Tuy nhiên, rừng Sở của các hộ dân đều cho năng suất, chất lượng thấp do chưa được áp dụng khoa học kỹ thuật, sản xuất còn nhỏ, lẻ, manh mún; phát triển sản xuất Sở còn phụ thuộc vào nhiề
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NÌNH THỊ TRANG
PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT SỞ (CAMELLIA SP)
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BÌNH LIÊU, TỈNH QUẢNG NINH
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Văn Song
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả bên trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
NÌnh Thị Trang
Trang 3LỜI CẢM ƠN Tôi xin trân trọng gửi lời cám ơn tới các thầy, cô giáo Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Bộ môn Kinh tếTài nguyên và Môi trường – Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi về mọi mặt trong quá trình học tập và làm đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo hướng dẫn: GS.TS Nguyễn Văn Song, người đã định hướng và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm đề tài
Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn tới Ủy ban nhân dân, Chi cục Thống kê, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Bình Liêu
Tôi xin chân thành cảm ơn Ủy ban nhân dân các xã, các cán bộ, hộ nông dân đã giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn sự động viên, giúp đỡ của gia đình và bạn
bè trong suốt quá trình học tập và hoàn thiện đề tài
Tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đối với mọi sự giúp đỡ quý báu đó
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
NÌnh Thị Trang
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mụclục iii
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hình, sở đồ, đồ thị viii
Trích yếu luận văn ix
Thesis abstract xi
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 2
1.4 Những đóng góp mới của luận văn về lý luận và thực tiễn 3
Phần 2 Cở sở lý luận và thực tiễn 4
2.1 Cơ sở lý luận của đề tài 4
2.1.1 Một số khái niệm liên quan 4
2.1.2 Đặc điểm kỹ thuật cây Sở 7
2.1.3 Nội dung phát triển sản xuất Sở 9
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất Sở 11
2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 14
2.2.1 Các nghiên cứu liên quan trên thế giới 14
2.2.2 Các nghiên cứu liên quan trong nước 18
2.3 Bài học và kinh nghiệm rút ra từ tổng quan cơ sở lý luận và thực tiễn cho quá trình nghiên cứu đề tài 22
Phần 3 Phương pháp nghiên cứu 24
Trang 53.1 Đặc điểm của địa bàn nghiên cứu 24
3.1.1 Vị trí địa lý 24
3.1.2 Địa hình 25
3.1.3 Đất đai, thổ nhưỡng 25
3.1.4 Khí hậu, thủy văn 28
3.1.5 Điều kiện kinh tế - văn hóa - xã hội 29
3.1.6 Những thuận lợi, khó khăn của địa bàn nghiên cứu tới phát triển sản xuất Sở 33
3.2 Phương pháp nghiên cứu 33
3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 33
3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin 34
3.2.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 35
3.2.4 Hệ thống chỉ tiêu trong nghiên cứu 36
3.2.5 Cách tính toán một số chỉ tiêu trong nghiên cứu 37
Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 38
4.1 Khái quát tình hình sản xuất và tiêu thụ Sở huyện Bình Liêu 38
4.1.1 Khái quát tình hình sản xuất Sở huyện Bình Liêu 38
4.1.2 Sự phát triển về diện tích, năng suất, sản lượng Sở của huyện qua các năm 40
4.1.3 Tình hình tiêu thụ Sở của huyện Bình Liêu 42
4.2 Thực trạng phát triển sản xuất Sở của các hộ điều tra 43
4.2.1 Đặc điểm và điều kiện kinh tế của các hộ điều tra 43
4.2.2 Quy hoạch sản xuất Sở 46
4.2.3 Phát triển chất lượng Sở của các hộ điều tra 49
4.2.4 Tình hình tiêu thụ Sở và nhu cầu thị trường về sản phẩm Dầu Sở 54
4.2.5 Hiệu quả kinh tế trồng Sở của hộ nông dân 56
4.2.6 Hiệu quả xã hội 58
4.2.7 Hiệu quả môitrường 59
4.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới phát triển sản xuất Sở 59
4.3.1 Điều kiện tự nhiên 59
4.3.2 Điều kiện kinh tế xã hội 60
4.3.3 Trình độ dân trí 62
4.3.4 Chính sách 63
4.3.5 Khoa học công nghệ 64
Trang 64.3.6 Thị trường tiêu thụ 65
4.4 Đánh giá tình hình phát triển sản xuất Sở của hộ nông dân 66
4.4.1 Thuậnlợi 66
4.4.2 Khó khăn, tồn tại 67
4.4.3 Nguyên nhân của tồntại 68
4.5 Giải pháp phát triển sản xuất Sở trên địa bàn 69
4.5.1 Căn cứ đề xuất các giải pháp phát triển sản xuất Sở 69
4.5.2 Các giải pháp phát triển sản xuất Sở 70
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 77
5.1 Kết luận 77
5.2 Kiến nghị 79
Tài liệu tham khảo 81
Phụ lục 83
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Sản lượngnhập khẩu các loại dầu thực vậtở một số quốc gia chủ yếu 16
Bảng 2.2 Sản lượng các loại dầu thực vậtở một số quốc gia chủ yếu 16
Bảng 2.3 Sản lượng tiêu thụ các loại dầu thực vậtở một số quốc gia chủ yếu 17
Bảng 2.4 Sản lượng xuất khẩu các loại dầu thực vậtở một số quốc gia chủ yếu 17
Bảng 2.5 Năng suất Sở ở một số tỉnh 18
Bảng 3.1 Hiện trạng sử dụng đất huyện Bình Liêu 26
Bảng 3.2 Tình hình dân số và lao động huyện Bình Liêu 30
Bảng 3.3 Số lượng, thông tin của các đối tượng tiến hành phỏng vấn 35
Bảng 4.1 Diện tích trồng Sở huyện Bình Liêu 38
Bảng 4.2 Diện tích, năng suất, sản lượng Sởhuyện Bình Liêu 41
Bảng 4.3 Thông tin chung về hộ điều tra 45
Bảng 4.4 Số hộ trồng Sở tại các xã qua 3 năm (2013-2015) 47
Bảng 4.5 Diện tích sản xuất Sở của các hộ tại 3 xã điều tra 48
Bảng 4.6 Tình hình sử dụng giống Sở của các hộ điều tra 49
Bảng 4.7 Mức đầu tư chi phí sản xuất Sở trên 1 ha thời kỳ kiến thiết cơ bản 51
Bảng 4.8 Chi phí đầu tư 1 ha Sở thời kỳ kinh doanh 52
Bảng 4.9 Năng suất cây Sở của các hộ tại 3 xã điều tra 54
Bảng 4.10 Tình hình tiêu thụ Sở của hộ nông dân 55
Bảng 4.11 Một số chỉ tiêu kết quả và hiệu quả kinh tế sản xuất Sở bình quân 1ha 57
Bảng 4.12 Diện tích đất trống ở Bình Liêu có thể quy hoạch để trồng rừng Sở 60
Bảng 4.13 Dự kiến trồng mới Sở giai đoạn 2017-2020 71
Trang 9DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ, HỘP
Biểu đồ 2.1 Dự báo tiêu thụ dầu thực vật của Việt Nam 21
Hình 3.1 Bản đồ vị trí địa lý huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh 24
Biểu đồ 4.1 Số hộ có tham gia THKT trồng Sở tại 3 xã điều tra 50
Biểu đồ 4.2 Dân số, lao động tại 3 xã điều tra 61
Biểu đồ 4.3 Vốn đầu tư trên 1 ha của các nhóm hộ 62
Biểu đồ 4.4 Trình độ dân trí của các hộ dân tại 3 xã điều tra 62
Biểu đồ 4.5 Tỷ lệ số hộ có vay vốn sản xuất Sở tại 3 xã điều tra 64
Sơ đồ 4.1 Kênh tiêu thụ Sở các hộ điều tra 65
Hộp 4.1 Tiêu thụ sản phẩm Sở 66
Trang 10TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
1 Tên tác giả: Nình Thị Trang
2 Tên luận văn: “Phát triển sản xuất Sở (Camellia sp) trên địa bàn huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh”
3 Ngành: Phát triển nông thôn Mã số: 60.62.01.16
4 Cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Toàn cảnh kinh tế thế giới khó khăn, các ngành hầu hết bị sụt giảm nhưng riêng ngành công nghiệp dầu thực vật vẫn tăng trưởng, bởi các sản phẩm của ngành đáp ứng nhu cầu khó tiết giảm trong đời sống hàng ngày Trong khi đó, xu hướng chuyển từ mỡ động vật sang dầu thực vật của người tiêu dùng tăng cao, hé lộ một thị trường dầu thực vật đầy khởi sắc Với đặc tính dầu Sở đảm bảo sức khỏe, tăng sức đề kháng, chống ung thư, lão hóa thì đây là một bước tiến cho phát triển sản xuất Sở ở huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh.Bình Liêu là huyện miền núi của tỉnh Quảng Ninh, với tiềm năng đất đai về diện tích đất tự nhiên là 47.013,34 ha trong đó diện tích đất nông nghiệp là 33.969,19 ha
và diện tích đất trống chưa sử dụng là 7.153,6 ha của huyện là lợi thế cho phát triển sản xuất Sở Tuy nhiên, rừng Sở của các hộ dân đều cho năng suất, chất lượng thấp do chưa được áp dụng khoa học kỹ thuật, sản xuất còn nhỏ, lẻ, manh mún; phát triển sản xuất Sở còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố về: Giống, trình độ dân trí, vốn đầu tư, thị trường tiêu thụ Sở, Trong luận văn này, chúng tôi nghiên cứu những vấn dề lý luận, thực tiễn và thực trạng phát triển sản xuất Sở từ đó đề xuất các giải pháp phát triển sản xuất Sở cho huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh trong thời gian tới Tương ứng với đó là mục tiêu cụ thể bao gồm: (1) Hệ thống hóa lý luận và thực tiễn về sản xuất, phát triển sản xuất và phát triển sản xuất Sở; (2)đánh giá thực trạng phát triển sản xuất Sở của huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh; (3) phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới phát triển sản xuất Sở của huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh; (4) đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển sản xuất Sở của huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh
Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng linh hoạt giữa số liệu thứ cấp và sơ cấp
để đưa ra các phân tích nhận định Trong đó số liệu thứ cấp tổng hợp từ các báo cáo tổng kết,các tài liệu đã được công bố và các tài liệu từ mạng internet.Số liệu sơ cấp được thu thập qua bảng câu hỏi điều tra trực tiếpcác đối tượng các hộ dân, người thu gom, khách hàng và cán bộ quản lý tại 3 xã điều tra: Hoành Mô, Lục Hồn và Đồng Tâm Chúng tôi sử dụng các phương pháp phân tích như: phân tổ thống kê, thống kê mô
tả, so sánh, tổng hợp và xếp hạng các ý kiến đánh giá của chuyên gia, phương pháp hạch toán chi phí và tính giá thành sản phẩm
Trang 11Qua nghiên cứu, Bình Liêu là huyện có điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội thuận lợi cho phát triển sản xuất Sở Hiện nay, Sở được chế biến thành dầu ăn, vỏ Sở dùng để khử mùi tanh ao, hồ và đùng để làm xà phòng, Nên Sở đang được xác định là cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao, là cây trồng chủ lực được huyện quy hoạch mở rộng diện tích sản xuất, tăng số hộ trồng và tiến tới sản xuất tập trung quy mô lớn Hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường trong sản xuất Sở của hộ nông dân được thể hiện rõ rệt.Nghiên cứu cũng đưa ra phát triển sản xuất Sở của người dân không đồng đều phụ thuộc vào 6 yếu
tố ảnh hưởng đó là: (1) Điều kiện tự nhiên; (2) trình độ dân trí; (3) điều kiện kinh tế xã hội, (4) khoa học công nghệ; (5) chính sách nhà nước; (6) thị trường tiêu thụ Điều kiện
tự nhiên và điều kiện kinh tế xã hội thuận lợi cho phát triển sản xuất Sở Trình độ dân trí của các hộ dân trồng Sở còn thấp, chủ yếu là dântộc thiểu số nên khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật không cao Về khoa học công nghệ: Chưa chú trọng áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, chế biến Về chính sách của nhà nước còn chậm và chưa kịp thời Về thị trường tiêu thụ: Chưa có sự tham gia của các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh, việc ép giá vẫn xảy ra tại nơi mua bán sản phẩm Trong các yếu tố này chúng tôi thấy trình độ dân trí của các hộ dân ảnh hưởng lớn nhất tới phát triển sản xuất Sở tại huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh
Trên cơ sở đánh giá thực trạng và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất Sở,
để phát triển sản xuất Sở đề tài đã đưa ra các giải pháp: (1) Quy hoạch phát triển sản xuất Sở tập trung với quy mô lớn ở các xã như Đồng Tâm, Vô Ngại, Hoành Mô; (2) nâng cao năng lực người sản xuất; (3) giải pháp về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng;(4) giải pháp về khoa học kỹ thuật; (5) giải pháp về cơ chế, chính sách; (6) giải pháp về xây dựng thị trường tiêu thụ sản phẩm
Trang 12THESIS ABSTRACT
1 Author: Ninh Thi Trang
2 Title of the study: “Developing the Camellia production in Binh Lieu district, Quang Ninh province”
4 Educational institution: Vietnam National University of Agriculture (VNUA) The vegetable oil industry is booming regardless of the global economic decline because of the inelastic demand to vegetable oil product prices and the change in consumer’s preferences from the animal to vegetable oil Camellia oil is one of the vegetable-extracted products with the increasing demand because of its well-known health benefits such as anti-aging process, pro-immune system, cancer prevention, etc Binh Lieu, one of the mountainous districts of Quang Ninh province, proves to be a place of high potentials for camellia production with 33,969.19 ha of agricultural land out of the total land 47,013.34 ha, let alone 7,153.6 ha of the unused land Yet, the Camellia productivity remains low as a consequence of the absence of technological application, the modest and scattered production scale, etc The thesis seeks to study the theoretical and practical issues of camellia production as well as the Camellia production development, followed by proposing the solutions to developing the Camellia production in Binh Lieu district, Quang Ninh province In line with that overall goal, there are three specific objectives of the study, namely (1) To review the theoretical and empirical framework for production, production development and Camellia production development, (2) To evaluate the Camellia production development in Binh Lieu district, Quang Ninh province, (3) To make analysis of the factors affecting the Camellia production development in the examined district, and (4)
To propose several orientations and solutions to developing Camellia production in the district
Both the secondary and primary data are used flexibly in this study The former is collected through the official reports, published documents and the Internet-based information sources The latter is obtained through the surveys by questionnaires in farmer households, collectors, customers and management officers at 3 selected communes of the district, namely Hoanh Mo, Luc Hon and Dong Tam Subsequently, the gathered data is processed and analyzed with the methods of descriptive statistics, comparison, disaggregation, expert opinions, cost accounting and product costing
Trang 13The research results have revealed that Binh Lieu district has the favorable natural and socio-economic conditions for Camellia production In addition, Camellia-extracted products could be utilized for various purposes in daily life and industrial production Therefore, Camellia could generate high economic benefits so it is regarded as one of the district’s major crops That provides an explanation why Binh Lieu district has been paying attention to the planning for Camellia development in pursuant of large-scale and centralized production by increasing the growing area and the number of farmer households Recently, it has been found that Camellia production has significantly positive impacts on the socio-economic and environment aspects.There are six main factors affecting the Camellia production in the district The first most important factor
is the farmer households’ educational level To specify, the awareness of the growers remains at comparatively low level, which hinders the farmers’ new technology adoption Also, regarding the second factor- technology, the application of the up-to-date technological advances in production and product processing has not gained its popularity Besides, the supporting policies from the government have yet to be issued and executed in a timely manner Equally important, regarding the consumption market, the participation of entrepreneurship in the Camellia production development proves to
be urgent as it contributes to solving the price squeeze issue In addition, the remaining two factors, i.e the natural and socio-economic conditions, are seen to have certain impacts on the Camellia production development in the district
On the basis of evaluating the situation of Camellia production development and its affecting factors, the study finally comes up with six groups of key solutions, including: (1) Solutions to planning the Camellia large-scale production at Dong Tam,
Vo Ngai and Hoanh Mo communes of Binh Lieu district, (2) Solutions to enhancing the producers’ capacity, (3) Solutions to making investment in building the infrastructure, (4) Solutions in terms of technology, (5) Solutions regarding the government’s mechanisms and policies, and (6) Solutions related to building the product consumption market
Trang 14PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Sở là loài cây có giá trị kinh tế cao Ở Việt Nam, cây Sở đã được gây trồng
từ những năm 1955, từ các tỉnh phía Bắc (Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Phú Thọ, Hà Giang, Lai Châu) đến các tỉnh miền trung (Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế) Sở là loài cây đa tác dụng, sản phẩm chính của cây
Sở là lấy hạt để ép dầu Bã Sở (còn gọi là khô Sở) và vỏ quả được dùng chiết dầu thô để sản xuất xà phòng hoặc tách bỏ độc tố có thể làm thức ăn giàu đạm cho gia súc Khô Sở còn được dùng làm thuốc trừ sâu, khử trùng rất tốt cho các ao,
hồ nuôi thuỷ sản hay đem nghiền nhỏ có thể dùng làm phân bón,… Ngoài ra cây
Sở còn có vai trò phòng hộ rất tốt vì có tán lá dày rậm, xanh quanh năm và có đời sống dài (có thể sống trên 100 năm) Mặc dù có giá trị cao, song do đầu ra của loài cây này trong những năm trước đây còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là việc chế biến và thị trường tiêu thụ hạt và dầu Sở nên trên thực tế các rừng trồng Sở ở các địa phương chưa được quan tâm đúng mức Đến cuối năm 2006 diện tích rừng Sở còn lại ở các tỉnh phía Bắc đến Trung Bộ là 6.262,3ha (Hoàng Văn Thắng, 2013).Trong mấy năm trở lại đây, trước nhu cầu sử dụng dầu ăn từ thực vật ngày càng cao nên cây Sở cũng đã được các cơ quan, ban ngành và một số địa phương quan tâm hơn, đặc biệt như ở Quảng Ninh, Lạng Sơn, Nghệ An, Thanh Hóa và Lai Châu
Bình Liêu là huyện miền núi của tỉnh Quảng Ninh, có diện tích đất tự nhiên
là 47.013,34 ha, trong đó diện tích đất lâm nghiệp là 33.969,79 ha chiếm 72,25% diện tích tự nhiên (Diện tích rừng phòng hộ: 13.412,53 ha, diện tích rừng sản xuất: 20.557,26 ha) Trong các loài cây trồng rừng ở Bình Liêu thì Sở là một trong các loài cây trồng chính, đây cũng là một trong các loài cây lâm sản ngoài
gỗ có giá trị cao của huyện Trong khoảng thời gian từ 2010-2012 do giá cả hạt
và dầu Sở đã tăng lên đáng kể, giá hạt Sở từ 12.000-14.000đ/kg và giá dầu từ 120.000-200.000đ/lít nên nhiều hộ ở các xã trên địa bàn huyện đã và đang quan tâm nhiều hơn đến rừng trồng Sở (Phòng Nông nghiệp huyện Bình Liêu, 2015) Mặc dù huyện Bình Liêu có tiềm năng lớn để phát triển cây Sở nhưng do chưa nắm được hiện trạng của rừng trồng Sở và chưa có các giải pháp quy hoạch phát triển rừng trồng Sở trên địa bàn huyện nên việc gây trồng và phát triển rừng Sở ở Bình Liêu chưa thực sự mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người
Trang 15dân tham gia trồng rừng Các rừng trồng Sở đang có đều cho năng suất, chất lượng thấp do chưa được áp dụng các biện pháp kỹ thuật phù hợp Vậy làm thế nào để giải quyết những khó khăn đó, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống cho người dân?
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Phát triển sản xuất Sở (Camellia sp) trên địa bàn huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh”
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận, thực tiễn và thực trạng phát triển sản xuất Sở, đề xuất các giải pháp phát triển sản xuất Sở cho huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh
Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển sản xuất
Sở của huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh trong các năm tiếp theo
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Sự phát triển sản xuất Sở trên địa bàn huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh
Đối tượng khảo sát: Hộ nông dân trồng Sở, thương lái, cán bộ địa phương, khách hàng
Trang 16Đề tài nghiên cứu trong phạm vi huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh, một số nội dung chuyên sâu được khảo sát tại xã trong huyện
Phạm vi về thời gian:
+ Đề tài được thực hiện từ ngày 09/09/2015 đến ngày 1/10/2016
+ Số liệu sử dụng trong nghiên cứu được thu thập trong 3 năm gần đây từ 2013đến 2015
+ Định hướng và giải pháp cho các năm 2016 và 2020
1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Luận giải và phát triển cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển sản xuất Sở Luận văn đánh giá được thực trạng sản xuất và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sản xuất Sở: Trình độ dân trí, chính sách, khoa học kỹ thuật hay thị trường tiêu thụ Hầu hết các nghiên cứu khác về Sở chỉ đi sâu vào hình thái, phân bố, thành phần hóa học, giá trị sử dụng hoặc các kỹ thuật nhân giống,
Đề xuất các giải pháp kinh tế - kỹ thuật nhằm phát triển sản xuất Sở thông qua việc quy hoạch sản xuất, áp dụng các tiến bộ kỹ thuật mới về giống và kỹ thuật trồng và chăm sóc đồng thời đưa ra các giải pháp về chính sách hỗ trợ; thị trường tiêu thụ đầu ra cho các hộ dân
Trang 17PHẦN 2 CỞ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1.CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
2.1.1 Một số khái niệm liên quan
2.1.1.1 Khái niệm phát triển
Có nhiều định nghĩa khác nhau về phát triển, mỗi định nghĩa phản ánh một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau
Theo Ngân hàng thế giới WB (1992): “Phát triển trước hết là sự tăng trưởng
về kinh tế, nó còn bao gồm cả những thuộc tính quan trọng và liên quan khác, đặc biệt là sự bình đẳng về cơ hội, sự tự do về chính trị và các quyền tự do của con người”
Theo MalcomGills – Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương: Phát triển bao gồm sự tăng trưởng và thay đổi cơ bản trong cơ cấu của nền kinh tế, sự tăng lên của sản phẩm quốc dân do ngành công nghiệp tạo ra, sự đô thị hóa, sự tham gia của các dân tộc của một quốc gia trong quá trình tạo ra các thay đổi trên Theo tác giả Raaman Weitz (1995): “Phát triển là một quá trình thay đổi liên tục làm tăng trưởng mức sống của con người và phân phối công bằng những thành quả tăng trưởng trong xã hội”
Tuy có nhiều quan niệm khác nhau về phát triển, nhưng các ý kiến đều cho rằng đó là phạm trù vật chất, phạm trù tinh thần, phạm trù về hệ thống giá trị trong cuộc sống con người Mục tiêu chung của phát triển là nâng cao các quyền lợi về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và quyền tự do công dân của mọi người dân Phát triển kinh tế được hiểu là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh
tế Phát triển kinh đế được xem như là quá trình biến đổi cả về lượng và về chất,
nó là sự kết hợp một cách chặt chẽ quá trình hoàn thiện của hai vấn đề kinh tế và
xã hội ở mỗi quốc gia (Vũ Thị Ngọc Phùng, 2006)
Tóm lại, phát triển kinh tế là sự phát triển trong đó bao gồm cả sự tăng thêm
về qui môsố lượng cũng như sự thay đổi cấu trúc theo chiều hướng tiến bộ của nền kinh tế và việc nâng cao chất lượng của sản phẩm để đạt đến đích cuối cùng
đó là tăng hiệu quả kinh tế
2.1.1.2 Khái niệm phát triên bền vững
Trong quá trình phát triển kinh tế, khái niệm phát triển bền vững được hình thành và ngày càng được hoàn thiện Khái niệm này đang là mục tiêu hướng tới
Trang 18nhiều quốc gia trên thế giới, mỗi quóc gia sẽ dựa theo đặc thù kinh tế, xã hội, chính trị, địa lý, văn hóa riêng để hoạch định chiến lược phù hợp nhất với quốc gia đó
Sau một thời kỳ các nước trên thế giới thi đua công nghiệp hóa, khai thác tài nguyên, tìm kiếm thị trường; sự tăng trưởng kinh tế và dân số quá nhanh cùng với tình trạng thi đua sản xuất không giới hạn và khai thác vô ý thức các tài nguyên làm ô nhiễm môi trường, môi sinh và làm cạn kiệt dự trữ tài nguyên thiên nhiên trên thế giới Vào đầu thập niên những năm 1980, Liên hiệp Quốc tế Bảo
vệ Thiên nhiên (IUCN) là tổ chức đã đề khởi khái niệm “phát triển bền vững” Năm 1987, khái niệm này đã được Ủy ban Thế giới về Môi trường và Phát triển
do bà Gro Harlem Brundtland làm chủ tịch tiếp thu, khai triển và định nghĩa như sau: “phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thỏa mãn các yêu cầu hiện tại nhưng không tổn hại cho khả năng của các thế hệ tương lai để đáp ứng yêu cầu của chính họ” (Gro Harlem Brundtland, 1987)
2.1.1.3 Khái niệm sản xuất
Sản xuất là một quá trình hoạt động có mục đích của con người để tạo ra những sản phẩm hữu ích (sản phẩm vật chất và sản phẩm dịch vụ) nhằm thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của dân cư và xã hội Sản xuất là quá trình các đầu vào được kết hợp, sử dụng công nghệ nhất định tạo ra sản phẩm và dịch vụ
Sản xuất cho tiêu dùng tức là tạo ra sản phẩm mang tính tự cung tự cấp, quá trình này thể hiện trình độ còn thấp của các chủ thể sản xuất, sản phẩm sản xuất
ra chỉ nhằm mục đích đảm bảo chủ yếu cho các nhu cầu của chính họ, không có sản phẩm dư thừa cung cấp cho thị trường (Ngô Đình Giao, 1995)
Sản xuất cho thị trường tức là phát triển theo kiểu sản xuất hàng hóa, sản phẩm sản xuất ra chủ yếu trao đổi trên thị trường, thường được sản xuất trên quy
mô lớn, khối lượng sản phẩm nhiều Hình thức này mang tính tập trung chuyên canh cao, tỷ lệ sản phẩm hàng hóa cao (Phan Công Nghiệp, 2002)
Tóm lại, sản xuất là quá trình phối hợp và điều hòa các yếu tố đầu vào (tài nguyên hoặc các yếu tố sản xuất) để tạo ra sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ (đầu ra) 2.1.1.4.Khái niệm phát triển sản xuất
Sản xuất là quá trình kết hợp tưliệu sản xuất với sức lao động để tạo ra sản phẩm Phát triển sản xuất được coi là một quá trình tăng tiến về qui mô (sản lượng) và hoàn thiện về cơ cấu
Trang 19Trong cơ chế thị trường hiện nay, các doanh nghiệp cũng như các tổ chức kinh tế khi tiến hành phát triển sản xuất phải lựa chọn ba vấn đề kinh tế cơ bản
đó là: Sản xuất cái gì? Sản xuất cho ai? Sản xuất như thế nào? Những vấn đề này liên quan đến việc xác định thị trường và phân phối sản phẩm đúng đắn để kích thích sản xuất phát triển
Phát triển sản xuất là yêu cầu tất yếu trong quá trình tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia trên thế giới Phát triển sản xuất có vai trò quan trọng hơn nữa khi nhu cầu về các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ càng ngày được nâng cao, đặc biệt hiện nay với xu thế tăng mạnh nhu cầu về chất lượng sản phẩm
Phát triển sản xuất cũng được coi là một quá trình tái sản xuất mở rộng, trong đó quy mô sản xuất sau lớn hơn quy mô sản xuất trước trên cơ sở thị trường chấp nhận Hay phát triển sản xuất là quá trình nâng cao khả năng tác động của con người vào các đối tượng sản xuất, thông qua các hoạt động nhằm tăng quy mô về số lượng, đảm bảo hơn về chất lượng sản phẩm, hàng hóa, dịch
vụ phục vụ đời sống ngày càng cao của con người (Ngô Đình Giao,1995)
Khi nói đến phát triển sản xuất, ngta thường quan tâm đến các khía cạnh: quy mô, chất lượng,
Phát triển về mặt quy mô: Quy mô sản xuất thường được biểu thị qua chỉ têu: số lượng hoặc sản lượng sản phẩm sản xuất ra Quy mô sản xuất phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó các yếu tố quan trọng nhất là: diện tích sản xuất, vốn đầu tư, trình độ chuyên môn kỹ thuật của người sản xuất Các hộ sản xuất có những điều kiện tốt về vốn đầu tư, diện tích sản xuất, khả năng tiêu thụ sản phẩm, có chuyên môn kỹ thuật cao sẽ thuận lợi trong việc phát triển sản xuất với quy mô lớn và ngược lại
Phát triển về mặt chất lượng: Phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có các yếu tố quan trọng là: Khả năng ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ trong sản xuất của người sản xuất là cao hay thấp; chất lượng sản phẩm sản xuất cung cấp ra thị trường cao hay thấp; thu nhập và lợi nhuận của người sản xuất là cao hay thấp
2.1.1.5.Khái niệm phát triển sản xuất Sở
Dựa trên cơ sở lý luận về phát triển và phát triển sản xuất, chúng ta có thể quan niệm phát triển sản xuất Sở là sự tăng tiến về quy mô, sản lượng và sự tiến
bộ về cơ cấu giống, mùa vụ và chất lượng Sở sản xuất ra Sản phẩm có thị trường tiêu thụ ổn định, phù hợp với nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng
Trang 20Như vậy phát triển sản xuất Sở bao hàm sự biến đổi về số lượng và chất lượng.Sự thay đổi về số lượngvà chất lượng.Sự thayđổi về số lượng đó là sự tăng lên về quy mô diện tích, sản lượng và tăng tỷ trọng trong ngành sản xuất Sở trong tổng giá trị ngành nông nghiệp và trồng trọt Sự tăng quy mô diện tích và sản lượng trong tương lai phải phù hợp với đặc điểm của vùng, địa phương hay tỉnh
Mở rộng diện tích Sở phải đảm bảo lợi ích chung của toàn xã hội và lợi ích của người sản xuất Sở
Hiện nay diện tích sản xuất Sở nói chung của nước ta còn rất thấp, do vậy việc tăng diện tích, sản lượng Sở là cần thiết Song sản xuất trong điều kiện kinh tế thị trường thìphải chú ý đến quy luật cung cầu, giá cả, quy luật cạnh tranh thì sản xuất mới mang lại hiệu quả và phát triển sản xuất mới đảm bảo tính bền vững
Như vậy, phát triển sản xuất Sở là một quá trình tăng tiến về qui mô và năng suất sản xuất Sở
2.1.2 Đặc điểm kỹ thuật cây Sở
Cây Sở (Camellia sp) là cây gỗ nhỏ, lá rộng thường xanh, một gốc cây trưởng thành thường có từ 3 đến 5 thân không phân biệt chính hay phụ Cây cao trung bình từ 5,5m – 6,0m Lá đơn mọc cách, cuống ngắn, mép lá có răng cưa nhỏ Tán lá cây Sở khá dày, có nhiều hình dạng khác nhau: Hình ô, hình Trứng, hình Nón, hình Tháp hay hình Trụ,
Phân bố
Ở Việt Nam, Chi Sở (Camellia) có phân bố rộng rãi, từ các tỉnh giáp biên giới Việt – Trung ở phía Bắc (Cao Bằng, Lạng Sơn, ) đến các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ (Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế), phạm vi phân bố trong khoảng từ 16,50oBắc đến 23,21oBắc Trong đó loài Sở (C.oleifera C.Abel) có phân bố tự nhiên và gây trồng nhiều ở các tỉnh vùng Đông Bắc (Lạng Sơn, Quảng Ninh, ), vùng trung tâm (Yên Bái, Hà Giang, Phú Thọ) Còn loài Sở (C.sasanqua Thunb) có phân bố chủ yếu và gây trồng từ các tỉnh vùng khu bốn
cũ (Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh) đến vùng Bắc trung bộ (Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế)
Điều kiện sinh thái
Sở ưa khí hậu ấm và ẩm, nhiệt độ không khí bình quân từ 15,9oC, chịu được nhiệt độ tối cao tuyệt đối đến 40,7oC, tối thấp tuyệt đối đến -4,5oC Lượng mưa bình quân năm từ 1391,9mm đến 2783,2mm, độ ẩm không khí tương đối bình quân từ 80 – 85% Tổng số giờ nắng bình quân năm từ 1500 giờ trở lên
Trang 21Cây Sở không kén đất, có thể sống được trên các vùng đất bạc màu, đất trống đồi trọc, đất thoái hóa khô cằn Sở sinh trưởng phát triển tốt nhất trên các vùng đất cát pha, đất Feralit đỏ vàng, đất rừng mới khai phá có tầng đất sâu, thoát nước như các dạng đồi núi thấp, sườn đồi thoải hoặc ven chân đồi Sở ưa thích đất có độ pHkcl chua khoảng từ 4 -5, thậm chí đén 3,75 (tầng 0 – 10cm, rừng Sở
28 năm tuổi Nghĩa Đàn, Nghệ An) Đất vườn ươm Sở cần có độ pHkcl thích hợp
từ 4 – 4,5, thoát nước, thành phần cơ giới cát pha hay thịt nhẹ Đất phù xa, đất úng nước hay đất có thành phần cơ giới thịt nặng khồn phù hợp cho cây Sở sinh trưởng phát triển (Nguyễn Quang Khải và cs., 2004)
Sinh trưởng và phát triển
Sở sinh trưởng chậm trong những năm đầu, sau từ năm thứ 5 trở đi mức độ sinh trưởng nhanh hơn Cây trồng trên đất tốt sau 5 năm bắt đầu ra hoa kết quả, nhưng sản lượng quả và hạt chỉ ổn định khi rừng Sở đạt từ 15 năm trở đi Cây Sở sống lâu năm vẫn cho thu hoạch quả (có thể đến 100 năm, vườn Sở xã Vĩnh Chấp, Vĩnh Linh – Quảng Trị), nhưng cần phải quản lý, chăm sóc và nuôi dưỡng đều đặn hàng năm, nếu không rất dễ trở thành hoang hóa
Giá trị sử dụng của cây Sở
Sở là một trong 13 loài cây có dầu có giá trị đã và đang được nghiên cứu, khai thác trên thế giới và ở nước ta Việc phát triển cây Sở nhằm cung cấp dầu béo, tạo nguồn nguyên liệu cho một số ngành công nghiệp và xuất khẩu là một việc làm hoàn toàn đúng đắn và cấp thiết Tiềm năng khai thác và sử dụng cây Sở
là khá lớn, nếu nhà nước có chính sách khuyến khích, đầu tư cho các cơ sở quốc doanh, hợp tác xã và tư nhân để gây trồng, bảo vệ, thu mua và chế biến thì không những nhân dân tự chế biến và tiêu dùng một lượng lớn về dầu Sở mà còn có nhiều dầu để xuất khẩu và phục vụ cho các ngành công nghiệp khác Sở là loài cây đa mục đích, sản phẩm chính của Sở là dầu Sở, bã Sở, vỏ quả, ngoài ra Sở còn cung cấp gỗ gia dụng, củi đun, hoa Sở nuôi ong lấy mật rất tốt
Dầu Sở: Dầu Sở ép từ hạt là loại dầu ăn đạt tiêu chuẩn chất lượng cao tương đương với dầu Ôliu - một loại dầu ăn đang được ưa chuộng trên thị trường quốc tế Dầu Sở là nguyên liệu cho công nghiệp sản xuất xà phòng, mỹ phẩm cao cấp và dược liệu y tế Dầu Sở khi tinh chế xong có thể chế biến thành các sản phẩm như mỹ phẩm trang điểm, làm xà phòng, sữa nhân tạo, chế dầu in và dùng trong y dược Nhân dân dùng dầu Sở để ăn và thắp đèn Hàm lượng dầu trong hạt
Sở khô bình quân từ 20-25% và trong nhân khoảng 40 - 50%, phụ thuộc rất nhiều vào mỗi cá thể Sở trồng ở nước ta có những mẫu đạt tỷ lệ dầu trong nhân tới 56% - 60% Vì vậy, công tác chọn giống Sở cho trồng rừng là rất cần thiết
Trang 22Bã Sở: Ngoài dầu Sở, bã Sở (khô Sở) và vỏ quả cũng có nhiều công dụng Khô Sở khi ép được ngâm chiết dầu thô để sản xuất xà phòng hoặc tách bỏ độc tố làm thức ăn gia súc giàu đạm Khô Sở còn làm thuốc trừ sâu, hay đem nghiền nhỏ làm phân bón rất tốt Kinh nghiệm của nhân dân trong nhiều vùng đã dùng khô Sở trộn với bồ hóng và dầu hoả để làm thuốc trừ sâu cho lúa mạ, làm phân bón cho cây nông nghiệp, công nghiệp Khô Sở được chiết lấy độc tố Saponin làm chất tẩy rửa trong một số ngành công nghiệp hoặc dùng diệt tạp khuẩn vệ sinh cho hệ thống ao hồ, trong chăn nuôi thuỷ sản
Vỏ quả: Thành phần của quả Sở gồm 60- 61% vỏ quả Vỏ quả Sở được thuỷ phân để sản xuất cồn ethylic, axit butyric, methylic, vỏ quả còn chiết xuất được Tanin (9,26% tanin trong vỏ) nhiệt phân để làm than hoạt tính hay đem nghiền làm nền nuôi cấy men trong sản xuất nấm ăn
Gỗ và củi:Gỗ và cành nhánh của Sở làm đồ gia dụng khá bến và củi đun rất tốt
Hoa Sở: Sở ra hoa vào mùa đông nên dùng để nuôi ong mùa đông lấy mật
Sở là loài cây đa tác dụng, sản phẩm chính của Sở là Dầu Sở và bã Sở Dầu
Sở dùng làm dầu ăn hoặc xuất khẩu, là loại hàng hóa rất có giá trị cần được tận dụng để phát triển sản xuất mở rộng
Giá trị kinh tế
Những năm gần đây, cây Sở không chỉ được biết đến như một nét riêng, thu hút khách phương xa đến với Bình Liêu, mà còn là một loài cây mang lại lợi ích kinh tế cho người dân Hạt Sở được các thương lái Trung Quốc thu mua tại khu vực cửa khẩu Hoành Mô, thậm chí có nhiều thương lái còn đến tận các vườn Sở mua trực tiếp Đặc biệt, nhiều thương lái ở Lạng Sơn thu mua hạt Sở không chỉ
để chế biến dầu mà còn để lấy hạt giống, mở rộng mô hình trồng Sở tại địa phương Hạt Sở được thu mua với giá từ 17.000-18.000 đồng/kg Dầu Sở ép có giá khoảng 150.000 -200.000 đồng/lít (Phòng Nông nghiệp huyện Bình Liêu, 2015) 2.1.3.Nội dung phát triển sản xuất Sở
2.1.3.1 Quy hoạch sản xuất Sở
Trong nền kinh tế thị trường sản xuất hàng hóa tập trung hiện nay, việc quy hoạch sản xuất tập trung là điều cần thiết Quy hoạch sản xuất tập trung nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng đất đai,nâng cao năng suất cây trồng, giảm nhẹ sức lao động và nâng cao thu nhập cho người dân Quy mô sản xuất nhỏ lẻ gặp rất nhiều khó khăn trong sản xuất và chịu nhiều sức ép khi tham gia thị trường đầu vào và đầu ra Vì vậy cần quy hoạch sảm xuất Sở chính xác và kịp thời
Trang 232.1.3.2 Phát triển chất lượng Sở
+ Năng suất là thước đo mức độ hiệu quả của các hoạt động tạo ra kết quả đầu ra (số lượng, giá trị gia tăng) từ các yếu tố đầu vào (lao động, vốn, nguyên liệu, ).Phát triển về năng suất Sở qua các năm là việc tăng hiệu quả sản xuất Sở thông qua tăng sản lượng hoặc giá trị sản phẩm và giảm yếu tố đầu vào sản xuất (giống, lao động, vốn, )
+ Khoa học kỹ thuật
Khoa học kỹ thuật thực sự trở thành một nhân tố quyết định đến việc nâng cao năng suất cây trồng vật nuôi trong nông nghiệp Khoa học ngày càng phát triển, các kỹ thuật lai, nhân giống phục vụ rất đắc lực cho quá trình sản xuất của nông dân Vì vậy việc nắm bắt và học tập các tiến bộ kỹ thuật này kết hợp với kinh nghiệm rất là quan trọng Kết hợp được kỹ thuật và kinh nghiệm thì sản xuất
Sở sẽ đem lại năng suất cao, chất lượng tốt, mang lại hiệu quả kinh tế cao Bên cạnh đó, các kỹ thuật bảo quản, chế biến cũng cần được chú trọng tới Đặt vệ sinh an toàn thực phẩm lên hàng đầu
Áp dụng tiến bộ KH-KT trong sản xuất Sở thể hiện qua:
+ Cơ cấu giống
+ Tỷ lệ tham gia tập huấn,
2.1.3.3 Phát triển về thị trường tiêu thụ Sở
Quy mô sản xuất: TrồngSở với diện tích tập trung và ổn định nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường, việc trồng Sở có sự đầu tư chăm sóc theo đúng quy trình
kỹ thuật sẽ làm cho chất lượng Sở được tăng lên tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tiêu thụ sản phẩm Sở trên thị trường Trong cơ chế tiêu thụ hiện nay, sự phát triển sản xuất cây trồng đã thể hiện cuộc cạnh tranh gay gắt về năng suất, chất lượng và giá cả Phát triển sản xuất Sở cũng vậy, để cạnh tranh được trên thị trường các hộ cần đẩy mạnh đổi mới công nghệ, cải tiến phương pháp sản xuất
để nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm, hạ giá thành sản phẩm Thị trường tiêu thụ sản phẩm Sở: Thị trường chịu ảnh hưởng bởi quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu như các thịtrường khác Nó là sự kết hợp chặt chẽ giữa hai khâu sản xuất và tiêu thụ Nếu thị trường chấp nhận thì quy mô sản xuất sẽ được ổn định và phát triển mở rộng
Chất lượng Sở: để có được thị trường tiêu thụ ổn định tăng cường chất lượng sản phẩm, bảo đảm sản phẩm mẫu mã đẹp, chất lượng cao
Trang 24Sự cạnh tranh của các đối thủ trên thị trường: để vấn đề này xảy ra trong thị trường tiêu thụ đòi hỏi sản phẩm Sở phải có thương hiệu, được sự công nhận của thị trường trong và ngoài nước
Sự hoàn thiện các kênh phân phối sản phẩm, công tác quảng bá sản phẩm cũng ảnh hưởng rõ rệt đến quá trình tiêu thụ Nếu kênh tiêu thụ hoàn hảo thì sản lượng Sở tiêu thụ ngày càng lớn, công tác quảng bá sản phẩm tốt khách hàng biết đến giá trị mang lại của sản phẩm Sở sẽ tạo điều kiện cho cả quá trình tiêu thụ 2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất Sở
Quá trình phát triển sản xuất cây trồng nói chung và sản xuất Sở nói riêng chịu tác động của rất nhiều yếu tố Những yếu tố có sự biến đổi trong từng thời
kỳ và theo chiều hướng khác nhau Chúng có thể là những yếu tố thúc đẩy nhưng ngược lại cũng có thể là nhữngnhân tố kìm hãm sự phát triển sản xuất Có thể chia những nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất Sở thành 6 nhóm sau đây:
-Nhóm nhân tố về điều kiện tự nhiên
Điều kiện đất đai, khí hậu: Đất đai, khí hậu, thời tiết có ảnh hưởng trựctiếp đến quá trình trồng cây Sở Trong các nhân tố thuộc về điều kiện tự nhiên, nhân
tố đầu tiên phải kể đến đó là điều kiện đất đai Các tiêu thức của đất đai cần được đánh giá mức độ thuận lợi hay khó khăn cho sản xuất Sở
Nguồn tài nguyên đất là điều kiện quan trọng mà địa phương sẵn có giúp cho các hộ dân phát triển sản xuất Sở, đặc biệt là các xã có diện tích đất chưa trồng rừng Nguồn tài nguyên Đất feralits vùng đồi và núi thấp phát triển trên đá Mácma axít của huyện chiếm khoảng 27% diện tích đất tự nhiên rất phù hợp với trồng câylâm nghiệp đặc biệt là cây Sở Do vậy, toàn huyện với 6.841,22 ha đất chưa sử dụng, đây là một trong những yếu tố tạo điều kiện thuận lợi cho các hộ dân phát triển sản xuất Sở (Phòng Tài Nguyên và Môi Trường huyện Bình Liêu, 2015) Đối với sản xuất hàng hóa nông nghiệp nói chung và sản xuất Sở nói riêng, đất đai tuy thường được xem xét trước nhưng mức độ ảnh hưởng của nó đến sản xuất không mang tính quyết định bằng điều kiện khí hậu Những thông số cơ bản của khí hậu như: Nhiệt độ bình quân hàng năm, hàng tháng; nhiệt độ cao nhất, thấp nhất hàng năm, hàng tháng, lượng mưa hàng năm, hàng tháng; lượng mưa bình quân cao nhất, thấp nhất; độ ẩm không khí; thời gian chiếu sáng, cường độ chiếu sáng; chế độ gió; những hiện tượng đặc biệt của khí hậu như sương mù, mưa đá cần được phân tích, đánh giá về mức độ ảnh hưởng phát triển của Sở
Trang 25Ngoài đất đai và khí hậu, nguồn nước cũng cần được xem xét Nguồn nước bao gồm cả nước mặt và nước ngầm, hoặc khả năng đưa nước từ nơi khác đến vùng sản xuất
-Nhóm nhân tố về trình độ dân trí
Phát triển sản xuất nhanh hay chậm, tốt hay không tốt phụ thuộc rất nhiều vào trình độ dân trí của người dân trong việc tiếp thu các kỹ thuật gieo trồng, chăm sóc, thu hoạch, chế biến Sở Trong quá trình sản xuất Sở, yếu tố con người đóng vai trò vô cùng quan trọng nếu lực lượng lao động có đầy đủ những phẩm chất, trình độ, đặc biệt là kinh nghiệm thì hoạt động sản xuất chắc chắn đem lại hiệu quả cao Trình độ tổ chức và quản lý giúp con người sử dụng đầy đủ và hợp
lý nguồn lực tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao nhất với chi phí bỏ ra là thấp nhất
- Nhóm nhân tố về khoa học – công nghệ
Khoa học công nghệ: Khoa học là hệ thống tri thức về tự nhiên, xã hội và tư tưởng tích lũy trong quá trình lịch sử, có mục đích phát hiện những quy luật khách quan của các hiện tượng và giải thích hiện tượng đó (Phạm Viết Vượng, 2000) Định nghĩa công nghệ do Ủy ban Kinh tế và xã hội khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (ESCAP): Công nghệ là kiến thức có hệ thống về quy trình và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin Nó bao gồm kiến thức, thiết bị, phương pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hóa và cung cấp dịch
vụ Theo Luật chuyển giao công nghệ (2006) thì công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm
Nhờ có khoa học, con người ngày càng hiểu rõ hơn các quy luật của tự nhiên, của các hoạt động kinh tế Từ đó, họ có những can thiệp phù hợp với quy luật của tự nhiên, nhằm khai thác và cải biến tự nhiên theo những mục đích nhất định nhưng không gây nên những tác động xấu đối với tự nhiên
-Nhóm nhân tố về điều kiện kinh tế - xã hội
+ Dân số, lao động
Tạo ra nhu cầu lớn cho sản phẩm của cây Sở đồng thời cung cấp lao động cho phát triển trồng Sở Con người là trung tâm của quá trình sản xuất, là yếu tố quyết định đối với mọi hoạt động sản xuất Đây là một trong những nhân tố kích thích để phát triển sản xuất, tăng sản lượng Sở tiêu thụ trên thị trường và cải tiến phương thức tiêu thụ để đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu của thị trường
Trang 26+ Cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng góp phần vào việc phát triển sản xuất Sở như hệ thống cung cấp nước, các tuyến giao thông đường bộ, hệthống đường lâm sinh, Để phát triển sản xuất thì đòi hỏi hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất cũng cần được nâng cấp Công trình thủy lợi nhằm đảm bảo tưới tiêu đáp ứng đầy đủ nhu cầu tưới tiêu đối với quá trình sinh trưởng và phát triển của cây khi gặp hán hạn kéo dài Còn hệ thống giao thông liên quan đến quá trình vận chuyển các yếu tố đầu vào như cây giống, các loại vật tư cũng như đầu ra của quá trình sản xuất Trên thực tế cho thấy
ở những địa phương có sự đầu tư hợp lý cho hệ thống cơ sở hạ tầng thì ở đó sản xuất có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển và tiêu thụ sản phẩm
Như vậy, phát triển sảnxuất Sở và nâng cấp cơ sở hạ tầng có quan hệ hỗ trợ, bổ sung cho nhau trong đó quy hoạch về cơ sở hạ tầng cần thực hiện trước một bước + Sản xuất Sở đòi hỏi đầu tư nhiều lao động sống với có trình độ Một mặt
họ phải nắm vững đặc tính sinh trưởng của cây và chăm sóc cây để thu được sản phẩm đạt yêu cầu Mặt khác, việc lựa chọn giống cũng rất quan trọng Vì vậy, yếu tố kỹ thuật có vai trò quyết định đến sự thành bại của hộ nông dân Khoa học ngày càng phát triển, các kỹ thuật nhân giống phục vụ rất đắc lực cho quá trình sản xuất của hộ nông dân Việc nắm bắt và học tập các tiến bộ kỹ thuật này kết hợp với kinh nghiệm sản xuất là rất quan trọng
Do đó, không phải cứ bón nhiều phân thì cây phát triển mà cần thiết phải đầu tư nhiều lao động chất lượng cao để chăm sóc
+ Vốn đầu tư
Bất cứ hoạt động nông nghiệp nào cũng cần vốn Vốn trong nông nghiệp có vai trò quan trọng trong sản xuất và kinh doanh của nông trại Nó là yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa (Đỗ Kim Chung, 2009)
Vốn luôn là một trong những nhân tố quan trọng nhất trong quá trình sản xuất Sở Việc chăm sóc Sở cũng đòi hỏi đầu tư về cơ sở vật chất, điều kiện chăm sóc, giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, Vốn còn quyết định tới việc tái sản xuất giản đơn hay tái sản xuất mở rộng do đó để phát triển sản xuất Sở đòi hỏi các hộ nông dân cần có nguồn vốn để chủ động đối phó với các rủi ro: Thời tiết, thị hiếu thay đổi, giá trị đầu vào tăng cao,
- Nhóm nhân tố về thị trường tiêu thụ sản phẩm Sở
Đầu ra của sản phẩm luôn là mối quan tâm, lo lắng đối với người sản xuất Sản xuất muốn phát triển ổn định đòi hỏi cần có thị trường và luôn tìm cách đáp
Trang 27ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường Bất kỳ ngành sản xuất nào cũng liên quan đến thị trường đầu vào và đầu ra Việc tìm kiếm và mở rộng thị trường tiêu thụ sẽ mang lại tâm lý yên tâm sản xuất cho nông hộ, lựa chọn hướng đầu tư hiệu quả, hạn chế mức thấp nhất những rủi ro thường gặp trong sản xuất từ đó mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn
-Nhóm nhân tố về chính sách
Chính sách là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, các giải pháp và công cụ
mà Nhà nước sử dụng để tác động lên các chủ thể KT – XH nhằm giải quyết vấn
đề nhằm thực hiện mục tiêu nhất định (Phan Kim Chiến, 2007)
Đây là nhân tố góp phần định hướng cho các hoạt động sản xuất sở trong thời gian dài Hơn nữa chính sách của chính phủ là căn cứ pháp lý để các địa phương thực hiện công tác quản lý và các chương trình hỗ trợ cho hoạt động phát triển sản xuất tại địa phương
Hệ thống chính sách của các cấp chính quyền: việc quy hoạch tổng thể vùng sản xuất Sở để khai thác lợi thế tiềm năng, có các chính sách khuyến khích,
hỗ trợ trong sản xuất là điều kiện thúc đẩy sản xuất phát triển theo hướng tập trung,
Ngoài ra chính sách của Nhà nước trong hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm là rất quan trọng: việc định hướng trong tiêu thụ đặc biệt là trong xuất khẩu sản phẩm
là điều kiện thuận lợi cho tiêu sản phẩm Sở trên thị trường trong nước và quốc tế 2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
2.2.1 Các nghiên cứu liên quan trên Thế giới
Trung Quốc là một trong những nước đi đầu trong công tác nghiên cứu chế biến, chiết tách tinh dầu Sở phục vụ cho sản xuất Dầu tinh luyện từ hạt Sở có thể được dùng làm dầu ăn, sản xuất mỹ phẩm (sử dụng trong kem chống nắng, kem massage, dầu thơm,…), chế phẩm y tế, hay trong công nghiệp (dầu thuỷ lực, dầu bôi trơn, diesel sinh học,…).Ở đây, dầu Sở được coi là một trong những nguồn cung cấp dầu ăn quan trọng bởi giá trị dinh dưỡng cao, trồng và chế biến dầu ăn
từ cây Sở có ý nghĩa quan trọng nhằm giảm lượng nhập khẩu dầu ăn hàng năm của nước này
Trung Quốc đã tiến hành nghiên cứu gây trồng và thâm canh cây Sở về các mặt kỹ thuật ghép thay tán hay ghép cải tạo và ghép mầm: Xây dựng vườn cấp mắt và hom, vườn giám định; kỹ thuật bảo tồn gen; phổ cập giống mới Kỹ thuật
Trang 28xén tỉa tạo tán: Làm tăng sản lượng từ 36,7 đến 39,5%, giảm sâu bệnh hại 24,7%
Kỹ thuật bón phân: Xác định được nhu cầu cho mỗi 100kg cành lá là 0,9; 0,22 và 0,28kg phân N, P, K; mỗi 100 kg quả cần 1,11; 0,85 và 3,43 kg phân N, P, K làm
cơ sở cho xác định lượng phân bón, độ sâu bón phân, tỷ lệ bón và phương thức bón phân cho quá trình thâm canh rừng Sở Kỹ thuật tưới: Làm tăng sản lượng từ 15-27,6%, giảm tỷ lệ quả rụng non được từ 11,4 - 25,5%; xác định được thời điểm cần tưới là khi lượng nước ngậm trong đất giảm xuống còn 65 - 70% và khi nồng độ dịch bào trong lộc xuân lên tới 15-17%, vào đầu mùa khô lên tới 18-19%; xác định được độ ẩm cây héo là 28% và lấy nồng độ dịch bào 19% làm tiêu chuẩn hạn sinh lý cây Sở Phát triển kỹ thuật dẫn dụ ong giúp Sở thụ phấn nâng
tỷ lệ đậu quả từ 1,23% lên 19,7 - 20,5% Kỹ thuật phòng trừ bệnh hại: Với các bệnh thán thư, thối nhũn, lở cổ rễ chủ yếu là bằng phòng trừ sinh học (Mã Cẩm Lâm, Trần Vĩnh Trung, 2005)
Và Trung Quốc cũng đã tiến hành cải tạo vườn Sở năng suất thấp bằng các cách như dọn vườn; tỉa thưa: thực hiện tỉa thưa, duy trì độ tàn che 70%; trồng dặm: đảm bảo mật độ 80 – 110cây/mẫu (1200-1650 cây/ha); tỉa cành: loại bỏ cành trong lòng tán, cành thấp dưới gốc, chồi vượt, cành khô; cày lật: 2 - 3 năm thực hiện 1 lần cho đất tơi xốp, xúc tiến phong hóa; bón phân hợp lý: định lượng
và tỷ lệ phân bón căn cứ vào phân tích đất; cải tạo cây xấu: thực hiện ghép thay tán để cải tạo những cá thể có sức sống tốt nhưng không sai quả Cũng theo các tác giả này thì hiện nay Trung Quốc có từ 1,0 đến 1,2 triệu ha rừng Sở sẵn có chăm sóc kém; rừng mới gây tạo bằng cây thực sinh giống tốt và cây ghép với các giống vô tính ưu trội; đến nay đã thực hiện được việc ưu hoá giống, sản lượng đã đạt mức 225 kg dầu/ha cho vườn thực sinh, 300 kg dầu/ha với vườn thực sinh giống tốt và 337,5 kg/ha với vườn ghép
Thị trường dầu ăn thực vật tiềm năng
Toàn cảnh kinh tế thế giới khó khăn, các ngành hầu hết bị sụt giảm nhưng riêng công nghiệp dầu thực vật vẫn tăng trưởng, bởi các sản phẩm của ngành đáp ứng nhu cầu khó tiết giảm trong đời sống hàng ngày
Trung Quốc xóa bỏ hạn ngạch nhập khẩu đối với các loại dầu ăn, nhu cầu gia tăng mạnh ở Trung Quốc, Ấn Độ và nhiều nước đang phát triển mạnh khác(bảng 2.1) Có thể thấy Ấn Độ chiếm 17,2% sản lượng nhập khẩu các loại dầu thực vật thế giới năm 2012/13, Trung Quốc chiếm 15,7% trong khi đó các nước nhập khẩu ít như Iran và Thổ Nhĩ Kỳ lần lượt chiếm là 2,1% và 1,8%
Trang 29Bảng 2.1 Sản lượngnhập khẩu các loại dầu thực vậtở một số quốc gia chủ yếu
Nguồn: Foreign Agricultural service/USDA (2013)
Ba nước dẫn đầu sản lượng các loại dầu thực vật là Indonesia, Trung Quốc
và Malaysia (bảng 2.2) lần lượt là 32,73 triệu tấn; 21,91 triệu tấn và 21,29 triệu tấn năm 2012/13
Bảng 2.2 Sản lượng các loại dầu thực vậtở một số quốc gia chủ yếu
Trang 30Bảng 2.3 Sản lượng tiêu thụ các loại dầu thực vậtở một số quốc gia chủ yếu
Nguồn: Foreign Agricultural service/USDA (2013)
Trong khi đó, Trung Quốc, Ấn Độ và Mỹ là ba nước tiêu thụ nhiều nhất (bảng 2.3) Các nước có nhu cầu cao là những nước có ngành công nghiệp thực phẩm, mỹ phẩm rất phát triển
Trong những năm gần đây, khối lượng mặt hàng các loại dầu thực vật được buôn bán trên thế giới ngày một gia tăng, mỗi năm tăng trên 5 triệu tấn Các nước cung cấp các loại dầu thực vật chính trên thế giới là Indonesia, Malaysia(bảng 2.4) Nước xuất khẩu lớn nhất là Indonesia với gần 34 %, tiếp đến là Malaysia với khoảng 28%
Bảng 2.4 Sản lượng xuất khẩu các loại dầu thực vậtở một số quốc gia chủ yếu
Trang 31Dầu thực vật được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, phổ biến là làm thực phẩm, kế đến dùng làm nhiên liệu sinh học trong công nghiệp hóa chất hoặc một số ngành công nghiệp khác Nhu cầu dầu thực vật tăng trưởng mạnh trong 10 năm gần đây Sử dụng dầu thực vật làm nhiên liệu là xu hướng phát triển trong tương lai với kỳ vọng thay thế một phần nhiên liệu hóa thạch ngày càng cạn kiệt Tuy nhiên đây là bài toán cần cân nhắc thận trọng
2.2.2 Các nghiên cứu liên quan trong nước
Theo nghiên cứu chọn giống và biện pháp kỹ thuật trồng rừng Sở thâm canh cho vùng Tây Bắc, Đông Bắc và Bắc trung bộ của TS Hoàng Văn Thắng (2012): Tổng diện tích Sở trồng ở các tỉnh miền Bắc đến cuối năm 2006 là 6.262,3ha, trong đó Nghệ An là tỉnh còn diện tích trồng Sở lớn nhất, hiện còn ở các huyện Nghĩa Đàn, Kỳ Sơn, Tân Kỳ, Yên Thành, Quỳ Hợp, Quỳ Châuvới tổng diện tích rừng Sở của toàn tỉnh là 5.613,4ha, trong đó hiện còn tập trung nhiều nhất là ở Sông Hiếu với tổng diện tích là 1.333,3ha Kết quả điều tra cho thấy, hiện nay các giống Sở được sử dụng trồng ở các địa phương gồm có Sở quýt, Sở cam, Sở lê, Sở chè và Sở cành mềm Trung Quốc Sở chè được trồng nhiều nhất ở Nghệ An, Sở cam, Sở quýt và Sở lê được trồng nhiều ở các tỉnh Lạng Sơn, Quảng Ninh, Phú Thọ, Yên Bái, Hà Giang Còn Sở cành mềm Trung Quốc năm 1997 nước ta đã nhập 6.300kg quả Sở, 80.000 cây con (cây ươm từ hạt 10.000, cây con ghép mắt: 70.000) từ 2 tỉnh Quảng Tây và Hồ Nam Trung Quốc để trồng thử nghiệm ở 6 điểm là xã Hải Yến huyện Cao Lộc (Lạng Sơn), xã Vân Sơn, huyện Đoan Hùng (Phú Thọ), xã Vĩnh Đồng, huyện Kim Bôi (Hoà Bình), Làng Mô, huyện Sìn Hồ (Lai Châu), xã Đại Lộc, huyện Hậu Lộc (Thanh Hoá) và xã Nghĩa Lộc, huyện Nghĩa Đàn (Nghệ An) Kết quả điều tra về năng suất quả Sở ở các địa phương được thể hiện qua bảng 2.5
Bảng 2.5 Năng suất Sở ở một số tỉnh
Tỷ lệ hạt/quả tươi (%)
Năng suất/ha Quả tươi
(tấn)
Hạt tươi (tấn)
Trang 32Hầu hết các giống Sở được trồng ở các địa phương đều chưa được chọn lọc Nhìn chung ở hầu hết các địa phương đều trồng Sở với mật độ tương đối cao, từ
1100 cây/ha (ở Phú Thọ) đến 4900 cây/ha (ở Hà Giang) Rừng Sở trồng thuần loài thường có mật độ lớn trên 2000 cây/ha, đối với rừng Sở trồng hỗn giao thì mật độ của Sở thường 200-300 cây/ha Những địa phương trồng với mật độ cao chủ yếu là để phủ xanh đất trống, đồi trọc còn mục tiêu lấy quả, hạt chỉ là phụ (điển hình như ở Hà Giang) Tuy nhiên Sở là cây trồng với mục tiêu chính là lấy hạt ép dầu vì vậy việc trồng Sở với mật độ cao làm cho sản lượng rừng Sở đạt rất thấp, thậm chí nhiều nơi cây không có quả
- Nghiên cứu phát triển sản xuất một số cây trong nước
+ Theo Phạm Văn Việt Hà (2007): Thực trạng và những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển sản xuất chè tại thành phố Thái Nguyên đã chỉ ra rằng kết quả sản xuất chè phụ thuộc lớn vào mức độ đầu tư của hộ trồng Các hộ có mức đầu
tư cao về các yếu tố đầu vào (giống, phân bón, lao động ) sẽ đem lại năng suất chè cao hơn các hộ khác, điều này kéo theo kết quả sản xuất cũng tăng theo Tác giả đã đề xuất các giải pháp chủ yếu như: Quy hoạch vùng sản xuất chè; cơ cấu giống và kế hoạch mở rộng diện tích, năng suất chất lượng và sản xuất chè nguyên liệu; ứng dụng và chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ; xây dựng hệ thống quản lý, kiểm tra, giám sát, đánh giá chất lượng; tăng cường hoạt động thông tin thị trường và xúc tiến thương mại để tiêu thụ sản phẩm; tăng cường xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật ở vùng chè và một số giải pháp về các chính sách phát triển sản xuất
Theo Dương Thị Thu Hường (2012): Phát triển sản xuất hồi của hộ nông dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn cho biết hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường trong sản xuất hồi của hộ nông dân huyện Cao Lộc đã rõ rệt Bình quân một ha hồi một năm hộ nông dân thu được là 466,18 triệu đồng đã góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống Tuy nhiên, diện tích hồi phân bố không đều, sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, chưa có liên kết, thị trường tiêu thụ chưa ổn định, chưa
có bảo quản chế biến tại chỗ và chưa có áp dụng công nghệ mới trong sản xuất chế biến Diện tích sản xuất ngày càng được mở rộng và phát triển tuy nhiên phân bố không đồng đều giữa các xã, vùng và có sự chênh lệch lớn về diện tích, năng suất, sản lượng Chưa thành lập được tổ hợp tác, hợp tác xã sản xuất cây hồi, chỉ sản xuất ở quymô hộ gia đình Việc phốihợp, liên kết trong việc tổ chức cung ứng các yếu tố đầu vào, chuyển giao khoa học kỹ thuật đến người sản xuất
Trang 33còn hạn chế Phát triển sản xuất hồi được đánh giá là mang lại hiệu quả cao nhưng đòi hỏi người sản xuất phải có kinh nghiệm, trình độ, kiến thức về tiến bộ khoa học kỹ thuật Sản phẩm cây hồi được tiêu thụ bằng hai cách chính là bán trực tiếp tại nhà cho người thu gom sản phẩm và bán tại chợ địa phương Có 4 yếu tố ảnh hưởng đến phát triển cây hồi: Về quy hoạch vùng sản xuất: Có sự quan tâm, chỉ đạo quy hoạch vùng sản xuất tập trung tuy nhiên chưa cụ thể, chi tiết với từng vùng nên quy mô sản xuất của các hộ vẫn nhỏ lẻ, phân tán chưa tập trung Về kỹ thuật chăm sóc, thu hoạch, chế biến bảo quản: Chưa chú trọng áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất Về thị trường tiêu thụ: Chưa có sự tham gia của các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh, việc ép cấy, ép giá vẫn xảy ra tại nơi mua bán sản phẩm Về chính sách của Nhà nước: còn chậm và chưa kịp thời + Theo Phạm Quốc Duy (2012): Phát triển sản xuất cà phê theo hướng bền vững tại huyện Cư M’Gar tỉnhĐắk Lắk cho rằng định hướng phát triển cà phê bền vững phải đạt các mục đích và điều kiện sau: Tăng năng suất cà phê của huyện phải ổn định, bền vững gắn với việc nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội và đảm bảo môi trường sinh thái; tăng khả năng cạnh tranh của ngành cà phê trên cơ
sở phát huy được lợi thế so sánh của địa phương về sản xuất và tiêu thụ; góp phần đảm bảo đời sống cho nông dân gắn với phát triển nông nghiệp bền vững và xây dựng nông thôn mới; sự hỗ trợ của Nhà nước về các cơ chế, chính sách có hiệu quả nhưng phải phù hợp với đặc thù của từng vùng miền; phát triển cà phê theo hướng toàn diện và bền vững Tác giả đã chỉ ra được một số nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến phát triển cà phê nói chung và phát triển cà phê bền vững nói riêng Một số nhân tố cụ thể như: Chủ thể sản xuất (Nguồn nhân lực, kỹ thuật, trang thiết bị phục vụ sản xuất, khả năng vốn ), điều kiện tự nhiên - xã hội, nhóm nhân tố thị trường và nhóm chính sách vĩ mô của nhà nước đều có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến phát triển bền vững cà phê
Nhu cầu sử dụng dầu thực vật của Việt Nam
Trang 34Biểu đồ 2.1 Dự báo tiêu thụ dầu thực vật của Việt Nam
Nguồn: Tổng Cục Thống kê; Bộ Công Thương; *Dự báo của các nhà sản xuất trong nước
USDA Post dự báo mức tiêu thụ sẽ tiếp tục tăng mạnh, bao gồm cả dầu đậu tương, bởi nhu cầu tiếp tục tăng do thu nhập tăng, xu hướng đô thị hóa và tăng trưởng của ngành chế biến thực phẩm Bên cạnh đó, người tiêu dùng cũng ngày càng quan tâm hơn tới các loại dầu có lợi cho sức khỏe nên có xu hướng chuyển
từ mỡ động vật sang dầu thực vật
Nguồn nguyên liệu cho công nghiệp dầu thực vật Việt nam phần lớn dựa vào nhập khẩu Trong năm 2011 nhập 734 ngàn tấn dầu thô và dầu tinh luyện các loại Dầu thô được nhập khẩu là dầu cọ từ Indonesia, Malaysia, Campuchia và Mỹ; dầu đậu nành từ Argentina, Malaysia, Thailand, Brazil và Hàn Quốc Nhập khẩu một ít dầu cải, dầu oliu và dầu hướng dương Phần lớn dầu đậu nành và dầu
cọ nhập khẩu được dùng làm thực phẩm, số ít dùng trong công nghiệp và mỹ phẩm Dù chưa nhiều, nhưng từ năm 2010, lượng xuất khẩu dầu thực vật của Việt Nam bắt đầu gia tăng.Hiện không có số liệu chính thức về xuất khẩu dầu thực vật Theo trang Global Trade Atlas, xuất khẩu dầu thực vật và mỡ động vật của Việt Nam ước đạt 183.000 tấn năm 2013/14, tăng 15% so với năm trước đó (159 tấn) Năm 2013/14, trị giá xuất khẩu vào khoảng 205 triệu USD, tăng 29%
so với năm trước đó (158 triệu USD) Trong tổng xuất khẩu dầu thực vật và mỡ động vật, dầu đậu tương thô chiếm 49%, dầu đậu tương tinh luyện, dầu cọ và các loại dầu thực vật khác chiếm 51% Tiêu thụ dầu thực vật trung bình mỗi người dựa báo sẽ tăng lên 16kg/người/năm vào 2020 và 18,5kg/người/năm vào 2025 (Biểu đồ 2.1)
người/năm Kg
Năm
Trang 35Việt nam có khoảng 35 doanh nghiệp cung cấp các sản phẩm dầu thực vật trên thị trường nội địa, phần lớn là các doanh nghiệp thuộc Tổng Công ty Công nghiệp Dầu thực vật Việt Nam (Vocarimex), các thương hiệu được biết đến nhiều là Trường An, Neptune, Mezan và Simply Sản lượng dầu thực vật tinh luyện tăng đều mỗi năm Năm 2011, sản lượng dầu thực vật tinh luyện các loại ở Việt Nam khoảng 750 ngàn tấn, tăng 7% so với năm trước
Nhu cầu thị trường trong nước về dầu thực vật luôn có xu hướng tăng trong những năm qua do dầu thực vật ngày càng được ứng dụng rộng rãi, đa dạng trong nhiều ngành sản xuất công nghiệp và tiêu dùng vì những giá trị ưu việt của thực vật như một loại cây hương liệu cao cấp và một loại thực phẩm bổ dưỡng, có tác dụng hỗ trợ cho sức khỏe Theo Quyết định phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành dầu thực vật Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến 2025 của Bộ Công Thương, giai đoạn 2011-2015, Việt nam sản xuất 1.138 ngàn tấn dầu tinh luyện, 268 ngàn tấn dầu thô và xuất khẩu 50 ngàn tấn dầu các loại
2.3 BÀI HỌC VÀ KINH NGHIỆM RÚT RA TỪ TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CHO QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Trên Thế giới, Sở được nghiên cứu và sản xuất nhiều ở Trung Quốc, một nước đi đầu trong công tác nghiên cứu chế biến, chế tác tinh dầu Sở phục vụ cho sản xuất Ở nước ta, diện tích Sở phân bố tại một số tỉnh phía Bắc Việt Nam như: Lạng Sơn, Nghệ An, Quảng Ninh, Thanh Hóa,
Phát triển sản xuất Sở là sự gia tăng về diện tích, sản lượng và đầu tư khoa học kỹ thuật để sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường Phát triển Sở phụ thuộc vào một số yếu tố như điều kiện tự nhiên, trình độ dân trí, chính sách, điều kiện kinh tế - xã hội, khoa học - công nghệ, thị trường tiêu thụ.Để cây Sở đạt năng suất cao cần phải chú ý và các khâu lựa chọn giống tốt, có hàm lượng dầu cao và cần thực hiện đúng quy trình trồng (mật độ trồng cây), kỹ thuật chăm sóc, bón phân cho cây Sở Bên cạnh đó những rừng Sở già cỗi cần phục tráng lại
Cùng với sự tiến bộ của khoa học - công nghệ, sản phẩm dầu Sở ngày càng quan trọng đối với ngành công nghiệp dầu thực vật Vì vậy, nhu cầu tiêu dùng sản phẩm dầu Sở hiện tại và tương lai có xu hướng ngày càng tăng về số lượng
và chất lượng
Cần có giải pháp giải quyết các vấn đề cấp bách như: sản xuất nhỏ, lẻ, phân
Trang 36tán chưa tập trung; thị trường tiêu thụ đầu ra hẹp; tăng sức cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về cây Sở nhưng mới đi sâu nghiên cứu các đặc điểm hình thái, phân bố, thành phần hóa học, giá trị sử dụng Ngoài ra cũng có một số nghiên cứu về kỹ thuật nhân giống, kỹ thuật cây trồng, sơ chế và
sử dụng ở các mức độ khác nhau Các nghiên cứu này là cơ sở khoa học quan trọng cho công tác gây trồng và phát triển cây Sở trên thế giới và ở nước ta Tuy nhiên, hiện nay chưa có nhiều nghiên cứu về phát triển sản xuất Sở Hơn nữa, loài cây này trong tự nhiên đã và đang bị cạn kiệt
Vì vậy, việc nghiên cứu phát triển sảnxuất Sở ở Quảng Ninh là cần thiết, có
ý nghĩa cả khoa học và thực tiễn sản xuất
Trang 37PHẦN 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CÚU
3.1 ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
Hình 3.1 Bản đồ vị trí địa lý huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh
Nguồn: Phòng Nông nghiệp huyện Bình Liêu (2015)
Huyện Bình Liêu có 8 đơn vị hành chính gồm 7 xã là Đồng Tâm, Lục Hồn, Tình Húc, Hoành Mô, Húc Động, Đồng Văn, Vô Ngại và thị trấn huyện Bình Liêu với 97 thôn bản Diện tích đất tự nhiên của toàn huyện là 47.510,05 ha, chiếm 8% diện tích đất tự nhiên của tỉnh Quảng Ninh, có đường biên giới với Trung Quốc dài 48,6 km, trong đó có cửa khẩu Quốc gia Hoành Mô và cửa khẩu phụ Đồng Văn
Với vị trí địa lý như trên, Bình Liêu có điều kiện thuận lợi giao lưu kinh tế đối ngoại phát triển mậu dịch biên giới, tạo điều kiện thúc đẩy các hoạt động sản
Trang 38xuất nông- lâm nghiệp, phát triển thương mại và hoạt động kinh doanh dịch vụ (Phòng Nông nghiệp huyện Bình Liêu, 2015)
3.1.2 Địa hình
Địa hình Bình Liêu khá phức tạp, kiểu địa hình đồi núi thấp và núi trung bình, có xu hướng thấp dần từ hướng Đông Bắc xuống Tây Nam, điểm thấp nhất cao khoảng 30 - 40m ở ven sông Tiên Yên phía Nam xã Vô Ngại, điểm cao nhất
là 1.330m, thuộc dãy núi Cao Xiêm giáp ranh xã Đồng Văn và huyện Hải Hà, độ cao trung bình toàn huyện khoảng 500-600m, độ dốc trung bình 25-300
Xét về cấu trúc địa hình, Bình Liêu được chia thành 3 tiểu vùng sau:
Tiểu vùng núi thấp và núi trung bình phía Bắc sông Tiên Yên:
Phân bố ở độ cao >400-500m bao gồm xã Hoành Mô, Đồng Tâm, Lục Hồn, Tình Húc và phía Bắc xã Vô Ngại
Địa hình bị chia cách mạnh thành nhiều hướng núi, nhiều hệ thống khe phức tạp, có nhiều đỉnh cao trên 800-1.000m, độ dốc bình quân 300 có nhiều sườn dốc hiểm >350
Tiểu vùng núi thấp và núi trung bình phía Đông và Đông Nam:
Phân bố độ cao 400-500m thuộc xã Đồng Văn, Húc Động và phía Nam xã Hoành Mô, một phần phía Nam các xã Đồng Tâm, Lục Hồn, Tình Húc, địa hình, địa thế khá phức tạp có nhiều đỉnh cao >1.000m, độ dốc trung bình 25-280
Tiểu vùng đồi núi thấp và thung lũng ven sông Tiên Yên:
Tiểu vùng này chạy dài từ xã Đồng Văn- xã Vô Ngại theo hướng Đông Bắc-Tây Nam, đây là phần chân kéo dài của các hệ thống giông núi nên độ dốc thấp, dốc trung bình 15-200 (Phòng Nông nghiệp huyện Bình Liêu, 2015)
3.1.3 Đất đai, thổ nhưỡng
- Hiện trạng sử dụng đất
Tổng diện tích đất tự nhiên huyện Bình Liêu là 47013,34 ha, trong đó:
Tổng diện tích đất nông nghiệp năm 2015 là: 38.091,07 ha chiếm 81,02% diện tích đất tự nhiên, giảm so với năm 2013 là 896,6 ha (giảm chủ yếu ở diện tích đất trồng cây hàng năm khác và đất rừng phòng hộ)
Diện tích đất sản xuất nông nghiệp: năm 2015 là 4.071,31 ha (chiếm 10,69% diện tích đất nông nghiệp), giảm so với năm 2013 là 161,48 ha, giảm chủ yếu ở diện tích đất trồng cây hàng năm khác
Trang 39 Diện tích nhóm đất phi nông nghiệp: Năm 2015 là 1.768,68 ha, tăng so với năm 2013 là 87,52 ha
Đất lâm nghiệp: Năm 2015 là 33.969,79 ha (chiếm 89,18% diện tích đất nông nghiệp), giảm so với năm 2013 là 765,57 ha, chủ yếu ở diện tích đất rừng phòng hộ
Diện tích đất chưa sử dụng là 7.153,59 ha chiếm 15,22% diện tích tự nhiên, tăng so với năm 2013 là 312,37 ha (Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Bình Liêu, 2016)
Diện tích đất lâm nghiệp 33.969,79 ha chiếm 89,18% diện tích đất nông nghiệp toàn huyện phù hợp với trồng một số loại cây đặc sản như Hồi, Quế, Trẩu, Sở và các loài cây lấy gỗ như Sa mộc, Thông, Keo và một số cây ăn quả
Bảng 3.1 Hiện trạng sử dụng đất huyện Bình Liêu
Trang 40- Thổ nhưỡng
Trải qua quá trình phát triển với nhiều biến động địa chất, nhiều lớp phủ trầm tích và mác ma đã hình thành, do quá trình nâng lên hạ xuống của biển và các vận động tạo sơn phun trào núi lửa trong lòng trái đất Do vậy, nền địa chất –
đá mẹ đã phong hóa để tạo nên các loại đất trên địa bàn Bình Liêu rất đa dạng, phức tạp, có thể phân chia sự phân bố của nền địa chất – đá mẹ ở đây như sau: Phía Nam sông Tiên Yên:Nền đá mẹ chủ yếu là loại đá Riolit thuộc nhóm đá phún xuất mang tính axít có nguồn gốc mác ma, loại này chứa nhiều khoáng chất
và khi phong hóa sẽ hình thành nên các loại đất có hàm lượng dinh dưỡng cao Phía Bắc sông Tiên Yên:Ở độ cao>700m nền đá mẹ vẫn là loại đá Riolit, nhưng từ độ cao <700m thì nền đá mẹ lại là sản phẩm có nguồn gốc trầm tích, như đá phiến thạch sét, phấn sa, sa thạch, cuội kết,… Thành phần hóa học của đá trầm tích chủ yếu là các loại oxít (Canxi, Magiê, Sắt, nhôm, Silic,…) nên khi phong hóa sẽ hình thành nên các loại đất nghèo dinh dưỡng Với nguồn gốc hình thành địa chất và cấu tạo đá mẹ như trên, qua quá trình phong hóa sẽ hình thành nên các loại đất trên địa bàn như sau:
Đất Feralit biến đổi do trồng lúa nước: Loại này thường phân bố ven chân các dãy đồi và núi thấp, có ở hầu hết các xã trong huyện
Các loại đất thung lũng dốc tụ và phù sa ngòi suối: Loại này được hình thành do sự lắng đọng tích tụ các sản phẩm bào mòn tự nơi khác vận chuyển tới Loại này cũng rải rác phân bố ở tất cả các xã trong huyện và cũng là đối tượng canh tác của các hoạt động sản xuất nông nghiệp
Đất Feralit đỏ vàng vùng đồi và núi thấp phát triển trên đá sét; Phân bố ở
độ cao 300m – 700m, xuất hiện ở các địa hình chân và sườn dưới các dãy đồi và núi thấp
Đất Feralit vùng đồi và núi thấp phát triển trên đá Macma axit, phân bố rải rác ở hai bên sông Tiên Yên, ở độ cao <700m Nên đá mẹ là loại Riolit dễ phong hóa Loại đất này có diện tích lớn, chiếm khoảng 27% diện tích tự nhiên toàn huyện và là địa bàn chủ yếu cho các hoạt động sản xuất lâm nghiệp của huyện Bình Liêu
Đất Feralit vùng đồi và núi thấp trên đá mẹ sa thạch, cuội kết Phân bố ở
độ cao <700m thuộc phần phía bắc sông Tiên Yên Đất phát triển trên đá mẹ có nguồn gốc trầm tích như sa thạch, cuội kết… Loại đất này thích hợp với việc trồng cây Lâm nghiệp như: Thông, Keo; nơi đất tốt, tầng đất dày, mát có thể trồng Hồi, Sở, Quế và một số loài cây ăn quả