Đề bài: Xây dựng một đề cương nghiên cứu đối với một vấn đề cụ thể mà anh chị quan tâm BÀI LÀM: Tên đề tài: Quản lý chương trình đào tạo ngành Công nghệ May – Trường Cao đẳng nghề Long Biên 1. PHẦN MỞ ĐẦU 1.1 Tổng quan nghiên cứu Vấn đề nghiên cứu : “Quản lý chương trình đào tạo” đã có tác giả ở một số trường Đại học, Cao đẳng đã nghiên cứu, nhưng trong phạm vi khái quát chung của một trường, chưa nghiên cứu cụ thể ở một chuyên ngành mang tính chất đặc thù riêng biệt. Quản lý chương trình giáo dục đào tạo chuyên ngành Công nghệ May tại Trường Cao đẳng nghề Long Biên đã được nhà trường, Khoa xây dựng trong mục tiêu chất lượng hàng năm, chương trình đã được ban lãnh đạo khoa xem xét cập nhật, điều chỉnh 1 lần/ 1 khóa học, xong mới chỉ dừng ở mức (điều chỉnh kế hoạch thực hiện, bổ sung những nội dung/tên học phần cho phù hợp, được rút kinh nghiệm trong quá trình thực hiện, thông qua ý kiến đóng góp của các giảng viên trực tiếp giảng dạy, nhà sử dụng lao động và quá trình công tác thực tiễn, chưa được đầu tư nghiên cứu, tổng hợp từ các chương trình tiên tiến mang tính quốc tế để phát triển chương trình ngành học vừa mang tính thực tiễn, vừa phải định hướng và dự báo về sản phẩm đầu ra để (đi trước, đón đầu sự phát triển của khoa học công nghệ), nguồn nhân lực được đào tạo là những hạt nhân có thể tư vấn giúp các nhà sử dụng lao động định hướng và xây dựng kế hoạch thực hiện cho sự phát triển của các doanh nghiệp. Do đó chương trình đào tạo vẫn còn nhiều bất cập, quá tải về khối lượng, việc phân bổ khối lượng giữa các phần trong chương trình chưa cân đối, xa rời thực tế. Chính vì vậy cần phải tiếp tục nghiên cứu về vấn đề thiết kế chương trình và quản lý chương trình. Trong đề tài này tác giả mong muốn sẽ giải quyết được những vấn đề còn tồn tại mà hiện nay Khoa Công nghệ May & Thiết kế Thời trang – Trường Cao đẳng nghề Long Biên chưa giải quyết được, để chương trình đào tạo được cải thiện theo đúng nghĩa của nó là: “Quản lý chương trình đào tạo”. Bằng việc nghiên cứu: “Quản lý chương trình đào tạo”.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN QUẢN LÝ GIÁO DỤC
- -BÀI TIỂU LUẬN Môn học: Phương pháp nghiên cứu khoa học
Giảng viên : TS, GVC Ngô Viết Sơn
Đơn vị công tác : Trường CĐN Long Biên
Hà Nội, 2017
Trang 2Đề bài: Xây dựng một đề cương nghiên cứu đối với một vấn đề cụ thể mà anh
chị quan tâm BÀI LÀM:
Tên đề tài: Quản lý chương trình đào tạo ngành Công nghệ May – Trường
Cao đẳng nghề Long Biên
1 PHẦN MỞ ĐẦU
1.1 Tổng quan nghiên cứu
Vấn đề nghiên cứu : “Quản lý chương trình đào tạo” đã có tác giả ở
một số trường Đại học, C a o đ ẳ n g đã nghiên cứu, nhưng trong phạm vi khái quát chung của một trường, chưa nghiên cứu cụ thể ở một chuyên ngành mang tính chất đặc thù riêng biệt
Quản lý chương trình giáo dục đào tạo chuyên ngành Công nghệ May tại Trường Cao đẳng nghề Long Biên đã được nhà trường, Khoa xây dựng trong mục tiêu chất lượng hàng năm, chương trình đã được ban lãnh đạo khoa xem xét cập nhật, điều chỉnh 1 lần/ 1 khóa học, xong mới chỉ dừng ở mức (điều chỉnh kế hoạch thực hiện, bổ sung những nội dung/tên học phần cho phù hợp, được rút kinh nghiệm trong quá trình thực hiện, thông qua ý kiến đóng góp của các giảng viên trực tiếp giảng dạy, nhà sử dụng lao động và quá trình công tác thực tiễn, chưa được đầu tư nghiên cứu, tổng hợp từ các chương trình tiên tiến mang tính quốc tế để phát triển chương trình ngành học vừa mang tính thực tiễn, vừa phải định hướng và dự báo về sản phẩm đầu ra để (đi trước, đón đầu sự phát triển của khoa học công nghệ), nguồn nhân lực được đào tạo là những hạt nhân có thể tư vấn giúp các nhà sử dụng lao động định hướng
và xây dựng kế hoạch thực hiện cho sự phát triển của các doanh nghiệp
Do đó chương trình đào tạo vẫn còn nhiều bất cập, quá tải về khối lượng, việc phân bổ khối lượng giữa các phần trong chương trình chưa cân đối, xa rời thực tế Chính vì vậy cần phải tiếp tục nghiên cứu về vấn đề thiết kế chương trình và quản lý chương trình
Trong đề tài này tác giả mong muốn sẽ giải quyết được những vấn đề còn tồn tại mà hiện nay Khoa Công nghệ May & Thiết kế Thời trang – Trường Cao đẳng nghề Long Biên chưa giải quyết được, để chương trình đào
Trang 3tạo được cải thiện theo đúng nghĩa của nó là: “Quản lý chương trình đào tạo”.
Bằng việc nghiên cứu: “Quản lý chương trình đào tạo”.
1.2 Lý do chọn đề tài
Thế kỷ 21 là thế kỷ của khoa học kỹ thuật và công nghệ phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là Công nghệ thông tin, hội nhập khu vực và thế giới ở tất cả các lĩnh vực tạo ra sự cạnh tranh khốc liệt, đòi hỏi nguồn nhân lực
có chất lượng cao đáp ứng những yêu cầu đó, những yêu cầu của xã hội của khoa học công nghệ Xu hướng hội nhập toàn cầu hóa buộc mỗi quốc gia phải
có định hướng và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước mình, trong đó chiến lược phát triển Giáo dục và đào tạo đóng vai trò quyết định sự
phát triển bền vững Chương trình giáo dục trở thành tâm điểm của các cuộc cải cách ở tất cả các nước cũng như ở Việt Nam.
Nền văn minh thế giới nói chung hiện nay đang trong thời kỳ nền văn minh kinh tế tri thức, còn ở Việt Nam đang ở giữa nền văn minh Công nghiệp
và hậu Công nghiệp Điều này tạo ra nhiều cơ hội nhưng cũng không ít những thách thức đối với hệ thống giáo dục Việt Nam ta
Giai đoạn đẩy mạnh Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, nguồn lực con người Việt Nam càng trở nên có ý nghĩa quan trọng, quyết định sự thành công của công cuộc phát triển đất nước.
Giáo dục (đặc biệt giáo dục nghề nghiệp, giáo dục nghề nghiệp-nơi cung cấp lực lượng lao động trực tiếp hết sức quan trọng) ngày càng có vai trò và nhiệm vụ quan trọng trong việc xây dựng một thế hệ người Việt Nam mới, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội Điều này đòi hỏi giáo dục phải có chiến lược phát triển đúng hướng, hợp quy luật với xu thế và xứng tầm thời đại
Đứng trước những thuận lợi và những thách thức nói trên Đảng và nhà nước ta đã đặt ra những chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn hiện nay
2009-2020 Đặc biệt nhấn mạnh: Đổi mới: “Mục tiêu, nội dung, phương pháp” Vấn đề cốt lõi của nội dung là: “chương trình đào tạo”, cấn tiến
hành đổi mới mạnh mẽ chương trình đào tạo theo hướng đa dạng hóa, chuẩn hóa hiện đại hóa có tiếp thu chọn lọc những chương trình đào tạo tiên tiến của các nước phát triển, phù hợp với điều kiện và yêu cầu của đất nước, của
xã hội Chương trình phải đảm bảo 4 yếu tố (Đức – Trí – Thể - Mỹ), mang tính liên thông (dọc, ngang), được kế thừa và phát triển
Trang 4Hiên nay hầu hết các trường cao đẳng nói chung cũng như trường Cao đẳng nghề Long Biên nói riêng đã chuyển từ hình thức đào tạo nên chế sang
hình thức đào tạo theo mô đun, môn học; Chương trình đào tạo phải mềm dẻo để người học dễ dàng đáp ứng các nhu cầu luôn biến động của thị trường nhân lực.
Xong chương trình giáo dục nghề nghiệp ở một số ngành đào tạo của các trường Cao đẳng ở Việt Nam nói chung, ngành Công nghệ May & TKTT –
Trường Cao đẳng nghề Long Biên nói riêng vẫn còn những bất cập (không phải là đào tạo kỹ năng nghề mà cũng không phải nghiên cứu chuyên môn sâu, các môn học/ học phần còn mang tính chắp vá không sát với mục tiêu ngành học, chưa trang bị cho sinh viên kỹ năng mềm, còn thụ động, các môn học tự chọn mang tính chuyên sâu còn ít và mang tính hình thức ), chương trình của một số ngành học không cập nhật kịp thời còn bị lạc hâu so với khoa học kỹ thuật, không đáp ứng yêu cầu của xã hội Trong
khi đó ngành May thu hút khá nhiều lực lượng lao động, kim ngạch xuất khẩu toàn ngành Dệt May năm 2009 là (9,1/56,6) tỷ USD; năm 2010 là (10,5/71,63) tỷ USD chiếm tỷ lệ đáng kể so với tổng kim ngạch xuất khẩu của tất cả các ngành trong cả nước
Với tất cả những lý do trên cũng như trách nhiệm của những người
tham gia xây dựng chương trình, tác giả muốn lựa chọn nội dung: “ Quản lý chương trình đào tạo chuyên ngành Công nghệ May tại Trường Cao đẳng nghề Long Biên” làm đề tài nghiên cứu.
Đề tài nghiên cứu nhằm đưa ra phương pháp quản lý chương trình đào tạo chuyên ngành Công nghệ May tại Trường Cao đẳng nghề Long Biên có hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của Trường Cao đẳng nghề Long Biên nói chung, của Khoa Công nghệ May & Thiết Thời trang trong nhà trường nói riêng, cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng cao cho ngành May – Thời trang của đất nước, đáp ứng được triết lý của hệ thống tín chỉ cũng như chiến lược của Đảng và nhà nước đã đề ra
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm đưa ra một số biện pháp quản lý chương trình đào tạo nhằm nâng cao hiệu quả chương trình đào tạo - chuyên ngành công nghệ May – Trường Cao đẳng nghề Long Biên
1.4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Trang 51.4.1 Khách thể nghiên cứu
Chương trình đào tạo ngành Công nghệ May Trường Cao đẳng nghề Long Biên
1.4.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý Chương trình đào tạo ngành Công nghệ May Trường Cao
đẳng nghề Long Biên
1.5 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu chương trình đào tạo chuyên ngành Công nghệ May tại Trường Cao đẳng nghề Long Biên và quản lý chương trình theo những mục tiêu nghiên cứu
1.6 Vấn đề nghiên cứu
Câu hỏi 1: Quản lý chương trình đào tạo có thể dựa trên những lý thuyết nào?
Câu hỏi 2: Quản lý chương trình đào tạo ở Trường Cao đẳng nghề Long Biên
có những mặt mạnh, mặt yếu gì?
Câu hỏi 3: Những mặt yếu của việc quản lý chương trình đào tạo ở Trường Cao đẳng nghề Long Biên có thể thay đổi được không?
1.7 Giả thuyết nghiên cứu
Nếu có được biện pháp quản lý và lộ trình thực hiện việc quản lý chương trình đào tạo, chuyên ngành Công nghệ May – Trường Cao đẳng nghề Long Biên một cách khoa học và hiệu quả trong mỗi khóa đào tạo, chắc chắn nâng cao được chất lượng chương trình đào tạo
1.8 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu xu hướng phát triển xã hội, của ngành nghề đào tạo
- Điều tra bảng hỏi: Dự kiến sẽ tiến hành nghiên cứu định lượng với các đối
tượng (cựu sinh viên của khoa, nhà sử dụng lao động, cán bộ - giảng viên, chuyên gia kỹ thuật có cùng chuyên ngành đào tạo ở một số trường trong và ngoài nước )
- Quan sát, tổng hợp từ thực tiễn: trong và ngoài nước.
1.9 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở dầu, kết luận và khuyến nghị, mục lục và tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý chương trình đào tạo
Chương 2: Thực trạng về chương trình và quản lý chương trình đào tạo
Trang 6ngành Công nghệ May - Trường Cao đẳng nghề Long Biên.
Chương 3: Một số biện pháp quản lý chương trình đào tạo chuyên ngành
Công nghệ May - Trường Cao đẳng nghề Long Biên và lộ trình thực hiện
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO
1.1 Các khái niệm liên quan
1.1.1 Khái niệm “quản lý”
Thuật ngữ quản lý được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau dựa trên
cơ sở những cách tiếp cận khác nhau Mỗi khuynh hướng trong lĩnh vực này đều cho ra đời những định nghĩa về quản lý dựa vào cách thức xâm nhập vào
hệ thống quản lý, cách thức xâm nhập vào hệ thống quản lý, đường lối xử lý các vấn đề quản lý:
F.W.Taylor (Frederich Winslow Taylor: nhà thực hành quản lý lao
động và nghiên cứu quá trình lao động trong từng bộ phận ): xuất phát từ nhu cầu khai thác tối đa thời gian lao động, sử dụng hợp lý nhất các công cụ và
phương tiện lao động, nhằm tăng năng suất lao động, cho rằng: “Quản lý là
nghệ thuật hiểu biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái gì đó bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất”.
Với nhà lý luận quản lý kinh tế Pháp A.Fayon thì: “Quản lý là đưa
xí nghiệp tới đích, cố gắng sử dụng tốt nhất các nguồn lực (nhân tài, vật lực) của nó”.
Với góc độ điều khiển học, A.I.Berg cho rằng: “Quản lý là quá trình
chuyển một hệ động lực phức tạp từ trạng thái này sang trạng thái khác nhờ
sự tác động vào các phần tử biến thiên của nó”.
Nhà toán học A.N.Kolmorgorow thì cho rằng: “Quản lý là gia công
thông tin thành tín hiệu điều chỉnh hoạt động của máy móc hay cơ thể sống”.
Nhà triết học V.G.Afanatsev lại cho rằng: “Quản lý xã hội một cách khoa học có nghĩa là nhận thức, phát hiện các qui luật, các khuynh hướng phát triển xã hội và hướng (kế hoạch hóa, tổ chức điều chỉnh và kiểm tra) sự vận động xã hội
cho phù hợp với khuynh hướng ấy; Phát hiện và giải quyết kịp thời các mâu
thuẫn của sự phát triển, khắc phục trở ngại; duy trì sự thống nhất giữa các chức năng và cơ cấu của hệ thống; Tiến hành một đường lối đúng đắn dựa trên
cơ sở tính toán nghiêm túc những khả năng khách quan, mối tương quan giữa
Trang 7những lực lượng xã hội, một đường lối gắn bó chặt chẽ với nền kinh tế và sự phát triển tinh thần của xã hội”.
Tóm lại: “Quản lý là một quá trình tác động có định hướng (có chủ
đích), có tổ chức, có lựa chọn trong số các tác động có thể, dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển đến mục tiêu đã định”.
1.1.2 Quản lý giáo dục đào tạo
Quản lý giáo dục đã được các nhà lý luận và quản lý thực tiễn đưa ra một số định nghĩa dưới các góc độ khác nhau:
Theo Đặng Quốc Bảo (1997): “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là
hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu xã hội”
Theo tác giả Nguyễn ngọc Quang (1989): “Quản lý giáo dục là hệ
thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp qui luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học-giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất”
Tóm lại: “ Quản lý giáo dục là quá trình tác động có ý thức, kế hoạch,
tổ chức và hợp qui luật của chủ thể quản lý (các cơ quan Quản lý giáo dục các cấp: Bộ Giáo dục, Sở Giáo dục, Phòng Giáo dục) tới khách thể quản lý (các khâu của hệ thống giáo dục) nhằm làm cho các cơ sở giáo dục vận hành được bình thường và đạt tới các mục tiêu giáo dục đã đề ra”
1.1.3 Quản lý nhà trường
Quản lý nhà trường là quá trình tác động của chủ thể quản lý tới các hoạt động trong cấu trúc của nhà trường, nhằm vận hành hệ thống tổ chức nhà trường đạt tới mục tiêu của chính Nhà trường đề ra và các mục tiêu của Nhà nước, xã hội yêu cầu
1.1.4 Khái niệm “ngành”
Ngành là một lĩnh vực khoa học, kỹ thuật hoặc văn hóa, cho phép người học tiếp nhận những kiến thức và kỹ năng mang tính hệ thống cần có
để thực hiện các kỹ năng lao động trong khuông khổ của một nghề cụ thể Ngành phải được ghi trong văn bằng tốt nghiệp
Trang 81.1.5 Khái niệm “chuyên ngành”
Chuyên ngành là sự đào tạo chuyên sâu kiến thức và kỹ năng cho người học trong phạm vị hẹp hơn của một ngành, hoặc là sự thu nhận kiến thức và
kỹ năng trong một ngành mới khác
1.1.6 Khái niệm: “Công nghệ”; “Công nghệ May”
Có một số khái niệm về “Công nghệ”:
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, thì: “Công nghệ” (có nguồn
gốc từ technology) là t ậ p h ợp c ác phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các n g u ồ n l ực t hành sản phẩm Như vậy công nghệ là việc phát triển và ứng dụng của các dụng cụ, m á y m ó c, n
g u y ên l i ệu v à quy t r ì nh đ ể giúp đỡ giải quyết những vấn đề của con người.
Theo Uỷ ban Kinh tế và Xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP): “Công nghệ” là kiến thức có hệ thống về quy trình và kỹ
thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin Nó bao gồm kiến thức, thiết bị, phương pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hoá và cung cấp dịch vụ
“Công nghệ May” là t ậ p h ợ p c ác phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí
quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguyên vật liệu (vải, chỉ…) thành sản phẩm (quần, áo, mũ…)
Những yếu tố cấu thành của Công nghệ
Kỹ thuật (T): bao gồm các máy móc thiết bị Thành phần kỹ thuật là cốt lõi của bất kỳ công nghệ nào Nhờ máy móc, thiết bị, phương tiện mà con người giảm được sức mạnh cơ bắp và tăng trí tuệ trong hoạt động sản xuất
Con người (H): Bao gồm kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng do học hỏi, tích luỹ được trong quá trình hoạt động, nó cũng bao gồm các tố chất của con người như tính sáng tạo, sự khôn ngoan, khả năng phối hợp, đạo đức lao động Thông tin (I): Bao gồm các dữ liệu về phần kỹ thuật, về con người và tổ
chức Các thông số về đặc tính của thiết bị, số liệu về vận hành thiết bị, để duy trì và bảo dưỡng, dữ liệu để nâng cao và dữ liệu để thiết kế các bộ phận của phần kỹ thuật Thành phần thông tin biểu hiện các tri thức được tích luỹ trong công nghệ, nó giúp trả lời câu hỏi "làm cái gì" và "làm như thế nào"
Tổ chức (O): Tố chức sản xuất, quản lý sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
1.2 Chương trình đào tạo và quản lý chương trình đào tạo
Trang 91.2.1.Chương trình đào tạo (curriculum – gọi tắt là CTĐT) : có rất nhiều quan
niệm khác nhau về CTĐT mỗi cách tiếp cận sẽ có định nghĩa khác nhau về CTĐT:
- Cách tiếp cận nội dung (the content approach): CTĐT là bản phác thảo về
nội dung đào tạo, qua đó người dạy biết mình phải dạy những gì và người học biết mình cần phải học những gì
- Cách tiếp cận mục tiêu (the objective approach - định nghĩa của White –1995): CTĐT là một kế hoạch đào tạo phản ánh các mục tiêu đào tạo mà nhà
trường theo đuổi, nó cho biết nội dung, phương pháp dạy và học cần thiết để đạt được mục tiêu đề ra
- Cách tiếp cận phát triển (developmental approach - định nghĩa của Time Wentling -1993): CTĐT là một bản thiết kế tổng thể cho một hoạt động đào
tạo (có thể kéo dài một vài giờ, một ngày, một tuần hoặc vài năm) Bản thiết
kế tổng thể đó cho biết toàn bộ nội dung cần đào tạo, chỉ rõ ra những gì ta có thể trông đợi ở người học sau khóa học, nó phác họa ra qui trình cần thiết để thực hiện nội dung đào tạo, nó cũng cho ta biết các phương pháp đào tạo và cách thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập và tất cả những cái đó được sắp xếp theo một thời gian biểu chặt chẽ
Ngoài ra còn một số định nghĩa dựa vào mỗi cách tiếp cận khác nhau,
nhưng theo: Định nghĩa hoàn chỉnh (Nguyễn Hữu Chí, Viện KHGD 2002):
CTĐT là sự trình bày có hệ thống một kế hoạch tổng thể các hoạt động đào tạo trong một thời gian xác định, trong đó nêu lên các mục tiêu học tập mà người học cần đạt được, đồng thời xác định rõ phạm vi, mức độ nội dung học tập, các phương pháp, phương tiện, cách thức tổ chức học tập, cách đánh giá kết quả học tập…nhằm đạt được mục tiêu học tập đề ra
Còn cấu trúc của một chương trình, Tyler (1949) cho rằng CTĐT phải bao gồm 4 thành tố cơ bản, đó là:
Mục tiêu đào tạo;
Nội dung đào tạo;
Phương pháp hay qui trình đào tạo;
Đánh giá kết quả đào tạo
CTĐT Bao gồm: chương trình đào tạo khung và chương trình đào tạo chi
tiết
Chương trình đào tạo KHUNG (Curriculum standard): là văn bản
Trang 10Nhà nước ban hành cho từng ngành đào tạo cụ thể, trong đó qui định cơ cấu nội dung môn học, thời gian đào tạo, tỷ lệ phân bổ thời gian đào tạo giữa các môn học
cơ bản và chuyên môn; giữa lý thuyết với thực hành, thực tập Nó bao gồm khung chương trình cùng với những nội dung cốt lõi, chuẩn mực, tương đối ổn định theo thời gian và bắt buộc phải có trong chương trình đào tạo của tất cả các trường đại học hoặc cao đẳng Do đặc thù một nhà trường có thể được phép đào tạo nhiều ngành, nhiều hệ do đó các môn học khung sẽ được phân loại theo dạng: Cơ bản chung cho nhiều hệ đào tạo, Đại cương chung cho nhiều ngành, Cơ sở ngành -chung cho nhiều chuyên ngành và Chuyên ngành
Chương trình đào tạo CHI TIẾT chính là chương trình đào tạo
khung đã được phân ra theo các học phần chi tiết và phân bổ cho từng học kỳ của sinh viên theo khoa và ngành Do học phần kế thừa từ môn học của chương trình khung nên các học phần cũng sẽ được phân loại theo Cơ bản - Đại cương - Cơ sở ngành và Chuyên ngành như các môn học của chương trình khung qui định
1.2.2 Quản lý chương trình đào tạo
Quản lý chương trình đào tạo là quá trình liên tục nhằm hoàn thiện không ngừng chương trình đào tạo
Theo quan điểm này, chương trình đào tạo là một thực thể không phải được thiết kế một lần và dùng cho mãi mãi, mà được phát triển, bổ sung, hoàn thiện tùy theo sự thay đổi của trình độ phát triển kinh tế - xã hội, của thành tựu khoa học kỹ thuật và công nghệ, và cũng là yêu cầu của thị trường sử dụng lao động
Nói cách khác, khi mục tiêu của nền giáo dục quốc dân thay đổi để đáp ứng nhu cầu xã hội, thì chương trình đào tạo cũng phải thay đổi theo, mà đây
là quá trình diễn ra liên tục nên chương trình cũng phải không ngừng phát triển và hoàn thiện Nhu cầu của xã hội thay đổi theo sự phát triển và vì vậy chương trình đào tạo cũng phải liên tục cập nhật
Những lý do chính cần quản lý chương trình đào tạo đại học, cao đẳng
Thứ nhất: Để cải thiện nội dung giáo dục nghề nghiệp thông qua việc sửa đổi và bổ sung những nội dung mới phù hợp hơn
Thứ 2: Làm cho giáo dục nghề nghiệp phù hợp hơn với hoàn cảnh và nhu cầu của đất nước và đảm bảo xu thế hội nhập vùng và thế giới
Thứ 3: Lấp đi những khiếm khuyết đang tồn tại trong chương trình giáo