TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Tên tác giả: Nguyễn Văn Tiến Tên luận văn: “Nghiên cứu bảo tồn và phát triển nghề truyền thống trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội” Ngành: Phát triển nông thô
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN VĂN TIẾN
NGHIÊN CỨU BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN MỘT SỐ
NGHỀ TRUYỀN THỐNG TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN GIA LÂM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Phát triển nông thôn
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Bảo Dương
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn này là trung thực, khách quan và chưa từng được công bố trong bất kỳ một tài liệu khoa học nào Các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Nếu lời cam đoan trên là sai, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm trước Khoa và Học viện
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Tiến
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn
bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết
ơn sâu sắc tới PGS.TS Phạm Bảo Dương đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo,
Bộ môn Kinh tế nông nghiệp và chính sách, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức các phòng Kinh tế, phòng Tài nguyên & Môi trường, phòng Tài chính – Kế hoạch, Chi cục Thống kê huyện Gia Lâm, các cán bộ xã, các doanh nghiệp, Hợp tác xã, tổ hợp tác và nhân dân được khảo sát tại nơi có nghề truyền thống trên địa bàn huyện Gia Lâm đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Tiến
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt v
Danh mục bảng vi
Trích yếu luận văn viii
Thesis abstract x
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu chung 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
1.4 Câu hỏi nghiên cứu 4
1.5 Đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn 4
Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về bảo tồn và phát triển nghề truyền thống 5
2.1 Cơ sở lý luận 5
2.1.1 Một số khái niệm liên quan 5
2.1.2 Đặc điểm và vai trò của bảo tồn nghề truyền thống 12
2.1.3 Điều kiện bảo tồn và phát triển nghề truyền thống 17
2.1.4 Nội dung nghiên cứu bảo tồn và phát triển nghề truyền thống 18
2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến bảo tồn và phát triển nghề truyền thống 19
2.2 Cơ sở thực tiễn 21
2.2.1 Kinh nghiệm về bảo tồn và phát triển nghề truyền thống của một số nước trên thế giới 21
2.2.2 Kinh nghiệm về bảo tồn và phát triền nghề truyền thống ở mốt số địa phương của Việt Nam 25
2.2.3 Bài học kinh nghiệm rút ra cho bảo tồn và phát triển nghề truyền thống đối với huyện Gia Lâm 27
Phần 3 Phương pháp nghiên cứu 29
Trang 53.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 29
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 29
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 30
3.2 Phương pháp nghiên cứu 36
3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 36
3.2.2 Phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu 39
3.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 39
Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 40
4.1 Thực trạng bảo tồn và phát triển nghề truyền thống trên địa bàn huyện Gia Lâm 40
4.1.1 Thực trạng bảo tồn và phát triển nghề truyền thống 40
4.2 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới bảo tồn và phát triển nghề truyền thống huyện Gia Lâm 72
4.2.1 Chủ trương, chính sách, quy định về bảo tồn và phát triển nghề truyền thống 72
4.2.2 Công tác quản lý Nhà nước 75
4.2.3 Đầu tư cho bảo tồn và phát triển nghề truyền thống 76
4.2.4 Nguồn nguyên liệu đầu vào và thị trường đầu ra 79
4.3 Đề xuất giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển nghề truyền thống trên địa bàn huyện Gia Lâm 80
4.3.1 Những quan điểm phát triển nghề truyền thống 80
4.3.2 Định hướng phát triển nghề truyền thống 81
4.3.3 Những giải pháp phát triển nghề truyền thống ở huyện Gia Lâm 82
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 97
5.1 Kết luận 97
5.2 Kiến nghị 98
5.2.1 Đối với Nhà nước 98
5.2.2 Đối với thành phố Hà Nội và huyện Gia Lâm 98
5.2.3 Đối với các cơ sở sản xuất 99
Tài liệu tham khảo 100
Phụ lục 103
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Nhóm nghề thủ công truyền thống 9
Bảng 3.1 Tình hình sử dụng đất đai của huyện Gia Lâm (2013 – 2015) 32
Bảng 3.2 Một số chỉ tiêu về dân số - xã hội huyện Gia Lâm (2013 - 2015) 33
Bảng 3.3 Giá trị sản xuất các ngành kinh tế của huyện Gia Lâm 3 năm (2013-2015) 35
Bảng 3.4 Đối tượng, số mẫu và nội dung tổ chức điều tra 38
Bảng 3.5 Số lượng cơ sở sản xuất và số cơ sở điều tra năm 2016 38
Bảng 4.1 Nghề truyền thống, thời gian xuất hiện và sản phẩm chính tại các điểm nghiên cứu 47
Bảng 4.2 Kế hoạch bảo tồn và xây dựng nghề truyền thống 49
Bảng 4.3 Danh mục quy hoạch đất cho bảo tồn và phát triển làng nghề của huyện Gia Lâm 49
Bảng 4.4 Loại hình tổ chức sản xuất nghề truyền thống giai đoạn 2013-2015 50
Bảng 4.5 Nguồn gốc học nghề truyền thống của người lao động trong các làng nghề huyện Gia Lâm 51
Bảng 4.6 Công tác đào tạo nghề truyền thống huyện Gia Lâm giai đoạn 2013-2015 52
Bảng 4.7 Nội dung các khoá đào tạo 53
Bảng 4.8 Tình hình sử dụng vốn của các cơ sở điều tra năm 2016 54
Bảng 4.9 Quy mô lao động tại các cơ sở điều tra năm 2016 56
Bảng 4.10 Trình độ kỹ thuật của lao động ở các cơ sở điều tra năm 2016 58
Bảng 4.11 Tình hình trang thiết bị của các cơ sở điều tra năm 2016 59
Bảng 4.12 Đất cho phát triển nghề truyền thống ở các cơ sở điều tra năm 2016 61
Bảng 4.13 Tình hình hoạt động của các cụm công nghiệp làng nghề huyện Gia Lâm năm 2016 64
Bảng 4.14 Kết quả sản xuất kinh doanh và hiệu quả kinh tế của các cơ sở sản xuất nghề truyền thống huyện Gia Lâm 66
Bảng 4.15 Đánh giá của người dân về vai trò của nghề truyền thống trong đời sống 67
Trang 8Bảng 4.16 Tổng hợp các tác nhân gây ô nhiễm môi trường từ nghề truyền thống
huyện Gia Lâm năm 2016 69 Bảng 4.17 Vấn đề môi trường và bảo hộ lao động ở các cơ sở điều tra năm 2016 70 Bảng 4.18 Kết quả đánh giá về các chính sách khuyến khích phát triển nghề
truyền thống trên địa bàn huyện Gia Lâm 75 Bảng 4.19 Kinh phí đầu tư cho bảo tồn và phát triển nghề truyền thống trên địa
bàn huyện Gia Lâm 78 Bảng 4.20 Tổng hợp các ý kiến về nguồn nguyên liệu đầu vào và thị trường đầu
ra của nghề truyền thống trên địa bàn huyện Gia Lâm 80
Trang 9TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Nguyễn Văn Tiến
Tên luận văn: “Nghiên cứu bảo tồn và phát triển nghề truyền thống trên địa bàn huyện
Gia Lâm, thành phố Hà Nội”
Ngành: Phát triển nông thôn Mã số: 60.62.01.16
Cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Gia Lâm là một huyện ngoại thành nằm ở cửa ngõ Đông Bắc Hà Nội, với địa thế nằm trong vùng giao thoa của văn hóa Thăng Long và văn hóa Kinh Bắc nên huyện Gia Lâm có rất nhiều nghề truyền thống cũng như các di tích lịch sử-văn hóa có giá trị Về làng nghề truyền thống, huyện Gia Lâm có làng nghề truyền thống Bát Tràng (sản xuất gốm sứ), Kiêu Kỵ (dát bạc, dát vàng, may da, đồ gỗ), Ninh Hiệp (trồng và kinh doanh thuốc nam, thuốc bắc, buôn bán vải vóc)… Tuy nhiên, nghề truyền thống của huyện đang rơi vào thực trạng chung của cả nước là có xu hướng thu hẹp sản xuất, hoạt động cầm chừng Do đó, việc bảo tồn và phát triển nghề truyền thống trên địa bàn huyện Gia Lâm mang tính cấp thiết cao Trên cơ sở đánh giá thực trạng và phân tích các yếu tố ảnh hưởng, nghiên cứu đề xuất giải pháp tăng cường bảo tồn và phát triển nghề truyền thống trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội trong thời gian tới Tương ứng với đó là mục tiêu cụ thể, bao gồm: (1) Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về bảo tồn và phát triển nghề truyền thống; (2) Đánh giá thực trạng và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến bảo tồn và phát triển nghề truyền thống trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội; (3) Đề xuất giải pháp tăng cường bảo tồn và phát triển nghề truyền thống trên địa bàn huyện Gia Lâm thời gian tới
Bảo tồn và phát triển nghề truyền thống là các hoạt động nhằm gìn giữ, phát huy các giá trị của nghề, là quá trình làm tăng lên về số lượng và chất lượng các sản phẩm sản xuất ra của nghề Việc bảo tồn và phát triển nghề đã giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người dân và đất nước; Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn; Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc
Trong nghiên cứu này, số liệu thứ cấp được thu thập thông qua Báo cáo phát triển kinh tế - xã hội của huyện Gia Lâm, Báo cáo quy hoạch sử dụng đất, Niên giám thống kê huyện Gia Lâm Ngoài ra, tham khảo các kết quả nghiên cứu đã công bố của các cơ quan nghiên cứu, các nhà khoa học Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua điều tra, phỏng vấn 103 cơ sở là các hộ, HTX, DN và 7 phiếu điều tra gồm: Lãnh đạo phòng kinh tế huyện Gia Lâm, cán bộ các phòng Kinh tế, Tài chính – Kế hoạch; Cán bộ xã Bằng các phương pháp thống kê mô tả, phân tổ thống kê, so sánh để phản ánh thực
Trang 10trạng và yếu tố ảnh hưởng đến bảo tồn và phát triển nghề truyền thống trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội trong thời gian qua
Kết quả nghiên cứu cho thấy, tổng giá trị sản xuất bình quân làm nghề của hộ gia đình đạt 307,1 triệu đồng, của doanh nghiệp, HTX và THT đạt 816,8 triệu đồng Thu nhập hỗn hợp của hộ gia đình đạt 122,84 triệu đồng, doanh nghiệp đạt 198,83 triệu đồng Ở loại hình Doanh nghiệp, 1 đồng chi phí bỏ ra tạo ra 1,52 đồng GO, 0,52 đồng
VA và 0,57 đồng thu nhập hỗn hợp Đối với hộ gia đình thì việc sử dụng vốn kém hiệu quả hơn, 1 đồng chi phí bỏ ra tạo ra 1,35 đồng GO, 0,35 đồng VA và 0,54 đồng thu nhập hỗn hợp Thu nhập hỗn hợp ở loại hình doanh nghiệp là 306,3 triệu đồng/ năm Bình quân thu nhập hàng tháng của của người lao động khoảng 4,82 triệu đồng Thu nhập của lao động tại các hộ là thấp nhất khoảng 122,84 triệu/ năm tương đương 4,3 triệu đồng/ tháng Hoạt động sản xuất kinh doanh ở các nghề truyền thống đã góp phần vào việc giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho người dân Các hộ tham gia sản xuất nghề truyền thống có thu nhập cao gấp 3 - 5 lần so với các hộ thuần nông Có gần 90%
số ý kiến cho rằng việc sản xuất nghề đã làm giảm số lượng các vụ tệ nạn xã hội trên địa bàn Ngoài ra có hơn 64% số ý kiến đánh giá cho rằng việc phát triển làng nghề còn thu hút khách tham quan du lịch Hoạt động sản xuất nghề truyền thống đã thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động nông thôn huyện Gia Lâm theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Việc phát triển sản xuất các nghề truyền thống ở huyện Gia Lâm còn góp phần quan trọng vào việc giữ gìn những sản phẩm có giá trị cao vừa mang ý nghĩa
về kinh tế và vừa có ý nghĩa về bản sắc văn hóa truyền thống của địa phương Tuy nhiên, hiện nay, các nghề truyền thống vẫn thiếu vốn dành cho sản xuất, tỷ trọng vốn vay từ các ngân hàng rất nhỏ do việc tiếp cận với nguồn vốn vay từ các ngân hàng gặp nhiều khó khăn Trình độ lao động tại các làng nghề hiện nay vẫn còn thấp Trang thiết
bị, máy móc ở các làng nghề truyền thống còn lạc hậu và gây ra ô nhiễm cho môi trường xung quanh Hệ thống cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng được nhu cầu của sản xuất, các cụm công nghiệp chưa đồng bộ dẫn đến khó khăn cho việc sản xuất Các yếu tố ảnh hưởng đến bảo tồn và phát triển nghề truyền thống trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội bao gồm: Chủ trương, chính sách, quy định về bảo tồn và phát triển nghề truyền thống; Công tác quản lý Nhà nước; Đầu tư cho bảo tồn và phát triển nghề truyền thống; Công tác đào tạo nghề, truyền nghề; Nguồn nguyên liệu đầu vào
Trên cơ sở đánh giá thực trạng và phân tích các yếu tố ảnh hưởng, nghiên cứu đề xuất giải pháp, bao gồm: (1) Giải pháp về kết cấu hạ tầng; (2) Giải pháp phát triển các cụm công nghiệp; (3) Giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường; (4) Tăng cường công tác quản lý Nhà nước; (5) Phát triển du lịch làng nghề (6) Ngoài ra còn một số giải pháp về phát triển làng nghề mới; Giải pháp thị trường và giải pháp về vốn; giải pháp kỹ thuật, công nghệ; Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
Trang 11THESIS ABSTRACT
Master candidate: Nguyen Van Tien
Thesis title: “Research on traditional craft preservation and development in Gia Lam
district, Hanoi”
Major: Rural Development Code: 60.62.01.16
Training facility: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)
Gia Lam, which is a suburban district in the Northeastern area of Hanoi, is also located in the cultural intersection of Thang Long and Kinh Bac culture This terrain allows Gia Lam to develop a lot of traditional crafts as well as traditional values, which could be found most remarkable in the traditional villages Regarding the traditional villages, there are some traditional villages located here such as Bat Trang (pottery), KieuKy (silver and gold plated products, leather and furniture), NinhHiep (traditional medicines and clothes trading), etc However, it is increasingly popular that the district traditional craft villagestend to diminish their production or operate perfunctorily.Hence, the preservation and development of local traditional crafts is crucial Based on the situation evaluation and analysis of affecting factors, the research recommends several solutions to enhancing the preservation and development of the local traditional crafts The specific objectives of the research are listed as following: (1)
To systemize the theoretical and practical basis of preservation and development of traditional crafts; (2) To evaluate the situation and analyze the factors affecting the preservation and development of traditional crafts in Gia Lam district, Hanoi city; (3)
To recommend solutions to enhancing the preservation and development of local traditional crafts in the future
Preservation and development of traditional crafts are the activities aiming at maintaining and promoting the values of traditional crafts In other words, it is the process of increasing both quantity and quality of the traditional villages products Preservation and development of traditional crafts contributes to solving unemployment, improving income of the local people; restructuring the rural economy, conserving and promoting the traditional values
In this research, the secondary data is collected from the economic development reports
of Gia Lam district, the published research results by other institutions and scientists Primary data is collected by interviewing 103 agents including households, cooperatives and firms and other 7 local authorities including the president of Gia Lam Bureau of Economics, the officials of Economics, Finance and Planning department, the town officials The major research methodologies are descriptive statistics, disaggregation
Trang 12and comparison method to elaborate onthe situation and factors affecting the preservation and development of the local traditional craft
The research results reveals that total average production value of households, firms and cooperatives were 307.1 million VND, 816.8 million VND respectively Mixed income of households was 122.84 million VND and the figure of firms reached 198.83 million VND Regarding the firms, 1 VND of cost creates 1,52 VND of GO, 0.57 VND of VA and 0.57 VND of mixed income In term of households, capital spending is less effective than firms To specify, with 1 VND of cost,the households could create 1.35 VND of GO, 0.35 VND of VA and 0.54 mixed income Mixed income of the firms is 306.3 million VND per year The average income of workers is approximately 4.82 million VND The lowest workers’ income is 122.84 million per year (4.3 million VND per month) The traditional crafts create jobs and increase local people income The income of traditional craft households is between 3 and 5 times higher than that of the agricultural households Nearly 90% of the interviewed households claimed that the traditional crafts production helps reduce social evils In addition, 64% of the interviewees agreed that traditional crafts production attracts tourists The traditional crafts production is seen to contribute tothe economic development and labor force restructuring toward modernization and industrialization Besides, the development of traditional craft in Gia Lam district also promotes the preservation of high economic and cultural value products Nevertheless, traditional crafts is in need of capital for production as the capitalization is challenging due to difficulties in accessing to loans from banks Moreover, the low labor skills of traditional villages and outdated equipment are the threats to environment.The fact that the local infrastructure does not meet the production requirements is also considered as
a difficulty
The factors affecting the preservation and development of the traditional craft include the traditional craft preservation and development policies, state investment in conservation and development of traditional craft, input material sources and vocational training
Finally, based on the situation evaluation and analysis of the affecting factors, the research recommends some solutions as following: (1) Solution to infrastructure problem; (2) Solution to development of industrial clusters; (3) Solution to reducing environmental pollution; (4) Solution to enhancement of State management; (5) Solution to development traditional villages tourism; (6) Other solutions to developing new traditional villages; market and loans problems; technical and technological problem; development of labor forces
Trang 13PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Với đặc thù là một nước nông nghiệp, làng nghề truyền thống hiện có vị trí quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam Việc khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống đang góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật, huy động và khai thác tiềm năng về lao động, nguyên vật liệu và nguồn vốn trong nhân dân để phát triển sản xuất - kinh doanh, tạo ra nhiều việc làm, góp phần xoá đói - giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới Bên cạnh đó, phát triển các làng nghề truyền thống đúng hướng còn tác động đến việc phân công lại lao động xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nâng cao thu nhập và đời sống người dân, hội nhập quốc tế Hiện nay, nước ta có 5.096 làng nghề và làng có nghề (Bộ NN&PTNT, 2015) Số nghề truyền thống được công nhận theo tiêu chí nghề hiện nay của Chính phủ là 1.748 làng nghề, thu hút khoảng 10 triệu lao động Nhiều làng nghề truyền thống ở nước ta đã tồn tại từ 500 đến 1.000 năm trước, trở thành những làng nghề tiêu biểu, được cả nước và thế giới biết đến như: lụa Vạn Phúc, tranh Đông Hồ, gốm sứ Bát Tràng,…(Nhật Minh, 2015) Làng nghề lưu giữ nhiều giá trị văn hóa truyền thống vật thể và phi vật thể, đồng thời góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng nông thôn mới…
Tuy nhiên, hiện nay nhiều làng nghề truyền thống có dấu hiệu bị mai một; Chất lượng sản phẩm, hàng hóa của làng nghề còn thấp, chưa có tính cạnh tranh cao; thị trường chậm được mở rộng, chưa nghiên cứu sâu nhu cầu của người tiêu dùng; đối với thị trường trong nước, làng nghề cũng chưa vươn tới nhiều vùng; với thị trường nước ngoài thì việc tiếp thị còn kém; chưa gắn kết được các khâu trong chuỗi giá trị từ thiết kế mẫu mã, cung ứng nguyên, phụ liệu, đến sản xuất
và tiêu thụ; đội ngũ nghệ nhân, thợ giỏi làng nghề chưa được quan tâm bồi dưỡng, phát huy đúng mức; khoa học, công nghệ chưa được ứng dụng nhiều vào làng nghề; tình trạng ô nhiễm tại làng nghề vẫn chưa được xử lý có hiệu quả; việc liên kết giữa các cơ sở, giữa các làng nghề còn rất nhiều hạn chế…
Gia Lâm là một huyện ngoại thành nằm ở cửa ngõ Đông Bắc Hà Nội, với địa thế nằm trong vùng giao thoa của văn hóa Thăng Long và văn hóa Kinh Bắc
Trang 14nên huyện Gia Lâm có rất nhiều nghề truyền thống cũng như các di tích lịch văn hóa có giá trị Về làng nghề truyền thống, huyện Gia Lâm có làng nghề truyền thống Bát Tràng (sản xuất gốm sứ), Kiêu Kỵ (dát bạc, dát vàng, may da,
sử-đồ gỗ), Ninh Hiệp (trồng và kinh doanh thuốc nam, thuốc bắc, buôn bán vải vóc)… Các nghề truyền thống của huyện không tránh khỏi thực trạng chung của các làng nghề ở nước ta hiện nay Do đó, việc bảo tồn và phát triển các nghề truyền thống trên địa bàn huyện Gia Lâm cần phải được quan tâm nhiều hơn nữa trong thời gian tới Câu hỏi đặt ra là: Nghiên cứu bảo tồn và phát triển nghề truyền thống được dựa trên cơ sở lý luận nào? Thực trạng bảo tồn và phát triển các nghề truyền thống trên địa bàn huyện Gia Lâm hiện nay như thế nào? Có những bất cập gì cần giải quyết? Nhân tố nào ảnh hưởng tới việc bảo tồn và phát triển nghề truyền thống trên địa bàn huyện Gia Lâm? Những giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển nghề truyền thống trên địa bàn huyện Gia Lâm là gì? Cho đến nay đã có một số nghiên cứu về bảo tồn và phát triển nghề truyền thống: Vũ Ngọc Hoàng (2016) đề tài: “Làng nghề truyền thống ở tỉnh Nam Định trong hội nhập quốc tế”, Phan Văn Tú (2011), đề tài: “Các giải pháp để phát triển làng nghề ở thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam” Luận văn của Vũ Thị Hà (2002):
“Khôi phục và phát triển làng nghề ở nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng” Luận văn của Nguyễn Trọng Tuấn (2006): “Nghề truyền thống trên địa bàn Hà Nội trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế” Luận văn của Nguyễn Hữu Loan (2007): “Giải pháp xây dựng làng nghề trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh theo hướng phát triển bền vững” Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng: Phát triển nghề truyền thống
là một trong những hoạt động kinh tế vô cùng quan trọng Phát triển nghề truyền thống sẽ góp phần sử dụng hợp lý và có hiệu quả nguồn tài nguyên, tăng sản lượng và thu nhập cho người lao động, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập, thu hẹp khoảng cách về mức sống dân cư giữa thành thị
và nông thôn và tăng kim ngạch xuất khẩu Do vậy tiếp tục tạo điều kiện cho nghề truyền thống phát triển mạnh là yêu cầu cấp thiết trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Tuy nhiên, hạn chế của các nghiên cứu là các giải pháp còn mang tính lý thuyết, mang tính chung chung, khó áp dụng vào thực tiễn Đến nay, chưa có một nghiên cứu cụ thể nào về bảo tồn và phát triển nghề truyền thống trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội Xuất phát từ thực tế trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu bảo tồn và phát triển một số nghề truyền thống trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội”
Trang 151.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng và phân tích các yếu tố ảnh hưởng, nghiên cứu đề xuất giải pháp tăng cường bảo tồn và phát triển nghề truyền thống trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội trong thời gian tới
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo tồn và phát triển nghề truyền thống Đối tượng điều tra là các hộ gia đình, các cơ sở sản xuất – kinh doanh tham gia vào các hoạt động sản xuất – kinh doanh của nghề truyền thống, các tổ chức, cá nhân tham gia quản lý liên quan đến nghề truyền thống
+ Giải pháp thúc đẩy sự phát triển các nghề truyền thống
- Về không gian
Đề tài được nghiên cứu tại các nghề thuộc huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội, cụ thể là: Nghề Quỳ vàng (Kiêu Kỵ), Nghề may da (Kiêu Kỵ), Nghề làm thuốc nam, thuốc bắc (Ninh Hiệp)
Trang 16- Về thời gian:
Đề tài thu thập số liệu có liên quan từ năm 2013 - 2015 để làm cơ sở nghiên cứu, đánh giá, phân tích so sánh Thông tin sơ cấp thu thập từ các hộ gia đình, các cơ sở sản xuất ở các làng nghề trong năm 2016 Phạm vi đề xuất giải pháp đến năm 2020
1.4 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
- Các nội dung bảo tồn và phát triển nghề truyền thống là gì?
- Thực trạng bảo tồn và phát triển một số nghề truyền thống trên địa bàn huyện Gia Lâm như thế nào?
- Những yếu tố nào ảnh hưởng tới bảo tồn và phát triển một số nghề truyền thống trên địa bàn huyện Gia Lâm?
- Cần thực hiện những giải pháp nào để tăng cường công tác bảo tồn và phát triển nghề truyền thống trong thời gian tới?
1.5 ĐÓNG GÓP MỚI VỀ MẶT LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Về mặt lý luận: Hệ thống hoá và luận giải cơ sở lý luận, thực tiễn về bảo tồn và phát triển nghề truyền thống Qua đó luận văn đưa ra năm bài học kinh nghiệm trong việc bảo tồn và phát triển nghề truyền thống trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội
Về mặt thực tiễn: Luận văn đã tổng hợp một cách khoa học về thực trạng bảo tồn và phát triển nghề truyền thống trên địa bàn huyện Gia Lâm bao gồm các nội dung: Công tác quy hoạch, công tác mở rộng và phát triển nghề truyền thống, công tác truyền nghề và đào tạo nghề, công tác huy động nguồn lực (đất đai, lao động, vốn) cho bảo tồn và phát triển nghề truyền thông Cùng với việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng, luận văn đã đề xuất sáu nhóm giải pháp khả thi nhằm tăng cường bảo tồn và phát triển nghề truyền thống trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội Luận văn là tài liệu thiết thực để các nhà khoa học, nhà quản lý, nhất
là chính quyền địa phương tham khảo và vận dụng trong thực tế
Trang 17PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BẢO TỒN VÀ
PHÁT TRIỂN NGHỀ TRUYỀN THỐNG
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1 Một số khái niệm liên quan
2.1.1.1 Khái niệm vê bảo tồn
Theo định nghĩa của IUCN (1991): “Bảo tồn là sự quản lý, sử dụng của con người về sinh quyển nhằm thu được lợi nhuận bền vững cho thế hệ hiện tại trong khi vẫn duy trì tiềm năng để đáp ứng những yêu cầu và nguyện vọng của thế hệ tương lai”
Bảo tồn di sản (heritage preservation) được hiểu như là các nỗ lực nhằm bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại của di sản theo dạng thức vốn có của nó
Về quan điểm bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá cũng có nhiều quan điểm khác nhau Nhưng trên thế giới vẫn tựu trung 2 quan điểm như sau: Bảo tồn nguyên vẹn và bảo tồn trên cơ sở kế thừa
Quan điểm bảo tồn nguyên vẹn, theo G J Ashworth (1997), thì được phát triển đầu tiên từ những năm 50 của thế kỷ XIX Quan điểm bảo tồn nguyện vẹn này được khá nhiều học giả ủng hộ, đặc biệt các nhà bảo tồn, bảo tàng trong lĩnh vực di sản văn hóa Những người theo quan điểm Bảo tồn nguyên vẹn cho rằng, những sản phẩm của quá khứ, nên được bảo vệ một cách nguyên vẹn, như nó vốn có, cố gắng phục hồi nguyên gốc các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể cũng như cố gắng cách ly di sản khỏi môi trường xã hội đương đại Họ cho rằng, mỗi di sản chứa đựng những giá trị văn hóa - xã hội nhất định mà không phải lúc nào thế hệ hiện tại có hiểu biết một cách cụ thể để có thể phát huy những giá trị
ấy một cách thích hợp Hơn nữa, những giá trị văn hóa ấy luôn biến đổi theo thời gian do những tác động của xã hội hiện tại và sẽ tạo nên những lớp văn hóa khác không trùng nghĩa với lớp văn hóa mà thế hệ trước chuyển giao cho thế hệ sau, vì thế, có thể làm cho các thế hệ sau nữa không thể truy nguyên được những giá trị
di sản đang tồn tại
Chính vì như vậy, những người theo quan điểm này cho rằng, do chúng ta chưa có đủ thông tin, trình độ hiểu biết để có thể lý giải giá trị của các di sản văn hóa, chúng ta nên giữ nguyên trạng những di sản này để khi có điều kiện, các thế
hệ tiếp nối có thể xử lý, giải thích và tìm cách kế thừa, phát huy di sản một cách tốt hơn (Đỗ Thị Ngọc Uyển, 2013)
Trang 18Với quan điểm bảo tồn trên cơ sở kế thừa thì được các học giả nước ngoài hiện nay quan tâm nhiều hơn và là một xu thế khá phổ biến khi bàn đến di sản
Có thể kể đến như G J Ashworth (1997) xem di sản như một ngành công nghiệp
và cần phải có cách thức quản lý di sản tương tự với cách thức quản lý của một ngành công nghiệp văn hóa với những logic quản lý đặc biệt, phù hợp với tính đặc thù của các di sản Cách tiếp cận của các nhà khoa học này sống động hơn, quan tâm di sản văn hóa để phát triển du lịch, để khẳng định tính đa dạng trong sáng tạo của con người Nhìn chung, quan điểm lý thuyết này dựa trên cơ sở mỗi
di sản cần phải được thực hiện nhiệm vụ lịch sử của mình ở một thời gian và không gian cụ thể Khi di sản ấy tồn tại ở thời gian và không gian hiện tại, di sản
ấy cần phát huy giá trị văn hóa - xã hội phù hợp với xã hội hiện nay và phải loại
bỏ đi những gì không phù hợp với xã hội ấy (Đỗ Thị Ngọc Uyển, 2013)
Hiện nay, có nhiều quan niệm về bảo tồn, là cụm từ dùng để chỉ sự duy trì những sản phẩm hữu hình hoặc vô hình có giá trị lịch sử, mang trong mình yếu tố văn hóa sâu sắc Theo từ điển tiếng Việt, Bảo tồn là giữ lại không để cho mất đi (Hoàng Phê, 2000)
2.1.1.2 Khái niệm về nghề truyền thống
a Nghề truyền thống
Nghề trước tiên được hiểu là nghề thủ công cụ thể như dệt, đúc đồng, khảm trai, gốm sứ… Lúc đầu nghề chỉ làm phụ trong các gia đình ở nông thôn chủ yếu lúc nông nhàn Nhưng dần dần số người làm nghề thủ công ngày càng nhiều, tách rời khỏi nông nghiệp và họ sinh sống chính bằng thu nhập từ nghề đó ngay tại làng quê
Truyền thống là một thuật ngữ dùng để chỉ các giá trị, yếu tố, quan niệm của một cộng đồng người hay của xã hội lưu giữ trong một thời gian dài từ thế hệ này qua thế hệ khác Truyền thống biểu hiện tính kế thừa là chủ yếu tuy nhiên cũng có sự phát triển theo lịch sử
Truyền thống được biểu hiện ở hình thức: Truyền thống học tập, lễ hội truyền thống, truyền thống dòng họ, nghề truyền thống
Nghề truyền thống là những nghề tiểu thủ công nghiệp được hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời trong lịch sử; được sản xuất tập trung tại một vùng hay một làng nào đó và được lưu truyền từ đời này qua đời khác (truyền nghề), lưu giữ kỹ thuật sản xuất (bí quyết nghề nghiệp), đúc rút kinh nghiệm
Trang 19Nghề thủ công truyền thống không chỉ bó hẹp trong phạm vi làng nghề mà còn mở rộng hơn như: Xã nghề, phố nghề, phường nghề, hội nghề
Theo quy định hiện hành của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, một nghề được công nhận là nghề truyền thống phải đảm bảo được các tiêu chí sau:
- Đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm tính từ thời điểm được công nhận
- Tạo ra sản phẩm mang bản sắc văn hóa dân tộc
- Gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên của một làng nghề
b Khái lược lịch sử hình thành nghề truyền thống
Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam gắn liền những vùng châu thổ phì nhiêu, khai phá đất hoang, mở rộng đồng bằng và đã lấy nghề nông làm cơ sở cho sự tồn tại của mình Để thỏa mãn nhu cầu hàng ngày, người Việt cổ đã biết tận dụng các tài nguyên xung quanh để sáng chế ra đồ dùng, trang sức, công cụ sản xuất, họ đã phát huy trí tuệ, sự khéo léo của đôi tay sáng tạo ra những nghề thủ công
Từ thời Hùng Vương, đúc đồng đã trở thành một nghề phát triển Khoảng
300 năm trước Công nguyên, chúng ta đã học được người
Trung Quốc cách dựng bàn quay làm đồ gốm
Đến khoảng thế kỷ II trước Công nguyên, chúng ta đã biết chế tạo đồ đựng bằng sắt
Từ thế kỷ II sau Công nguyên, người ta đã biết đến sản xuất đường thạch mật hay còn gọi là đường giao chỉ
Thế kỷ III, con người đã biết làm giấy bản tốt bằng gỗ mật hương gọi là mật hương chỉ Ngoài ra trong thời gian này còn xuất hiện nghề làm thủy tinh Thế kỷ V, nghề rèn sắt phát triển lấn át nghề đúc đồng, kỹ thuật đồ gốm có phát triển hơn cùng với sự xuất hiện nghề chạm bạc, nghề nung gạch ngói
Thế kỷ VII, nghề dệt tơ lụa phát triển Thế kỷ X, nghề rèn sắt phát triển Thế kỷ X-XI, nghề điêu khắc, đúc chuông, tô tượng phát triển mạnh
Dưới triều Trần, tiểu thủ công nghiệp phát triển mạnh Nhân dân kinh đô Thăng Long chia thành 61 phường thợ thủ công, nhà buôn tùy theo nghề nghiệp
Có nhiều tổ chức nghề nghiệp: kiến trúc, sơn, tô tượng, đúc chuông
Trang 20Đến thời nhà Lê xuất hiện nghề khắc bản in, học được kỹ thuật thuộc da Đến giai đoạn này xuất hiện làng chuyên một nghề riêng biệt và được tổ chức thành những phường hay hội để bảo vệ quyền lợi nghề nghiệp, địa vị xã hội của thợ thủ công Những làng nghề chuyên biệt chủ yếu là làm nghề dệt lụa, dệt vải hay làm giấy
Giữa thế kỷ XV, xuất hiện nghề đúc tiền và đúc vàng nén đầu tiên ở Hà Nội Biết được kỹ thuật làm sơn
Thế kỷ XVIII, một người Việt Nam đã phát minh ra nghề khảm xà cừ và trở thành một kỹ thuật đặc biệt ở Việt Nam mà không nước nào trên thế giới sánh kịp
Trong thời kỳ đô hộ, thực dân Pháp hạn chế nghề thủ công ở Việt Nam nhằm đảm bảo lợi nhuận độc quyền Thân phận của người thợ thủ công bị coi rẻ Nhưng không vì thế mà sức sáng tạo của thợ thủ công Việt Nam bị hạn chế Những năm đầu thế kỷ XIX các học giả phương Tây đã nhận xét: gần như nghệ thuật khảm trai ở Viễn Đông là độc quyền ở Việt Nam Thời kỳ này, số thợ thủ công tập trung nhiều ở Bắc Kỳ (Phan Gia Bền, 1957)
Thời kỳ sau năm 1954, hòa bình lặp lại ở miền Bắc Sau kế hoạch 3 năm 1958-1960 phát triển kinh tế, văn hóa và cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc thì các nghề truyền thống được phục hưng, phát triển cùng với các hợp tác xã nông nghiệp Các nghề này đã góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc Thị trường xuất khẩu của các làng nghề truyền thống chủ yếu sang Liên Xô và Đông Âu Năm 1979, hàng thủ công mỹ nghệ chiếm 53,4% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước (Bạch Thị Lan Anh, 2003)
Sau những năm 80, khi cơ chế tập trung quan liêu bao cấp đã bộc lộ những khiếm khuyết, các hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp bắt đầu rơi vào tình trạng làm ẩu, mẫu mã đơn điệu, hiệu quả kinh tế thấp Sau chính biến ở Liên Xô
và Đông Âu, các nghề truyền thống của nước ta mất hẳn thị trường xuất khẩu Các mô hình sản xuất tổ, đội tan rã, lâm vào khó khăn, sản xuất trì trệ
c Phân loại nghề truyền thống
Việc phân loại các nhóm nghề truyền thống không phải dễ vì một số nghề
có thể được coi là ở nhóm này song cũng có thể vừa thuộc cả nhóm khác Có nhiều cách phân loại khác nhau nhưng chúng cũng chỉ mang tính chất tương đối
Trang 21Trong nghiên cứu của Bùi Văn Vượng (2002) đã chia các nhóm nghề truyền thống của nước ta thành 52 nhóm nghề sau:
Trang 22Theo Tiến sĩ Dương Bá Phượng (2001) nghề truyền thống ở nước ta được chia thành 5 nhóm sau:
1 Mặt hàng thủ công mỹ nghệ như: Sơn mài, khảm trai
2 Mặt hàng công cụ sản xuất như: Sản xuất liềm, hái
3 Mặt hàng phục vụ tiêu dùng thông thường như: Dao, kéo
4 Mặt hàng phục vụ cho sản xuất và đời sống như: Nề, mộc, sản xuất vật liệu xây dựng
5 Mặt hàng được chế biến từ lương thực thực phẩm như: Bánh cuốn, rượu
d Làng nghề
Thôn, làng là một thuật ngữ dùng để chỉ một đơn vị hành chính ở nông thôn bao hàm là một cộng đồng dân cư ở trên một lãnh thổ xác định, có khả năng độc lập về kinh tế Trong điều kiện chống giặc ngoại xâm, thiên tai thì họ là một cộng đồng thống nhất Họ còn là một cộng đồng văn hoá gắn liền với biểu tượng cây đa, bến nước, mái đình, nhà thờ
loại làng:
- Làng thuần nông, lâm, ngư nghiệp
- Làng nông nghiệp có nghề phụ
- Làng dịch vụ
- Làng nông - công - thương kết hợp (phổ biến nhất)
Việc xác định danh hiệu làng nghề ở nước ta chưa thống nhất, có nhiều tiêu chí khác nhau Theo quy định hiện hành của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận là làng nghề phải bao hàm các tiêu chí sau:
1 Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn
2 Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm được công nhận
3 Chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nước
Làng nghề có thể là làng nghề mới (đặc biệt phát triển mạnh thời kỳ đổi mới) Làng nghề có thể là làng nghề truyền thống Có những làng nghề truyền thống tồn tại hàng trăm năm
Trang 23Như vậy khái niệm làng nghề cần được hiểu là những làng ở nông thôn có các ngành nghề không phải là nông nghiệp mà chúng chiếm ưu thế về số hộ, số lao động và tỷ trọng thu nhập so với nghề nông
g Làng nghề truyền thống
Làng nghề truyền thống là những thôn, làng làm nghề thủ công truyền thống lâu năm, thường nhiều thế hệ ít nhất hàng chục năm và nhiều làng nổi tiếng hàng thế kỷ tạo ra những sản phẩm độc đáo, độ tinh xảo cao
Theo Bạch Thị Lan Anh (2010) thì Làng nghề truyền thống là làng nghề được tồn tại và phát triển lâu đời trong lịch sử, trong đó gồm có một hay nhiều nghề thủ công truyền thống, là nơi quy tụ các nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề, là nơi có nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề truyền thống lâu đời, giữa họ
có sự liên kết, hỗ trợ nhau trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Họ có cùng tổ nghề và đặc biệt các thành viên luôn có ý thức tuân thủ nhưng ước chế xã hội và gia tộc (Bạch Thị Lan Anh, 2010)
2.1.1.3 Phát triển sản xuất nghề truyền thống trong làng nghề
Trên cơ sở lý luận về tăng trưởng và phát triển, chúng tôi cho rằng phát triển sản xuất nghề truyền thống trong làng nghề là sự tăng lên về quy mô sản xuất nghề truyền thống trong làng nghề và phải đảm bảo được hiệu quả sản xuất của làng nghề
Sự tăng lên về quy mô sản xuất nghề truyền thống trong làng nghề được hiểu là sự mở rộng về sản xuất của từng nghề và số lượng nghề được tăng lên theo thời gian và không gian (nghề mới), trong đó nghề cũ được củng cố, nghề mới được hình thành Từ đó giá trị sản lượng của nghề truyền thống không ngừng được tăng lên, nó thể hiện sự tăng trưởng của nghề truyền thống Sự phát triển sản xuất nghề truyền thống trong làng nghề phải đảm bảo hiệu quả kinh tế,
xã hội và môi trường
Trên quan điểm phát triển bền vững, phát triển sản xuất nghề truyền thống trong làng nghề còn yêu cầu: Sự phát triển phải có kế hoạch, quy hoạch, sử dụng các nguồn lực như tài nguyên thiên nhiên, lao động, vốn, nguyên liệu cho sản xuất đảm bảo hợp lý có hiệu quả, nâng cao mức sống cho người lao động, không gây ô nhiễm môi trường, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc
Trang 242.1.2 Đặc điểm và vai trò của bảo tồn nghề truyền thống
2.1.2.1 Đặc điểm nghề truyền thống trong các làng nghề
a Điều kiện sản xuất kinh doanh gắn bó với hộ gia đình nông thôn và sản xuất nông nghiệp
Nghề thủ công truyền thống bắt nguồn từ nông nghiệp mà ra và gắn liền với sự phân công lao động ở nông thôn Trước đây, hàng loạt các nghề thủ công truyền thống ra đời nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt tự cung tự cấp của người nông dân và chủ yếu phục vụ nông nghiệp Không những vậy, nghề truyền thống còn dựa vào nông nghiệp để phát triển Nông nghiệp là nguồn cung cấp nguyên liệu, nguồn nhân lực, nguồn vốn chủ yếu và là thị trường tiêu thụ rộng lớn
Lao động trong các làng nghề truyền thống chủ yếu là những người nông dân, địa điểm sản xuất của làng nghề truyền thống là tại gia đình họ Họ tự quản
lý, phân công lao động, thời gian cho phù hợp với sản xuất nông nghiệp những lúc mùa vụ và với nghề thủ công những lúc nông nhàn Về mối quan hệ giữa người nông dân và người thợ thủ công thì Lênin đã nói rất rõ "so với những người tiểu sản xuất hàng hoá thì người làm nghề thủ công gắn bó với ruộng đất mạnh hơn" (V.I.Lênin, 1976)
b Về sản phẩm
Sản phẩm nghề truyền thống để phục vụ đời sống sinh hoạt và sản xuất
Nó là các vật dụng hàng ngày, có thể là những sản phẩm vừa có giá trị sử dụng, vừa có giá trị thẩm mỹ hoặc chỉ là vật dùng để trang trí ở nhà, nơi công sở, nơi tôn nghiêm như đình, chùa Dưới những bàn tay tài hoa của người thợ thủ công,
từ ốc trai, vỏ trứng có thể biến hoá thành những bức tranh có giá trị nghệ thuật cao Các sản phẩm nghề thủ công truyền thống bộc lộ nét tinh xảo điêu luyện, đạt tới đỉnh cao nghệ thuật trang trí Sản phẩm công nghiệp nếu không ghi nhãn mác thì sẽ bị xoá nhoà gốc tích, ngược lại, với sản phẩm nghề thủ công truyền thống nhìn vào nét hoa văn độ tinh xảo của sản phẩm là có thể biết được xuất xứ sản phẩm Thậm chí trong làng nghề truyền thống người ta có thể đánh giá gia đình nào đã làm ra sản phẩm này
Truyền thống nghề với truyền thống văn hoá vùng miền, tập quán phong tục từng vùng được hoà quyện trong sản phẩm Nó thể hiện sự gắn bó khăng khít văn hoá và nghề truyền thống Các sản phẩm của nghề thủ công truyền thống mang tính chủ quan sáng tạo, hoàn toàn phụ thuộc vào tay người thợ Vì thế ở
Trang 25các làng nghề truyền thống sản phẩm chia loại chất lượng phụ thuộc trình độ người thợ, phụ thuộc thị hiếu, mức tiền tiêu dùng Do đặc điểm điều kiện sản xuất kinh doanh, sản phẩm thủ công in đậm dấu ấn người thợ nên khó sản xuất đại trà, mà chỉ sản xuất đơn chiếc Nhược điểm về sản phẩm như vậy đã làm cho làng nghề truyền thống khó đáp ứng được đơn đặt hàng lớn, chất lượng sản phẩm không đồng đều
c Kỹ thuật công nghệ
Kỹ thuật sản xuất đặc trưng trong làng nghề truyền thống là công cụ sản xuất, phương pháp, công nghệ mang tính cổ truyền do lịch sử để lại và do chính người lao động trong làng tạo ra Kỹ thuật đặc biệt nhất của làng nghề truyền thống là đôi bàn tay vàng của người thợ được tích luỹ qua nhiều thế hệ, giữ được tính chất bí truyền của nghề Đặc điểm kỹ thuật này quyết định chất lượng sản phẩm Đôi bàn tay của người thợ thủ công là công đoạn kỹ thuật khó có máy móc nào có thể thay thế Nó làm cho nghề thủ công có tính đơn chiếc, phụ thuộc chủ quan người sản xuất Điều này được thể hiện rõ ở nghề thêu ren, chạm khắc Nhược điểm kỹ thuật của làng nghề truyền thống không tổng kết thành lý luận, không được ghi chép mà truyền miệng trong gia đình, dòng họ, trong làng nên trong lịch sử nhiều bí quyết đã bị thất truyền
Lao động làm nghề truyền thống chủ yếu là lao động sáng tạo kỳ diệu của những nghệ nhân và thợ nghề Không giống sản phẩm công nghiệp được sản xuất đồng loạt theo công nghệ dây chuyền, mỗi sản phẩm của làng nghề được coi là một tác phẩm nghệ thuật, chứa đựng phong cách riêng, nét sáng tạo riêng, đầu óc
mỹ thuật riêng của người làm ra chúng
d Tổ chức sản xuất kinh doanh
Như trên đã phân tích về mối quan hệ giữa nông dân và thợ thủ công, sự gắn bó giữa nông nghiệp và nghề thủ công truyền thống tạo nên mô hình sản xuất kinh doanh truyền thống phổ biến nhất ở các làng nghề truyền thống là hình thức
Trang 26tuổi, trình độ tay nghề để làm công việc phù hợp nhưng bao giờ cũng có 1 đến 2 người chịu trách nhiệm chính về kỹ thuật, quản lý, điều hành, giao dịch Vì vậy
mô hình sản xuất hộ gia đình là quy mô nhỏ
Vai trò: Là mô hình tổ chức sản xuất phù hợp nhất với cơ sở vật chất ở làng nghề hiện nay nên đã phát huy được nhiều ưu điểm trong sản xuất kinh doanh: Tận dụng, tranh thủ mọi thời gian lao động; Linh hoạt trong sản xuất kinh doanh; Hiệu quả kinh tế được hạch toán cụ thể, kịp thời, kích thích sản xuất nhanh nhất và có sự phù hợp giữa quy mô, năng lực sản xuất với trình độ quản lý
Hạn chế: Các chủ hộ còn thiếu kiến thức về quản lý kinh tế, khó tiếp cận
và chậm ứng dụng khoa học công nghệ; Năng lực sản xuất hạn chế; Một ưu điểm và cũng là nhược điểm mọi độ tuổi đều có thể tham gia lao động tạo ra thu nhập cho hộ gia đình nên hiện tượng bỏ học sớm để làm kinh tế là phổ biến ở các làng nghề
Tổ sản xuất: Xuất hiện do các chủ thể kinh tế độc lập liên kết lại nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, thoả mãn lợi ích chung Các đơn vị kinh tế độc lập mà chủ yếu là hộ gia đình được ký hợp đồng sản xuất lớn mà không thể đảm nhiệm được do hạn chế về vốn, lao động, thời gian thanh lý hợp đồng Từ thực trạng này đã xuất hiện sự liên kết, hợp tác giữa các hộ gia đình để cùng sản xuất, cùng chia sẻ những khó khăn và lợi ích giữa các bên Thông thường sự hợp tác này được thông qua bằng hợp đồng miệng giữa các gia đình
Hình thức của sự hợp tác này rất đa dạng do điều kiện cụ thể quyết định Như vậy, bên cạnh hình thức sản xuất hộ gia đình đã tự phát làm nảy sinh hình thức tổ sản xuất
Hợp tác xã: Trước giai đoạn đổi mới, các hợp tác xã thủ công nghiệp là
mô hình sản xuất quan trọng nhất trong các làng nghề Các hợp tác xã thủ công nghiệp có cơ sở vật chất đầy đủ như nhà xưởng, kho chứa sản phẩm, nguyên liệu, văn phòng, cửa hàng được thực hiện dựa trên nguyên tắc phân phối lao động theo hình thức chấm công, điểm Sau những năm 80 của thế kỷ XX, cơ chế tập trung quan liêu bao cấp đã bộc lộ những hạn chế bất cập, xã viên không còn động lực kinh tế, các hợp tác xã sản xuất trì trệ, trở thành nhân tố kìm hãm sự phát triển làng nghề Ra khỏi hợp tác xã, xã viên trở thành người tự chủ trong sản xuất kinh doanh trong mô hình sản xuất hộ gia đình
Trang 27Nguyên tắc cơ bản của hợp tác xã là sự tự nguyện tham gia của các chủ thể kinh tế độc lập tự chủ, đóng góp vốn theo điều lệ hợp tác xã và được chia lãi theo
cổ phần Vốn đóng góp có thể là hiện vật hoặc tiền, nếu là hiện vật sẽ được quy đổi theo giá cả thị trường Hình thức phân phối theo lao động và vốn cổ phần
Vai trò: Hợp tác xã đã kết hợp được lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể Hợp tác xã có đủ tư cách pháp nhân để giao dịch về xuất khẩu
Công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần: Đây là hình thức mới xuất hiện ở làng nghề truyền thống và phát triển sau khi Luật Doanh nghiệp ra đời Được xuất hiện từ những chủ thể kinh tế có vốn dồi dào và năng động trong cơ chế thị trường Mặc dù mới xuất hiện và chiếm tỷ trọng nhỏ nhưng các mô hình kinh tế này đã khẳng định được vai trò của mình trong xu thế hội nhập của các làng nghề truyền thống
2.1.2.2.Vai trò của bảo tồn nghề truyền thống
a Tạo việc làm cho người lao động
Người nông dân sản xuất nông nghiệp thường theo mùa vụ, nên thời gian sản xuất thường kéo dài hơn thời gian thật sự lao động Do đó, trong sản xuất nông nghiệp có những lúc nhàn rỗi, dư thừa lao động Khi sản xuất các sản phẩm của làng nghề sẽ tạo cho người lao động có việc làm trong thời điểm này Từ đó lao động được sử dụng triệt để hơn trong gia đình Có những làng nghề thu hút trên 60% lực lượng lao động ở nông thôn tham gia vào hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp Nhờ đó, tỷ lệ thời gian làm việc được sử dụng của lao động trong độ tuổi ở khu vực nông thôn đạt khoảng 80% Đặc biệt một số làng nghề truyền thống còn sử dụng được lao động già cả, khuyết tật, trẻ em mà các khu vực kinh tế khác không nhận
b Tăng thu nhập cho hộ gia đình
Ngoài thu nhập từ sản xuất nông nghiệp, các hộ gia đình tham gia sản xuất các sản phẩm làng nghề sẽ có thêm nguồn thu cho hộ, từ đó tăng mức sống cho người dân nông thôn Theo Ông Vũ Quốc Tuấn - Chủ tịch Hiệp hội làng nghề Việt Nam, thu nhập của người lao động hưởng lương ở các làng nghề hiện phổ biến khoảng 600.000đ đến 1.500.000đ/tháng, cao hơn nhiều so với thu nhập từ sản xuất thuần nông
Trang 28c Khai thác vốn kỹ thuật của dân
Quá trình sản xuất các sản phẩm của làng nghề đã tận dụng một cách triệt
để các yếu tố về vốn, lao động, kỹ thuật của hộ Tạo việc làm cho tất cả mọi thành viên trong gia đình Nhờ có phát triển ngành nghề truyền thống mà các quy trình sản xuất của ông cha từ xưa để lại không bị mai một mà ngày càng được cải tiến phong phú hơn đáp ứng nhu cầu của thị trường
d Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động nông thôn ngày càng hợp lý hơn
Kinh tế nông thôn cơ cấu chủ yếu là nông nghiệp, chiếm khoảng trên 70% Đa số là các hộ thuần nông, bên cạnh đó là có một số hộ kiêm ngành nghề
và một số ít hộ làm dịch vụ Theo đường lối của Đảng, phát triển làng nghề sẽ tận dụng được nguồn nguyên liệu là sản phẩm của ngành nông nghiệp hoặc công cụ sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp, làm tăng khả năng tích lũy vốn và kỹ thuật, hỗ trợ cho nông nghiệp, công nghiệp và các loại hình dịch vụ khác ở nông thôn phát triển Làng nghề phát triển sẽ trở thành trung tâm kinh tế của địa phương, của vùng, tạo ra bộ mặt đô thị hóa mới cho nông thôn để nông thôn ly nông nhưng không ly hương và làm giàu trên quê hương mình, làm giảm bớt làn sóng nông dân nhập cư về các thành phố lớn kéo theo hàng loạt hệ quả nặng nề
e Thay đổi tập quán tư duy sản xuất
Khi người dân làng nghề tham gia sản xuất, sản phẩm của họ làm ra là sản phẩm hàng hóa nên họ phải chủ động trong mọi khâu của quá trình sản xuất, đặc biệt là khâu tiêu thụ hàng hóa Họ không còn tư tưởng sản xuất tự cung tự cấp của người nông dân Bởi vậy, mà người dân các làng nghề trở nên năng động hơn, linh hoạt hơn trong việc bố trí sản xuất
f Tăng đóng góp cho ngân sách địa phương
Phát triển sản xuất ngoài tăng thu nhập cho chính hộ gia đình còn tăng thêm thu nhập quốc dân, tăng thu ngân sách cho địa phương bằng việc đóng thuế, giải quyết việc làm, du lịch làng nghề
g Góp phần bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc
Vì làng nghề cổ truyền tạo nên những sản phẩm truyền thống với trình độ
kỹ, mỹ thuật cao, kết tinh tài hoa của các nghệ nhân qua nhiều thế hệ, nhiều sản phẩm không chỉ có ý nghĩa về kinh tế mà còn phản ánh một cách sinh động lối sống và ước vọng của người lao động, thấm đẫm tâm hồn người Việt và được truyền từ đời này sang đời khác
Trang 292.1.3 Điều kiện bảo tồn và phát triển nghề truyền thống
Sự tồn tại và phát triển của nghề truyền thống cần có những điều kiện cơ bản nhất định sau:
Một là, giao thông thuận tiện Hầu hết làng nghề cổ truyền đều nằm trên những đầu mối giao thông quan trọng, đặc biệt là những đầu mối giao thông thuỷ, bộ Nằm ở vị trí này cho phép làng nghề có thể kết hợp sử dụng các loại phương tiện vận chuyển khác nhau để chở nguyên vật liệu về và chở sản phẩm đi tiêu thụ hoặc có điều kiện thuận lợi để thu hút các thương nhân đến buôn bán sản phẩm của làng nghề
Hai là, gần nguồn nguyên liệu Để bảo tồn và phát triển nghề truyền thống thì điều kiện cần là gắn bó chặt chẽ với một trong những nguồn nguyên liệu chủ yếu phục vụ cho sản xuất Phần lớn nghề truyền thống hình thành từ nguồn nguyên liệu sẵn có tại địa phương hoặc lân cận
Ba là, gần nơi tiêu thụ sản phẩm hoặc thị trường chính Làng nghề nói chung đều được đặt gần nơi tiêu thụ mà thường là các nơi tập trung dân cư với mật độ khá cao, gần chợ búa, bến sông bãi chợ và đặc biệt là rất gần hoặc không quá xa các trung tâm thương mại Và sở dĩ vùng ĐBSH phát triển tập trung nhiều làng nghề truyền thống hơn so với các vùng khác cũng do một nguyên nhân quan trọng là vùng này gần Hà Nội, một trung tâm đô thị thương mại lớn xuất hiện sớm nhất so với cả nước, một kinh đô cổ và hiện đại, tiêu thụ phần lớn các sản phẩm thủ công truyền thống của vùng Ngoài ra vùng còn có phố Hiến cũng là một trung tâm thương mại lớn xuất hiện sớm nhất của cả nước và nhiều
đô thị lớn nhỏ khác
Bốn là, hiệu quả kinh tế Biểu hiện rõ nhất là sự hình thành và phát triển của các nghề truyền thống ở những nơi ít ruộng đất, mật độ dân số cao, đất chật người đông, thêm vào đó có khi còn là do chất đất hoặc khí hậu không phù hợp, làm cho nghề nông khó có điều kiện phát triển để đảm bảo thu nhập và đời sống cho cư dân địa phương Trước sức ép kinh tế đó, buộc cư dân phải tìm các ngành nghề phi nông nghiệp để đảm bảo cuộc sống ngày càng thịnh vượng hơn Hầu hết các nghề truyền thống tồn tại và phát triển mạnh mẽ đến ngày nay đều ở những nơi có mật độ dân số rất cao, diện tích canh tác nông nghiệp trên đầu người rất
Ngay từ đầu thế kỷ, P.Gourou đã cho rằng, mật độ dân số cao, diện tích đất canh
Trang 30tác nông nghiệp bình quân đầu người thấp, lại phân bố không đều giữa các địa phương, làng – xã là một trong những nguyên nhân (gây sức ép) chủ yếu tạo cho vùng ĐBSH trở thành nơi xuất hiện sớm nhất và tập trung nhiều nhất các nghề truyền thống
Năm là, lao động và tập quán sản xuất ở từng vùng Điều kiện này cũng
có thể ảnh hưởng nhất định tới sự hình thành và phát triển của các nghề truyền thống Nếu không có những người tâm huyết với nghề, có nhiều quan hệ gắn bó với nghề và có những khả năng ứng phó với các tình huống xấu, bất lợi thì nghề cũng khó có thể tồn tại một cách bền vững Những kỹ năng, kỹ xảo của người thợ, những phong tục tập quán, những luật lệ, quy chế của làng, của các dòng
họ, phường hội… là những nhân tố không kém phần quan trọng làm cho nghề
đó tồn tại, phát triển và giữ được những nét độc đáo riêng có của mình Nghề truyền thống có sự tồn tại bền vững và phát triển nhất ở vùng ĐBSH thường có những nghệ nhân có tài, có đức và có cả uy tín, đồng thời có những luật nghề,
lệ làng… Chúng tạo thành những chất keo gắn kết làm cho nghề tồn tại và phát triển bền vững
2.1.4 Nội dung nghiên cứu bảo tồn và phát triển nghề truyền thống
2.1.4.1 Quy hoạch phát triển nghề truyền thống
Trong phát triền nghề truyền thống hiện nay, công tác quy hoạch, quản lý quy hoạch phát triển nghề truyền thống có vai trò rất quan trọng, đây là vấn đề vừa mang tính chiến lược nhưng phải đi trước một bước làm cơ sở cho việc đầu
tư các điều kiện thiết yếu cho việc phát triển nghề truyền thống Cụ thể, cần có quan điểm quy hoạch nghề truyền thống, mục tiêu của quy hoạch, nội dung của quy hoạch và các giải pháp để thực hiện quy hoạch Việc quy hoạch nghề truyền thống là một trong những giải pháp chủ yếu để phát triển nghề truyền thống, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất từ đó làm tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân, đảm bảo an ninh xã hội
2.1.4.2 Mở rộng quy mô phát triển nghề truyền thống
Tổ chức các hoạt động cần thiết để xác định cơ cấu, guồng máy của hệ thống, xác định những công việc phù hợp với từng nhóm, từng bộ phận và giao phó các bộ phận cho các chủ cơ sở hay người chỉ huy với chức năng nhiệm vụ và quyền hạn nhất định để thực hiện nhiệm vụ được giao Đây là việc tổ chức bộ máy trong phát triển nghề truyền thống Hoạt động tổ chức còn là việc bố trí sắp xếp việc thực hiện các công việc trong một cơ cấu tổ chức như: Doanh nghiệp
Trang 31sản xuất, hộ gia đình làm nghề Các hoạt động bao gồm: Tổ chức sắp xếp lao động trong nghề, tổ chức sản xuất, tiêu thụ sản phẩm
2.1.4.3 Công tác truyền nghề và đào tạo nghề
Muốn bảo tồn và phát triển được nghề truyền thống thì cần phải có lực lượng lao động lành nghề, đội ngũ nghệ nhân cũng như lao động giỏi về chuyên môn Để tạo ra được các lực lượng lao động kế cận nối tiếp nhau thì công tác đào tạo nghề, truyền nghề phải được quan tâm và làm tốt Thực hiện tốt công tác đào tạo nghề, truyền nghề sẽ góp phần không nhỏ vào việc bảo tồn và phát triển nghề truyền thống của nước ta trong thời gian tới
Mỗi ngành nghề đều có đặc trưng riêng của nó, vê phương thúc sản xuất Đặc biệt đối với những nghề truyền thống yêu cầu các sản phẩm phải có sự kết hợp giữa phương pháp thủ công tinh xảo với sự sang tạo nghệ thuật để tạo ra sản phẩn hàng thủ công mỹ nghệ Mỗi nghề có cách làm khác nhau, có những bí quyết riêng để tạo ra được sản phẩm đặc săc Chúng ta cần gìn giữ những bí quyết công nghệ này, không để mai một và mất đi Đời trước truyền đạt lại cho đời sau, kết hợp với hiện đại để ngày càng tạo ra sản phẩm đặc sắc hơn
2.1.4.4 Huy động nguồn lực phát triển nghề truyền thống
Nguồn lực phát triển nghề truyền thống bao gồm nguồn lực về vật chất và nguồn lực về con người Nguồn lực về vật chất bao gồm nguồn vốn đầu tư cho phát triển nghề truyền thống, hoạt động đầu tư quảng bá thương hiệu, đầu tư về
cơ sở hạ tầng Nguồn lực con người bao gồm những người làm công tác quản lý
về kinh tế tập thể, nghề, các nghệ nhân, lao động lành nghề
2.1.4.5 Kết quả bảo tồn và phát triển nghề truyền thống
Kết quả phát triển làng nghề truyền thống bao gồm sự tăng lên về số lượng các yếu tố, sản phẩm truyền thống đồng thời chất lượng của các yếu tố, sản phẩm truyền thống được nâng cao Kết quả sản xuất nghề truyền thống qua các năm phản ánh trình độ phát triển nghề, từ đó có các chính sách, các định hướng trong việc bảo tồn và phát triển nghề truyền thống
2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến bảo tồn và phát triển nghề truyền thống 2.1.5.1 Chủ trương, chính sách, quy định về bảo tồn và phát triển nghề truyền thống
Để bảo tồn, phát triển các nghề truyền thống, các doanh nghiệp và hộ gia đình đơn lẻ không thể thực hiện hiệu quả được mà cần có vai trò quản lý của
Trang 32Nhà nước trong việc định hướng, hỗ trợ cho các nghề và thông qua công cụ chủ yếu là các chính sách Có nhiều nhân tố tác động đến sự phát triển nghề, trong
đó nhân tố chính sách đóng vai trò quan trọng và có ý nghĩa quyết định Đặc biệt, khi thực hiện chính sách mở cửa, hội nhập, các chính sách phát triển các thành phần kinh tế, các văn bản pháp luật tạo môi trường sản xuất kinh doanh cho nghề phát triển ngày càng được quan tâm Vai trò của chính sách đối với bảo tồn và phát triển nghề truyền thống được thể hiện cụ thể như sau: Định hướng và điều tiết hoạt động của nghề, kích thích sự phát triển nghề, tạo môi trường sản xuất kinh doanh thuận lợi để phát triển nghề Nhà nước thông qua việc xây dựng và ban hành chính sách, pháp luật nhằm tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho các hộ và các doanh nghiệp hoạt động, đồng thời hỗ trợ về vật chất để tăng cường năng lực của các cơ sở, hộ gia đình, doanh nghiệp trong việc sản xuất kinh doanh tại làng nghề
2.1.5.2 Công tác quản lý Nhà nước
Công tác quản lý nhà nước đối với bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống rất quan trọng Nhà nước thực thi quyền lực của nhân dân, bảo vệ lợi ích của quốc gia, lợi ích của nhân dân đồng thời cũng là cơ quan đại diện cho nhân dân làm chủ sở hữu mọi tài sản thuộc sở hữu toàn dân Nhà nước xây dựng mô hình kinh tế thị trường và vận hành nền kinh tế bằng cơ chế thị trường có sự quản
lý của Nhà nước, định hướng xã hội chủ nghĩa Hiện nay, việc quản lý Nhà nước đối với bảo tồn và phát triển làng nghề thể hiện qua các mặt như: Nhà nước tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển của làng nghề, đồng thời điều tiết thị trường để nền kinh tế ổn định, phát triển; Nhà nước có cơ chế, chính sách hỗ trợ về cơ sở hạ tầng, mở rộng thị trường, đảm bảo chất lượng sản phẩm cho làng nghề…
2.1.5.3 Đầu tư cho bảo tồn và phát triển nghề truyền thống
Đầu tư cho bảo tồn và phát triển nghề truyền thống bao gồm đầu tư về nguồn vốn cho xây dựng cơ sở hạ tầng, đầu tư về kinh phí cho xử lý ô nhiễm môi trường, đầu tư về khoa học kỹ thuật, công nghệ, đầu tư xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường cho các làng nghề Việc đầu tư cho bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả của việc bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống
2.1.5.4 Nguồn nguyên liệu đầu vào và thị trường đầu ra
Các yếu tố đầu vào cũng như thị trường đầu ra đóng vai trò quyết định đến kết quả cũng như hiệu quả của việc sản xuất sản phẩm truyền thống tại các làng
Trang 33nghề Các yếu tố đầu vào ngoài lao động và kỹ thuật thì nguồn nguyên liệu đóng vai trò quan trọng Hiện nay, nguồn nguyên liệu cho các làng nghề truyền thống đang dần khan hiếm và bị thay thế bởi các nguồn nguyên liệu hiện đại, có giá cả
rẻ hơn tuy nhiên chất lượng không thể như nguồn nguyên liệu truyền thống Về thị trường đầu ra, các sản phẩm truyền thống sản xuất với công nghệ lạc hậu, sức cạnh tranh của sản phẩm thấp dẫn đến thị trường đầu ra hạn hẹp đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc bảo tồn và phát triển nghề truyền thống
2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
2.2.1 Kinh nghiệm về bảo tồn và phát triển nghề truyền thống của một số nước trên thế giới
a Kinh nghiệm của Nhật Bản
Việc Nhật Bản đã gìn giữ các nghề thủ công truyền thống độc đáo cùng với kỹ thuật chế tác phong phú, điêu luyện như thế nào trong làn sóng công nghiệp hóa của xã hội hiện đại có thể là kinh nghiệm hữu ích cho Việt Nam
Bảy nguyên tắc cốt lõi
Chính phủ Nhật Bản đã ban hành Luật Phát triển nghề thủ công truyền thống Nội dung cốt lõi của luật này đưa ra: Nguyên tắc xác định sản phẩm thủ công, Nguyên tắc chính quyền địa phương bảo lãnh, Xây dựng kế hoạch phát triển và chính sách hỗ trợ, Nguyên tắc đào tạo đội ngũ kế nghiệp, Marketing, Giới thiệu kỹ thuật thủ công truyền thống, Nghiên cứu vật liệu, Sử dụng lao động địa phương và Thiết kế mẫu mã, phát triển sản phẩm một cách hết sức cụ thể và
rõ ràng (Ngô Hương Lan, 2015)
- Nguyên tắc xác định sản phẩm thủ công truyền thống: Một sản phẩm được công nhận là sản phẩm thủ công truyền thống chỉ khi đáp ứng đủ năm tiêu chuẩn: 1/ Được tạo ra bởi kỹ thuật điêu luyện và có yếu tố nghệ thuật; 2/ Phải là mặt hàng chủ yếu phục vụ đời sống hằng ngày; 3/ Phải có tính thủ công nghiệp, với các công đoạn sản xuất chính được thực hiện bằng tay; 4/ Phải được chế tạo bởi kỹ thuật truyền thống có lịch sử 100 năm trở lên; 5/ Phải được sản xuất trong một khu vực nhất định (nghề, hay còn gọi là sanchi), trong đó có ít nhất 10 cơ sở sản xuất và 30 người theo nghề
- Nguyên tắc chính quyền địa phương làm người bảo lãnh: Phát triển nghề thủ công truyền thống được coi là giải pháp quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế địa phương, do đó chính quyền địa phương phải đóng vai trò
Trang 34cốt yếu Cụ thể, khi địa phương đề xuất yêu cầu tài trợ cho một dự án phát triển nghề truyền thống, Chính phủ sẽ chịu trách nhiệm một nửa, nửa còn lại do địa phương đảm nhận Luật Phát triển nghề thủ công truyền thống còn quy định người đại diện cho chính quyền địa phương (thống đốc hay thị trưởng) phải bảo lãnh cho sản phẩm ở giai đoạn xét duyệt
- Kế hoạch phát triển và chính sách hỗ trợ: Luật quy định các địa phương
có nghề thủ công truyền thống phải xây dựng kế hoạch phát triển trên các mặt sau: 1/ Công tác đào tạo, dạy nghề để luôn đảm bảo số người nối nghiệp; 2/ Những công việc liên quan đến kế thừa và cải tiến kỹ thuật, thủ pháp, đảm bảo duy trì và cải tiến chất lượng sản phẩm; 3/ Nghiên cứu nguyên vật liệu và đảm bảo nguồn nguyên liệu; 4/ Những công việc liên quan đến khai thác nhu cầu; 5/ Cải tiến cơ sở sản xuất và môi trường sản xuất; 6/ Cộng đồng hóa việc mua nguyên vật liệu, bán sản phẩm và những công việc khác (thông qua các tonya) 7/ Đảm bảo chất lượng, cung cấp thông tin chính xác và cần thiết cho người tiêu dùng; 8/ Những công việc liên quan đến phúc lợi y tế của người lao động, nghệ nhân đang theo nghề và khi về hưu; 9/ Lập kế hoạch các hạng mục công việc cần thiết khác nhằm khôi phục và phát triển nghề thủ công truyền thống
Dựa trên bản kế hoạch chín điều khoản này, các biện pháp hỗ trợ về vốn, chính sách thuế sẽ được áp dụng Năm 1992, Luật Phát triển nghề thủ công truyền thống sửa đổi đã quy định thêm tổng mức bao cấp để phát triển nghề thủ công là 1 tỷ yên/năm (8 triệu USD), trong đó mức hỗ trợ trực tiếp vào làng nghề
là 200 triệu yên (1,6 triệu USD); hỗ trợ cho các công ty (hoặc hộ gia đình) làm nghề là 800 triệu yên (6,4 triệu USD)
- Đào tạo đội ngũ kế nghiệp: Hình thức đào tạo chủ yếu có hai loại: thứ nhất, các nghệ nhân có tay nghề cao (được công nhận là “người làm công tác bảo tồn”) truyền thụ bí quyết nghề cho một số thợ học việc tại cơ sở sản xuất của họ (chế độ đồ đệ); thứ hai, chính họ giảng dạy tại các trường nghề của địa phương (chế độ nhà trường) Hiện nay, hầu hết mỗi sanchi đều có hệ thống đào tạo riêng
- Công tác marketing: Để thúc đẩy nhu cầu tiêu dùng của người dân đối với sản phẩm thủ công truyền thống, hằng năm, mỗi nơi đều tổ chức các cuộc triển lãm trưng bày sản phẩm của địa phương mình Trong tổng số vốn 1 tỷ yên/năm được Nhà nước tài trợ, 800 triệu yên được chi cho các dự án khai thác nhu cầu tiêu dùng của người Nhật đối với sản phẩm thủ công truyền thống [thông qua việc tổ chức các cuộc triển lãm trưng bày sản phẩm ở địa phương, hoặc ở
Trang 35những khu vực có sức tiêu thụ lớn, nhằm tiếp thị trực tiếp đến người tiêu dùng] Tuy nhiên, lượng tiền đến được với mỗi sanchi không nhiều, do số lượng sanchi khá lớn
- Công khai kỹ thuật thủ công truyền thống - Xây dựng Nhà triển lãm thủ công Quốc gia: Nhật Bản coi trọng việc “công khai hóa” và coi đó là phương thức bảo tồn nghề thủ công truyền thống một cách hữu hiệu Các cuộc triển lãm gắn liền với việc trau dồi, nâng cao “kỹ thuật” của các nghệ nhân, đồng thời cũng
có tác dụng nuôi dưỡng lòng yêu nghề, say mê với nghề của đội ngũ kế nghiệp Đến nay, đã có khoảng 30 tòa nhà triển lãm được xây dựng ở các làng nghề và các thành phố lớn, hơn 60 kỳ triển lãm được tổ chức kể từ năm 1974
- Nghiên cứu nguyên vật liệu: Việc nghiên cứu nguyên vật liệu thay thế cho vật liệu truyền thống đang ngày một cạn kiệt là việc làm cần thiết Trên thực
tế, hiện nay sợi tơ thô trong sản xuất vải lụa, sơn ta dùng trong sơn mài, vật liệu
gỗ và đá quý, vật liệu làm giấy truyền thống Nhật Bản đều phụ thuộc vào nhập khẩu Chính vì vậy mà có rất nhiều dự án tìm kiếm nguyên vật liệu thay thế, sản xuất hàng mẫu bằng nguyên vật liệu mới được thực hiện ở nước ngoài
- Sử dụng lao động địa phương: Một trong những điểm trọng tâm của Luật Phát triển nghề thủ công truyền thống sửa đổi là “tận dụng tối đa nguồn lao động tại địa phương”, “tập trung phát triển sản phẩm mới sử dụng kỹ thuật truyền thống” bằng cách kết hợp các ý tưởng từ nhiều ngành nghề khác nhau Ví dụ, làng nghề sơn mài ở Yamanaka (Yamanaka shikki) đã ứng dụng công nghệ rắc bột vàng truyền thống (makie) trên bát, đĩa gỗ vào việc trang trí các sản phẩm mỹ nghệ khác ngoài đồ gỗ như cúc áo, vỏ sò (làm móc treo chìa khóa)… tạo nên những sản phẩm thủ công hiện đại, phù hợp với xã hội tiêu dùng hiện đại Điều này thu hút nhiều thanh niên ở các địa phương khác đến đây để học nghề sơn mài truyền thống…
- Thiết kế mẫu mã, phát triển sản phẩm mới: Trong thời đại tiêu dùng đa dạng, phong phú như ngày nay, các sản phẩm thủ công truyền thống Nhật Bản không thể giữ nguyên mẫu mã cũ, bởi phải cạnh tranh với hàng hóa cao cấp mẫu
mã đẹp của châu Âu và hàng thông thường giá rẻ từ châu Á tràn vào Từ năm
1975, dự án “Thúc đẩy phát triển mẫu mã cho các ngành nghề địa phương” ra đời, với nguồn kinh phí được nhà nước hỗ trợ Các địa phương đưa kế hoạch phát triển sản phẩm lên, nếu được lựa chọn, sẽ được hỗ trợ trong bốn năm Trong năm đầu, thành lập cơ quan quản lý dự án với tên gọi “Phòng phát triển mẫu mã địa
Trang 36phương”, năm thứ hai kêu gọi các tổ chức tham gia thực hiện dự án (trường hợp
ít nhất là năm - sáu cơ sở, nhiều nhất có tới 900 cơ sở tham gia), năm thứ ba thực hiện sản xuất thử nghiệm mặt hàng mới với sự hợp tác của các nhà thiết kế mẫu
mã, năm cuối mở triển lãm trưng bày sản phẩm mới tại Tokyo, lấy ý kiến đóng góp, phê bình của các nhà chuyên môn và người tiêu dùng
Trải qua hơn 40 năm thực hiện Luật Phát triển nghề thủ công truyền thống, ở Nhật Bản hiện nay đã có 222 sản phẩm thủ công truyền thống được công nhận làm đối tượng bảo tồn, khoảng 70 nghìn người theo nghề, gần 14 nghìn cơ sở sản xuất với tổng doanh thu từ nghề thủ công truyền thống đạt 104 tỷ yên (880 triệu USD) mỗi năm (Cục Văn hóa Nhật Bản, 2001)
b Kinh nghiệm của Thái Lan
Việc tổ chức lại các làng nghề truyền thống ở Thái Lan đã tạo ra giá trị nhiều mặt: bảo tồn và nâng cao kỹ năng tay nghề nghệ nhân, gìn giữ văn hóa truyền thống, tạo công ăn việc làm ở nông thôn ngăn chặn làn sóng di cư vào đô thị, tạo ra sản phẩm xuất khẩu, sản phẩm du lịch Thái Lan có khoảng 70.000 làng nghề thủ công Để khai thác kỹ năng của các làng nghề truyền thống ở miền bắc Thái Lan, tạo ra thêm thu nhập, giải quyết lao động địa phương, từ năm
2001, Chính phủ Thái Lan đã thực hiện dự án OTOP (One Tambon One Product: mỗi làng nghề một sản phẩm) Đây là chương trình chiến lược từ sáng kiến của Cục xúc tiến xuất khẩu (DEP) thuộc Bộ Thương mại Thái Lan Mỗi làng nghề một sản phẩm không có nghĩa là mỗi làng chỉ có một sản phẩm mà mỗi làng có
kỹ năng, văn hóa, truyền thống riêng kết tinh trong sản phẩm trở thành đặc trưng riêng của làng nghề trong sản phẩm Chính phủ hỗ trợ kết nối địa phương với toàn cầu, thông qua việc hỗ trợ tiêu chuẩn hóa sản phẩm, hoàn tất đóng gói, tiếp thị, tổ chức kênh phân phối ở hải ngoại Ý tưởng ‘mỗi làng một sản phẩm’ (One Village One Product Movement) viết tắt là OVOP được Morihiko Hiramatsu khởi xướng và bắt đầu triển khai ở quận Oita (Nhật Bản) từ năm 1979 Sau đó, một số nước ở Châu Á đã áp dụng mô hình này và được đổi thành OTOP (One Town One Product, hoặc One Tambon One Product), có nghĩa là mỗi thị trấn hay mỗi địa phương một sản phẩm Thái Lan là nước phát triển OTOP rất thành công Với chính sách khuyến khích và hỗ trợ của cựu Thủ tướng Thaksin Shinawatra, hiện nay ở Thái Lan có khoảng 36.000 mô hình OTOP, mỗi mô hình tập hợp từ 30 đến 3.000 thành viên tham gia Sự phát triển OTOP đã giúp nghề thủ công truyền thống của Thái Lan được duy trì Nó đã giúp cho người dân Thái
Trang 37giải quyết được công ăn việc làm, làm ra nhiều sản phẩm đặc sắc của từng địa phương, góp phần tăng thu nhập cho người dân tham gia và điều quan trọng là giữ được giá trị tri thức truyền thống trong văn hóa lâu đời của họ Ở Trung Quốc
mô hình OTOP cũng đã bắt đầu từ năm 1989 Riêng ở Đài Loan đã có khoảng
100 trung tâm OTOP, làm ra trên 1.000 loại sản phẩm Thủ tướng Thaksin cho biết chính phủ Thái Lan sẽ tiếp tục giúp các cộng đồng địa phương nâng cao chất lượng sản phẩm theo chương trình OTOP để có thể tăng doanh thu thông qua việc chỉ thị cho các trường đại học mở các phòng vi-tính tạo phần mềm thiết kế các mẫu sản phẩm OTOP, đồng thời lập ra các trang thông tin nhằm giúp khách hàng nước ngoài có thể đặt mua hàng qua mạng Ngoài ra, chính phủ cũng sẽ giúp tổ chức các chuyến du lịch tới các làng nghề để du khách nước ngoài có thể tận mắt thấy được các sản phẩm OTOP được sản xuất như thế nào Ngoài mục đích phát triển du lịch, một khía cạnh tích cực hơn, mô hình OTOP cần khuyến khích người dân sử dụng nguồn nguyên liệu có sẵn tại chỗ, dựa vào tri trức truyền thống bản địa để làm ra sản phẩm đặc trưng của địa phương mình Ngoài ý nghĩa kinh tế, đây là cách bảo tồn, phát triển và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên ở địa phương, và giữ gìn tri thức bản địa một cách hiệu quả (Cinet, 2016)
2.2.2 Kinh nghiệm về bảo tồn và phát triền nghề truyền thống ở mốt số địa phương của Việt Nam
a Ninh Bình
Theo tài liệu thống kê gần đây của Sở Công thương thì trên địa bàn tỉnh Ninh Bình hiện có 54 làng nghề truyền thống, 275 làng có nghề truyền thống vừa tập trung, vừa rải rác, xen kẽ Có những nghề truyền thống đã và đang gặp nguy cơ bị mai một, thất truyền Bên cạnh đó, nhiều nghề truyền thống vẫn lưu tồn và tiếp tục phát triển rất khả quan Để phát huy ngày một tốt hơn nữa những tiềm năng nghề truyền thống trong thời kỳ hội nhập, nhiều địa phương trong tỉnh đã hình thành phong trào “Mỗi làng một nghề” theo định hướng chung Để đẩy mạnh phát triển phong trào, tỉnh Ninh Bình đã thực hiện (Nguyễn Quang Hải, 2015)
Phát triển nâng cấp những làng có nghề dần trở thành làng nghề, đồng thời làm sao đưa được nghề mới vào những thôn làng còn thuần nông; hình thành các doanh nghiệp để sản xuất, chế tác, tiêu thụ sản phẩm nghề; kêu gọi, khuyến khích đầu tư nhằm khôi phục, phát triển nghề, tạo điều kiện để các nghệ nhân, thợ có
Trang 38tay nghề cao truyền dạy nghề cho người học nghề; khắc phục từng bước tình trạng hoạt động sản xuất, kinh doanh nhỏ lẻ, manh mún, kém năng lực cạnh tranh của nghề truyền thống ở một số nơi (Nguyễn Quang Hải, 2015)
Gắn kết hữu cơ phong trào “Mỗi làng một nghề” với phong trào xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế, phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới hiện nay; gắn kết phát triển làng nghề với phát triển du lịch để thu hút được ngày càng nhiều du khách “du lịch làng nghề” và nhiều “làng nghề du lịch”… (Nguyễn Quang Hải, 2015)
b Hà Nam
Thời gian qua, công tác phát triển làng nghề trên địa bàn tỉnh Hà Nam được quan tâm và khuyến khích phát triển Hoạt động của các làng nghề này đã đóng góp một phần không nhỏ vào việc giúp kinh tế của các làng quê ngày một phát triển, giải quyết việc làm và làm tăng thu nhập cho nông dân Hà Nam hiện
có 163 làng nghề (trong đó 30 làng nghề truyền thống, 22 làng nghề TTCN và
111 làng có nghề), việc phát triển làng nghề tại Hà Nam đã đạt những kết quả tích cực, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp và tăng dần tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ Tỷ trọng Nông nghiệp - Công nghiệp Xây dựng - Dịch
vụ năm 2010 là 21,2% - 48,2% - 30,6%; Năm 2013 là 16,16% - 53,05% - 30,79% (Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nam, 2016)
Bên cạnh những kết quả đạt được, thời gian qua việc phát triển làng nghề còn một số hạn chế: Môi trường của một số làng nghề dệt may, chế biến lương thực, thực phẩm, thủ công mỹ nghệ đã và đang bị ô nhiễm; doanh nghiệp làng nghề ít vốn và khó tiếp cận các nguồn vốn để phát triển sản xuất kinh doanh; trình độ quản lý và tổ chức sản xuất kinh doanh hạn chế; lao động trong các làng nghề nhiều độ tuổi khác nhau nên gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp thu công nghệ, nâng cao trình độ tay nghề; nguồn lực hỗ trợ còn hạn chế chưa trở thành động lực cho phát triển làng nghề Bên cạnh đó, sự cạnh tranh khắc nghiệt giữa những sản phẩm cùng loại của nhiều làng nghề truyền thống ở các địa phương khác và sự thay đổi nhu cầu thị trường đã dẫn đến nguy cơ phá sản cho một số cơ
sở sản xuất làng nghề Hầu hết các làng nghề trong tỉnh chưa được quy hoạch, vẫn còn mang tính tự phát (Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nam, 2016)
Trang 39Để các làng nghề vượt qua khó khăn, phát triển ổn định, bền vững, các cấp, ngành của Hà Nam đã cố gắng đưa ra nhiều giải pháp như: Ban hành cơ chế, chính sách bảo tồn, phát triển các sản phẩm làng nghề (Phê duyệt Đề án Bảo tồn
và phát triển các sản phẩm nổi tiếng tỉnh Hà Nam giai đoạn 2011-2015); Thu hút,
di chuyển các cơ sở sản xuất trong các làng nghề, khu vực dân cư nông thôn hạn chế về mặt bằng sản xuất, hoạt động sản xuất gây ô nhiễm môi trường vào các cụm CN - TTCN - làng nghề, khu sản xuất tập trung; Đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu lao động cho các làng nghề, cụm CN - TTCN - làng nghề (Gắn với dạy nghề cho lao động nông thôn theo Quyết định số 1956/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ); Tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh trong các làng nghề, cụm CN - TTCN - làng nghề tham gia hoạt động xúc tiến thương mại để quảng bá các sản phẩm làng nghề, tham gia các hội chợ triển lãm, khai thác thị trường; Chú trọng công tác thi đua, khen thưởng, động viên những người làm nghề, kịp thời tôn vinh sự cống hiến của các nghệ nhân, thợ giỏi - những người có công đắc lực trong việc truyền nghề, giữ nghề… (Sở
Kế hoạch và Đầu tư Hà Nam, 2016)
2.2.3 Bài học kinh nghiệm rút ra cho bảo tồn và phát triển nghề truyền thống đối với huyện Gia Lâm
Thứ nhất: Muốn bảo tồn và phát triển nghề truyền thống cần phải ban hành Luật phát triển nghề truyền thống với những nội dung cốt lõi làm cơ sở cho
sự phát triển nghề truyền thống (Bài học Kinh nghiệm từ Nhật Bản)
Thứ hai: Cần có sự hỗ trợ tích cực từ Chính phủ, đầu tư xây dựng các dự
án nhằm bảo tồn và phát triển nghề truyền thống (Bài học từ Thái Lan)
Thứ ba: Phát triển nâng cấp những làng có nghề dần trở thành nghề, đồng thời làm sao đưa được nghề mới vào những thôn làng còn thuần nông; hình thành các doanh nghiệp để sản xuất, chế tác, tiêu thụ sản phẩm nghề; kêu gọi, khuyến khích đầu tư nhằm khôi phục, phát triển nghề, tạo điều kiện để các nghệ nhân, thợ có tay nghề cao truyền dạy nghề cho người học nghề; khắc phục từng bước tình trạng hoạt động sản xuất, kinh doanh nhỏ lẻ, manh mún, kém năng lực cạnh tranh của nghề truyền thống (Kinh nghiệm từ Ninh Bình)
Thứ tư: cần gắn kết hữu cơ phong trào “Mỗi làng một nghề” với phong trào xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế, phong trào: Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới
Trang 40hiện nay; gắn kết phát triển làng nghề với phát triển du lịch để thu hút được ngày càng nhiều du khách “du lịch làng nghề” và nhiều “làng nghề du lịch”… (Kinh nghiệm từ Ninh Bình)
Thứ năm, công bố quy hoạch, thông tin phổ biến quy hoạch phát triển nghề truyền thống và làng nghề đến các địa phương, các làng nghề, nghề truyền thống; Nghiên cứu thị trường, sáng tác mẫu sản phẩm mới, cải tiến bao bì đáp ứng yêu cầu thị hiếu tiêu dùng; Tăng cường công tác quảng bá, giới thiệu sản phẩm, mở rộng thị trường tiêu thụ; Phát triển sản phẩm thủ công truyền thống gắn với du lịch; Quan tâm công tác dạy nghề truyền nghề; Có chính sách hỗ trợ
và xây dựng vùng nguyên liệu cho sản xuất; Cơ giới hóa, ứng dụng công nghệ mới vào một số khâu sản xuất, nghiên cứu chuyển đổi nguyên liệu mới (Kinh nghiệm từ Hà Nam)