nhu cầu oxy hóa học
CPI Hợp phần sản xuất sạch hơn trong công
nghiệp của Bộ Công thương KCN Khu công nghiệp
QCCP Quy chuẩn cho phép
QCVN Quy chuẩn Việt Nam
SP Sản phẩm
SS Chất rắn lơ lửng
SXSH Sản xuất sạch hơn
TB Trung bình
TCCP Tiêu chuẩn cho phép
TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
THCS Trung học cơ sở
THPT Trung học phổ thông
TSS Chất rắn lơ lửng tổng số
UBND Ủy ban nhân dân
UNEP Chương trình Môi trường Liên hợp quốc VNĐ Việt Nam đồng
Trang 9TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Tên tác giả: Đỗ Ngọc Thư
Tên luận văn: Nghiên cứu áp dụng sản xuất sạch hơn tại làng nghề sản xuất đậu phụ
thôn Xuân Lôi, tỉnh Hưng Yên
Ngành: Khoa học Môi trường Mã số: 60440301
Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm phân tích quy trình sản xuất, từ đó đề ra các giải
pháp sản xuất sạch hơn và đánh giá tính khả thi của các biện pháp
Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp được sử dụng bao gồm việc thu thập tài liệu, khảo sát thực địa, điều tra, phỏng vấn, cân bằng vật chất, phân tích chi phí lợi ích cho các giải pháp, họp
nhóm, đánh giá các đề xuất sản xuất sạch hơn
ly tâm tách bã, thường xuyên kiểm tra hệ thống nướcc, điện, máy móc,… Tác giả cũng kiến nghị mở các lớp tập huấn về sản xuất sạch hơn và tổ chức áp dụng thí điểm các giải pháp đối với các hộ sản xuất ở quy mô khác nhau, làm cơ sở để nhân rộng và phát triển sản xuất sạch hơn tại làng nghề
Trang 10THESIS ABSTRACT Master student: Do Ngoc Thu
Thesis title: Application of cleaner production for tofu production in Xuan Loi
handicraft village, Hung Yen province
Major: Environmental Science Code: 60.44.03.01
Education center name: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)
Research Objectives
To analyze the production process and thereby propose cleaner production
solutions and to assess the feasibility measures
Materials and Methods
The methods used included the collection of secondary documents, field surveys, investigations, interviews, materials balance, opportunity cost analysis for solutions, group meetings, evaluation of the proposals cleaner production and synthesis, analysis
of the data collected
Main findings and conclusions
The study results identified fourteen cleaner production opportunities After analyzing the feasible on economic, technique and environment, eleven cleaner production solutions were selected and planned to implement such as: using colliculus for feeding animals, using electric pressure cooker, turning off the water after using, using of high-pressure water hose, circulating water from the soaked, washing process soybeans and sanitation workshop tools and equipment centrifuge remove pulp, checking the water system regularly, electrical, mechanical systems, etc Moreover, the author also proposed to open training courses on cleaner production and make a pilot on applying those solutions for producers in different sizes; then use them as the basis for replication and development of cleaner production in the village
Trang 11PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Từ sau khi thực hiện đổi mới đất nước, làng nghề của Việt Nam cũng đã có
sự chuyển biến tích cực Nhiều nghề, làng nghề được khôi phục và phát triển mạnh như: nghề gốm sứ, sơn mài, khảm trai,…đã phát triển nhanh, đáp ứng nhu cầu thị trường Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tính đến 31-12-2014 số làng nghề và làng có nghề nước ta là 5.096 Số làng nghề truyền thống được công nhận theo tiêu chí làng nghề hiện nay của Chính phủ là 1.748, thu hút khoảng 13 triệu lao động Sự biến đổi này đã đem lại biến đổi mới cho khu vực nông thôn, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn của đất nước, đời sống của người lao động được nâng cao, tạo việc làm ổn định, tăng thu nhập cho người lao động, góp phần phát triển kinh tế - xã hội địa phương Tuy nhiên, sự phát triển ồ ạt và thiếu định hướng từ nhà quản lý tại các làng nghề đã dẫn đến nhiều hậu quả tiêu cực, đặc biệt là vấn đề môi trường: ô nhiễm đất, nước, không khí và tiếng ồn từ hoạt động làm nghề
Sản xuất sạch hơn được đề xuất như một giải pháp tối ưu nhằm giảm thiểu
ô nhiễm tại các làng nghề (trung tâm tiết kiệm năng lượng Hà Nội, 2014) Ứng dụng các giải pháp sản xuất sạch hơn nhằm giảm ô nhiễm và tăng hiệu quả kinh
tế tại các khu vực làng nghề là một trong những trọng tâm của hoạt động sản xuất sạch hơn đang được các địa phương triển khai Điển hình như một số doanh nghiệp mây tre đan ở làng nghề Phú Vinh (xã Phú Nghĩa, huyện Chương Mỹ) cũng đã áp dụng sản xuất sạch hơn, đem lại nhiều lợi ích từ kinh tế đến môi trường Khi chưa áp dụng sản xuất sạch hơn, doanh nghiệp bị hao hụt tới 10% mây tươi ở khâu luộc, tẩm, thu mua Hóa chất tổn thất nhiều do hệ thống luộc và tẩm mây làm bằng xi măng không có gia nhiệt; cũng ở khâu này, thêm 10% nguyên liệu tiếp tục bị hao hụt Khi thực hiện sản xuất sạch hơn, kết quả mang lại rất khả quan, lượng nguyên liệu hao hụt giảm mạnh mà doanh nghiệp không mất nhiều chi phí, đặc biệt, giảm phát thải ra môi trường Từ đó có thể thấy, các giải pháp sản xuất sạch hơn đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của các làng nghề, vừa đem lại hiệu quả kinh tế, đồng thời làm giảm tác động tới môi trường Làng Xuân Lôi được biết đến với nghề sản xuẩt đậu phụ từ lâu đời Năm
2000 Làng nghề đậu phụ thôn Xuân Lôi đã được UBND tỉnh Hưng Yên công nhận là làng nghề truyền thống Số hộ làm nghề chiếm tới 40% số hộ dân trong
Trang 12làng Tuy nhiên, các phương pháp sản xuất lạc hậu còn được áp dụng khá phổ biến trong làng nghề: máy móc thiết bị cũ kỹ; quy trình sản xuất còn thô sơ,… khiến cho năng suất không cao, đồng thời còn gây ra ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường xung quanh Việc áp dụng các giải pháp sản xuất sạch hơn là cần thiết, do
đó, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “ Nghiên cứu áp dụng sản xuất sạch hơn tại làng nghề sản xuất đậu phụ thôn Xuân Lôi, tỉnh Hưng Yên” nhằm tiến hành
đánh giá hiệu quả quy trình sản xuất, từ đó đề xuất các giải pháp sản xuất sạch hơn đối với hoạt động sản xuất của các hộ làm nghề
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1 Mục tiêu
- Phân tích và đánh giá được các công đoạn của quá trình sản xuất nhằm chỉ
ra những sơ hở, rò rỉ và lãng phí trong sản xuất để từ đó đề xuất các giải pháp sản xuất sạch hơn tại làng nghề sản xuất đậu phụ thôn Xuân Lôi, tỉnh Hưng Yên
- Đề xuất và đánh giá tính khả thi của các giải pháp sản xuất sạch hơn cho
Trang 13PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 TỔNG QUAN VỀ SẢN XUẤT SẠCH HƠN
2.1.1 Định nghĩa sản xuất sạch hơn
Thuật ngữ “Sản xuất Sạch hơn” lần đầu tiên được UNEP giới thiệu và được định nghĩa là “Việc áp dụng liên tục chiến lược phòng ngừa tổng hợp về môi trường vào các quá trình sản xuất, sản phẩm và dịch vụ nhằm nâng cao hiệu suất
và giảm thiểu rủi ro cho con người và môi trường” (UNEP, 1994)
- Đối với quá trình sản xuất: SXSH bao gồm bảo toàn nguyên liệu và năng lượng, loại trừ các nguyên liệu độc hại và giảm lượng,tính độc hại của tất cả các chất thải ngay tại nguồn thải
- Đối với sản phẩm: SXSH bảo gồm việc giảm các ảnh hưởng tiêu cực trong suốt chu kỳ sống của sản phẩm từ khâu thiết kế đến khâu thải bỏ
- Đối với dịch vụ: SXSH đưa các yếu tố về môi trường vào trong thiết kế và phát triển các dịch vụ
Sản xuất Sạch hơn có thể được áp dụng trong các quy trình sản uất ở bất kì ngành công nghiệp nào, vào chính các sản phẩm hay vào rất nhiều các dịch vụ trong xã hội
Sản xuất Sạch hơn có thể được áp dụng trong các quy trình sản xuất và cũng có thể được áp dụng trong cả vòng đời của sản phẩm, từ pha thiết kế tới pha
sử dụng và thải bỏ Mục đích của Sản xuất Sạch hơn là đảm bảo trữ lượng tài nguyên, giảm thiểu các nguyên liệu độc hại, giảm chất thải và phát thải (Vũ Bá Minh 2001; Nguyễn Thị Ánh Tuyết, 2013)
2.1.2 Các giải pháp sản xuất sạch hơn
Các giải pháp sản xuất sạch hơn không chỉ đơn thuần là thay đổi thiết bị,
mà còn là các thay đổi trong vận hành và quản lý của một doanh nghiệp Các giải pháp sản xuất sạch hơn có thể được chia thành các nhóm sau:
Trang 14Sơ đồ 2.1 Các giải pháp sản xuất sạch hơn
2.1.2.1 Giảm chất thải tại nguồn
Về cơ bản, ý tưởng của sản xuất sạch hơn là tìm hiểu tận gốc củaônhiễm
- Quản lý nội vi là một loại giải pháp đơn giản nhất của sản xuất sạch hơn Quản lý nội vi không đòi hỏi chi phí đầu tư và có thể dược thực hiện ngay sau khi xác định được các giải pháp Các ví dụ của quản lý nội vi có thể là khắc phục các điểm rò rỉ, đóng van nước hay tắt thiết bị khi không sử dụng dể tránh tổn thất Mặc dù quản lý nội vi là đơn giản nhưng vẫn cần có sự quan tâm của ban lãnh đạo cũng như việc đào tạo nhân viên
- Kiểm soát quá trình tốt hơn để đảm bảo các điều kiện sản xuất được tối
ưu hoá về mặt tiêu thụ nguyên liệu, sản xuất và phát sinh chất thải Các thông số của quá trình sản xuất như nhiệt độ, thời gian, áp suất, pH, tốc độ cần được giám sát và duy trì càng gần với điều kiện tối ưu càng tốt Cũng như với quản lý nội vi, việc kiểm soát quá trình tốt hơn đòi hỏi các quan tâm của ban lãnh đạocũng như việc giám sát ngày một hoàn chỉnh hơn
- Thay đổi nguyên liệu là việc thay thế các nguyên liệu đang sử dụng bằng các nguyên liệu khác thân thiện với môi trường hơn Thay đổi nguyên liệu còn có thể là việc mua nguyên liệu có chất lượng tốt hơn để đạt được hiệu suất sử dụng cao hơn Thông thường lượng nguyên liệu sử dụng, chất lượng của nguyên liệu
và sản phẩm có mối quan hệ trực tiếp với nhau
Trang 15- Cải tiến thiết bị là việc thay đổi thiết bị đã có để nguyên liệu tổn thất ít
hơn Việc cải tiến thiết bị có thể là điều chỉnh tốc độ máy, là tối ưu kích thước kho chứa, là việc bảo ôn bề mặt nóng/lạnh, hoặc thiết kế cải thiện các bộ phận cần thiết trong thiết bị
- Công nghệ sản xuất mới là việc lắp đặt các thiết bị hiện dại và có hiệu
quả hơn, ví dụ như lắp đặt nồi hơi hiệu suất cao hơn hay lắp đặt máy nhuộm Jet sử dụng dung tỷ thấp hơn Giải pháp này yêu cầu chi phí đầu tư cao hơn các giải pháp sản xuất sạch khác, do đó cần phải được nghiên cứu cẩn thận Mặc dù vậy, tiềm năng tiết kiệm và cải thiện chất lượng có thể cao hơn so với các giải pháp khác
2.1.2.2.Tuần hoàn
Có thể tuần hoàn các loại dòng thải không thể tránh được trong khu vực sản xuất hoặc bán ra như một loại sản phẩm phụ
- Tận thu và tái sử dụng tại chỗ là việc thu thập "chất thải" và sử dụng
lại cho quá trình sản xuất Một ví dụ đơn giản của giải pháp này là sử dụng lại
nước giặt từ một quá trình cho mộ quá trình giặt khác
- Tạo ra các sản phẩm phụ là việc thu thập (và xử lý) "các dòng thải" dể
có thể trở thành một sản phẩm mới hoặc bán ra cho các cơ sở sản xuất khác Lượng men bia dư thừa có thể được sử dụng làm thức ăn cho lợn, cho cá hay làm
các chất độn thực phẩm
2.1.2.3 Thay đổi sản phẩm
- Cải thiện chất lượng sản phẩm để làm giảm ô nhiễm cũng là một ý
tưởng cơ bản của sản xuất sạch hơn
- Đổi mới sản phẩm là việc xem xét lại sản phẩm và các yêu cầu đối với
sản phẩm đó Nếu có thể thay một cái nắp dậy kim loại đã được sơn bằng một cái nắp dậy bằng nhựa cho một số sản phẩm nhất định thì dã tránh được các vấn dề
về môi trường cũng như các chi phí để sơn hoàn thiện nắp dậy dó Cải thiện thiết
kế sản phẩm có thể đem lại tiết kiệm về tiêu thụ nguyên liệu và lương hóa chất độc hại sử dụng
- Cải tiến bao gói có thể là quan trọng Vấn đề cơ bản là giảm thiểu bao
bì sử dụng, đồng thời bảo vệ được sản phẩm Một ví dụ trong nhóm giải pháp này là sử dụng bìa cac-tông cũ thay cho các loại xốp để bảo vệ các vật dễ vỡ ( Nguyễn Thị Ánh Tuyết, 2013)
Trang 162.1.2.4 Lợi ích của sản xuất sạch hơn
Từ định nghĩa về SXSH có thể hiểu rằng SXSH khác hẳn so với phương pháp “xử lý và kiểm soát ô nhiễm” Đây là phương pháp “dự đoán và ngăn chặn” rất linh hoạt Chiến lược Sản xuất Sạch hơn là chiến lược mà ai tham gia cũng là người chiến thắng bởi nó vừa bảo vệ môi trường, bảo vệ người tiêu dùng, bảo vệ công nhân vừa giúp tăng hiệu quả công nghiệp, lợi nhuận và tính cạnh tranh Sản xuất Sạch hơn là hướng tới giảm thiểu tác động và mối nguy hại cho môi trường bằng cách giảm thiểu ô nhiễm tại nguồn bằng một loạt các hoạt động khác nhau Bên cạnh các giá trị mang lại cho môi trường, bằng cách ngăn chặn việc sử dụng thiếu hiệu quả tài nguyên và ngăn chặn phát thải, SXSH giúp các doanh nghiệp giảm chi phí sản xuất, chi phí xử lý và thải bỏ chất thải và giảm trách nhiệm pháp lý Đầu tư vào SXSH để ngăn ngừa ô nhiễm, giảm tiêu thụ tài nguyên là biện pháp hiệu quả kinh tế hơn nhiều so với các biện pháp xử lý “cuối đường ống” đắt đỏ (Bộ Công thương, 2010)
Các lợi ích của SXSH bao gồm:
- Cải thiện hiệu suất sản xuất và sử dụng nguyên – nhiên liệu và năng lượng
- SXSH làm thay đổi quan điểm của các cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp thông qua sự cam kết và thay đổi khi áp dụng SXSH SXSH tập trung vào cải thiện tổng thể của cả cơ quan nhờ áp dụng kỹ năng quản lý
ở mọi cấp độ, từ cấp độ quản lý đến công nhân viên
- SXSH đã được chứng minh phù hợp với tất cả các doanh nghiệp cũng như các tổ chức khác nhau
- Thực hiện áp dụng SXSH tại các doanh nghiệp công nghiệp sẽ làm giảm tiêu thụ nguyên liệu và năng lượng, giảm các vật liệu nguy hại sử dụng trong các quá trình sản xuất và giảm phát sinh chất thải, cũng như độc tính của rác thải
- SXSH quan tâm đến giảm thiểu tác động môi trường thông qua mỗi giai đoạn trong suốt chu kỳ sống của mỗi sản phẩm (từ khai thác nguyên liệu thô đến sản xuất, vận chuyển, sử dụng và cuối cùng là thải bỏ sản phẩm)
- Áp dụng SXSH cho các ngành dịch vụ nghĩa là tích hợp các khía cạnh môi trường vào thiết kế và phân phối dịch vụ
Trang 17- SXSH giúp giảm chi phí xử lý chất thải (giảm chi phí xử lý cuối đường ống)
- SXSH giúp cải thiện chất lượng sản phẩm và tăng khả năng cạnh tranh
- SXSH giúp doanh nghiệp nhận ra rằng: chất thải là tiền
- SXSH bao hàm quản lý môi trường, công nghệ sạch hơn và giảm thiểu chất thải do đó, giúp doanh nghiệp đảm bảo được các mục tiêu kinh doanh cũng như đảm bảo tuân thủ các yêu cầu môi trường
- SXSH cải thiện môi trường làm việc và giảm tai nạn tại nơi làm việc
- Mở ra thị trường mới cho doanh nghiệp với những khách hàng với ý thức về môi trường
- SXSH giúp cải thiện hình ảnh doanh nghiệp
- SXSH giúp giảm rủi ro kinh doanh, giúp tăng các cơ hội khi làm việc với các ngân hàng cũng như bảo hiểm doanh nghiệp (Vũ Bá Minh, 2001)
2.1.3 Đánh giá sản xuất sạch hơn
Đánh giá SXSH là các hoạt động được tiến hành nhằm xác định các khả năng có thể mang lại hiệu quả cho cơ sở sản xuất; được thực hiện bởi bản thân doanh nghiệp hoặc do cơ quan tư vấn hỗ trợ Việc đánh giá SXSH thường tập trung vào trả lời các câu hỏi:
- Các chất thải và phát thải ở đâu sinh ra ?
- Các chất thải và phát thải phát sinh do nguyên nhân nào?
- Giảm thiểu và loại bỏ các chất thải và phát thải trong doanh nghiệp như
thế nào?
Sản xuất sạch hơn là một quá trình liên tục Sau khi kết thúc một quá trình đánh giá sản xuất sạch hơn, đánh giá tiếp theo cần được tiến hành để cải thiện hiện trạng tốt hơn hoặc bắt đầy với phạn vi đánh giá mới
Đánh giá sản xuất sạch hơn được tiến hành theo 6 bước sau:
Trang 18Hình 2.1 Các bước thực hiện sản xuất sạch hơn
Đánh giá sản xuất sạch hơn là một tiếp cận có hệ thống để kiểm tra quá trình sản xuất hiện tại và xác định các cơ hội cải thiện quá trình đó hoặc
Quá trình đánh giá SXSH được chia thành 6 bước là:
1 Khởi động;
2 Phân tích các công đoạn sản xuất;
3 Phát triển các cơ hội SXSH;
Trang 19Hình 2.2 Sơ đồ đánh giá sản xuất sạch hơn tại Việt Nam
BƯỚC 6: DUY TRÌ SXSH
• Nhiệm vụ 17: Duy trì các giải pháp sxsh
• Nhiệm vụ 18: Lựa chọn công đoạn tiếp theo cho trọng tậm đánh giá sxsh
Trang 20Thực hiện SXSH là một hành trình chứ không phải là điểm đến, khi những đánh giá SXSH này kết thúc, đánh giá khác tiếp theo được bắt đầu để cải thiện hiện trạng tốt hơn nữa hoặc tiếp tục với cơ hội khác được lựa chọn Nói tóm lại SXSH không quy định giới hạn, vì vậy SXSH yêu cầu sự cải tiến lên tục từ phía người áp dụng, đây cũng là yêu cầu của SXSH (Vũ Bá Minh, 2001; Nguyễn Thị Ánh Tuyết, 2013)
2.1.4 Sản xuất sạch hơn ở trên thế giới
2.1.4.1.Tình hình áp dụng SXSH ở các nước
Có rất nhiều ví dụ về sự triển khai thành công của SXSH ở các nước:
- Ở Newzealand các công ty đã tiết kiệm được từ 50 - 100% chi phí hàng năm nhờ giảm thiểu chất thải và nơi nào tái sử dụng chất thải còn thu được lợi nhuận Thời gian thu hồi vốn trong một số trường hợp chỉ vài ngày hoặc vài tuần (Nguyễn Thu Hiền và Vũ Thị Mai, 2014)
- Ở Lithuania, vào những năm 1950 chỉ có 4% các Công ty triển khai sản
xuất sạch, con số này đã tăng lên 35% vào những năm 1990 Ở cộng hoà Séc, 24 trường hợp nghiên cứu áp dụng sản xuất sạch đã cho thấy chất thải công nghiệp phát sinh đã giảm gần 22000 tấn một năm, bao gồm cả 10.000 tấn chất thải nguy hại Nước thải đã giảm 12.000 m3 một năm Lợi ích kinh tế ước tính khoảng 2,4
tỷ đô la Mỹ hàng năm (Nguyễn Thu Hiền và Vũ Thị Mai, 2014)
- Ngày nay, SXSH đã được áp dụng thành công ở cả các nước đang phát
triển như Trung Quốc, ấn Độ, CH Séc, Tanzania, Mêhicô, v.v và đang được công nhận là một cách tiếp cận chủ động, toàn diện trong quản lý môi trường công nghiệp Một nhà máy xi măng ở Inđonêxia bằng việc áp dụng sản xuất sạch
đã tiết kiệm 35.000 USD một năm Thời gian thu hồi vốn đầu tư cho sản xuất sạch không đến một năm Ở Trung Quốc các dự án thực nghiệm tại 51 Công ty trong 11 ngành công nghiệp đã cho thấy sản xuất sạch đã giảm được ô nhiễm 15 - 31% và có hiệu quả gấp 5 lần so với các phương pháp truyền thống (Nguyễn Thu Hiền và Vũ Thị Mai, 2014)
Như vậy, các kết quả áp dụng SXSH ở các nước phát triển như Mỹ, Hà Lan, Canada, cũng như ở các nước đang phát triển như Ấn Độ, Trung Quốc,
và các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi như Ba Lan, CH Séc, Hungary,
đều cho thấy tính ưu việt của SXSH: vừa mang lại hiệu quả về môi trường vừa mang lại lợi ích về kinh tế (Nguyễn Thu Hiền và Vũ Thị Mai, 2014)
Trang 212.1.5 Sản xuất hơn ở Việt Nam
2.1.5.1 Hiện trạng và tiềm năng SXSH ở Việt Nam
Khái niệm SXSH đã được giới thiệu và thử nghiệm áp dụng trong công nghiệp đầu tiên ở nước ta từ năm 1995 qua hai dự án do quốc tế tài trợ là "SXSH trong công nghiệp giấy" (1995 - 1997) và “Giảm thiểu chất thải trong công nghiệp dệt” ở Hà Nội (1995 - 1996) do UNEP/NIEM tại Bangkok (Thái Lan) và CIDA-IDRC (Canada) tài trợ (Trường đại học Khoa học Huế, 2012)
Ngày 10/7/2007, Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công thương) đã ra chỉ thị số 08/CT – BCN về việc áp dụng sản xuất sạch hơn trong các cơ sở sản xuất công nghiệp
Ngày 7/9/2009, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt “Chiến lược SXSH trong công nghiệp đến năm 2020” theo Quyết định số 1419/QĐ-TTg
Trong những năm vừa qua, các hoạt động về SXSH ở nước ta chủ yếu tập trung vào:
- Phổ biến thông tin và nâng cao nhận thức;
- Trình diễn kỹ thuật đánh giá SXSH tại doanh nghiệp nhằm thuyết phục giới công nghiệp tiếp nhận tiếp cận SXSH vào hoạt động sản xuất kinh doanh;
- Đào tạo nguồn nhân lực và xây dựng năng lực quốc gia về SXSH;
- Xây dựng cơ sở pháp lý cho việc xúc tiến SXSH
Từ tháng 8 năm 2010 đến tháng 2 năm 2011, Hợp phần Sản xuất sạch hơn trong Công nghiệp (CPI) đã thực hiện khảo sát số liệu nền cho các mục tiêu trong chiến lược sản xuất sạch hơn với 63 Sở Công Thương và 9012 doanh nghiệp sản xuất công nghiệp trên toàn quốc và thu được kết quả như sau:
-Về việc đáp ứng mục tiêu 1 của chiến lược: Tỷ lệ cơ sở sản xuất công nghiệp nhận thức về SXSH
Kết quả khảo sát năm 2010, có 2509 doanh nghiệp, tương ứng 28% doanh nghiệp sản xuất công nghiệp trên toàn quốc có nhận thức về SXSH với mức độ nhận thức khác nhau, từ việc nghe nói đến SXSH và nhận thức chưa đầy đủ về lợi ích song hành kinh tế và môi trường của SXSH đến việc thực hiện áp dụng SXSH và đáp ứng mực tiêu chiến lược
Trang 22Bảng 2.1 Kết quả thực hiện sxsh trên toàn quốc
Mục tiêu chiến lược
lượng, nguyên nhiên
liệu trên một đơn vị
sản phẩm
5-8% 8-13% Đa dạng
Nguyên liệu, hóa chất: 92%; Nước: 1-99%; Than: 2-98%; DO: 1-70%; Điện: 1-68%; Nhiên liệu sinh khối (củi, trấu): 3-61%; FO: 7- 43%; Xăng dầu: 5-34%; Gas: 3-30%
Nguồn: Hợp phần sản xuất sạch hơn trong công nghiệp của Bộ công thương (2016)
So với mục tiêu chiến lược, có 10 tỉnh có trên 50% doanh nghiệp khảo sát
có nhận thức về SXSH, gồm: Cao Bằng, Thái Nguyên, Quảng Nam, Quảng Bình,
An Giang, Bến Tre, Nghệ An, Lào Cai, Phú Thọ và Cần Thơ Số liệu của tỉnh Đồng Nai quá hạn chế để đánh giá trong khảo sát này Các tỉnh Đồng Tháp, Sơn
La, Quảng Trị, Quảng Ngãi, Gia Lai, Yên Bái, Trà Vinh, Ninh Bình và Vĩnh Long có tỷ lệ nhận thức về SXSH gần sát mục tiêu chiến lược (trên 40%)
Trang 23Sản xuất sạch hơn được biết đến tại hầu hết các ngành sản xuất công nghiệp
Có 8 ngành sản xuất có trên 100 doanh nghiệp nhận thức về SXSH là dệt may, rau quả nông sản, mỏ và khai khoáng, xi măng-gạch-gốm, thủy sản, thực phẩm khác, gỗ- tre – nứa và nhựa cao su (Các hợp phần sản xuất sạch hơn, 2016)
-Về việc đáp ứng mục tiêu 2 của chiến lược: Tỷ lệ cơ sở sản xuất công nghiệp áp dụng SXSH và kết quả
Kết quả khảo sát năm 2010, có 1031 doanh nghiệp, tương ứng 11% doanh nghiệp sản xuất công nghiệp trên toàn quốc có áp dụng SXSH, trong đó 309 doanh nghiệp, tương ứng 3% doanh nghiệp khảo sát thu nhận được mức tiêu thụ nguyên nhiên liệu giảm 5-8 % ( mục tiêu chiến lược giai đoạn 1)
Có 7 tỉnh, thành phố đáp ứng được mục tiêu 25% doanh nghiệp sản xuất công nghiệp thực hiện sản xuất sạch hơn, gồm: An Giang, Quảng Bình, Ninh Bình, Yên Bái, Cao Bằng, Hà Nội và Thái Nguyên
Sản xuất sạch hơn được áp dụng rộng rãi và thu được kết quả giảm trên 5% tiêu thụ nguyên nhiên vật liệu trên một đơn vị sản phẩm tại hầu hết các ngành sản xuất công nghiệp Dệt may và xi măng-gạch-gốm có số lượng doanh nghiệp thực hiện sản xuất sạch hơn lớn nhất (84 doanh nghiệp mỗi ngành), trong đó số lượng đạt mức tiêu thụ giảm nguyên nhiên liệu trên 5% tại 2 ngành này là 16 và 36 (Các hợp phần sản xuất sạch hơn, 2016)
-Về việc đáp ứng mục tiêu 3 của chiến lược: Tỷ lệ các Sở Công Thương có cán bộ có năng lực hướng dẫn áp dụng SXSH
Kết quả khảo sát năm 2010, có 12 Sở Công Thương có cán bộ có đủ năng lực hướng dẫn áp dụng SXSH, 50 Sở Công Thương có cán bộ có khả năng phổ biến, đào tạo về SXSH và 1 Sở Công Thương chưa xác định được năng lực SXSH
Các Sở Công Thương có cán bộ có đủ năng lực hướng dẫn áp dụng SXSH
là Hà Nội, Bến Tre, Phú Thọ, Quảng nam, Thái Nguyên, Hải Phòng, An Giang, Cần Thơ, Long An, Nghê An, Bà Rịa – Vũng Tàu và ĐăkLăk
Trong số 50 Sở Công Thương có khả năng phổ biến, đào tạo về SXSH, Sở Công Thương Vình Phúc chỉ có năng lực phổ biến, chưa có cán bộ có năng lực đào tạo SXSH
Sở Công Thương chưa xác định được năng lực SXSH là Bình Phước do chưa đánh giá được năng lực cán bộ có hiểu biết về SXSH
Trang 24Phần lớn các Sở Công Thương có cán bộ có khả năng phổ biến, đào tạo về SXSH do hoạt động đào tạo giảng viên cho các Sở Công Thương năm 2010 của Hợp phần SXSH trong Công nghiệp thực hiện
Toàn quốc có 390 cán bộ Sở Công Thương có hiểu biết về SXSH thông qua các kênh hội thảo, đào tạo hoặc thông tin đại chúng Trong số đó, số cán bộ Sở Công Thương có khả năng hướng dẫn áp dụng SXSH còn hạn chế (17 người) Có nhiều Sở Công Thương chỉ có 1 cán bộ có năng lực hướng dẫn hoặc tuyên truyền/đào tạo về SXSH (Các hợp phần sản xuất sạch hơn trong công nghiệp của
Bộ công thương, 2016)
2.1.5.2 Các thách thức trong việc áp dụng SXSH ở Việt Nam
Mặc dù SXSH có nhiều ưu việt, song cho đến nay SXSH vẫn chưa được
áp dụng một cách triệt để trong các hoạt đông công nhiệp cũng như dịch vụ Nguyên do có thể là:
• Thói quen trong cách ứng xử trong giới công nghiệp đã được hình thành hàng trăm năm nay,
• Năng lực để thực hiện SXSH trong các doanh nghiệp còn nhiều hạn chế,
• Các rào cản về tài chính,
• Thiếu chính sách và các cam kết, hỗ trợ của chính phủ
Ở Việt Nam, mặc dù đã xây dựng được một nguồn lực đánh giá và thực hiện SXSH cho các doanh nghiệp, tuy nhiên do đặc thù của một tiếp cận mang tính chất tự nguyện, SXSH vẫn chưa phổ biến rộng rãi với các doanh nghiệp Bài học rút ra từ các doanh nghiệp đã tham gia thực hiện SXSH trong thời gian vừa qua cho thấy:
* Chưa có sự quan tâm đúng mức về SXSH trong chiến lược và chính sách phát triển công nghiệp, thương mại và công nghệ môi trường
* Các cấp lãnh đạo các nhà máy chưa có nhận thức đầy đủ về SXSH và ngại thay đổi
* Thiếu các chuyên gia về SXSH ở các ngành cũng như các thông tin kỹ thuật Đồng thời cũng thiếu cả các phương tiện kỹ thuật để đánh giá hiệu quả của SXSH
* Thiếu các nguồn tài chính và cơ chế tài trợ thích hợp cho đầu tư theo hướng SXSH
Trang 25* Chưa có động lực của thị trường trong nước thúc đẩy các nhà công nghiệp
do vậy đánh giá SXSH chưa thành nhu cầu thực sự
* Chưa có thể chế và tổ chức thúc đẩy SXSH đi vào thực tiễn hoạt động công nghiệp (Nguyễn Thị Ánh Tuyết, 2013)
2.1.5.3 Sản xuất sạch hơn tại các làng nghề ở Việt Nam
Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tính đến
31-12-2014 số làng nghề và làng có nghề ở nước ta là 5.096 làng nghề Số làng nghề truyền thống được công nhận theo tiêu chí làng nghề hiện nay của Chính phủ là 1.748 làng nghề, thu hút khoảng 13 triệu lao động (Nhật Minh, 2015)
Vấn đề môi trường mà các làng nghề đang phải đối mặt không chỉ giới hạn
ở trong phạm vi các làng nghề mà còn ảnh hưởng đến người dân ở vùng lân cận Chất lượng môi trường tại hầu hết các làng nghề đều không đạt tiêu chuẩn khiến người lao động phải tiếp xúc với các nguy cơ gây hại cho sức khỏe, trong đó 95% là từ bụi; 85,9% từ nhiệt và 59,6% từ hóa chất (Báo cáo môi trường quốc gia, 2008)
Kết quả khảo sát 52 làng nghề điển hình trong cả nước của Đề tài KC 08.09 ( 2005) cho thấy, 46% làng nghề có môi trường bị ô nhiễm nặng ở cả 3 dạng; 27% ô nhiễm vừa và 27% ô nhiễm nhẹ” (Báo cáo môi trường quốc gia, 2008)
Ví dụ như Hà Nội là nơi tập trung đông đảo các làng nghề truyền thống Làng nghề thủ công ở Hà Nội có rất nhiều nguồn gốc khác nhau, những làng nghề có sẵn chiếm phần nhỏ trong tổng số làng nghề đa phần đều được di dời từ nơi khác về Mệnh danh là “đất trăm nghề”, tình trạng ô nhiễm môi trường ở Hà Nội nhiều năm qua đã trở thành một trong những vấn đề nổi cộm khi với 272 làng nghề, không khí tại các làng nghề chế biến nông sản thực phẩm thường bị ô nhiễm do đốt nhiên liệu, do sự phân hủy yếm khí các chất hữu cơ có trong nước thải, chất thải rắn như CO2, NH3, CH4 Không khí tại các làng nghề mây tre đan, làm nón, tăm hương… bị ô nhiễm do khâu sấy chống mốc dùng diêm sinh gây phát sinh một lượng lớn khí SO2 Không khí tại các làng nghề dệt nhuộm bị ô nhiễm do bụi bông, bụi than, hơi hóa chất, xút thải… Không những gây ảnh hưởng đến môi trường, ô nhiễm làng nghề còn khiến cho tỷ lệ mắc bệnh tại các làng nghề có xu hướng tăng cao, đặc biệt là các nhóm người trong độ tuổi lao động (Nguyễn Hương, 2016)
Trang 26Thiết bị được sử dụng tại các làng nghề là máy móc, trang thiết bị đơn giản
Số máy móc hiện đại chỉ tập trung tại một số làng với những ngành nghề như dệt, may, gốm sứ Bên cạnh đó, hệ thống xử lý nước thải tại các khu vực làng nghề nhìn chung vẫn chưa được quan tâm đầu tư xây dựng Do vậy, ô nhiễm môi trường làng nghề đang trở thành tình trạng chung, là vấn đề nổi cộm của hầu hết các làng nghề ngoại thành Hà Nội và ngày càng có nguy cơ đe dọa nghiêm trọng đến môi trường sống cũng như phát triển sản xuất ( Nhật Minh, 2015)
Tuy nhiên, ô nhiễm môi trường tại các làng nghề hoàn toàn có thể khắc phục được nếu áp dụng các giải pháp sản xuất sạch hơn Điển hình như làng gốm Bát Tràng, trước đây, mỗi ngày, làng nghề tiêu thụ khoảng 800 tấn than và thải vào môi trường các loại khí độc hại: CO, SO2, H2S, bụi silic, chất thải rắn nhưng từ khi các cơ sở sản xuất tại làng nghề Bát Tràng chuyển đổi công nghệ nung gốm từ lò than, lò ga truyền thống sang lò gas hiện đại đã giúp giảm tiêu hao năng lượng, giảm thiểu tình trạng ô nhiễm môi trường của công nghệ sản xuất trước kia, giải quyết việc làm cho khoảng 4.000 lao động Doanh thu của xã Bát Tràng hiện nay đạt 400 tỷ đồng/năm, bình quân 22 triệu đồng/người, lợi nhuận tăng gấp 2-3 lần so với công nghệ cũ (Nguyễn Hương, 2016)
Một số doanh nghiệp mây tre đan ở làng nghề Phú Vinh (xã Phú Nghĩa, huyện Chương Mỹ) đã áp dụng sản xuất sạch hơn, đem lại nhiều lợi ích từ kinh tế đến môi trường Khi chưa áp dụng sản xuất sạch hơn, doanh nghiệp bị hao hụt tới 10% mây tươi ở khâu luộc, tẩm, thu mua Hóa chất tổn thất nhiều do hệ thống luộc
và tẩm mây làm bằng xi măng không có gia nhiệt; cũng ở khâu này, thêm 10% nguyên liệu tiếp tục bị hao hụt Khi thực hiện sản xuất sạch hơn, kết quả mang lại rất khả quan, lượng nguyên liệu hao hụt giảm mạnh mà doanh nghiệp không mất nhiều chi phí, đặc biệt, giảm phát thải ra môi trường (Nguyễn Hương, 2016) Các làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi và giết mổ: Có số làng nghề lớn, chiếm 20% tổng số làng nghề, phân bố khá đều trên cả nước, phần nhiều sử dụng lao động lúc nông nhàn, không yêu cầu trình độ cao, hình thức sản xuất thủ công và gần như ít thay đổi về quy trình sản xuất so với thời điểm hình thành làng nghề Phần lớn các làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm nước ta
là các làng nghề thủ công truyền thống nổi tiếng như nấu rượu, làm bánh đa nem, đậu phụ, miến dong, bún, bánh đậu xanh, bánh gai,… với nguyên liệu chính là gạo, ngô, khoai, sắn, đậu và thường gắn với hoạt động chăn nuôi ở quy mô gia đình ( Báo cáo môi trường quốc gia, 2008)
Trang 27Các làng nghề chế biến lương thực thực phẩm có nhu cầu sử dụng nước rất lớn và thải ra một lượng nước thải không nhỏ, giảu chất hửu cơ gây ô nhiễm môi trường, bên cạnh đó các vấn đề về chất lượng môi trường không khí tại các làng nghề cũng là vấn đề cần được quan tâm Ô nhiễm môi trường tại các làng nghề hoàn toàn có thể khắc phục được nếu áp dụng các giải pháp sản xuất sạch hơn Ví
dụ như Làng nghề bún, mì sợi Hùng Lô (Xã Hùng Lô, Tp Việt Trì, Phú Thọ) đang có những bước tiến dài về kinh tế và đời sống của người dân Hiệu quả tích cực từ việc áp dụng chương trình “sản xuất sạch hơn” (SXSH) đang mang lại hiệu quả cao trong sản xuất và giảm đáng kể tình trạng ô nhiễm môi trường Theo ông Nguyễn Tiến Đức - Chủ tịch UBND xã Hùng Lô, cho biết: “heo thống kê của UBND xã, trong nhiều năm trở lại đây, tổng giá trị sản xuất toàn xã Hùng Lô luôn đạt trên 120 tỷ đồng/năm Trong đó, các ngành TTCN và dịch vụ luôn chiếm tỷ trọng trên 80% (còn lại là nông nghiệp, dưới 20%) Trước đây, 80% cơ
sở sản xuất tại Hùng Lô không có hệ thống xử lý chất thải, gần 70% máy móc thô
sơ lạc hậu, lượng chất thải gia tăng, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Nhưng kể từ khi áp dụng SXSH, ý thức người dân được nâng cao, máy móc được hiện đại hóa, góp phần tăng năng suất lao động và giảm đáng kể ô nhiễm môi trường” Các hộ làm nghề tại Hùng Lô chia sẻ, việc áp dụng mô hình SXSH giúp tiết kiệm gần 10% chi phí nguyên liệu, năng xuất tăng lên hơn 20% Đặc biệt, lượng chất thải và khí thải đã được giảm thiểu nhờ hệ thống thoát nước, và xử lý khói bụi được trang bị tại từng cơ sở (Bộ Công Thương, 2016)
2.2 TỔNG QUAN VỀ LÀNG NGHỀ SẢN XUẤT ĐẬU PHỤ
Trong thực tế, công nghệ sản xuất đậu phụ khá đơn giản, dễ thực hiện vì thế sản xuất đậu phụ rất phổ biến ở quy mô hộ gia đình và có mặt hầu khắp các địa phương trong nước Sản phẩm làm ra tại mỗi địa phương hay mỗi hộ gia đình có chất lượng sản phẩm khá khác biệt
Hầu hết các công đoạn sản xuất đậu phụ đều được cơ giới hóa: Đỗ tương sau khi đãi sạch, ngâm cho trương lên rồi được đưa sang công đoạn xay ướt, bột lỏng sau đó xay ướt và lọc bằng túi vải để tách phần bã đậu Nước đậu sau khi lọc được nấu chín, sản phẩm là sữa đậu nành được đưa sang công đoạn đánh giấm chua, tách phần óc đậu đưa vào ép khuôn tạo thành đậu phụ thành phẩm ( Trịnh Thị Thanh Tâm, 2013; Nguyễn Thị Tình, 2014)
Trang 282.2.1 Quy trình sản xuất đậu phụ
Đậu nành
Sơ đồ 2.2 Quy trình sản xuất đậu phụ
• Thuyết minh quy trình
1 Giai đoạn ngâm hạt
Trong phương pháp xay ướt, hạt đậu phải qua giai đoạn ngâm Ngâm hạt nhằm mục đích làm hạt đậu hút nước và trương lên Khi đó, các phân tử nước có tính lưỡng cực sẽ tác động lên các phân tử protein, lipit, gluxit và cenluloza Quá trình này xảy ra qua hai giai đoạn:
+ Giai đoạn 1: xảy ra quá trình solvat hóa, ở giai đoạn này các liên kết trong hạt đậu chưa bị phá vỡ
+ Giai đoạn 2: xảy ra khi các phân tử nước tiếp tục tác động và phá vỡ liên kết các phân tử trong hạt đậu và chuyển chúng sang trạng thái dịch thể keo linh động nằm trong các tế bào hạt đậu
Nhiên liệu
Ép Kết tủa
Nước
- Bụi
- Khí thải: CO, NO x , SO 2
- Xỉ than Nước thải Ngâm, rửa
Trang 29Có ba yếu tố ảnh hưởng rất nhiều đến quá trình ngâm là thời gian ngâm, lượng nước ngâm và nhiệt độ ngâm
+ Thời gian ngâm: Nhiệt độ ngoài trời từ 15 – 25°C ngâm trong 5 – 6 giờ, nếu nhiệt độ 25 – 30°C thì ngâm trong 3 – 4 giờ Kết thúc giai đoạn ngâm là thời điểm độ ẩm hạt đậu đạt 55 – 65% là tốt nhất
+ Nhiệt độ ngâm: Nếu ngâm ở nhiệt độ cao, tốc độ trương của hạt nhanh nhưng độ trương của hạt nhỏ Nếu độ trương nhỏ thì các thành phần trong hạt đậu chỉ ở trạng thái keo đông, không phải dịch thể keo, do đó, khó hòa tan Nhiệt
độ nước dùng để ngâm đậu tốt nhất là 20 -25°C
+ Lượng nước ngâm thường được sử dụng: Đậu/nước = 1/ 2,5
Lượng nước ngâm này sẽ giúp độ trương của hạt đậu đạt tương đối cao, độ chua thấp (khoảng 2,23g axit acetic / 100g đậu) và sự hao tổn chất khô nhỏ (0,6g / 100g đậu) (Trịnh Thị Thanh Tâm, 2013; Nguyễn Thị Tình, 2014)
2 Xay
Xay là một quá trình cơ học để phá vỡ tế bào, nhằm giải phóng protein, lipit
và gluxit… Nhờ có nước hòa tan các chất này và chuyển chúng sang dạng huyền phù Yếu tố qua trọng nhất trong giai đoạn này là lượng nước cần thiết cho vào trong khi xay Nếu ít nước thì việc hòa tan các chất sẽ kém và tạo ma sát mạnh gây nên hiện tượng tăng nhiệt làm protein biến tính, do đó khả năng tan của protein sẽ kém đi Nếu quá nhiều nước sẽ làm tăng lượng hòa tan các chất nhưng lại gây khó khăn trong các giai đoạn chế biến sau
Lượng nước dùng để xay bột tốt nhất nên theo tỷ lệ: Đậu/nước = 1/6
Trong khi xay phải cho nước chảy vào liên tục Trong quá trình xay, saponin sẽ tạo bọt Vì vậy, phải cho chất phá bọt, chất phá bọt thường dùng với
tỷ lệ 0,05% so với lượng đậu từ máng dẫn vào (Trịnh Thị Thanh Tâm, 2013; Nguyễn Thị Tình, 2014)
Trang 30hai bước: lọc tinh và lọc thô Sữa khi lọc tinh xong cần phải đạt các tiêu chuẩn sau: Nồng độ sữa 0,4 – 0,5°Be; pH = 6 – 6,5; Lượng nước sữa thu được từ 1kg đậu là 9 lít
Thành phần hóa học của dịch sữa: đạm tổng số 27 – 30 g/l; lipit 13 – 16 g/l; gluxit 3,2 – 4,5 g/l; chất khô 4,5 – 5 g/l
Sữa sau khi lọc xong thường có 15 000 – 20 000 vi khuẩn lactic/l
Lượng axit lactic tạo thành sẽ làm thay đổi pH dịch sữa Sự thay đổi pH sẽ làm thay đổi căn bản tính chất protein Khi pH dịch sữa tới gần điểm đẳng điện của protein đậu nành thì khối sữa sẽ đóng vón lại, gây khó khăn cho quá trình ép sau này Do đó, sữa kể từ khi xay đến khi lọc xong không nên kéo dài quá 30 phút về mùa hè và 50 phút về mùa đông
Bã lọc là phần rắn sau khi lọc có thành phần hóa học như sau: Protein 3 – 4%; lipit 1 – 2%; gluxit 5 – 6%; độ ẩm 80 – 90% Bã đậu là thức ăn gia súc rất tốt, dễ gây thối, vì thế bã phải được sử dụng ngay (Trịnh Thị Thanh Tâm, 2013; Nguyễn Thị Tình, 2014)
4 Gia nhiệt, kết tủa
Dịch sữa sau khi lọc xong phải đem gia nhiệt ngay Gia nhiệt nhằm phá enzym kháng trypxin và độc tố afltoxin, diệt vi sinh vật, khử mùi tanh của đậu nành, phá vỡ lớp solvat (lớp nước bao quanh) tạo điều kiện cho các phần tử sữa gần nhau hơn và dễ keo tụ hơn
Thời gian gia nhiệt càng nhanh càng tốt Thời gian đun sôi 100 lít sữa trong phạm vi 5 – 10 phút là tốt nhất, trong quá trình đun sôi khuấy đảo liên tục tránh cháy khét dung dịch sữa
Sau khi đun sữa phải kết tủa sữa ngay Sự kết tủa protein có nhiều nguyên nhân như: sự tác dụng của nhiệt, sự thay đổi pH về vùng đẳng điện, tác dụng của muối
Trong quá trình kết tủa, ta đun sôi sữa đến 95 – 100°C để gây biến tính nhiệt và dùng tác dụng gây kết tủa protein Tác nhân gây kết tủa có nhiều loại như nước chua tự nhiên, , acid acetic, acid lactic, clohydric,… Trong các loại kết tủa trên, nước chua tự nhiên được dùng thích hợp nhất, nhưng đòi hỏi người công nhân phải có kinh nghiệm nhiều
Điều kiện để kết tủa sữa như sau:
Trang 31+ Nhiệt độ dịch sữa khi kết tủa > 95°C
+ pH của dịch sữa khi kết tủa > 6
+ pH của nước chua 4 – 4,5
pH của nước chua có ý nghĩa rất lớn trong việc kết tủa, nếu pH cao thì lượng nước chua phải sử dụng nhiều, nếu pH thấp thì hiệu suất thu hồi đạm thấp Khi dịch sữa đạt 95°C ta cho nước chua vào từ từ Quá trình này nên theo 3 giai đoạn: Giai đoạn đầu tiên nên dùng ½ lượng nước chua cần dùng, sau 3 phút cho
½ lượng nước chua còn lại và sau 3 phút tiếp theo cho hết lượng nước chua Thường lượng nước chua đem kết tủa chiếm 20 – 22% lượng sữa (Trịnh Thị Thanh Tâm, 2013; Nguyễn Thị Tình, 2014)
5 Ép định hình bánh đậu và ngâm nước
Sau khi kết tủa và chất bã nước trong, ta có óc đậu hay hoa đậu Đưa hoa đậu vào khuôn ép Nhiệt độ của hoa đậu đem ép tốt nhất là 70 – 80°C, nếu để nhiệt độ dưới 60°C thì hoa đậu không kết dính được, bánh đậu bở và không định hình được Thời gian ép thường là 10 phút (Trịnh Thị Thanh Tâm, 2013; Nguyễn Thị Tình, 2014)
2.2.2 Sản xuất đậu phụ và các vấn đề môi trường
- Môi trường nước
Tại các làng nghề ở Việt Nam, 100% mẫu nước thải đều có các thông số vượt quá tiêu chuẩn cho phép; nước mặt, nước ngầm đều có dấu hiệu ô nhiễm, như ở các làng nghề chế biến nông sản thực phẩm, dệt nhuộm nước thải cống chung tại khu vực sản xuất chứa hàm lượng BOD5 rất cao, có khi lên tới 2.003 mg/ lít, như làng nghề bún thôn Đoài (Bắc Ninh) Hoặc hàm lượng COD trong nước thải cao hơn so với tiêu chuẩn cho phép từ 3,2 – 8,93 lần (Đặng Kim Chi, 2005)
Chế biến lương thưc, thực phẩm là ngành có nhu cầu nước rất lớn và thải ra một lượng nước thải không nhỏ, giàu chất hữu cơ gây ô nhiễm môi trường Nước thải các làng nghề sản xuất bún, bánh,… đều có BOD vượt quá TCCP từ 12,8 –
140 lần; COD vượt quá TCCP từ 9,7 – 87 lần Hầu hết nước thải có pH thấp, thể hiện chất thải hữu cơ đã bị phân giải yếm khí Tại hầu hết các làng nghề chỉ tiêu BOD, COD, SS đều lớn hơn rất nhiều so với tiêu chuẩn, các chất gây ô nhiễm này không được xử lý sẽ phát sinh ra nhiều dạng khí gây ô nhiễm môi trường như
Trang 32Bảng 2.2 Lượng nước thải trong sản xuất đậu phụ (trên 1 tấn sản phẩm) STT Công đoạn sản xuất Mức nước thải (m3) Tỷ lệ
Nguồn: Đặng Kim Chi (2005)
Qua bảng trên ta thấy, lượng nước thải ra từ quá trình sản xuất khoảng 1,52
m3/ 1 tấn sản phẩm Lượng nước thải này có chứa hàm lượng chất hữu cơ lớn và gây ô nhiểm môi trường nếu không qua xử lý
Môi trường không khí:
Ô nhiễm không khí chủ yếu tập trung ở các làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng, gốm, sứ, nhựa Làng nghề sản xuất đậu phụ sử dụng nguyên liệu than là nguyên liệu chính cho quá trình sản xuất Theo Đặng Kim Chi ( 2005) lượng than tiêu thụ cho quá trình sản xuất đậu phụ khoảng 80 kg than/ 1 tấn nguyên liệu Lượng than sử dụng tuy không nhiều nhưng nếu mà không có các biện pháp giảm thiểu thì sẽ gây ô nhiễm môi trường làng nghề
Chất thải rắn: Bã đậu thải ra ngoài có hàm lượng ẩm rất cao khoảng
W=88,68%, định mức thải là 2 tấn bã/1 tấn nguyên liệu(~ 0,625 tấn bã/ tấn sản phẩm) Ngoài ra còn có lượng xỉ than khá lớn từ sản xuất với khối lượng chiếm 20% lượng than sử dụng Do đó, ta cần có những biện pháp xử lý chất thải rắn của quá trình sản xuất nhằm giảm thiểu lượng chất thải thải ra môi trường
Bảng 2.3 Khối lượng chất thải rắn do sản xuất đậu phụ
Nguồn: Đặng Kim Chi (2005)
Sản xuất sạch hơn là việc áp dụng liên tục chiến lược phòng ngừa tổng hợp về môi trường vào các quá trình sản xuất, sản phẩm và dịch vụ nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất và giảm thiểu rủi ro cho con người và môi trường Việc
áp dụng sản xuất sạch hơn không chỉ đem lại hiệu quả về mặt môi trường, mà
Trang 33còn giúp các doanh nghiệp giảm chỉ phí sản xuất, chi phí xử lý và thải bỏ chất thải và giảm trách nhiệm pháp lý Các kết quả áp dụng sản xuất sạch hơn ở các nước phát triển như Mỹ, Hà Lan, Canada cũng như ở các nước đang pháp triển như Ấn Độ, Trung Quốc và các nước có nền kinh tế chuyển đổi đều cho thấy tính ưu việt của SXSH: vừa mang lại hiệu quả về môi trường, vừa mang lại hiệu quả về kinh tế
Ở Việt Nam, sản xuất sạch hơn được giới thiệu và áp dụng thử nghiệm trong công nghiệp vào năm 1995 Đến nay, sản xuất sạch hơn đã được áp dụng rộng rãi, có 8 ngành sản xuất có trên 100 doanh nghiệp nhận thức về SXSH là dệt may, rau quả nông sản, mỏ và khai thác, xi măng- gạch –gốm, thủy sản, gỗ- tre- nứa và nhựa cao su và thực phẩm khác
Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tính đến
31-12-2014 số làng nghề và làng có nghề nước ta là 5.096 Sự phát triển ồ ạt và thiếu định hướng từ nhà quản lý tại các làng nghề đã dẫn đến nhiều hậu quả tiêu cực, đặc biệt là vấn đề môi trường: ô nhiễm đất, nước, không khí và tiếng ồn từ hoạt động làm nghề Sản xuất sạch hơn được đề xuất như một giải pháp tối ưu nhằm giảm thiểu ô nhiễm tại các làng nghề (trung tâm tiết kiệm năng lượng Hà Nội, 2014) Ứng dụng các giải pháp sản xuất sạch hơn nhằm giảm ô nhiễm và tăng hiệu quả kinh tế tại các khu vực làng nghề là một trong những trọng tâm của hoạt động sản xuất sạch hơn đang được các địa phương triển khai Điển hình như một
số doanh nghiệp mây tre đan ở làng nghề Phú Vinh (xã Phú Nghĩa, huyện Chương Mỹ) cũng đã áp dụng sản xuất sạch hơn, đem lại nhiều lợi ích từ kinh tế đến môi trường Khi chưa áp dụng sản xuất sạch hơn, doanh nghiệp bị hao hụt tới 10% mây tươi ở khâu luộc, tẩm, thu mua Hóa chất tổn thất nhiều do hệ thống luộc và tẩm mây làm bằng xi măng không có gia nhiệt; cũng ở khâu này, thêm 10% nguyên liệu tiếp tục bị hao hụt Khi thực hiện sản xuất sạch hơn, kết quả mang lại rất khả quan, lượng nguyên liệu hao hụt giảm mạnh mà doanh nghiệp không mất nhiều chi phí, đặc biệt, giảm phát thải ra môi trường
Các làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm sử dụng lượng lớn nước và lượng nước thải tạo ra vô cùng lớn Do đó, việc áp dụng sản xuất sạch hơn vừa đem lại hiệu quả về kinh tế vừa đem lại những lợi ích về môi trường
Trang 34PHẦN 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Quy trình sản xuất đậu phụ tại làng nghề thôn Xuân Lôi, các chỉ tiêu nghiên cứu như đầu vào, đầu ra về nguyên liệu, năng lượng và chất thải
3.2 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Phạm vi không gian: Tại làng nghề sản xuất đậu phụ thôn Xuân Lôi, xã Đình Dù, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên
- Thời gian nghiên cứu: tháng 5/2015 - tháng 9/2016
3.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Đặc điểm làng nghề và quy trình sản xuất đậu phụ thôn Xuân Lôi;
- Phân tích, đánh giá quy trình sản xuất đậu phụ;
- Phân tích đánh giá công đoạn;
- Xây dựng và lựa chọn các cơ hội sản xuất sạch hơn;
- Đánh giá tính khả thi của các giải pháp lựa chọn;
- Đề xuất kế hoạch hoạt động để thực hiện các giải pháp SXSH
3.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.4.1 Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp
Đề tài tiến hành thu thập các tài liệu, số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế-
xã hội Các số liệu, tài liệu liên quan đến tình hình phát triển làng nghề, quy trìnhsản xuất của làng nghề, tài liệu SXSH và hiện trạng áp dụng các giải pháp SXSH trong ngành nghề, từ các nguồn đáng tin cậy như:
- Phòng Tài nguyên & Môi trường , huyện Văn Lâm: Tình hình phát triển làng nghề của huyện Văn Lâm, tình hình ô nhiễm môi trường làng nghề của huyện
- UBND xã Đình Dù: Điều kiện tự nhiên,kinh tế- xã hội, tình hình kinh tế làng nghề sản xuất đậu phụ Xuân Lôi
- Thư viện trường Học viện Nông Nghiệp Việt Nam và thư viện khoa Môi trường
- Thu thập trên sách báo, tạp chí, internet, các tài liệu, các công trình nghiên cứu khoa học có liên quan được công bố
Trang 353.4.2 Phương pháp lấy mẫu
* Đối với mẫu không khí
Tiến hành lấy mẫu tại 6 điểm:
XLK1: Đường làng gần nhà thờ họ Đỗ (Tọa độ:20°58'38,67"N; 106°00'33,48" E)
XLK2: Hộ SX ông Lê Xuân Đảo (Tọa độ: 20°58'26,80"N;106°00'23,70" E) XLK3: Khu vực SX hộ ông Đỗ Văn Chung (Tọa độ: 20°58'38,67"N; 106°00'33,48" E)
XLK4: Hộ SX ông Đỗ Ngọc Dư (Tọa độ: 20°58'41,20"N; 106°02'21,70" E) XLK5: Đường làng cuối thôn (Tọa độ: 20°58'48,20"N; 106°32'32,80" E) XLK6: Hộ SX ông Lê Văn Dũng (Tọa độ: 20°58'40,60"N; 106°28'32,50" E)
* Đối với mẫu nước
- Nước thải sản xuất tại làng nghề: tiến hành lấy mẫu tại 2 điểm:
XLNT1: Nước thải giữa làng, gần đình làng (Tọa độ: 20º58’38,67” N; 106º00’33,48” E)
XLNT2: Nước thải cuối làng (Tọa độ: 20º58’11,12” N; 106º58’16,38” E)
- Nước mặt tại làng nghề sản xuất đậu phụ: tiến hành lấy mẫu tại hai điểm: XLNM1: Ao thôn Xuân Lôi (Tọa độ: 20º58’11,12” N; 106º58’16,38” E) XLNM2: Ao cuối làng Xuân Lôi (Tọađộ:20º58’38,67”N;106º00’33,48” E)
- Nước ngầm: tiến hành lấy mẫu tại hai điểm
XLNN1: Nước tại hộ ông Lê Văn Dũng (Tọa độ: 20°58'40,60"N; 106°28'32,50" E)
XLNN2:Nước tại hộ ông Đỗ Ngọc Dư (Tọa độ: 20°58'41,20"N; 106°02'21,70" E)
• Đối với mẫu đất
XL-Đ1: Đất cuối thôn Xuân lôi (Tọa độ: 20º58’38,67”N ;106º00’33,48”E) XL-Đ2: Đất gần ao thôn Xuân Lôi (Tọa độ: 20º58’11,12” N; 106º58’16,38” E)
3.4.3 Thu thập số liệu sơ cấp
3.4.3.1 Phương pháp khảo sát thực địa
- Quan sát trực tiếp về tình hình sản xuất của người dân, quy mô, dây chuyền, quy trình công nghệ sản xuất tại các hộ gia đình sản xuất đậu phụ tại
Trang 36thôn Xuân Lôi Thông qua quan sát trực tiếp ta sẽ thu được những thông tin sơ
bộ về:
+ Hiện trạng môi trường
+ Đặc điểm sản xuất: hiện trạng sản xuất, quy trình sản xuất, chi phí đầu tư
và nhu cầu nguyên, nhiên liệu cho quá trình sản xuất
- Chụp ảnh khảo sát để có cái nhìn tổng quan về làng nghề
3.4.3.2 Phương pháp điều tra, phỏng vấn
Đề tài tiến hành phỏng vấn các cơ sở sản xuất về quá trình sản xuất, các công đoạn và mức tiêu thụ nguyên liệu và năng lượng theo các quy mô khác nhau:
+ 3 phiếu đối với hộ gia đình có quy mô sản xuất nhỏ (10kg đậu nành/1 ngày) + 5 phiếu đối với hộ gia đình có quy mô sản xuất trung bình (20 kg đậu nành/
1 ngày)
+ 2 phiếu đối với hộ gia đình có quy mô sản xuất lớn (30 kg đậu nành/1 ngày)
3.4.4 Phương pháp cân bằng vật chất
- Dựa vào các yếu tố đầu vào, đầu ra để tính toán cân bằng vật chất và sơ
đồ dòng cho từng công đoạn và cho cả quy trình sản xuất để xác định các khâu lãng phí và kém hiệu quả trong quy trình sản xuất
- Phương trình cân bằng vật chất:
∑ vật chất vào = ∑ vật chất ra + ∑ tổn thất
3.4.5 Phương pháp phân tích chi phí lợi ích
Muốn áp dụng sản xuất sạch hơn phải phân tích, chứng minh được những lợi nhuận mà khi áp dụng sản xuất sạch hơn một cách rõ ràng Đồng thời, xem xét tính khả thi về mặt kinh tế và môi trường của các phương pháp áp dụng sản xuất sạch hơn mang lại
-Tính khả thi về mặt kinh tế:
Tính khả thi về mặt kinh tế là một thông số quan trọng để quyết định việc chấp nhận hoặc loại bỏ cũng như xem xét thứ tự ưu tiên thực hiện các giải pháp sản xuất sạch hơn Phân tích tính khả thi về kinh tế được thực hiện bằng phương pháp tính thời gian thu hồi vốn
Có thể sử dụng tiêu chí đơn giản là “ Thời gian hoàn vốn” để đánh giá Thời gian hoàn vốn đơn giản là thời gian cần thiết để các dòng tiền tương lai dự tính
có thể hoàn lại được dòng tiền đầu tư ban đầu
Trang 37Thời gian hoàn vốn đơn giản sử dụng chủ yếu để đánh giá các đầu tư về thiết bị khi thời gian hoàn vốn ngắn ( 1-3 năm) mà không cần thiết phải sử dụng đến các phương pháp đánh giá chi tiết hơn
• Phương pháp tính
T: Thời gian hoàn vốn
V: Vốn đầu tư ban đầu đề thực hiện giải pháp( đồng)
K: Số tiền tích kiệm được khi thực hiện giải pháp ( đồng/năm)
T=
Ta có:
Tính khả thi về mặt kinh tế được đánh giá theo các mức độ cao, trung bình, thấp phụ thuộc vào chi phí đầu tư, thời gian hoàn vốn và khoản tiết kiệm của từng giải pháp
+ Cao: Thời gian hoàn vốn dưới 1 năm
+ Trung bình: Thời gian hoàn vốn < 3 năm
+ Thấp: Thời gian hoàn vốn không thay đổi
3.4.6 Phương pháp họp nhóm
Tiến hành họp nhóm bao gồm lãnh đạo UBND xã Đình Dù, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Văn Lâm, cán bộ địa chính môi trường xã Đình Dù, Trưởng thôn Lành Nghề, và các hộ gia đình sản xuất đậu phụ để tiến hành xây dựng, đánh giá các giải pháp theo các khía cạnh
3.4.7 Phương pháp đánh giá các đề xuất sản xuất sạch hơn
Phân chia các đề xuất sản xuất sạch hơn thành 3 nhóm giải pháp:
- Giải pháp có thể thực hiện ngay: thường nằm trong nhóm giải pháp quản
lý nội vi Đó là các giải pháp dễ dàng thực hiện, chi phí thấp, đem lại hiệu quả ngay sau quá trình áp dụng
- Giải pháp cần đánh giá thêm: Đó là những phải giải pháp có tính khả thi, tuy nhiên cần phải xem xét, đánh giá trên những phương diện kỹ thuật, môi trường và kinh tế
- Giải pháp bị loại bỏ: Là những giải pháp khó thực hiện, tính khả thi của giải pháp không cao
3.4.8 Tổng hợp và phân tích số liệu
Trang 38Số liệu sau khi được thu thập từ nguồn sơ cấp và thứ cấp được tổng hợp và
xử lý bằng phần mềm Excel,
*Phương pháp phân tích so sánh
Trên cơ sở thu thập các kết quả phân tích môi trường của Làng nghề sản
xuất đậu phụ Xuân Lôi đã có, so sánh với các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường
QCVN 05: 2013/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng không khí xung quanh
QCVN 06: 2009/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về một số chất độc hại trong môi trường không khí xung quanh
QCVN 26: 2010/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tiếng ồn
QCVN 40: 2011/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về nước thải công nghiệp
QCVN 08: 2008/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước mặt
QCVN 09: 2008/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ngầm
QCVN 03: 2008/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về giới hạn cho phép của kim loại nặng trong đất
Dựa trên những so sánh với quy chuẩn môi trường để đánh giá hiện trạng môi trường của làng nghề
Trang 39PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 LÀNG NGHỀ SẢN XUẤT ĐẬU PHỤ THÔN XUÂN LÔI
4.1.1 Giới thiệu về làng nghề sản xuất đậu phụ thôn Xuân Lôi
• Điều kiện tự nhiên- kinh tế xã hội xã Đình Dù
Vị trí địa lý
Hình 4.1 Vị trí làng nghề sản xuất đậu phụ thôn Xuân Lôi
Xã Đình Dù là một xã nằm ở phía bắc của tỉnh Hưng Yên, bao gồm 5 thôn Tổng diện tích đất tự nhiên là 447,5 ha, có vị trí:
- Phía Bắc giáp xã Lạc Đạo và thị trấn Như Quỳnh
- Phía Nam giáp xã Lạc Hồng và xã Trưng Trắc
- Phía Đông giáp xã Minh Hải
- Phía Tây giáp xã Trưng Trắc và Tân Quang
Trang 40Xã có vị trí địa lý thuận lợi, có đường quốc lộ 5, đường sắt, đường tỉnh
385 và đường tỉnh lộ 206 chạy qua Nằm cách không xa thành phố Hưng Yên và thủ đô Hà Nội, đây là hai thị trường rộng lớn, đồng thời là nơi cung cấp thông tin, chuyển giao công nghệ và tiếp thị thuận lợi đến mọi miền đất nước và quốc
tế Nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng, đất đai màu mỡ, hệ thống thủy lợi tương đối hoàn chỉnh nên Đình Dù có điều kiện phát triển những vùng chuyên canh lúa chất lượng cao.Với vị trí địa lý như trên Đình Dù có nhiều điều kiện cho
sự phát triển kinh tế xã hội
Địa hình
Cũng như các xã khác của huyện Văn Lâm, Đình Dù nằm trong vùng địa hình bằng phẳng Độ cao bề mặt hầu hết từ 4,9 - 5m so với mức nước biển, độ chênh lệch địa hình không quá 1m
10 số giờ nắng chiếm 1080 – 1100 giờ, mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau chiếm khoảng 500 – 520 giờ Chế độ mưa ở xã thay đổi nhiều trong năm: lượng mưa hàng năm từ 1.450 – 1.650 mm, mưa tập trung nhiều vào các tháng 7,8 và 9 Ngày có lượng mưa cao nhất có thể đạt tới 200 – 300 mm Lượng mưa trong những tháng mùa mưa trung bình từ 1.200 – 1.300 mm chiếm từ 80- 85% tổng lượng mưa, mùa khô lượng mưa trung bình 200 – 300 mm chiếm khoảng 15 – 20% tổng lượng mưa Số ngày mưa khoảng 140 – 150 ngày, mưa nhỏ, mưa phùn chiếm 60- 65 ngày Độ ẩm không khí trung bình cả năm dao động từ 85 - 86% Các tháng có độ ẩm không khí cao là tháng 2 và tháng 3 lên tới 92%, thấp nhất là vào các ngày có gió Tây Nam, có khi xuống tới dưới 80% Có hai hướng gió chính là: gió Đông Nam thổi vào mùa hạ, gió Đông Bắc vào mùa đông Gió Đông Nam chiếm ưu thế hơn sau đó đến gió Đông Bắc, các hướng gió khác chỉ xuất hiện đan xen nhau với tần suất thấp, không thành hệ thống Do nằm trong vùng Vịnh Bắc Bộ nên trung bình mỗi năm xã bị ảnh hưởng từ 4 - 6 cơn bão kèm theo mưa to và gió mạnh, gây ảnh hưởng đến sản xuất và sinh hoạt của người dân Tuy nhiên không gây ứng lụt nghiêm trọng