Tên đề tài: Quản lý bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên trung học cơ sở Thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng. MỞ ĐẦU 1. Tổng quan nghiên cứu 1.1. Ngoài nước Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều coi hoạt động bồi dưỡng giáo viên là vấn đề phát triển cơ bản trong phát triển giáo dục. Việc tạo mọi điều kiện thuận lợi để mọi người có cơ hội học tập suốt đời, học tập thường xuyên để kịp thời bổ sung kiến thức và đổi mới phương pháp hoạt động phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội là phương châm hành động của các cấp quản lý giáo dục. Tại Nhật Bản, việc bồi dưỡng và đào tạo lại cho giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục là nhiệm vụ bắt buộc đối với người lao động sư phạm. Tùy theo thực tế của từng đơn vị cá nhân mà các cấp quản lý giáo dục đề ra các phương thức bồi dưỡng khác nhau trong một phạm vi theo yêu cầu nhất định. Cụ thể là mỗi trường cử từ 3 đến 5 giáo viên được đào tạo lại một lần theo chuyên môn mới và tập trung nhiều vào đổi mới phương pháp dạy học. Ở Philippin, công tác bồi dưỡng cho giáo viên không tổ chức trong năm học mà tổ chức bồi dưỡng vào các khoá học trong thời gian học sinh nghỉ hè. Hè thứ nhất bao gồm các nội dung môn học, nguyên tắc dạy học, tâm lý học và đánh giá trong giáo dục; hè thứ hai gồm các môn về quan hệ con người, triết học giáo dục, nội dung và phương pháp giáo dục; hè thứ ba gồm nghiên cứu giáo dục, viết tài liệu trong giáo dục và hè thứ tư gồm kiến thức nâng cao, kĩ năng nhận xét, vấn đề lập kế hoạch giảng dạy, viết tài liệu giảng dạy sách giáo khoa, sách tham khảo, … Tại Thái Lan, từ 1998 việc bồi dưỡng giáo viên được tiến hành ở các trung tâm học tập cộng đồng nhằm thực hiện giáo dục cơ bản, huấn luyện kĩ năng nghề nghiệp và thông tin tư vấn cho mọi người dân trong xã hội. Triều Tiên là một trong những nước có chính sách rất thiết thực về bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ giáo viên. Tất cả đội ngũ giáo viên đều phải tham gia học tập đầy đủ các nội dung chương trình về nâng cao trình độ và nghiệp vụ chuyên môn theo quy định. Nhà nước đã đưa ra hai chương trình lớn được thực thi hiệu quả trong thập kỉ vừa qua; đó là: “Chương trình bồi dưỡng giáo viên mới” để bồi dưỡng giáo viên thực hiện trong 10 năm và “Chương trình trao đổi” để đưa giáo viên đi tập huấn tại nước ngoài.
Trang 1TIỂU LUẬN Học phần: Nghiên cứu khoa học trong giáo dục
Họ và tên: Nông Mỹ Hà
Lớp: Cao học Quản lý giáo dục K17_2
Đơn vị công tác: Trường Cao đẳng Sư phạm Cao Bằng
ĐỀ BÀI Hãy xây dựng một đề cương nghiên cứu đối với một vấn đề cụ thể mà anh/chị quan tâm.
BÀI LÀM Tên đề tài: Quản lý bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên trung học cơ sở Thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ CƯƠNG
BDGV : Bồi dưỡng giáo viên
BDCM-NV : Bồi dưỡng chuyên môn – nghiệp vụ
CBQL : Cán bộ quản lý
CM – NV : Chuyên môn – nghiệp vụ
ĐT-BD : Đào tạo - bồi dưỡng
GD : Giáo dục
GD&ĐT : Giáo dục và Đào tạo
QLGD : Quản lý giáo dục
THCS : Trung học cơ sở
MỞ ĐẦU
Trang 21 Tổng quan nghiên cứu
1.1 Ngoài nước
Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều coi hoạt động bồi dưỡng giáo viên là vấn đề phát triển cơ bản trong phát triển giáo dục Việc tạo mọi điều kiện thuận lợi để mọi người có cơ hội học tập suốt đời, học tập thường xuyên để kịp thời bổ sung kiến thức và đổi mới phương pháp hoạt động phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội là phương châm hành động của các cấp quản lý giáo dục
Tại Nhật Bản, việc bồi dưỡng và đào tạo lại cho giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục là nhiệm vụ bắt buộc đối với người lao động sư phạm Tùy theo thực tế của từng đơn vị cá nhân mà các cấp quản lý giáo dục đề ra các phương thức bồi dưỡng khác nhau trong một phạm vi theo yêu cầu nhất định Cụ thể là mỗi trường cử từ 3 đến 5 giáo viên được đào tạo lại một lần theo chuyên môn mới và tập trung nhiều vào đổi mới phương pháp dạy học
Ở Philippin, công tác bồi dưỡng cho giáo viên không tổ chức trong năm học mà tổ chức bồi dưỡng vào các khoá học trong thời gian học sinh nghỉ hè Hè thứ nhất bao gồm các nội dung môn học, nguyên tắc dạy học, tâm lý học và đánh giá trong giáo dục; hè thứ hai gồm các môn về quan hệ con người, triết học giáo dục, nội dung và phương pháp giáo dục; hè thứ ba gồm nghiên cứu giáo dục, viết tài liệu trong giáo dục và hè thứ tư gồm kiến thức nâng cao, kĩ năng nhận xét, vấn đề lập kế hoạch giảng dạy, viết tài liệu giảng dạy sách giáo khoa, sách tham khảo, …
Tại Thái Lan, từ 1998 việc bồi dưỡng giáo viên được tiến hành ở các trung tâm học tập cộng đồng nhằm thực hiện giáo dục cơ bản, huấn luyện kĩ năng nghề nghiệp và thông tin tư vấn cho mọi người dân trong xã hội
Triều Tiên là một trong những nước có chính sách rất thiết thực về bồi
dưỡng và đào tạo lại đội ngũ giáo viên Tất cả đội ngũ giáo viên đều phải tham gia học tập đầy đủ các nội dung chương trình về nâng cao trình độ và nghiệp vụ chuyên môn theo quy định Nhà nước đã đưa ra hai chương trình lớn được thực thi hiệu quả trong thập kỉ vừa qua; đó là: “Chương trình bồi dưỡng giáo viên mới” để bồi dưỡng giáo viên thực hiện trong 10 năm và “Chương trình trao đổi”
để đưa giáo viên đi tập huấn tại nước ngoài
Trang 31.2 Trong nước
Vấn đề bồi dưỡng cho giáo viên đã được các nhà khoa hoc, các nhà quản lý nghiên cứu từ lâu
Luận văn Thạc sĩ khoa học chuyên ngành quản lý và tổ chức công tác văn hoá, giáo dục của tác giả Phùng Thanh Kỷ (1998) với đề tài: “Một số giải pháp tăng cường quản lý công tác bồi dưỡng thường xuyên đội ngũ GV THCS Hà Nội trong giai đoạn hiện nay” đã tập trung vào vấn đề bồi dưỡng thường xuyên cho đội ngũ GVTHCS
Năm 1999, Phạm Quang Huân có bài viết: “Nâng cao chất lượng tổ chức hoạt động tự học, tự bồi dưỡng của GV trường phổ thông” trên Tạp chí phát
triển Giáo dục số 1
Năm 2001, Nguyễn Thị Tươi, trường Đại học Sư phạm Qui Nhơn với bài viết “về công tác bồi dưỡng thường xuyên cho GV Trung học phổ thông”
Năm 2002, trong Tạp chí GD, tháng 11/2002, Trần Bá Hoành đã đề cập đến vấn đề bồi dưỡng GV trong bài “Bồi dưỡng tại chỗ và bồi dưỡng từ xa”
Trong những năm gần đây thì có thể kể đến:
“Vấn đề tự bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm của giáo viên THCS” của
Ths.Lục Thị Nga Trường bồi dưỡng cán bộ giáo dục Hà Nội trong tạp chí khoa học GD, số 12 năm 2006 Có đưa ra một số kĩ năng TBD ảnh hưởng lớn đến chất lượng TBD của người tham gia bồi dưỡng
Tác giả Cao Đức Tiến, trường Đại học Sư phạm Hà Nội trong bài viết: “bồi dưỡng đội ngũ GV THCS đáp ứng đổi mới giáo dục” trong tạp chí giáo dục số
130, năm 2006, đã đề cập đến tình hình phát triển dội ngũ GV THCS (từ năm học 1998-1999 đến nay) và đặc biệt tác giả đã đưa ra một số loại hình và hình thức bồi dưỡng cụ thể cho đội ngũ GV THCS
Luận văn tốt nghiệp cao học chuyên ngành QLGD của Võ Hoàng Chương
với đề tài: “Thực trạng công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn NVSP GV THCS huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai” đã đề xuất các giải pháp
công tác bồi dưỡng GV cần tiến hành một cách có hệ thống, bắt đầu từ đội ngũ
GV hiện có và bằng chính đội ngũ này làm cho nó tự thân vận động theo mục
Trang 4tiêu đã định với sự hỗ trợ bằng một hệ thống biện pháp đồng bộ từ việc triển khai có hiệu quả chương trình bồi dưỡng thường xuyên, chỉ đạo hiệu quả việc thực hiện các sáng kiến kinh nghiệm Gắn việc BD với phong trào thi GV giỏi các cấp Đẩy mạnh công tác thanh tra GV, chứng nhận lại trình độ nghề nghiệp
và nâng chuẩn GV Có kế hoạch cụ thể sử dụng công nghệ thông tin như là một công cụ hỗ trợ việc dạy Đồng thời với những biện pháp trên là sự đổi mới thực
sự công tác QL về chế độ chính sách đãi ngộ GV tham gia bồi dưỡng, tự bồi dưỡng
Luận văn Thạc sĩ quản lý giáo dục của tác giả Vũ Thị Kim Oanh – trường Đại học giáo dục – Đại học Quốc gia (2013) “Biện pháp quản lý bồi dưỡng giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp ở trường Tiểu học Uy Nỗ, huyện Đông Anh, Hà Nội” tập trung vào bồi dưỡng giáo viên Tiểu học
Các nghiên cứu trên đã tiếp cận nghiên cứu về vấn đề xây dựng, bồi dưỡng quy hoạch QL phát triển đội ngũ GV đã từng bước củng cố, hoàn thiện dần cơ
sở lý luận về xây dựng đồng thời đề xuất các biện pháp trong việc QL, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của địa phương, điều kiện nhà trường để từng bước củng cố, đào tạo, BD đội ngũ GV trở thành lực lượng chủ yếu nhằm nâng cao năng lực trong GD, quyết định sự phát triển của GD Tuy nhiên chưa có công
trình nào đề cập đến vấn đề “Quản lý bồi dưỡng chuyên môn – nghiệp vụ cho đội ngũ GV THCS Thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng”.
2 Lý do chọn đề tài
Giáo dục là động lực thúc đẩy xã hội Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường hiện nay giáo dục càng đóng vai trò rất quan trọng trong việc tạo ra nguồn nhân lực và khai thác tiềm năng con người hiệu quả nhất để phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước
Ở Việt Nam tầm quan trọng của GD cũng đã được Đảng khẳng định tại Đại
hội Đảng lần thứ IX: “Phát triển GD&ĐT là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người-yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”.
Trang 5Thực tế trong quá trình GD&ĐT thì cán bộ quản lý và giáo viên là nhân tố giữ vai trò chủ đạo, là người tổ chức, hướng dẫn, điều khiển quá trình học tập, nghiên cứu và rèn luyện của người học Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII
của Đảng khẳng định: “ Đổi mới căn bản công tác quản lý giáo dục, đào tạo, bảo đảm dân chủ, thống nhất; tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các
cơ sở giáo dục, đào tạo; thực hiện giám sát của các chủ thể trong nhà trường và
xã hội, tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra của cơ quan quản lý các cấp, bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch Phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo Thực hiện chuẩn hoá đội ngũ nhà giáo theo từng cấp học và trình độ đào tạo”.
Tại Điều 15, Luật giáo dục 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) cũng chỉ ra vai
trò và trách nhiệm của GV là: “Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc bảo đảm chất lượng giáo dục” Đúng vậy, nhà giáo là lực lượng nòng cốt của giáo dục,
có tác dụng quyết định thành công của sự nghiệp giáo dục Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã dạy:“Nếu không có thầy giáo dạy dỗ cho con em nhân dân thì làm sao xây dựng chủ nghĩa xã hội được? Vì vậy, nghề thầy giáo rất là quan trọng, rất là vẻ vang; ai có ý kiến không đúng về nghề thầy giáo, thì phải sửa chữa”.
Thành phố Cao Bằng là thành phố mới được thành lập từ năm 2012 khi Thị
xã Cao Bằng được nâng cấp lên thành phố, là tỉnh lị của tỉnh miền núi Cao Bằng, người dân đa phần là người dân tộc thiểu số, thu nhập hàng năm còn ở mức thấp, điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng giáo dục của Thành phố Những năm gần đây thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và chính sách của Nhà nước, đời sống của đại bộ phận dân cư được nâng cao rõ rệt Cùng với
sự đi lên của tình hình kinh tế - xã hội của Thành phố trẻ Cao Bằng thì sự nghiệp GD&ĐT của Thành phố cũng phát triển không những về cả số lượng và cả chất lượng, bước đầu đáp ứng nhiệm vụ nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thúc đẩy mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, mục tiêu giảm nghèo của địa phương Tuy vậy, so với yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay sự nghiệp giáo dục nói chung và giáo dục THCS nói riêng ở khu vực Thành phố Cao Bằng còn một số mặt
Trang 6tồn tại như: Một bộ phận đội ngũ GV còn có những hạn chế về năng lực chuyên môn
- nghiệp vụ, chất lượng dạy học chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới GD
Một trong những nguyên nhân quan trọng gây nên tình trạng trên là công tác quản lý bồi dưỡng chuyên môn - nghiệp vụ cho giáo viên còn hạn chế: Nhận thức và tầm nhìn chiến lược về sự phát triển giáo dục của lãnh đạo nhà trường còn hạn chế; Thiếu tính chủ động sáng tạo của nhà trường trong công tác xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra việc bồi dưỡng chuyên môn-nghiệp vụ cho giáo viên
Đã có một số công trình nghiên cứu của nhà khoa học đăng tải trên các sách khoa học, đề tài khoa học, luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ… về quản lý bồi dưỡng chuyên môn-nghiệp vụ cho đội ngũ GV trường học nói chung và quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn-nghiệp vụ cho đội ngũ GV THCS nói riêng Nhưng cho đến thời điểm này chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu về quản lý bồi dưỡng chuyên môn-nghiệp vụ cho đội ngũ GV THCS Thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng
Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn đó, tôi lựa chọn và nghiên cứu đề
tài: “Quản lý bồi dưỡng chuyên môn – nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên trung học cơ sở Thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng” với mong muốn góp
phần giải quyết một số bất cập và hạn chế trong công tác bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục THCS Thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay
3 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu để đề xuất một số biện pháp quản lý bồi dưỡng chuyên môn – nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên THCS Thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và phù hợp với thực tiễn của một thành phố miền núi còn nhiều khó khăn về kinh tế - xã hội
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Trang 7Quản lý bồi dưỡng chuyên môn – nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên THCS Thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp quản lý bồi dưỡng chuyên môn – nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên THCS Thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng
5 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
5.1 Giới hạn nghiên cứu
Chỉ tập trung nghiên cứu những biện pháp quản lý bồi dưỡng chuyên môn – nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên THCS Thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu các biện pháp quản lý bồi dưỡng chuyên môn – nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên THCS Thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng trong 3 năm học (2015-2018)
6 Vấn đề nghiên cứu
6.1 Quản lý bồi dưỡng chuyên môn – nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên dựa trên những cơ sở lý luận nào?
6.2 Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng quản lý bồi dưỡng chuyên môn – nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên THCS Thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng như thế nào?
6.3 Cần đề xuất biện pháp gì để quản lý bồi dưỡng chuyên môn – nghiệp
vụ cho đội ngũ giáo viên THCS Thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng?
7 Giả thuyết nghiên cứu
Quản lý bồi dưỡng chuyên môn – nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên THCS Thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng một số năm gần đây đã có nhiều chuyển biến tích cực và đạt được những kết quả đáng khích lệ Tuy nhiên, so với yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục hiện nay thì vẫn còn nhiều hạn chế và bất cập Nếu vận dụng hợp lý những biện pháp quản lý bồi dưỡng chuyên môn – nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên THCS do tác giả đề xuất thì chất lượng đội ngũ giáo viên sẽ được nâng lên góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục
và đào tạo ở cấp THCS
8 Phương pháp nghiên cứu
Trang 88.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích, tổng hợp tài liệu, phân loại và hệ thống hóa lý thuyết để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài
8.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát: Quan sát hoạt động quản lý bồi dưỡng chuyên môn- nghiệp vụ của CBQL (Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng) ở các trường THCS trong thành phố
- Phương pháp điều tra: Phỏng vấn trực tiếp các lãnh đạo quản lý giáo dục Dùng phiếu hỏi để trưng cầu ý kiến của cán bộ quản lý phòng GD&ĐT, CBQL, giáo viên các trường THCS, trao đổi với CBQL của trường THCS và của Phòng giáo dục nhằm thu thập thông tin
- Phương pháp chuyên gia: Tổ chức hội thảo, đàm thoại với đội ngũ chuyên gia giỏi, có trình độ và kinh nghiệm trong QLGD, để nghiên cứu rút ra kết luận tốt nhất cho vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
- Phương pháp khảo nghiệm
8.3 Nhóm phương pháp bổ trợ
Dùng phương pháp toán thống kê để xử lý, tổng hợp dữ liệu thu được, trên cơ sở đó rút ra kết luận khoa học, nhận xét mang tính khái quát
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục thì nội dung chính được trình bày thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý bồi dưỡng chuyên môn – nghiệp vụ
cho đội ngũ giáo viên trường phổ thông
Chương 2: Thực trạng quản lý bồi dưỡng chuyên môn – nghiệp vụ cho đội
ngũ giáo viên trung học cơ sở Thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng
Chương 3: Các biện pháp quản lý bồi dưỡng chuyên môn – nghiệp vụ cho
đội ngũ giáo viên trung học cơ sở Thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng
Trang 9Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG CHUYÊN MÔN-NGHIỆP
VỤ CHO ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƯỜNG PHỔ THÔNG
1.1 Những khái niệm cơ bản của đề tài
1.1.1 Quản lý
Mọi hoạt động của xã hội đều cần tới quản lý để thực hiện những hoạt động kết hợp những con người trong nhóm, các tổ chức nhằm đạt được những mục tiêu chung, hay nói cách khác quản lý là một yếu tố cần thiết để đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân để thực hiện các mục tiêu chung
Thuật ngữ quản lý được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau trên cơ sở những tiếp cận khác nhau
Theo F.W Taylor: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất
và rẻ nhất”
Theo từ điển Tiếng Việt: “Quản lý là việc tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, một cơ quan”
Theo tác giả Đỗ Hoàng Toàn: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến chuyển của môi trường”
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là sự tác động có mục đích, có
kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (khách thể quản lý) nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến”
Những quan niệm trên có khác nhau, song có thể khái quát: Quản lý (một
tổ chức (hệ thống) là sự tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch và có
hệ thống của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm phát huy tiềm năng của các yếu tố, các mối quan hệ chức năng, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực và cơ hội của tổ chức (hệ thống) trên cơ sở đó đảm bảo cho tổ chức, hệ thống vận hành (hoạt động) tốt, đạt được các mục tiêu đã đặt ra với chất lượng và hiệu quả tối ưu trong các điều kiện biến động của môi trường
Trang 10Hoạt động quản lý thể hiện qua sơ đồ đơn giản sau:
Sơ đồ Mô hình về quản lý
Theo mô hình trên, hiệu quả quản lý phụ thuộc vào các yếu tố: chủ thể, khách thể, mục tiêu, phương pháp và công cụ quản lý Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân, một nhóm, hay một tổ chức; còn khách thể quản lý là một người hay một nhóm người bị quản lý; công cụ quản lý là phương tiện tác động của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý; phương pháp quản lý là cách thức tác động của chủ thể đến khách thể Mục tiêu quản lý là trạng thái tương lai của tổ chức sau khi có các tác động quản lý của chủ thể quản lý Môi trường quản lý là các yếu tố hoặc tập hợp các yếu tố bên ngoài hệ thống quản lý, tác động và ảnh hưởng tới sự vận động, biến đổi và phát triển của hệ thống quản lý
1.1.2 Quản lý giáo dục
1.1.2.1 Khái niệm quản lý giáo dục
Khái niệm quản lý giáo dục cũng có nhiều cách diễn đạt:
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo, quản lý giáo dục (QLGD) theo nghĩa tổng quát, là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý trong hệ thống giáo dục, là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, điều hành các cơ sở giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu đẩy mạnh công tác
Chủ thể
Quản lý
Công cụ Quản lý
Phương pháp Quản lý
Khách thể Quản lý
Mục tiêu Quản lý Môi trường
quản lý