1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu sản xuất vacxin gumboro nhược độc trên tế bào xơ phôi gà

59 165 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 9,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc sản xuất một loại vacxin trong nước với giá thành phải trăng và hơn nữa là có thể chủ động được nguồn vacxin là rất cần thiết.Vấn đề đặt ra là làm sao có được một loại vacxin Gumbor

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: TS Đồng Huy Giới

PGS.TS Nguyễn Hữu Nam

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được

sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình

Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết

ơn sâu sắc PGS.TS Nguyễn Hữu Nam và TS Đồng Huy Giới đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn , Khoa Công Nghệ Sinh Học - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo: GĐ.Trần Thị Thu Hiền, PGĐ.Trần Văn Khánh , chị Nguyễn Thị Bích trưởng phòng QC, chị Nguyễn Thị Hồng Nhung cung các cán bộ viên chức phòng QC- Trung Tâm Nghiên Cứu và nhà máy sản xuất Sinh phẩm công

ty cổ phần dược phẩm và vật tư thú y Hanvet đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Đỗ Thị Hiền

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Đỗ Thị Hiền

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cảm ơn i

Lời cam đoan ii

Mục lục iii

Danh mục các chữ viết tắt v

Danh mục bảng vi

Danh mục hình vii

Danh mục biểu đồ vii

Trích yếu luận văn viii

Thesis abstract x

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục đích của đề tài 2

1.3 Phạm vi nghiên cứu 2

1.4 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài: 2

Phần 2 Tổng quan tài liệu 3

2.1 Giới thiệu chung về bệnh gumboro 3

2.1.1 Lịch sử và tình hình bệnh Gumboro trên thế giới và ở Việt Nam 3

2.1.2 Virut Gumboro 5

2.1.3 Bệnh Gumboro 9

2.2 Miễn dịch chống bệnh gumboro 13

2.2.1 Khái niệm chung 13

2.2.2 Cơ chế miễn dịch chống bệnh Gumboro 14

2.3 Vacxin và vacxin phòng bệnh gumboro 17

2.3.1 Vacxin 17

2.3.2 Vacxin phòng bệnh Gumboro 18

2.3.3 Quy trình sử dụng các loại vacxin Gumboro 19

Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 20

3.1 Địa điểm nghiên cứu 20

3.2 Thời gian nghiên cứu 20

3.3 Đối tượng vật liệu nghiên cứu 20

3.3.1 Đối tượng nghiên cứu 20

Trang 5

3.3.2 Vật liệu nghiên cứu 20

3.3.3 Thiết bị và dụng cụ 20

3.4 Nội dung nghiên cứu 20

3.5 Phương pháp nghiên cứu 20

3.5.1 Nghiên cứu điều kiện thích hợp cho quá trình nuôi cấy tế bào xơ phôi gà 20

3.5.2 Xác định điều kiện thích hợp cho quá trình nhân nhiễm virus trên môi trường tế bào sơ phôi gà 22

3.5.3 Xác định liều gây nhiễm thích hợp 23

3.3.4 Xác định phần trăm sữa gầy bổ trợ vacxin đông khô 23

3.3.5 Kiểm nghiệm vacxin Gumboro nhược độc đông khô 23

3.3.6 Phương pháp xử lý số liệu 26

Phần 4 Kết quả và thảo luận 27

4.1 Kết quả 27

4.1.1 Kết quả nghiên cứu điều kiện thích hợp cho nuôi cấy tế bào 27

4.1.2 Xác định điều kiện thích hợp cho quá trình nhân nhiễm virus trên môi trường tế bào xơ phôi gà 31

4.1.3 Kết quả xác định liều gây nhiễm thích hợp 35

4.1.4 Kết quả xác định phần trăn sữa thích hợp cho quá trình đông khô vacxin Gumboro nhược độc đông khô 36

4.1.5 Kiểm nghiệm vacxin Gumboro nhược độc đông khô 37

4.2 Thảo luận 40

4.2.1 Điều kiện thích hợp để nuôi cấy tế bào xơ phôi gà 40

4.2.2 Điều kiện tối ưu để nhân nhiễm virut Gumboro trên tế bào xơ phôi gà 42

4.2.3 Xác định phần trăm sữa thích hợp cho quá trình đông khô vacxin 42

4.2.4 Xác định hiệu giá kháng thể bằng phương pháp trung hòa virut 43

4.2.5 Loại bỏ yếu tố huyết thanh trong môi trường nhân nhiễm virut 44

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 45

5.1 Kết luận 45

5.2 Kiến nghị 45

Tài liệu tham khảo 46

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 4.1 Kết quả quan sát hình thái tế bào trong các loại môi trường 27

Bảng 4.2 Kết quả đếm số lượng tế bào trong các loại môi trường 28

Bảng 4.3 Số lượng tế bào thu được qua các giờ nuôi cấy bằng phương pháp đếm số tế bào 30

Bảng 4.4 Kết quả hiệu giá virut sau gây nhiễm trên các loại môi trường 31

Bảng 4.5 Kết quả xác định H môi trường nhân nhiễm tế bào 33

Bảng 4.6 Kết quả so sánh hiệu giá môi trường có 1% huyết thanh và môi trường không bổ sung huyết thanh trong môi trường nhân nhiễm 35

Bảng 4.7 Kết quả xác định liều gây nhiễm thích hợp 35

Bảng 4.8 Xác định phần trăm sữa thích hợp cho đông khô vacxin 36

Bảng 4.9 Kết quả kiểm tra tạp nhiễm vi khuẩn và nấm mốc 37

Bảng 4.10 Kết quả kiểm tra tạp nhiễm virut Newcastle 38

Bảng 4.11 Kết quả kiểm tra an toàn trên gà 1 ngày tuổi 38

Bảng 4.12 Kết quả hiệu giá virut có trong vacxin Gumboro nhược độc đông khô 39

Bảng 4.13 Kết quả hiệu giá kháng thể trung hòa virut (…log 2) 39

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Cấu trúc virus Gumboro (expasy.org) 5

Hình 2.2 Genome virus Gumboro 6

Hình 2.3 Bệnh tích bệnh Gumboro ở cơ đùi 10

Hình 2.4 Xuất huyết tại cơ đùi 10

Hình 2.5 Bệnh tích ở túi Fabricius 11

Hình 3.1 buồng đếm Neubauer 22

Hình 4.1 Hình ảnh biểu thị khả năng bám đáy của tế bào qua các giờ nuôi cấy trên môi trường MEM 29

Hình 4.3 CPE liều nhiễm MOI 0.01 sau 72 giờ 36

Hình 4.4 Đối chứng tế bào sau 72 giờ 36

DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biều đồ 4.1 Kết quả đếm số lượng tế bào trong các loại môi trường 28

Biểu đồ 4.2 Xác định môi trường nhân nhiễm và thời gian thu hoạch virut 33

Biểu đồ 4.3 Kết quả xác định pH môi trường nhân nhiễm tế bào 34

Biểu đồ 4.4 Kết quả xác định hiệu giá kháng thể sau khi miễn dịch 40

Trang 9

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Đỗ Thị Hiền

Tên luận văn: “Nghiên cứu sản xuất vacxin Gumboro nhược độc đông khô trên tế bào

xơ phôi gà”

Ngành: Công Nghệ Sinh Học Mã số: 60.42.02.01

Tên cơ sở đào tạo: Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam

Bursal Disease-IBD) là một bệnh truyền nhiễm cấp tính ở gà, chủ yếu là gà 3-6 tuần tuổi Bệnh Gumboro do Birnavirus thuộc họ Birnaviridae gây ra Virut cường độc Gumboro tấn công vào túi Fabricius và các cơ quan có thẩm quyền miễn dịch, gây huỷ hoại tế bào lympho B, làm suy giảm miễn dịch ở gà Bệnh có tỷ lệ nhiễm rất cao từ 80% đến 100% cá thể trong đàn.Tỷ lệ chết do bệnh Gumboro thường từ 5 – 30%, nếu nhiễm chủng virus có độc lực cao thì tỷ lệ chết có thể tới 90% Bệnh Gumboro gây thiệt hại kinh tế nặng nề, cho đến nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu Biện pháp phòng bệnh có hiệu quả nhất là sử dụng vacxin một cách hợp lý để tạo cho đàn gà có một lượng kháng thể chống lại sự tấn công của virus Gumboro

Trong nghiên cứu này, chúng tôi nghiên cứu các điều kiện về môi trường, thời gian nuôi cấy và số lượng tế bào thích hợp để xác định được quy trình nuôi cấy tế bào

xơ phôi thích hợp cho gây nhiễm virut Gumboro

Sau khi xác định được những điều kiện thích hợp nuôi cấy tế bào xơ phôi gà chúng tôi nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự nhân lên của virut trên tế bào như môi trường gây nhiễm, thời gian gây nhiễm ,nồng độ huyết thanh và liều gây nhiễm thích hợp Sử dụng giống Gumboro chủng 2512 đã được khảo sát sự thích nghi trên tế bào xơ phôi gà làm chủng virut gây nhiễm xuyên suốt đề tài này Kết quả đã xây dựng được quy trình thích hợp cho nhân nhiễm virut trên tế bào mang lại hiệu giá cao

Xác đinh tỷ lệ sữa thích hợp phối trộn với huyễn dịch virut tạo vacxin Gumboro nhược độc đông khô đạt các chỉ tiêu kiểm nghiệm của một vacxin đông khô:cảm quan, vật lý, độ ẩm, chân không, an toàn và hiệu lực

Từ đó bước đầu xây dựng được quy trình sản xuất và kiểm nghiệm vacxin Gumboro nhược độc đông khô trên môi trường tế bào xơ phôi gà

Mục đích nghiên cứu

Xác định được quy trình sản xuất vacxin Gumboro trên môi trường tế bào xơ phôi gà

Trang 10

Đánh giá được các chỉ tiêu kiểm nghiệm phù hợp: thuần khiết, an toàn, hiệu lực

và khả năng sinh miễn dịch của đàn gà với vacxin

Phương pháp nghiên cứu

Trong nghiên cứu này, tế bào được nuôi trong điều kiện thích hợp về môi trường, thời gian nuôi cấy và số lượng tế bào Để đánh giá được các điều kiện thích hợp trên sử dụng phương pháp đếm số bằng buồng đếm Neubauer và quan sát hình thái, sự phát triển của tế bào bằng kính hiển vi soi ngược

Sau thời gian nuôi cấy thích hợp tiến hành gây nhiễm virut trên tế bào Bằng

kính hiển vi soi ngược, đã xác định được các điều kiện thích hợp để gây nhiễm virut trên tế bào mang lại hiệu giá virut cao

chuẩn kiểm nghiệm vacxin Gumboro nhược độc đông khô theo TCVN 8669-6:2011 đã xác định được tỷ lệ sữa thích hợp bổ trợ đông khô vacxin có hiệu giá cao đáp ứng được các tiêu chuẩn kiểm nghiệm vacxin

Trang 11

THESIS ABSTRACT

Author: Do Thi Hien

Thesis title: "Research attenuated Gumboro vaccine production on a global freeze-dried chicken embryo fibroblasts"

Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)

Gumboro disease or infectious bursal disease- IBD is an acute infection in chicken, almost in chicken at 3 to 6 week of age Gumboro disease caused by Birnavirus, belongs to Birnaviridae family Gumboro virus attacks to bursal of Fabricius and lymphoid organs, destroys B lymphocytes, causes immune deficiency in chicken Flock morbidity is high, from 80 to 100% Mortality rate can range from 5 to 30%, The hypervirulent field strains caused up to 90% mortality The economic impact of IBD is severe, there are no specific treatment recently The most effect prevention is vaccination rationally to generate antibodies against Gumboro virus

In present study, we designed almost conditions including medium, time for culture, optimal quatity of cell to confirm of cell culture processing and cytopathology

of IBD virus in chicken embryo fibroblast

After determining these optimal conditions in chicken embryo fibroblast (CEF),

we confirmed all factors which afffect to virus propagation such as medium, time, serum concentration and multiplicity of injection IBD virus from 2512 master seed adapted in chicken embryo was used for the propagation in CEF cells in this study Finally, we found appropriate propagate processing with high virus titer

We also determined skim milk ration used for lyophilized live-attenuated vaccine reached the QC target about perceptible, physical test, moisture, vacuum, safety and potency

Since then, we establish manufacture processing and qualify control tests for Gumboro vaccine adapted in CEF cells

Research purposes

Set up a manufacture processing for Gumboro vaccine adapted in CEF cells Evaluate optimal QC tests such as Integrity, Safety, Potency and the immune status of breeder flocks

Trang 12

Research Methods

In this study, CEF cells were cultured with appropriate conditions including medium, time and number of cells for culture We counted number of cells by using Neubauer chamber and observed shape, cell development through microscope

After culturing, cells were inoculated by IBD virus We determined the optimal conditions for virus propagation by evaluating the virus titer and CPE observation

We determined appropriate skim milk ration for lyophilized live-attenuated vaccine with high titer by using TCID50 assay and QC standards following TCVN 8669-6:2011

Main results and conclusions

Research has completed the conditions suitable for cell culture of chicken embryo fiber

Has launched the process suitable for human Gumboro virus infection on chicken embryo fibroblasts

Tested and given supplementary formula suitable for production testing Gumboro vaccine on chicken embryo fibroblasts

Successful production test 3 batches to achieve the targeted Gumboro vaccine testing: the physical sense, safety, purity and efficacy with high viral titers

Trang 13

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Trong cơ chế thị trường hiện nay, ngành chăn nuôi gia cầm, đặc biệt là chăn nuôi gà phát triển đáng kể Nhiều giống gà mới cho năng suất trứng, thịt cao với chất lượng thơm ngon, bổ dưỡng đã được nhập vào nước ta nhằm đáp ứng nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng Tuy nhiên công tác thú y và chăm sóc sức khoẻ đàn gà lại phải đối mặt với nhiều thách thức mới Nhiều bệnh truyền nhiễm gia cầm đã xuất hiện như Newcastle, Đậu gà, Tụ huyết trùng gà…Một trong những bệnh thường xảy ra gây thiệt hại không nhỏ cho người chăn nuôi phải kể đến đó là bệnh Gumboro Những năm của thập kỷ 80, bệnh Gumboro xảy ra nhiều ở gà 3 - 6 tuần tuổi với những triệu chứng lâm sàng và bệnh tích điển hình, nhưng sang thập kỷ 90 bệnh Gumboro ở nước ta lại diễn biến phức tạp hơn, gà dưới 2 tuần tuổi và sau 9 tuần tuổi cũng mắc bệnh, đồng thời bệnh xảy ra ở những đàn gà chăn nuôi theo lối công nghiệp cũng như các đàn gà nuôi trong các hộ gia đình

Gumboro là một bệnh truyền nhiễm cấp tính của gà, do virus gây ra Bệnh gây thiệt hại không chỉ ở tỷ lệ chết mà đặc biệt là gây ra tình trạng suy giảm miễn dịch Sự suy giảm miễn dịch chủ yếu là do mầm bệnh tấn công trực tiếp vào túi Fabricius - cơ quan sản sinh miễn dịch dịch thể ở gia cầm, từ đó làm cho gia cầm giảm hoặc mất khả năng đáp ứng miễn dịch đối với nhiều loại vacxin phòng bệnh khác như: Newcastle, Lasota, Đậu gà, …Cho tới nay chưa

có thuốc điều trị đặc hiệu

Chủng ngừa vacxin là một trong những biện pháp có hiệu quả cao giúp phòng ngừa bệnh Hiện nay trên thị trường chủ yếu sử dụng các loại vacxin nhập ngoại với giá thành cao và khá thụ động về nguồn vacxin Việc sản xuất một loại vacxin trong nước với giá thành phải trăng và hơn nữa là có thể chủ động được nguồn vacxin là rất cần thiết.Vấn đề đặt ra là làm sao có được một loại vacxin Gumboro sản xuất trong nước với một quy mô lớn, có hiệu lực tốt, có khả năng bảo hộ cao đáp ứng yêu cầu phòng bệnh Gumboro trong điều kiện dịch bệnh diễn biến ngày càng phức tạp, đồng thời loại vacxin đó phải có giá thành cạnh tranh, bảo quản, vận chuyển dễ dàng

Trang 14

Để đóng góp phòng chống bệnh Gumboro và giải quyết những vấn đề nêu trên chúng tôi tiến hành đề tài:

“Nghiên cứu sản xuất vacxin Gumboro nhược độc trên tế bào xơ phôi gà” 1.2 MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI

Xác định được quy trình sản xuất vacxin Gumboro trên môi trường tế bào

Thời gian thực hiện đề tài 12 tháng

Đề tài được thực hiện tại công ty cổ phần dược phẩm và vật tư thú y Hanvet

1.4 Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI:

Sự thành công của đề tài là cơ sở trong sản xuất vacxin dùng phòng bệnh Gumboro cho đàn gà con đạt hiệu quả cao Góp phần ngăn chặn dịch bệnh Gumboro lây lan trong chăn nuôi gia cầm

Sản xuất vacxin trên tế bào xơ phôi mang lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần làm giảm giá thành sản phẩm so với các loại vacxin ngoại nhập

Trang 15

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ BỆNH GUMBORO

Bệnh Gumboro (Hay còn gọi là bệnh viêm túi huyệt truyền nhiễm – Infectious Bursal Disease-IBD) là một bệnh truyền nhiễm cấp tính ở gà, chủ yếu

là gà 3-6 tuần tuổi Bệnh Gumboro do Birnavirus thuộc họ Birnaviridae gây ra Virut cường độc Gumboro tấn công vào túi Fabricius và các cơ quan có thẩm quyền miễn dịch, gây huỷ hoại tế bào lympho B, làm suy giảm miễn dịch ở gà Bệnh có tỷ lệ nhiễm rất cao từ 80% đến 100% cá thể trong đàn.Tỷ lệ chết do bệnh Gumboro thường từ 5 – 30%, nếu nhiễm chủng virus có độc lực cao thì tỷ

lệ chết có thể tới 90% Bệnh Gumboro gây thiệt hại kinh tế nặng nề, cho đến nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu Biện pháp phòng bệnh có hiệu quả nhất là sử dụng vacxin một cách hợp lý để tạo cho đàn gà có một lượng kháng thể chống lại

sự tấn công của virus Gumboro

2.1.1 Lịch sử và tình hình bệnh Gumboro trên thế giới và ở Việt Nam

2.1.1.1 Lịch sử bệnh và tình hình bệnh Gumboro trên thế giới

Bệnh Gumboro được phát hiện đầu tiên vào năm 1957 tại vùng Gumboro thuộc bang Delaware của Mỹ, nhưng đến năm 1962 mới được mô tả cặn kẽ và công bố với cái tên ban đầu là bệnh viêm thận gia cầm (Avian Nephrosis) do có

sự huỷ hoại ở vùng vỏ thận (Cosgrove A.S, 1962)

Khi bắt đầu nghiên cứu phân lập mầm bệnh, người ta đã nhầm với mầm bệnh của hội chứng viêm thận (Hitchner S.B., 1970) đã mô tả một loại virus Gray phân lập được từ một ca bệnh viêm thận không khác những hội chứng viêm thận mà Cosgrove đã miêu tả Chính vì vậy các tác giả đã cho rằng virus Gray là nguyên nhân gây bệnh Gumboro Những nghiên cứu tiếp theo cho thấy gà được miễn dịch bằng virus Gray vẫn bị mắc bệnh Gumboro và một đặc trưng của bệnh này là túi Fabricius bị biến đổi rõ rệt Năm 1964, Hitchner đã phân lập thành công mầm bệnh trên phôi gà, đó là mầm bệnh gây viêm túi Fabricius

Đến năm 1970, Hitchner cũng đã xác định kết quả trên và đề nghị gọi bệnh đã gây bệnh lý đặc biệt ở túi fabricius là bệnh viêm túi huyệt truyền nhiễm (Infectious Bursal Disease) hay còn gọi là bệnh Gumboro

(Allan W.H.et al., 1972) đã công bố virut gây bệnh Gumboro khi nhiễm vào gà con ở giai đoạn sớm sẽ gây suy giảm miễn dịch Sự phát hiện khả năng

Trang 16

gây suy giảm miễn dịch của bệnh Gumboro đã làm tăng sự quan tâm đến việc khống chế bệnh này

Năm 1980, đã phát hiện ngoài virut Gumboro thuộc Serotype 1 còn có virut Gumboro thuộc Serotype 2, từ đó việc phòng chống bệnh Gumboro càng trở nên phức tạp hơn (Mc Ferran J.B.et al., 1980)

Trước năm 1987 ở Bỉ và Pháp đã tồn tại bệnh Gumboro với các chủng virus có độc lực thấp, gây thiệt hại dưới 1% tổng đàn, gà chậm lớn và suy giảm miễn dịch Đầu năm 1987, lần đầu tiên ở Bỉ và biên giới giữa nước Đức và Bỉ xuất hiện các chủng virus có độc lực cao ở các trại gà thịt, gây chết 50% đến 80%

số gà trong đàn, mặc dù những nơi này thường xuyên làm tốt công tác vệ sinh tiêu độc Tháng 7 năm 1987 chủng virus có độc lực rất cao lan khắp nước Bỉ và các nước Bắc Âu

Như vậy, bệnh Gumboro có ở hầu hết các nước trên thế giới

2.1.1.2 Bệnh Gumboro ở Việt Nam và một số nghiên cứu về bệnh

Năm 1981 các chuyên gia Hungary và chuyên gia Việt nam đã phát hiện bệnh Gumboro có ở một số cơ sở chăn nuôi gà công nghiệp miền Bắc Việt Nam Cũng trong năm này, bệnh Gumboro xảy ra ở trại gà Cục hậu cần quân khu 5 Đà Nẵng đãlàm chết 27% đàn gà (Nguyễn Đăng Khải, 1988)

Năm 1982 Viện thú y Quốc gia đã chính thức công bố bệnh Gumboro Năm 1987 là năm khởi đầu của sự bùng nổ bệnh Gumboro ở Việt nam Bệnh xảy

ra rất nặng ở xí nghiệp gà Phúc Thịnh và xí nghiệp gà Cầu Diễn thuộc liên hiệp gia cầm Hà nội và một số cơ sở khác Nhiều trại gà đã phải thanh lý hoàn toàn (Nguyễn Đăng Khải, 1988)

Chẩn đoán đàn gà bệnh ở khu vực chăn nuôi gia đình, (Phương Song Liên, 1996) có nhận xét: tổng số đàn gà nhiễm bệnh Gumboro tăng lên rõ rệt qua các năm, từ 19,23% số đàn nhiễm Gumboro trong năm 1989 lên 90,31 % số đàn năm

1995 trong tổng số đàn gà bệnh được kiểm tra

Khảo sát tình hình dịch bệnh ở 786 đàn gà gồm 217.710 gà nuôi tập trung trong gia đình ở một số tỉnh phía Bắc (1996 - 1998), (Lê Văn Năm, 1997) đã nhận xét: Bệnh Gumboro xảy ra rất phổ biến và ngày càng phức tạp, có tới 31,59% số đàn bị thiệt hại

Như vậy, bệnh Gumboro đã xuất hiện ở nước ta ít nhất từ những năm đầu thập kỷ 80 tới nay và là bệnh gây thiệt hại nặng nề cho đàn gà Trong những năm

Trang 17

chưa sử dụng vacxin Gumboro phòng bệnh cho gà trong đàn gà đã tồn tại mầm bệnh và kháng thể Gumboro (Trần Thị Tố Liên, 1996)

Kể từ sau khi công bố có bệnh Gumboro ở Việt Nam, đặc biệt là từ năm

1987 khi bệnh dịch Gumboro nổ ra ở nhiều trại gà công nghiệp, gây thiệt hại kinh tế nặng nề Việc tập trung nghiên cứu các biện pháp chẩn đoán phát hiện, phòng chống bệnh đã được các nhà chuyên môn quan tâm Từ đó đến nay đã

có nhiều công trình nghiên cứu Phòng thí nghiệm của Bộ môn virut - Viện thú y quốc gia bước đầu nghiên cứu sản xuất vacxin Gumboro (Nguyễn Tiến Dũng, 1996)

Năm 1994, Xí nghiệp thuốc thú y Trung ương đã bước đầu nghiên cứu sản xuất vacxin Gumboro nhược độc đông khô trên tế bào xơ phôi gà chủng 2512 (Trần Thị Liên và Trần Khâm, 1999) Bên cạnh các đề tài nghiên cứu về sản xuất vacxin còn có các đề tài về ứng dụng vacxin như: "Đáp ứng miễn dịch của gà sinh sản được tiêm vacxin Gumboro vô hoạt nhũ dầu Việt Nam và khả năng truyền kháng thể thụ động cho đàn con của chúng" (Phạm Công Hoạt, 1998), Phan Văn Lục và cs (1996) với "Nghiên cứu ứng dụng vacxin Gumboro sản xuất trong nước"

2.1.2 Virut Gumboro

2.1.2.1 Cấu trúc virut Gumboro

Virut Gumboro hay còn gọi là virut gây viêm túi huyệt truyền nhiễm (Infectious Bursal Disease virus -IBDV) là thành viên của họ Birnaviridae

Hình 2.1 Cấu trúc virus Gumboro (expasy.org) Virut Gumboro có dạng hình khối đa diện đường kính khoảng 60-70 nm, dưới kính hiển vi điện tử có thể quan sát thấy tập hợp virus Gumboro trông giống

Trang 18

như tổ ong, xếp đều đặn cạnh nhau Mỗi nguyên sinh chất có thể chứa một vài tập hợp virut Toàn bộ hạt virut có phân tử lượng 2,2-2,5 x 106 Dalton Có hằng

Hình 2.2 Genome virus Gumboro

Hệ gen của virut mang thông tin di truyền và có trách nhiệm tổng hợp 5 loại protein: VP1, VP2, VP3, VP4 và VP5 Các protein này có trọng lượng phân

tử khác nhau Các chủng virut Gumboro đều có mức độ giống nhau ở các gen quy định tổng hợp protein VP1, VP3, VP4 và VP5, chúng chỉ khác nhau ở gen quy định tổng hợp VP2

2.1.2.2 Cấu trúc kháng nguyên

* Các chủng virut Gumboro:

là người đầu tiên công bố về các chủng virut Gumboro phân lập ở châu

Âu Theo tác giả thì tất cả các loại virut Gumboro đều thuộc hai biến thể (Serotype) đó là Serotype 1 và Serotype 2 Kết quả này cũng tương tự như kết quả mà (Jackwood D.Jvà cộng sự, 1982) đã phân lập ở Mỹ và ở Châu Âu, cũng được gọi dưới tên là Serotype 1 và Serotype 2

Serotype 1 thường gây bệnh cho gà nhà, Serotype 2 thường gây bệnh cho

gà tây Giữa hai Serotype cũng có sự khác biệt về tính kháng nguyên và ngay trong cùng một Serotype thì tính kháng nguyên cũng khác nhau Giữa các biến

Trang 19

chủng của Serotype 1 và các chủng gốc trong Serotype này chỉ có tương đồng kháng nguyên khoảng 30% Đây là lưu ý cần thiết trong việc chọn và sử dụng các loại vacxin phòng bệnh Gumboro bởi giữa virut Serotype 1 và 2 không tạo miễn dịch chéo Khi gây miễn dịch phòng bệnh bằng vacxin virut Serotype 2 thì không bảo hộ chống lại virut Serotype 1

* Cấu trúc kháng nguyên virut Gumboro:

Cấu trúc kháng nguyên của virus Gumboro tập trung ở phần vỏ (capsid) Khi gà bị nhiễm virus Gumboro thì trong cơ thể gà sẽ hình thành kháng thể kết tủa và kháng thể trung hoà Các tác giả đã mô tả hai cấu trúc kháng nguyên khác nhau của virus Gumboro như sau:

+ Kháng nguyên kết tủa:

Chủ yếu do loại protein đặc hiệu nhóm (Group Specific = GS) chịu trách nhiệm Kháng nguyên đặc hiệu nhóm khi kết hợp với kháng thể sẽ tạo nên phản ứng kết tủa Kháng nguyên đặc hiệu nhóm được sản xuất rất nhiều giải phóng ra khỏi tế bào tạo nguyên liệu để thực hiện quá trình nhân lên, gây bệnh của virut cũng như quá trình đáp ứng miễn dịch đối với vacxin Gumboro

+ Kháng nguyên trung hoà:

Kháng nguyên trung hoà nằm ở vỏ bọc virus và tham gia vào phản ứng trung hoà Kháng nguyên trung hoà chủ yếu do loại protein đặc hiệu type (TS

=Type Specific) đảm nhiệm Kháng nguyên đặc hiệu type là một phức hợp bao gồm nhiều protein kết hợp, trong đó có protein quyết định tính gây bệnh của virus, do vậy trong miễn dịch bảo hộ, quá trình trung hoà xảy ra giữa kháng thể với kháng nguyên trung hoà đặc hiệu sẽ vô hiệu hoá tính gây bệnh này

Một điều quan trọng là hai loại kháng nguyên đặc hiệu type và đặc hiệu nhóm cùng được sản xuất như nhau Do vậy khi tiếp xúc với hệ miễn dịch, chúng đều kích thích sản sinh kháng thể trung hoà và kết tủa theo một tỷ lệ thuận 2.1.2.3 Sự nhân lên và hủy hoại của virus Gumboro trên tế bào

* Mối quan hệ giữa virut và tế bào:

Trong điều kiện tối ưu về môi trường, và nhiệt độ, sự xâm nhiễm của virut vào tế bào chủ sẽ xảy ra theo một trong các hướng sau:

(1) Virut không xâm nhập được vào tế bào, tế bào vẫn còn nguyên vẹn và phát triển bình thường

Trang 20

(2) Virut xâm nhập vào tế bào thích ứng, kết quả là tế bào bị tổn thương một phần hoặc toàn phần

(3) Tế bào chống lại virut tức là tế bào sau khi bị nhiễm virut, tế bào cảm ứng

sẽ sản xuất ra một chất gọi là cản nhiễm tố (Interferon) làm ngăn cản sự xâm nhập của virut vào tế bào lành bên cạnh

* Sự nhân lên của virut trong tế bào:

Giống như các virut ARN khác, sự gây nhiễm của virut Gumboro trên tế bào cũng trải qua các giai đoạn hấp phụ, xâm nhập tế bào, giai đoạn tổng hợp protein và lắp ráp các nucleocapsid cuối cùng là giai đoạn giải phóng hạt virus Giai đoạn hấp phụ và xâm nhập xảy ra rất nhanh sau khi virut cố định vào một thụ thể đặc hiệu ở màng bào tương Vỏ bọc virut dính liền vào màng bào tương

và bị tiêu huỷ bởi enzyme Khi xâm nhập vào bào tương, các protein của virut đầu tiên được tổng hợp là nucleocapsid Sau đó các nucleocapsid di chuyển ra phía ngoài màng và tụ lại ở màng bào tương Hai thành phần chủ yếu của virut là protein và axit nucleic được tổng hợp ở hai nơi khác nhau sau đó mới kết hợp lại thành hạt virut hoàn chỉnh (virion) Sau đó, virut xúc tiến tế bào tổng hợp một protein mới gọi là protein ức chế có tác dụng đình chỉ mọi hoạt động của tế bào, chỉ đảm bảo những hoạt động phục vụ cho virut ARN của virut sẽ được tổng hợp trong nguyên sinh chất của tế bào và xúc tiến quá trình sao chép thành ARN thông tin (mARN)

Giai đoạn cuối cùng, các hạt virus dịch chuyển đến sát màng bào tương

đã bị biến đổi, các hạt virus được giải phóng khỏi tế bào

* Sự huỷ hoại tế bào của virut:

48 giờ sau khi gây nhiễm trên tế bào xơ phôi gà, virut Gumboro đã gây bệnh tích tế bào Sự nhân lên của virut Gumboro dẫn đến sự huỷ hoại tế bào Có

3 loại huỷ hoại tế bào:

+ Huỷ hoại bệnh lý: Lượng virut lớn tấn công vào hàng loạt tế bào gây ra

sự huỷ hoại Ít nhất là 80%-90% tế bào bị huỷ hoại Nếu thu hoạch vacxin ở giai đoạn này thì hàm lượng virut đạt rất cao

+ Huỷ hoại non: Do nồng độ virut gây nhiễm lên tế bào quá cao làm cho những tế bào xung quanh bị huỷ hoại nhưng một số tế bào ở giữa chưa bị nhiễm virut lại phát triển Khi đó tiến hành thu hoạch vacxin thì hàm lượng virut cũng không đạt

Trang 21

+ Huỷ hoại già: Huỷ hoại do virut không đáng kể, chủ yếu do tế bào già điều kiện nuôi dưỡng kém, môi trường dinh dưỡng đã hết các axit amin pH môi trường thay đổi dẫn đến các tế bào bong ra và nổi lơ lửng trong môi trường nuôi cấy

Sự huỷ hoại tế bào do virut gây ra thường biểu hiện ở 2 dạng:

Dạng thứ 1: dạng này tương đối điển hình do hiện tượng liên hợp của tế bào trong quá trình nhân lên của virut, virut gây ra sự xáo trộn các chức năng phân chia của tế bào dẫn đến sự hình thành các tế bào đa nhân

Dạng thứ 2: ngược lại, không có sự liên hợp tế bào Các tế bào co rút lại, tạo thành các hình sợi hoặc hình tròn Người ta cũng có thể tìm thấy nhiều đám tế bào hình tròn co cụm lại

2.1.3 Bệnh Gumboro

2.1.3.1 Cơ chế sinh bệnh

Theo (Nakai T and H Hirai, 1981) thì túi Fabricius là cơ quan đích của virut Gumboro Sau khi xâm nhiễm vào cơ thể vật chủ, virut tập trung ở cơ quan lympho chủ yếu là túi Fabricius, chúng tấn công các mô lympho và các nang túi gây xuất huyết phù thũng và sưng túi Ngày thứ 4 sau khi gây nhiễm, túi Fabricius có thể to gấp 2-3 lần so với lúc đầu, virut kìm hãm chức năng của các

tế bào lympho, gây hoại tử tế bào làm túi Fabricius bắt đầu teo dần Đến ngày thứ

8 sau khi gây nhiễm, túi Fabricius chỉ còn bằng 1/3 kích thước ban đầu Sự tấn công của virus Gumboro vào các tế bào lympho B gây phá huỷ và thoái hoá, làm giảm số lượng tế bào Số tế bào thoái hoá mất đi của các nang lympho và các tế bào lympho B là không thể bù đắp nên nó ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh miễn dịch của túi Fabricius, gây hiện tượng suy giảm miễn dịch của gia cầm (Lê Thanh Hoà, 1992)

Mức độ suy giảm miễn dịch phụ thuộc vào độc lực và thời điểm xâm nhập của virut Gumboro

Virut Gumboro tấn công gây chết tế bào, phá huỷ các sản phẩm trao đổi chất, từ đó gây tắc mạch quản và hoại tử tế bào, gây xuất huyết thẩm dịch Đó là biểu hiện đặc trưng của bệnh (Hudson P.J et al., 1986)

(Kosters J.và cộng sự, 1972) cho rằng, virut Gumboro tác động làm tăng thời gian đông máu gây hiện tượng bệnh lý đông máu, trong hệ tuần hoàn xuất hiện các cục huyết khối có kích thước khác nhau làm nghẽn mao mạch mà chủ yếu là ở vùng niêm mạc túi Fabricius, ở cơ ngục, cơ lườn, thận, lách, gan Sự nghẽn mao mạch dẫn đến hiện tượng xung huyết và xuất huyết

Trang 22

Do đặc tính sinh lý của gia cầm, do cơ chế tiến triển và tác động sinh bệnh của virus Gumboro, cũng như do ảnh hưởng không nhỏ của ngoại cảnh

mà bệnh Gumboro thông thường chỉ xảy ra ở gà có độ tuổi từ 3 - 6 tuần tuổi hoặc 7 tuần

Như vậy, virut Gumboro gây bệnh cho gà con biểu hiện ở 2 khía cạnh:

- Gây bệnh cho gà mẫn cảm (3-6 tuần tuổi) với các triệu chứng lâm sàng

và bệnh tích điển hình

- Gây hiện tượng suy giảm miễn dịch ở gà dưới 2 tuần tuổi

Hiểu được cơ chế sinh bệnh và tác hại của bệnh để có biện pháp sử dụng vacxin vào thời điểm thích hợp trên cơ sở đó, ngăn chặn sự thiệt hại do bệnh gây ra 2.1.3.2 Triệu chứng lâm sàng

Hình 2.3 Bệnh tích bệnh Gumboro ở cơ đùi

Hình 2.4 Xuất huyết tại cơ đùi Những ổ dịch cấp tính có triệu chứng lâm sàng xảy ra trong những đàn gà hoàn toàn mẫn cảm Bệnh xảy ra đột ngột, diễn biến nhanh, tỷ lệ ốm cao, có khi

Trang 23

tới 100%, tỷ lệ chết từ 5 - 30%, thực tế có đàn chết trên 50% Bệnh Gumboro có thời gian ủbệnh ngắn, thường sau 1-2 ngày gà đã xuất hiện triệu chứng lâm sàng Một trong những biểu hiện sớm nhất của triệu chứng lâm sàng là gà tự quay đầu

về phía hậu môn để mổ

(Cosgrove A.S, 1962) đã mô tả bệnh như sau: Lông vũ quanh hậu môn bẩn, phân có nhiều nước trong hoặc lẫn muối urat màu trắng, gà bỏ ăn, mệt mỏi, lông

xơ xác, run rẩy, nằm sụp xuống, mất nước, thời kỳ cuối nhiệt độ cơ thể giảm thấp hơn bình thường, gà kiệt sức dần rồi chết Do mất nước nên gà uống nhiều nước và

ỉa chảy nhiều dẫn đến sự mất cân bằng về trao đổi giữa ion và nước trong cơ thể 2.1.3.3 Bệnh tích

Hình 2.5 Bệnh tích ở túi Fabricius

Trang 24

 Vi thể:

Biến đổi vi thể trong bệnh Gumboro xảy ra đầu tiên ở các cơ quan có tổ chức lympho và các cơ quan tạo miễn dịch như túi Fabricius, lách, tuyến ức, và hạch amidal biến đổi chủ yếu và lớn nhất vẫn là ở túi Fabricius Bệnh tích vi thể xuất hiện rất sớm, chỉ trong vòng vài giờ đến vài chục giờ sau khi virus nhiễm vào cơ thể

Toàn bộ các nang túi đều bị huỷ hoại nghiêm trọng vào ngày thứ 3 hoặc 4 sau khi nhiễm Trong giai đoạn này túi Fabricius sưng to, khối lượng túi tăng do xung huyết, thuỷ thũng và do sự tăng sinh của các tế bào dị nhân Khi phản ứng viêm mất dần, sự huỷ hoại vùng tuỷ của nang túi bắt đầu, khoang rỗng giữa các nang nới rộng, đồng thời diện tích các nang hẹp lại

Lách cũng có biến đổi vi thể rất sớm, chủ yếu là sự tăng sinh các tế bào võng nội mô REC trong giai đoạn đầu nhiễm bệnh Tuyến ức có một vài biến đổi trong các mô lympho vào giai đoạn đầu của bệnh Nhưng cũng như lách, các biến đổi không tồn tại lâu và hồi phục sớm hơn

Các bệnh tích vi thể ở thận là không đặc trưng và có thể là do sự mất nước trầm trọng gây ra (Helmboldt C.F and E Garner, 1964) bệnh tích ở thận chỉ gặp

ở 5% số gà được kiểm tra

2.1.3.4 Chẩn đoán bệnh Gumboro

Tổ chức Dịch tễ Quốc tế (OIE) đã liệt kê bệnh Gumboro vào nhóm bệnh thuộc bảng B và đã có khuyến cáo đầy đủ về các phương pháp chẩn đoán bệnh (OIE, 1992) Cũng như một số bệnh do virut khác, chẩn đoán bệnh Gumboro về nguyên lý cũng dựa trên lâm sàng và một số phương pháp trong phòng thí nghiệm (Lê Thanh Hoà, 1992) đã liệt kê các phương pháp chẩn đoán bệnh Gumboro bao gồm:

- Chẩn đoán qua sự tiến triển dịch tễ học của bệnh

- Chẩn đoán qua triệu chứng lâm sàng

- Chẩn đoán qua bệnh tích đại thể

- Chẩn đoán bằng bệnh lý tổ chức vi thể

- Chẩn đoán bằng phương pháp phân lập virus

- Chẩn đoán bằng phương pháp huyết thanh học

- Chẩn đoán phát hiện và giám định virus Gumboro bằng kính hiển vi điện tử

Trang 25

- Chẩn đoán phân biệt

- Chẩn đoán bằng kỹ thuật RT-PCR (Reverse Transcriptate Polymerase Chain Reaction)

- Chẩn đoán nhanh bằng miễn dịch học sắc ký (Immuno Chromatographic test-ICT)

2.2 MIỄN DỊCH CHỐNG BỆNH GUMBORO

2.2.1 Khái niệm chung

Miễn dịch là khả năng phòng vệ của cơ thể đối với các yếu tố mang thông tin di truyền ngoại lai Vì vậy, khi kháng nguyên xâm nhập vào cơ thể, cơ thể tự bảo vệ mình trước hết bằng các cơ chế miễn dịch không đặc hiệu, tham gia vào

cơ chế này gồm có các đại thực bào, các tế bào giết tự nhiên, hệ thống Propecdin,

Nói về miễn dịch bệnh Gumboro, người ta phải đề cập tới túi Fabricius ở gia cầm nói chung và ở gà nói riêng

Túi Fabricius là cơ quan lympho biểu mô nằm ở mặt trong của lỗ huyệt, phía trên trực tràng Túi Fabricius còn gọi là túi bạch huyết, túi huyệt Túi có cuống thông với trực tràng Túi có nhiều ngăn nhỏ như múi khế tạo nên các xoang chứa tế bào lympho Túi Fabricius là nơi tiếp nhận các nguyên bào lympho, rồi huấn luyện, biệt hoá để trở thành lympho B có vai trò quan trọng trong đáp ứng miễn dịch dịch thể Túi Fabricius và tuyến ức đóng vai trò chủ yếu trong sự phát triển đầy đủ thẩm quyền miễn dịch ở gia cầm, trong đó túi Fabricius đáp ứng về sự hình thành kháng thể trong miễn dịch dịch thể, còn tuyến

ức có tác dụng trong miễn dịch trung gian tế bào hoặc hiện tượng quá mẫn chậm

Trang 26

Các tế bào sơ khai của Fabricius và thymus (tuyến ức) đã bắt đầu xuất hiện trong khoảng ngày thứ 4 hoặc thứ 5 của giai đoạn phát triển phôi Tế bào tiền lympho của Bursa có nguồn gốc từ túi lòng đỏ Lúc phôi gà 19-20 ngày tuổi, Bursa đã có màng sinh lympho Các nang túi hình thành lúc gà 1 ngày tuổi, nhưng hoàn chỉnh lúc 2 tuần tuổi

Khi gà được 2-3 tuần tuổi, Fabricius và thymus phát triển và hoạt động nhịp nhàng Túi teo hoàn toàn khi trọng lượng cơ thể đạt lớn nhất Hiểu được quá trình phát triển của túi Fabricius sẽ giải thích được khả năng cảm nhiễm bệnh theo tuổi và tầm quan trọng của miễn dịch thụ động trong bệnh Gumboro cũng như việc chọn thời điểm thích hợp dùng vacxin đối với các quần thể gà trong những điều kiện dịch tễ khác nhau (Trần Thị Tố Liên, 1996)

2.2.2 Cơ chế miễn dịch chống bệnh Gumboro

Miễn dịch chống bệnh Gumboro ở gà chủ yếu là miễn dịch dịch thể do các

tế bào lympho B và túi fabricius đảm nhiệm Tuy nhiên có sự tham gia của tuyến

ức và lách Tế bào miễn dịch có nguồn gốc từ tế bào nguồn Sau khi sinh ra, chúng di tản tới các cơ quan lympho trung tâm (túi Fabricius) Tại đây chúng được biệt hoá thành các tế bào lympho B Sau đó chúng di tản đến các cơ quan ngoại biên như lách, thận, gan

Lúc đầu khi kháng nguyên kích thích thì kháng thể không được sinh ra ngay mà phải qua một thời gian nhất định, thường là 5-7 ngày mới xuất hiện và đạt hàm lượng cao nhất sau 15-21 ngày Kháng thể được duy trì một thời gian rồi giảm dần sau vài tháng hoặc vài năm, điều này còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như trạng thái sức khoẻ của cơ thể, điều kiện ngoại cảnh, điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng Nhưng quan trọng hơn cả vẫn là bản chất của kháng nguyên

Khi kháng nguyên xâm nhập vào cơ thể ở lần tiếp theo, các tế bào sinh kháng thể lần đầu chỉ việc “nhớ lại” để sinh kháng thể, các kháng thể đặc hiệu này sẽ kết hợp với kháng nguyên tạo thành một phức hợp kháng nguyên - kháng thể và kết quả là kháng nguyên bị loại trừ Hiện tượng các tế bào sinh kháng thể

“nhớ lại” gọi là hiện tượng “trí nhớ miễn dịch” có được nhờ sự tham gia của tế bào lympho B Dựa trên cơ chế của hiện tượng này người ta áp dụng cho việc

“tiêm phòng nhắc lại” Theo (Becht H et al., 1985): cả hai Serotype của virus Gumboro đều có kháng nguyên đặc hiệu nhóm, các kháng nguyên này có khả năng kích thích sản sinh ra kháng thể trung hoà virus

Trang 27

Khi nghiên cứu về miễn dịch chống bệnh Gumboro, người ta thường đề cập tới miễn dịch chủ động và bị động Hai loại miễn dịch này phải được phối hợp chặt chẽ trên cơ sở tạo sự miễn dịch cho đàn gà nhằm bảo vệ chúng chống lại bệnh một cách tốt nhất đặc biệt đối với gà dưới 8 tuần tuổi (tuổi mẫn cảm với virus Gumboro)

Kháng thể thụ động có tác dụng ngăn chặn sự xâm nhiễm của virus cường độc Gumboro gây bệnh ở gà con trong những ngày tuổi đầu, và đồng thời chống lại sự suy giảm miễn dịch do virus Gumboro gây ra Ở những gà con đã có kháng thể thụ động từ mẹ truyền sang, ngay cả những gà có hàm lượng kháng thể thụ động rất cao nhưng khi bị nhiễm virus cường độc Gumboro thì chúng cũng không bảo vệ được túi Fabricius, virus cường độc vẫn nhân lên được ở trong túi song ở những gà này không biểu hiện lâm sàng của bệnh

(Lukert P.D and D Rifuliadi, 1982) đã làm thí nghiệm công cường độc Gumboro cho gà con một ngày tuổi có hiệu giá trung hoà bình quân là 1:654 và cho biết đã phân lập được virut cường độc Gumboro ở vùng trung tâm nang túi ngay sau khi gây nhiễm 3 ngày và virut tồn tại tới 14 ngày tuổi Đó là lý do tại sao ở những vùng không an toàn dịch người ta khuyến cáo các nhà chăn nuôi nên

sử dụng một loại vacxin nhược độc cho gà con từ lúc một ngày tuổi ngay tại nhà

ấp trước khi gà con tiếp xúc với môi trường Liều vacxin này không có ý nghĩa kích thích cơ thể sản sinh miễn dịch chủ động phòng bệnh Gumboro, mà chỉ để đảm bảo cho túi fabricius của toàn bộ số gà con nở ra đều có kháng thể thay cho việc túi fabricius bị virut cường độc tấn công

Hàm lượng kháng thể thụ động trong cơ thể gà con phụ thuộc vào khoảng thời gian từ khi dùng vacxin cho gà mẹ đến khi gà đẻ trứng Khi hiệu giá kháng thể Gumboro nhỏ hơn 1:100 thì 100% đàn gà mẫn cảm với virus Gumboro, nghĩa

Trang 28

là đàn gà có khả năng nhiễm bệnh Hiệu giá từ 1:100 đến 1:600 đàn gà được bảo

hộ 40%, còn nếu hiệu giá kháng thể trên 1:600 thì đàn gà được bảo hộ tốt (Lucio

B and S.B Hitchner, 1979)

Việc nghiên cứu kháng thể thụ động của gà con cho phép xác định thời điểm và số lần dùng vacxin thích hợp để bảo hộ được đàn gà không mắc bệnh Gumboro Cũng như nhiều bệnh khác, miễn dịch thụ động trong bệnh Gumboro

ở gà có thể gây trở ngại cho sự kích thích đáp ứng miễn dịch chủ động Vì vậy việc chọn thời điểm thích hợp để dùng vacxin cho gà con tới nay vẫn là vấn đề phức tạp

Biện pháp tạo miễn dịch bằng cách đưa vacxin vào cơ thể gia cầm là biện pháp phòng bệnh tích cực Vacxin sau khi vào cơ thể, đến các cơ quan có thẩm quyền miễn dịch, kích thích cơ thể sản sinh ra các kháng thể đặc hiệu Những kháng thể này tồn tại trong các dịch sinh học trong cơ thể như máu, hệ thống bạch huyết

Thông thường gà mái đẻ được tiêm vacxin vô hoạt nhũ dầu, đàn gà con được chủng vacxin nhược độc

Sự xuất hiện kháng thể dịch thể Gumboro trong máu có thể phát hiện và định lượng bằng các phản ứng huyết thanh học, khi gà khỏi bệnh hàm lượng kháng thể trung hoà virus thường cao hơn 1:1000 (Lukert P.D and Y.M Saif, 1991) Gà ở độ tuổi còn non sau khi tiếp xúc với virus trong vacxin bằng đường miệng có thể tạo ra kháng thể, nhưng ở gà có độ tuổi lớn hơn thì phải đưa vacxin vào đường tiêm bắp hoặc dưới da mới tạo ra được kháng thể

Khi hiệu giá kháng thể trung hoà trong cơ thể gà lớn hơn 600 thì gà có khả năng chống lại công cường độc (Hitchner S.B., 1970) Trong điều kiện sức khoẻ cơ thể bình thường, việc áp dụng đúng chủng loại vacxin, đúng liều, đúng thời điểm và vacxin có chất lượng tốt thì hầu như sẽ tạo được miễn dich dịch cao

và đặc hiệu cho đàn gà

Trang 29

Ở các trại gà sinh sản, việc áp dụng quy trình khép kín bằng vacxin đã tạo cho đàn gà có sức miễn dịch tốt chống lại bệnh Theo (Kozlina B, 1989) nếu gà con được uống vacxin Gumboro nhược độc lúc 2 – 4 tuần tuổi thì hiệu giá kháng thể bảo hộ kéo dài tới 45 tuần tuổi và thế hệ gà con nhận được kháng thể thụ động một cách đầy đủ

2.3 VACXIN VÀ VACXIN PHÒNG BỆNH GUMBORO

2.3.1 Vacxin

Theo quan điểm trước đây, vacxin là một chế phẩm sinh học trong đó chứa chính mầm bệnh hoặc kháng nguyên của mầm bệnh gây ra một bệnh truyền nhiễm nào đó cần phòng Khi sử dụng cho động vật, vacxin tạo ra một đáp ứng miễn dịch chủ động giúp động vật chống lại được sự xâm nhiểm của mầm bệnh tương ứng

Ngày nay khái niệm về vacxin đã có sự thay đổi, nó không chỉ còn là chế phẩm từ sinh vật hoặc ký sinh trùng được dùng để phòng bệnh mà còn được làm

từ các vật liệu sinh học khác (không vi sinh vật) và được dùng với mục đích ngoài phòng bệnh Như vậy, hiện nay vacxin được hiểu là: vacxin là chế phẩm sinh học chứa kháng nguyên có thể tạo cho cơ thể một đáp ứng miễn dịch và được dùng với mục đích phòng bệnh hoặc với mục đích khác

Vacxin tạo ra trong cơ thể sống một đáp ứng miễn dịch Hệ thống miễn dịch của cơ thể hoạt động, sinh ra kháng thể đặc hiệu hoặc kháng tế tế bào chống lại những nhóm quyết định kháng nguyên của yếu tố gây bệnh, cơ thể sử dụng vacxin xuất hiện trạng thái miễn dịch thu được chủ động nhân tạo có khả năng chống lại sự xâm nhiễm của yếu tố gây bệnh tương ứng

* Đặc tính cơ bản của vacxin

Vacxin phải đảm bảo 4 đặc tính cơ bản sau:

- Tính sinh miễn dịch hay tính mẫn cảm

- Tính kháng nguyên hay tính sinh kháng thể

Ngày đăng: 17/11/2018, 16:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm