1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tăng cường huy động nguồn lực cho chương trình xây dựng nông thôn mới tại huyện yên định, tỉnh thanh hóa

123 121 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 2,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến huy động nguồn lực cho chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Yên Định chúng tôi đã đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

ĐỖ QUANG TRUNG

TĂNG CƯỜNG HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC

CHO CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

TẠI HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Tuấn Sơn

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo

vệ lấy bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám

ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Đỗ Quang Trung

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được

sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình

Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết

ơn sâu sắc PGS TS Nguyễn Tuấn Sơn đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Kế hoạch và đầu tư, Khoa Kinh tế - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp

đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức UBND huyện Yên Định và các hộ dân đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Học viên

Đỗ Quang Trung

Trang 4

Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về huy động nguồn lực xây dựng nông

2.1 Cơ sở lý luận về huy động nguồn lực để xây dựng nông thôn mới 4

2.1.2 Sự cần thiết của việc huy động nguồn lực để xây dựng nông thôn mới 8

2.1.4 Nội dung của công tác huy động nguồn lực để xây dựng nông thôn mới 11 2.1.5 Yếu tố ảnh hưởng đến khả năng huy động nguồn lực phục vụ chương

2.2 Cơ sở thực tiễn về huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới 23 2.2.1 Kinh nghiệm huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới ở các địa

2.2.2 Bài học kinh nghiệm cho huyện Yên Định trong huy động nguồn lực xây

Trang 5

Phần 3 Phương pháp nghiên cứu 32

4.1 Thực trạng huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới ở huyện Yên Định 47 4.1.1 Công tác chỉ đạo, điều hành chương trình xây dựng nông thôn mới 47 4.1.2 Đánh giá các giải pháp huy động nguồn lực ở huyện Yên Định 49

4.1.4 Kết quả xây dựng nông thôn mới huyện Yên Định đến năm 2015 72 4.1.5 Một số bài học kinh nghiệm của các đơn vị trên địa bàn huyện trong huy

4.1.6 Tồn tại, hạn chế trong quá trình huy động nguồn lực xây dựng nông thôn

4.2 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc huy động nguồn lực xây dựng

4.3.1 Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội huyện Yên Định 95 4.3.2 Nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới huyện Yên Định những năm tiếp theo 96 4.3.3 Giải pháp huy động nguồn lực đẩy nhanh tiến độ xây dựng nông thôn

Trang 6

THPT Trung học phổ thông

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Hiện trạng sử dụng đất đai huyện Yên Định năm 2015 35Bảng 3.2 Kết quả thực hiện kinh tế xã hội huyện Yên Định năm 2010-2015 37Bảng 3.3 Giá trị sản xuất nội bộ ngành nông nghiệp giai đoạn 2011 – 2015 39Bảng 3.4 Nhóm các xã hoàn thành chương trình nông thôn mới qua các năm

Bảng 3.5 Đối tượng và số phiếu điều tra ở các nhóm đối tượng 44Bảng 4.1 Ý kiến đánh giá của người dân về huy động nguồn lực phục vụ

Bảng 4.2 Đánh giá việc huy động vốn tín dụng cho xây dựng nông thôn mới

Bảng 4.3 Đánh giá doanh nghiệp tham gia xây dựng nông thôn mới trên địa

Bảng 4.4 Đánh giá cách thức huy động nguồn lực từ cộng đồng dân cư trên

Bảng 4.6 Huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới tại huyện Yên Định

Bảng 4.13 Kết quả thực hiện đầu tư xây dựng hạ tầng từ khi triển khai đến hết

Trang 8

Bảng 4.14 Kết quả thực hiện công tác phát triển sản xuất từ khi triển khai đến

Bảng 4.15 Kế hoạch và thực hiện huy động các nguồn lực phục vụ chương trình

nông thôn mới huyện Yên Định giai đoạn 2013 - 2015 68Bảng 4.16 Kết quả xây dựng cơ sở hạ tầng xây dựng nông thôn mới huyện Yên

Bảng 4.17 Kết quả phát triển giáo dục, y tế, văn hoá và bảo vệ môi trường

Bảng 4.18 Kết quả hoàn thành tiêu chí qua các năm 2013 – 2015 của các đợn

Bảng 4.19 Nhân tố ảnh hưởng đến huy động nguồn lực xây dựng nông thôn

Trang 9

DANH MỤC ĐỒ THỊ

Biểu đồ 3.1 Cơ cấu lao động theo ngành huyện Yên Định giai đoạn 2011 – 2015 36 Biểu đồ 3.2 Tốc độ tăng trưởng kinh tế huyện Yên Định giai đoạn 2011 - 2015 38 Biểu đồ 3.3 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại huyện Yên Định giai đoạn 2011 – 2015 39 Biểu đồ 3.4 Giá trị sản xuất nội bộ ngành nông nghiệp giai đoạn 2011 – 2015 40 Biểu đồ 3.5 Giá trị sản xuất / ha canh tác huyện Yên Định giai đoạn 2011 – 2015 40

Trang 10

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Đỗ Quang Trung

Tên luận văn: “Tăng cường huy động nguồn lực cho chương trình xây dựng

nông thôn mới tại huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa”

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế Mã số: 60.34.04.10

Cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Trong những năm vừa qua, công tác huy động nguồn lực cho chương trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Yên Định nói riêng và các địa phương khác trên cả nước nói chung gặp nhiều khó khăn, hạn chế Vì điều kiện về thời gian không cho phép, trong nghiên cứu này, chúng tôi tập trung phân tích, đánh giá thực trạng tình hình huy động nguồn lực cho chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa Từ đó, đề xuất các giải pháp tăng huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn tiếp theo Tương ứng với đó là mục tiêu cụ thể bao gồm: (1) Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về huy động nguồn lực cho chương trình xây dựng nông thôn mới; (2) phân tích, đánh giá thực trạng cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến việc huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới tại huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa; (3) Đề xuất giải pháp tăng cường huy động nguồn lực cho chương trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa những năm tiếp theo

Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng linh hoạt giữa số liệu thứ cấp và sơ cấp

để đưa ra các phân tích nhận định Trong đó số liệu thứ cấp được thu thập từ nguồn báo cáo văn bản liên quan đến nguồn lực huy động xây dựng nông thôn mới huyện Yên Định Số liệu sơ cấp được thu thập qua phiếu điều tra, phỏng vấn các đối tượng là cán

bộ quản lý nông thôn mới cấp huyện, xã và các hộ dân Tiến hành điều tra 110 phiếu trong đó có 90 hộ dân và 20 cán bộ quản lý chương trình xây dựng nông thôn mới Nội dung điều tra đó là: kết quả huy động nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới thời gian qua trên địa bàn huyện Yên Định; Đánh giá kết quả của sự huy động và hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực sau khi đã được huy động; Đánh giá về phương pháp huy động; Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác huy động nguồn lực tại địa phương

Nghiên cứu đánh giá thực trạng huy động nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới tại huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa thời gian qua, bao gồm các nội dung: huy động nguồn lực từ ngân sách Nhà nước, nguồn lực từ sức dân, nguồn vốn tín dụng, vốn

Trang 11

doanh nghiệp trong quá trình xây dựng nông thôn mới Trong đó, nguồn lực huy động

từ cộng đồng dân cư đóng vai trò quan trọng nhất, quyết định đến sự thành công của chương trình Bên cạnh đó, nguồn lực từ Ngân sách nhà nước, tín dụng và doanh nghiệp cũng đóng vai trò không thể thiếu trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của địa phương Nghiên cứu cũng phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả huy động nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới, gồm có: (1) Cơ chế chính sách; (2) sự tham gia của các tổ chức tín dụng và thành phần kinh tế; (3) khả năng tổ chức và quản lý nguồn lực; (4) sự phối hợp giữa các ban, ngành; (5) khả năng lồng ghép các nguồn lực; (6) công tác

chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền; (7) năng lực của cán bộ; (8) thu nhập của người dân

Từ thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến huy động nguồn lực cho chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Yên Định chúng tôi đã đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả huy động nguồn lực của huyện cho chương trình xây dựng nông thôn mới trong thời gian tới: Thực hiện lồng ghép các chương trình MTQG với chương trình xây dựng nông thôn mới; vận dụng có hiệu quả cơ chế chính sách hỗ trợ của cấp trên; tích cực, chủ động tạo nguồn thu ngân sách; tạo môi trường thuận lợi

để doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; thực hiện đa dạng các hình thức tín dụng, giúp nhân dân tiếp cận được với nguồn vốn vay phát triển sản xuất; công khai, minh bạch, công bằng trong đóng góp của nhân dân; tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người dân về mục đích, ý nghĩa của chương trình xây dựng nông thôn mới; nâng cao thu nhập cho người dân

Trang 12

THESIS ABSTRACT

Master Candidate: Do Quang Trung

Thesis title: Strengthening resources mobilization for New Rural Area

Programme in Yen Dinh district, Thanh Hoa province

Major: Economic Management Code: 60.34.04.10

Educational organization: Vietnam National University of Agriculture

(VNUA)

In recent years, the mobilization of resources for New Rural Area Programme (NRAP) has been very limited not only in Yen Dinh district, Thanh Hoa province, but also in other areas This study focuses on analyzing the current situation of the resources mobilization for NRAP in Yen Dinh, Thanh Hoa and then proposes solutions for strenghthening these resources mobilization in the next periods The specific objectives include: (1) Systematizing theory and practice on resources mobilization for NRAP; (2) Assessing the current situation and analyzing factors influencing the mobilization of resources for NRAP in Yen Dinh district, Thanh Hoa province; (3) Proposing solutions to strengthen the resources mobilization for NRAP in Yen Dinh district, Thanh Hoa province in the next years

In our study, primary and secondary data were both used for the analyses The secondary data were collected from the documents and reports on the resources mobilization for NRAP in Yen Dinh district Meanwhile, we collected the primary data from questionnaires and interviews of the 90 farmers and 10 local officials of NRAD The main contents were about the results of resource mobilization for NRAP in Yen Dinh district in the past, the evaluation of the program’s results and efficiencies after mobilizing, and assessing the methods for mobilization and factors influenicing the district’s resources mobilization

This study showed that the resources mobilization for NRDP in Yen Dinh district, Thanh Hoa province was from various sources: the State’s budget, local community’s contribution, banking credit and businesses’ capital Of which, the resouces from the local community played the most important role in the success

of the program Besides, other resources from the State’s budget, banking credit and businesses’ capital were also very necessary for the locally social and

Trang 13

economic development The factors influencing the results of resources mobilization for the NRAP were discovered as: (1) policy mechanism; (2) participation of credit institutions and other economic sectors; (3) ability of resource management and allocation; (4) coordination among local agencies and departments related to resource mobilization; (5) use of integrated resources; (6) efficient steering of local goverments; (7) capability of the local government staffs; (8) income level of local people

From the current situation and the factors influencing the resources mobilization for NRAP in Yen Dinh district, we proposed some solutions to improve the efficiency of mobilizing resources for the NRAP in the next periods: integrating the National Target Programs (NTP) with the NRAP; applying effective support mechanisms and policies of the provincial goverment; actively creating the budget revenues; creating a favorable environment for businesses to attract investestment in agriculture and rural development; implementing diverse forms of credit, helping people access to loans for production development; establishing publicity, transparency and fairness in the contribution of the people; advocating to raise local people’s awareness of the purpose and significance of NRAP; increasing income for people

Trang 14

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Chương trình MTQG về xây dựng nông thôn mới mang tính tổng hợp, toàn diện, nhằm chuyển biến sâu sắc về đời sống của người dân và diện mạo mới cho khu vực nông thôn Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương khoá X đã có Nghị quyết 26-NQ/TW ngày 5/8/2008 “ về Nông nghiệp - Nông dân - Nông thôn” với mục tiêu: Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, cơ cấu kinh

tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; Xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường

Cũng như các địa phương khác trên cả nước, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa bắt tay vào thực hiện chương trình NTM với không ít những khó khăn, thách thức Với một huyện thuần nông như Yên Định, thu nhập của người dân còn thấp, việc huy động nguồn lực xây dựng NTM gặp nhiều khó khăn Cùng với đó

là những hạn chế cố hữu của nông dân trong sản xuất nông nghiệp như sản xuất manh mún, kỹ thuật canh tác lạc hậu, tư duy chông chờ sự đầu tư của nhà nước

đã ảnh hưởng lớn đến công cuộc xây dựng NTM Đứng trước thời cơ và thách thức đặt ra, huyện Yên Định bắt đã bắt đầu bằng những bước đi, cách làm cụ thể Với quyết tâm cao của lãnh đạo và sự đồng thuận của nhân dân, huyện đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận

Tuy nhiên, kết quả đạt được chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế và yêu cầu đặt ra Nông nghiệp phát triển chưa bền vững, chuyển dịch cơ cấu và đổi mới cách thức sản xuất ở nhiều địa phương còn chậm; nguồn lực đầu tư cho phát triển nông nghiệp, nông thôn còn hạn chế; sức cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp còn yếu ảnh hưởng lớn đến công cuộc xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Việc thu hút doanh nghiệp tham gia đầu tư vào lĩnh lực nông nghiệp, nông thôn rất hạn chế Nhân dân gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn vay để đầu

tư phát triển sản xuất Vấn đề các xã nợ đọng xây dựng cơ bản vẫn còn tồn tại, ảnh hưởng đến khả năng phát triển kinh tế, xã hội của địa phương

Nguyên nhân chủ yếu của những tồn tại, hạn chế trong quá trình thực hiện đó chính là nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện còn nhiều khó khăn, việc huy động nguồn lực chưa được cân đối và có kế hoạch phù hợp với điều

Trang 15

kiện kinh tế từng đơn vị Vì vậy, việc nghiên cứu các giải pháp để huy động mọi nguồn lực chung tay xây dựng nông thôn mới là hết sức cần thiết Xuất phát từ những yêu cầu thực tế về phát triển nông thôn mới tại địa phương nơi tôi đang

công tác, chúng tôi nghiên cứu đề tài “Tăng cường huy động nguồn lực cho

chương trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa”

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

1.2.1 Mục tiêu chung

Trên cơ sở đánh giá thực trạng việc huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới tại huyện Yên Định thời gian qua, từ đó đề xuất giải pháp tăng cườn huy động nguồn lực đẩy nhanh tiến độ xây dựng nông thôn mới tại địa phương thời gian tới

1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

- Huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa đã thực hiện những giải pháp cụ thể nào

để huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn 2011 – 2015?

- Những thuận lợi, khó khăn và bất cập trong huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa?

- Những kinh nghiệm rút ra trong quá trình thực hiện huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn 2011 – 2015 trên địa bàn huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa?

- Những giải pháp nào cần đề xuất nhằm huy động nguồn lực đẩy nhanh tiến độ xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn tiếp theo?

Trang 16

1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

Các vấn đề lý luận và thực tiễn về huy động nguồn lực phục vụ Chương trình xây dựng nông thôn mới huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa

Chủ thể nghiên cứu: Các cán bộ trong Ban chỉ đạo Chương trình MTQG

về xây dựng nông thôn mới huyện Yên Định; Cán bộ Ban chỉ đạo chương trình nông thôn mới các xã: Quý Lộc, Định Tường, Định Tăng và các hộ dân trên địa bàn các xã nghiên cứu

1.5 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN

Luận văn đã hệ thống hóa, làm sáng tỏ lý luận và thực tiễn huy động nguồn lực cho chương trình xây dựng nông thôn mới

Luận văn đã tổng hợp, phân tích và đánh giá thực trạng công tác huy động nguồn lực cho chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa Các nguồn lực chủ yếu cho xây dựng nông thôn mới chủ yếu là: Nguồn vốn Ngân sách Nhà nước, nguồn vốn doanh nghiệp, vốn tín dụng

và đóng góp của cộng đồng dân cư Trong đó chỉ ra rằng, vốn đóng góp của cộng đồng dân cư đóng vai trò quan trọng nhất, quyết định đến kết quả xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa

Luận văn đã xác định những yếu tố ảnh hưởng đến công tác huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới ở huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa, bao gồm: Cơ chế chính sách; sự tham gia của các tổ chức tín dụng và thành phần kinh tế; khả năng tổ chức và quản lý nguồn lực; sự phối hợp giữa các ban, ngành; khả năng lồng ghép các nguồn lực; công tác chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền; năng lực của cán bộ; thu nhập của người dân

Luận văn đã đưa ra các giải pháp huy động nguồn lực cho chương trình xây dựng nông thôn mới huyện Yên Định giai đoạn tới

Trang 17

PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HUY ĐỘNG

NGUỒN LỰC XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC ĐỂ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

2.1.1 Một số khái niệm

2.1.1.1 Khái niệm nông thôn

Nông thôn là khái niệm dùng để chỉ một địa bàn, một môi trường sống của người nông dân, nơi diễn ra các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội mà ở đó sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn

Ở Việt Nam, nông thôn bao gồm địa bàn dân cư có số lượng dân tập trung dưới 4.000 người, mật độ dân cư ít hơn 6.000 người/km2

và tỷ lệ lao động phi nông nghiệp dưới 60%, tức là tỷ lệ lao động nông nghiệp đạt từ 40% trở lên (Mai Thanh Cúc và cs., 2005)

Hiện nay trên thế giới vẫn chưa có định nghĩa chuẩn xác về nông thôn, còn nhiều quan điểm khác nhau Có quan điểm cho rằng cần dựa vào chỉ tiêu trình độ phát triển cơ sở hạ tầng, có nghĩa là vùng nông thôn có cơ sở hạ tầng không phát triển bằng thành thị Có quan điểm lại cho rằng nên dựa vào chỉ tiêu trình độ tiếp cận thị trường, phát triển hàng hóa để xác định vùng nông thôn vì cho rằng vùng nông thôn có trình độ sản xuất hàng hóa và khả năng tiếp cận thị trường thấp hơn so với đô thị Một quan điểm khác nêu ra, vùng nông thôn là vùng có dân cư làm nông nghiệp là chủ yếu, tức nguồn sinh kế chính của cư dân nông thôn trong vùng là từ sản xuất nông nghiệp

Như vậy, khái niệm nông thôn chỉ có tính chất tương đối, nó có thể thay đổi theo thời gian và tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia trên thế giới Trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam, nhìn nhận dưới góc độ quản lý, có thể hiểu:

“Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp dân cư, trong đó có nhiều nông dân Tập

hợp cư dân này tham gia vào hoạt động kinh tế - văn hóa – xã hội – môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của tổ chức khác” (Mai

Thanh Cúc và cs., 2005, trang 11)

Nói tóm lại, nông thôn là vùng sinh sống và làm việc chung của cộng đồng dân cư, trong đó hoạt động chủ yếu là sản xuất nông nghiệp Nông thôn chủ yếu là nông dân sinh sống, người dân sống ở đó có tính dân chủ, tự do và công bằng xã hội thấp hơn thành thị Vì vậy cơ sở hình thành và trình độ tiếp cận thị

Trang 18

trường, trình độ sản xuất hàng hóa ở nông thôn còn thấp so với thành thị (Do diện tích rộng, mức đầu tư cho nông thôn không lớn) Điều đó ảnh hưởng lớn đến thu nhập và đời sống của người dân nông thôn, tỷ lệ hộ nghèo đói ở nông thôn còn cao Và người dân sống ở nông thôn phải chịu nhiều ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên do trải dài trên địa bàn rộng lớn Tuy nhiên, người dân là chủ thể xây dựng nông thôn mới nhưng trước những khó khăn của người dân nông thôn muốn thực hiện và xây dựng thành công nông thôn mới thì chúng ta phải hiểu được những tác động của nông thôn mới đến cuộc sống của người dân nông thôn

Từ đó chúng ta vạch ra hướng đi hay bước thực hiện xây dựng nông thôn mới để đem lại tác động tích cực cho người dân nông thôn

2.1.1.2 Khái niệm nông thôn mới

Trong Nghị Quyết số 26 – NQ/TW ngày 05/08/2008 đưa ra mục tiêu:

“xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn với nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường”

Theo Thông tư số 54/TT-NNPTNT ngày 21/08/2009 của Bộ Nông nghiệp

và Phát triển nông thôn quy định: “Vùng/khu vực nông thôn mới Việt Nam xã hội chủ nghĩa là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị

xã, thị trấn; được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã” (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2009) Như vậy nông thôn mới trước hết phải là nông thôn, chứ không phải là thị tứ, thị trấn Nông thôn mới vừa bao hàm chức năng lịch sử vốn có của nông thôn; là vùng nông dân quần tụ trong đơn vị làng xã và chủ yếu làm nông nghiệp, vừa có những thuộc tính khác với nông thôn truyền thống, đó là: Làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại; sản xuất phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hóa; đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn ngày càng được nâng cao; giá trị văn hóa truyền thống được bảo tồn; xã hội nông thôn an ninh tốt, quản lý dân chủ

Như vậy, nông thôn mới trước tiên nó phải là nông thôn không phải là thị

tứ, thị trấn, thị xã, thành phố và khác với nông thôn truyền thống hiện nay, có thể khái quát gọn theo những nội dung cơ bản sau:

1) Làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại;

Trang 19

2) Sản xuất phải phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hóa;

3) Đời sống vật chất tinh thần của dân nông thôn ngày càng được nâng cao; 4) Bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát triển;

5) Xã hội nông thôn an ninh tốt, quản lý dân chủ

2.1.1.3 Xây dựng nông thôn mới

Xây dựng nông thôn mới là cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn để

cộng đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã, gia đình của mình khang trang, sạch đẹp; phát triển sản xuất toàn diện (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ); có nếp sống văn hoá, môi trường và an ninh nông thôn được đảm bảo; thu nhập, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao

Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, của cả hệ thống chính trị Nông thôn mới không chỉ là vấn đề kinh tế - xã hội, mà là vấn đề kinh tế - chính trị tổng hợp

Xây dựng nông thôn mới giúp cho nông dân có niềm tin, trở nên tích cực, chăm chỉ, đoàn kết giúp đỡ nhau xây dựng nông thôn phát triển giàu đẹp, dân chủ, văn minh

Xây dựng NTM là một chính sách về một mô hình phát triển cả về nông nghiệp và nông thôn, nên vừa mang tính tổng hợp, bao quát nhiều lĩnh vực, vừa

đi sau giải quyết nhiều vấn đề cụ thể, đồng thời giải quyết các mối quan hệ với các chính sách khác, các lĩnh vực khác trong sự tính toán, cân đối mang tính tổng thể khắc phục tình trạng rời rạc hoặc duy ý chí

Xây dựng NTM được quy định bởi các tính chất: Đáp ứng yêu cầu phát triển (đổi mới về tổ chức, vận hành và cảnh quan môi trường), đạt hiệu quả cao nhất trên tất cả các mặt (kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội), tiến bộ hơn so với mô hình cũ, chứa đựng các đặc điểm chung, có thể phổ biến và vận dụng trên cả nước

Như vậy, có thể hiểu “Xây dựng NTM là cuộc vận động lớn để cộng đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng làng, xã của mình khang trang, sạch đẹp, sản xuất phát triển toàn diện và đời sống của người dân được nâng cao; nếp sống văn hóa, môi trường và an ninh nông thôn được đảm bảo, thu nhập và đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao”

Từ Quyết định số 491/QĐ-TTg và Quyết định số 800/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ thì: Xây dựng NTM là xây dựng nông thôn đạt 19 tiêu chí của

Bộ tiêu chí quốc gia về NTM

Trang 20

2.1.1.4 Khái niệm về nguồn lực

Nguồn lực là tổng thể vị trí địa lí, các nguồn tài nguyên thiên nhiên, hệ thống tài sản quốc gia, nguồn nhân lực, đường lối chính sách, vốn và thị trường

ở cả trong nước và ngoài nước có thể được khai thác nhằm phục vụ cho việc phát triển kinh tế của một lãnh thổ nhất định (Lê Thông và cs., 2014)

Những thứ được coi là nguồn lực phải là những thứ được sử dụng hoặc có khả năng sử dụng trong thời kỳ dự kiến phát triển Tiềm năng chưa đưa được vào sử dụng hoặc chưa có khả năng đưa vào sử dụng thì chưa được xem xét là nguồn lực

Nguồn lực được hiểu gồm tất cả những lợi thế, tiềm năng vật chất và phi vật chất để phục vụ cho một mục tiêu phát triển nhất định nào đó

Nguồn lực bao gồm:

Con người: Lao động, tri thức

Cơ sở vật chất: Cơ sở hạ tầng và các vật chất khác

Tài chính: Tiền, của cải có thể hoán đổi

Tài nguyên thiên nhiên: Đất đai, tài nguyên, khoáng sản

Nguồn lực xã hội: Giá trị gắn kết con người lại với nhau quan hệ gia đình, văn hóa, tập quán

2.1.1.5 Khái niệm về huy động nguồn lực

Thuật ngữ “huy động nguồn lực“ được sử dụng để mô tả tiến trình thu hút và tập hợp tiền hoặc các nguồn lực khác từ các cá nhân, doanh nghiệp, cơ quan nhà nước, các quỹ nhân đạo, hoặc nguồn ngân sách nhà nước

Huy động nguồn lực là việc đổi một nguồn lực đang có để lấy tiền hoặc một nguồn lực cần thiết khác

Để xây dựng nông thôn mới trước hết phụ thuộc vào nguồn lực huy động được Các nguồn lực được xem xét theo số lượng và chất lượng theo chiều hướng khác nhau Tuy nhiên khi sử dụng các nguồn lực này cần phải có sự kết hợp một cách hài hòa, hợp lý Tỷ lệ tham gia của mỗi yếu tố nguồn lực để xây dựng nông thôn mới tùy thuộc vào đặc điểm của từng địa phương Điều đó có nghĩa tùy thuộc vào tỉnh, huyện, địa phương để có quyết định về số lượng và chất lượng của mỗi yếu tố nguồn lực được huy động Nguồn vốn sử dụng để xây dựng nông thôn mới đóng vai trò quan trọng do đó vấn đề huy động nguồn vốn phải đặt lên hàng đầu, cần có kế hoạch huy động từ nhà nước, doanh nghiệp

Trang 21

và địa phương một cách hợp lý Vốn là nguồn lực có hạn do đó mỗi địa phương cần có những phưong án để sử dụng một cách hiệu quả Để có được điều này phụ thuộc chủ yếu vào khả năng cũng như trình độ quản lý ở các địa phưong trong quá trình xây dựng nông thôn mới Bên cạnh đó yếu tố tuyên truyền để người dân hiểu rõ xây dựng nông thôn mới chính là phục vụ lợi ích cho chính bản thân họ sẽ giúp người dân quan tâm đến chương trình lấy được sự đồng thuận, tín nhiệm của dân Đồng thời phải củng cố, nâng cấp và xây dựng mới

hệ thống hạ tầng kỹ thuật ở nông thôn, nhằm nhanh chóng phát huy có hiệu quả trong quá trình sử dụng các yếu tố nguồn lực (Chu Tiến Quang, 2005)

2.1.2 Sự cần thiết của việc huy động nguồn lực để xây dựng nông thôn mới

Hiện nay, đòi hỏi cần phải có sự huy động và gắn kết mạnh mẽ hơn nữa các nguồn lực để đảm bảo Chương trình xây dựng nông thôn mới đạt hiệu quả cao và thành công theo kế hoạch đề ra

Cơ chế huy động khá linh hoạt đã tạo ra sự chủ động cho các địa phương trong việc huy động nguồn lực Nhiều địa phương đã xây dựng các cơ chế huy động cụ thể như cơ chế vốn mồi nhằm lôi cuốn, kích thích nguồn vốn huy động đóng góp từ các cá nhân, tổ chức kinh tế trên địa bàn Bên cạnh đó, hình thức huy động được thực hiện theo hướng đa dạng các nguồn vốn thông qua lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia, các chương trình, dự án hỗ trợ có mục tiêu trên địa bàn đã tạo sự chủ động cho các địa phương trong huy động nguồn lực

Huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới là chủ trương quan trọng, hết sức đúng đắn, hợp lòng dân, được nhân dân đồng tình ủng hộ Trong những năm qua, cả nước đã đồng tình, tích cực triển khai thực hiện Chương trình huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới và đạt được nhiều thành tựu quan trọng, tích cực Nổi bật là nhận thức về Chương trình ngày càng được nâng lên trong các cấp

ủy đảng, chính quyền, trong nhân dân; các cơ chế chính sách được ban hành nhìn chung là kịp thời; bộ máy thực hiện Chương trình từ Trung ương đến cơ sở được tổ chức đồng bộ, thống nhất; công tác quy hoạch và lập đề án xây dựng nông thôn mới, phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, phát triển sản xuất, tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo ở địa bàn nông thôn có nhiều tiến bộ; nguồn lực đầu tư cho Chương trình ngày càng tăng lên; công tác kiểm tra, giám sát được tăng cường; quyền làm chủ, vai trò làm chủ của nhân dân được nâng lên; hệ thống chính trị cơ sở được vững mạnh lên; an ninh trật tự ở nông thôn được đảm bảo; đặc biệt, trong 3 năm qua, thu nhập của người nông dân đã tăng gấp gần 2 lần

Trang 22

Bên cạnh những kết quả đạt được vẫn tồn tại, hạn chế trong xây dựng nông thôn mới, trong đó nổi lên là để đạt được mục tiêu phấn đấu số xã đạt chuẩn nông thôn mới đến năm 2015 là 20% và đến năm 2020 là 50% đòi hỏi sự nỗ lực phải lớn hơn rất nhiều; nhận thức về ý nghĩa quan trọng của Chương trình ở nhiều

cơ quan, đơn vị, trong nhân dân còn chưa sâu; việc tổ chức chỉ đạo triển khai thực hiện còn chưa quyết liệt, nhiều nơi làm chưa tốt; nguồn lực đầu tư còn hạn chế Do đó các Bộ, ngành chức năng, các địa phương tiếp tục bám sát, thực hiện, đồng bộ các nội dung, giải pháp của Chương trình, trước hết là tập trung đưa khoa học công nghệ vào phát triển sản xuất nông, lâm, thủy sản để tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của các sản phẩm nông nghiệp Việt Nam; từ đó tăng thu nhập, cải thiện đời sống của người dân

Việc đưa khoa học, ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp phải làm nhanh, khẩn trương, đặc biệt là trong lai tạo giống cây, con cho năng suất, chất lượng cao; đưa máy móc, công nghệ cơ giới hiện đại vào thâm canh, tưới tiêu Bên cạnh đó, các địa phương cần có các cách làm năng động, sáng tạo, có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào địa bàn nông thôn như đầu tư làm công nghiệp, làm dịch vụ trên địa bàn nông thôn, qua đó góp phần giải quyết việc làm cho người lao động, chuyển dịch lao động trực tiếp làm nông nghiệp sang làm dịch vụ, làm công nghiệp, tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho lao động nông thôn Tạo sự liên kết chặt chẽ, hình thành chuỗi giá trị trong sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm

Bên cạnh nguồn lực đầu tư, nhà nước cần đặc biệt quan tâm xã hội hóa, huy động các nguồn lực đầu tư khác vào nông thôn, đặc biệt là đầu tư cho cơ sở

hạ tầng giao thông, thủy lợi, điện, y tế, giáo dục, viễn thông Lồng ghép, sử dụng hiệu quả các nguồn vốn đầu tư cho các chương trình xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội ở các địa phương Quan tâm đến công tác đào tạo nghề, tạo việc làm cho lao động nông thôn Đào tạo nghề theo hướng, thứ nhất là trang bị kiến thức khoa học, công nghệ, cách làm để làm tốt hơn công việc đang làm, cụ thể là làm nông nghiệp; thứ hai là đào tạo để chuyển sang làm ngành nghề khác cho thu nhập cao hơn như làm công nghiệp, làm dịch vụ trên địa bàn

Giải pháp quan trọng để thực hiện Chương trình huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới, cần hết sức quan tâm đẩy mạnh công tác tuyên truyền vận động, nâng cao nhận thức, phát huy sự tham gia tích cực, chủ động của nhân dân

và sự quan tâm của toàn xã hội; tiếp tục hoàn thiện các cơ chế chính sách, có cơ

Trang 23

chế đặc thù hỗ trợ xây dựng nông thôn mới ở các vùng khó khăn, có điểm xuất phát thấp; đẩy mạnh thực hiện các nội dung xây dựng nông thôn mới; đặc biệt quan tâm đến công tác lãnh đạo, điều hành, có kế hoạch hoạt động, phân công cụ thể, thường xuyên kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện Chương trình; kịp thời động viên, khen thưởng các cá nhân, tổ chức có nhiều thành tích trong thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới

2.1.3 Các nguồn lực trong xây dựng nông thôn mới

Nguồn lực trong xây dựng nông thôn mới bao gồm tất cả những yếu tố đóng góp một cách trực tiếp hoặc gián tiếp trong quá trình xây dựng nông thôn mới Đó có thể là bằng tiền (nguồn vốn), hiện vật, sức lao động, trí tuệ, nhân dân

tự nguyện hiến đất…

Nguồn lực được chia thành:

- Nguồn vốn xây dựng nông thôn mới : Có 5 nguồn chính:

+ Đóng góp của cộng đồng (bao gồm cả công sức, tiền của đóng góp và tài trợ của các tổ chức, cá nhân);

+ Vốn đầu tư của các doanh nghiệp;

+ Vốn tín dụng (bao gồm cả đầu tư phát triển và thương mại);

+ Hỗ trợ từ ngân sách nhà nước;

+ Vốn tài trợ khác

Thực hiện xây dựng nông thôn mới cần có sự kế thừa, lồng ghép các chương trình, dự án đang và sẽ triển khai trên địa bàn Các công trình xây dựng phải trên cơ sở chỉnh trang, nâng cấp là chính để giảm thiểu nguồn lực trong điều kiện kinh tế còn khó khăn

- Nội lực của cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới

Nội lực của cộng đồng bao gồm: công sức, tiền của do người dân và

cộng đồng đầu tư bỏ ra để chỉnh trang nơi ở của gia đình mình như: xây dựng, nâng cấp nhà ở, nhà bếp; xây dựng đủ 3 công trình vệ sinh; cải tạo, bố trí lại các công trình phục vụ khu chăn nuôi hợp vệ sinh theo chuẩn nông thôn mới; cải tạo lại vườn ao để có thu nhập và cảnh quan đẹp; sửa sang cổng ngõ, tường rào đẹp đẽ, khang trang…

Đầu tư cho sản xuất ngoài đồng ruộng, soi bãi, trên đất rừng hoặc cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ để có thu nhập cao

Trang 24

Đóng góp, xây dựng các công trình công cộng của làng xã như giao thông, kiên cố hóa kênh mương, vệ sinh công cộng…

Tự nguyện hiến đất để xây dựng các công trình hạ tầng kinh tế-xã hội theo quy hoạch của xã

2.1.4 Nội dung của công tác huy động nguồn lực để xây dựng nông thôn mới

2.1.4.1 Công tác tuyên truyền

Tổ chức phát động, tuyên truyền, phổ biến, vận động từ trung ương đến cơ

sở, để mọi tầng lớp nhân dân hiểu và cả hệ thống chính trị tham gia Thường xuyên cập nhật, đưa tin về các mô hình, các điển hình tiên tiến, sáng kiến và kinh nghiệm hay về xây dựng nông thôn mới, huy động nguồn lực để xây dựng nông thôn mới trên các phương tiện thông tin đại chúng để phổ biến và nhân rộng các

mô hình này;

Phát động phong trào thi đua xây dựng nông thôn mới trong toàn quốc Nội dung xây dựng nông thôn mới phải trở thành một nhiệm vụ chính trị của địa phương và các cơ quan có liên quan

2.1.4.2 Cơ chế huy động nguồn lực

Thực hiện đa dạng hóa các nguồn vốn huy động để triển khai thực hiện chương trình này

Thực hiện lồng ghép các nguồn vốn của các chương trình mục tiêu quốc gia; các chương trình, dự án hỗ trợ có mục tiêu trên địa bàn, bao gồm:

- Vốn từ các chương trình mục tiêu quốc gia, các chương trình, dự án hỗ trợ có mục tiêu đang triển khai trên địa bàn nông thôn và tiếp tục triển khai trong những năm tiếp theo gồm: chương trình giảm nghèo; chương trình quốc gia về việc làm; chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn; chương trình phòng, chống tội phạm; chương trình dân số và kế hoạch hóa gia đình; chương trình về văn hóa; chương trình giáo dục đào tạo; hỗ trợ khám chữa bệnh cho người nghèo, cho trẻ em dưới 6 tuổi…; đầu tư kiên cố hóa trường, lớp học; kiên

cố hóa kênh mương; phát triển đường giao thông nông thôn; phát triển cơ sở hạ tầng nuôi trồng thủy sản, làng nghề…;

- Vốn ngân sách hỗ trợ trực tiếp của chương trình này, bao gồm cả trái phiếu Chính phủ (nếu có);

Huy động tối đa nguồn lực của địa phương (tỉnh, huyện, xã) để tổ chức triển khai Chương trình Hội đồng nhân dân tỉnh quy định tăng tỷ lệ vốn thu được

Trang 25

từ đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất trên địa bàn xã (sau khi đã trừ đi chi phí) để lại cho ngân sách xã, ít nhất 70% thực hiện các nội dung xây dựng nông thôn mới;

Huy động vốn đầu tư của doanh nghiệp đối với các công trình có khả năng thu hồi vốn trực tiếp; doanh nghiệp được vay vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước hoặc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được ngân sách nhà nước

hỗ trợ sau đầu tưvà được hưởng ưu đãi đầu tư theo quy định của pháp luật;

Các khoản đóng góp theo nguyên tắc tự nguyện của nhân dân trong xã cho từng dự án cụ thể, do Hội đồng nhân dân xã thông qua;

Các khoản viện trợ không hoàn lại của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước cho các dự án đầu tư; Sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn tín dụng:

Vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước được trung ương phân bổ cho các tỉnh, thành phố theo chương trình kiên cố hóa kênh mương, phát triển đường giao thông nông thôn, cơ sở hạ tầng nuôi trồng thủy sản và cơ sở hạ tầng làng nghề ở nông thôn và theo danh mục quy định tại Nghị định số: 106/2008/NĐ- CP, ngày

19 tháng 9 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ;

- Vốn tín dụng thương mại theo quy định tại Nghị định số: 41/2010/NĐ- CP ngày 12 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ nông nghiệp, nông thôn

Huy động các nguồn tài chính hợp pháp khác

2.1.4.3 Nguyên tắc hỗ trợ

Đối với tất cả các xã, hỗ trợ 100% từ ngân sách nhà nước cho: Công tác quy hoạch; xây dựng trụ sở xã; kinh phí cho công tác đào tạo kiến thức về xây dựng nông thôn mới cho cán bộ xã, cán bộ thôn bản, cán bộ hợp tác xã

Đối với các xã thuộc các huyện nghèo thuộc Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững theo Nghị quyết số: 30a/2008/NQ-CP, ngày 27 tháng 12 năm

2008 của Chính phủ, hỗ trợ tối đa 100% từ ngân sách nhà nước cho: Xây dựng đường giao thông đến trung tâm xã, đường giao thông thôn, xóm; giao thông nội đồng và kênh mương nội đồng; xây dựng trường học đạt chuẩn; xây dựng trạm y tế xã; xây dựng nhà văn hóa xã, thôn, bản; công trình thể thao thôn, bản; xây dựng công trình cấp nước sinh hoạt, thoát nước thải khu dân cư; phát triển sản xuất và dịch vụ; hạ tầng các khu sản xuất tập trung, tiểu thủ công nghiệp, thủy sản

Trang 26

Đối với các xã còn lại, hỗ trợ một phần từ ngân sách nhà nước cho: Xây dựng đường giao thông đến trung tâm xã, đường giao thông thôn, xóm; giao thông nội đồng và kênh mương nội đồng; xây dựng trường học đạt chuẩn; xây dựng trạm y tế xã; xây dựng nhà văn hóa xã, thôn, bản; công trình thể thao thôn, bản; xây dựng công trình cấp nước sinh hoạt, thoát nước thải khu dân cư; phát triển sản xuất và dịch vụ; hạ tầng các khu sản xuất tập trung, tiểu thủ công nghiệp, thủy sản

Giao Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định mức hỗ trợ từ ngân sách nhà nước cho từng nội dung, công việc cụ thể, bảo đảm phù hợp với thực tế và yêu cầu hỗ trợ của từng địa phương

Mức hỗ trợ từ ngân sách trung ương cho các địa phương căn cứ điều kiện kinh tế - xã hội để bố trí phù hợp với quy định tại Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Ưu tiên hỗ trợ cho các địa phương khó khăn chưa tự cân đối ngân sách, địa bàn đặc biệt khó khăn và những địa phương làm tốt

Chính quyền địa phương (tỉnh, huyện, xã) không quy định bắt buộc nhân dân đóng góp, chỉ vận động bằng các hình thức thích hợp để nhân dân tự nguyện đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội của địa phương Nhân dân trong xã bàn bạc mức tự nguyện đóng góp cụ thể cho từng dự án, đề nghị Hội đồng nhân dân xã thông qua

Hộ nghèo tham gia trực tiếp lao động để xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế -

xã hội của địa phương được chính quyền địa phương xem xét, trả thù lao theo mức phù hợp với mức tiền lương chung của thị trường lao động tại địa phương

và khả năng cân đối ngân sách địa phương Ủy ban nhân dân địa phương xem xét, quyết định mức thù lao cụ thể sau khi trình Thường trực Hội đồng nhân dân cùng cấp Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo, hướng dẫn các sở, ban, ngành, huyện, xã triển khai thực hiện

2.1.4.4 Nông thôn mới và yêu cầu huy động nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới

Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới là một chương trình tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội, chính trị và an ninh quốc phòng, gồm 11 nội dung sau:

(1) Quy hoạch xây dựng nông thôn mới

a) Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí số 01 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn

Trang 27

mới Đến năm 2011, cơ bản phủ kín quy hoạch xây dựng nông thôn trên địa bàn

cả nước làm cơ sở đầu tư xây dựng nông thôn mới, làm cơ sở để thực hiện mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020;

(2) Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội

a) Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí số 2; 3; 4; 5; 6; 7; 8; 9 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới;

b) Nội dung:

- Nội dung 1: Hoàn thiện đường giao thông đến trụ sở Ủy ban nhân dân xã

và hệ thống giao thông trên địa bàn xã Đến 2015 có 35% số xã đạt chuẩn (các trục đường xã được nhựa hóa hoặc bê tông hóa) và đến 2020 có 70% số xã đạt chuẩn (các trục đường thôn, xóm cơ bản cứng hóa);

- Nội dung 2: Hoàn thiện hệ thống các công trình đảm bảo cung cấp điện phục vụ sinh hoạt và sản xuất trên địa bàn xã Đến 2015 có 85% số xã đạt tiêu chí nông thôn mới và năm 2020 là 95% số xã đạt chuẩn;

- Nội dung 3: Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ nhu cầu về hoạt động văn hóa thể thao trên địa bàn xã Đến 2015 có 30% số xã có nhà văn hóa

xã, thôn đạt chuẩn, đến 2020 có 75% số xã đạt chuẩn;

- Nội dung 4: Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn hóa

về y tế trên địa bàn xã Đến 2015 có 50% số xã đạt chuẩn và đến 2020 có 75% số

xã đạt chuẩn;

- Nội dung 5: Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn hóa

về giáo dục trên địa bàn xã Đến 2015 có 45% số xã đạt tiêu chí và năm 2020 có 75% số xã đạt chuẩn;

- Nội dung 6: Hoàn chỉnh trụ sở xã và các công trình phụ trợ Đến 2015 có 65% số xã đạt tiêu chí và năm 2020 có 85% số xã đạt chuẩn;

Trang 28

- Nội dung 7: Cải tạo, xây mới hệ thống thủy lợi trên địa bàn xã Đến 2015

có 45% số xã đạt chuẩn (có 50% kênh cấp 3 trở lên được kiên cố hóa) Đến 2020

có 77% số xã đạt chuẩn (cơ bản cứng hóa hệ thống kênh mương nội đồng theo quy hoạch)

(3) Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập

a) Mục tiêu: Đạt yêu cầu tiêu chí số 10, 12 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới Đến năm 2015 có 20% số xã đạt, đến 2020 có 50% số xã đạt;

- Nội dung 5: Đẩy mạnh đào tạo nghề cho lao động nông thôn, thúc đẩy đưa công nghiệp vào nông thôn, giải quyết việc làm và chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động nông thôn

(4) Giảm nghèo và an sinh xã hội

a) Mục tiêu: Đạt yêu cầu tiêu chí số 11 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới;

b) Nội dung:

- Nội dung 1: Thực hiện có hiệu quả Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững cho 62 huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao (Nghị quyết 30a

của Chính phủ) theo Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới;

- Nội dung 2: Tiếp tục triển khai Chương trình mục tiêu Quốc gia về giảm nghèo;

- Nội dung 3: Thực hiện các chương trình an sinh xã hội

(5) Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở nông thôn

Trang 29

a) Mục tiêu: Đạt yêu cầu tiêu chí số 13 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới Đến 2015 có 65% số xã đạt chuẩn và đến 2020 có 75% số xã đạt chuẩn

b) Nội dung:

- Nội dung 1: Phát triển kinh tế hộ, trang trại, hợp tác xã;

- Nội dung 2: Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn;

- Nội dung 3: Xây dựng cơ chế, chính sách thúc đẩy liên kết kinh tế giữa các loại hình kinh tế ở nông thôn

(6) Phát triển giáo dục - đào tạo ở nông thôn

a) Mục tiêu: Đạt yêu cầu tiêu chí số 5 và 14 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới Đến 2015 có 45% số xã đạt chuẩn và đến 2020 có 80% số xã đạt chuẩn;

b) Nội dung: Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới;

(7) Phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe cư dân nông thôn

a) Mục tiêu: Đạt yêu cầu tiêu chí số 5 và 15 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới Đến 2015 có 50% số xã đạt chuẩn và đến 2020 có 75% số xã đạt chuẩn;

b) Nội dung: Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia trong lĩnh vực về y tế, đáp ứng yêu cầu Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới

(8) Xây dựng đời sống văn hóa, thông tin và truyền thông nông thôn

a) Mục tiêu: Đạt yêu cầu tiêu chí số 6 và 16 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới Đến 2015 có 30% số xã có nhà văn hóa xã, thôn và 45% số xã có bưu điện và điểm internet đạt chuẩn Đến 2020 có 75% số xã có nhà văn hóa xã, thôn

và 70% có điểm bưu điện và điểm internet đạt chuẩn;

(9) Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn

a) Mục tiêu: Đạt yêu cầu tiêu chí số 17 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông

Trang 30

thôn mới; đảm bảo cung cấp đủ nước sinh hoạt sạch và hợp vệ sinh cho dân cư, trường học, trạm y tế, công sở và các khu dịch vụ công cộng; thực hiện các yêu cầu về bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái trên địa bàn xã Đến 2015 có 35%

(10) Nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị -

xã hội trên địa bàn

a) Mục tiêu: Đạt yêu cầu tiêu chí số 18 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới Đến 2015 có 85% số xã đạt chuẩn và năm 2020 là 95% số xã đạt chuẩn;

b) Nội dung:

- Nội dung 1: Tổ chức đào tạo cán bộ đạt chuẩn theo quy định của Bộ Nội

vụ, đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới;

- Nội dung 2: Ban hành chính sách khuyến khích, thu hút cán bộ trẻ đã được đào tạo, đủ tiêu chuẩn về công tác ở các xã, đặc biệt là các vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn để nhanh chóng chuẩn hóa đội ngũ cán bộ ở các vùng này;

- Nội dung 3: Bổ sung chức năng, nhiệm vụ và cơ chế hoạt động của các

tổ chức trong hệ thống chính trị phù hợp với yêu cầu xây dựng nông thôn mới

(11) Giữ vững an ninh, trật tự xã hội nông thôn

a) Mục tiêu: Đạt yêu cầu tiêu chí số 19 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới Đến 2015 có 85% số xã đạt chuẩn và năm 2020 là 95% số xã đạt chuẩn;

b) Nội dung:

- Nội dung 1: Ban hành nội quy, quy ước làng xóm về trật tự, an ninh; phòng, chống các tệ nạn xã hội và các hủ tục lạc hậu;

Trang 31

- Nội dung 2: Điều chỉnh và bổ sung chức năng, nhiệm vụ và chính sách tạo điều kiện cho lượng lực lượng an ninh xã, thôn, xóm hoàn thành nhiệm vụ đảm bảo

an ninh, trật tự xã hội trên địa bàn theo yêu cầu xây dựng nông thôn mới

2.1.5 Yếu tố ảnh hưởng đến khả năng huy động nguồn lực phục vụ chương trình xây dựng nông thôn mới

2.1.5.1 Công tác chỉ đạo điều hành của cấp Ủy Đảng, Chính quyền

Công tác lãnh chỉ đạo điều hành được thể hiện ở ý trí, quyết tâm vào cuộc với những hướng đi, việc làm cụ thể Bắt đầu từ khâu lập quy hoạch, đề án xây dựng nông thôn mới Làm tốt công tác quy hoạch nông thôn mới, giúp địa phương có cách nhìn đúng đắn, một hướng đi bền vững trong tương lai Nó giúp cho địa phương cân đối nguồn lực một cách hợp lý, không để nhân dân đóng góp quá sức, giảm thiểu nợ đọng, nợ công trong xây dựng nông thôn mới

Để thực hiện được chương trình nông thôn mới cơ quan quản lý nhà nước đóng vai trò rất quan trọng Chính cơ quan nhà nước xây dựng đưa ra nghị quyết và những văn bản hướng dẫn để thực hiện chương trình nông thôn mới Sau đó đóng vai trò trong vấn đề định hướng, quy hoạch, kiểm tra giám sát đối với vấn đề thực hiện Đội ngũ cán bộ là khâu có tính quyết định trong việc tiếp nhận, triển khai xây dựng NTM Đội ngũ cán bộ tốt, tâm huyết, đoàn kết, có tầm, ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ và có uy tín đối với nhân dân và trong điều hành có được tính chủ động, sáng tạo, biết lập và điều hành kế hoạch theo một trình tự khoa học, biết cách tổ chức phát huy dân chủ, tổ chức thi đua, thu hút công đồng tham gia; chủ động kiểm tra, tổng kết thực tiễn, phát hiện nhân tố mới, cách làm mới có hiệu quả để nhân lên Đồng thời, biết tôn trọng nguyên tắc, tôn trọng các quy định của pháp luật đảm bảo phong trào phát triển đến đâu, bền vững đến đó Vấn đề triển khai lựa chọn xây dựng các công trình sát thực với yêu cầu sản xuất và phục vụ cho người dân cần được Đảng bộ và nhân dân bàn bạc kỹ lưỡng trước xây dựng sẽ được người dân đồng tình cao và tích cực đóng góp nguồn lực Quy trình huy động nguồn lực trong dân luôn được bàn kỹ với phương châm dân đứng ra tổ chức triển khai là chính Như vậy mới nhận được sự đồng thuận của nhân

2.1.5.2 Trình độ cán bộ và khả năng tổ chức huy động nguồn lực để xây dựng nông thôn mới

Đội ngũ cán bộ là khâu có tính quyết định trong việc tiếp nhận, triển khai xây dựng NTM Đội ngũ cán bộ tốt, tâm huyết, đoàn kết, có tầm, ngang tầm với

Trang 32

yêu cầu nhiệm vụ và có uy tín đối với nhân dân và trong điều hành có được tính chủ động, sáng tạo, biết lập và điều hành kế hoạch theo một trình tự khoa học, biết cách tổ chức phát huy dân chủ, tổ chức thi đua, thu hút công đồng tham gia; chủ động kiểm tra, tổng kết thực tiễn, phát hiện nhân tố mới, cách làm mới có hiệu quả để nhân lên

Trong công tác chỉ đạo, điều hành luôn phát huy trí tuệ tập thể, đặc biệt đề cao vai trò của người đứng đầu, tăng cường tuyên truyền động viên khích lệ cả hệ thống chính trị đồng bộ vào cuộc, nói đến NTM, mỗi cán bộ từ huyện đến các cụm dân cư, ai cũng là những tuyên truyền viên cho phong trào xây dựng NTM

Để huy động được nguồn lực cho quá trình xây dựng nông thôn mới đòi hỏi cán bộ cán bộ xã, thôn phải có năng lực và trình độ nhất định Hiện nay ở nhiều địa phương khó khăn trình độ cán bộ quản lý ở các địa phương còn thấp, hạn chế về khả năng lãnh đạo, quản lý, điều hành trong xây dựng NTM Bên cạnh đó, các cán bộ triển khai chương trình chủ yếu là kiêm nhiệm (cấp huyện, cấp xã, cấp thôn) do đó công tác triển khai thực hiện, giám sát, chưa kịp thời, nhiều vướng mắc phát sinh chưa được tháo gỡ Một bộ phận cán bộ ở cơ quan chuyên môn của huyện chưa nắm chắc đầu việc, vấn đề để tham mưu đúng, trúng cho chính quyền trong việc tổ chức thực hiện Nhiều cán bộ tham mưu không nắm rõ tình hình của địa phương do đó có thể đưa ra những phương án không hợp lý với địa phương đó

Năng lực tổ chức, quản lý của đội ngũ cán bộ cơ sở để huy động nguồn lực từ người dân mới có hiệu quả, đòi hỏi phải có đội ngũ cán bộ cơ sở có năng lực, nhiệt tình, uy tín và trách nhiệm với công việc Năng lực tổ chức, quản lý và điều hành, vận động và thuyết phục người dân của đội ngũ cán bộ cơ sở có tính chất quyết định đến sự thành công của công cuộc xây dựng nông thôn mới

Đội ngũ cán bộ cơ sở có năng lực, trình độ, uy tín và trách nhiệm thì làm việc sẽ khoa học và hiệu quả, chủ động và sáng tạo trong tổ chức thực hiện các

kế hoạch, đề án… phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn, lôi cuốn vận động người dân cùng tham gia thực hiện, đóng góp trí tuệ, tài chính, sức lao động… xây dựng các công trình trên địa bàn, người dân yên tâm, tin tưởng vào chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước

Do vậy, việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực tổ chức, quản lý cho đội ngũ cán bộ cơ sở là rất cần thiết và quan trọng, về lâu dài phải đào tạo đội ngũ cán

bộ tại địa phương có trình độ, năng lực tổ chức, quản lý để lãnh đạo, tổ chức triển

Trang 33

khai thực hiện có hiệu quả Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới

2.1.5.3 Mục tiêu phát triển kinh tế xã hội tại địa phương

Mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội được đặt ra là một trong những yếu tố tác động đến công tác huy động nguồn lực ở mỗi địa phương Việc huy động nguồn lực để xây dựng nông thôn mới đều phải nhằm đáp ứng mục tiêu phát triển dài hạn hay ngắn hạn, mục tiêu cao hay thấp Do vậy, các mục tiêu đặt ra phải sát với thực tế, phù hợp với các nguồn lực của địa phương thì việc huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới có hiệu quả

Khi đặt ra mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội cần phải xác định rõ được những vấn đề tồn tại, những điểm mạnh, những hạn chế để đưa mục tiêu cho phù hợp với từng địa phương Các địa phương cần xác định, xây dựng nông thôn mới là cuộc vận động lâu dài chứ không chỉ là ngày một ngày hai, việc đề

ra mục tiêu để dễ phấn đấu chứ không phải mốc cuối cùng của việc xây dựng nông thôn mới mà đặt ra

2.1.5.4 Cơ chế, chính sách huy động nguồn lực phục vụ chương trình xây dựng nông thôn mới

Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp lâu dài gắn liền với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, do đó cần phải kiên trì để thực hiện mục tiêu đề ra trong cả hoạch định chính sách, tổ chức thực hiện, tránh chủ quan nóng vội, bệnh

thành tích; phải khơi dậy ý chí tự lực vươn lên của chính bản thân người dân

Đặc biệt, các chính sách xây dựng nông thôn mới phải thường xuyên được

tổ chức rà soát, đánh giá, mang tính hệ thống để người dân tiếp cận thuận tiện, hiệu quả hơn; những chính sách qua thực hiện thấy bất hợp lý phải khẩn trương được sửa đổi, thay thế Chính sách xây dựng nông thôn mới cần phù hợp với từng địa phương; đầu tư trọng tâm, trọng điểm, không dàn trải, có các chính sách xây dựng nông thôn mới chung, có chính sách đặc thù cho từng vùng khó khăn

Một số chính sách có ý nghĩa tích cực từ phía Nhà nước có ảnh hưởng trực tiếp đến công tác huy động nguồn lực như: Chính sách quy hoạch; quản lý và sử dụng đất đai; chính sách hỗ trợ vốn của Nhà nước; chính sách tín dụng, tạo vốn, huy động vốn, khuyến khích ưu đãi đầu tư; chính sách về quản lý đầu tư xây dựng

và quản lý ngân sách Trong đó, chính sách hỗ trợ về vốn của nhà nước đối với các vùng nông thôn, đặc biệt là những vùng còn có nhiều khó khăn về kinh tế, xã hội

là vô cùng cần thiết và thường được thực hiện thông qua các chương trình mục

Trang 34

tiêu như: Các chương trình kiên cố hoá kênh mương; kiên cố hoá đường GTNT; kiên cố hoá trường, lớp học; cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn Chính sách phân cấp cho các cấp chính quyền địa phương trong phê duyệt

và thực hiện các dự án sẽ góp phần phát huy tính chủ động, năng động và sáng tạo của các địa phương trong xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, đồng thời cũng góp phần làm giảm gánh nặng cho ngân sách Nhà nước

2.1.5.5 Công tác tuyên truyền vận động tham gia chương trình xây dựng nông thôn mới

Thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta Những năm qua công tác tuyên truyền được xem là nhiệm vụ quan trọng, hàng đầu trong việc tổ chức, thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới từ Trung ương đến địa phương Thông qua công tác tuyên truyền giúp cán bộ, đảng viên và Nhân dân hiểu được ý nghĩa, tầm quan trọng của chương trình xây dựng nông thôn mới, tạo sự thống nhất từ nhận thức đến hành động về xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế, các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội dân chủ,

ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao

Tuyên truyền sâu rộng, thay đổi nhận thức của cán bộ và nhân dân đối với chương trình xây dựng NTM Một bộ phận cán bộ và nhân dân vẫn còn tư duy chương trình xây dựng nông thôn mới là sự đầu tư vốn của nhà nước để xây dựng các công trình, hạ tầng trong nông thôn thì tư duy đó phải được xóa bỏ, thay vào

đó là ý thức, tinh thần toàn dân chung tay xây dựng nông thôn mới với phương châm lấy sức dân để lo cho dân Xây dựng nông thôn mới từ trong nhà ra ngõ, từ gia đình đến thôn, xóm, đến đồng ruộng, đồng thời phát huy nội lực là chính, tạo không khí thi đua tích cực trong toàn dân

2.1.5.6 Khả năng tổ chức, quản lý nguồn lực của cán bộ và cộng đồng dân cư

Huy động nhân dân đóng góp xây dựng nông thôn mới, điều quan trọng nhất đó là phải minh bạch, đồng thời tăng cường công tác quản lý giám sát nguồn lực, không để lãng phí, thất thoát trong quá trình thực hiện Việc tổ chức, quản lý nguồn lực tốt giúp người dân yên tâm hơn đối với những nguồn lực do mình đóng góp (tiền, hiện vật), tạo động lực tích cực cho công tác huy động nguồn lực

Trang 35

Xây dựng NTM là một quá trình chứ không đơn thuần là một chương trình, dự án đầu tư, một công trình đồ sộ và để thành công cần rất nhiều kinh phí.Vì vậy, cần phải huy động, tổng hợp được nhiều nguồn lực xây dựng NTM Khả năng huy động vốn ở mỗi địa phương là khác nhau, tuy nhiên ngoài tranh thủ nguồn vốn ngân sách cần phải tận dụng tối đa nguồn vốn của doanh nghiệp, tín dụng và đặc biệt là sự đóng góp công sức, tiền của của người dân và cộng đồng Nơi nào huy động được nhiều nguồn lực thì triển khai thuận lợi và ngược lại Bên cạnh việc huy động được các nguồn lực thì việc quản lý nguồn lực xây dựng NTM cũng rất quan trọng để bảo toàn, phát huy và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn trong xây dựng NTM

2.1.5.7 Năng lực của các chủ thể tham gia huy động nguồn lực để xây dựng nông thôn mới

Theo kế hoạch, số vốn và nguồn vốn thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới bao gồm: Vốn ngân sách trung ương (Vốn từ các chương trình mục tiêu quốc gia và chương trình, dự án hỗ trợ có mục tiêu đang triển khai và sẽ tiếp tục triển khai trong những năm tiếp theo trên địa bàn là khoảng 23% Vốn trực tiếp cho chương trình để thực hiện các nội dung theo quy định là khoảng 17%) Vốn tín dụng khoảng 30%; vốn từ các DN, các loại hình kinh tế khác khoảng 20% và huy động đóng góp của cộng đồng dân cư khoảng 10%

Để thực hiện thành công chương trình trong thời gian tới cần phải nỗ lực hơn nữa trong việc huy động các nguồn lực để tập chung xây dựng nông thôn mới trong đó có nguồn lưc tài chính Chính phủ đã xác định thực hiện đa dạng hóa các nguồn vốn huy động để triển khai thực hiện Trong đó cùng với thực hiện lồng ghép các nguồn vốn của các chương trình mục tiêu quốc gia, các chương trình dự án hỗ trợ trên địa bàn và nguồn vốn ngân sách hỗ trợ trực tiếp của Chương trình này bao gồm cả trái phiếu Chính phủ thì cần huy động tối đa nguồn lực của địa phương Vấn đề huy động nguồn lực rất quan trọng đối với chương trình xây dựng nông thôn mới tuy nhiên ngân sách cho công tác huy động nguồn lực này đang rất hạn chế Kinh phí cấp cho hoạt động này còn thấp

so với yêu cầu thực tiễn nên nhiều địa phương triển khai các hoạt động còn hình thức, chất lượng chưa cao; hay thể chế về chế độ đãi ngộ, thu hút cán bộ, viên chức công tác trong vấn đề huy động nguồn lực còn nhiều bất cập và thấp, từ đó ảnh hưởng đến quá trình xây dựng nông thôn mới Việc tăng cường huy động

Trang 36

các nguồn lực tài chính và hỗ trợ xã hội, cho công tác này là hết sức cần thiết, qua đó các tổ chức xã hội, nghề nghiệp sẽ đóng góp “sức người, sức của” để cùng với nhà nước làm tốt công tác này

Ngoài ra, cần huy động vốn đầu tư của DN đối với các công trình có khả năng thu hồi vốn trực tiếp; các khoản đóng góp tự nguyện của nhân dân và các nguồn vốn tín dụng, các khoản viện trợ không hoàn lại của các DN, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước cho các dự án đầu tư

Để thực hiện nhiệm vụ huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới đòi hỏi sự nỗ lực rất lớn từ nhiều Bộ, ngành Về phía Bộ Tài chính, sẽ tiếp tục tập trung thực hiện các chính sách ưu đãi về thu tiền sử dụng đất, về thuế giá trị gia tăng, thuế TNDN nhằm khuyến khích đầu tư, nhất là các dự án đầu tư áp dụng công nghệ cao, công nghệ chế biến nông sản thực phẩm sau thu hoạch, dự án đầu tư vào các vùng đặc biệt khó khăn phát triển sản xuất kinh doanh, khuyến khích xuất khẩu; Thực hiện rà soát các khoản phí, lệ phí thuộc lĩnh vực nông nghiệp

và các loại phí, lệ phí người nông dân phải đóng khi được cung cấp các dịch vụ công để đề xuất miễn, giảm cho nông dân; Tiếp tục dành nguồn vốn tín dụng ưu đãi đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn thông qua chương trình kiên cố hóa kênh mương, đường giao thông nông thôn, cơ sở hạ tầng nuôi trồng thủy sản

2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

2.2.1 Kinh nghiệm huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới ở các địa phương trong nước

2.2.1.1 Kinh nghiệm của xã Thiên Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh

Thiên Lộc vốn là xã nghèo của huyện Can Lộc, kinh tế thuần nông, ngành nghề dịch vụ kém phát triển, kết cấu hạ tầng xuất phát thấp, tỷ lệ hộ nghèo trên 30% Thế nhưng, sau khi tiếp thu Nghị quyết số 02 của BCH tỉnh Đảng bộ khóa

15 ngày 12/6/2001, Thiên Lộc bắt đầu xây dựng chương trình nông thôn mới và sớm trở thành xã dẫn đầu của Can Lộc Bước tiếp chặng đường xây dựng NTM, Thiên Lộc đã không ngừng nỗ lực và trở thành điểm sáng trong phong trào xây dựng NTM toàn tỉnh

Năm 2010, khi được chọn là xã điểm xây dựng NTM của tỉnh, Đảng bộ, chính quyền Thiên Lộc đã xác định được đây là nhiệm vụ lớn và mới mẻ và không ít khó khăn Vì vậy, cấp ủy, chính quyền và cả hệ thống chính trị cũng như toàn bộ nhân dân ở Thiên Lộc đã chủ động nhập cuộc bằng tất cả mọi điều kiện,

Trang 37

lòng nhiệt tình và khả năng của mình Đảng bộ và nhân dân Thiên Lộc nhận thức sâu sắc rằng, xây dựng NTM là một chương trình mục tiêu Quốc gia phát triển nông thôn toàn diện, bền vững với mục tiêu nâng cao cuộc sống vật chất và tinh thần cho chính người dân; là một chương trình phát triển tổng hợp về kinh tế, văn hóa, chính trị, và xã hội, vai trò cộng đồng là chủ thể xây dựng NTM mới, lấy nội lực là căn bản nên đã nỗ lực hết mình, huy độngh tối đa nội lực cho chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM Tinh thần ở Thiên Lộc hiện nay là Nhà nhà làm NTM, người người làm NTM Nhờ vậy, đến nay, đối chiếu với Bộ tiêu chí quốc gia, Thiên Lộc đã hoàn thành 14/19 tiêu chí, trong đó gồm 10 tiêu chí về hạ tầng xã hội (trường học, chợ nông thôn, bưu điện, nhà ở khu dân cư, thu nhập, giáo dục, y tế, văn hóa, môi trường, hệ thống chính trị xã hội); 4 tiêu chí về hạ tầng kinh tế, sản xuất (giao thông, điện, hình thức tổ chức sản xuất) và đang quyết tâm phấn đấu hoàn thành 5 tiêu chí còn lại trước năm 2013

Thiên Lộc là địa phương đã được chỉ đạo quy họach (ruộng đất, hạ tầng, giao thông, chỉnh trang khu dân cư ) từ những năm 2006 đến nay theo quy hoạch NTM mới trên cơ sở soát xét những công trình đã được quy hoạch theo tiêu chí NTM và tầm nhìn đến năm 2020, vì vậy hiệu quả của công tác quy họach mang lại rất quan trọng¸ tránh được sự lãng phí trong đầu tư và được nhân dân đồng thuận cao Ban Chỉ đạo xây dựng NTM xã xác định đội ngũ cán bộ là khâu có tính quyết định trong việc tiếp nhận, triển khai xây dựng NTM nên đã xây dựng được đội ngũ cán bộ tốt, tâm huyết, đoàn kết, có tầm, ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ và có uy tín đối với nhân dân Nhờ vậy nên trong điều hành đã có được tính chủ động, sáng tạo, biết lập và điều hành kế hoạch theo một trình tự khoa học, biết cách tổ chức phát huy dân chủ, tổ chức thi đua, thu hút công đồng tham gia; chủ động kiểm tra, tổng kết thực tiễn, phát hiện nhân tố mới, cách làm mới

có hiệu quả để nhân lên Đồng thời, biết tôn trọng nguyên tắc, tôn trọng các quy định của pháp luật đảm bảo phong trào phát triển đến đâu, bền vững đến đó Thời gian qua, Thiên Lộc đã triển khai lựa chọn xây dựng các công trình sát thực với yêu cầu sản xuất và phục vụ cho người dân, được Đảng bộ và nhân dân bàn bạc

kỹ lưỡng trước xây dựng, vì vậy đã tạo được người dân đồng tình cao và tích cực đóng góp nguồn lực Quy trình huy động nguồn lực trong dân luôn được bàn kỹ với phương châm dân đứng ra tổ chức triển khai là chính Nhờ vậy nên chỉ sau một thời gian, Thiên Lộc đã xây dựng được 32 km đường bê tông, 30 km kênh bê tông, 19 nhà văn hóa xóm, hiến đất mở đường giao thông nông thôn, xây dựng

Trang 38

hàng chục km mương thoát nước trong khu dân cư, được nhân dân đồng thuận ủng hộ nhiệt tình Cùng với huy động nguồn lực từ người dân, xã Thiên Lộc có nhiều tuyến tỉnh lộ, huyện lộ đi qua, trên địa bàn của xã có khu du lịch Chùa Hương Tích nên địa phương đã tạo môi trường thu hút đầu tư và tranh thủ các nguồn lực từ các chương trình, dự án về đầu tư xây dựng trên địa bàn để xây dựng hạ tầng kinh tế-xã hội Các công trình xây dựng trên địa bàn đều do người dân quản lý, tổ chức giám sát và phân cấp quản lý bảo vệ trong quá trình hưởng lợi nên chất lượng của các công trình luôn được đảm bảo Với những nỗ lực và kết quả đã đạt được, Thiên Lộc đang có đà để bước những bước vững chắc trong chặng đường xây dựng NTM tiếp theo (Chính Cương, http://www.baohatinh.vn)

2.2.1.2 Kinh nghiệm của huyện Đan Phương, Thành phố Hà Nội

Sau gần 5 năm thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới, Đan Phượng

đã trở thành huyện nông thôn mới đầu tiên của thành phố Hà Nội Đạt được thành

công này là do huyện đã huy động được đa dạng các nguồn lực đầu tư

Cũng như những địa phương khác ở Hà Nội, khi bắt tay vào thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới, nhìn chung sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Đan Phượng còn manh mún, lạc hậu, hạ tầng nông thôn xuống cấp, thiếu đồng bộ Người dân không mặn mà với sản xuất nông nghiệp, không mạnh dạn đầu tư mở rộng sản xuất để giải quyết công ăn việc làm, nâng cao thu nhập

Ô nhiễm môi trường, nhất là tại các làng nghề gây bức xúc trong người dân Vì thế, khi thực hiện xây dựng nông thôn mới, Đan Phượng xác định công tác tư tưởng, tuyên truyền để tạo sự đồng thuận trong nhân dân phải đi trước một bước Huyện đã tổ chức nhiều hình thức tuyên truyền, như các buổi nói chuyện chuyên

đề, lồng ghép với các hoạt động văn hóa, văn nghệ; tổ chức các cuộc thi tìm hiểu xây dựng nông thôn mới Cả hệ thống chính trị cùng vào cuộc Từ bí thư chi bộ đến cán bộ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, cụm dân cư đều trở thành tuyên truyền viên tích cực, giúp người dân hiểu rõ vai trò của mình trong xây dựng nông thôn mới Người dân được trực tiếp tham gia góp ý vào quá trình xây dựng nông thôn mới, từ xây dựng đồ án quy hoạch, lập phương án chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, phát triển kinh tế đến việc lựa chọn các tiêu chí, dự án cần làm trước, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh, khả năng huy động vốn của địa phương để thực hiện, tạo động lực thực hiện các tiêu chí tiếp theo

Đan Phượng xác định xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn là tiền đề phát triển kinh tế - xã hội Huyện đã phát huy dân chủ cơ sở, vận dụng sáng tạo

Trang 39

phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm, người dân hưởng lợi, trong đó mạnh dạn đặt mục tiêu huy động nguồn lực từ cộng đồng là nhân tố quyết định

để đầu tư xây dựng nông thôn mới Ngay từ trước khi thành phố có chính sách hỗ trợ các địa phương đầu tư cơ sở hạ tầng, Đan Phượng đã hỗ trợ gần một phần ba giá trị nguyên vật liệu xây dựng, còn người dân tự đứng ra đóng góp và làm đường làng, ngõ xóm Cách làm này đã mang lại hiệu quả rõ nét tại những xã có đời sống kinh tế khá, đông dân cư, hình thành nên nhiều tuyến đường khang trang, sạch đẹp Nhưng đối với những xã vùng bãi xa trung tâm, đời sống người dân còn khó khăn thì chưa thực hiện được Đến khi thành phố có chủ trương hỗ trợ các địa phương nguyên vật liệu để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, huyện đã nhanh chóng “chớp” thời cơ này Tuy nhiên, thay vì hỗ trợ sau đầu tư, khi công trình hoàn thành, Đan Phượng đã mạnh dạn đứng ra “mua chịu” nguyên vật liệu để cung cấp sớm cho người dân Chủ tịch UBND huyện Đan Phượng Nguyễn Hữu Hoàng cho biết, lãnh đạo huyện đã vận động các doanh nghiệp cung ứng nguyên vật liệu xây dựng cung cấp hàng theo hình thức trả chậm để ứng trước cho các xã làm đường giao thông Khi đã có nguyên vật liệu, Ban chỉ đạo huyện kiểm tra thực tế và duyệt thiết kế từng tuyến đường để bảo đảm các công trình bảo đảm chất lượng Các doanh nghiệp tư vấn miễn phí, còn các đơn

vị thi công ủng hộ một phần giá trị nhân công và máy móc Đáng chú ý, người dân đã tự nguyện đóng góp ngày công, nhiều hộ dân hiến đất mở rộng đường tại các khúc cua Cả huyện như một công trường xây dựng lớn Nhờ vậy, chỉ sau hai tháng thực hiện theo hình thức này đã có hàng chục ki-lô-mét đường trục, đường xóm ngõ hoàn thành Cách làm này không chỉ tiết kiệm ngân sách nhà nước, huy động nguồn lực của người dân mà còn tạo ra không khí đoàn kết, phấn khởi trong nhân dân Trong tổng số hơn 450 tỷ đồng đầu tư giao thông nông thôn, người dân đã tự nguyện đóng góp gần 130 tỷ đồng

Thành công trong huy động nguồn lực xây dựng đường giao thông đã góp phần quan trọng giúp Đan Phượng thực hiện các chương trình, dự án phát triển nông nghiệp được thuận lợi Huyện đã chuyển đổi hơn 950 ha đất canh tác sang trồng cây có giá trị kinh tế cao, trong đó có gần 400 ha trồng cây ăn quả lâu năm như bưởi, cam, hơn 310 ha trồng hoa, hơn 110 ha trồng rau Giá trị sản xuất từ

160 đến 250 triệu đồng/ha/năm Chuyển dịch chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán sang phát triển chăn nuôi tập trung xa khu dân cư, phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa Quy hoạch và xây dựng sáu cụm công nghiệp làng nghề và phát triển gần

Trang 40

550 doanh nghiệp, thu hút hơn 6.200 lao động… Nhờ đó, đời sống người dân ngày càng được nâng cao Thu nhập bình quân đầu người cuối năm 2014 đạt gần

29 triệu đồng/năm, dự kiến hết năm 2015 đạt hơn 33 triệu đồng

Theo Ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới huyện Đan Phượng, bằng việc huy động đa dạng các nguồn lực xây dựng nông thôn mới, cho nên trong gần năm năm qua huyện đã huy động được gần 2.000 tỷ đồng, trong đó ngân sách thành phố cấp hơn 540 tỷ đồng, ngân sách huyện hơn 880 tỷ đồng, ngân sách xã hơn

122 tỷ đồng, vốn doanh nghiệp, hợp tác xã gần 100 tỷ đồng và người dân đóng góp hơn 200 tỷ đồng góp phần xây dựng thành công huyện nông thôn mới (Đắc Minh, http://www.baomoi.com)

2.2.1.3 Kinh nghiệm huy động nguồn lực tại huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình

Nét nổi bật trong Chương trình mục tiêu Quốc gia về XDNTM của huyện Yên Mô, Ninh Bình là huy động nguồn lực - một trong những yếu tố quan trọng của XDNTM Trong 5 năm qua, toàn huyện đã huy động tổng số kinh phí trên 1

310 tỷ đồng

Sau 5 năm triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM, một trong những bài học được Yên Mô rút ra đó là huy động sức dân, tạo nguồn lực lớn cho xây dựng NTM ở hầu hết các địa phương, nhất là những xã đã hoàn thành 19 tiêu chí và được công nhận là xã NTM như Yên Thắng, Yên Hòa, Yên

Từ, Yên Thái thì các tiêu chí đường giao thông nông thôn, nhà ở, cơ sở vật chất văn hóa xã hội,…đều do người dân tự nguyện đóng góp tiền của, công sức cùng

sự hỗ trợ của Nhà nước để hoàn thành

Từ việc phát động phong trào chung sức xây dựng NTM, đã có nhiều tấm gương điển hình, gương mẫu trong hiến đất, góp công, góp của để xây dựng NTM Được xã vận động, tuyên truyền, người dân đã hiểu tầm quan trọng, ý nghĩa của đường giao thông nông thôn và các công trình hạ tầng khác trong việc phát triển kinh tế-xã hội nên đông đảo nhân dân trên địa bàn xã đã đồng tình hưởng ứng, tham gia Nhiều hộ đã hiến đất, phá dỡ công trình phụ đang sinh hoạt

để mở rộng, nâng cấp đường giao thông nông thôn

Theo đại diện lãnh đạo UBND huyện Yên Mô, để có nguồn vốn xây dựng NTM, các địa phương đã huy động cả hệ thống chính trị cùng vào cuộc Việc huy động các nguồn lực xây dựng NTM phải cân đối để vừa đảm bảo thực hiện được mục tiêu, vừa huy động được sức dân và nguồn lực khác của địa phương Đồng

Ngày đăng: 17/11/2018, 16:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
19. Chính Cương (2011). Thiên Lộc huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới, truy cập từ http://baohatinh.vn/bong-da/thien-loc-huy-dong-nguon-luc-xay-dung-nong-thon-moi/58038.htm Link
20. Đắc Minh (2015). Huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới, kinh nghiệm từ Đan Phượng, truy cập từ http://www.baomoi.com/huy-dong-nguon-luc-xay-dung-nong-thon-moi-kinh-nghiem-tu-dan-phuong/c/17974679.epi Link
21. Hồng Giang (2015). Yên Mô: Kết quả sau 5 năm xây dựng nông thôn mới, truy cập từ http://baoninhbinh.org.vn/yen-mo-ket-qua-sau-5-nam-xay-dyng-nong-thon-moi-20151204091832171p2c21.htm Link
1. Ban chấp hành Đảng bộ huyện Yên Định (2010). Báo cáo chính trị đại hội Đảng bộ huyện Yên Định lần thứ XXIV nhiệm kỳ 2010-2015 Khác
2. Ban chấp hành Đảng bộ huyện Yên Định (2015). Báo cáo chính trị đại hội Đảng bộ huyện Yên Định lần thứ XXV nhiệm kỳ 2015-2020 Khác
3. Ban chỉ đạo Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới - UBND huyện Yên Định (2015). Báo cáo kết quả thực hiện Chương trình MTQG về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011 – 2015 huyện Yên Định Khác
4. Ban chỉ đao Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới huyện (2011). Đề án xây dựng nông thôn mới huyện Yên Định đến năm 2020 Khác
5. Ban chỉ đao Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới huyện (2013). Đề án xây dựng huyện Yên Định trở thành huyện nông thôn mới đến năm 2015 Khác
6. Bộ Nông nghiệp và PTNT (2009). Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và PTNT hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới 7. Bộ Nông nghiệp và PTNT (2010). Sổ tay hướng dẫn xây dựng nông thôn mớicấp xã Khác
8. Bộ Tài chính (2008). Thông tư số 75/2008/TT-BTC ngày 28-8-2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn quản lý vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách xã, phường, thị trấn Khác
9. Chi cục thống kê huyện Yên Định (2015). Niên giám thống kê huyện Yên Định năm 2015 Khác
10. Chu Tiến Quang (2015). Huy động và sử dụng các nguồn lực trong phát triển kinh tế nông thôn, thực trạng và giải pháp Khác
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (Số 26-NQ/TW ngày 05/08/2008). Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương (Khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Khác
12. Lê Quang Huy (2015). Huy động nguồn lực cộng đồng cho xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn mới huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định. Luận văn Thạc sỹ, Học viện nông nghiệp Việt Nam Khác
13. Mai Thanh Cúc, Quyền Đình Hà, Nguyễn Thị Tuyết Lan, Nguyễn Trọng Đắc (2005). Giáo trình phát triển nông thôn, NXB Nông nghiệp Hà Nội Khác
14. Nguyễn Hùng Minh (2014). Giải pháp huy động nguồn lực để xây dựng nông thôn mới tại huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. Luận văn Thạc sỹ kinh tế.Trường Đại học Thái Nguyên Khác
15. Phòng Tài nguyên môi trường huyện Yên Định (2013). tài liệu Kiểm kê đất đai năm 2013 Khác
16. Phòng Tài nguyên môi trường huyện Yên Định (2015). tài liệu Kiểm kê đất đai năm 2015 Khác
17. Thủ tướng Chính phủ (2009). Quyết định số 491/QĐ-TTg về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới Khác
18. Thủ tướng Chính phủ (2010). Quyết định 800/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020Tài liệu Internet Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w