CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHÃ VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Truông Mít, ngày 26 tháng 02 năm 2018 BÁO CÁO TÓM TẮT NỘI DUNG SÁNG KIẾN Tên sáng kiến: “Phát huy tính tích cực của học
Trang 1CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHÃ VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Truông Mít, ngày 26 tháng 02 năm 2018
BÁO CÁO TÓM TẮT NỘI DUNG SÁNG KIẾN Tên sáng kiến:
“Phát huy tính tích cực của học sinh bằng phương pháp dạy học khám phá đối với
bộ môn sinh học lớp 11C8, trường THPT Nguyễn Thái Bình, thông qua sử dụng
bảng tương tác thông minh”
- Tên cá nhân thực hiện: NGUYỄN THỊ MỸ HẠNH, giáo viên giảng dạy bộ môn Sinh học, Trường THPT Nguyễn Thái Bình
- Thời gian đã được triển khai thực hiện: Từ ngày: 07/8/2017 đến ngày: 29 / 01 / 2018
1 Sự cần thiết, mục đích của việc thực hiện sáng kiến:
Đổi mới PPDH là một trong những nhiệm vụ quan trọng của cải cách giáo dục nói chung cũng như cải cách giáo dục cấp THPT Trong một vài năm gần đây, các trường THPT
đã có những cố gắng trong việc đổi mới PPDH và đã đạt được những tiến bộ trong việc phát huy tính tích cực của HS Tuy nhiên, các PPDH truyền thống, đặc biệt là thuyết trình vẫn chiếm một vị trí đáng kể trong các PPDH ở các trường THPT nói chung dẫn đến hạn chế việc phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của HS Để lựa chọn sử dụng các PPDH hiện đại thực sự là những PPDH phát triển năng lực HS là một vấn đề đáng quan tâm bậc nhất của những người làm công tác giáo dục Một trong những PPDH có thể phát triển năng lực người học là phương pháp DHKP Để khai thác hiệu quả phương pháp DHKP thì sự hỗ trợ của CNTT trong thiết kế bài giảng và tổ chức các hoạt động học tập là sự lựa chọn hợp lí
Hiện nay, việc trang bị các phương tiện dạy học mới cho các trường phổ thông đang từng bước được tăng cường Việc ứng dụng CNTT vào dạy học là một bước tiến quan trọng,
trong đó, phần mềm Microsoft PowerPoint được triển khai sử dụng rộng rãi đã khá lâu Bài giảng thiết kế trên Microsoft PowerPoint sinh động và thu hút được sự chú ý của HS Tuy
nhiên, phần mềm này có nhược điểm là không có được sự tương tác giữa HS, GV và bài giảng Nội dung bài học được xây dựng mang tính chất trình chiếu, chính vì vậy, trong thời gian qua
có nhiều phần mềm được tạo ra để khắc phục hạn chế đó, và một trong những phần mềm đó
chính là ActivInspire để thiết kế bài giảng sử dụng cho bảng tương tác thông minh
Trang 2ActivInspire là nền tảng cho bất kỳ hoạt động học tập nào của thế kỷ 21, được thiết kế để sử
dụng trong lớp học, nó cho phép GV giảng bài trên bảng tương tác, HS thực hiện nhiệm vụ học tập trên bảng tương tác Nhờ sự hỗ trợ của phương tiện công nghệ, GV có thể giao các nhiệm
vụ tự học, giám sát, hỗ trợ quá trình thực thi yêu cầu tự học, kiểm tra, đánh giá kết quả tự học một cách chính xác Tuy nhiên, kho bài giảng tham khảo ứng dụng phần mềm rất hạn chế Việc sử dụng thành thạo phần mềm này còn khá xa lạ đối với GV bậc THPT Đây là một khó khăn lớn về kiến thức công nghệ cũng như về trang thiết bị - số lượng bảng tương tác thông minh được cấp cho mỗi trường phổ thông chỉ từ 1-2 sản phẩm, và khó khăn nữa là về thời gian
soạn giảng Chính vì thế, việc thiết kế bài giảng sử dụng kết hợp hai phần mềm: Microsoft
PowerPoint và ActivInspire để tổ chức các hoạt động học tập sử dụng trên bảng tương tác là một phương án khả thi hơn Người dùng có thể tận dụng kho bài giảng ứng dụng Microsoft
PowerPoint rất phong phú trước đây, cải tiến lại cho phù hợp với việc ứng dụng các công cụ
của phân mềm ActivInspire là có thể sử dụng bài giảng trên bảng tương tác một cách khá hiệu
quả Việc này giúp cho sự tổ chức các hoạt động học tập của HS trở nên sinh động, hấp dẫn hơn, phát huy được tính tích cực, chủ động và sáng tạo, kích thích được sự tò mò, niềm đam
mê công nghệ, lôi kéo được sự tập trung của HS qua đó nâng cao chất lượng dạy học
2 Mô tả sáng kiến:
DHKP (Discovery learning) là một trong những phương pháp dạy học tích cực được nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm nghiên cứu DHKP là GV tổ chức HS học theo nhóm hoặc từng cá nhân độc lập nhằm phát huy năng lực giải quyết vấn đề và tự học cho HS Trong DHKP đòi hỏi người GV gia công rất nhiều để chỉ đạo các hoạt động nhận thức của HS Hoạt động của người thầy bao gồm: định hướng phát triển tư duy cho HS, lựa chọn nội dung của vấn đề và đảm bảo tính vừa sức với HS; tổ chức HS trao đổi theo nhóm trên lớp; các phương tiện trực quan hỗ trợ cần thiết… Hoạt động chỉ đạo của GV như thế nào để cho mọi thành viên trong các nhóm đều trao đổi, tranh luận tích cực Ðó là việc làm không dễ dàng, đòi hỏi người GV đầu tư công phu vào nội dung bài giảng
Trong DHKP, HS tiếp thu các tri thức khoa học thông qua con đường nhận thức: từ tri thức của bản thân thông qua hoạt động hợp tác với bạn đã hình thành tri thức có tính chất xã hội của cộng đồng lớp học; GV kết luận về cuộc đối thoại, đưa ra nội dung của vấn đề, làm cơ
sở cho HS tự kiểm tra, tự điều chỉnh tri thức của bản thân tiếp cận với tri thức khoa học của nhân loại HS có khả năng tự điều chỉnh nhận thức góp phần tăng cường tính mềm dẻo trong tư duy, năng lực tự học và năng lực giải quyết vấn đề Ðó chính là nhân tố quyết định sự phát triển bản thân người học
Trang 3Trong những năm gần đây, việc ứng dụng CNTT vào việc giảng dạy không còn quá mới
mẻ Các ứng dụng tin học đã trở nên quá quen thuộc và phổ biến trong đời sống hàng ngày Hơn thế nữa, trong việc giảng dạy, ứng dụng công nghệ đóng vai trò vô cùng quan trọng Một
phần mềm tin học rất quen thuộc trong việc giảng dạy chính là Microsoft Power Point Ứng dụng này sử dụng rộng rãi cho cả GV và HS Các trình bày trên nền tảng Microsoft Power Point dễ dàng tạo ra sản phẩm, chỉnh sửa và sử dụng chúng Nó là một tài sản vô giá và dễ
dàng, thuận tiện trong môi trường lớp học Một trình bày hay có thể lưu trữ lại, chia sẻ, thay đổi và chỉnh sửa trong nhiều năm Nó là ứng dụng trình bày nổi tiếng và có mặt trong hầu như các hội nghị, diễn đàn và dĩ nhiên, trong các lớp học Tính phổ biến của nó là do phần mềm này rất dễ học, sử dụng dễ dàng và ứng dụng rộng rãi Nó cho phép đưa vào phần trình bày không chỉ ngôn ngữ mà còn có hình ảnh, âm thanh và các chuyển động Với đặc tính đó, nó tác động đến người học tốt hơn trình bày trên bảng và phù hợp với sự đa dạng của người học
Trong việc giảng dạy, ứng dụng Microsoft Power Point ngoài việc dùng cho GV trong công
tác soạn giảng còn cho phép người học tự trình bày ý kiến của mình theo hình thức trực quan, sinh động nhất Nó cung cấp các tiện ích cho người sử dụng như tăng các hiệu ứng hình ảnh,
âm thanh trực quan sinh động, tăng sự tập trung của người nghe ( người học), tổng hợp, trình bày khoa học và tăng hiệu quả bài giảng Nó cung cấp các khung mẫu, slides, hình ảnh, âm
thanh, hiệu ứng, ghi chú….GV soạn giảng trên phần mềm Microsoft Power Point thì bài giảng sinh động hơn, hấp dẫn, lôi cuốn HS hơn Thông qua các hiệu ứng trình diễn của Microsoft Power Point, GV có thể thiết kế các hoạt động học tập tích cực cho HS như: phim động, trò
chơi ô chữ, làm bài tập trắc nghiệm, phân tích hình ảnh, sơ đồ, do đó, việc khắc sâu kiến thức
dễ dàng hơn, hoạt động học tập được tổ chức có hiệu quả hơn
Tuy nhiên, Microsoft Power Point có một hạn chế là người sử dụng không thể tương tác
trực tiếp như: viết, vẽ, chạm lên các ký tự, hình ảnh, sơ đồ, trong lúc đang trình bày mà phải
theo một lịch trình có sẵn trong Microsoft Power Point Do vậy, trong những năm gần đây việc ứng dụng phần mềm ActivInspire đang được triển khai mở rộng Phần mềm ActivInspire
là một phần mềm cho phép người dùng thiết kế bài giảng điện tử dựa trên bộ thiết bị bảng tương tác thông minh Giúp cho người GV có thể truyền tải bài giảng của mình tới HS nhanh hơn thông qua việc tương tác đi kèm với nó là các hiệu ứng hình ảnh, âm thanh, clip minh họa
giúp HS hứng thú hơn Kết hợp với phần mềm ActivInspire là các thiết bị của bộ thiết bị bảng tương tác thông minh sẽ giúp cho bài giảng điện tử sinh động, trực quan hơn ActivInspire
được đánh giá là một trong những phần mềm thiết kế bài giảng tương tác tốt nhất hiện nay
Ngoài ra, ActivInspire có thể kết hợp và hỗ trợ tốt cho các phần mềm dạy học hiện nay đang sử dụng trong các lớp học thông thường Phần mềm ActivInspire có nhiều tính năng hay,
Trang 4giúp GV chủ động và linh hoạt hơn trong quá trình giảng dạy, giúp tạo thêm nhiều hoạt động cho HS một cách dễ dàng, làm khơi dậy niềm đam mê và sáng tạo cho GV và HS
Với những tiện ích trên thì phần mềm ActivInspire sẽ đóng vai trò then chốt trong việc ứng dụng công nghệ vào việc đổi mới PPDH hiện nay Tuy nhiên, phần mềm ActivInspire còn
khá mới đối với GV bậc THPT, đặc biệt là các GV vùng sâu, vùng xa Hơn nữa, kho tài liệu
bài giảng tham khảo sử dụng phần mềm ActivInspire còn khá hạn chế, thậm chí là rất hiếm hoi
so với kho tài liệu bài giảng ứng dụng phần mềm Microsoft Power Point Thêm vào đó, trường
học được trang bị không nhiều màn hình tương tác, chỉ khoảng 1 đến 2 màn hình tương tác cho mỗi trường THPT, trong khi số lượng máy chiếu (projector) thì nhiều hơn gấp 3-4 lần Do đó,
việc thiết kế hoạt động học tập sử dụng kết hợp hai phần mềm Microsoft Power Point và ActivInspire trên bảng tương tác thông minh là phương pháp khả quan có thể áp dụng hiệu quả trong tình hình thực tiễn Người GV sử dụng kho bài giảng Microsoft Power Point hoặc cải tiến các bài giảng Microsoft Power Point sao cho phù hợp với việc sử dụng các công cụ tương tác có sẵn trong phần mềm ActivInspire thông qua hình thức sử dụng “chú giải trên màn hình” Qua đó, người dùng có thể tương tác trực tiếp trên các silde của bài giảng Microsoft Power Point mà chất lượng bài giảng không hề thua kém bài giảng trên phần mềm ActivInspire Sự kết hợp này làm cho việc thiết kế các hoạt động học tập trên bảng tương tác
thông minh trong hoạt động dạy – học khá đơn giản, được khai thác tối ưu và không kém phần hiệu quả Do đó, góp phần phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS và nâng cao hiệu quả hoạt động dạy - học
3 Phạm vi triển khai thực hiện:
Sáng kiến “Phát huy tính tích cực của học sinh bằng phương pháp dạy học khám phá đối với bộ môn Sinh học lớp 11C8, Trường THPT Nguyễn Thái Bình, thông qua sử dụng bảng tương tác thông minh” được triển khai thực hiện tại trường THPT Nguyễn Thái
Bình Trong thời gian triển khai thực hiện, người nghiên cứu tiến hành thực nghiệm trên các lớp được phân công giảng dạy, trong đó đối tượng nghiên cứu được lựa chọn để khảo sát là lớp 11C8, trường THPT Nguyễn Thái Bình, xã Truông Mít, huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh Người nghiên cứu tiến hành so sánh kết quả trước khi thực hiện giải pháp và so với kết quả sau khi thực hiện giải pháp để kết luận hiệu quả của sáng kiến
4 Kết quả, hiệu quả mang lại:
Sáng kiến bước đầu mang lại nguồn sinh khí mới, phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS, kích thích sự say mê, hứng thú đối với môn học Các hoạt động học tập trong phương pháp DHKP được tổ chức sinh động, hấp dẫn, thực tế Kết quả của hoạt động dạy- học từng bước được cải thiện Người dạy rút ra được những bài học kinh nghiệm quý báu
Trang 5trong quá trình thực hiện sáng kiến; người học ngày càng hoàn thiện các kỹ năng cơ bản để khai thác kênh hình, kênh chữ, sơ đồ, từ đó, năng lực tư duy, năng lực tự học và năng lực giải quyết vấn đề được hình thành và phát triển dần dần
Cách thiết kế hoạt động học tập trên bảng tương tác do người nghiên cứu đề xuất khá
đơn giản, dễ thực hiện: sử dụng công cụ “ chú giải trên màn hình” của phần mềm ActiveInsipre thao tác trên bài giảng Microsoft Power Point có sẵn hoặc cải tiến thêm cũng mang lại hiệu
quả rất khả quan
5 Đánh giá về phạm vi ảnh hưởng của sáng kiến:
Nâng cao năng lực sư phạm, cũng như trình độ ứng dụng CNTT của GV, đồng thời phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS DHKP là PPDH tích cực, dễ áp dụng, góp phần hình thành năng lực tư duy, năng lực tự học và năng lực giải quyết vấn đề cho người học Qua đó, cũng góp phần thực hiện mục tiêu đổi mới PPDH ở trường phổ thông theo định hướng phát triển năng lực
Sáng kiến đưa ra có thể áp dụng được cho nhiều bộ môn, nhiều cấp học, nhiều đơn vị trường học, nhất là những đơn vị chưa có nhiều trang thiết bị hiện đại DHKP khi triển khai áp dụng không quá khó khăn như mọi người hình dung, mà rất đơn giản và hiệu quả Đặc biệt là sáng kiến có thể áp dụng rộng rãi cho những người dùng có trình độ tin học chưa chuyên sâu
GV có thể tự học cách sử dụng phần mềm và cách thiết kế bài giảng trong thời gian ngắn có
thể khai thác hiệu quả một số tính năng đơn giản của hai phần mềm: Microsoft PowerPoint và ActiveInsipire sử dụng cho bảng tương tác để phục vụ tốt cho công tác dạy – học
6 Kiến nghị, đề xuất:
a/ Đối với các cấp lãnh đạo:
Quan tâm tạo điều kiện để xây dựng một môi trường thuận lợi cho việc vận dụng bài giảng tương tác vào hoạt động dạy – học của GV và HS
Đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất cho trường học góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình dạy học
Mở các cuộc hội thảo, chuyên đề, các lớp tập huấn về đổi mới PPDH và kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực cho HS để GV nắm được định hướng, đường lối, chính sách và phương pháp dạy và học mới Mở các lớp chuyên đề, bồi dưỡng ứng dụng công nghệ thông tin, khuyến khích và động viên GV ứng dụng CNTT vào hoạt động dạy - học
b/ Đối với giáo viên:
Tự tìm hiểu, nghiên cứu để nâng cao hiểu biết về lí luận dạy học, PPDH
Nâng cao trình độ về CNTT, biết cách khai thác thông tin trên mạng Internet, có kỹ năng sử dụng thành thạo các trang thiết bị dạy học hiện đại
Trang 6Chúng tôi cam đoan những điều khai trên là đúng sự thật và không vi phạm pháp luật
Trang 7A MỞ ĐẦU
1 Tên sáng kiến:
Chương trình giáo dục định hướng phát triển năng lực (hay còn gọi là dạy học định hướng kết quả đầu ra) ngày nay đã trở thành xu hướng giáo dục quốc tế Giáo dục định hướng phát triển năng lực nhằm mục tiêu phát triển năng lực người học Đổi mới PPDH không có nghĩa là loại bỏ các PPDH truyền thống mà cần bắt đầu bằng việc cải tiến để nâng cao hiệu quả
và hạn chế nhược điểm của chúng Hiện nay, có khá nhiều PPDH mới chú trọng và có ưu thế phát triển năng lực người học Có thể kể đến là: dạy học giải quyết vấn đề, dạy học theo dự án
và DHKP, dạy học theo nhóm, dạy học bàn tay nặn bột, trong nghiên cứu của bản thân, tôi
sử dụng phương pháp DHKP nhằm thực hiện mục tiêu, định hướng giáo dục phát triển năng lực người học Phương pháp DHKP là PPDH trong đó, dưới sự hướng dẫn của GV, thông qua các hoạt động học tập, HS tự tìm tòi, khám phá phát hiện ra tri thức mới DHKP không phải là một quá trình tự phát mà có sự hướng dẫn của GV, trong đó, HS đóng vai trò là người phát hiện tri thức mới, còn GV đóng vai trò là người tổ chức hoạt động học tập Yếu tố quan trọng đảm bảo sự thành công của DHKP chính là thiết bị dạy học Chính vì thế, phương tiện trực quan hiệu quả nhất cho hoạt động học tập trong giai đoạn hiện nay chính là bảng tương tác thông minh Trên bảng tương tác thông minh, GV, HS sẽ tương tác trực tiếp với nội dung học tập, qua đó chất lượng của hoạt động dạy – học được cải thiện rõ rệt
Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ giảng dạy, tôi nhận thấy việc sử dụng và khai thác hiệu quả thiết bị dạy học, đặc biệt là sử dụng và khai thác sáng tạo bảng tương tác thông minh
sẽ mang lại hiệu quả tích cực cho công tác dạy – học trong nhà trường Xuất phát từ những yêu
cầu trên tôi thực hiện đề tài:“Phát huy tính tích cực của học sinh bằng phương pháp dạy học khám phá đối với bộ môn Sinh học lớp 11C8, Trường THPT Nguyễn Thái Bình, thông qua
sử dụng bảng tương tác thông minh” nhằm nâng cao hiệu quả học tập của HS
2 Sự cần thiết, mục đích của việc thực hiện sáng kiến
Đổi mới phương pháp dạy và học là một trong những nhiệm vụ quan trọng của nền giáo dục hiện nay Những năm trở lại đây, các trường THPT đặc biệt coi trọng việc đổi mới PPDH Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo; chú trọng bồi dưỡng phát triển năng lực HS, khơi gợi lòng say mê học tập và ý chí vươn lên của người học Đổi mới PPDH được triển khai nhằm đáp ứng những yêu cầu mới của mục tiêu giáo dục theo hướng phát triển năng lực người học, phát huy trí thông minh, sáng tạo của HS, khuyến khích vận dụng linh hoạt các kiến thức, kỹ năng đã học vào những tình huống thực tế, làm bộc lộ khả năng của HS không phải chỉ trong một giai đoạn giáo dục mà trong cả quá trình giáo dục Những yêu cầu trong đào tạo con người ở thời đại hiện nay mâu thuẫn với thực trạng
Trang 8lạc hậu của phương pháp giáo dục đã tồn tại lâu nay ở nước ta Mâu thuẫn này đã dẫn đến công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo để phù hợp với yêu cầu hội nhập nền giáo dục của thế giới trong thế kỉ XXI
Tư tưởng cơ bản của đổi mới nội dung, phương pháp dạy học – giáo dục HS là: chuyển
từ giáo dục truyền thụ kiến thức là chủ yếu được thực hiện nhiều năm qua sang giáo dục hình thành phẩm chất và phát triển năng lực người học Chuyển từ tiếp cận nội dung dạy học - giáo dục sang tiếp cận mục tiêu dạy học - giáo dục Từ dạy học cung cấp kiến thức sang dạy cách học “Dạy cách học - cách khám phá”, phát triển tư duy độc lập, sáng tạo của người học PPDH theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ chú trọng tích cực hóa HS về hoạt động trí tuệ, mà còn chú trọng rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắn với những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn
Hình thức dạy – học thực sự linh hoạt Hoạt động dạy –học và giáo dục diễn ra mọi lúc mọi nơi Hình thức “Bài lên lớp” là hình thức dạy học chính của các môn học trong nhà trường phổ thông hiện nay Song, hướng đến phát triển năng lực HS, cần tăng cường thực hiện đổi mới hình thức tổ chức dạy học
Hiện nay, có khá nhiều PPDH mới, chú trọng và có ưu thế trong việc phát triển năng lực cho người học Có thể kể đến là: dạy học giải quyết vấn đề, dạy học theo dự án, dạy học tình huống, dạy học theo nhóm, dạy học bàn tay nặn bột, DHKP, trong đó, tôi chọn phương pháp DHKP để nghiên cứu và tiến hành dạy thực nghiệm đối với bộ môn Sinh học mà bản thân phụ trách
DHKP là phương pháp có thể phát triển năng lực HS, phát huy khả năng tự chủ, kỹ năng giải quyết vấn đề cho HS thông qua cách thức tổ chức các hoạt động học tập DHKP giúp
HS phát huy được nội lực, tư duy tích cực, chủ động và sáng tạo Thông qua các hoạt động đó,
HS được tự điều chỉnh tri thức và mang lại hứng thú học tập cho HS Góp phần thành công cho đổi mới PPDH chính là sự hỗ trợ của thiết bị dạy học Việc khai thác, sử dụng sáng tạo, hiệu quả thiết bị dạy học là thành công bước đầu của đổi mới PPDH Dạy – học trên bảng tương tác thông minh là mô hình khá mới, được triển khai áp dụng trong những năm gần đây Bảng tương tác thông minh cho phép GV giảng bài, HS thực hiện nhiệm vụ học tập nhờ công cụ được thiết kế sẵn, GV, HS tương tác trực tiếp với nội dung học tập Nhờ sự hỗ trợ của phương tiện công nghệ, GV có thể giao các nhiệm vụ tự học, giám sát, hỗ trợ quá trình thực thi yêu cầu
tự học, kiểm tra, đánh giá kết quả tự học một cách chính xác Việc thiết kế hoạt động học tập trên bảng tương tác thông minh giúp cho giờ học của HS trở nên sinh động, hấp dẫn hơn, phát huy được tính tích cực, chủ động và sáng tạo của HS
Trang 9Xuất phát từ những đòi hỏi của thực tiễn, dựa trên những trải nghiệm hứng thú và kinh nghiệm về việc áp dụng các PPDH phát triển năng lực của bản thân, sáng kiến này ra đời Có thể khẳng định khi thực hiện sáng kiến này, tôi mong muốn cung cấp cho các đồng nghiệp của mình một “công cụ” hữu hiệu, đơn giản để áp dụng vào công việc và làm tốt nhiệm vụ giảng dạy trong thực tiễn
3 Đối tượng nghiên cứu
Việc sử dụng phương pháp DHKP trên bảng tương tác thông minh để thiết kế và tổ chức các hoạt động học tập của HS trở nên sinh động, hấp dẫn hơn, nhằm phát huy được tính tích cực, chủ động và sáng tạo của HS
Nghiên cứu được tiến hành trên 43 HS lớp 11C8, Trường THPT Nguyễn Thái Bình Người thực hiện giải pháp của sáng kiến là tôi – Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, GV trực tiếp giảng dạy bộ môn Sinh học lớp 11C8
4 Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu được tổ chức trong lớp 11C8, trường THPT Nguyễn Thái Bình, xã Truông
Mít, huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, người nghiên cứu sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:
5.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích, so sánh, tổng hợp các tài liệu khác nhau liên quan đến PPDH, đổi mới PPDH, DHKP trên thế giới và Việt Nam để hệ thống cho sáng kiến
5.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
5.2.1 Phương pháp quan sát
Phương pháp quan sát được sử dụng để quan sát hoạt động dạy – học của GV và HS trong giờ học môn Sinh học 11 tại trường THPT Nguyễn Thái Bình theo phương pháp truyền thống Quan sát những hoạt động của HS trước và sau khi tham gia thực hiện giải pháp của sáng kiến, từ đó GV tiến hành đánh giá sự tiến bộ của HS về kiến thức, kỹ năng, thái độ
Trang 10động, hấp dẫn hơn, và phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS đối với bộ môn Sinh học lớp 11C8, trường THPT Nguyễn Thái Bình
5.3 Phương pháp thống kê toán học
Phương pháp thống kê toán học được sử dụng để xử lý các kết quả nhận được từ phương pháp thực tiễn và thực nghiệm sư phạm
Trang 11B NỘI DUNG
1 Cơ sở lí luận
Mục tiêu của việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông là xây dựng nội dung chương trình, phương pháp giáo dục, sách giáo khoa phổ thông mới nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phù hợp với thực tiễn và truyền thống Việt Nam; tiếp cận trình độ giáo dục phổ thông ở các nước phát triển trong khu vực và thế giới
Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011-2020 ban hành kèm theo Quyết định
711/QĐ-TTg ngày 13/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ chỉ rõ: "Tiếp tục đổi mới PPDH và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và năng lực tự học của người học”; "Đổi mới kì thi tốt nghiệp THPT, kì thi tuyển sinh đại học, cao đẳng theo hướng đảm bảo thiết thực, hiệu quả, khách quan và công bằng; kết hợp kết quả kiểm tra, đánh giá trong quá trình giáo dục với kết quả thi”
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và
đào tạo đã xác định "Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học”; "Tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực của công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho HS Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lí tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời” Theo tinh thần đó, các yếu tố trong quá trình giáo dục trong
nhà trường trung học cần được tiếp cận theo hướng đổi mới
Nghị quyết 44/NQ-CP, ngày 09/6/2014 Ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa và hội nhập quốc tế xác định "Đổi mới hình thức, phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục theo hướngđánh giá năng lực của người học, kết hợp đánh giá cả quá trình với đánh giá cuối kỳ học, cuối năm học theo mô hình của các nước có nền giáo dục phát triển”
Dạy học phát triển năng lực đang là mối quan tâm hàng đầu của nhiều nhà nghiên cứu, giảng viên và GV trong thực tiễn giáo dục hiện nay PPDH theo quan điểm phát triển năng lực đang là sự lựa chọn của nhiều GV nhằm đáp ứng yêu cầu giáo dục và dạy học trong giai đoạn hiện nay Dạy học phát triển năng lực không còn là vấn đề xa lạ trên thế giới khi bản chất và
Trang 12mục tiêu của hoạt động dạy học được khai thác có trọng điểm Vẫn đảm bảo cách tiếp cận về mặt phương pháp, dạy học phát triển năng lực sẽ đòi hỏi cần có cái nhìn mang tính chất cụ thể trên bình diện phương pháp - kĩ thuật dạy học Không quá quan tâm đến vấn đề dạy học đảm bảo đầy đủ, hệ thống và toàn diện các nội dung dạy học bài bản, trong nhiều năm nay, các chương trình đào tạo trên thế giới tập trung vào trang bị phương pháp trên bình diện phát triển người học, trong đó các kĩ thuật dạy học trở thành công cụ được trao tay Có thể nói mô hình này đào tạo tay nghề đích thực, sự chuyên nghiệp của người học mà không phải là việc biết hay hiểu lí thuyết mà chưa thể vận dụng hay khai thác
Giáo dục định hướng năng lực nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạy học, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách, chú trọng năng lực vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị cho con người năng lực giải quyết các tình huống cảu cuộc sống và nghề nghiệp Chương trình này nhấn mạnh vai trò của người học với tư cách chủ thể của quá trình nhận thức Ưu điểm của chương trình giáo dục định hướng năng lực là tạo điều kiện quản lí chất lượng theo kết quả đầu ra đã qui định, nhấn mạnh năng lực vận dụng của HS
Để phát huy tính tích cực của HS nhằm hình thành và phát triển năng lực cho HS cần xác định thành phần và cấu trúc của chúng Một năng lực là tổ hợp đo lường các kiến thức, kỹ năng và thái độ mà một người cần vận dụng để thực hiện một nhiệm vụ trong một bối cảnh thực và có nhiều biến động
Kiến thức là cơ sở để hình thành năng lực, là nguồn lực để người học tìm được giải pháp tối ưu để thực hiện nhiệm vụ hoặc có cách ứng xử phù hợp trong bối cảnh phức tạp Khả năng đáp ứng phù hợp với bối cảnh thực tế là đặc trưng quan trọng của năng lực, tuy nhiên khả năng đó có được lại dựa trên sự đồng hóa và sử dụng có cân nhắc những kiến thức, kỹ năng cần thiết trong từng hoàn cảnh cụ thể Việc hình thành và phát triển năng lực được diễn ra theo hình xoáy trôn ốc, trong đó có các năng lực có trước được sử dụng để kiến tạo kiến thức mới;
và đến lượt mình, kiến thức mới lại đặt cơ sở để hình thành những năng lực mới
Kỹ năng hiểu theo nghĩa hẹp là những thao tác, những cách thức thực hành, vận dụng kiến thức kinh nghiệm đã có để thực hiện một hoạt động nào đó trong một môi trường quen thuộc Kỹ năng hiểu theo nghĩa rộng, bao hàm những kiến thức, những hiểu biết và trải nghiệm, giúp cá nhân có thể thích ứng khi hoàn cảnh thay đổi
Kiến thức, kỹ năng là cơ sở cần thiết để hình thành năng lực trong một lĩnh vực nào đó Tuy nhiên, nếu chỉ có kiến thức, kỹ năng trong một lĩnh vực nào đó thì chưa chắc đã được coi
là có năng lực, mà còn cần đến việc sử dụng hiệu quả các nguồn kiến thức, kỹ năng cùng với
Trang 13thái độ, giá trị, trách nhiệm bản thân để thực hiện thành công các nhiệm vụ và giải quyết các vấn đề phát sinh trong thực tiễn khi điều kiện và bối cảnh thay đổi
PPDH theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ chú ý tích cực hóa HS về hoạt động trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề, gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ GV – HS theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội Bên cạnh việc học tập những tri thức và kỹ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ sung các chủ đề học tập phức hợp nhằm phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp
Học tập là quá trình lĩnh hội tri thức mà loài người đã tích lũy được các kiến thức SGK
và các bài giảng của thầy chủ yếu mang lại cho HS những kiến thức đã có sẵn Thường thì
GV ít làm rõ nguồn gốc của các tri thức cho HS (phát minh vào lúc nào và bằng cách nào) mà
cố gắng truyền đạt để HS hiểu rõ nội dung các kiến thức Trong học tập, HS cũng cố gắng hiểu rõ các kiến thức mà thầy giáo truyền đạt và sau đó vận dụng vào làm các bài tập đó là cách dạy và học bằng phương pháp thuyết trình: thầy giảng, trò nghe Phương pháp này làm cho HS tiếp thu một cách thụ động thiếu hứng thú trong học hành Các nhà nghiên cứu giáo dục, các nhà giáo đang quan tâm tới những PPDH làm cho HS luôn tích cực, hứng thú Những phương pháp này chủ yếu dựa vào các hoạt động của HS do thầy giáo tạo ra trên lớp; trong đó phải kể đến phương pháp DHKP Dạy học dựa trên tìm tòi, khám phá khoa học (viết ngắn gọn là DHKP) là PPDH cung cấp cho HS cơ hội trải nghiệm các hiện tượng và quá trình khoa học Nó tạo điều kiện cho HS bộc lộ những quan niệm và sai lầm vốn có của họ, khuyến khích họ trao đổi, thảo luận với nhau để đề xuất các giả thuyết, thu thập thông tin, tìm kiếm bằng chứng, xây dựng các kế hoạch hành động nhằm kiểm chứng các giả thuyết ban đầu, từ đó tìm ra kết luận mang tính khoa học Thông qua các hoạt động đó, HS có thể tự điều chỉnh và thay đổi các quan niệm trước đó của mình để tiếp cận kiến thức mới; đồng thời, HS cũng có cơ hội phát triển tư duy phê phán, rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề và rất nhiều các kĩ năng khác cần thiết cho một cuộc sống độc lập sau này Đó là PPDH thông qua các hoạt động do thầy dẫn dắt, HS tự khám phá ra các kiến thức Nếu làm được như vậy HS sẽ thông hiểu, ghi nhớ và vận dụng những gì mình đã nắm được qua hoạt động chủ động, tự lực khám phá của chính mình Tới một trình độ nhất định thì sự học tập tích cực, sự khám phá sẽ mang tính nghiên cứu khoa học và người học cũng tạo ra những tri thức mới
Khác với khám phá trong nghiên cứu khoa học, khám phá trong học tập không phải là một quá trình tự phát mà là một quá trình có hướng dẫn của GV Trong đó GV sẽ khéo léo đặt
HS vào địa vị người phát hiện lại, người khám phá lại tri thức của loài người
Trang 14Mục đích của DHKP không những làm cho HS lĩnh hội sâu sắc tri thức của môn học,
mà quan trọng hơn là trang bị cho người học phương pháp suy nghĩ, cách thức phát hiện và giải quyết vấn đề mang tính độc lập, sáng tạo Phương pháp DHKP thường được thực hiện qua các câu hỏi hoặc những yêu cầu hành động, mà khi HS thực hiện và giải đáp thì sẽ xuất hiện con đường dẫn đến tri thức Trong DHKP, các hoạt động khám phá của HS thường được tổ chức theo nhóm, mỗi thành viên đều tích cực tham gia vào quá trình hoạt động nhóm: trả lời câu hỏi, bổ sung các câu trả lời của các thành viên khác, rút ra câu trả lời chung của nhóm, đánh giá kết quả học tập qua hoạt động nhóm, mỗi HS có thể tự đánh giá, tự điều chỉnh và trau dồi vốn tri thức của bản thân, đây là cơ sở giúp HS hình thành phương pháp tự học hiệu quả cho mình
Hiểu theo nghĩa đơn giản thì DHKP là GV tổ chức cho HS học theo nhóm nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS Từ đó, hình thành và phát triển năng lực giải quyết vấn đề và năng lực tự học cho HS Chúng ta thử hình dung DHKP được vận dụng như sau: GV đưa ra vấn đề học tập dưới dạng câu hỏi và yêu cầu HS làm việc theo nhóm, để hoàn thành nhiệm vụ khám phá tri thức Trong trường hợp, sử dụng phương pháp DHKP mà người
GV không có sự hỗ trợ của phương tiện trực quan thì nguồn kiến thức vẫn là lời nói, chúng ta
đã chuyển kiểu dạy học thầy nói - trò nghe thành trò nói trò nghe, nếu thế thì thầy nói cho trò nghe dễ hiểu hơn Qua đó ta thấy phương tiện trực quan thật sự cần thiết trong DHKP, nó đóng vai trò là nguồn kiến thức, là động cơ kích thích sự hợp tác tích cực trong nhóm Các phương tiện trực quan đó có thể là: hình ảnh, sơ đồ, biểu đồ, mô hình,… đã có sự gia công sư phạm của
GV và được thể hiện trong giấy, tranh, đèn chiếu, … phương tiện trực quan sẽ kích thích sự quan sát tìm tòi, tranh luận của HS
DHKP có một số đặc trưng sau đây:
HS được thu hút bởi các câu hỏi định hướng khoa học Trong nghiên cứu khoa học, các nhà khoa học thường đặt ra hai loại câu hỏi chủ yếu Loại câu hỏi thứ nhất về những điều tồn tại sẵn thường được mở đầu bằng từ “ tại sao", ví dụ: tại sao ở các vùng ôn đới, cây thường rụng lá vào mùa đông? Tại sao chúng ta ngủ? Tại sao tim có thể hoạt động suốt đời? Loại câu hỏi thứ hai hỏi về cách thức hình thành những điều đó, thường sử dụng từ “ như thế nào", ví dụ: Trầm tích được hình thành như thế nào? Côn trùng hô hấp như thế nào? Quá trình tiêu hóa ở chúng ta diễn ra như thế nào? Các câu hỏi loại hai thường dễ tìm được câu trả lời hơn câu hỏi loại một Trong DHKP, GV đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng cho HS tìm câu trả lời cho các câu hỏi như vậy Đôi khi, để đơn giản và phù hợp hơn với mức độ nhận thức của HS, GV có thể chuyển từ một câu hỏi “ tại sao" thành câu hỏi “ như thế nào"
Trang 15 HS tiến hành tìm hiểu kiến thức, thu thập các bằng chứng và sử dụng chúng để xây dựng và đánh giá các cách giải thích cho câu hỏi định hướng khoa học đã được đặt ra ban đầu Các nhà khoa học thu thập các bằng chứng như những dữ liệu khoa học bằng cách ghi lại những quan sát và thực hiện các đo lường Các dữ liệu chính xác có thể được kiểm tra bằng cách lặp lại các quan sát hoặc thực hiện các đo lường mới Trong lớp học, HS sử dụng các dữ liệu này để tạo thành các giải thích cho các hiện tượng khoa học Cách giải thích khoa học cần phải phù hợp với các bằng chứng đang có và mang đến cho HS những hiểu biết mới
HS công bố kết quả, kiểm chứng và đánh giá cách giải thích của họ bằng cách đối chiếu
nó với cách giải thích của bạn bè và với các kiến thức khoa học Khám phá khoa học khác với các dạng khám phá khác ở chỗ giải thích đề xuất có thể được xem xét lại, thậm chí có thể bị loại bỏ dưới ánh sáng của những phát hiện mới Các nhà khoa học cần phải công bố nghiên cứu của mình một cách trung thực và chi tiết đủ để những nhà khoa học khác có thể tái tạo lại các nghiên cứu đó nếu cần thiết Tương tự như vậy, HS
sẽ thu được nhiều lợi ích khi họ chia sẻ và so sánh kết quả của mình với các bạn trong lớp, thông qua đó, tạo cơ hội cho họ đặt ra các câu hỏi kiểm tra các bằng chứng, xác định các lập luận sai lầm, xem xét giải pháp thay thế Họ cũng có thể nhận thức được các kết quả của họ có quan hệ với các kiến thức khoa học hiện tại như thế nào DHKP không phải là một chuỗi các hoạt động theo quy trình cứng nhắc mà có thể được thay đổi và sử dụng linh hoạt phụ thuộc vào mức độ nhận thức và năng lực của HS
Tổ chức các hoạt động học tập khám phá trong học tập có nhiều dạng khác nhau, từ trình độ thấp lên trình độ cao, tuỳ theo trình độ năng lực tư duy của người học và được tổ chức hoạt động theo cá nhân, nhóm nhỏ hoặc nhóm lớn, tuỳ theo độ phức tạp của vấn đề cần khám phá Các hoạt động khám phá học trong học tập có thể là:
+ Trả lời câu hỏi
+ Điền từ, điền bảng, tra bảng
+ Lập bảng, biểu đồ, đồ thị
+ Thử nghiệm, đề xuất giải quyết, phân tích nguyên nhân, thông báo kết quả
+ Thảo luận, tranh cãi về một vấn đề
+ Giải bài tập
+ Điều tra thực trạng, đề xuất giải pháp cải thiện thực trạng, thực nghiệm giải pháp lớn + Làm bài tập lớn, chuyên đề, dự án, đề án
Trang 16Quyết định hiệu quả học tập là những gì HS làm chứ không phải những gì GV làm Vì vậy phải thay đổi quan niệm soạn giáo án, từ tập trung vào thiết kế các hoạt động của GV chuyển sang tập trung vào thiết kế các hoạt động của HS Tuy nhiên không nên cực đoan, có tham vọng biến toàn bộ nội dung bài học thành chuỗi các nội dung bài học khám phá Số lượng hoạt động và mức độ tư duy đòi hỏi ở mỗi hoạt động trong mỗi tiết học phải phù hợp với
trình độ HS để có đủ thời lượng cho thầy trò thực hiện các hoạt động khám phá Phương
pháp tổ chức dạy học nhóm là cách tổ chức DHKP có hiệu quả Song do hoàn cảnh lớp học, do thời gian… không phải lúc nào cũng tổ chức nhóm được Vì vậy có thể trao nhiệm vụ khám phá cho cả lớp bằng lời, bằng hình chiếu, hình vẽ sẵn trên giấy, bằng một thí nghiệm đơn giản hoặc bằng việc sử dụng các phương tiện hỗ trợ cho dạy học
* Phương pháp DHKP đòi hỏi HS phải đạt các yêu cầu sau:
- HS phải có những kiến thức, kỹ năng cần thiết để thực hiện các hoạt động khám phá
* Những ưu và nhược điểm của DHKP
- Những ưu điểm của DHKP:
+ HS coi việc học là của mình, tính tích cực chủ động được phát huy
+ Hoạt động khám phá tạo ra hứng thú, đem lại nguồn vui, thúc đẩy động cơ đúng đắn trong quá trình học tập
+ HS hiểu sâu, nhớ lâu, biết vận dụng linh hoạt những kiến thức đã học, đồng thời phát triển năng lực tư duy, năng lực giải quyết các vấn đề gặp phải, thích ứng linh hoạt với xã hội hiện đại đang phát triển với tốc độ nhanh chóng
- Một số hạn chế của phương pháp DHKP
+ Nếu không biết tổ chức thì dạy học bằng các hoạt động khám phá này dễ phá
vỡ kế hoạch thời gian của bài học
+ Nếu không có kinh nghiệm tổ chức có thể đưa đến những ấn tượng sai lầm về
tư duy, gây bất lợi về sau này
Trang 17+ Không phải bất cứ nội dung nào cũng có thể vận dụng DHKP, do vậy nếu áp dụng một cách máy móc thì không những không đem lại hiệu quả mà còn có thể gây phản tác dụng
DHKP là một quá trình trong đó dưới vai trò định hướng của người dạy, người học chủ động việc học tập của bản thân, hình thành các câu hỏi đặt ra trong tư duy mở rộng công việc nghiên cứu, tìm kiếm; từ đó xây dựng nên những hiểu biết và tri thức mới Những kiến thức này giúp cho người học trả lời các câu hỏi, tìm nhiều giải pháp khác nhau để giải quyết các vấn đề, chứng minh, giải thích được các hiện tượng tự nhiên từ đó bồi dưỡng hứng thú học tập của HS và phát triển các năng lực cơ bản người học: năng lực tư duy, năng lực tự chủ và tự học, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội,
Hoạt động khám phá trong học tập là một chuỗi hành động và thao tác trí tuệ hoặc cơ bắp hướng tới mục tiêu xác định Hoạt động khám phá trong học tập có nhiều dạng khác nhau,
từ trình độ thấp đến trình độ cao tùy theo năng lực tư duy của người học và được tổ chức thực hiện theo cá nhân, nhóm nhỏ hoặc nhóm lớn, tùy theo mục đích phức tạp của vấn đề cần khám phá Hoạt động khám phá trong học tập có thể thực hiện dưới các dạng sau: Trả lời câu hỏi vấn đáp; lập bảng, điền bảng, sơ đồ; thảo luận, đề xuất ý tưởng về vấn đề nêu ra; giải bài tập; làm đề án, chuyên đề
Đặc điểm của biện pháp DHKP đó là: Bằng những hướng dẫn của GV tạo điều kiện cho
HS thực hiện các hoạt động học tập của mình để tự tìm ra đáp án
Đặc trưng của biện pháp tổ chức trong DHKP là dựa vào nhiệm vụ khám phá hay nhiệm
vụ học tập mà đưa ra các hoạt động cụ thể để HS dựa vào các hoạt động đó mà phát hiện kiến thức
Phương pháp tổ chức dạy học nhóm là cách tổ chức DHKP có hiệu quả Song do hoàn cảnh lớp học, do thời gian… không phải lúc nào cũng tổ chức nhóm được Vì vậy có thể trao nhiệm vụ khám phá cho cả lớp bằng lời, bằng hình chiếu, hình vẽ sẵn trên giấy, bằng một thí nghiệm đơn giản hoặc bằng việc sử dụng các phương tiện hỗ trợ cho dạy học
Trong thời đại ngày nay CNTT là giải pháp quan trọng cần triệt để khai thác khi dạy và học, không thể dạy học theo một lối mòn cũ kĩ mà cần phải đổi mới PPDH theo hướng ứng dụng CNTT
Mục tiêu mà ngành giáo dục cần phải hướng đến đó là chuỗi phát triển từ nền tảng cơ bản nhất là tạo các bài giảng điện tử, phát triển đồng bộ để đạt đến ngưỡng của một trường học điện tử, tạo tiền đề vững chắc để xây dựng nên một nền giáo dục điện tử tại Việt Nam
Ứng dụng CNTT vào dạy học có nghĩa là việc đầu tiên mà người GV phải thực hiện là
có bài giảng điện tử Bài giảng điện tử cần phải được hiểu thống nhất như là một PPDH trong
Trang 18đó GV khai thác tiện ích của CNTT để thiết kế các nội dung học tập nhằm giúp HS không chỉ lĩnh hội kiến thức, kỹ năng phát triển tư duy, nhận thức mà còn phát triển cả kỹ năng xử lý thông tin, kỹ năng giao tiếp,
Những quan điểm, định hướng nêu trên tạo tiền đề, cơ sở và môi trường pháp lí thuận lợi cho việc đổi mới giáo dục phổ thông nói chung, đổi mới đồng bộ PPDH, kiểm tra đánh giá
theo định hướng năng lực người học
2 Cơ sở thực tiễn
Thực tiễn công tác kiểm tra, đánh giá ở trường phổ thông hiện nay cho ta thấy tình trạng đánh đồng việc cho điểm với đánh giá năng lực HS; có xu hướng chú trọng kiến thức ghi nhớ hơn là rèn kỹ năng và năng lực HS; công tác kiểm tra, đánh giá chịu sức ép của thi cử và bệnh thành tích; các kết quả kiểm tra thường để xếp loại HS hơn là tìm ra điểm mạnh yếu của HS để giúp HS tiến bộ và định hướng cho GV trong việc cải tiến nội dung và phương pháp giảng dạy
Cùng với sự bùng nổ thông tin toàn cầu, các phương tiện thông tin hiện đại mang lại nhiều sự lựa chọn mới, hấp dẫn hơn, các trò chơi game mới, trang mạng xã hội ngày càng thu hút đông đảo HS tuổi mới lớn, thời gian học vô tình bị các em thu hẹp lại dành thời gian cho những thú vui mới lạ, hấp dẫn hơn
Vì chưa ý thức được tầm quan trọng của việc học, cộng thêm năng lực tư duy giới hạn, khả năng giải quyết vấn đề kém, động cơ học tập và hứng thú học tập của các em cũng thay đổi Mục đích học tập chủ yếu của HS THPT hiện nay là để chuẩn bị cho tương lai của chính các em học để thi đỗ đại học, có việc làm tốt, thỏa mãn ước muốn bản thân, để giúp đỡ gia đình… Những nguyên nhân khiến HS THPT chán, lười học là do ham chơi, kết quả học tập không như mong đợi, rồi đến lý do cảm thấy môn học khó và hoàn cảnh tác động (dễ bị lôi kéo, dụ dỗ; chưa quyết tâm, kiên trì và chưa quan tâm thực sự đến học tập) Ngoài ra, rất nhiều học sinh THPT đưa ra ý kiến khác về nguyên nhân gây chán, lười học:
+ Do không có khả năng đối với môn học
+ Do gia đình, thầy cô đặt quá nhiều hy vọng tạo áp lực lớn cho HS
+ Do không giữ được ý chí quyết tâm học tập
+ Khó tập trung học tập do nhiều yếu tố bên ngoài tác động
+ Do môn học không đủ sức hấp dẫn với HS…
Thái độ của HS THPT đối với việc học:
Tình trạng lớp học tương đối trầm ở các trường lớp THPT khá phổ biến hiện nay, tỷ lệ phát biểu ít chiếm quá nửa, tỷ lệ những HS chưa bao giờ phát biểu khá cao, còn lại lượng HS hăng hái phát biểu không đáng kể Nguyên nhân gây nên hiện tượng này khá phức tạp, bắt nguồn từ tâm lý chung của HS (sợ bị chê cười khi phát biểu sai, chưa tự tin vào năng lực của
Trang 19mình, chưa hiểu rõ tác dụng của việc phát biểu xây dựng bài), do cá nhân chưa chuẩn bị bài kỹ, đến phương pháp giảng dạy của GV chưa gây hứng thú tới HS
Tình trạng không chuẩn bị bài trước khi đến lớp vẫn tồn tại khá phổ biến Ở hầu hết các trường lớp, HS thường khá bị động trong việc tự chuẩn bị bài ở nhà, kể cả khi GV kiểm tra, các em vẫn có xu hướng làm đối phó Nguyên nhân sâu xa của thực trạng phổ biến này là: HS
có rất ít thời gian học ở nhà trong khi lượng kiến thức học quá lớn, HS chưa chú tâm tới môn học hay chưa hiểu rõ tác dụng của phương pháp học này…Hầu hết các em HS đều có tâm lý chung học lệch, chỉ tập trung học các môn sắp kiểm tra, thi hay các môn chuyên ngành
Mặc dù rất nhiều nguyên nhân khác nhau ảnh hưởng đến hứng thú học tập và thái độ học tập của HS THPT, nhưng chung quy lại tôi vẫn thấy một điểm chung là HS học yếu, lười học vì thiếu năng lực tư duy, thiếu kỹ năng giải quyết vấn đề, chưa có nhận thức đúng đắn trong việc học tập và GV thì chưa tìm ra phương pháp phù hợp để phát huy các năng lực cơ bản của HS
Tóm lại, dựa vào việc tìm hiểu những nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng chán, lười học và mức độ ảnh hưởng ít hay nhiều của các nguyên nhân, từ đó thúc đẩy việc học tập của các em mà tôi hi vọng có thể đề ra được những PPDH phù hợp hơn nhằm khuyến khích HS học tập tích cực, chủ động hơn
Mặt khác, chương trình Sinh học 11 tập trung những kiến thức về sinh lí động vật và thực vật Đây là một nội dung rất hay vì nó là những kiến thức rất thực tế đối với người học, vì vậy, rất dễ tạo được hứng thú học tập của các em Tuy nhiên, qua thực tiễn giảng dạy HS thường rất khó tiếp thu và lưu giữ những kiến thức này, vì vậy hứng thú của các em đối với môn học dễ bị giảm đi gây ảnh hưởng đến hiệu quả dạy và học
Nội dung chủ yếu của SGK Sinh học 11 gồm các kiến thức về cấu tạo và hoạt động sinh
lí cơ bản của động vật và thực vật được biên soạn theo hướng lồng ghép Sinh học cơ thể thực vật với Sinh học cơ thể động vật Điều này giúp HS nhận thức được các chức năng sinh lí cơ bản đều có ở cả động vật và thực vật, đồng thời có thể so sánh cách thực hiện các chức năng sinh lí ở giới Thực vật và giới Động vật
Cấu trúc chương trình môn học thể hiện tính logic của cấu trúc nội dung, tính hệ thống của các kiến thức, các khái niệm, trong đó khái niệm trước tạo điều kiện cho việc hình thành
và nắm vững khái niệm sau Hệ thống các kiến thức được trình bày từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, từ ngoài vào trong, từ cụ thể đến trừu tượng và theo nguyên tắc đi từ tổng hợp đến sơ bộ, khái quát đến phân tích và cuối cùng là tổng hợp ở mức cao hơn, đồng thời đảm bảo tính vừa sức, hợp với trình độ và lứa tuổi HS
Trang 20TIẾT BÀI- TÊN BÀI DẠY
HỌC KỲ I Phần IV: sinh học cơ thể Chương I: CHUYỂN HÓA VẬT CHẤT VÀ NĂNG LƯỢNG A- CHUYỂN HÓA VẬT CHẤT VÀ NĂNG LƯỢNG Ở THỰC VẬT
1 Bài 1: Sự hấp thu nước và muối khoáng ở rễ
2 Bài 2: Vận chuyển các chất trong cây
3 Bài 3: Thoát hơi nước
4 Bài 4: Vai trò của các nguyên tố khoáng
5 Bài 5&6: Dinh dưỡng Nito ở thực vật
6 Bài 7: Thực hành: Thí nghiệm thoát hơi nước và thí nghiệm về vai trò của phân bón
7 Bài 8: Quang hợp ở thực vật
8 KIỂM TRA 1 TIẾT
9 Bài 9: Quang hợp ở các nhóm thực vật C3, C4 và CAM
10 Bài 10 & 11: Ảnh hưởng của các nhân tố ngoại cảnh đến quang hợp Quang hợp và năng suất cây trồng
11 Bài 12: Hô hấp ở thực vật
12 Bài 13: Thực hành: Phát hiện diệp lục và carotenoit
13 Bài 14: Thực hành: Phát hiện hô hấp ở thực vật
14 Bài 15: Tiêu hóa ở động vật
15 Bài 16: Tiêu hóa ở động vật (tt)
16 Bài 17: Hô hấp ở động vật
17 Ôn tập
18 Ôn tập
19 KIỂM TRA HỌC KÌ I
20 Bài 18: Tuần hoàn máu
21 Bài 19: Tuần hoàn máu (tt)
22 Bài 20: Cân bằng nội môi
23 Bài 21: Thực hành: Đo một số chỉ tiêu sinh lí ở người
24 Bài 22: Bài tập chương I
31 Bài 29: Điện thế hoạt động và sự lan truyền xung thần kinh
32 Bài 30: Truyền tin qua xinap
33 Bài 31: Tập tính của động vật
34 Bài 32: Tập tính của động vật (tt)
35 Ôn tập
36 KIỂM TRA 1 TIẾT
37 Bài 33: Thực hành: Xem phim tập tính động vật
38 Bài 34: Sinh trưởng ở thực vật
39 Bài 35: Hoocmon ở thực vật
40 Bài 36: Phát triển ở thực vật có hoa
41 Bài 37 :Sinh trưởng và phát triển ở động vật
42 Bài 38:Các nhân tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển ở động vật
43 Bài 39:Các nhân tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển ở động vật (tt)
Trang 2144 Bài 40: Thực hành: Xem phim về sinh trưởng và phát triển của một số động vật
45 Ôn tập
46 Bài 41: Sinh sản vô tính ở thực vật
47 Bài 42:Sinh sản hữu tính ở thực vật
48 Bài 43: Thực hành: Nhân giống vô tính ở thực vật bằng giâm, chiết, ghép
49 Bài 44: Sinh sản vô tính ở động vật
50 Bài 45: Sinh sản hữu tính ở động vật
51 Bài 46: Cơ chế điều hòa sinh sản
52 Bài 47:Điều khiển sinh sản ở động vật và sinh đẻ có kế hoạch ở người
kế với các kênh hình và kênh chữ phù hợp với mục đích phát triển năng lực tư duy, sự sáng tạo của người học, do đó, HS rất dễ liên hệ thực tế để tìm tòi, phát hiện kiến thức cũng như giải thích và vận dụng kiến thức khoa học để giải thích các hiện tượng Sinh học trong tự nhiên Tuy nhiên, không phải tất cả mọi GV và HS đều có thể khai thác hợp lí, hiệu quả các tư liệu, hình ảnh trong SGK để phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS
Ngày nay, việc ứng dụng CNTT vào dạy và học đã và đang rất phổ biến Một trong
những phần mềm được sử dụng rộng rãi nhất là Microsoft PowerPoint Microsoft PowerPoint
được xem là công cụ hỗ trợ thuyết trình nhiều tính năng nhất hiện nay Các đối tượng mà
Microsoft PowerPoint phục vụ rất đa dạng, từ nhân viên văn phòng, GV, sinh viên, HS, Microsoft PowerPoint thậm chí còn được coi là phần mềm hữu hiệu cho công tác giảng dạy Microsoft PowerPoint là ứng dụng được tích hợp trong bộ Microsoft Office, dễ học, dễ sử dụng và dễ chia sẻ Một file thuyết trình Microsoft PowerPoint có thể được thiết kế với vô số
định dạng và phong cách mang dấu ấn riêng của người thực hiện Điều này khuyến khích tính sáng tạo của người thuyết trình để lựa chọn áp dụng các dữ liệu, thông tin và cách thể hiện phù
hợp với người nghe và các yêu cầu cụ thể của bài thuyết trình Khi thuyết trình bằng Microsoft PowerPoint dễ dàng thu hút sự chú ý của người nghe, tạo bầu không khí mà người thuyết trình
mong muốn thông qua việc sử dụng kết hợp các hiệu ứng hình ảnh, âm thanh và video
Microsoft PowerPoint là công cụ thuyết trình hỗ trợ đa phương tiện rất mạnh, trang bị đầy đủ các hiệu ứng tiên tiến Gần như mọi thứ có thể số hóa đều có thể đưa vào slide Microsoft PowerPoint Vì vậy, slide Microsoft PowerPoint có thể là sản phẩm tích hợp của nhiều yếu tố:
ngôn từ, hình ảnh, đồ họa 3D, ghi âm giọng nói, hiệu ứng âm thanh và hình ảnh động được sử
Trang 22dụng một cách sáng tạo để làm sinh động thêm các cuộc trao đổi, tăng chất lượng bài giảng, tăng tính thuyết phục cho phần trình bày, làm phong phú thêm các nghiên cứu và báo cáo
Riêng đối với những cán bộ giảng dạy, Microsoft PowerPoint có thể sử dụng để tăng hiệu quả của lớp học và áp dụng được với tất cả mọi môn học Lợi ích lớn của việc sử dụng Microsoft PowerPoint là GV có thể soạn thảo bài giảng và tái sử dụng cho những lần giảng sau Nhờ Microsoft PowerPoint, GV tiết kiệm thời gian cung cấp các tài liệu hướng dẫn, viết lên bảng, nhắc lại các thông điệp… Microsoft PowerPoint giúp làm phong phú thông tin trong bài học,
làm việc trình bày linh hoạt nhưng lại rất quy củ Ngoài ra các điểm chính của bài học có thể được nhấn mạnh để dễ ghi nhớ bằng việc sử dụng hình ảnh đồ họa, hình ảnh động hay âm thanh HS ngày nay rất nhạy bén với công nghệ mới, các công cụ giáo dục kết hợp với công
nghệ như Microsoft PowerPoint sẽ nâng cao mức tương tác và tham gia của HS trong lớp học
Tuy nhiên, Microsoft PowerPoint cũng có hạn chế là người dùng không thể tương tác
trực tiếp lên nội dung trên các slide mà phải theo trình tự có sẵn khi thiết kế bài giảng Để khắc phục nhược điểm này, những năm gần đây, các phần mềm tương tác đã ra đời, trong đó phải kể
đến phần mềm ActivInspire Đây là ứng dụng được thiết kế viết bởi các chuyên gia phần mềm
Nó là công cụ tạo bài giảng điện tử tốt bậc nhất hiện nay Nó cũng thu hút sự quan tâm của người dùng và được hầu hết người dùng ưa chuộng Không chỉ giúp GV, HS mà nó còn tương tác với cả phụ huynh được tiếp cận kiến thức trong môi trường năng động Một khi đã có
ActivInspire trên máy tính thì việc soạn bài của bạn sẽ dễ dàng thuận tiện hơn và quan trọng là
chất lượng bài giảng sẽ hoàn hảo hơn Vậy nên, HS sẽ thấy hứng thú hơn trong việc học và tiếp thu bài Không chỉ kết hợp giữa thực tế với lí thuyết mà kho kiến thức cũng đa dạng phong phú, sinh động Hơn nữa, nó là một trong những phần mềm thiết kế bài giảng tốt nhất hiện nay bởi sở hữu chế độ người dùng đôi và cảm ứng đa khả năng, thêm vào đó, tích hợp gần 90,000 tài nguyên và bài học trên Promethean Planet Với chức năng này giúp GV tạo ra các ý tưởng
sư phạm hay đồng thời giúp hỗ trợ họ để có thêm nhiều hoạt động sinh động, trực quan cho
HS tiếp cận một cách dễ dàng, đơn giản, làm khơi dậy niềm đam mê và sáng tạo cho họ Thực
tế cho thấy ngày nay đại đa số GV đều phải theo xu hướng giảng dạy ứng dụng công nghệ nên
sẽ rất tiện cho những người trẻ, thành thạo vi tính, thiết bị hiện đại Và ActivInspire là sự lựa
chọn hợp lí cho môi trường giảng dạy và học tập, bởi ứng dụng này hỗ trợ tối đa về công nghệ,
kỹ năng dạy học cũng như tạo ra một môi trường học tập mang tính liên kết chặt chẽ giữa các
GV và HS Từ đó tạo ra môi trường năng động, hiện đại giúp dung hòa giữa người dạy và người học và dễ dàng chia sẻ dữ liệu, kiến thức, chuyên môn nghiệp vụ Sở hữu giao diện đẹp
mắt, thân thiện cuốn hút cả người dạy và học Bên cạnh đó, ActivInspire không những mang lại
cho GV khả năng tiếp cận các hoạt động giảng dạy, mà còn cả hình ảnh, âm thanh và mẫu bài
Trang 23giảng Thật hiện đại và thuận tiện khi người dùng chỉ cần dùng bút chạm cảm ứng, hoặc dùng tay thao tác trên các công cụ nhằm nâng cao trong hiệu chỉnh cho bài giảng cũng như hoạt động học tập của HS Như đã nói ở trên công cụ này giúp đỡ GV tạo nên các bài giảng có tính tương tác cao, do đó, tạo ra một môi trường học tập mang tính liên kết chặt chẽ, lại sinh động, lôi cuốn người học Với các dụng cụ trực quan, nó cho phép người dùng tiếp cận các phương pháp giảng dạy mới, hiện đại, hấp dẫn thì bài giảng điện tử cũng phải thật hoàn chỉnh có nội dung hay, đầy đủ, súc tích cũng như hình thức đẹp mắt cuốn hút Đặc biệt phần mềm này tương thích trên mọi hệ điều hành hiện nay như win XP, 7, 8, 8.1, 10 Ngoài ra, phần mềm này còn có một chế độ gọi là " chú giải trên màn hình", khi GV chọn chế độ này thì người dùng sẽ tương tác được trên bất cứ phần mềm nào cũng được mà vẫn tận dụng được công cụ của phần
mềm ActivInspire để tương tác trên phần mềm đó Khi sử dụng chế độ này, ta có thể tận dụng kho bài giảng rất phong phú ứng dụng phần mềm Microsoft powerpoint từ trước đến nay, mà
chất lượng bài giảng trên bảng tương tác thông minh cũng rất hiệu quả
3 Nội dung vấn đề
3.1 Vấn đề đặt ra:
Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ giảng dạy bộ môn Sinh học, trong những năm gần đây, tôi thấy rằng hoạt động học tập bộ môn Sinh học tại trường vẫn còn nhiều tồn tại, từ PPDH của GV đến phương pháp học tập của HS Khảo sát thực trạng dạy – học bộ môn Sinh học cho kết quả như sau:
Thực trạng hoạt động học tập bộ môn Sinh học:
Về phía HS:
Qua việc thăm lớp, dự giờ khảo sát trước tác động tại trường THPT Nguyễn Thái Bình tôi nhận thấy rằng, tỉ lệ HS thụ động, chưa tích cực, không muốn động não suy nghĩ, không hứng thú với tri thức Sinh học, không thể vận dụng tri thức Sinh học để giải thích các qui luật, hiện tượng Sinh học trong thực tiễn còn khá cao Phần lớn HS quen với phương pháp truyền thụ kiến thức một chiều, người học thụ động tiếp nhận tri thức do người dạy truyền đạt một cách nhàm chán
Đặc điểm nổi bật trong khả năng tư duy của HS là thói quen lao động trí óc chưa bền, ngại động não Trong học tập nhiều em không biết lật đi lật lại vấn đề, phát hiện thắc mắc, suy nghĩ sâu sắc về vấn đề học tập Nhiều HS không hiểu bài nhưng không biết mình không hiểu ở chỗ nào Tư duy của HS còn kém nhanh nhạy và linh hoạt, khả năng thay đổi giải pháp chậm, nhiều khi máy móc, rập khuôn HS thường thỏa mãn với cái có sẵn, ít động não đổi mới, khả năng độc lập tư duy và óc phê phán còn hạn chế Thao tác tư duy thể hiện ở khả năng phân tích, tổng hợp, khái quát của HS còn phát triển chậm, thiếu toàn diện
Trang 24HS tuy chăm chỉ, chịu khó song phương pháp học tập nói chung chưa khoa học, thường tiếp thu tri thức một cách thụ động bằng các ghi nhớ, tái hiện Cố gắng ghi nhớ toàn bộ lời giảng của GV rồi cố gắng lặp lại y nguyên, ngại đào sâu, suy nghĩ, tìm dấu hiệu bản chất của nội dung vấn đề nghiên cứu (học vẹt)
Hình thức học tập của HS vẫn hay sử dụng là học thuộc lòng trong vở ghi, các hình thức học tập mang tính tích cực ít được sử dụng, kỹ năng xây dựng dàn ý tóm tắt bài học, kĩ năng xây dựng sơ đồ, lập bảng tóm tắt của HS đa số ở mức yếu và hầu như chưa được hình thành
Sự nỗ lực của bản thân trong hoạt động tự học chưa cao, khi gặp những khó khăn trong học tập (một bài tập khó, một vấn đề chưa hiểu) hầu hết các em bỏ qua, một số ít hỏi bạn, hỏi thầy, còn lại tự mình mày mò, tiếp tục suy nghĩ, tìm tài liệu để giải quyết vấn đề
HS thường gặp khó khăn khi phát biểu trước đám đông vì ngại ngùng, thiếu tự tin, một
số HS gặp khó khăn trong diễn đạt các kiến thức vốn đã hiểu (tức là tuy trong óc thì hiểu mà lại khó khăn để nói, viết ra) Đặc biệt có một số HS gặp khó khăn trong việc tự tìm hiểu các loại sơ đồ, bảng biểu, hình vẽ trong SGK Qua dự giờ và trao đổi với HS tôi thấy khi làm việc với hình vẽ, bảng biểu, sơ đồ nhiều HS còn chưa chú ý xem xét các bộ phận, các chi tiết cụ thể của hình vẽ, khă năng nhận biết ý nghĩa của các dấu hiệu và mối liên quan giữa các bộ phận trên hình vẽ còn rất hạn chế
- Việc chuẩn bị bài mới trước khi lên lớp: Nếu các thầy cô giao nhiệm vụ, yêu cầu HS
đọc bài ở nhà thì phần nhỏ HS có ý thức đọc trước, nếu các thầy cô không giao nhiệm
vụ, không yêu cầu HS đọc bài ở nhà thì hầu như các em không tự giác đọc Trong đó hầu hết các em chỉ đọc lướt qua (đọc lấy lệ hay đọc đối phó), một số có tìm hiểu xem nội dung bài sẽ học gồm những mục nào, nội dung nào, rất ít các em tìm thuật ngữ khó hiểu để dự định hỏi thầy cũng như tìm mối liên quan giữa kiến thức mới với kiến thức
đã học
- Việc xem lại bài vừa học: Nhiều em không xem lại bài vừa học mà các em chỉ có thói
quen học bài cũ chuẩn bị cho việc kiểm tra bài của ngày hôm sau, một số chỉ xem qua ở mức đơn giản và một số các em xem lại bài kết hợp điều chỉnh vở ghi chép bài giảng trên lớp và tìm hiểu thêm những điều mà trên lớp hoặc nghe chưa rõ, hoặc khó hiểu nhưng không thường xuyên
- Việc học bài cũ và thực hiện ôn tập chương: Hầu hết các em sử dụng hình thức học
thuộc lòng bài cũ thậm chí cả bài ôn tập chương cũng học thuộc (có một số em không hiểu nhưng vẫn học thuộc), một số ít học bằng cách xây dựng đề cương, lập sơ đồ, làm bài tập thông qua đó mà ghi nhớ kiến thức, một số ít học kiến thức cơ bản của bài, chương và có thực hiện đọc thêm tài liệu để mở rộng kiến thức có liên quan nhưng mức
Trang 25độ còn ít Có thể kết luận rằng xu hướng chung của HS về tự học là để chuẩn bị cho việc kiểm tra bài cũ của GV để lấy điểm, một số để nắm vững những kiến thức cơ bản chứ ít có nhu cầu mở rộng, hiểu sâu kiến thức
- Việc hoạt động của HS trong giờ lên lớp: Phần nhiều HS thụ động nghe giảng, ít động
não suy nghĩ, chỉ trả lời khi thầy yêu cầu và không dám hỏi thầy khi có thắc mắc, ghi (chép lại) theo nội dung đọc tóm tắt của thầy, chỉ có một số nhỏ HS tích cực, chủ động trong quá trình học như sẵn sàng trả lời câu hỏi của thầy nếu biết và thậm chí sẵn sàng hỏi lại thầy nếu có thắc mắc
- Về vấn đề thảo luận nhóm: Qua dự giờ và trao đổi với các em HS và GV khác tôi thấy:
Khi GV yêu cầu nghiên cứu SGK trao đổi nhóm và thảo luận, một số HS không làm gì chỉ nghe các bạn trong nhóm làm và báo cáo, một số em có tham gia (để GV không phê bình) nhưng không nhiệt tình Chỉ những HS học khá, hay phát biểu (năng động) thì giữ vai trò chủ chốt trong giờ học khi GV sử dụng hình thức trao đổi nhóm Đa số các em biết bám sát yêu cầu của câu hỏi khi thảo luận song khả năng diễn đạt ý kiến rõ ràng, ngắn gọn và khả năng tranh luận đặc biệt là tranh luận để bảo vệ ý kiến của mình, của nhóm mình còn hạn chế
- Về ý thức môn học: phần lớn các em chỉ coi học môn Sinh học là nhiệm vụ bắt buộc,
không hứng thú, say mê môn học; chỉ một phần nhỏ là yêu thích và say mê
Về phía GV bộ môn:
GV thường chỉ yêu cầu HS học bài cũ và chuẩn bị bài mới theo câu hỏi và bài tập trong SGK, một số GV có hướng dẫn HS học bài cũ và chuẩn bị bài mới Một số GV quan tâm đến việc yêu cầu HS lập dàn ý và xây dựng sơ đồ cho các bài học và các bài ôn tập chương
Trong giờ lên lớp hầu hết GV thường đặt các câu hỏi dễ, các câu hỏi tái hiện kiến thức
cũ hoặc yêu cầu HS tóm tắt kiến thức cơ bản để từ đó dạy kiến thức mới, một số GV quan tâm đến việc hướng dẫn HS phân tích bảng biểu, sơ đồ, đồ thị, hình vẽ cũng như đặt ra các tình huống có vấn đề hướng dẫn HS thảo luận nhóm để tìm ra kiến thức mới nhưng không thường xuyên
Qua dự giờ, trao đổi chuyên môn và tham khảo kế hoạch bài học của một số GV dạy môn Sinh học tôi có nhận xét sau:
- Tình hình hướng dẫn HS tự học thể hiện qua kế hoạch bài học: Trong kế hoạch bài học
chủ yếu là liệt kê những kiến thức cơ bản mà HS cần phải nắm được qua giờ giảng bài ở cột nội dung cũng như chỉ có những câu hỏi đơn giản tái hiện kiến thức cũ, câu hỏi phát hiện kiến thức mới ở mức đơn giản, thậm chí có nhiều câu hỏi chỉ để gọi là có câu hỏi;
Trang 26ở cột hoạt động của GV và HS, đa số các kế hoạch bài học chỉ chú ý đến kiến thức cần truyền đạt chứ ít chú ý đến việc rèn luyện các thao tác tư duy, kĩ năng chiếm lĩnh nội dung kiến thức Hầu hết các bài soạn chưa thể hiện rõ hoạt động của HS, chưa có các tình huống (dự kiến cho các thao tác, hoạt động rõ ràng) cụ thể mà chỉ chung chung
- Tình hình hướng dẫn HS tự học qua giờ dạy: Trong một số tiết học GV sử dụng
phương pháp dạy học tích cực thì giờ học đạt hiệu quả rất tốt, các em HS hào hứng sôi nổi chủ động tích cực tham gia xây dựng bài giảng, trong các giờ học này vai trò của
HS hầu như được huy động tối đa (nghiên cứu SGK, tóm tắt kiến thức, trả lời câu hỏi, tìm ví dụ minh họa, làm các bài tập sáng tạo, làm thí nghiệm và thậm chí các em còn tự đặt câu hỏi cho GV, vận dụng các kiến thức vừa học để giải thích các hiện tượng thực tế cũng như vận dụng trong đời sống của các em) Tuy nhiên, số giờ đạt được như vậy không được nhiều chủ yếu là các giờ dự thi GV dạy giỏi, các giờ thao giảng và một số tiết học hàng ngày nhưng chủ yếu với các lớp chọn hoặc các lớp học khá Trong rất nhiều giờ dạy thì thấy rằng phần nhiều HS trong lớp còn thụ động chủ yếu nghe cô giảng, HS khác phát biểu và ghi chép nội dung kiến thức của bài, các em chỉ hiểu mang máng chưa nắm rõ bản chất Đa số GV vẫn lo không đủ thời gian cho giờ học (lo cháy giáo án) vì vậy hoạt động của GV chiếm phần lớn thời lượng của tiết học (giảng bài, đặt các câu hỏi và thậm chí phải tự trả lời câu hỏi), các em HS chủ yếu trả lời những nội dung câu hỏi dễ, câu hỏi có đáp án sẵn trong SGK, có ít HS trả lời được các câu hỏi mang tính phát hiện và nếu có thường phải mất nhiều thời gian Việc giải thích hình vẽ,
sơ đồ, đồ thị chủ yếu do GV giải thích, không có câu hỏi định hướng nghiên cứu cho
HS Việc hướng dẫn HS chuẩn bị bài ở nhà nhiều GV chưa thật quan tâm mặc dù có thể nói rằng khâu này có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hướng dẫn HS học tập có hiệu quả, nâng cao được tính chủ động, sáng tạo trong quá trình học bài mới ở trên lớp Hầu hết GV chỉ nhắc các em về học bài cũ và chuẩn bị bài mới theo câu hỏi cuối SGK, chứ không hướng dẫn cụ thể các em học bài cũ như thế nào và chuẩn bị bài mới theo hệ thống câu hỏi như thế nào, trọng tâm các câu hỏi là gì
Nguyên nhân của thực trạng nói trên:
Trang 27- Do đặc điểm tâm lý HS nhiều em còn tự ti, bảo thủ, hay bằng lòng với những gì mình có, thiếu quyết tâm chưa kiên trì vượt khó, chưa xác định đúng động cơ thái độ học tập, chưa coi trọng học tập còn trông chờ ưu tiên như được cộng điểm
- Tâm lý nhiều HS cho bộ môn Sinh là môn phụ do vậy không quan tâm, không chịu đầu tư công sức, thời gian cũng như không hứng thú lắm đến học bộ môn này nên thường học đối phó mà chưa thực sự say mê, yêu thích môn học
- Một số HS yêu thích môn học nhưng lại chưa được hướng dẫn phương pháp tự học do vậy gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình học tập
Đối với GV:
- Phần lớn các GV đều nhận thức được tầm quan trọng của việc đổi mới PPDH truyền thống sang dạy học - tự học (dạy cách học), song do ảnh hưởng của lối dạy truyền thống đã quá quen thuộc trong thời gian dài, do thói quen ngại thay đổi cái cũ cũng như ngại mất nhiều công sức, thời gian cho việc soạn bài theo hướng tăng dần tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học Do vậy những giờ dạy theo PPDH phát triển năng lực HS chưa được nhiều
- Do các em HS có trình độ nhận thức không đều, rất nhiều em học yếu, ít nói do vậy tâm lý của nhiều GV chỉ lo dạy cho các em nắm được kiến thức cơ bản, còn việc rèn luyện, hướng dẫn phương pháp học tập tích cực rất hạn chế
- Bản thân một số ít GV chưa thật sự là tấm gương về tự học cho HS noi theo cũng như chưa thật sự quan tâm và hiểu sâu sắc về phương pháp dạy - tự học
- Nhiều GV chưa được trang bị các phương pháp cơ bản về kỹ năng dạy - tự học,
tự khám phá
Ngoài các nguyên nhân cơ bản trên, tôi thấy còn có một số nguyên nhân khác như thiếu tài liệu hướng dẫn tự học, tự khám phá do cơ sở vật chất còn chưa đáp ứng đủ cho việc đổi mới phương pháp như phòng học hiện đại, máy tính, đèn chiếu
Qua nghiên cứu thực trạng và nguyên nhân nói trên thì khẳng định rằng PPDH phát huy tính tích cực của HS nói chung và phát huy tính tích cực khi học bộ môn Sinh học nói riêng cho HS cần được quan tâm và trú trọng hơn nữa để không ngừng nâng cao chất lượng học tập của HS
Như vậy với đặc điểm nhận thức, phương pháp học tập và những đặc điểm về hoạt động học tập của HS như đã trình bày ở trên, thì việc bồi dưỡng, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo cho HS là vấn đề cấp thiết, giúp cho HS có phương pháp học hợp lý, khoa học mà trọng tâm chính là phương pháp tự học, tự khám phá, cần đặc biệt nhấn mạnh việc rèn luyện cho các
Trang 28em thói quen tự học, tự khám phá có khoa học, thường xuyên đặt ra các câu hỏi: Tại sao? Như thế nào? Tại sao như thế này mà không phải thế kia? Nếu thế này thì sao? Cũng như rèn luyện cho các em một số kĩ năng trong tự học, tự khám phá như: kỹ năng làm việc với SGK, kĩ năng phân tích đồ thị, hình vẽ, kĩ năng lập đề cương, sơ đồ hóa, kĩ năng thảo luận nhóm trong quá trình học tập
Khi tìm hiểu thực trạng nhận thức của HS đối với vai trò và ý nghĩa của môn Sinh học 11 tại trường THPT Nguyễn Thái Bình Kết quả khảo sát như sau:
Bảng 1: Nhận thức của HS về vai trò và ý nghĩa của môn Sinh học
Các mức độ Rất có ý
nghĩa Có ý nghĩa Ít có ý nghĩa Không có ý nghĩa
Phát triển năng lực nhận thức, tư
duy bậc cao của HS
28 10.0 95 33.9 117 41.7 40 14.4
4 Giáo dục bảo vệ môi trường 125 44.6 117 41.7 23 8.2 15 5.4
5 Giáo dục sức khỏe sinh sản 118 42.1 86 30.7 38 13.6 38 13.6
6
Hình thành niềm tin vào khoa
học, gần gũi với thiên nhiên 43 15.4 65 23.2 108 38.6 64 22.9
Bảng 2: Nhận thức của HS về nội dung môn Sinh học lớp 11
Trang 292 Nội dung môn học gắn liền giữa lý thuyết và thực tiễn 70 25.0 146 52.1 27 9.6 37 13.2
6 Phù hợp với khả năng người học 45 16.1 75 26.8 75 26.8 85 30.4
Kết quả nghiên cứu cho thấy, HS nhận thức được môn Sinh học 11 là môn học gắn liền với thực tiễn và có tính ứng dụng cao
Thái độ học tập của HS chính là biểu hiện quan trọng nhất thể hiện kết quả phương pháp giảng dạy của GV Vì vậy, trong sáng kiến này người nghiên cứu tiến hành tìm hiểu thái độ của
HS khi tham gia học môn Sinh học 11 Để tìm hiểu vấn đề này, người nghiên cứu tiến hành khảo sát bằng bảng hỏi, quan sát
Bảng 3: Thái độ của HS đối với môn Sinh học lớp 11
STT Thái độ
Các mức độ Rất thường
xuyên Thường xuyên Thỉnh thoảng Không bao giờ
Kết quả trên cho thấy, thái độ rất thích học của HS tuy thấp nhưng HS cũng không tỏ thái
độ chán học và ghét học thường xuyên Đa số thái độ HS biểu hiện đối với môn Sinh học là thích học và bình thường
Bảng 4: Nguyên nhân dẫn đến thái độ của HS đối với môn Sinh học 11
Các mức độ Rất đồng ý Đồng ý Ít đồng ý Không
đồng ý
(%)
SL TL (%)
SL TL (%)
(%)