1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý giáo dục đạo đức học sinh của hiệu trưởng các trường Tiểu học Quận Lê Chân thành phố Hải Phòng

122 91 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 839 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay, trước xu thế toàn cầu hóa và quá trình hội nhập quốc tế, sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống đối với mỗi con người Việt Nam, nhất là đối với thế hệ trẻ. Bên cạnh đó, các thế lực thù địch nhân cơ hội đó để tăng cường chống phá đất nước ta trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Một trong những mục tiêu chống phá đó là làm cho tầng lớp thanh niên Việt Nam suy giảm về đạo đức và văn hoá truyền thống dân tộc. Để giữ vững và phát triển các thế hệ con người Việt Nam có đủ phẩm chất, năng lực đáp ứng cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trong quá trình phát triển đất nước, nhất là thích ứng với những tác động đa chiều của thế giới hiện nay, Đảng, Nhà nước ta tiếp tục giữ vững và phát triển quan điểm giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ. Bên cạnh trình độ kiến thức chuyên môn, thế hệ trẻ còn được quan tâm giáo dục về chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống để vững vàng trước những tác động tiêu cực của mặt trái xã hội, thực sự là người chủ tương lai của đất nước. Trong suốt quá trình đấu tranh giành độc lập, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, dưới sự lãnh đạo, định hướng của Đảng, nền giáo dục nước nhà luôn hướng tới mục tiêu là đào tạo ra các thế hệ con người Việt Nam có đức, có tài, hết lòng phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Ngay từ cải cách giáo dục lần thứ 3 năm 1979, đã xác định rõ về nhiệm vụ tăng cường giáo dục đạo đức cách mạng trong trường học, ghi rõ: “Nội dung đạo đức cần được giáo dục cho học sinh từ mẫu giáo đến đại học, nội dung chủ yếu dựa vào năm điều Bác Hồ dạy”. Hội nghị lần thứ II của BCH TW Đảng khóa XI [11, tr41] đã đưa phương hướng lãnh đạo đúng đắn về nhiệm vụ giáo dục toàn diện của ngành giáo dục nhằm đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Đảng ta đó chỉ rõ: “Mục tiêu chủ yếu là giáo dục toàn diện, đức dục, trí dục, mỹ dục ở tất cả các bậc học, hết sức coi trọng giáo dục chính trị tư tưởng, nhân cách, khả năng tư duy sáng tạo và năng lực thực hành” và “coi trọng nhân cách, lý tưởng và đạo đức, trí lực và thể lực, gắn học với hành”. Đảng ta khẳng định:“Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi trọng GDĐĐ, lối sống, năng lực sáng tạo”. Chủ tịch Hồ Chí Minh [19, tr60] - một trong những lãnh tụ thiên tài đã nhận ra rất sớm vai trò của giáo dục, vì vậy lúc sinh thời Người coi việc bồi dưỡng thê ́hê ̣cách mạng cho đời sau là công việc trọng đại của đất nước, của dân tộc. Người rất chú trọng đến công tác GDĐĐ. Bác Hồ kính yêu đã dạy “ Người có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó, người có tài mà không có đức thì vô dụng”. HS Tiểu học là lứa tuổi mà nhân cách đang được định hình và phát triển. Những tác động từ môi trường bên ngoài dễ dàng thâm nhập vào nhận thức của trẻ, vì vậy cần giáo dục thói quen trong hành vi để trở thành phẩm chất đạo đức trong nhân cách của trẻ. Quận Lê Chân là một trong ba quận trung tâm của thành phố Hải Phòng, trong những năm gần đây có sự phát triển nhanh về kinh tế - xã hội; các em HS Tiểu học nhanh chóng tiếp thu ảnh hưởng những mặt tích cực cũng như tiêu cực đang xảy ra trong cơ chế thị trường và quá trình hội nhập quốc tế. Xuất phát từ những lý do trên, đề tài “Quản lý giáo dục đạo đức học sinh của hiệu trưởng các trường Tiểu học Quận Lê Chân thành phố Hải Phòng” được tác giả lựa chọn và nghiên cứu.

Trang 1

Với tình cảm chân thành, tác giả bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Bangiám đốc Học viện Quản lý giáo dục, các thầy cô giáo và tập thể cán bộ côngnhân viên chức Học viện Quản lý giáo dục đã trang bị những kiến thức cầnthiết để tác giả có thể tập dược nghiên cứu khoa học và hoàn thành được luậnvăn này.

Đặc biệt, tác giả bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Phó Giáo sư - Tiến sĩPhan Thị Hồng Vinh - trường Đại học Sư phạm Hà Nội, người thầy đã hướngdẫn tận tình và trách nhiệm với tác giả trong suốt quá trình lập đề cương, tổchức nghiên cứu và viết luận văn

Mặc dù đã rất nỗ lực và cố gắng nhưng chắc chắn luận văn sẽ không tránhkhỏi những thiếu sót Tác giả mong được sự chỉ bảo của các thầy cô giáo, sự góp

ý chân thành của bạn bè đồng nghiệp để luận văn được bổ sung và hoàn thiệnhơn

Xin chân thành cảm ơn!

Tác giả

Chu Thị Hường

Trang 2

GDĐĐ : Giáo dục đạo đứcQLGD : Quản lý giáo dục

GD&ĐT : Giáo dục và Đào tạo

Trang 4

Sơ đồ 1.1 Mối quan hệ của chức năng quản lý

Biểu đồ 2.1 Tỷ kệ hạnh kiểm tốt, khá, trung bình, yếu của HS Tiểu học Quận

Lê Chân

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Thống kê tổng hợp về đội ngũ CBQL, GV

Bảng 2.2 Kết quả xếp loại hạnh kiểm của HS Tiểu học Quận Lê Chân

Bảng 2.3 Vai trò của công tác GDĐĐ HS

Bảng 2.4 Nội dung GDĐĐ cho HS

Bảng 2.5 Hình thức GDĐĐ cho HS

Bảng 2.6 Biện pháp GDĐĐ cho HS

Bảng 2.7 Mức độ thực hiện việc lập kế hoạch GDĐĐ cho HS

Bảng 2.8 Nội dung kế hoạch quản lý GDĐĐ cho HS

Bảng 2.9 Tổ chức hoạt động GDĐĐ cho HS

Bảng 2.10 Chỉ đạo hoạt động GDĐĐ cho HS

Bảng 2.11 Kiểm tra, đánh giá hoạt động GDĐĐ HS

Bảng 2.12 Tần suất phối hợp giữa các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường

Bảng 2.13 Nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả GDĐĐ cho HS

Bảng 3.1.Kết quả khảo nghiệm về tính cần thiết của các biện pháp

Bảng 3.2 Kết quả khảo nghiệm về tính khả thi của các biện pháp

Bảng 3.3 Điểm trung bình kết quả khảo nghiệm về tính cần thiết và khả thi của các biện pháp

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hiện nay, trước xu thế toàn cầu hóa và quá trình hội nhập quốc tế, sựphát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường đã làm ảnh hưởng không nhỏđến chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống đối với mỗi con người Việt Nam,nhất là đối với thế hệ trẻ Bên cạnh đó, các thế lực thù địch nhân cơ hội đó đểtăng cường chống phá đất nước ta trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.Một trong những mục tiêu chống phá đó là làm cho tầng lớp thanh niên ViệtNam suy giảm về đạo đức và văn hoá truyền thống dân tộc

Để giữ vững và phát triển các thế hệ con người Việt Nam có đủ phẩmchất, năng lực đáp ứng cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Namtrong quá trình phát triển đất nước, nhất là thích ứng với những tác động đachiều của thế giới hiện nay, Đảng, Nhà nước ta tiếp tục giữ vững và phát triểnquan điểm giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ Bên cạnh trình độ kiến thứcchuyên môn, thế hệ trẻ còn được quan tâm giáo dục về chính trị tư tưởng, đạođức, lối sống để vững vàng trước những tác động tiêu cực của mặt trái xã hội,thực sự là người chủ tương lai của đất nước

Trong suốt quá trình đấu tranh giành độc lập, xây dựng và bảo vệ Tổquốc, dưới sự lãnh đạo, định hướng của Đảng, nền giáo dục nước nhà luônhướng tới mục tiêu là đào tạo ra các thế hệ con người Việt Nam có đức, có tài,hết lòng phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân Ngay từ cải cách giáo dục lầnthứ 3 năm 1979, đã xác định rõ về nhiệm vụ tăng cường giáo dục đạo đứccách mạng trong trường học, ghi rõ: “Nội dung đạo đức cần được giáo dụccho học sinh từ mẫu giáo đến đại học, nội dung chủ yếu dựa vào năm điềuBác Hồ dạy” Hội nghị lần thứ II của BCH TW Đảng khóa XI [11, tr41] đãđưa phương hướng lãnh đạo đúng đắn về nhiệm vụ giáo dục toàn diện củangành giáo dục nhằm đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp công

Trang 6

nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Đảng ta đó chỉ rõ: “Mục tiêu chủ yếu làgiáo dục toàn diện, đức dục, trí dục, mỹ dục ở tất cả các bậc học, hết sức coitrọng giáo dục chính trị tư tưởng, nhân cách, khả năng tư duy sáng tạo vànăng lực thực hành” và “coi trọng nhân cách, lý tưởng và đạo đức, trí lực vàthể lực, gắn học với hành” Đảng ta khẳng định:“Tập trung nâng cao chấtlượng giáo dục, đào tạo, coi trọng GDĐĐ, lối sống, năng lực sáng tạo”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh [19, tr60] - một trong những lãnh tụ thiên tài đãnhận ra rất sớm vai trò của giáo dục, vì vậy lúc sinh thời Người coi việc bồidưỡng thê ́hê ̣cách mạng cho đời sau là công việc trọng đại của đất nước, củadân tộc Người rất chú trọng đến công tác GDĐĐ Bác Hồ kính yêu đã dạy “Người có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó, người có tài màkhông có đức thì vô dụng”

HS Tiểu học là lứa tuổi mà nhân cách đang được định hình và pháttriển Những tác động từ môi trường bên ngoài dễ dàng thâm nhập vào nhậnthức của trẻ, vì vậy cần giáo dục thói quen trong hành vi để trở thành phẩmchất đạo đức trong nhân cách của trẻ

Quận Lê Chân là một trong ba quận trung tâm của thành phố HảiPhòng, trong những năm gần đây có sự phát triển nhanh về kinh tế - xã hội;các em HS Tiểu học nhanh chóng tiếp thu ảnh hưởng những mặt tích cựccũng như tiêu cực đang xảy ra trong cơ chế thị trường và quá trình hội nhậpquốc tế

Xuất phát từ những lý do trên, đề tài “Quản lý giáo dục đạo đức học sinh của hiệu trưởng các trường Tiểu học Quận Lê Chân thành phố Hải Phòng” được tác giả lựa chọn và nghiên cứu.

2 Mục đích nghiên cứu

Trang 7

Đề xuất biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý GDĐĐ HS chohiệu trưởng các trường Tiểu học Quận Lê Chân thành phố Hải Phòng, gópphần nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường.

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý GDĐĐ cho HS Tiểu học 3.2 Phân tích thực trạng việc quản lý GDĐĐ cho HS của hiệu trưởngcác trường Tiểu học Quận Lê Chân thành phố Hải Phòng

3.3 Đề xuất biện pháp quản lý GDĐĐ HS của hiệu trưởng cáctrường Tiểu học Quận Lê Chân thành phố Hải Phòng

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

4.1 Khách thể nghiên cứu

Công tác quản lý GDĐĐ HS của hiệu trưởng các trường Tiểu học Quận

Lê Chân thành phố Hải Phòng

4.2 Đối tượng nghiên cứu

Quản lý GDĐĐ HS của hiệu trưởng các trường Tiểu học Quận Lê Chânthành phố Hải Phòng

5 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

5.1 Giới hạn nghiên cứu

Đề tài phân tích thực trạng quản lý GDĐĐ cho HS Tiểu học tại 8trường Tiểu học Quận Lê Chân thành phố Hải Phòng và đề xuất các biện phápquản lý GDĐĐ HS cho hiệu trưởng các trường Tiểu học trên địa bàn quận

5.2 Địa bàn nghiên cứu

8 trường Tiểu học Quận Lê Chân thành phố Hải Phòng gồm: MinhKhai, Lê Văn Tám, Nguyễn Đức Cảnh, Võ Thị Sáu, Tân Trào, Vĩnh Niệm,Trần Nguyên Hãn, Trưng Vương

5.3 Phạm vi thời gian: 3 năm học từ 2010-2013.

6 Giả thuyết khoa học

Trang 8

Việc quản lý GDĐĐ HS Tiểu học Quận Lê Chân thành phố Hải Phòngtrong thời gian qua đã đạt được kết quả nhất định song còn nhiều hạn chế, bấtcập, hiệu quả thấp, ảnh hưởng đến công tác giáo dục toàn diện trong nhàtrường Nếu áp dụng đồng bộ hệ thống những biện pháp quản lý GDĐĐ đềxuất, sẽ góp phần nâng cao hiệu quả GDĐĐ cho HS.

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

- Nghiên cứu văn kiện

- Nghiên cứu tài liệu lý luận

- Nghiên cứu sách, báo, tạp chí và các công trình khoa học có liên quan

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp quan sát, điều tra bằng phiếu:

+ Quan sát hoạt động GDĐĐ tại các nhà trường thông qua tiết dạy trênlớp và giáo dục ngoài giờ lên lớp …

+ Xây dựng phiếu hỏi ý kiến đối với hiệu trưởng, GV, lực lượng thamgia giáo dục khác theo các nội dung về mức độ sử dụng có hiệu quả hìnhthức, phương pháp, xây dựng kế hoạch, công tác tổ chức chỉ đạo, kiểm trađánh giá … các hoạt động GDĐĐ trong nhà trường

- Phương pháp thu thập số liệu, phân tích, tổng hợp

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Tổng kết kinh nghiệm việc quản

lý GDĐĐ tại các nhà trường

- Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến chuyên gia về việc quản lýGDĐĐ tại các nhà trường sao cho hiệu quả và thực tế với hình thức: hội thảo,xin ý kiến trực tiếp từng cá nhân chuyên gia

7.3 Phương pháp thống kê toán học và dùng phần mềm tin học: Để xử

lý các số liệu thu thập được từ các phương pháp nghiên cứu khác

8 Cấu trúc luận văn

Trang 9

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, nội dung luận văn đượctrình bày trong 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý GDĐĐ HS bậc Tiểu học

Chương 2: Thực trạng quản lý GDĐĐ HS của hiệu trưởng các trường

Tiểu học Quận Lê Chân thành phố Hải Phòng

Chương 3: Biện pháp quản lý GDĐĐ HS của hiệu trưởng các trường

Tiểu học Quận Lê Chân thành phố Hải Phòng

Trang 10

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC

HỌC SINH TIỂU HỌC 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

Sự tồn tại và phát triển của giáo dục luôn chịu sự chi phối của kinh tế

-xã hội và ngược lại giáo dục có vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế -xãhội; giáo dục là công cụ, là phương tiện để cải tiến xã hội Khi xã hội pháttriển, giáo dục được coi là động lực, là mục tiêu cho sự phát triển xã hội Đức

và tài là hai mặt cơ bản hợp thành trong một cá nhân; trong đó đạo đức là gốccủa nhân cách GDĐĐ là một phần quan trọng không thể thiếu trong hoạtđộng giáo dục

Ở phương Đông từ thời cổ đại, Khổng Tử (551-479-TCN) – nhà tưtưởng, nhà giáo dục lớn Trung Hoa cổ đại đã nêu lên quan điểm của mình vềGDĐĐ thông qua các tác phẩm bất hủ của mình, trong đó có tác phẩm "Dịch,Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Xuân Thu" rất xem trọng việc GDĐĐ Trong luận ngữcủa mình, Khổng Tử khẳng định"Ngọc bất trắc bất thành khí, nhân bất học bấttrí đạo" (nghĩa là: Viên ngọc không mài dũa thì không thành đồ dùng được,con người không học thì không biết đạo)

Ở phương Tây, nhà triết học Socrat (470-399-TCN) đã cho rằng đạođức và sự hiểu biết quy định nhau Có được đạo đức là nhờ ở sự hiểu biết, conngười chỉ sau khi có hiểu biết mới trở thành đạo đức Aristoste (384-322-TCN) cho rằng không phải hy vọng vào Thượng đế áp đặt để có người côngdân hoàn thiện về đạo đức, mà việc phát hiện nhu cầu trên trái đất mới tạo nênđược con người hoàn thiện trong quan hệ đạo đức

Ở Việt Nam, ông cha ta từ xưa cũng luôn đề cao việc GDĐĐ conngười Chủ tịch Hồ Chí Minh [19, tr 32] đã dạy "Có tài mà không có đức làngười vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó", Theo

Trang 11

Người giữa đức và tài, hồng và chuyên, phẩm chất và năng lực có mối quan

hệ hữu cơ và tác động qua lại lẫn nhau Có đức là để tài năng phát triển đúnghướng, có tài thì đức mới phát huy được tác dụng Người rất quan tâm đếnviệc giáo dục thế hệ trẻ ở cả hai mặt: đạo đức và nhân cách

Thủ tướng Phạm Văn Đồng [11, tr 45] đã viết nhiều tác phẩm nghiêncứu về Hồ Chí Minh và giáo dục, trong đó thể hiện tâm huyết đối với GDĐĐcho thế hệ trẻ mà ông xem là chức năng quan trọng của nhà trường Cố Thủtướng đã viết: "Nhà trường, từ mẫu giáo đến đại học là nơi rèn luyện, nơi đàotạo con người trở thành những người được trang bị tốt về phẩm chất, đạo đức,nghề nghiệp, phong cách và cống hiến, trở thành những người chiến sĩ củamột sự nghiệp vĩ đại xây dựng Tổ quốc ta, dân tộc Việt nam ta, sự nghiệpnước ta theo định hướng XHCN và tiến cao hơn nữa "

Trong những năm 60, 70 nhiều công trình nghiên cứu về GDĐĐ củacác tác giả trong nước đã được công bố từ góc độ tâm lý học, giáo dục học

Để đi đến các quan niệm và giải pháp về GDĐĐ, các tác giả đã lựa chọn chomình những cách tiếp cận khác nhau, tạo ra một sự đa dạng, phong phú về nộidung và phương pháp nghiên cứu

Tác giả Phạm Khắc Chương [24, tr12] đã nghiên cứu và trình bày cơ sởtâm lý - giáo dục học của GDĐĐ cho HS

Tác giả Hà Thế Ngữ [22, tr 42] chú trọng đến vấn đề tổ chức quá trìnhGDĐĐ thông qua giảng dạy các bộ môn khoa học, nhất là các bộ môn khoahọc xã hội và nhân văn, rèn luyện phương pháp tư duy khoa học để trên cơ sở

đó giáo dục thế giới quan, nhân sinh quan, bồi dưỡng ý thức đạo đức, hướngdẫn thực hiện các hành vi đạo đức cho HS

Tác giả Đặng Vũ Hoạt [21, tr 53] đã đi sâu nghiên cứu vai trò của GVchủ nhiệm trong quá trình GDĐĐ cho HS Ông đã đưa ra một số định hướng

Trang 12

cho GV chủ nhiệm trong việc đổi mới nội dung, cải tiến phương pháp GDĐĐcho HS trong nhà trường phổ thông.

Tác giả Phạm Minh Hạc [27, tr 79] xuất phát từ đặc trưng tâm lý học đểkhảo sát hành vi và hoạt động, nghiên cứu đạo đức trong cấu trúc của nhâncách, thực hiện GDĐĐ trong quá trình phát triển nhân cách Trên cơ sở đónghiên cứu các đề tài về con người với tư cách là mục tiêu và động lực của sựphát triển Tác giả cũng đã nêu các định hướng giá trị đạo đức con người ViệtNam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa Từ thực trạng đạo đức của

HS, sinh viên hiện nay, ông đã nêu ra một số giải pháp ở tầm vĩ mô về giáodục - đào tạo con người Việt Nam theo định hướng "Tiếp tục đổi mới nộidung, hình thức GDĐĐ trong các trường học; củng cố ý tưởng giáo dục ở giađình và cộng đồng, kết hợp chặt chẽ với giáo dục nhà trường trong việcGDĐĐ cho mọi người; kết hợp chặt chẽ với việc thực hiện nghiêm chỉnhpháp luật của các cơ quan thi hành pháp luật; tổ chức thống nhất các phongtrào thi đua yêu nước và các phong trào rèn luyện đạo đức lối sống cho toàndân, trước hết là cho cán bộ Đảng viên, cho thầy trò các trường học; xây dựngmột cơ chế tổ chức và chỉ đạo thống nhất toàn xã hội về GDĐĐ; nâng caonhận thức cho mọi người"

Tác giả Phạm Tất Dong [26] đã làm chủ nhiệm đề tài nghiên cứu khoahọc: "Cải tiến công tác giáo dục tư tưởng, chính trị, đạo đức và lối sống cho

HS, sinh viên trong hệ thống giáo dục quốc dân"; đề tài này đi sâu nghiên cứu

cơ sở tâm lý học của hoạt động giáo dục lao động, giáo dục hướng nghiệp,gắn kết các hoạt động này với GDĐĐ nhằm đạt được mục tiêu GDĐĐ nghềnghiệp và lý tưởng nghề nghiệp cho thế hệ trẻ; đã mang lại nhiều nội dungmới về GDĐĐ, chính trị và tư tưởng trong các trường từ Tiểu học đến Đại họcnhững năm đầu của thập kỷ 90

Trang 13

Có nhiều tác giả khác, trong các công trình nghiên cứu, bài viết củamình cũng đã đưa ra các luận điểm, quan điểm về GDĐĐ cho HS; như tác giảTrần Hậu Kiếm và Đoàn Đức Hiếu [30, tr 61] trong cuốn "Hệ thống phạm trùđạo đức HS và GDĐĐ cho sinh viên" đã khái quát những phạm trù đạo đức

cơ bản đó là: lẽ sống, hạnh phúc, danh dự, nghĩa vụ và lương tâm, thiện vàác Những phạm trù này phản ánh nội dung khách quan của đời sống xã hội,

nó liên hệ hữu cơ với tình cảm con người trong mối quan hệ giữa con người

và đời sống xã hội

Bên cạnh đó, nhiều nhà nghiên cứu vẫn thường xuyên quan tâm đếnvấn đề GDĐĐ cho HS phổ thông, vấn đề về đạo đức con người Việt nam quatừng thời kỳ Cách mạng Những nghiên cứu đó đã góp một phần quan trọngtrong công cuộc đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo nói chung cũng nhưcông tác GDĐĐ và quản lý việc GDĐĐ nói riêng

Tóm lại, đạo đức đóng vai trò rất quan trọng trong xã hội Việc quan

tâm tới công tác GDĐĐ trong nhà trường là một việc làm cần thiết GDĐĐcho HS trong trường Tiểu học gắn liền với mục tiêu của cấp học là dạy chữ,dạy người nhằm phát triển nền tảng nhân cách cho các em nhằm cung cấp cho

HS những tri thức cơ bản về các phẩm chất đạo đức và chuẩn mực đạo đức,hoàn thiện nhân cách con người

Ở mỗi địa phương, mỗi nhà trường đều có tính đặc thù riêng, trongmỗi thời điểm đều có những biến đổi, do đó việc nghiên cứu thực trạng việcGDĐĐ và quản lý GDĐĐ cho HS Tiểu học của Quận Lê Chân, thành phố HảiPhòng trong giai đoạn hiện nay có thể góp phần vào việc nâng cao chất lượngquản lý giáo dục cho HS nói chung và HS Tiểu học nói riêng

1.2 Một số khái niệm có liên quan đến đề tài:

1.2.1 Quản lý

Trang 14

Quản lý là hoạt động nảy sinh từ nhu cầu của cuộc sống con người từkhi có sự hợp tác và phân công lao động Hoạt động của con người càngphong phú, đa dạng, trình độ của người lao động càng ngày một nâng cao đồihỏi cần có trình độ quản lý, điều hành Theo Các Mác [10, tr 124]: "Bất cứ laođộng xã hội trực tiếp hay lao động chung nào mà tiến hành trên quy mô khálớn, đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân.

Sự chỉ đạo đó phải là chức năng chung của cơ sở sản xuất với những vậnđộng cá nhân của những khí quan độc lập hợp thành cơ thể sản xuất đó Mộtnhạc sỹ độc tấu thì tự điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì cần phải

có nhạc trưởng" Như vậy, theo C/Mác thì quản lý là một hoạt động tất yếutrong bất cứ một hình thức lao động tập thể nào nhằm điều hành, phối hợpnhững hoạt động của cá nhân nhằm đạt được những mục tiêu chung của tậpthể, của tổ chức Ông ví hoạt động của tổ chức, tập thể cần phải có hoạtđộng quản lý như dàn nhạc cần có người chỉ huy

Do tính chất phong phú, đa dạng và phức tạp trong hoạt động của conngười nên có rất nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý Tùy theo cách tiếpcận của các tác giả khác nhau mà có những quan niệm khác nhau về quản lý

Cho đến nay, thuật ngữ "quản lý" được dùng rất phổ biến nhưng chưa

có định nghĩa thống nhất Có rất nhiều quan điểm khác nhau, có người chorằng quản lý là hoạt động nhằm đảm bảo hoàn thành công việc do nhữngngười khác thực hiện Cũng có ý kiến cho rằng quản lý là phương thức tốtnhất để đạt mục tiêu chung của một nhóm người, một tổ chức, một cơ quanhay nói rộng ra là một nhà nước

Theo GS Nguyễn Hoàng Toàn [15, tr27]: "Quản lý là sự tác động có tổchức, có định hướng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý để đạt mục tiêuchung"

Trang 15

Theo Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ [21, tr41] trong tác phẩm "Nhữngvấn đề cốt yếu của quản lý" đã nêu: "Quản lý là một quá trình được địnhhướng, có mục tiêu Quản lý một hể thống là quá trình tác động đến hệ thốngnhằm đạt được những mục tiêu nhất định Những mục tiêu này đặc trưng chotrạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn".

Theo tác giả Trần Kiểm [29, tr38]: "Quản lí là những tác động của chủthể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điềuphối các nguồn lực trong và ngoài tổ chức một cách tối ưu nhằm đạt đượcmục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất”

Theo tác giả Nguyễn Văn Lê [17, tr35] trong tác phẩm "Khoa học Quản

lý nhà trường" đã định nghĩa "Quản lý một hệ thống xã hội là khoa học vànghệ thuật tác động vào hệ thống đó, mà chủ yếu là vào những con ngườinhằm đạt được hiệu quả tối ưu theo mục tiêu đã đề ra"

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang [18, tr24] thì "Quản lý là tác động cómục đích có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao độngnhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến"

Theo nghĩa rộng: Quản lý là hoạt động có mục đích, hành động củanhững người khác nhằm thu được kết quả mong muốn Từ những ý chung củacác định nghĩa và xét quản lý với tư cách là một hành động có tổ chức, cóhướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra

Tóm lại: Quản lý là một quá trình tác động có chủ đích của chủ thểquản lý đến đối tượng quản lý nhằm khai thác, lựa chọn, tổ chức và thực hiện

có hiệu quả những nguồn lực và cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu của

tổ chức đã đề ra trong một môi trường có sự biến đổi và phụ thuộc vào nhiềuyếu tố: chủ thể, đối tượng, mục tiêu, phương pháp và công cụ quản lý

Khi tiến hành quản lý cần đảm bảo các nguyên tắc sau: Nguyên tắcmục tiêu; thu hút sự tham gia của tập thể; kết hợp hài hòa gữia các lợi ích; tiết

Trang 16

kiệm và hiệu quả cao; thích ứng linh hoạt; khoa học hợp lý; phối hợp hoạtđộng các bên có liên quan.

1.2.1.1 Chức năng quản lý

Chức năng quản lý là một thể thống nhất những hoạt động tất yếu củachủ thể quản lý nảy sinh từ sự phân công, chuyên môn hóa trong hoạt độngquản lý nhằm thực hiện mục tiêu chung của quản lý Quản lý gồm 4 chứcnăng sau:

* Chức năng lập kế hoạch: Đây là chức năng cơ bản nhất trong cácchức năng quản lý, bao gồm xác định mục tiêu, xây dựng chương trình hànhđộng và bước đi cụ thể nhằm đạt được mục tiêu đề ra trong thời gian nhấtđịnh của hệ thống quản lý

- Xác định mục tiêu là khâu đầu tiên cả kế hoạch Mục tiêu là cái đích

mà mọi hoạt động của hệ thống hướng tới Các mục tiêu tạo thành một hệthống phân cấp từ mục tiêu chung của hệ thống đến mục tiêu các bộ phạn,mục tiêu của cá nhân và tọa thành cả một hệ thống mạng lưới các mục tiêuđược phản ánh trong các chương trình phối hợp chặt chẽ với nhau Các nhàquản lý có thể xác định một cách tốt nhất số lượng các mục tiêu xuất phát từbản chất công việc của hệ thống Như vậy, mục đích của kế hoạch là hướngtới mọi hoạt động của hệ thống vào các mục tiêu tạo khả năng đạt mục tiêumột cách hiệu quả và cho phép người quản lý có thể kiểm soát được quá trìnhtiến hành nhiệm vụ

- Xây dựng chương trình hành động và bước đi cụ thể nhằm đạt cácmục tiêu, thực chất là lập kế hoạch trong quá trình thực hiện chức năng kếhoạch Tiền đề của kế hoạch là các dự thảo Lập kế hoạch là quá trình lưachọn cơ hội, phân tích thực trạng của hệ thống, xây dựng phương án hànhđộng và tổ chức các phương tiện để đạt tới mục tiêu đã xác định, toàn bộ quátrình trên đây là tổ hợp các bước tiến hành, các nguồn cần sử dụng, các

Trang 17

phương tiện cần phải có để thực hiện, được xây dựng qua cho các thời kỳ dài,ngắn khác nhau gọi là kế hoạch ngắn hạn, kế hoạch trung hạn và dài hạn

Việc thực hiện chức năng kế hoạch tạo ra tầm nhìn chiến lược cho nhàquản lý, giúp việc cho sự phát hiện và lựa chọn chính xác các chương trìnhhành động phù hợp với các nguồn của hệ thống, làm giảm bất trắc, làm hạnchế lãng phí do được tính toán sắp đặt từ trước Đồng thời, chức năng kếhoạch là căn cứ để hình thành và thực hiện các chức năng khác

* Chức năng tổ chức

Tổ chức là xác định một cơ cấu chủ định về vai trò, nhiệm vụ hay chức

vụ được hợp thức hóa

Chức năng tổ chức gồm có hai nội dung:

- Một là sắp xếp bộ máy đáp ứng được yêu cầu của mục tiêu và nhiệm

vụ đảm nhận Tổ chức bộ máy phải phù hợp về cấu trúc, cơ chế hoạt động,phù hợp với khả năng để đạt được mục tiêu Công việc tổ chức bộ máy làphân chia tổ chức thành các bộ phạn thực hiện chức năng cụ thể và xây dựng

cơ chế phối hợp, xây dựng mối quan hệ chặt chẽ giữa các bộ phận nhằm đạtđược sự đồng bộ trong hoạt động

- Hai là sắp xếp công việc hợp lý, phân công nhiệm vụ rõ ràng để mọingười hướng vào mục tiêu chung

* Chức năng chỉ đạo

Tác động đến con người bằng mệnh lệnh, giao nhiệm vụ khuyến khíchđộng viên làm cho người được quản lý tự giác, tích cực làm việc đúng kếhoạch và nhiệm vụ được phân công, tạo động lực để con người tích cực hoạtđộng bằng các biện pháp động viên khen thưởng và trách phạt

* Chức năng kiểm tra, đánh giá

Đây chính là công việc thu thập thông tin ngược để kiểm soát hoạtđộng của bộ máy nhằm điều chỉnh kịp thời những sai sót, lệch lạc đưa tổ chức

Trang 18

tiến đến mục tiêu Do đó, chức năng kiểm tra, đánh giá diễn ra ở giai đoạncuối cùng của chu trình quản lý, nó bao gồm những nhiệm vụ chính sau đây:

+ Đánh giá thực trạng, xác định xem mục tiêu dự kiến ban đầu và toàn

bộ kế hoạch đã được ở mức độ nào, kết quả phù hợp đến đâu so với dự kiến

+ Phát hiện những lệch lạc, sai sót, những gì trong kế hoạch đã đạtđược

+ Điều chỉnh kế hoạch, tìm biện pháp uốn nắn những lệch lạc

Muốn tìm ra những sai sót và lệch lạc trong quản lý cần phải tiến hànhkiểm tra thường xuyên hoạt động kiểm tra và kết hợp nhiều hình thức kiểm trakhác nhau như kiểm tra trọng điểm, kiểm tra trực tiếp, kiểm tra gián tiếp,kiểm tra đột xuất từ đó có những đánh giá và đưa ra những điều chỉnh phùhợp

Tóm lại, bốn chức năng trên, chức năng nào cũng quan trọng Nhưng ở

mỗi chức năng đảm nhận vị trí, vai trò nhất định, trong đó chức năng kiểm trađánh giá cũng là một khâu rất quan trọng Các chức năng này có mối quan hệqua lại mật thiết với nhau, đòi hỏi các nhà quản lý trường học phải thườngxuyên kiểm tra, đánh giá tập thể GV, HS thật chính xác, đồng thời hướng họthành chủ thể của quá trình quản lý Từ đó chủ thể quản lý tự quản lý quátrình dạy học - giáo dục của mình Do đó, các chức năng quản lý phải tạothành hệ thống thống nhất với một trình tự nhất định, trong đó từng chức năngvừa có tính độc lập tương đối, vừa có mối quan hệ phụ thuộc với các chứcnăng khác Quá trình ra quyết định quản lý là quá trình thực hiện các chứcnăng quản lý theo một trình tự nhất định Việc bỏ hoặc coi nhẹ bất kỳ mộtchức năng nào trong chuỗi các chức năng đều ảnh hưởng xấu đến kết quảquản lý Các chức năng tạo thành một chu trình quản lý của một hệ thống

Căn cứ vào chức năng và vai trò thông tin trong quản lý, có thể biểudiễn một chu trình quản lý như sau:

Trang 19

Sơ đồ 1.1 Mối quan hệ của chức năng quản lý

1.2.1.2 Nguyên tắc quản lý

Nguyên tắc quản lý là các quy định, các chuẩn mực có tính chỉ đạo mànhững người quản lý tuân thủ trong quá trình quản lý Trong quản lý nóichung, có một số nguyên tắc cơ bản sau:

* Nguyên tắc tập trung dân chủ

Là nguyên tắc tổ chức cơ bản của quản lý, đảm bảo mối quan hệ chặtchẽ và tối ưu giữa tập trung thống nhất cao, khắc phục tình trạng tự do và vôchính phủ cũng như tập trung quá mức dẫn đến tập trung quan liêu Tập trungphải dựa trên dân chủ, dân chủ phải được thực hiện trong khuôn khổ tậptrung Đây là nguyên tắc rất quan trọng của quản lý, nó phụ thuộc vào bảnlĩnh, phẩm chất đạo đức và phong cách của người quản lý

* Nguyên tắc hài hòa các lợi ích

Quản lý suy cho cùng là nhằm phát huy tính tích cực sáng tạo củangười lao động Song động lực của quản lý là lợi ích, do dó một nguyên tắcquan trọng của quản lý là phải chú ý đến lợi ích Kết hợp hài hòa các lợi íchphải được xem xét và đề ra ngay từ khi đề ra chiến lược, quy hoạch, kế hoạchkinh tế - xã hội, quá trình hoạt động quản lý, đến khâu phân phối và tiêu dùng

KẾ HOẠCH

THÔNG TIN

KIỂM TRA

Trang 20

Giải quyết tốt mối quan hệ lợi ích sẽ đảm bảo cho hệ thống quản lý vận hànhthuận lơi và có hiệu quả.

* Sử dụng toàn diện các phương pháp quản lý, kết hợp phương pháphành chính, tâm lý giáo dục và kinh tế, coi trọng phương pháp kinh tế

Đây là nguyên tắc thể hiện sự tác động của chủ thể quản lý tới đốitượng quản lý thông qua việc vận dụng các quy luật tổ chức - hành chính, quyluật tâm lý và quy luật kinh tế Đối tượng quản lý là con người chịu sự tácđộng của nhiều mối quan hệ, có nhiều mục tiêu, nhiều nhu cầu khác nhau vàluôn luôn thay đổi theo không gian và thời gian Do đó phải tùy theo đốitượng mà sử dụng tổng hợp và toàn diện các phương pháp quản lý một cáchlinh hoạt

1.2.2 Khái niệm Quản lý giáo dục

Cũng như quản lý xã hội nói chung, quản lý giáo dục là hoạt động có ýthức của con người nhằm đạt được những mục đích của mình Chỉ có conngười mới có khả năng khách thể hóa mục đích, nghĩa là biến hình mẫu ýtưởng của đối tượng trong tương lai mà ta gọi là mục đích thành trạng tháihiện thực Mục đích giáo dục nằm trong mục đích quản lý giáo dục, có nhiềuquan điểm về quản lý giáo dục, nhưng có thể khái quát ở hai cấp độ:

Ở cấp độ vĩ mô (quản lý hệ thống giáo dục): Quản lý giáo dục đượchiểu là những tác động tự giác, có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệthống và hợp quy luật…của chủ thể quản lý giáo dục các cấp đến tất cả cácmắt xích của hệ thống giáo dục nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quảviệc tổ chức, huy động, điều phối, giám sát và điều chỉnh các nguồn lực giáodục (nhân lực, vật lực, tài lực và thông tin) để hệ thống giáo dục vận hành đạtđược mục tiêu phát triển giáo dục

Ở cấp độ vi mô (quản lý một cơ sở giáo dục): Quản lý giáo dục đượchiểu là những tác động tự giác, có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ

Trang 21

thống, hợp quy luật…của chủ thể quản lý một cơ sở giáo dục đến tập thể GV,công nhân viên, tập thể người học và các lực lượng tham gia giáo dục kháctrong và ngoài cơ sở giáo dục đó, nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quảhoạt động giáo dục và dạy học nhằm làm cho cơ sở giáo dục đó vận hành luônluôn ổn định và phát triển để đạt tới mục tiêu đào tạo của cơ sở giáo dục

Xét theo quan điểm của lý thuyết hệ thống thì quản lý giáo dục là sự tácđộng liên tục, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên hệ thống; sửdụng một cách tối ưu các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống nhằm đưa hệthống tới mục tiêu một cách tốt nhất trong điều kiện đảm bảo sự cân bằng vớimôi trường bên ngoài luôn biến động

Tóm lại, trên cơ sở định nghĩa quản lý nói chung và phân tích các định

nghĩa trên: Quản lý giáo dục là những tác động có mục đích, có kế hoạch, phù

hợp với quy luật khách quan của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm khai thác tối ưu các nguồn lực và phối hợp những nỗ lực của cán bộ, GV và

HS để phát triển sự nghiệp giáo dục theo mục tiêu, quan điểm của Đảng Đồng thời, Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt hiệu quả cao nhất.

1.2.3 Quản lý nhà trường

Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng và Nhànước trong phạm vi trách nhiệm của mình tức là đưa nhà trường vận hànhtheo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đốivới ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng HS

Quản lý giáo dục có thể chia làm hai cấp độ là cấp độ vĩ mô và cấp độ

vi mô Quản lý giáo dục vĩ mô là quản lý cả hệ thống giáo dục bao gồm cácthành tố của hệ thống trong đó quản lý nhà trường là trọng tâm Quản lý nhàtrường là quản lý giáo dục cấp vi mô

Trang 22

Theo tác giả Phạm Minh Hạc [27, tr35] thì: "Quản lý nhà trường (ViệtNam) thực hiện quan điểm, đường lối giáo dục của Đảng (trong phạm vi tráchnhiệm) trong việc thực hiện các hoạt động khai thác, sử dụng, tổ chức thựchiện các nguồn lực và những tác động của chủ thể quản lý đến các thành tốcủa quá trình giáo dục diễn ra trong nhà trường, đưa nhà trường vận hành theonguyên lý giáo dục để đạt tới mục tiêu giáo dục - mục tiêu đào tạo thế hệ trẻ".

Khái niệm trên cho thấy mục tiêu của quản lý nhà trường là vận hànhquá trình giáo dục trong nhà trường theo quan điểm đường lối giáo dục củaĐảng để đáp ứng tốt nhất nhu cầu học tập của nhân dân, phát triển nhân cáchtoàn diện cho người học đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội

Chủ thể quản lý nhà trường bao gồm các nhà quản lý giáo dục bênngoài nhà trường và chủ thể quản lý bên trong nhà trường bao gồm đội ngũCBQL, công nhân viên chức, HS Đối tượng quản lý nhà trường là các thành

tố cấu tạo nên quá trình giáo dục trong nhà trường

Nhiệm vụ quan trọng của nhà trường là đào tạo nguồn nhân lực đápứng nhu cầu của sự nghiệp Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa đất nước, phù hợpvới xu thế toàn cầu hóa lực lượng sản xuất Trong quản lý trường học, quản lýcon người là trung tâm số một Nhiệm vụ trọng tâm của nhà trường là dạy học

và giáo dục HS

Quản lý trường học là quản lý hoạt động dạy của GV và hoạt động họccủa HS Các hoạt động của nhân viên nhà trường phục vụ việc dạy và học,đảm bảo kết hợp với các lực lượng trong nhà trường nhằm thực hiện có chấtlượng và hiệu quả mục đích giáo dục

Như vậy, quản lý nhà trường là quản lý giáo dục được thực hiện trongphạm vi xác định của một đơn vị giáo dục nhà trường, nhằm thực hiện nhiệm

vụ giáo dục thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội

1.2.4 Đạo đức

Trang 23

1.2.4.1 Khái niệm đạo đức

Có nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm này, tùy theo từng quanniệm mà có những cách hiểu khác nhau này

Theo quan điểm của học thuyết Mác-Lênin [10, tr102]: "Đạo đức là mộthình thái ý thức xã hội có nguồn gốc từ lao động, sản xuất và đời sống cộngđồng xã hội Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội phản ánh và chịu sự chiphối của tồn tại xã hội Vì vậy tồn tại xã hội thay đổi thì ý thức xã hội cũngthay đổi theo Và như vậy đạo đức xã hội luôn mang tính lịch sử, tính giai cấp

và tính dân tộc"

Theo chủ nghĩa Mác [10, tr79], đạo đức là cái có thật trong ý thức xãhội, trong đời sống tinh thần của con người, nghĩa là về lý luận nó là bộ phậncủa kiến trúc thượng tầng xã hội Đạo đức tồn tại trong mọi ý thức, hoạt độnggiao lưu trong toàn bộ hoạt động sống của con người

- Xét dưới góc độ xã hội: Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặcbiệt được phản ánh dưới dạng những nguyên tắc, yêu cầu, chuẩn mực điềuchỉnh (hoặc chi phối) hành vi của con người trong các mối quan hệ giữa conngười với con người, với tự nhiên xã hội và với chính bản thân mình

- Xét dưới góc độ cá nhân: Đạo đức chính là những phẩm chất, nhâncách cả con người, phản ánh ý thức, tình cảm, ý chí, hành vi, thói quen vàcách ứng xử của họ trong các mối quan hệ giữa con người với con người, với

tự nhiên xã hội và với chính bản thân mình

Trong cuốn "Bàn về giáo dục" [10, tr96] đã viết: "Đạo đức là một hìnhthái ý thức xã hội, phản ánh những quan hệ xã hội hiện thực trên cơ sở kinh

tế Sự phát triển của đạo đức xã hội từ thấp đến cao như những nấc thang giáitrị về sự văn minh của con người trên cơ sở phát triển của sức sản xuất vậtchất thông qua việc đấu tranh gạn lọc, kế thừa mà nội dung đạo đức ngàycàng tiến bộ, phong phú và hoàn thiện hơn"

Trang 24

Tác giả Phạm Khắc Chương [24, tr29] đã viết: "Đạo đức là một hìnhthái ý thức xã hội đặc biệt, được phản ánh dưới dạng nguyên tắc, yêu cầu,chuẩn mực, điều chỉnh hành vi của con người trong các mối quan hệ giữa conngười với tự nhiên, con người với xã hội, giữa con người với nhau và conngười với chính bản thân mình".

Theo tác giả Phạm Minh Hạc [27, tr21]: "Đạo đức theo nghĩa hẹp làluân lý, là những quy định, những chuẩn mực ứng xử trong quan hệ của conngười Nhưng trong điều kiện hiện nay, chính quan hệ của con người cũng đã

mở rộng và đạo đức bao gồm những quy định, những chuẩn mực ứng xử củacon người với con người, với công việc và với bản thân, kể cả với thiên nhiêm

và môi trường sống"

Như vậy, đạo đức là luân lý, là chuẩn mực ứng xử tức là khái niệm đạođức đã gắn với giá trị đạo đức, chuẩn mực đạo đức xã hội Theo tác giả HàNhật Thăng [23, tr37]: "Khi những giá trị đạo đức biến thành nhận thức chungcủa mọi thành viên thì nó trở thành truyền thống, có sức mạnh vật chất điềuchỉnh nhận thức và hành động chung của toàn xã hội" Vì vậy đạo đức có vaitrò, có ý nghĩa rất lớn trong công việc xây dựng một xã hội công bằng, dânchủ, văn minh" Do đó, Đạo đức được xem là khái niệm luân thường đạo lýcủa con người, nó thuộc về vấn đề tốt - xấu, hơn nữa xem như là đúng - sai,được sử dụng trong ba phạm vi: lương tâm con người, hệ thống phép tắc đạođức và trừng phạt đôi lúc còn được gọi là giá trị đạo đức; nó gắn liền với nềnvăn hóa, tôn giáo, chủ nghĩa nhân văn, triết học và những luật lệ của một xãhội về cách đối xử từ hệ thống này

Để hiểu rõ vấn đề này, chúng ta phải hiểu đạo đức là hình thái ý thức xãhội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc nhằm điều chỉnh và đánh giá cáchứng xử của con người trong quan hệ với nhau, với xã hội, với tự nhiên trong

Trang 25

hiện tại hoặc quá khứ cũng như tương lai Chúng được thực hiện bởi niềm tin

cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận

Đạo đức được xem là hiện tượng lịch sử, nó là sự phản ánh của cácquan hệ xã hội Mỗi chế độ mang một đặc điểm khác nhau Lợi ích của giaicấp thống trị là duy trì và củng cố những quan hệ xã hội đang có và nó gắnliền với chế độ xã hội mà giai cấp tồn tại Trái lại, giai cấp bóc lột tùy theonhận thức về tính bất công của những quan hệ ấy mà đứng lên đấu tranhchông lại và đề ra quan niệm đạo đức riêng của mình Trong xã hội có giaicấp, đạo đức có tính giai cấp Đồng thời, có tính kế thừa nhất định TheoEnghen [10, tr123] "Các hình thái kinh tế - xã hội thay thế nhau nhưng xã hộivẫn gi lại những điều kiện sinh hoạt, những hình thức cộng đồng chung Tính

kế thừa đạo đức phản ánh những luật lệ đơn giản và cơ bản của bất kì cộngđồng người nào" Đó là những yêu cầu đạo đức liên quan đến những hìnhthức liên hệ đơn giản nhất giữa người với người Mọi thời đại đều lên án cái

ác, cái tàn bạo, tham lam, hèn nhát, phản bội và biểu dương cái thiện, sựdũng cảm, chính trực, độ lượng, khiêm tốn "không ai nghi ngờ được rằng nóichung đã có sự tiến bộ về mặt đạo đức cũng như về tất cả các ngành tri thứckhác của nhân loại"

Đạo đức của con người hình thành, phát triển cần có một quá trình đóchính là quá trình tác động qua lại giữa xã hội với cá nhân để chuyển hóanhững nguyên tắc, yêu cầu, chuẩn mực, giá trị đạo đức - xã hội thành nhữngphẩm chất đạo đức cá nhân, làm cho cá nhân đó trưởng thành về mặt đạo đứccông dân và đáp ứng yêu cầu của xã hội

Bản chất của đạo đức mang tính lịch sử-xã hội; tính giai cấp, tính dântộc và thời đại; tính đặc thù của cá thể (cá nhân) Do đó, ở mỗi giai đoạn đạođức lại được hiểu theo những cách khác nhau

Trang 26

Tóm lại, đạo đức được hiểu là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp

những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh cách đánh giá

và cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội,chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi sức mạnh của truyền thống vàsức mạnh của dư luận xã hội Qua đó con người tự nhận thức và điều chỉnhhành vi của mình vì hạnh phúc của cá nhân, lợi ích của tập thẻ và cộng đồng

1.2.4.2 Chức năng đạo đức

Đạo đức có 3 chức năng chính:

- Chức năng nhận thức: Đạo đức là công cụ giúp con người nhận thức

xã hội về mặt đạo đức Các quan điểm đạo đức, nguyên tắc chuẩn mực đạođức là kết quả của phản ánh tồn tại xã hội được con người đánh giá, thừa nhận

và khái quát thành những khuôn mẫu đạo đức, các giá trị đạo đức

- Chức năng giáo dục: Trên cơ sở nhận thức đạo đức, chức năng giáodục giúp con người hình thành những phẩm chất nhân cách, hình thành hệthống định hướng giá tri và các chuẩn mực đạo đức, điều chỉnh ý thức, hành

vi đạo đức

- Chức năng điều chỉnh hành vi: Đây là chức năng hết sức quan trọng

vì nó điều chỉnh hành vi của con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xãhội Cùng với chức năng giáo dục, chức năng điều chỉnh hành vi của đạo đứclàm cho hành vi của con người phù hợp với lợi ích xã hộ, cộng đồng

1.2.4.3 Chuẩn mực đạo đức

Nói đến đạo đức là nói đến các chuẩn mực đạo đức Chuẩn mực đạođức là những phẩm chất đạo đức có tính chất chuẩn mực được nhiều ngườithừa nhận, được dư luận xác định như một đòi hỏi khách quan, là thước đo giátrị cần có ở mỗi con người Những chuẩn mực đạo đức ấy được coi như mụctiêu giáo dục, rèn luyện ở mỗi con người Đồng thời, chuẩn mực đạo đức đólại có giá trị định hướng, chi phối, ước chế quá trình nhận thức, điều chỉnh

Trang 27

thái độ, hành vi của mỗi người, đáp ứng yêu cầu của một xã hội, một thời đạinhất định.

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh [19, tr86], những phẩm chất đạo đức cơbản của con người Việt Nam trong thời đại mới gồm:

a Trung với nước, hiếu với dân

- Trung với nước là trung thành vô hạn với sự nghiệp dựng nước, giữnước, phát triển đất nước, làm cho đất nước “sánh vai với cường quốc nămchâu” Nước là của dân, dân là chủ đất nước, trung với nước là trung với dân,

“Bao nhiêu quyền hạn đều của dân”; “bao nhiêu lợi ích đều vì dân”

- Hiếu với dân nghĩa là cán bộ đảng, cán bộ nhà nước “vừa là ngườilãnh đạo, vừa là đầy tớ trung thành của dân”

- Trung với nước, hiếu với dân là phẩm chất hàng đầu của đạo đứccách mạng Người dạy, đối với mỗi cán bộ đảng viên, phải “tuyệt đối trungthành với Đảng, với nhân dân” và hơn nữa, phải “tận trung với nước, tậnhiếu với dân”

- Trung với nước, hiếu với dân là phải gắn bó với dân, gần dân, dựa vàodân, lấy dân làm gốc Phải nắm vững dân tình, hiểu rõ dân tâm, quan tâm cảithiện dân sinh, nâng cao dân trí, làm cho dân hiểu rõ nghĩa vụ và quyền lợicủa người làm chủ đất nước

Tư tưởng Hồ Chí Minh về trung với nước, hiếu với dân thể hiện quanđiểm của Người về mối quan hệ và nghĩa vụ của mỗi cá nhân với cộng đồng,đất nước

b Yêu thương con người, sống có nghĩa, có tình

Yêu thương con người trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh xuất phát

từ truyền thống nhân nghĩa của dân tộc, kết hợp với chủ nghĩa nhân văn củanhân loại, chủ nghĩa nhân đạo cộng sản Người coi yêu thương con người là

Trang 28

phẩm chất đạo đức cao đẹp nhất Yêu thương con người thể hiện mối quan hệgiữa cá nhân với cá nhân trong quan hệ xã hội.

- Tình yêu thương con người thể hiện trước hết là tình thương yêu vớiđại đa số nhân dân, những người lao động bình thường trong xã hội, nhữngngười nghèo khổ, bị áp bức, bóc lột Yêu thương con người phải làm mọi việc

để phát huy sức mạnh của mỗi người, đoàn kết để phấn đấu cho đạt được mụctiêu “ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”

- Thương yêu con người phải tin vào con người Với mình thì chặt chẽ,nghiêm khắc; với người thì khoan dung độ lượng, rộng rãi, nâng con ngườilên, kể cả với những người lầm đường, lạc lối, mắc sai lầm, khuyết điểm

- Yêu thương con người là giúp cho mỗi người ngày càng tiến bộ, tốtđẹp hơn Vì vậy, phải thực hiện phê bình, tự phê bình chân thành, giúp nhausửa chữa khuyết điểm, phát huy ưu điểm để không ngừng tiến bộ

- Yêu thương con người phải biết và dám dấn thân để đấu tranh giảiphóng con người

Đối với những người cộng sản, Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy: học tập chủnghĩa Mác-Lê nin để thương yêu nhau hơn Người viết: “Học chủ nghĩa Mác-

Lê nin là để sống với nhau có nghĩa có tình Nếu sống với nhau không cónghĩa có tình thì làm sao coi là hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin được”

c Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư

- Trung với nước, hiếu với dân ngày nay là luôn luôn là nền tảng củađời sống mới, là phẩm chất trung tâm của đạo đức cách mạng trong tư tưởngđạo đức của Hồ Chí Minh, là mối quan hệ “với tự mình”

- Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm cần, kiệm, liêm, chính là bốn đứctính của con người, như trời có bốn mùa, đất có bốn phương và Người giảithích cặn kẽ, cụ thể nội dung từng khái niệm

Trang 29

+ Cần là lao động cần cù, siêng năng; lao động có kế hoạch, sáng tạo,

có năng suất cao; lao động với tinh thần tự lực cánh sinh, không lười biếng,không ỷ lại, không dựa dẫm Phải thấy rõ “lao động là nghĩa vụ thiêng liêng,

là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của mỗi chúng ta”

+ Kiệm là tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thì giờ, tiết kiệm tiền củadân, của nước, của bản thân mình, tiết kiệm từ cái to đến cái nhỏ; “không xa xỉ,không hoang phí, không bừa bãi, không phô trương, hình thức, ”

Cần, kiệm là phẩm chất của mọi người lao động trong đời sống, trong công tác

+ Liêm là trong sạch, là “luôn tôn trọng, giữ gìn của công và của dân”,

”không xâm phạm một đồng xu, hạt thóc của Nhà nước, của nhân dân”;

“không tham địa vị, không tham tiền tài, không tham tâng bốc mình, ”

+ Chính là ngay thẳng, không tà, là đúng đắn, chính trực Đối với mìnhkhông tự cao, tự đại; đối với người không nịnh trên, khinh dưới, không dốitrá, lừa lọc, luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết Đối với việc thì

để việc công lên trên, lên trước việc tư, việc nhà Được giao nhiệm vụ gìquyết làm cho kỳ được, “việc thiện dù nhỏ mấy cũng làm; việc ác thì dù nhỏmấy cũng tránh” Liêm, chính là phẩm chất của người cán bộ khi thi hànhcông vụ

- Chí công là rất mực công bằng, công tâm; vô tư là không được có lòngriêng, thiên tư, thiên vị “tư ân, tư huệ, hoặc tư thù, tư oán”, đem lòng chí công,

vô tư đối với người, với việc “Khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mìnhtrước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau”, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”.Muốn “chí công, vô tư” phải chiến thắng được chủ nghĩa cá nhân

Đây là chuẩn mực của người lãnh đạo, người “giữ cán cân công lý”, khôngđược vì lòng riêng mà chà đạp lên pháp luật

- Cần, kiệm, liêm, chính có quan hệ chặt chẽ với nhau và với chí công,

vô tư Cần, kiệm, liêm, chính sẽ dẫn đến chí công, vô tư Ngược lại, đã chí

Trang 30

công, vô tư, một lòng vì nước, vì dân, vì Đảng thì nhất định sẽ thực hiện đượccần, kiệm, liêm, chính.

d Tinh thần quốc tế trong sáng

Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế là sự mở rộngnhững quan niệm đạo đức nhân đạo, nhân văn của Người ra phạm vi toànnhân loại, vì Người là “người Việt Nam nhất” đồng thời là nhà văn hoá kiệtxuất của thế giới, anh hùng giải phóng dân tộc, chiến sĩ lỗi lạc của phong tràocộng sản quốc tế

Quan niệm đạo đức về tình đoàn kết quốc tế trong sáng của Hồ Chí Minh thểhiện trong các điểm sau:

- Đoàn kết với nhân dân lao động các nước vì mục tiêu chung đấu tranhgiải phóng con người khỏi ách áp bức, bóc lột

- Đoàn kết quốc tế giữa những người vô sản toàn thế giới vì một mụctiêu chung, “bốn phương vô sản đều là anh em”

- Đoàn kết với nhân loại tiến bộ vì hoà bình, công lý và tiến bộ xã hội

- Đoàn kết quốc tế gắn liền với chủ nghĩa yêu nước Chủ nghĩa yêunước chân chính sẽ dẫn đến chủ nghĩa quốc tế trong sáng, chống lại mọi biểuhiện của chủ nghĩa sô-vanh, vị kỷ, hẹp hòi, kỳ thị dân tộc

1.2.5 Giáo dục đạo đức

GDĐĐ là hoạt động của nhà giáo dục dựa theo yêu cầu xã hội, tác động

có hệ thống lên người được giáo dục một cách có mục đích và có kế hoạch đểbồi dưỡng những phẩm chất tư tưởng mà nhà giáo dục kì vọng, chuyển hóanhững quan điểm, yêu cầu và ý thức xã hội có liên quan thành phẩm chất đạođức, tư tưởng của mỗi cá nhân

GDĐĐ là một quá trình lâu dài, liên tục và phải được sự ủng hộ, phốihợp không những giữa các lực lượng giáo dục trong nhà trường mà còn giữa

Trang 31

nhà trường với gia đình, các lực lượng ngoài xã hội cũng như sự tự giác rènluyện của bản thân HS.

GDĐĐ có ý nghĩa quan trọng đối với sự hình thành và phát triển nhâncách của mỗi cá nhân

Chủ tịch Hồ Chí Minh [19, tr 127] đã từng mong muốn: Đạo đức họccần phải trở thành một ngành khoa học xã hội mà những người có trách nhiệmcần phải đi sâu nghiên cứu chuyên cần hơn nữa Nó cũng phải trở thành mộtmôn khoa học không thể thiếu được trong các nhà trường

Theo tác giả Phạm Minh Hạc [27, tr21], khái niệm GDĐĐ có thể hiểu:

"GDĐĐ là một quá trình kết hợp nâng cao nhận thức với hình thành thái độ,xúc cảm, tình cảm, niềm tin và hành vi, thói quen đạo đức"

Theo tác giả Hà Nhật Thăng [23, tr62]:"GDĐĐ là hình thành ở mọicông dân thái độ đúng đắn, tình cảm, niềm tin đạo đức trong sáng đối với bảnthân, mọi người, với sự nghiệp Cách mạng của Đảng, dân tộc và với mọi hiệntượng xảy ra xung quanh"

Như vậy ở bất cứ thời đại nào, việc GDĐĐ cho thế hệ trẻ cũng luônđược coi trọng Ngày nay khi nền kinh tế của đất nước đang phát triển, đờisống của nhân dân được nâng lên rõ rệt, các hiện tượng tiêu cực, suy thoáiđạo đức ngày càng nhiều Vì vậy, trong các trường học việc tăng cường côngtác GDĐĐ cho người học là rất cần thiết, góp phần định hướng và trang bịcho người học những tri thức, niềm tin, tính trung thực, giúp cho nhân cáchngày càng hoàn thiện

1.3 Quản lý giáo dục đạo đức

1.3.1 Khái niệm quản lý giáo dục đạo đức

Quản lý GDĐĐ là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới đốitượng quản lý nhằm đưa hoạt động GDĐĐ đạt kết quả mong muốn bằngcách hiệu quả nhất

Trang 32

Quản lý GDĐĐ trong nhà trường là những tác động của chủ thể đến tậpthể GV, nhân viên, các tổ chức chính trị, các tổ chức xã hội, các đoàn thể vàđặc biệt là HS để đạt mục tiêu GDĐĐ.

1.3.2 Mục tiêu quản lý giáo dục đạo đức

Quản lý GDĐĐ là hướng tới việc thực hiện phát triền toàn diện nhâncách cho người học; mục tiêu của quản lý GDĐĐ cho HS là làm cho quá trìnhGDĐĐ vận hành đồng bộ, hiệu quả để nâng cao chất lượng GDĐĐ Mục tiêuquản lý GDĐĐ bao gồm:

+ Về nhận thức: Giúp cho mọi người, các ngành, các cấp, các tổ chức

xã hội có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của việc quản lý GDĐĐ,nắm vững quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn

đề phát triển con người toàn diện

+ Về thái độ: Giúp mọi người biết, ủng hộ những việc làm đúng, đấu tranhvới các ác, cái sai, những việc làm trái pháp luật, có thái độ đúng với hành vi củabản thân

+ Về hành vi: Tích cực tham gia hoạt động quản lý GDĐĐ và các hoạtđộng xã hội, tự rèn luyện, tu dưỡng theo chuẩn mực đạo đức chung của xã hội

Điều quan trọng nhất của việc quản lý GDĐĐ là làm cho quá trìnhGDĐĐ tác động đến người học để hình thành cho họ ý thức, tình cảm và niềmtin đạo đức, tạo lập thói quen, hành vi đạo đức thể hiện thường xuyên trongcuộc sống hàng ngày

1.3.3 Chức năng quản lý giáo dục đạo đức

Quản lý hoạt động GDĐĐ là một quá trình sư phạm, cho nên cũng thựchiện theo các chức năng cơ bản của quản lý như: Kế hoạch hóa, tổ chức, chỉđạo và kiểm tra

+ Xây dựng kế hoạch quản lý hoạt động GDĐĐ: Là việc tìm hiểu thựctrạng đạo đức của người học, so sánh với các chuẩn mực đạo đức, đánh giáyếu tố môi trường bên trong và bên ngoài tác động đến đạo đức HS; chỉ ra

Trang 33

mục tiêu, dự kiến nguồn lực và đề xuất các biện pháp quản lý thực hiện mụctiêu Việc xây dựng kế hoạch quản lý GDĐĐ phải đảm bảo tính khả thi, sátvới tình hình thực tế của địa phương, của nhà trường.

+ Tổ chức hoạt động GDĐĐ: Là việc phân công trách nhiệm, phân bổnguồn lực cho hoạt động GDĐĐ Trong mỗi nhà trường, thành lập hội đồnggiáo dục do hiệu trưởng nhà trường làm trưởng ban và các thành phần khácnhư: GV chủ nhiệm lớp, đại diện Chi đoàn thanh niên, đại diện là cha mẹ hocsinh Hội đồng giáo dục có chức năng tham mưu cho lãnh đạo nhà trường tổchức các hoạt động GDĐĐ cho HS, làm tốt công tác xã hội hóa, vận độngtuyên truyền các lực lượng xã hội tham gia công tác GDĐĐ cho HS

+ Chỉ đạo hoạt động GDĐĐ: Là việc hướng dẫn, giám sát, động viênkhuyến khích và uốn nắn các sai lệch trong GDĐĐ Đây là một trongnhững nội dung hết sức quan trọng của nội dung quản lý hoạt động GDĐĐtrong nhà trường

+ Kiểm tra hoạt động GDĐĐ: Là việc thu thập thông tin, đánh giá vàđưa ra các quyết định điều chỉnh hoạt động GDĐĐ trong nhà trường

1.3.4 Phương pháp quản lý giáo dục đạo đức

Phương pháp quản lý hoạt động GDĐĐ là cách thức mà chủ thể quản lýtác động vào HS nhằm đạt được những mục tiêu quản lý đã đề ra Thôngthường trong nhà trường sử dụng một số phương pháp quản lý dưới đây:

+ Phương pháp tổ chức hành chính:

Là phương pháp tác động trực tiếp của chủ thể quản lý lên đối tượngquản lý bằng các mệnh lệnh, chỉ thị, quyết định quản lý Phương pháp tổchức hành chính được cấu thành từ ba yếu tố, đó là: Hệ thống luật và các vănbản pháp quy đã được ban hành; các mệnh lệnh hành chính được ban bố từngười lãnh đạo như: nội quy nhà trường, kế hoạch giáo dục, chương trình

Trang 34

công tác, chức năng nhiệm vụ giao cho từng các nhân, bộ phận ; kiểm trachấp hành các văn bản, các mệnh lệnh hành chính.

Phương pháp tổ chức hành chính là phương pháp rất cần thiết tronghoạt động quản lý; tuy nhiên do đặc trưng cơ bản của phương pháp tổ chứchành chính là sự tác động hành chính mang tính chất đơn phương, nếu lạmdụng khi sư dụng phương pháp này thì sẽ dẫn đến tình trạng quan liêu, mệnhlệnh và làm cho người bị quản lý rơi vào trạng thái bị động

+ Các phương pháp tâm lý-xã hội:

Phương pháp tâm lý-xã hội là những cách thức tác động của ngườiquản lý tới nhận thức, tư tưởng, tình cảm của người bị quản lý; nhằm biếnnhững yêu cầu của các cấp quản lý thành nghĩa vị tự giác bên trong thànhnhu cầu của người bị quản lý để họ tích cực thực hiện nhiệm vụ, đạt mụctiêu đề ra

Đặc điểm của phương pháp này là sự kích thích đối tượng quản lý saocho họ toàn tâm toàn ý cho công việc, coi những mục tiêu nhiệm vụ của quản

lý như là mục tiêu công việc của chính họ, hơn nữa họ luôn cố gắng học hỏitích lũy kinh nghiệm ngày càng tốt hơn, đoàn kết hơn để giúp đỡ nhau hoànthành nhiệm vụ

+ Các phương pháp kinh tế:

Đây là phương pháp mà chủ thể quản lý tác động gián tiếp đến đốitượng quản lý dựa trên các lợi ích vật chất làm cho đối tượng quản lý suy nghĩđến lợi ích của mình, tự giác thực hiện bổn phận và trách nhiệm một cách tốtnhất mà không phải đôn đốc nhắc nhở nhiều về mặt hành chính Nhữngphương pháp kinh tế mà nhà nhà trường thường áp dụng như: Cộng điểm rènluyện, khuyến khích tặng bằng phần thưởng khi có những hành vi tốt

1.4 Giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học

1.4.1 Đặc điểm tâm lý học sinh Tiểu học

Trang 35

HS Tiểu học thường là những trẻ trong độ tuổi từ 6-11, 12 tuổi, có thể đến

14 tuổi Đây là lứa tuổi đầu tiên đến trường - trở thành HS và có các hoạt độngchủ đạo Trẻ em lứa tuổi HS Tiểu học thực hiện bước chuyển từ hoạt động vuichơi là hoạt động chủ đạo sang học tập là hoạt động chủ đạo Đây là hoạt động lầnđầu tiên xuất hiện với tư cách là chính nó, hoạt động học tập có vai trò và ý nghĩađặc biệt quan trọng đối với sự phát triển tâm lí của HS Tiểu học

Cùng với cuộc sống nhà trường, hoạt động học tập đem đến cho trẻnhiều điều mà trước đây trẻ chưa bao giờ có được hoặc không thể tiếp cậnđược Từ đó, cùng với sự phát triển về thể chất và dựa trên những thành tựuphát triển tâm lý đã đạt được của giai đoạn trước, trẻ sẽ tạo lập nên nhữngcái mới trong đời sống tâm lý của mình, mà trước hết là tính chủ định, kĩnăng làm việc trí óc, sự phân tích - những cấu tạo tâm lí mới đặc trưng cholứa tuổi này

Ngoài ra, nhà trường và hoạt động học tập cũng đặt ra cho trẻ nhữngđòi hỏi mới của cuộc sống Trẻ không chỉ phải tự lập lấy vị trí của mình trongmôi trường "trung lập về tình cảm" mà còn phải thích ứng với những bó buộckhông tránh khỏi và chấp nhận việc một người lớn ngoài gia đình (thầy, côgiáo) sẽ đóng vai trò hàng đầu trong cuộc sống của trẻ Trẻ không những phải

ý thức và có thái độ trách nhiệm trong việc thực hiện các nhiệm vụ của mình,đặc biệt là nhiệm vụ học tập và biết điều khiển hành vi của mình một cách cóchủ định, đồng thời phải có khả năng thiết lập, vận hành cùng một lúc các mốiquan hệ với các đối tượng khác nhau và mang tính chất khác nhau Trướcnhững thách thức này, trẻ dù muốn hay không cũng phải lĩnh hội các cáchthức, phương pháp phức tạp hơn của hành vi và hoạt động để thỏa mãn nhữngyêu cầu và đòi hỏi của cuộc sống nhà trường

HS Tiểu học là lứa tuổi sống và phát triển trong nền văn minh nhàtrường theo hai cấp độ Cấp độ thứ nhất gồm lớp 1, lớp 2, lớp 3 trong cấp độ

Trang 36

này lớp 1 là đặc biệt vì đây là lớp đầu của cấp Tiểu học; cấp độ thứ hai gồmlớp 4 và lớp 5 - lớp đầu ra của cấp Tiểu học Hai cấp độ này tuy có sự khácnhau về mức độ phát triển tâm lý và trình độ thực hiện hoạt động học tập,nhưng không có sự thay đổi đột biến, không có sự phát triển theo chiều hướngmới Dù ở cấp độ nào thì HS Tiểu học cũng là nhân vật trung tâm, là linh hồncủa trường Tiểu học Ở đấy, trẻ đang từng ngày, từng giờ tự hình thành chomình những năng lực của người ở trình độ sơ đẳng nhưng cơ bản, như sửdụng tiếng mẹ đẻ, năng lực tính toán, đặc biệt là năng lực làm việc trí óc,năng lực tạo ra các năng lực khác Cùng với các năng lực trên là sự hình thànhtình cảm, thái độ và cách cư xử phù hợp với dân tộc và văn minh nhân loạihiện đại HS Tiểu học ngày nay là những chủ thể đang trở thành chính mìnhbằng những hoạt động của mình dưới sự tổ chức, hướng dẫn của GV theophương pháp nhà trường hiện đại.

Tuổi Tiểu học là tuổi của sự phát triển hồn nhiên bằng phương thức lĩnhhội Cùng với việc lĩnh hội, tiếp thu một hệ thống tri thức về các môn học, trẻ

em học cách học, học kĩ năng sống trong môi trường trường học và môitrường xã hội Cùng với sự ảnh hưởng khá lớn của môi trường giáo dục giađình và quan hệ bạn bè cùng tuổi, cùng lớp và trường học, HS Tiểu học lĩnhhội các chuẩn mực quy tắc đạo đức của hành vi Sự lĩnh hội trên tạo ra nhữngbiến đổi cơ bản trong sự phát triển tâm lý của HS Tiểu học Chúng không chỉđảm bảo cho các em thích ứng với cuộc sống nhà trường và hoạt động học màcòn chuẩn bị cho các em những bước ngoặt quan trọng trong cuộc sống ở tuổithiếu niên - lứa tuổi có xu thế vươn lên làm người lớn

Có thể nói rằng, trẻ em ở độ tuổi HS Tiểu học là một thực thể hồnnhiên, một chỉnh thể trọn vẹn nhưng chưa định hình, chưa hoàn thiện và làmột thực thể đang phát triển Ở mỗi trẻ em, các bộ phận, các cơ quan của cơthể với những chức năng riêng cũng phát triển chưa đồng đều, chưa tạo được

Trang 37

sự hài hòa cân đối ngay Về mặt tâm lý cũng vậy, các quá trình, các thuộc tínhtâm lý cũng phát triển không đồng đều, chưa hoàn thiện ngay Đối với hocsinh Tiểu học, những gì con người có thể có được, về cơ bản còn ở phía trước,đang hứa hẹn trong quá trình phát triển nhân cách tiếp theo Do vậy, nhà giáodục không nên bi quan về những khiếm khuyết tạm thời, những sự chín muồikhông đồng đều trong quá trình phát triển của từng HS Song cũng không nênthụ động chờ đợi một sự tự điều chỉnh, tự cân bằng một cách tự phát Nhàgiáo dục cần nắm chắc sự phát triển tâm sinh lý của HS Tiểu học để có nhữngbiện pháp giáo dục và đối xử đúng đắn nhằm hình thành nhân cách một cáchtoàn diện cho các em.

1.4.2 Giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học

1.4.2.1 Mục tiêu giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học

- Về kỹ năng:

Bước đầu hình thành kĩ năng nhận xét, đánh giá hành vi của bản thân

và những người xung quanh theo các chuẩn mực đã học; hình thành kĩ nănglựa chọn và thực hiện các hành vi ứng xử phù hợp với chuẩn mực trong cácmối quan hệ và tình huống đơn giản, cụ thể của cuộc sống

- Về thái độ: Bước đầu hình thành thái độ tự trọng, tự tin vào khả năngcủa bản thân; có trách nhiệm với hành động của mình; yêu thương, tôn trọngcon người; mong muốn đem lại niềm vui, hạnh phúc cho mọi người; yêu cáithiện, cái đúng, cái tốt, không đồng tình với cái ác, cái sai, cái xấu

Trang 38

1.4.2.2 Nhiệm vụ giáo dục đạo đức

Nhiệm vụ của GDĐĐ là giáo dục cho HS nhận thức đúng đắn nhữngchuẩn mực đạo đức, những giá trị của các chuẩn mực đó, bao gồm:

- Giáo dục tình cảm đạo đức: Là khơi dậy ở đối tượng giáo dục nhữngrung động, những tình cảm đối với hiện thực xung quanh, có thái độ rõ ràngvới những hành vi đạo đức của bản thân và mọi người trong xã hội

- Giáo dục thói quen đạo đức: Là giáo dục cho HS có hành vi đạo đức trởthành thói quen Thói quen đó được thể hiện trong hoạt động hằng ngày của HSnhư trong lao động, học tập và trong quan hệ với mọi người xung quanh

1.4.2.3 Nội dung giáo dục đạo đức

Nội dung GDĐĐ bao gồm các chuẩn mực và quy tắc đạo đức về mụcđích cuộc sống của bản thân, về lối sống cá nhân, các mối quan hệ trong giađình, trong tập thể và ngoài xã hội về cuộc sống, về nghĩa vụ lao động và bảo vệ

+ GDĐĐ thông qua các bài giảng trong chương trình môn Đạo đức,thông qua các bài giảng trong các môn học khác

+ GDĐĐ thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp, hoạt động ngoại khóa

Trang 39

+ GDĐĐ thông qua việc tổ chức sinh hoạt dưới cờ đầu tuần, qua cácngày kỷ niệm

+ GDĐĐ thông qua việc tổ chức các buổi thảo luận, tọa đàm về nhữngtình huống, những vấn đề liên quan đến đạo đức HS

+ GDĐĐ thông qua việc tổ chức sinh hoạt lớp

+ GDĐĐ thông qua các hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao.+ GDĐĐ thông qua các hoạt động từ thiện, đền ơn đáp nghĩa

1.4.2.5 Phương pháp giáo dục đạo đức

Phương pháp giáo dục đạo đức rất đa dạng song tựu chung lại có bốnnhóm phương pháp chính:

+ Nhóm các phương pháp tổ chức hoạt động xã hội, tích lũy kinhnghiệm ứng xử

+ Nhóm phương pháp hình thành ý thức cá nhân

+ Nhóm các phương pháp kích thích hoạt động, điều chỉnh hành vi ứng

xử của học sinh

+ Nhóm các phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục đạo đức

1.4.2.6 Vai trò của trường Tiểu học trong việc giáo dục đạo đức

- Làm cho HS Tiểu học nhận thấy rằng cần làm cho hành vi ứng xử củamình phù hợp với lợi ích của xã hội, giúp cho các em lĩnh hội các lý tưởngđạo đức, các nguyên tắc đạo đức, các chuẩn mực đạo đức để đảm bảo sự phùhợp đó

- Bồi dưỡng tình cảm đạo đức tích cực và bền vững các phẩm chất ý chí(thật thà, dũng cảm, kỷ luật, kiên trì…) để đảm bảo cho hành vi đạo đức luônluôn nhất quán với yêu cầu đạo đức

- Rèn luyện thói quen hành vi đạo đức, làm cho chúng trở thành bảntính tự nhiên của cá nhân và duy trì lâu bền các thói quen đó để ứng xử đúngđắn trong mọi hoàn cảnh

Trang 40

- Giáo dục văn hóa ứng xử (hành vi văn minh) thể hiện sự tôn trọng vàquý trọng lẫn nhau của con người, bảo quản tính nhân đạo, trình độ thẩm mĩcao của các quan hệ cá nhân trong cuộc sống.

- Việc bồi dưỡng tình cảm đạo đức và rèn luyện thói quen hành vi đạođức là nhằm hình thành bản lĩnh đạo đức vững vàng cho HS Song cần chú ýrằng nếu trình độ phát triển nhân cách về mặt đạo đức nhất là ý thức đạo đứckhông tương ứng với trình độ phát triển của tình cảm đạo đức, của thói quenhành vi đạo đức thì sẽ gặp nhiều khó khăn, niềm tin đạo đức và tình cảm đạođức được hình thành không chắc chắn, phiến diện Mặt khác, nếu việc truyềnthụ kiến thức đạo đức được tiếp thu một cách hình thức thì sẽ gặp tai họa làlời nói và việc làm không thống nhất với nhau, lý trí và tình cảm không thốngnhất với nhau, nảy sinh hiện tượng phân đôi nhân cách, hiện tượng đạo đứcgiả Chính vì vậy, việc xác định vai trò của nhà trường trong GDĐĐ cho HS

- Hiệu trưởng trường Tiểu học là người chịu trách nhiệm tổ chức, quản

lý các hoạt động và chất lượng giáo dục của nhà trường Sau mỗi năm học,Hiệu trưởng trường Tiểu học học được cấp có thẩm quyền đánh giá về côngtác quản lý các hoạt động và chất lượng giáo dục của nhà trường

- Lập kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch dạy học, giáo dục từngnăm học; báo cáo, đánh giá kết quả thực hiện trước Hội đồng trường và các

Ngày đăng: 17/11/2018, 15:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Tư tưởng văn hóa trung ương (2007), Đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đẩy mạnh học tập và làmtheo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
Tác giả: Ban Tư tưởng văn hóa trung ương
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2007
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (1998), Đạo đức học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo đức học
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Chỉ thị Số 2516/CT-BGDĐT, về việc thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong ngành giáo dục và đào tạo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị Số 2516/CT-BGDĐT, về việcthực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ ChíMinh
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2007
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Thông tư Ban hành Quy định về đáng giá và xếp loại học sinh tiểu học, Số 32 ngày 27 tháng 10 năm 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư Ban hành Quy định về đánggiá và xếp loại học sinh tiểu học
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2007
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Quy định về đạo đức nhà giáo, ban hành kèm theo Quyết định số 16/2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định về đạo đức nhà giáo
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2008
8. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Quy định về đạo đức nhà giáo, ban hành kèm theo Quyết định số 16/2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định về đạo đức nhà giáo
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2008
10. C.Mác, Ăng ghen, V.I Lê nin (1985), Bàn về giáo dục, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về giáo dục
Tác giả: C.Mác, Ăng ghen, V.I Lê nin
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1985
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb chính trị quốc gia
Năm: 2011
12. Đặng Quốc Bảo (2006), Quản lý nhà trường: Từ một số góc nhìn tổ chức - sư phạm và kinh tế- xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà trường
Tác giả: Đặng Quốc Bảo
Năm: 2006
13. Lê Văn Hồng (đồng tác giả)(1995), Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, NXB Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý họcsư phạm
Tác giả: Lê Văn Hồng (đồng tác giả)
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 1995
16. Nguyễn Mỹ Lộc (1996), Tâm lý học sư phạm - Trường CBQLTW Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Mỹ Lộc (1996), "Tâm lý học sư phạm
Tác giả: Nguyễn Mỹ Lộc
Năm: 1996
17. Nguyễn Văn Lê (2000), Khoa học quản lý nhà trường, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Văn Lê (2000), "Khoa học quản lý nhà trường
Tác giả: Nguyễn Văn Lê
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
18. Nguyễn Ngọc Quang (1989), Những khái niệm cơ bản về lý luận quản lý giáo dục, Trường CBQLTW Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Ngọc Quang (1989)
Tác giả: Nguyễn Ngọc Quang
Năm: 1989
20. Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt (1998), Giáo dục học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt (1998), "Giáo dục học
Tác giả: Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
21. Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ, Những vấn đề cốt yếu của quản lý, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ", Những vấn đề cốt yếu của quản lý
Nhà XB: NxbĐại học Quốc gia Hà Nội
24. Phạm Khắc Chương (2001), Đạo Đức Học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Khắc Chương (2001), "Đạo Đức Học
Tác giả: Phạm Khắc Chương
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
25. Phạm Khắc Chương (2004), Lý luận quản lý giáo dục đại cương, Giáo trình ĐHSPHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Khắc Chương (2004), "Lý luận quản lý giáo dục đại cương
Tác giả: Phạm Khắc Chương
Năm: 2004
26. Đề tài của Phạm Tất Dong (2007), Cải tiến công tác giáo dục tư tưởng, chính trị, đạo đức và lối sống cho HS, sinh viên trong hệ thống giáo dục quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề tài của Phạm Tất Dong (2007)
Tác giả: Đề tài của Phạm Tất Dong
Năm: 2007
27. Phạm Minh Hạc (2003), Về giáo dục, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Minh Hạc (2003), "Về giáo dục
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2003
28. Trần Thị Tuyết Oanh (2002), Giáo dục học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Thị Tuyết Oanh (2002), "Giáo dục học
Tác giả: Trần Thị Tuyết Oanh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2002

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w