TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Tên tác giả: Phạm Thành Đô Ngành: Quản lý kinh tế Mã số: 60.34.04.10 Khoa: Kinh tế và Phát triển nông thôn - Học viện Nông nghiệp Việt Nam Tên đề tài: “Phát triển sản
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Trần Đình Thao
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho tôi hoàn thành luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Phạm Thành Đô
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện Luận văn này tôi được sự giúp đỡ tận tình của rất nhiều thầy cô giáo, các cơ quan và các địa phương Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới tất cả các thầy cô giáo, các cơ quan và các địa phương đã quan tâm giúp đỡ, tạo mọi điều kiện cho tôi hoàn thành bản luận văn này
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn thầy PGS.TS Trần Đình Thao – Trưởng khoa Kinh tế và phát triển nông thôn, Học viện Nông nghiệp Việt Nam là người đã trực tiếp và nhiệt tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, học tập để hoàn thành luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Ban chủ nhiệm khoa Kinh tế và phát triển nông thôn, Bộ môn Kế hoạch và Đầu tư, cùng các thầy cô giáo trong khoa, Bộ môn đã trang bị cho tôi những kiến thức quý báu giúp tôi hoàn thành khoá học và luận văn này
Xin chân thành cảm ơn các Lãnh đạo, các bộ trong UBND huyện Mê Linh, các phòng, ban của huyện Mê Linh: phòng kinh tế huyện Mê Linh, phòng Tài chính - kế hoạch, phòng Tài nguyên - Môi trường, Văn phòng HĐND - UBND huyện Mê Linh, các đơn vị: Chi cục Thống kê Mê Linh, Trạm Khuyến nông Mê Linh và các cơ quan, đơn vị có liên quan đã tạo điều kiện cho tôi thu thập số liệu một cách hệ thống, đóng góp ý kiến, cung cấp thông tin để tôi hoàn thành tốt luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên chia sẻ, giúp đỡ nhiệt tình tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Phạm Thành Đô
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ii
LỜI CẢM ƠN iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN ix
THESIS ABSTRACT xi
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 3
1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 3
1.5 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN 4
PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT HOA 5
2.1.1 Lý luận về phát triển sản xuất tiêu thụ sản phẩm 5
2.1.2 Lý luận về phát triển sản xuất hoa 12
2.1.3 Nội dung phát triển sản xuất hoa 19
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất hoa 20
2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 22
2.2.1 Khát quát tình hình phát triển sản xuất hoa trên thế giới 22
2.2.2 Khát quát tình hình phát triển sản xuất hoa ở Việt Nam 26
2.2.3 Bài học kinh nghiệm về phát triển sản xuất hoa cho huyện Mê Linh 31
2.2.4 Các nghiên cứu liên quan 32
PHẦN 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
Trang 53.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 34
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 34
3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội của huyện 36
3.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 44
3.2.1 Phương pháp chọn điểm, chọn mẫu nghiên cứu 44
3.2.2 Phương pháp thu thập, xử lý số liệu 44
3.2.3 Phương pháp phân tích thông tin nghiên cứu 47
3.2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 48
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 50
4.1. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT HOA CỦA HUYỆN MÊ LINH 50
4.1.1 Tình hình phát triển sản xuất hoa của huyện Mê Linh 50
4.1.2 Thực trạng phát triển sản xuất hoa của các hộ ở huyện Mê Linh 57
4.1.3 Tình hình đầu tư sản xuất và kết quả trồng hoa theo mô hình bố trí của các hộ điều tra 67
4.1.4 Tình hình tiêu thụ hoa của huyện Mê Linh 71
4.2. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT HOA TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN MÊ LINH 75
4.2.1 Các yếu tố ảnh hưởng tới sản xuất hoa trên địa bàn huyện Mê Linh 75
4.3. ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT HOA TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN MÊ LINH 81
4.3.1 Cơ sở khoa học của định hướng và các giải pháp 81
4.3.2 Quan điểm định hướng trong phát triển sản xuất 84
4.3.3 Các giải pháp để phát triển sản xuất hoa trên địa bàn huyện Mê Linh 87
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 98
5.1 KẾT LUẬN 98
5.2 KIẾN NGHỊ 99
Phụ lục 103
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Các loại hoa trồng phổ biến ở Việt Nam 29
Bảng 2.2 Chủng loại và giống hoa sản xuất ở các tỉnh trung du, miền núi bắc bộ 30
Bảng 3.1 Tình hình biến động dân số và lao động giai đoạn 2012 - 2015 37
Bảng 3.2 Tình hình sử dụng đất đai huyện Mê Linh giai đoạn 2013-2015 38
Bảng 3.3 Một số chỉ số cơ bản của Mê Linh và một số địa phương, năm 2015 41
Bảng 3.4 Tốc độ tăng trưởng GTSX trên địa bàn Mê Linh theo ngành (%) 42
Bảng 3.5 Cơ cấu ngành kinh tế trên địa bàn huyện giai đoạn 2005-2010 42
Bảng 3.6 Tổng hợp mẫu điều tra đại diện các vùng trồng hoa của huyện năm 2015 46
Bảng 4.1 Diện tích trồng hoa của huyện Mê Linh 2013 - 2015 50
Bảng 4.2 Số hộ tham gia sản xuất hoa của huyện Mê Linh trong những năm từ 2010 - 2015 51
Bảng 4.3 Cơ cấu diện tích một số loại hoa huyện Mê Linh, 2013 - 2015 53
Bảng 4.4 Số lượng hộ trồng hoa huyện Mê Linh giai đoạn 2013 - 2015 54
Bảng 4.5 Số hộ trồng từng loại hoa và diện tích trồng hoa bình quân/hộ ở huyện Mê Linh năm 2013 - 2015 55
Bảng 4.6 Diện tích, năng suất, sản lượng hoa, huyện Mê Linh 2013 - 2015 56
Bảng 4.7 Thông tin chung về các hộ điều tra, năm 2015 57
Bảng 4.8 Tình hình diện tích, năng suất, sản lượng các loại hoa ở các hộ năm 2015 (Tính bình quân cho 1 hộ) 59
Bảng 4.9 Giá trị sản xuất hoa của các nhóm hộ, năm 2015 60
Bảng 4.10 Kết quả và hiệu quả kinh tế sản xuất hoa hồng của các nhóm hộ (Tính bình quân cho 1 sào/năm, 2015) 62
Bảng 4.11 Kết quả và hiệu quả kinh tế sản xuất hoa cúc ở các nhóm hộ (Tính bình quân cho 1 sào/năm, 2015) 64
Bảng 4.12a Tình hình đầu tư chi phí trồng hoa theo mô hình bố trí sản xuất ở các nhóm hộ hoa , năm 2015 (Bình quân 1 sào canh tác/ 1 năm) 68
Bảng 4.12b.Kết quả trồng hoa theo mô hình bố trí sản xuất ở các hộn năm 2015 69
Bảng 4.13 So sánh sản xuất hoa với cây lúa của các hộ năm 2015 (Tính cho 1 sào canh tác/ 1 năm) 69
Trang 8Bảng 4.14 Sản lượng, cơ cấu, thị phần tiêu thụ hoa của Mê Linh 2013 - 2105 71
Bảng 4.15 Phân phối sản phẩm theo các kênh tiêu thụ hoa ở Mê Linh, năm 2015 74
Bảng 4.16 Giá các loại hoa qua điều tra các kênh tiêu thụ tại Mê Linh, năm 2015 75
Bảng 4.17 Kinh nghiệm trồng hoa của các hộ năm 2015 76
Bảng 4.18 Kinh nghiệm và hiệu quả sản xuất hoa hồng (tính cho 1 sào) 77
Bảng 4.19 Giống hoa và hiệu quả kinh tế của các hộ trồng hoa hồng (tính cho 1 sào) 77
Bảng 4.20 Nguồn vốn sản xuất hoa của các nhóm hộ, năm 2015 79
Bảng 4.21 Kết quả và hiệu quả sản xuất hoa hồng theo quy mô ở các nhóm hộ điều tra (tính cho 1 sào) 80
Bảng 4.22 Dự kiến quy hoạch phát triển diện tích hoa ở huyện Mê Linh đến năm 2020 9688
Bảng 4.23 Dự kiến phát triển số lượng hộ trồng hoa ở huyện Mê Linh năm 2020 89
Bảng 4.24 Dự kiến năng suất, sản lượng hoa ở huyện Mê Linh đến năm 2020 89
Bảng 4.25 Dự kiến hiệu quả tăng thêm do tuân thủ quy trình kỹ thuật mới và đưa giống hoa mới vào sản xuất ở huyện Mê Linh (tính bình quan cho 1 sào canh tác/năm) 92
Bảng 4.26 Dự kiến tình hình tiêu thụ hoa đến năm 2020 96
Bảng 4.27 Dự kiến số vốn cần được vay của các hộ để đầu tư vào sản xuất hoa ở huyện Mê Linh (BQ/hộ) 97
Trang 9TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Phạm Thành Đô
Ngành: Quản lý kinh tế Mã số: 60.34.04.10
Khoa: Kinh tế và Phát triển nông thôn - Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Tên đề tài: “Phát triển sản xuất hoa trên địa bàn huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội”
Trồng hoa là một trong những nghề truyền thống lâu đời của dân tộc ta, mang những nét đẹp văn hóa độc đáo Việc phát triển nghề trồng hoa là một hướng đi đúng đắn đối với nhiều địa phương trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng phát triển bền vững Điều này không chỉ mang lại giá trị kinh tế mà còn khai thác triệt để nguồn lực sẵn có của địa phương
Mê Linh là huyện cửa ngõ thủ đô, là nơi nối liền các vùng kinh tế trọng điểm của miền Bắc, có điều kiện khí hậu, đất đai, kinh tế - xã hội rất thuận lợi cho phát triển trồng hoa Phát triển sản xuất hoa trên địa bàn huyện đã đáp ứng được nhu cầu việc làm bức thiết và mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn rất nhiều (từ 10-44 lần) so với việc trồng lúa, đồng thời, đóng vai trò quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế, trở thành một loại cây xoá đói giảm nghèo cho bà con huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội Tuy nhiên, trong quá trình phát triển sản xuất hoa ở Mê Linh vẫn còn tồn tại những bất cập đó là: Diện tích sản xuất hoa của một số hộ vẫn còn manh mún; các hộ dân chưa có một quy trình sản xuất hoa theo hướng chuyên môn hóa phù hợp, chủ yếu sản xuất theo kinh nghiệm, quan sát và học hỏi lẫn nhau; việc bón phân, phòng trừ sâu bệnh chưa đúng kỹ thuật; chưa có biện pháp bảo quản hữu hiệu;… Trên cơ sở đó, tôi tiến hành nghiên cứu
đề tài “Phát triển sản xuất hoa trên địa bàn huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội” với mục đích phân tích các vấn đề lý luận về phát triển sản xuất hoa, đánh giá thực tiễn phát triển sản xuất hoa của các hộ nông dân tại địa phương, từ đó đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm phát triển sản xuất hoa tại huyện Mê Linh
Đề tài tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển sản xuất hoa, các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất hoa và các bài học kinh nghiệm quý báu có thể áp dụng để phát triển sản xuất hoa trên địa bàn huyện Mê Linh
- Trong quá trình nghiên cứu đề tài đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như: phương pháp chọn điểm nghiên cứu; phương pháp thu thập số liệu sơ cấp, đề tài đã tiến hành điều tra với bốn đối tượng: thứ nhất là 90 hộ gia đình sản xuất hoa, theo quy
mô lớn, trung bình và nhỏ; thứ hai là 10 đại lý kinh doanh hoa; thứ ba là 10 cửa hàng bán lẻ hoa tươi, thứ tư là điều tra ngẫu nhiên 20 đối tượng là người tiêu dùng trên địa bàn thị trấn Mê Linh
Trang 10- Với số lượng mẫu là 130 mẫu; phương pháp thu thập số liệu thứ cấp; phương pháp thu xử lý, tổng hợp dữ liệu; phương pháp phân tích số liệu, các chỉ tiêu phản ánh thực trạng phát triển sản xuất hoa cả về chất và lượng
Sau khi phân tích các nội dung nghiên cứu về phát triển sản xuất hoa trên địa bàn huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội, đề tài rút ra được một số kết quả như sau: Hiện nay, trên địa bàn huyện Mê Linh đã xây dựng vùng quy hoạch sản xuất sản xuất hoa ở từng vùng Diện tích trồng chủ yếu tập trung ở những xã như: Mê Linh, Tráng Việt, Đại Thịnh, Văn Khê với các loại hoa chủ yếu là: Hoa Hồng, Hoa cúc, Hoa loa kèn, Hoa ly, ; Sản lượng hoa của huyện được sản xuất ra hầu như không bị ế đọng và được tiêu thụ chủ yếu là tại địa bàn huyện và một số thị trường chính là Hà Nội, Bắc Ninh, Bắc Giang Lượng hoa tiêu thụ chủ yếu thông qua trung gian là những người bán buôn, bán
lẻ và bán rong
Tuy nhiên, bên cạnh thành tựu đã đạt được, phát triển sản xuất hoa trên địa bàn huyện Mê Linh vẫn còn tồn tại một số nhược điểm sau: quy hoạch và hoàn thiện vùng sản xuất hoa còn gặp khó khăn ruộng do đất còn manh mún, nhỏ lẻ, phân tán, các hộ nông dẫn vẫn tự sản xuất trên thửa ruộng của mình; việc sản xuất hoa còn mang tính tự phát, theo sở thích của người trồng; thị trường tiêu thụ chưa ổn định, hình thức tiêu thụ còn ở cấp độ thấp, người dân trong vùng chưa có thói quen và tập quán sử dụng hoa quanh năm; biện pháp bảo quản chưa hữu hiệu, sản phẩm dễ bị dập nát, người trồng hoa không nắm vững quy trình áp dụng kỹ thuật vào sản xuất; một số hộ dân do thiếu vốn nên hiệu quả cây trồng thấp,…
Để phát triển sản xuất hoa huyện Mê Linh, đề tài đề xuất năm giải pháp như sau: (i) Hoàn thiện việc bố trí sản xuất hoa, hợp lý, ưu tiên phát triển những loại hoa có giá trị kinh tế cao và có lợi thế so sánh trong huyện; (ii) Đẩy mạnh áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất hoa; (iii) Thực hiện các mô hình tổ chức sản xuất và tiêu thụ hoa (iv) Sử dụng biện pháp kỹ thuật giúp cây ra hoa đúng thời điểm; (v) Mở rộng thị trường và kênh tiêu thụ đúng sản phẩm; (vi) Chính sách đầu tư và khuyến khích phát triển sản xuất và tiêu thụ hoa
Từ khóa: sản xuất hoa, trồng hoa
Trang 11THESIS ABSTRACT
Name of author: Pham Thanh Do
Major: Economic Management Code: 60.34.04.10
Faculty: Economics and Rural Development - Vietnam National University of Agriculture
Title of the thesis: “Developing flower production in Me Linh district, Hanoi city”
Flower cultivation is one of the traditional occupations which possess unique cultural beauty Developing flower production is promising and appropriate for many places which are in the process of economic reforms from agriculture-based to sustainable development That not only brings about high economic values, but also fully exploits the available resources in the district
Me Linh is a gateway district to the capital, which also connects the key economic regions of the North, with favorable climate, soil, and socio-economic conditions for flower production Flower production in the district helps to meet the urgent employment requirement and also bring about much higher economic efficiency (from 10 to 44 times higher) than rice cultivation, moreover, it plays an important role
in the economic development of the district, becoming a crop which helps to reduce hunger and poverty for residents in Me Linh district, Hanoi city However, there were still many problems with flower production in Me Linh district, as follows: the land area for flower production of some households was still fragmented; farmers have not possessed an appropriate specialized production process, but still mainly produce based
on their own experiences and observation and learning from each other; fertilization and pesticidation practices were not technical; no effective preservation measures applied; etc Therefore, it becomes important to conduct the study “Developing flower production in Me Linh district, Hanoi city” with the main aim of analyzing theoretical issues concerning flower production development, evaluating the current development
of flower production of households in Me Linh district, and then proposing solutions for developing flower production in Me Linh district
It is the aim of the study to systemize both theoretical and empirical literature review of developing flower production, analyze factors affecting flower production and find out valuable lessons learnt which could be applied for enhancing flower production
in Me Linh district
- The main research methods employed in this study include study site selection method and primary data collection The key survey respondents in this study
Trang 12consist of 4 main categories, including (i) 90 flower households with big, medium and small scales of production, (ii) 10 flower wholesalers; (iii) 10 flower shops (retailers), and finally (iv) 20 randomly selected flower consumers in Me Linh town
- The number of samples was 130 in total The major research methodologies employed in the study consist of secondary data collection, primary data collection and processing, data analysis with the use of main criteria reflecting the current flower production situation, in terms of both quantity and quality
By analyzing research data and contents, the study found out the following main findings: Currently, Me Linh district has developed the flower planning production areas in each region of the district More specifically, the planned flower production areas are mainly concentrated in a number of communes such as Me Linh , Trang Viet, Dai Thinh and Van Khe communes with the main flower varieties like roses, daisies, madona lily and lily, etc.; The district’s flower output was almost never slow-selling and mainly sold to Me Linh district and some other main markets such as Hanoi, Bac Ninh, Bac Giang Flowers were sold mainly through intermediates, including wholesalers, retailers and street vendors
However, apart from the achievements, there were still some limitations regarding flower production in Me Linh district such as: difficulties in planning and completion of flower production areas because of small, fragmented and scattered plots for production and because farmers still grew flowers on their own land; unstable consumption market, low level of consumption form, the fact that local residents did not have the habits of using flowers all year around; ineffective preserving methods which meant products were easily bruised, while farmers did not deeply understand the technical process to apply in their production efficiently; some farmers lacked of desired investment, thereby achieving low production efficiency, etc
In order to improve flower production in Me Linh district, the following recommendations were proposed: (i) Completely re-arrange flower production areas appropriately, and prioritize the development of flower varieties with high value added and comparative advantages in the district; (ii) Strongly enhance the application of scientific and technological advances into flower production; (iii) Implement production and consumption models; (iv) Use technical measures to ensure that flowering takes place at the right time; (v) Expand appropriate market and consumption channels; (vi) Develop policies which help to encourage the investment, production and consumption
of flowers
Key words: flower production, flower cultivation
Trang 13PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Với lợi thế của một nền nông nghiệp lâu đời và hơn 70% dân số nông thôn sống bằng nghề nông, việc phát triển một nền nông nghiệp hàng hóa đáp ứng những nhu cầu to lớn của thị trường là một mục tiêu to lớn của nước ta trong giai đoạn hiện nay Trong những năm qua, Đảng và nhà nước ta đã có những chính sách chuyển dịch ngành kinh tế nông nghiệp để nhanh chóng bắt kịp với nền nông nghiệp thế giới cũng như đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường Kinh tế nước ta ngày càng phát triển, cuộc sống của mỗi gia đình, mỗi con người nâng cao Những nhu cầu tinh thần ngày càng được quan tâm, một trong số
đó là việc thưởng thức và chơi hoa
Nắm bắt được xu thế đó, nông dân huyện Mê Linh (Hà Nội) đã mạnh dạn chuyển dịch cơ cấu cây trồng, tập trung sản xuất hoa Đây cũng chính là nội dung quan trọng trong quy hoạch phát triển nông nghiệp của huyện đến năm 2020 Hơn nữa, trồng hoa là một trong những nghề truyền thống lâu đời của dân tộc ta, mang những nét đẹp văn hóa độc đáo Do ảnh hưởng của chiến tranh cùng với hệ lụy của cơ chế quản lý cũ kéo dài nên nghề trồng hoa bị mai một nhiều Tuy nhiên, hiện nay chúng ta vẫn giữ gìn và phát huy được những làng hoa truyền thống như Đà Lạt, Sài Gòn, Tây Tựu, Đàng Hải đồng thời ngày càng xuất hiện nhiều làng hoa mới quy mô như Hải Phòng, Hải Dương, Quảng Ninh Việc phát triển nghề trồng hoa là một hướng đi đúng đắn đối với nhiều địa phương trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng phát triển bền vững Điều này không chỉ mang lại giá trị kinh tế mà còn khai thác triệt
để nguồn lực sẵn có của địa phương
Mê Linh là cửa ngõ thủ đô, là nơi nối liền các vùng kinh tế trọng điểm của miền Bắc; có thuận lợi về giao thông đường không, đường bộ, đường thủy; được bồi đắp bởi phù sa sông Hồng và sông Cà Lồ Với lợi thế đó, địa phương
đã mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu cây trồng, thâm canh các giống hoa có chất lượng cao, hình thành những vùng chuyên canh quy mô lớn Việc trồng hoa đã đáp ứng được nhu cầu việc làm bức thiết và mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn rất nhiều (từ 10-44 lần) so với việc trồng lúa Trung bình mỗi ha canh tác hoa ở
Mê Linh trong 1 năm mang lại lợi nhuận từ 350 - 1.800 triệu Thị trường hoa
Trang 14Mê Linh ngày càng được mở rộng, không chỉ trong huyện và thành phố Hà Nội
mà còn trải khắp các vùng trong cả nước và sang một số nước lân cận Hiện nay địa phương đã đăng ký với sở KH&CN thành phố Hà Nội thực hiện thương hiệu hoa hồng Mê Linh trong năm 2016 Mê Linh cũng đang phấn đấu thực hiện mở rộng toàn bộ diện tích đã được thành phố quy hoạch vùng sản xuất hoa chất lượng cao với diện tích 170 ha tại các xã: Tự Lập, Liên Mạc, Vạn Yên, Tiến Thịnh; dự kiến nâng diện tích trồng hoa trên địa bàn huyện khoảng 600 ha
Từ đó tạo điều kiện cho việc duy trì và phát triển thương hiệu hoa hồng Mê Linh sau khi được công nhận Diện tích sản xuất hoa trên địa bàn huyện đã quy hoạch thành vùng
Tuy nhiên, trong quá trình phát triển sản xuất hoa ở Mê Linh vẫn còn tồn tại những bất cập đó là: Diện tích sản xuất hoa trên địa bàn huyện còn ít, chưa tương xứng so với tiềm năng của huyện; Quy hoạch mở rộng vùng sản xuất đã được quan tâm song việc tổ chức thực hiện chưa quyết liệt; Việc quan tâm đầu tư cơ sở
hạ tầng, các chính sách hỗ trợ cho sản xuất, tiêu thụ hoa chưa được quan tâm; Sản xuất hoa của một số hộ vẫn còn manh mún; các hộ dân chưa có một quy trình sản xuất hoa theo hướng chuyên môn hóa phù hợp, chủ yếu sản xuất theo kinh nghiệm, quan sát và học hỏi lẫn nhau; việc bón phân, phòng trừ sâu bệnh chưa đúng kỹ thuật; chưa có biện pháp bảo quản hữu hiệu;… Trên cơ sở đó, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Phát triển sản xuất hoa trên địa bàn huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội” với mục đích phân tích các vấn đề lý luận về phát triển sản xuất hoa, đánh giá thực tiễn phát triển sản xuất hoa của các hộ nông dân tại địa phương, từ đó đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm phát triển sản xuất hoa tại huyện Mê Linh
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng phát triển sản xuất hoa trên địa bàn huyện Mê Linh, từ
đó đề xuất những giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển sản xuất hoa trong những năm tới
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển sản xuất hoa
- Đánh giá thực trạng phát triển sản xuất hoa trên địa bàn huyện Mê Linh
Trang 15- Phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất hoa trên địa địa bàn nghiên cứu
- Đề xuất phương hướng và những giải pháp nhằm phát triển sản xuất hoa trên địa bàn huyện Mê Linh trong thời gian tới
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
- Thực trạng phát triển sản xuất hoa trên địa bàn huyện Mê Linh đang diễn
1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan tới phát triển sản xuất hoa của các hộ dân trên địa bàn huyện Mê Linh
- Đối tượng khảo sát gồm những hộ sản xuất hoa ở Mê Linh
Trang 161.5 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
- Quá trình thực hiện đề tài mang lại cách nhìn mới, khách quan hơn trong đánh giá quá trình phát triển sản xuất hoa trên địa bàn huyện Mê Linh
- Từ kết quả nghiên cứu, đề tài góp phần làm cơ sở lý luận để đưa ra những đánh giá khách quan về phát triển sản xuất hoa hiện nay
- Qúa trình nghiên cứu đề tài đã giúp học viên hiểu rõ hơn về quá trình phát triển sản xuất hoa và thực tiễn việc phát triển sản xuất hoa tại huyện Mê Linh, góp phần giúp các hộ trồng hoa cũng như cơ quan quản lý Nhà nước trên địa bàn huyện Mê Linh thấy được thực tế những hạn chế, tồn tại qua những phản ánh, đánh giá của các hộ điều tra Từ đó, đưa ra những giải pháp đúng đắn, khoa học, hiệu quả, phù hợp hơn với thực tiễn để giải quyết những khó khăn và hoàn thiện công tác quản lý Nhà nước về phát triển sản xuất hoa trong thời gian tiếp theo
Trang 17PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT HOA
2.1.1 Lý luận về phát triển sản xuất tiêu thụ sản phẩm
2.1.1.1 Các khái niệm và lý thuyết về phát triển
a Các khái niệm
Một số nhà nghiên cứu khoa học xã hội phương Tây, đặc biệt là Pháp, đã nêu rõ là khái niệm phát triển chỉ mới xuất hiện vào đầu thế kỷ XX; cụ thể là những năm sau chiến tranh thế giới thứ nhất Từ phát triển ba lần được sử dụng trong bản báo cáo gồm 14 điểm của tổng thống Mỹ Wilson Trong các tài liệu của Hội Quốc Liên năm 1919, khái niệm phát triển được sử dụng đi đôi với khái niệm không phát triển, chậm phát triển Khái niệm phát triển lúc này gắn với khái niệm văn minh Chính là với khái niệm đó mà chủ nghĩa thực dân phương tây đã
tự cho mình có nhiệm vụ lịch sử đem ánh sáng văn minh đến khai hóa cho các dân tộc lạc hậu (Bùi Đình Thanh, 2015)
Mãi sau này, đến những năm 30, khái niệm phát triển mới gắn với kinh tế,
và lúc này người ta sử dụng nó gần như đồng nhất với phát triển kinh tế Sau chiến tranh thế giới thứ hai, khi đã thành lập Liên Hiệp Quốc, các chuyên gia của
tổ chức quốc tế này mới bắt đầu nêu ra lý thuyết về phát triển Diễn văn của tổng thống Mỹ Truman năm 1949 nêu vấn đề trách nhiệm của Mỹ trong chương trình mang chủ đề phát triển các vùng chậm phát triển (Bùi Đình Thanh, 2015)
Điều mà nhiều nhà nghiên cứu khoa học xã hội macxít đã có nhiều công trình nghiên cứu sâu sắc là đi sâu phân tích những quan điểm của Mác và Ăngghen về sự phát triển của các phương thức sản xuất, các hình thái kinh tế - xã hội đã và đang diễn ra trong lịch sử xã hội loài người Trong lời nói đầu của bộ
Tư bản, Mác viết: “Nước phát triển nhất về mặt công nghiệp chỉ cho các nước theo mình trong bậc thang công nghiệp hình ảnh của chính họ trong tương lai” (Bùi Đình Thanh, 2015)
Cho đến thập kỷ 70, xuất hiện sự lạm phát các khái niệm về phát triển: phát triển về liên đới, phát triển về nội sinh, phát triển về cộng đồng, phát triển về hội nhập, phát triển về sinh thái, phát triển xã hội chủ nghĩa
Trang 18Phải đợi đến những năm 80 và đầu những năm 90 mới có những lý thuyết
về phát triển kinh tế gắn với sự phát triển con người được xem như là nhân vật chủ thể, động lực chính trong sự phát triển kinh tế và xã hội Ở đây cần nói đến
lý thuyết về sự phát triển bền vững (sustainable development), xuất phát từ sự phá hoại ghê gớm môi trường, đe dọa sự tồn tại của các thế hệ tương lai, Ủy ban môi trường và phát triển thế giới (Ủy ban Brundtland) đưa ra trong báo cáo năm 1987: “Phát triển bền vững là sự phát triển lành mạnh, tồn tại lâu dài, vừa đáp ứng nhu cầu của hiện tại, vừa không xâm phạm đến lợi ích của các thế hệ tương lai” (Lưu Đức Hải và Nguyễn Ngọc Sinh, 2011)
Khái niệm “phát triển bền vững” sau đó lại được mở rộng thêm, không chỉ dừng lại ở nhân tố sinh thái mà còn đi vào các nhân tố xã hội, con người qua các bản tuyên bố quan trọng Lời kêu gọi Alma Ata năm 1987 đưa ra chiến lược chăm sóc sức khỏe ban đầu cho con người (Bùi Đình Thanh, 2015)
Tuyên bố Rio de Janeiro năm 1992 ngay trong nguyên tắc 1 đã nêu rõ: “Con người là trung tâm của những mối quan tâm về sự phát triển lâu dài Con người có quyền được hưởng một cuộc sống hữu ích và lành mạnh mạnh hài hoà với thiện nhiện” (Bùi Đình Thanh, 2015)
b Lý thuyết về tăng trưởng và phát triển kinh tế
+ Lý thuyết tăng trưởng của trường phái cổ điển
Theo các nhà kinh tế, lý thuyết tăng trưởng kinh tế cổ điển là các học thuyết
và mô hình lý luận về tăng trưởng kinh tế với hai đại diện tiêu biểu là A.Smith và D.Ricacdo (Mai Ngọc Cường, 1995)
A.Smith (17923 - 1790) là nhà kinh tế học người Anh, lần đầu tiên nghiên cứu lý luận tăng trưởng kinh tế một cách thống nhất Với tác phẩm “Bàn về của cải”, ông cho rằng tăng trưởng kinh tế là tăng đầu ra tính theo bình quân đầu người, đồng thời đã mô tả các nhân tố tăng trưởng kinh tế như sau (Mai Ngọc Cường, 1995):
Trang 19N: Đất đai và điều kiện tự nhiên được huy động vào sản xuất
T: Tiến bộ kỹ thuật
D.Ricacdo (1772-1823) là nhà kinh tế học người Anh, đã kế thừa một cách xuất sắc A.Smith Ông có hàng loạt các lý thuyết kinh tế: lý thuyết giá trị lao động, lý thuyết về tiền lương, lợi nhuận, địa tô, lý thuyết về tư bản, lý thuyết về tín dụng và tiền tệ, lý thuyết thực hiện và khủng hoảng kinh tế, lý thuyết lợi thế
* Giai đoạn trưởng thành: Có nhiều ngành công nghiệp mới phát triển hiện đại, nông nghiệp được cơ giới hoá đạt năng suất lao động cao Tỷ lệ đầu tư chiếm 10- 20% trong GNP
* Giai đoạn mức tiêu dùng cao (Kinh tế học phát triển, 1997)
+ Lý thuyết về “cái vòng luẩn quẩn” và “cú huých từ bên ngoài”
Lý thuyết này là do nhiều nhà kinh tế học tư sản, trong đó có Paul
Trang 20A Samuelson đưa ra Theo lý thuyết này, để tăng trưởng kinh tế nói chung phải
có bốn nhân tố là nhân lực, tài nguyên thiên nhiên, cơ cấu tư bản và kỹ thuật Nhìn chung ở các nước đang phát triển thì bốn nhân tố trên đều khan hiếm, việc kết hợp chúng đều khó khăn Để phát triển phải có “cú huých từ bên ngoài” nhằm phá “cái vòng luẩn quẩn” ở nhiều điểm Điều này có nghĩa là phải có đầu
tư của nước ngoài vào các nước đang phát triển (Mai Ngọc Cường, 1995)
c Các chỉ tiêu phản ánh tăng trưởng và phát triển kinh tế
- Các chỉ tiêu dùng để tính toán và đánh giá sự tăng trưởng kinh tế gồm: tổng sản phẩm quốc dân (GNP) và tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
- Để phản ánh nhịp độ tăng trưởng kinh tế dùng chỉ tiêu tỷ lệ tăng GNP hoặc tỷ lệ tăng GDP (GDP và GNP thực tế) thời kỳ sau so với thời kỳ trước
- Chỉ tiêu: GDP bình quân đầu người, GNP bình quân đầu người
- Các chỉ tiêu phản ánh sự biến đổi cơ cấu kinh tế - xã hội (Kinh tế học phát triển, 1997):
- Các chỉ tiêu xã hội của phát triển: chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, trình độ học vấn của dân cư
- Các chỉ tiêu về cơ cấu kinh tế: Chỉ số cơ cấu ngành trong GDP, chỉ số cơ cấu ngành trong hoạt động ngoại thương, chỉ số tiết kiệm và mức đầu tư, tỷ lệ dân số đô thị và nông thôn
- Chỉ số phát triển con người (HDI)
2.1.1.2 Lý luận về sản xuất và cung ứng sản phẩm
a Khái niệm về sản xuất
Sản xuất là quá trình phối hợp và điều hoà các yếu tố đầu vào (tài nguyên hoặc các yếu tố sản xuất để tạo ra sản phẩm hàng hoá hoặc dịch vụ (đầu ra)) (David Colman &Trevor Young, 1994) Nếu giả thiết sản xuất sẽ diễn biến một cách có hệ thống với trình độ sử dụng đầu vào hợp lý, người ta mô tả mối quan
hệ giữa đầu vào và đầu ra bằng một hàm sản xuất:
Q= f(X1, X2 Xn)
Trong đó:
Q: là biểu thị số lượng một loại sản phẩm nhất định
X1, X2 Xn: là lượng của một yếu tố đầu vào nào đó được sử dụng trong quá trình sản xuất
Trang 21Ta cần chú ý mối quan hệ giữa yếu tố và sản phẩm:
+ Sản phẩm cận biên (MP) của yếu tố đầu vào thay đổi Đây là sự biến đổi lượng đầu ra do tăng thêm chút ít yếu tố đầu vào thay đổi được biểu thị bằng đơn
vị riêng của nó Khi sản phẩm cận biên bằng 0 thì tổng sản phẩm là lớn nhất + Sản phẩm bình quân (AP) của yếu tố đầu vào thay đổi Đem chia tổng sản phẩm có số lượng yếu tố đầu vào thay đổi ta sẽ có AP Khi một yếu tố đầu vào được sử dụng ngày một nhiều hơn, mà các yếu tố đầu vào khác không thay đổi thì mức tăng tổng sản phẩm ngày càng nhỏ đi
b Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sản xuất
- Vốn sản xuất: Là những tư liệu sản xuất như máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, kho tàng, cơ sở hạ tầng và kỹ thuật Vốn đối với quá trình sản xuất là
vô cùng quan trọng Trong điều kiện năng suất lao động không đổi thì tăng tổng
số vốn sẽ dẫn đến tăng thêm sản lượng sản phẩm hàng hoá Tuy nhiên trong thực
tế việc tăng thêm sản lượng hàng hoá còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác Chẳng hạn chất lượng lao động, trình độ kỹ thuật (Trịnh Thị Thanh Thủy, 2008)
- Lực lượng lao động: Là yếu tố đặc biệt quan trọng của quá trình sản xuất Mọi hoạt động sản xuất đều do lao động của con người quyết định, nhất là người lao động có trình độ kỹ thuật, kinh nghiệm và kỹ năng lao động Do đó chất lượng lao động quyết định kết quả và hiệu quả sản xuất (Trịnh Thị Thanh Thủy, 2008)
- Đất đai: Là yếu tố sản xuất có ý nghĩa quan trọng đối với ngành nông nghiệp và sản xuất công nghiệp và dịch vụ Đất đai là yếu tố cố định lại bị giới hạn bởi quy mô, nên phải đầu tư thêm vốn và lao động trên một diện tích nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai Các loại tài nguyên khác trong lòng đất như khoáng sản, tài nguyên rừng, biển và tài nguyên thiên nhiên đều là những đầu vào quan trọng của sản xuất (Trịnh Thị Thanh Thủy, 2008)
- Khoa học công nghệ: Quyết định đến sự thay đổi năng suất lao động và chất lượng sản phẩm Những phát minh sáng tạo mới được ứng dụng trong sản xuất đã giải phóng được lao động nặng nhọc, độc hại cho người lao động và tạo
ra sự tăng trưởng nhanh chóng, góp phần vào sự phát triển kinh tế của xã hội (Trịnh Thị Thanh Thủy, 2008)
- Ngoài ra còn có một số yếu tố khác: Quy mô sản xuất, các hình thức tổ chức sản xuất, mối quan hệ sân đối tác động qua lại lẫn nhau giữa các ngành,
Trang 22giữa các thành phần kinh tế, các yếu tố về thị trường nguyên liệu, thị trường tiêu thụ sản phẩm,v.v cũng có tác động tới quá trình sản xuất (Trịnh Thị Thanh Thủy, 2008)
c Lý thuyết cung
- Khái niệm: Cung là số lượng hàng hoá hoặc dịch vụ mà người bán có khả năng, sẵn sàng bán ở mức giá khác nhau trong một thời gian nhất định (Ngô Đình Giao, 2007)
Quy luật của cung thể hiện mối quan hệ giữa lượng cung và giá cả Quy luật này phản ánh mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa giá cả và lượng hàng hoá cung ứng
- Các yếu tố xác định cung và hàm số cung gồm: giá của bản thân hàng hoá; công nghệ; giá các yếu tố sản xuất (đầu vào); chính sách thuế, số lượng người sản xuất; các kỳ vọng của khách hàng
Hàm số của cung: Là hàm số phản ánh mối quan hệ của cung với các yếu tố xác định cung
Qsx.t= f(Pxt; Pt; T; Ns;E)
Trong đó:
Qsx.t: lượng cung hang hóa X trong thời gian t
Pxt: giá hàng hóa X trong thời gian t
Te: công nghệ sản xuất
Ns: số doanh nghiệp tham gia sản xuất
E: Các kỳ vọng của người sản xuất
2.1.1.3 Lý luận về phát triển sản xuất, tiêu thụ sản phẩm
a Phát triển sản xuất
Sản xuất là quá trình kết hợp tư liệu sản xuất với sức lao động để tạo ra sản phẩm Như vậy phát triển sản xuất được coi là một quá trình tăng tiến về quy mô (sản lượng) và hoàn thiện về cơ cấu
Trong cơ chế thị trường hiện nay, các doanh nghiệp cũng như tổ chức kinh
tế khi tiến hành phát triển sản xuất phải lựa chọn ba vấn đề kinh tế cơ bản là: sản xuất cái gì? sản xuất cho ai? sản xuất như thế nào? Những vấn đề này liên quan đến việc xác định thị trường và phân phối sản phẩm đúng đắn để kích thích sản xuất phát triển
Trang 23Phát triển sản xuất cũng được coi là một quá trình tái sản xuất mở rộng, trong đó quy mô sản xuất sau lớn hơn quy mô sản xuất trước trên cơ sở thị trường chấp nhận
Như vậy, doanh nghiệp phải có các chiến lược kinh doanh phù hợp Trong
đó chiến lược về sản phẩm là phải xác định được số lượng, cũng như chất lượng của sản phẩm, xác định chu kỳ sống của sản phẩm Phải có chiến lược đầu tư mua sắm máy móc thiết bị và lựa chọn công nghệ thích hợp Trong đó chú ý đến chiến lược đi tắt đón đầu trong việc đầu tư công nghệ hiện đại
Quá trình phát triển như vậy sẽ làm thay đổi cơ cấu sản xuất về sản phẩm Đồng thời làm thay đổi về quy mô sản xuất, về hình thức tổ chức sản xuất, việc
áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật Phát triển sản xuất cần hoàn thiện dần từng bước về cơ cấu, để tạo ra một cơ cấu hoàn hảo
Chú ý trong phát triển sản xuất phải đảm bảo tính bền vững, tức là sản xuất tìm nguồn đầu vào, đầu ra sao cho bền vững nhất và không làm ảnh hưởng đến nguồn tài nguyên (Trịnh Thị Thanh Thủy, 2008)
b Phát triển tiêu thụ sản phẩm
Phát triển tiêu thụ được coi là một quá trình, trong đó lượng sản phẩm được tiêu thụ ngày càng tăng về số lượng, cơ cấu sản phẩm tiêu thụ được hoàn thiện dần theo hướng có lợi cho nhà sản xuất và người tiêu dùng Như vậy các doanh nghiệp phải có chiến lược tiêu thụ sản phẩm Phải có phương thức bán hàng phù hợp nhất, có chính sách yểm trợ cho tiêu thụ sản phẩm, xác định thương hiệu sản phẩm và phương thức thanh toán phù hợp Đặc biệt chú ý đến việc mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm Chú ý thị trường mục tiêu, thị trường tiềm năng và thị trường ngách
Trong phát triển tiêu thụ phải chú ý đến giá cả các loại sản phẩm Giá cả khác nhau có tác dụng khuyến khích hoặc hạn chế sự phát triển sản xuất Mặt khác, giá cả các loại sản phẩm phân phối trên thị trường theo các kênh cũng khác nhau Trong đó phân phối trực tiếp cho người tiêu dùng thì nhà sản xuất có lợi hơn cả, nhưng chỉ tiêu thụ được một khối lượng nhỏ, do đó phải phân phối sản phẩm theo hệ thống kênh gián tiếp Cần chú trọng chất lượng sản phẩm và thị hiếu khách hàng trong quá trình phát triển tiêu thụ sản phẩm (Trịnh Thị Thanh Thủy, 2008)
Trang 242.1.2 Lý luận về phát triển sản xuất hoa
2.1.2.1 Đặc điểm, vị trí nghề trồng hoa
Hoa là một sản phẩm đặc biệt của cây trồng, nói đến hoa là nói đến vẻ đẹp của thiên nhiên được cây cỏ chắt lọc ban tặng cho con người Hoa trong cuộc sống của con người chiếm một vị trí thẩm mỹ quan trọng, hoa là tượng trưng của cái đẹp, là nguồn cảm giác ngọt ngào của cuộc sống
Hoa không chỉ mang lại cho con người sự thư thái khi thưởng thức vẻ đẹp rạng ngời vốn có của chúng mà còn mang lại giá trị kinh tế cao cho người trồng hoa Nhiều nước trên thế giới như Pháp, Hà Lan, Bungari… đã có nền sản xuất hoa rất phát triển, hàng năm xuất khẩu được một lượng hoa vô cùng lớn và là nguồn thu nhập quan trọng của đất nước Việt Nam cần phát triển nghề trồng hoa chú trọng tới việc định hướng thị trường tiêu thụ, không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu sang các nước khác
Hơn thế, việc trồng hoa đem đến những lợi ích to lớn về môi trường, góp phần bảo về môi trường thiên nhiên, tạo môi trường sống và làm việc hài hòa cho mỗi cá nhân và gia đình Việc chơi và thưởng thức hoa mang nét đẹp văn hóa sâu sắc đối với mỗi quốc gia, dân tộc Hoa không dành riêng cho ai Mọi người đều
có thể thưởng thức, trồng hay chăm sóc hoa
Ở Việt Nam, cây hoa có ý nghĩa lớn trong nền kinh tế của các vùng trồng hoa Cây hoa mang lại hiệu quả kinh tế cao gấp 5-20 lần so với các cây trồng khác Mô hình trồng lay ơn tại Đằng Hải, Đồng Thái (Hải Phòng), Dĩnh Kế (Bắc Giang)… đều đạt hiệu quả cao gấp 1,5-2,5 lần so với trồng cây thông thường (thu 15-20 triệu đồng/sào/3 tháng) Mô hình trồng đồng tiền tại Tây Tựu (Từ Liêm,
Hà Nội) thu 50-60 triệu đồng/sào/năm…
Ngoài việc bảo vệ nguồn tiền quý hiếm, ngành hoa ở nước ta đang trở thành ngành kinh tế có giá trị thu nhập cao Đặc biệt, trồng và kinh doanh hoa còn đẩy nhanh việc xóa đói giảm nghèo, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nhiều địa phương
Cụ thể năm 2003 đã có hơn 30.000 hộ gia đình thoát nghèo từ việc trồng hoa, nhiều hộ trồng hoa có thu nhập gần 1 tỷ đồng/ha (Đặng Văn Đông, 2003)
2.1.2.2 Đặc điểm kinh tế, kỹ thuật nghề trồng hoa
a Đặc điểm kinh tế nghề trồng hoa
Mỗi loài hoa có đặc điểm sinh trưởng, phát triển khác nhau Vì thế, người trồng hoa phải nắm rõ để có những đầu tư đúng đắn về công lao động và các biện
Trang 25pháp canh tác Trước khi trồng, cần hoạch định rõ kế hoạch phát triển là nên trồng loại hoa nào, đi theo hướng nào, mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng nhu cầu trong nước và hướng tới xuất khẩu
Tuy nghề trồng hoa yêu cầu kỹ thuật và vốn đầu tư ban đầu cũng như công chăm sóc lớn song cũng mang lại hiệu quả kinh tế cao, nâng cao thu nhập cho các hộ nông dân, góp phần đáp ứng nhu cầu ngày một tăng của cuộc sống Đối với các địa phương làm nghề thì đó cũng là một đóng góp chủ chốt trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng và chuyển dịch kinh tế
Hoa có nhiều loại khác nhau do đó việc đầu tư vốn cho sản xuất hoa cũng khác nhau Đối với những loại hoa ngắn ngày, vốn đầu tư ít, chỉ cần có mảnh vườn và điều kiện phù hợp, có kinh nghiệm, có kỹ thuật là có thể trồng Hoặc trong vùng có hộ đi trước trồng thử nghiệm, thu được kết quả tốt nên những hộ xung quanh theo nhau trồng loại hoa đó Tuy nhiên, hiệu quả thu được của các hộ thì không giống nhau Cùng một loại hoa, có những hộ trồng có lãi nhiều vì họ có điều kiện đầu tư về cơ sở vật chất: giống, phân bón, thuốc trừ sâu, kỹ thuật chăm sóc… nên kết quả sản xuất cao, ngược lại, những hộ không có điều kiện kinh tế
để đầu tư nhiều cho mảnh vườn của mình thì thu được lợi nhuận thấp, thậm chí
lỗ Đối với những loại hoa mang lại HQKT cao nhưng thời gian chăm sóc lâu, vốn đầu tư ban đầu lớn, kỹ thuật chăm sóc cầu kỳ thì chỉ những hộ có điều kiện kinh tế khá trở nên mới có khả năng trồng Nói chung, sản xuất hoa là một nghề đòi hỏi có nhiều vốn, vốn đầu tư cho mỗi sào trồng hoa thường cao gấp 4 - 5 lần
so với trồng lúa, 3 - 4 lần so với trồng đậu tương hoặc lạc
Ngày nay, dưới nền kinh tế thị trường, ngành sản xuất hoa đang phát triển ngày một mạnh mẽ Tài nguyên đất hạn hẹp cho nông nghiệp được tận dụng Tư liệu sản xuất có thể sử dụng trong nhiều giai đoạn sản xuất, lao động nhàn rỗi ở nông thôn được tận dụng tối đa Tuy nhiên, do yêu cầu kỹ thuật của nghề trồng hoa, cần nguồn nhân lực có trình độ, tay nghề và óc thẩm mỹ nhất định nên các
hộ sản xuất cần hạch toán chi tiết, đầy đủ các chi phí, đặc biệt là công lao động nhằm đánh giá đúng hiệu quả sản xuất
Khâu cuối cùng của quá trình sản xuất chính là tiêu thụ Để giải quyết hiệu quả bài toán tiêu thụ, người sản xuất cần chú trọng tới các vấn đề chủ yếu sau:
- Chất lượng sản phẩm (thể hiện ở dáng, lượng hoa trên một cây)
- Giá cả của sản phẩm hình thành qua quan hệ cung cầu
Trang 26- Thị hiếu của người tiêu dùng
- Tập quán tiêu dùng hoa vào những này lễ Tết, hội hè
b Đặc điểm kỹ thuật nghề trồng hoa
- Đặc điểm kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng
* Yêu cầu về đất
Đất đóng vai trò rất quan trọng trong việc cung cấp nước, chất dinh dưỡng
và chất kích thích sinh trưởng cho cây trồng nói chung và hoa nói riêng Theo kinh nghiệm của người trồng hoa thì các loại đất như đất phù sa, đất pha cát thích hợp với các loại hoa nói chung Đất có kết cấu tốt, có nhiều mùn thì càng thích hợp Đất thích hợp để trồng hoa phải đạt được những tiêu chuẩn sau:
Đất không quá bí, không quá rời rạc, đất phải có nhiều chất hữu cơ và mùn Đất có nhiều vi sinh vật sống và hoạt động
Đất phải thoát nước được, đủ độ ấm
Đất không quá chua, độ pH=6,9 là phù hợp
Trong thiên nhiên không thể có những loại đất có đầy đủ các yếu tố trên, do vậy, người trồng phải bổ sung, cải tạo và bảo vệ đất để cây trồng có điều kiện sinh trưởng và phát triển tốt nhất
* Yêu cầu về ánh sáng
Các loại hoa khác nhau có yêu cầu về ánh sáng khác nhau về cường độ, về
độ chiếu sáng, có cây chỉ ưa ánh sáng tán xạ Do đó người trồng phải tạo điều kiện để cây được chiếu sáng theo yêu cầu của nó như: trồng cây với khoảng cách thích hợp
Nhóm cây ngắn ngày yêu cầu độ chiếu sang ngắn, thời gian từ 10-14h/ngày Nhóm cây dài ngày yêu cầu độ chiếu sang dài, thời gian từ 8-10h/ngày Nhóm cây trung tính không phản ứng chặt chẽ với ánh sáng
* Yêu cầu về độ ẩm
Cây ưa độ ẩm cao trong đất và cả trong khí quyển độ ẩm từ 85-95%
Cây ưa khô hạn yêu cầu về độ ẩm thấp từ 65-75%
Có cây hoàn toàn sống trong nước, có cây sống trong điều kiện độ ẩm bình thường (nhóm trung tính)
Trang 27* Yêu cầu về nhiệt độ
Nhóm cây hoa ôn đới ưa nhiệt độ từ 17-200C
Nhóm cây hoa có nguồn gốc á nhiệt đới ưa nhiệt độ từ 20-230C
Nhóm cây hoa nhiệt đới ưa nhiệt độ từ 22 đến 300C (ban ngày) và 18 đến
Một trong những nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả kinh tế của nghề trồng hoa là kết quả sản xuất Kết quả sản xuất phụ thuộc vào quy trình kỹ thuật chăm sóc và áp dụng các biện pháp kỹ thuật phù hợp giúp cây phát triển tốt cho năng suất cao và chất lượng hoa tốt, từ đó nâng cao doanh thu, đem lại nhiều lợi nhuận cho người trồng hoa
Để mở rộng sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng hóa chủng loại, đáp ứng nhu cầu ngày một khắt khe của thị trường, người trồng hoa rất cần
sự giúp đỡ về mặt kỹ thuật của các nhà khoa học, chính sách kinh tế, hành chính hợp lý của Nhà nước Bên cạnh đó, người nông dân không ngừng học hỏi nâng cao trình độ, tay nghề đáp ứng được các kỹ thuật trồng, chăm sóc hiện đại để có thể cạnh tranh mạnh mẽ với các nước trong khu vực và trên thế giới
Đặc điểm kỹ thuật trong sản xuất một số loài hoa ở huyện: hoa hồng, hoa cúc, hoa loa kèn
* Hoa hồng
- Yêu cầu về đất: Đất phải tơi xốp, thoát nước tốt, giàu hữu cơ và dinh dưỡng Cây hoa hồng có thể trồng được quanh năm nhưng ở miền bắc thích hợp nhất là vụ đông xuân (tháng 2, 3), yêu cầu độ pH 6-7, lề luống rộng 70 - 80 cm, cao 25 - 30 cm, trồng hàng đôi, hai hàng đơn cách nhau 35 - 40 cm, cây cách nhau 30 cm
Trang 28- Mật độ: Mật độ thích hợp với hoa hồng cắt cành 70.000 - 80.000 gốc/ha
- Giống: Các giống tốt và phổ biến hiện nay: Xanh Long Mỹ, đỏ Hà Lan, Ý,
đỏ Pháp, cam, hồng, phấn, trắng, vàng
- Cách bón phân: Hoa hồng rất ưa phân hữu cơ, sau khi trồng 1 - 2 tháng là phải tưới phân cho cây Có thể dùng phân hữu cơ ngâm ủ với phân vi sinh theo tỷ
lệ 2m3 nước cần 300 kg phân hữu cơ + 50 kg phân vi sinh tưới cho 5.000m2
- Chăm sóc: Do cây hồng có chu kì sinh trưởng dài trong nhiều năm nên cần được bón phân chuồng, phân lân, phân vi sinh, vôi hằng năm để bổ sung dinh dưỡng Định kỳ hàng tháng phun vi lượng
- Tưới nước: Có 2 phương pháp tưới: Tưới nước ngập rãnh tức là bơm nước vào 2/3 các rãnh để 2 tiếng đồng hồ sau đó rút hết nước hoặc tưới bằng vòi bơm vào mặt luống giữa 2 hàng cây, tránh bắn nước nhiều lên bộ lá và nụ sẽ tạo điều kiện cho nấm bệnh lan truyền Nếu tưới bằng vòi bơm thì giữa 2 hàng cây ta tạo
ra 1 rãnh nhỏ để khi tưới nước và phân không chảy ra ngoài
- Kỹ thuật bấm ngọn, vít cành điều tiết sinh trưởng: Với phương pháp bấm ngọn, vít cành ta có thể đạt được 3 mục đích sau:
Làm tăng năng suất từ 3 - 4 lần (có thể thu từ 7 - 9 bông/1gốc/lần thu) Tăng chất lượng cành hoa (chiều dài cành hoa > 70 cm)
Điều khiển ra hoa theo ý muốn
Lưu ý: Vít cành chỉ áp dụng đối với cây giâm
- Kỹ thuật bao hoa trên đồng ruộng: Mục đích: Để tránh côn trùng và các tác động của môi trường xung quanh, đồng thời giữ hoa nhanh nở trong vài ngày
Có 2 cách bao hoa là bao bằng giấy báo (cắt 1 mảnh giấy báo quấn quanh bông hoa và buộc hoặc dán lại) và bao bằng lưới bao có sẵn
- Thu hoạch, bảo quản hoa sau cắt cành: Hoa hồng thu hoạch khi hoa có cánh ngoài vừa hé nở, nên thu vào buổi sáng sớm hoặc chiều mát lúc cây còn sung nhựa, nhiều nước, thì cành hoa thu mới bền và lâu tàn, trước khi cắt hoa nên tưới nhiều nước Cắt cách gốc cành chừa lại 3 lá, phần cành hồng còn lại sẽ cho 3 chồi mới, ta chỉ chọn 1-2 chồi khỏe cho ra hoa tiếp tục
Sau khi cắt hoa nhúng ngay vào thùng nước có chứa chất khử Etylen khoảng 30 phút, sau đó ngâm vào thùng chứa dung dịch dinh dưỡng khoảng 1 - 3 giờ, nếu có điều kiện thì bảo quản trong kho lạnh, còn không thì phải để hoa ở
Trang 29chỗ thoáng mát, sạch sẽ và đóng gói trước khi vận chuyển đi xa Có như vậy thì hoa cắm mới bền và các nụ hoa sẽ nở hết, không có hiện tượng nụ ngủ
*Hoa cúc
- Phương thức trồng: Cúc cần trồng trong nhà có mái che tránh nắng mưa bằng lưới, nhà lưới bán tự động hoặc plastic; có thể điều chỉnh ánh sáng (bằng cách dùng tay kéo lưới che bớt ánh sáng), điều chỉnh độ ẩm (theo tần suất phun
mù và tưới cho cây)
- Giống: Sử dụng các giống cúc mới được chọn tạo, nhập nội của Đài Loan,
Hà Lan, Nhật Bản hợp thị hiếu người tiêu dùng gồm cúc cành (có nhiều bông) và cúc đơn (chỉ có 1 bông) như: Vàng Đài Loan, vàng hè, HL1, CN42, CN43, CN93, CN98, Với cây con khi đem trồng phải cao 5 - 6 cm, có 6 - 10 lá (nuôi cấy mô)
- Đất trồng: Đất được cày sâu, phơi ải và bừa kỹ, lên luống cao 20-30cm, bón phân lót khoảng 15-20 ngày trước khi trồng
- Thời vụ trồng:
Vụ Xuân Hè: Trồng tháng 3, 4, 5 để có hoa vào tháng 6, 7, 8
Vụ Thu: Trồng tháng 5, 6, 7 để có hoa bán vào tháng 9, 10, 11
Vụ Thu Đông: Trồng tháng 8, 9 để có hoa bán vào tháng 12, 1
Vụ Đông Xuân: Trồng tháng 10, 11 để có hoa bán vào tháng 2, 3
- Mật độ, khoảng cách trồng: Với cúc đơn (1 bông/cây), vàng Đài Loan, vàng hè, CN42, CN43 nên trồng với khoảng cách 12*15cm để có mật độ 400.000 cây/ha; với cúc cành (nhiều bông/cành) nên trồng với mật độ 15*18cm để có mật
độ 300.000cây/ha
- Phân bón: Khối lượng tính (tính cho 1 sào bắc bộ 360m2), 1 tấn phân chuồng, 10kg URÊ, 30kg Supe lân, 10 kg Kali clorua, 100 kg tấm đậu đã ngâm hoai mục
- Chăm sóc: Làm cỏ thường xuyên cho cây Việc vun xới chỉ nên tiến hành khi cây còn nhỏ, khi cây đã lớn cần hạn chế Với cúc đơn để 1 bông phải tỉa cành bấm nụ phụ, còn các bông để chùm thì tỉa bớt cành tăm và ngắt bỏ nụ chính để các nụ bên phát triển đồng đều
- Tưới nước: Cần tưới nước đủ ẩm thường xuyên, đặc biệt là thời kỳ cây bắt đầu bén rễ cho đến khi ra hoa
Trang 30Các biện pháp kỹ thuật đặc biệt khi trồng hoa cúc trái vụ:
Xử lý ánh sáng ngày ngắn để thúc đẩy sự phân hóa mầm hoa và ra hoa bằng cách mỗi ngày che 3-4 giờ vào thời gian từ 16-19 giờ hàng ngày Thời gian che liên tục trong 15 ngày, cúc sẽ phân hóa mầm hoa và ra hoa theo ý muốn
Dùng bóng điện loại 100W treo cách ngọn cây hoa cúc khoảng 50-60cm (luôn thay đổi chiều cao dây treo bóng theo độ lớn cây) với mật độ 1 bóng/10m2 Hàng ngày chiếu sáng từ 22 giờ đêm đến 2 giờ sáng, chiếu sáng liên tục trong thời gian khoảng 1 tháng sẽ làm cho cây không phân hóa mầm hoa và nở sớm
- Thu hái: Xử lý trước khi thu hái: Trước thu hoạch 7-10 ngày nên tưới dung dịch phân lân và kali ở nồng độ thấp cho cây: 30kg P2O5 + 30kg K2O cho 1
ha, đồng thời phun thuốc diệt trừ sâu bệnh
- Kỹ thuật cắt hoa: Cắt hoa vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát Dùng dao, kéo sắc cắt riêng các cành hoa có 2/3 số cành đã nở cách mặt đất 5 - 10cm
- Đóng thùng đem đi tiêu thụ: Xử lý hoa trước khi đóng thùng bằng cách nhúng gốc cành vào dung dịch STS (Silver thiosulphate) 1% cho hoa được tươi lâu, bảo quản được trên đường vận chuyển Xếp các bó hoa vào thùng carton hoặc hộp xốp với kích thước 120 cm * 60 cm + 60 cm Mỗi thùng xếp 15 bó (1.200 cành)
* Hoa ly
- Yêu cầu về đất: Làm luống cao, mặt luống phải thật phẳng, sẻ rãnh rồi bón phân thật hoại hoặc bón trước mùa đông rồi mới trồng
- Phân bón: Lượng phân bón phải đạt yêu cầu như sau:
- Phân ủ mục: 2m3/sào; lân: 5 kg/sào; Kali: 5 kg/sào
- Thời vụ trồng: trồng tháng 9, 10 thu hoạch vào tháng 4, tháng 5 năm sau
- Cách trồng: Khi trồng phải đặt củ vào rãnh, các hàng phải cách nhau khoảng 45 cm, các củ cách nhau 30 cm, lấp đất sâu khoảng 4-5cm, nếu lấp sâu quá thì cây sẽ khó mọc Khi hoa vươn cao cần tưới nước phân pha loãng 1/5 lần, rồi xới xáo vun cao cho cây khỏi đổ
- Thu hoạch: Khi đến thời điểm thu hoạch nên cắt hoa vào lúc bông hé nứt đầu cành, chừa lại phần gốc 20-15 cm cho cả lá để cây nuôi củ Nên cắt hoa vào buổi sáng sớm hoặc chiều tối Nên cắm hoa vào nước, nếu chuyển đi xa phải đóng hộp và phân loại hoa
Trang 31Ngành nông nghiệp Mê Linh chủ yếu phát triển theo hướng nông nghiệp đô thị sinh thái, gắn với các sản phẩm thế mạnh của huyện là hoa và cây cảnh, rau sạch chất lượng cao Đối với những diện tích trồng lúa năng suất thấp sẽ chuyển đổi sang trồng cây có giá trị kinh tế cao, trọng tâm là cây hoa Theo quy hoạch phát triển của huyện thì diện tích trồng hoa tăng từ 430 ha năm 2009 lên 1000 ha năm 2015 và 1200-1500 năm 2020 Giai đoạn đến 2030 vùng trọng điểm trồng hoa sẽ phát triển ở các xã vùng ven sông Hồng, gần khu vực phát triển đô thị như
ở xã Tráng Việt, Văn Khê, Mê Linh, Tiền Phong, Đại Thịnh…
2.1.3 Nội dung phát triển sản xuất hoa
2.1.3.1 Phát triển về quy mô sản xuất
Phát triển quy mô sản xuất thường theo hai xu hướng theo chiều rộng hoặc theo chiều sâu Một cách tổng quát, phát triển quy mô sản xuất theo chiều rộng là
mở rộng quy mô nhưng không làm tăng năng suất lao động Phát triển quy mô sản xuất theo chiều sâu là hướng tập trung đầu tư áp dụng khoa học kỹ thuật, đào tạo nâng cao chất lượng kỹ thuật…
Hiện nay, với điều kiện sẵn có của địa phương và nắm bắt xu thế phát triển kinh tế cũng như chính sách hỗ trợ của Đảng và nhà nước, địa phương thúc đẩy phát triển quy mô sản xuất theo mô hình mở rộng quy mô sản xuất đồng thời chủ động áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật tăng năng suất lao động, tăng hiệu quả sản xuất
2.1.3.2 Nâng cao chất lượng và hiệu quả kinh tế
Nền kinh tế thị trường phát triển, nhu cầu và thẩm mỹ của người tiêu dùng ngày càng nâng cao Điều này đòi hỏi doanh nghiệp cũng như nông hộ sản xuất luôn đổi mới theo xu thế thị trường Việc tạo uy tín từ nỗ lực nâng cao chất lượng sản phẩm cũng như chất lượng dịch vụ là điểm mấu chốt duy trì lượng khách hàng vốn có và tạo tiền đề thu hút nguồn khách hàng mới tiềm năng nhằm tăng hiệu quả kinh tế
2.1.3.3 Phát triển thị trường tiêu thụ hoa
Để đưa được sản phẩm tới tay người tiêu dùng một cách hiệu quả nhất, người sản xuất cần nắm bắt được thị trường mục tiêu Việc xác định thị trường tiêu thụ, xác định kênh tiêu thụ là điều tiên quyết quyết định việc thành công khi đưa hoa ra thị trường Người sản xuất phải luôn nắm bắt thời điểm tiêu thụ từng loại hoa; nhu cầu của từng đối tượng khách hàng để có những hướng đi thích hợp trong quá trình phát triển sản xuất-tiêu thụ mới mang lại hiệu quả kinh tế cao
Trang 322.1.3.4 Cơ cấu các loại hoa hợp lý
Các loại hoa được trồng trên địa bàn huyện chủ yếu là hoa hồng (90%), ngoài ra còn có hoa ly, hoa cúc Hiện tại huyện đang xây dựng thương hiệu hoa hồng Mê Linh Với kinh nghiệm trồng hoa nhiều năm, việc xây dựng cơ cấu cây hoa như hiện tại, giúp người dân thuận lợi trong tiêu thụ, nâng cao giá trị kinh tế
2.1.4.2 Nhân tố con người, kĩ thuật
Con người là trung tâm của quá trình sản xuất, là yếu tố quyết định đối với mọi hoạt động sản xuất Trong quá trình trồng hoa yếu tố con người đóng vai trò
vô cùng quan trọng Nếu lực lượng lao động có đầy đủ những phẩm chất, trình
độ, đặc biệt là kinh nghiệm thì hoạt động sản xuất chắc chắn đem lại hiệu quả cao Trình độ tổ chức và quản lý giúp con người sử dụng đầy đủ và hợp lý nguồn lực, tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao nhất với chi phí bỏ ra là thấp nhất
Sự năng động, nhạy bén sẽ giúp người sản xuất nhanh chóng tiêu thụ sản phẩm của mình làm ra và ở phía bên kia của quá trình sản xuất trên phương diện là người tiêu dùng thì việc tiêu thụ sản phẩm hoa được sản xuất ra cũng được thực hiện bởi chính con người
Sản xuất hoa đòi hỏi đầu tư nhiều lao động sống với trình độ, tay nghề và
óc thẩm mỹ cao Một mặt, họ phải nắm vững đặc tính sinh trưởng của cây, sử dụng bàn tay tác động vào chúng để tạo thành những sản phẩm tốt Mặt khác, việc lựa chọn tạo giống cũng rất quan trọng, bên cạnh đó cũng không thể thiếu được các công đoạn tỉa cành, khoanh gốc Vì vậy, yếu tố kỹ thuật có vai trò quyết định đến sự thành bại của hộ nông dân Khoa học ngày càng phát triển, các
Trang 33kỹ thuật lai ghép, nhân giống phục vụ rất đắc lực cho quá trình sản xuất Việc nắm bắt học tập các tiến bộ này kết hợp với kinh nghiệm là yêu cầu rất quan trọng đối với người sản xuất Do đó, không phải cứ bón nhiều phân, phun nhiều chất kích thích thì sẽ có cây đẹp mà cần thiết phải đầu tư nhiều công lao động chất lượng cao để chăm sóc
2.1.4.3 Nhân tố kinh tế
- Nhân tố vốn
Vốn luôn là một trong những nhân tố quan trọng nhất trong quá trình sản xuất hoa vì hoa cho thu hồi vốn chậm do chu kỳ sản xuất nhiều khi khó xác định Hơn nữa, việc chăm sóc hoa cũng đòi hỏi đầu tư khá lớn về giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật (BVTV), thuốc kích thích sinh trưởng Ngoài
ra, hoa đòi hỏi đúng thời kỳ, nếu không đáp ứng quá trình đó thì sẽ ảnh hưởng đến chất lượng sản xuất Vốn còn quyết định tới việc tái sản xuất giản đơn hay tái sản xuất mở rộng Do đó, để phát triển sản xuất hoa thì các hộ nông dân cần
có nguồn vốn để chủ động đối phó với các rủi ro: thời tiết, thị hiếu thay đổi, giá trị đầu vào tăng cao
- Nhân tố thị trường giá cả
Sản xuất muốn phát triển ổn định đòi hỏi cần có thị trường và luôn tìm cách đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường Bất kỳ ngành sản xuất nào cũng liên quan đến thị trường đầu vào và đầu ra Sự biến động giá cả ở cả hai thị trường đều tác động trực tiếp đến hiệu quả sản xuất và thu nhập của nông hộ Việc định giá cả đầu ra cũng như nguồn cung ứng các vật tư đầu vào, tạo lập và
mở rộng thị trường tiêu thụ sẽ mang lại tâm lý yên tâm sản xuất cho nông hộ Sản xuất hoa cũng là ngành sản xuất hàng hoá trong điều kiện phát triển của nền kinh tế hiện nay Vì vậy, sự phát triển của ngành này cũng gắn liền với những biến động của thị trường
Trong những năm gần đây giá cả đầu vào của sản phẩm biến động nhiều, do
đó cũng gây ra những biến động lớn đối với sản xuất và tiêu thụ hoa Do vậy, các hợp tác xã (HTX) nông nghiệp của các địa phương cần chú ý để có những biện pháp đối phó khi mà các nhà cung cấp vật tư ép giá các nông hộ
Giá đầu ra cũng là yếu tố hết sức quan trọng ảnh hưởng tới sản xuất hoa Thực tế, nếu giá của một loại hoa năm nay cao và bán chạy thì cung về loại hoa
đó năm sau sẽ tăng cao nhưng giá sẽ giảm
Trang 34Như vậy, qua cách phân tích ở trên cho thấy thị trường là yếu tố hết sức quan trọng quyết định tới lượng cung ứng hoa của người sản xuất cũng như thu nhập của họ
- Nhân tố cơ sở hạ tầng
Để phát triển sản xuất thì đòi hỏi hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất cũng cần được nâng cấp, đó là công trình thuỷ lợi nhằm đảm bảo tưới tiêu đáp ứng đầy đủ nhu cầu tưới tiêu đối với quá trình sinh trưởng và phát triển của cây Còn hệ thống giao thông nó liên quan đến quá trình vận chuyển cây giống, cây thương phẩm, hoa và các loại vật tư
Trên thực tế cho thấy ở những địa phương có sự đầu tư hợp lý cho hệ thống
cơ sở hạ tầng thì tại đó nghề trồng hoa có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất và tiêu thụ Như vậy phát triển sản xuất hoa và nâng cấp cơ sở hạ tầng
có quan hệ hỗ trợ, bổ sung cho nhau trong đó quy hoạch về cơ sở hạ tầng cần thực hiện trước một bước
- Nhân tố chính sách pháp luật của Đảng và nhà nước
Chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước là nhân tố góp phần định hướng cho các hoạt động sản xuất hoa trong thời gian dài Do đó, nó có vai trò rất quan trọng Hơn nữa, với các chính sách chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn, chính sách dồn điền đổi thửa, chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia vào sản xuất và xuất khẩu hoa cùng hàng loạt chính sách hỗ trợ sản xuất khác, người nông dân sẽ yên tâm hơn khi gắn bó với nghề của mình Điều này làm cho ngành sản xuất nông nghiệp nói chung và ngành trồng hoa nói riêng phát triển mạnh mẽ
Mặt khác các chính sách đầu tư, quy hoạch vùng sản xuất tạo thành các vành đai xung quanh các đô thị lớn sẽ giúp tăng lượng cung cấp hàng hoá, thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng
Như vậy, các chính sách hỗ trợ của Nhà nước có ảnh hưởng rất lớn và tạo hành lang pháp lý để sản xuất hoa của cả nước nói chung và của huyện Mê Linh nói riêng có điều kiện phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu
2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
2.2.1 Khát quát tình hình phát triển sản xuất hoa trên thế giới
Bước vào thế kỷ XXI, người tiêu thụ trên thế giới đã có những đòi hỏi mới
về chất lượng cuộc sống: ngon với thức ăn bổ dưỡng hơn, đẹp với những tiện
Trang 35nghi vật chất và tinh thần phong phú hơn Vì nhu cầu ăn ngon, sống đẹp ngày càng được xem trọng cho nên hoa đã trở nên một nhu cầu không thể thiếu trong mọi sinh hoạt: hoa sinh nhật, hoa thăm hỏi, hoa tiệc cưới, hoa trang trí văn phòng, hoa tôn vinh lễ hội, hoa cho ngày Cha Mẹ Và hoa theo cả con người cho tận đến khi kết thúc cuộc đời của mỗi người Chính vì vậy mà yêu cầu về hoa tăng rất nhanh và có một thị trường rất lớn
Tuy nhiên, tình hình sản xuất hoa trên thế giới ngày nay đã có nhiều chuyển biến Những nước sản xuất hoa vốn nổi tiếng như Hà Lan, Pháp nay đã trở thành những nước nhập khẩu và cũng là thị trường tiêu thụ Thay vào đấy, những nước đang phát triển, nơi lao động đang còn rẻ và giá trị đất chưa cao như Trung Quốc, Malaysia, Nam Phi, Israel, Ấn Độ, Colombia, Kenya, Ethiopia và Ecuador lại trở thành những nước sản xuất và xuất khẩu Về mặt địa lý, có thể nói Nam Phi, Kenya và Zimbabwe là những đại gia xuất khẩu hoa sang châu Âu trong khi Colombia là nước chủ chốt xuất khẩu sang Hoa Kỳ Ở châu Á, Malaysia, Đài Loan, Thái Lan, và gần đây Trung Quốc là những nước xuất khẩu, phần lớn sang Nhật Bản Nhìn chung, thị trường nhập khẩu hoa trên thế giới được phân phối như sau: Đức với 22 tỷ USD, chiếm 22%; Hoa Kỳ với 15 tỷ USD, chiếm 15%; Pháp và Anh với 10 tỷ USD, chiếm 10%; Hà Lan với 9 tỷ USD, chiếm 9%; Nhật Bản với 6 tỷ USD, chiếm 6%; Ý và Thuỵ Sĩ với 5 tỷ USD, chiếm 5% Giới chuyên gia còn cho rằng các nước thuộc khối Đông Âu cũ cũng sẽ trở thành nơi sản xuất hoa trong tương lai (Sở khoa học công nghệ tỉnh Lâm Đồng, 2011) Ngành hoa được phát triển tốt nhờ chất lượng hoa ngày càng được cải thiện, công nghệ sau thu hoạch ngày càng cao, và giao thông ngày càng tiện lợi Điều này có được do có sự thành hình của các khu, trung tâm nông nghiệp công nghệ cao (Centre of Excellence), nơi mà các giống hoa được nghiên cứu theo dạng công nghệ cao, hội tụ các công nghệ nông nghiệp tiên tiến của thời đại như công nghệ sinh học, công nghệ nhà kính, công nghệ thủy canh và bán thủy canh, công nghệ thông tin, công nghệ sử dụng hiệu quả nước… do chuyên gia của nhiều bộ môn khác nhau tập trung cùng làm việc theo một quy chế thống nhất nhưng đơn giản, giải quyết dứt điểm nhưng vẫn mang tính bền vững những vấn đề nổi cộm của ngành hoa Một số nước có mô hình dạng này là Úc, New Zealand Ở châu
Á như Thái Lan, Malaysia, Singapore cũng xây dựng những trung tâm nghiên cứu và phát triển hoa (Sở khoa học công nghệ tỉnh Lâm Đồng, 2011)
Riêng Trung Quốc, nay cũng đã trở thành một trong những quốc gia sản xuất hoa nhiều nhất và cũng là thị trường tiêu thụ lớn nhất thế giới Cho đến cuối
Trang 36năm 2001, Trung Quốc đã có hơn 20.000 công ty/trang trại/cơ sở sản xuất hoa - cây cảnh và đã tổ chức được hơn 2.000 chợ đầu mối, với khoảng 1,45 triệu người hoạt động trong ngành Vào năm 2002, Trung Quốc bán hơn 3,8 tỷ cành hoa và
810 triệu chậu hoa - cây cảnh Trong những năm gần đây, Trung Quốc đã đạt nhiều thành tựu trong việc tạo nhiều giống hoa mới, cải thiện đáng kể phương pháp trồng hoa Sở dĩ Trung Quốc đạt được kết qua tốt như vậy là nhờ chính sách khoa học - công nghệ được phê duyệt vào năm 1986 (chương trình Hi-Tech 86-3) được triển khai song song với chính sách mở cửa kinh tế Trung Quốc đã xây dựng các trường đại học, viện nghiên cứu thành những trung tâm nghiên cứu trọng điểm quốc gia, mở màn cho hàng loạt các mô hình nông nghiệp sinh thái
Vì trình độ phát triển của Trung Quốc thời bấy giờ còn thấp nên họ đã chủ yếu nhập công nghệ cao của nước ngoài, sẵn sàng trả giá cao cho nhập nội trọn gói gồm giống, thiết bị và công nghệ để sau đó cải thiện dần cho hợp với điều kiện của Trung Quốc, rồi nhân lên hàng nghìn mô hình tương tự Đặc biệt khu nông nghiệp Côn Minh có tiếng trên thế giới là trung tâm chuyên sản xuất hoa cho thị trường trong và ngoài nước Côn Minh sản xuất khoảng 600 triệu cành hoa mỗi năm Côn Minh cũng đã xây dựng được hệ thống đấu giá hoa ở Dounan nhờ sự hợp tác với Hà Lan - là một nước hàng đầu trong ngành sản xuất và xuất khẩu hoa
Hà Lan sản xuất 59% hoa cắt cành và 50% hoa chậu cung cấp thị trường thế giới Bước vào thế kỷ 21, Trung Quốc đang chuyển dần từ thị trường hướng đến sản xuất (production-oriented) sang thị trường tiêu thụ (consumption-oriented) nên sẽ
là một thị trường lớn ở châu Á (Sở khoa học công nghệ tỉnh Lâm Đồng, 2011) Khi mức sống của người dân được nâng lên thì nhu cầu chơi hoa cũng sẽ ngày càng lớn Vì thế, hoa không những là một nhu cầu tinh thần, mà còn là một ngành kinh tế nông nghiệp sinh thái đô thị mang lại lợi nhuận cao
Việc xây dựng chương trình phát triển hoa là việc làm cần thiết Phát triển hoa không những góp phần vào việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp mà sản phẩm của nó sẽ đáp ứng nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống của người dân
Việt Nam nói chung và miền Bắc nói riêng có rất nhiều lợi thế để phát triển hoa Ông Trần Xuân Định, Cục Trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) cho biết: Hoa được đánh giá là một ngành hàng chủ lực góp phần thực hiện tái cơ cấu ngành trồng trọt Trong khi đó, vị trí địa lý, điều kiện đất đai, khí hậu, đặc biệt là sự khéo tay và con mắt tinh tế của người làm nghề của nước ta rất khéo léo Cộng với việc sản xuất hoa không đòi hỏi quá nhiều về đất đai, nước
Trang 37tưới, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, lại dễ áp dụng công nghệ mới, công nghệ cao Đây là lĩnh vực sản xuất cho thu nhập cao gấp nhiều lần so với các loại cây trồng thông thường khác trong cùng điều kiện canh tác
Thống kê của Cục Trồng trọt cho thấy, năm 2014, cả nước có khoảng 22.671,9 ha diện tích trồng hoa, trong đó các tỉnh miền Bắc có 9.237,6 ha, miền Nam có khoảng 13.434,3 ha Thu nhập bình quân trồng hoa trên cả nước năm
2014 là 285 triệu đồng/ha/năm So với giá trị thu nhập/ha canh tác toàn ngành trồng trọt là 82-83 triệu đồng/ha/năm, mức thu nhập này gấp gần 3,5 lần
Cũng theo Cục Trồng trọt, trong vòng 10 năm gần đây (2005-2015) diện tích hoa đã tăng hơn 2,3 lần, giá trị sản lượng tăng 7,2 lần (đạt 6.500 tỷ đồng, trong đó xuất khẩu xấp xỉ 50 triệu đôla Mỹ) Mức tăng giá trị thu nhập trên một đơn vị héc-ta là ba lần, hình thành nhiều mô hình đạt từ 800 triệu đến 2,5 tỷ đồng trên một héc-ta
Theo kết quả điều tra nhu cầu thị trường hoa của Việt Nam, giai đoạn 2000
- 2011 trung bình mỗi năm tăng 9% Giai đoạn 2011-2015 tăng trên 11% Mức
độ tiêu dùng hoa trung bình của người dân đô thị năm 2000 là 25.000 đồng người/năm, đến năm 2011 tăng lên 52.000 đồng/năm, đến năm 2013 là 100.000 đồng/người/năm, năm 2014 là trên 130.000 đồng/người/năm Ở nông thôn, mức
độ tiêu dùng tương ứng chỉ bằng 20% so với đô thị, mức tăng bình quân về cầu là 15%/năm (Khuyến nông, 2016)
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn những năm gần đây cũng đã xác định thế mạnh và tính hiệu quả của lĩnh vực hoa Các viện nghiên cứu như Viện Nghiên cứu Rau quả, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, Viện Cây lương thực thực phẩm, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Viện Di truyền Nông nghiệp… đã được đầu tư nhiều chương trình, đề tài nghiên cứu chọn tạo giống hoa, dự án giống giai đoạn 1, 2 và tiếp tục giai đoạn 3 năm 2015-2020 Nhiều địa phương từ nguồn đề tài nghiên cứu khoa học của tỉnh cũng quan tâm đầu tư cho việc nghiên cứu, chuyển giao các tiến bộ về hoa như hoa hồng, hoa ly, nhân giống hoa đồng tiền, hoa cúc… Cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhà kính nhà lưới, nuôi cấy tế bào, giao thông và cấp thoát nước, tưới phun mưa, nhỏ giọt được đầu
tư xây dựng mới hoặc nâng cấp
Bên cạnh những thuận lợi, cũng còn nhiều khó khăn trong phát triển bền vững ngành hàng hoa, bởi thực tế ở nước ta, mới duy nhất có Đà Lạt đầu tư trọng
Trang 38điểm phát triển thành ngành công nghiệp sản xuất hoa Còn lại đa phần quy mô sản xuất manh mún, nhỏ lẻ; các giống chất lượng cao thường không chủ động sản xuất mà hầu như phải nhập nội; biến đổi khí hậu và những tác động của nó khiến việc điều tiết thời vụ, năng suất, chất lượng hoa dễ bị ảnh hưởng, rủi ro cao Đầu
tư cho sản xuất hoa, nhất là áp dụng công nghệ cao đòi hỏi chi phí rất lớn, vượt khả năng đầu tư của nông dân Chưa có sự vào cuộc mạnh mẽ của các doanh nghiệp với lĩnh vực này Quy hoạch vùng hoa còn bất cập, cần được rà soát, điều chỉnh Thị trường và cạnh tranh trong bối cảnh nước ta hội nhập sâu và tham gia vào các hiệp ước TPP, FTA và khối cộng đồng ASEAN
2.2.2 Khát quát tình hình phát triển sản xuất hoa ở Việt Nam
Hoa tại Việt Nam chỉ mới được sản xuất trên một diện tích rất nhỏ, khoảng 15.000 ha so với 4,5 triệu ha trồng lúa, gần 1 triệu ha trồng cây công nghiệp và 1,4 triệu ha trồng rau quả Hoa sản xuất ở Việt Nam chủ yếu tập trung
3 vùng: miền bắc (Hà Nội, Vĩnh Phúc, Lào Cai, Quảng Ninh), ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh (Hóc Môn, Củ Chi) và Lâm Đồng (Đà Lạt) Hoa sản xuất ở miền bắc chỉ mới cung cấp cho thị trường Hà Nội khoảng 65%, chưa xuất khẩu Hoa sản xuất ở Đà Lạt cung cấp thị trường thành phố Hồ Chí Minh và xuất khẩu
ra nước ngoài như Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore với kim ngạch khoảng 10 triệu USD (2005) Như vậy, tuy ngành hoa Việt Nam đã có phát triển nhưng diện tích, số lượng và chủng loại vẫn còn ít, chất lượng chưa cao và chưa đáp ứng được ngay cả với yêu cầu thị trường trong nước, chưa nói đến thị trường nước ngoài Việc xuất khẩu có được là nhờ các công ty nước ngoài (Hasfarm) thực hiện Về công nghệ cao ứng dụng trong ngành hoa - cây cảnh, Việt Nam cũng đã xây dựng một số mô hình nông nghiệp công nghệ cao ở Hà Nội, Hải Phòng và Lâm Đồng
Tại Hà Nội: Khu nông nghiệp công nghệ cao khởi công tháng 4/2002 đã hoàn thành và đi vào hoạt động tháng 9/2004 Vốn đầu tư 24 tỷ đồng (1,5 triệu USD), trong đó 50% vốn ngân sách thành phố và 50% vốn cơ quan chủ quản - Công ty TNHH Nhà nước một thành viên Đầu tư phát triển nông nghiệp Hà Nội Khu được xây dựng trên diện tích 7,5 ha với 2.000 m2 trồng hoa, các giống đều được nhập từ Israel Với các tiến bộ mới về giống, quy trình chăm bón, hệ thống dinh dưỡng khoáng tự động, ánh sáng và nhiệt độ được điều chỉnh, năng suất cây trồng ở đây đạt khá cao và việc sản xuất bước đầu được xem là hiệu quả
Trang 39Tại Hải Phòng: Dự án được thực hiện tại xã Mỹ Đức huyện An Lão với tổng đầu tư 22,5 tỷ đồng Cơ quan chủ trì là Trung tâm phát triển Lâm nghiệp Hải Phòng Khu nông - lâm nghiệp công nghệ cao Hải Phòng đã xây dựng các khu chức năng như: khu bảo tồn cây ăn quả đầu dòng và vườn ươm cây giống; khu sản xuất giá thể; khu nhà nuôi cấy mô tế bào; khu nhà kính, khu nhà lưới sản xuất rau an toàn chất lượng cao; khu nhà lưới sản xuất cây cảnh Hiện nay, các khu nhà lưới, nhà kính sản xuất rau và hoa đã hoạt động và cho sản phẩm được 2-3 vụ Năng suất hoa hồng đạt 200-300 bông/m2
Tại Lâm Đồng: Từ đầu năm 2004 đã khởi động các chương trình trọng điểm trong đó có chương trình nông nghiệp công nghệ cao Trong kế hoạch phát triển từ 2004-2010 Lâm Đồng dự kiến xây dựng một số khu nông nghiệp công nghệ cao với quy mô 15.000 ha Các họat động chính ở các khu này là sản xuất rau, hoa, dâu tây và chè Tổng số vốn đầu tư là 2.700 tỷ đồng, trong đó vốn hỗ trợ của nhà nước là 38 tỷ đồng (Sở khoa học công nghệ tỉnh Lâm Đồng, 2011) Qua các mô hình nông nghiệp công nghệ cao được triển khai ở Việt Nam, chúng ta thấy rằng ba khu nông nghiệp công nghệ cao được xây dựng đều do các địa phương chủ trì xây dựng và giao cho các doanh nghiệp làm chủ đầu tư Việc tiếp nhận và đưa công nghệ cao vào sản xuất phải được đầu tư lớn (xấp xỉ 0,5 triệu USD) Đây là những khu sản xuất nông nghiệp công nghệ cao thực sự, nhất
là của Hà Nội và Hải Phòng vì có sử dụng các công nghệ mới, hiện đại và năng suất đạt được cũng rất cao Tuy nhiên, đối tượng chính của hai nơi này là rau hơn
là hoa Và nếu so sánh cách làm công nghệ của Đà Lạt, Lâm Đồng (trên diện tích
500 ha trồng rau, hoa trong nhà mái che) hiệu quả của Hà Nội và Hải Phòng chưa chắc được xác định là cao hơn Tuy nhiên ở các khu sản xuất nông nghiệp công nghệ cao này hầu như thiếu sự hợp tác của các cơ quan khoa học và thiếu các nghiên cứu để tăng tính thích ứng của công nghệ Ngay cả ở Lâm Đồng nơi ngành hoa có phần vượt trội về số lượng và chất lượng vì có sự đầu tư của nước ngoài, các nhà sản xuất/nông dân ở đây cũng không được chuyển giao công nghệ cao một cách bài bản, khoa học
Đứng trên tầm nhìn của quốc gia và quốc tế - đặc biệt khi Việt Nam đã tham gia vào WTO, nơi có thị trường nhập khẩu hoa - cây cảnh khoảng 102 tỷ USD/năm - ta thấy ngay nông nghiệp Việt Nam đã phát triển không cân đối vì hoa - cây cảnh đã không đáp ứng được thị trường trong và ngoài nước Việt Nam
đã đầu tư rất nhiều vào các ngành lúa gạo, cà phê, cao su, điều và hồ tiêu nơi có
Trang 40thị trường nhỏ, không quá 10 tỷ USD/năm, trong khi thị trường hoa rất lớn thì ta lại ít đầu tư, nên hầu như Việt Nam không có thị phần nào trên thị trường thế giới Như vậy về chiến lược, Việt Nam cần phải đầu tư mạnh vào ngành hoa, nhanh chóng phong phú hoá bộ giống, xây dựng mô hình sản xuất hoa công nghệ cao, giải quyết những khó khăn trong sản xuất, bắt kịp trình độ khoa học kỹ thuật quốc tế, tăng sức cạnh tranh để cung cấp 100% mặt hàng hoa trong nước, hỗ trợ xuất khẩu để tăng thị phần vào thị trường to lớn của thế giới, mang nhiều ngoại tệ
vệ sinh, và đặc biệt nhất là “tay nghề” của thành phần sản xuất chủ lực - nông dân - vẫn còn theo lề lối cũ, chưa được nâng cao ngang tầm của một nước mạnh
về xuất khẩu Cho nên, nhìn chung tính bền vững của ngành hoa Việt Nam đang còn kém, bấp bênh vì đã chưa đưa chất xám vào sản xuất Trong tình hình bất cập như vậy việc gia nhập WTO lại buộc ngành hoa Việt Nam phải đối đầu với những khó khăn thách thức mới
Vì vậy, để nắm bắt cơ hội hội nhập quốc tế, ngành hoa Việt Nam cần xây dựng trung tâm nghiên cứu, bảo tồn và phát triển các giống hoa phục vụ thị trường trong nước, hướng tới xuất khẩu; xây dựng thương hiệu hoa Việt Nam; hội nhập nhanh thông qua việc tổ chức các festival hoa nhằm quảng bá thương hiệu hoa Việt Nam (festival hoa Đà Lạt); cải thiện cơ chế, cơ sở hạ tầng kỹ thuật
và chế độ kiểm dịch là cốt lõi trong xây dựng và thương mại hóa ngành hoa Các loại hoa chính trồng ở Việt Nam
Theo điều tra ở các tỉnh trong các vùng sinh thái nông nghiệp, Việt Nam có các loại hoa được trồng phổ biến trong sản xuất là cây hoa hồng, hoa cúc, hoa đào, hoa lay ơn, hoa lan, hoa trà my Trong đó, cây hoa hồng chiếm tỷ lệ cao (35 - 40%), hoa cúc (25%), hoa lay ơn (15%), hoa khác (20-25%) (Mai Ngọc Cường, 1995)