1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp ở huyện phú xuyên, thành phố hà nội

111 264 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 1,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, trong để tài đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: chọn điểm, chọn mẫu, thu thập số liệu thông qua các phòng ban của huyện, điều tra phỏng vấn trực

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Phượng Lê

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo

vệ lấy bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám

ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Hà Thu Thủy

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được

sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình

Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết

ơn sâu sắc PGS.TS Nguyễn Phượng Lê đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Kinh tế nông nghiệp và Chính sách, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể các cán bộ, chính quyền địa phương và các hộ nông dân các xã, các cơ quan ban ngành huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội đã giúp

đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Hà Thu Thủy

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục ii

Danh mục chữ viết tắt v

Danh mục bảng vi

Trích yếu luận văn vii

Thesis abstract ix

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.2.1 Mục tiêu chung 3

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 4

1.5 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 4

Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 5

2.1 Cơ sở lý luận về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 5

2.1.1 Khái niệm hiệu quả sử dụng đất 5

2.1.2 Quan điểm về hiệu quả sử dụng đất 6

2.1.3 Đặc điểm, tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 6

2.1.4 Nội dung và bản chất của hiệu quả sử dụng đất 8

2.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 13

2.2 Cơ sở thực tiễn về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 15

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 15

2.2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 18

Phần 3 Phương pháp nghiên cứu 22

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 22

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 22

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 25

3.2 Phương pháp nghiên cứu 26

Trang 5

3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 26

3.2.2 Phương pháp thu thập tài liệu 27

3.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 28

3.2.4 Phương pháp phân tích thông tin 28

3.2.5 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá kết quả hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 29

Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 31

4.1 Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp huyện Phú Xuyên 31

4.1.1 Biến động đất nông nghiệp của huyện giai đoạn 2013 - 2105 31

4.1.2 Các vùng sản suất nông nghiệp huyện Phú Xuyên 33

4.1.3 Hiện trạng các loại cây trồng, vật nuôi chính trên đất nông nghiệp 34

4.2 Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp tại Phú Xuyên 35

4.2.1 Thông tin chung các đối tượng điều tra 35

4.2.2 Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp tại Phú Xuyên về mặt kinh tế 39

4.2.3 Hiệu quả sử dụng đất tại Phú Xuyên về mặt xã hội 52

4.2.4 Hiệu quả sử dụng đất tại Phú Xuyên về mặt môi trường 54

4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất 57

4.3.1 Nhóm nhân tố đầu tư công và dịch vụ công 57

4.3.2 Đặc điểm của chủ thể sử dụng đất 61

4.4 Đánh giá chung về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp Phú Xuyên 64

4.4.1 Điểm mạnh (Strengths) 64

4.4.2 Điểm yếu (Weaknesses) 64

4.4.3 Cơ hội (Opportunities) 65

4.4.4 Thách thức (Threats) 65

4.5 Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp huyện Phú Xuyên 66

4.5.1 Định hướng sử dụng đất nông nghiệp của huyện 66

4.5.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp huyện Phú Xuyên 69

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 80

5.1 Kết luận 80

5.2 Kiến nghị 80

Tài liệu tham khảo 82

Phụ lục 85

Trang 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Dân số huyện Phú Xuyên giai đoạn 2010 - 2014 25

Bảng 3.2 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp 27

Bảng 4.1 Cơ cấu sử dụng đất huyện Phú Xuyên giai đoạn 2013 - 2015 31

Bảng 4.2 Diện tích và cơ cấu đất nông nghiệp giai đoạn 2013 - 2015 32

Bảng 4.3 Các cây trồng chính tại Phú Xuyên 35

Bảng 4.4 Đặc điểm của chủ hộ điều tra 36

Bảng 4.5 Tình hình đất đai và lao động của các hộ điều tra 37

Bảng 4.6 Một số tư liệu chủ yếu sử dụng của các nhóm hộ 38

Bảng 4.7 Thông tin chung về mô hình trang trại tại Phú Xuyên 39

Bảng 4.8 Các loại hình sử dụng đất tại Phú Xuyên 41

Bảng 4.9 Hiệu quả kinh tế theo nhóm cây trồng, vật nuôi 43

Bảng 4.10 Hiệu quả kinh tế các kiểu sử dụng đất theo cơ cấu mùa vụ 45

Bảng 4.11 So sánh hiệu quả kinh tế theo các LUT 48

Bảng 4.12 Hiệu quả kinh tế theo các dạng địa hình đất 50

Bảng 4.13 Hiệu quả kinh tế sử dụng đất theo đối tượng sản xuất 52

Bảng 4.14 Hiệu quả xã hội sử dụng đất tại Phú Xuyên 53

Bảng 4.15 Hiện trạng bón phân cho các cây trồng chính tại Phú Xuyên 55

Bảng 4.16 Ảnh hưởng của thủy lợi đến hiệu quả sử dụng đất 60

Bảng 4.17 Ảnh hưởng của chuyển giao KHKT đến hiệu quả sử dụng đất 61

Bảng 4.18 Ảnh hưởng của quy mô hộ sản xuất đến hiệu quả sử dụng đất 62

Bảng 4.19 Ảnh hưởng của trình độ sản xuất đến hiệu quả sử dụng đất 62

Bảng 4.20 Ảnh hưởng của vốn sản xuất đến hiệu quả sử dụng đất 63

Bảng P1 Hiệu quả kinh tế các cây trồng chính tại huyện Phú Xuyên 90

Bảng P2 Hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất tại Phú Xuyên 93

Bảng P3 Hiệu quả sử dụng theo các nhóm đất 97

Trang 8

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

1 Tên tác giả: Hà Thu Thủy

2 Tên luận văn: “Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp ở huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội”

3 Ngành: Kinh tế nông nghệp Mã số: 60.62.01.15

4 Cơ sở đào tạo: Học Viện Nông nghiệp Việt Nam

Đề tài với mục tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp tại Phú Xuyên, từ

đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cho địa bàn nghiên cứu trong thời gian tới Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, trong để tài đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: chọn điểm, chọn mẫu, thu thập số liệu thông qua các phòng ban của huyện, điều tra phỏng vấn trực tiếp người dân sản xuất nông nghiệp, cán bộ địa phương, cán bộ khuyến nông, xử lý số liệu bằng Excel, số liệu được phân tích bằng phương pháp thông kê mô tả, thống kê so sánh, phân tích SWOT để đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp tại Phú Xuyên cũng như phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình đó

Đề tài đã thu được những kết quả sau:

- Điều tra điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội huyện Phú Xuyên trong những năm gần đây Phú Xuyên là một huyện thuộc TP Hà Nội, nằm ở đồng bằng sông Hồng, thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ Việt Nam, có tổng diện tích đất tự nhiên là 15.810,93 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp là 11.108,55 ha chiếm 65,04% tổng diện tích đất tự nhiên Tổng dân số là 187.631 người với mật độ dân số trung bình

- Căn cứ vào đặc điểm tự nhiên và điều kiện sản xuất, Phú Xuyên được chia làm

2 tiểu vùng sinh thái theo tiêu chí về địa hình và các điều kiện sản xuất nông nghiệp Đất canh tác tại Phú Xuyên bao gồm nhóm đất cát và nhóm đất phù sa

- Đề tài tiến hành đánh giá theo 3 tiêu chí về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp: Hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường

- Có rất nhiều loại hình sử dụng đất tại Phú Xuyên, với một cơ cấu đa dạng về cây trồng vật nuôi Đề tài tiến hành nghiên cứu hiệu quả sử dụng đất tập trung vào:

Trang 9

+ Loại hình sử dụng đất chuyên lúa

+ Loại hình sử dụng đất lúa - màu

+ Loại hình sử dụng đất chuyên màu

+ Loại hình cây ăn quả, cây hoa

+ Loại hình thủy sản

+ Loại hình trang trại

Trong đó, tiến hành phân tích đánh giá theo các tiểu vùng sinh thái, theo các nhóm đất, theo mùa vụ Kết quả cho thấy, mỗi loại hình sử dụng đất có một hiệu quả khác nhau về cả 3 mặt kinh tế, xã hội, môi trường

- Đề tài đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp tại Phú Xuyên bao gồm: Đề xuất các cây trồng, vật nuôi hiệu quả, đề xuất các công thức luân canh, các mô hình sản xuất hiệu quả, đề xuất các cơ chế chính sách

Trang 10

THESIS ABSTRACT

Author: Ha Thu Thuy

Thesis name: Solutions to improve the effective use of agricultural land in Phu Xuyen district, Ha Noi city

Training Facility Name: Vietnam National University of Agriculture

The main objective of the research is to evaluate the effective use of agricultural land in Phu Xuyen district, Ha Noi city and therefore, the research suggests solutions

in order to improve the effective use of agricultural land in Phu Xuyen district in the near future Furthermore, the research contributes to systematize the theoretical and practical basis in the effective use of agricultural land in Phu Xuyen district

In order to address the research objectives, the study used research methods such

as probability sampling methods and data collection While secondary data was collected from offices and departments, primary data was collected through direct interview with local people , officials and staffs in Phu Xuyen district By using the method of statistic description, comparison and SWOT analysis, the research evaluated the effective use of agricultural land and analyzed factors influencing to the effective use of agricultural land in Phu Xuyen district

The study obtained the following results:

- Based on social and economic conditions in Phu Xuyen district in recent years, Phu Xuyen was located on Red River Delta and in the Northern Vietnam key economic region The total land area of Phu Xuyen was 15,810.93 hectares and agricultural land was 11,108.55 hectare which accounted for 65.04 percent total land area The total population was 187,631 people with an average population density was around 1,097 people per square kilometers (Statistical Yearbook of Vietnam 2015) The geographic of Phu Xuyen district coordinates from the latitude 20039’ to 20048’ North, and from the longitude 105047’to 106000’ East

- Based on the natural characteristics and production conditions, Phu Xuyen district is divided into 2 regions according to the criteria in the conditions of agricultural production The arable land in Phu Xuyen district includes sandy and alluvial soils

- The research assessed three criteria for the effective use of agricultural land which are economic efficiency, social efficiency and environmental efficiency

Trang 11

- There are various types of land use in Phu Xuyen district with diversity of plant and livestock structure The research in the effective use of agricultural land in Phu Xuyen district focused on:

+ Type of paddy land

+ Type of land for cultivation of other crops

+ Type of fruit trees

+ Type of fisheries

+ Type of farms

In particular, the research analyzed and evaluated in regions and in seasonality The research results showed that there were different effects in each type of land use in economic, social and environmental efficiency

- The research proposed solutions in order to improve the effective use of agricultural land in Phu Xuyen district In particular, they included recommendations for crops and livestock; mechanisms and policies; production models

Trang 12

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT ĐỀ TÀI

Nông nghiệp là hoạt động sản xuất cổ nhất và cơ bản nhất của loài người (Đường Hồng Dật, 1994) Hầu hết các nước trên thế giới đều phải xây dựng một nền kinh tế trên cơ sở phát triển nông nghiệp dựa vào khai thác các tiềm năng của đất, lấy đó làm bàn đạp phát triển các ngành khác Vì vậy, việc tổ chức sử dụng nguồn tài nguyên đất hợp lý, có hiệu quả theo quan điểm sinh thái đang trở thành một vấn đề hết sức quan trọng của mỗi quốc gia, mỗi địa phương (Thái Phiên, 2000)

Điều mà các nhà khoa học trên thế giới quan tâm là làm thế nào để sản xuất

ra nhiều lương thực, thực phẩm đáp ứng cho con người càng ngày càng tăng như hiện nay, trong khuôn khổ xã hội và kinh tế có thể thực hiện được Để thực hiện mục tiêu trên cần bắt đầu từ nâng cao hiệu quả sử dụng đất trong nông nghiệp một cách toàn diện, như Bùi Huy Đáp đã viết “Phải bảo vệ và sử dụng một cách khôn ngoan tài nguyên đất còn lại cho một nền sản xuất nông nghiệp bền vững” (trích bởi Vũ Thị Phương Thuỵ, 2000)

Sản xuất nông nghiệp hợp lý có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc bảo vệ tài nguyên đất, nó không những không làm huỷ hoại môi trường mà còn phục hồi lại được cảnh quan vốn có của tự nhiên, làm tăng sức khoẻ của con người, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại và kinh tế xã hội của quốc gia

Ngày nay, với sự gia tăng dân số nhanh đã tạo ra những nhu cầu ngày càng lớn trong việc sử dụng nguồn tài nguyên và ngày càng có nhiều áp lực liên tiếp tác động mạnh mẽ lên nguồn tài nguyên đất hiện đang còn nhiều khả năng khai thác trong nông nghiệp, sản xuất và cho năng suất cây trồng cao Tuy vậy, tính bền vững của mức tăng năng suất cây trồng và sự cân bằng các yếu tố dinh dưỡng trong đất, đa dạng sinh học và sinh thái môi trường còn phụ thuộc nhiều vào các hệ thống canh tác khác nhau (Trần Đức Viên, 1995)

Chuyển đổi cơ cấu đất đai đang diễn ra mạnh mẽ ở Việt Nam cùng với quá trình CNH - HĐH đất nước Trong đó, tỷ lệ đất chuyên dùng tăng lên Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển nhanh của nền kinh tế, tốc độ đô thị hoá diễn ra rất mạnh mẽ, quỹ đất nông nghiệp nói chung và đất canh tác nói riêng ngày càng bị giảm, thách thức lớn đặt ra cho ngành nông nghiệp là làm thế nào

Trang 13

với diện tích ngày càng bị thu hẹp như vậy nhưng vẫn tạo ra được nhiều sản phẩm, cho thu nhập cao đáp ứng được về nhu cầu đời sống xã hội của dân Sau khi có sự phát động phong trào xây dựng cánh đồng 50 triệu/1ha của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, thì nhiều địa phương đã xây dựng thành công những mô hình cho thu nhập cao Tại Hà Nội cũng đã xây dựng thành công các

mô hình sử dụng đất canh tác cho thu nhập cao tại các vùng khác nhau như Đông Anh, Từ Liêm, Gia Lâm

Phú Xuyên là huyện cửa ngõ nằm trên trục giao thông quan trọng nối Hà Nội với các tỉnh phía Nam qua tuyến đường sắt Bắc - Nam, tuyến Quốc lộ 1A và đường Pháp Vân - Cầu Giẽ Phú Xuyên là một huyện đồng bằng, “thuần nông”, mang đặc trưng vùng châu thổ sông Hồng gắn liền với nền văn minh lúa nước, tập quán sản xuất nông nghiệp có từ lâu đời với các làng mạc xen lẫn cánh đồng lúa thẳng cánh cò bay Năm 2015, huyện có tổng diện tích tự nhiên khoảng 15.810,93 ha, diện tích đất nông nghiệp 11.108,55 ha, dân số 187.631 người, với 98.220 lao động và mật độ dân số 1.097 người/km2

Trong những năm gần đây với đường lối đổi mới đúng đắn của Đảng, với các chính sách của Nhà nước hợp lòng dân, cùng với sự lãnh đạo của Đảng, cơ quan, đoàn thể và sự nỗ lực cố gắng của nhân dân huyện Phú Xuyên nên việc quản lý, khai thác và sử dụng đất nông nghiệp ngày càng tốt hơn Nhiều địa phương như xã Hồng Thái đạt bình quân 90 triệu đồng/ha Xã Nam Phong, Nam Triều có hơn 25% số hộ đạt thu nhập hơn 80 triệu đồng/năm, giá trị đất nông nghiệp đạt bình quân 67 triệu đồng/ha

Tuy nhiên trong quá trình phát triển, việc quản lý và sử dụng đất nông nghiệp còn bộc lộ một số hạn chế như: Chuyển dịch cơ cấu sản xuất không đồng đều giữa các địa phương, các xã và hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp chưa cao Sản xuất chưa gắn với chế biến và thị trường tiêu thụ đang là khâu yếu hiện nay Công tác quy hoạch và phát triển nông thôn, quy hoạch thuỷ lợi chậm được triển khai thực hiện đã ảnh hưởng đến việc bố trí sản xuất và thực hiện chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp

Đây là vấn đề được nhiều nhà khoa học, nhiều địa phương quan tâm.Vấn đề đặt ra ở đây là tại sao hiệu quả kinh tế sử dụng đất còn thấp? Làm cách nào để nâng cao hiệu quả kinh tế sử dụng đất? Do vậy, để trả lời được câu hỏi trên nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp huyện Phú Xuyên chúng tôi tiến

Trang 14

hành nghiên cứu đề tài: "Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp ở huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội "

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.1 Mục tiêu chung

Đánh giá hiệu quả sử dụng đất tại một số vùng huyện Phú Xuyên - thành phố Hà Nội, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của huyện

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

- Đánh giá thực trạng và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh

tế - xã hội một số loại hình sử dụng đất tại huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội

- Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của huyện Phú Xuyên thành phố Hà Nội

1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

- Tài nguyên đất nông nghiệp huyện Phú Xuyên có những đặc điểm gì nổi bật (thuận lợi, khó khăn)?

- Các loại hình sử dụng đất trên đất nông nghiệp chủ yếu tại Phú Xuyên

là gì?

- Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp ở mức nào?

- Các yếu tố nào ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp?

- Các giải pháp nào nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất theo hướng bền vững, từng bước nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống người dân

1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

Chủ thế nghiên cứu: Hộ nông dân Phú Xuyên với quá trình sản xuất nông nghiệp; Hợp tác xã, cán bộ có liên quan đến sản xuất nông nghiệp tại Phú Xuyên Khách thể nghiên cứu: Các yếu tố, điều kiện tự nhiên tác động tới sản xuất nông nghiệp tại Phú Xuyên; Những vấn đề kỹ thuật có liên quan đến sử dụng đất nông nghiệp

Trang 15

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu

a Phạm vi về nội dung: Điều tra, xác định các hình thức sử dụng đất trên địa bàn huyện; Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp ở huyện Phú Xuyên; Định hướng và các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp huyện Phú Xuyên

b Phạm vi không gian: Đề tài được triển khai nghiên cứu trên địa bàn huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội

c Phạm vi về thời gian: Thu thập số liệu và thông tin cần thiết phục vụ cho đề tài

từ các tài liệu đã công bố trong những năm gần đây, các số liệu thống kê của các

tổ chức từ năm 2013 - 2015 và số liệu điều tra các hộ

1.5 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN

- Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần bổ sung tư liệu khoa học trong nghiên cứu hiệu quả sử dụng đất

- Nghiên cứu góp phần bổ sung cơ sở khoa học và thực tiễn cho các nghiên cứu vể sử dụng đất tại huyện Phú Xuyên

- Kết quả đánh giá hiệu quả công thức trồng trọt mới làm cơ sở thực tiễn để chuyển đổi hệ thống cây trồng trên địa bàn huyện và những vùng có điều kiện tương tự nhằm nâng cao thu nhập cho người dân

Trang 16

PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP 2.1.1 Khái niệm hiệu quả sử dụng đất

Theo Các Mác thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể là quy luật tiết kiệm thời gian và phân phối một cách có kế hoạch thời gian lao động theo các ngành sản xuất khác nhau Theo các nhà khoa học kinh tế Samuel - Nordhuas “Hiệu quả có nghĩa là không lãng phí” Nghiên cứu hiệu quả sản xuất phải xét đến chi phí cơ hội “Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng

số lượng một loại hàng hoá này mà không cắt giảm số lượng một loại hàng hoá khác” (trích bởi Vũ Thị Phương Thuỵ, 2000)

Hiệu quả (Efficiency) là mối quan hệ giữa các đầu vào nhân tố khan hiếm

và sản lượng hàng hoá dịch vụ, mối quan hệ này được thể hiện bằng hiện vật hoặc giá trị Ở phạm vi rộng, khái niệm hiệu quả được dùng làm tiêu chuẩn để đánh giá xem thị trường của một nền kinh tế quốc gia nào đó phân bổ nguồn lực tốt đến mức nào Nói một cách chung nhất thì hiệu quả chính là kết quả như yêu cầu của việc làm mang lại (Trần Văn Uy, 1992)

Kết quả là, một đại lượng vật chất tạo ra do mục đích của con người, được biểu hiện bằng những chỉ tiêu cụ thể, xác định Do tính chất mâu thuẫn giữa nguồn tài nguyên hữu hạn với nhu cầu tăng lên của con người mà ta phải xem xét kết quả đó được tạo ra như thế nào? Chi phí bỏ ra là bao nhiêu? Có đưa lại kết quả hữu ích hay không? Chính vì thế khi đánh giá kết quả hoạt động sản xuất không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả mà còn phải đánh giá chất lượng công tác hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm đó Đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh là nội dung đánh giá của hiệu quả (trích bởi Đỗ Thị Tám, 2000)

Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của hầu hết các nước trên thế giới (Nguyễn Thị Vòng, 2001) Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp mà còn là sự mong muốn của nông dân - những người trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất nông nghiệp

Trang 17

2.1.2 Quan điểm về sử dụng đất nông nghiệp

Đất đai là đối tượng lao động độc đáo đồng thời cũng là môi trường sản xuất ra lương thực, thực phẩm với giá thành thấp nhất, là một trong những nhân

tố quan trọng hợp thành môi trường và trong nhiều trường hợp khác, nó lại chi phối sự phát triển hay huỷ diệt các yếu tố khác của môi trường, nên việc sử dụng đất hợp lý, tất yếu phải là một phần hợp thành của chiến lược nông nghiệp sinh thái và phát triển lâu bền của tất cả các nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam hiện nay (Trần An Phong, 1995) Vậy ta cần phải sử dụng đất canh tác dựa trên quan điểm như sau:

- Tận dụng triệt để các nguồn lực thuận lợi, khai thác lợi thế so sánh về khoa học - kỹ thuật, đất đai, lao động để phát triển cây trồng, vật nuôi có tỉ suất hàng hoá cao, tăng sức cạnh tranh và hướng tới xuất khẩu (Vũ Thị Phương Thụy, 2000)

- Trên quan điểm phát triển hệ thống, thực hiện sử dụng đất canh tác theo hướng tập trung chuyên môn hoá,sản xuất hàng hoá theo hướng ngành hàng, nhóm sản phẩm, thực hiện thâm canh toàn diện và liên tục (Phan Sĩ Mẫn và Nguyễn Việt Anh, 2001)

- Nâng cao hiệu quả sử dụng đất canh tác trên cơ sở thực hiện “đa dạng hoá” hình thức sở hữu, tổ chức sử dụng đất nông nghiệp, đa dạng hoá cây trồng vật nuôi, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi phù hợp với sinh thái và bảo vệ môi trường (Vũ Thị Phương Thụy, 2000)

- Nâng cao hiệu quả sử dụng đất canh tác gắn liền với chuyển dịch cơ cấu

sử dụng đất canh tác và quá trình tập trung ruộng đất

-Nâng cao hiệu quả sử dụng đất canh tác của từng địa phương phải phù hợp

và gắn liền với định hướng phát triển kinh tế - xã hội chung của từng vùng và

Đặc điểm của đất nông nghiệp là tư liệu sản xuất chủ yếu đặc biệt, có độ phì

và không thể thay thế được Đất đai được gọi là tư liệu sản xuất đặc biệt vì nó vừa

Trang 18

là đối tượng lao động, vừa là tư liệu lao động Chỉ có thông qua đất, các tư liệu sản xuất mới tác động đến cây trồng và sử dụng đất đai đúng hướng còn quyết định đến hiệu quả sản xuất (Nguyễn Sinh Cúc và Nguyễn Văn Tiêm, 1996)

Diện tích đất đai có giới hạn về mặt tự nhiên, nên con người không thể tự ý tăng diện tích lên một cách vô hạn như các tư liệu sản xuất khác Đất đai có vị trí

cố định và nó gắn liền với điều kiện thời tiết, khí hậu của từng vùng cụ thể, vì thế con người không thể di chuyển đất đai từ nơi này sang nơi khác mà phải bố trí hệ thống nông nghiệp (cây trồng, vật nuôi) với từng vùng sinh thái theo vị trí của đất đai Sử dụng đất có khả năng tăng thêm sản phẩm mà không phải ứng thêm tư bản (Đỗ Nguyên Hải, 2001)

Đất nông nghiệp là một bộ phận của đất nông nghiệp, được sử dụng trồng cây hàng năm và còn được gọi là đất trồng cây hàng năm Đất nông nghiệp là đất

có các tiêu chuẩn về chất lượng nhất định, được thường xuyên cày bừa, cuốc xới

để trồng cây có chu kỳ sản xuất dưới một năm

Đất nông nghiệp có một vị trí vô cùng quan trọng trong quá trình sản xuất nông nghiệp bởi nó chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng diện tích đất nông nghiệp Với sinh vật, đất đai không chỉ là môi trường sống mà còn là nguồn cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng Việc quản lý và sử dụng tốt đất đai sẽ góp phần làm tăng thu nhập, ổn định kinh tế, chính trị và xã hội

2.1.3.2 Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và ý nghĩa Hiện nay, tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp vẫn còn đang là một vấn đề phức tạp và còn có nhiều ý kiến chưa thống nhất Tuy nhiên

đa số các nhà kinh tế đều cho rằng tiêu chuẩn cơ bản và tổng quát khi đánh giá hiệu quả là mức độ đáp ứng nhu cầu xã hội và sự tiết kiệm lớn nhất về chi phí tiêu hao các nguồn lực Vì nhu cầu thì rất đa dạng, lại luôn thay đổi theo thời gian và tuỳ thuộc vào trình độ khoa học công nghệ - kỹ thuật được áp dụng vào sản xuất, nên ở mỗi thời kỳ phát triển khác nhau, tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả cũng khác nhau Nhìn chung có thể coi lượng kết quả thu được tối đa trên một đơn vị chi phí là tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả kinh tế hiện nay

Trong sản xuất nông nghiệp, đất đai là nguồn lực quan trọng nhất, là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế được Không có đất đai thì không thể tiến hành sản xuất nông nghiệp Nhưng nguồn lực này lại bị giới hạn và đang có nguy cơ giảm dần về diện tích và chất lượng Chính vì vậy, yêu cầu cấp bách đặt ra là phải sử dụng đất đai một cách đầy đủ, hợp lý, tiết kiệm và đem lại hiệu quả cao nhất

Trang 19

Việt nam là một nước nông nghiệp, 70% là lao động nông thôn, trình độ thấp trong khi ruộng đất lại ít Vì vậy,cần phải tác động vào đất đai một cách có hiệu quả nhất để mang lại thu nhập, đồng thời đảm bảo các yêu cầu về xã hội, môi trường Xuất phát từ những yêu cầu đó, quan điểm khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất là với một diện tích đất đai nhất định có thể tiến hành sản xuất đạt kết quả cao nhất với những chi phí thấp nhất về lao động và các yếu tố khác trong một khoảng thời gian nhất định, nhưng đồng thời phải đảm bảo sự phát triển bền vững (Phạm Thị Hương và cs., 2006)

Nguyên tắc đạt hiệu quả kinh tế cao là MCLa = MRLa

MCLa: Marginal Cost of Land

MRLa: Marginal Revenue of Land

Lý thuyết sản xuất cơ bản này là sự ứng dụng giản đơn nguyên tắc tối ưu hoá có ràng buộc Sử dụng đất phải cố gắng cực tiểu hoá chi phí sản xuất lượng sản phẩm hàng hoá, cực đại hoá sản lượng đạt được theo giá quy định Điều này

có nghĩa là việc sử dụng đất có hiệu quả phải là:

- Thu được nhiều giá trị nông sản trên một đơn vị diện tích, tăng thu nhập cho người lao động, cực tiểu hoá chi phí sản xuất lượng sản phẩm hàng hoá trong khi cực đại hoá sản lượng đạt được theo giá quy định

- Đảm bảo cho sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá trong

cơ chế thị trường, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước

- Đảm bảo tăng độ phì của đất, cải tạo và bảo vệ đất,chống ô nhiễm, xói mòn, bảo vệ môi trường sinh thái, từng bước phát triển một nền nông nghiệp bền vững 2.1.4 Nội dung và bản chất của hiệu quả sử dụng đất

Smith A.J and Julian Dumanski (1993) đã xác định 5 nguyên tắc có liên quan đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là:

- Duy trì hoặc nâng cao các hoạt động sản xuất

- Giảm mức độ rủi ro đối với sản xuất

- Bảo vệ tiềm năng của các nguồn tài nguyên tự nhiên, chống lại sự thoái hoá chất lượng đất và nước

- Khả thi về mặt kinh tế

- Được xã hội chấp nhận

Trang 20

Như vậy, theo các tác giả, hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp không chỉ thuần tuý về mặt tự nhiên mà còn cả về mặt môi trường, lợi ích kinh tế và xã hội Năm nguyên tắc trên đây là trụ cột của việc đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, nếu trong thực tiễn đạt được cả 5 nguyên tắc trên là sự thành công, ngược lại sẽ chỉ đạt được ở một mặt nào đó có điều kiện Tại Việt Nam, theo ý kiến của Đào Châu Thu và Nguyễn Khang (1998), hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cũng dựa trên những nguyên tắc và được thể hiện trong 3 yêu cầu sau:

- Bền vững về mặt kinh tế: cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao và được thị trường chấp nhận

- Bền vững về mặt môi trường: loại hình sử dụng đất bảo vệ được đất đai, ngăn chặn sự thoái hoá đất, bảo vệ môi trường tự nhiên

- Bền vững về mặt xã hội: thu hút được nhiều lao động, đảm bảo đời sống người dân, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển

Tóm lại, hoạt động sản xuất nông nghiệp của con người diễn ra hết sức đa dạng trên nhiều vùng đất khác nhau và cũng vì thế hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp thể hiện trong nhiều hoạt động sản xuất và quản lý đất đai trên từng vùng đất xác định theo nhu cầu và mục đích sử dụng của con người Đất đai trong sản xuất nông nghiệp chỉ được gọi là đạt hiệu quả trên cơ sở duy trì các chức năng chính của đất là đảm bảo khả năng sản xuất của cây trồng một cách ổn định, không làm suy giảm về chất lượng tài nguyên đất theo thời gian và việc sử dụng đất không gây ảnh hưởng xấu đến môi trường sống của con người và sinh vật 2.1.4.1 Hiệu quả về mặt kinh tế sử dung đất nông nghiệp

Theo các nhà khoa học Đức (Stenien, Hanau, Rusteruyer, Simmerman), hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu so sánh mức độ tiết kiệm chi phí trong một đơn vị kết quả hữu ích và mức tăng kết quả hữu ích của hoạt động sản xuất vật chất trong một thời kỳ, góp phần làm tăng thêm lợi ích của xã hội (trích bởi Vũ Thị Phương Thuỵ, 2000)

Hiệu quả kinh tế (Economic efficiency) là một phương diện của quá trình sản xuất phản ánh sự kết hợp giữa một khối lượng nguồn lực nhất định để sản xuất ra một khối lượng sản phẩm hữu ích lớn nhất Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế Mục đích sản xuất kinh tế - xã hội là đáp ứng nhu cầu ngày một càng cao về vật chất tinh thần của toàn xã hội, khi nguồn lực sản xuất xã hội ngày càng trở nên khan hiếm Yêu cầu của công tác quản lý kinh tế đòi hỏi phải nâng cao chất lượng các hoạt động kinh

tế làm xuất hiện phạm trù hiệu quả kinh tế (trích bởi Nguyễn Minh Tuấn, 2005)

Trang 21

Hiệu quả kinh tế là phạm trù chung nhất, nó liên quan trực tiếp tới nền sản xuất hàng hoá và với tất cả các phạm trù và các quy luật kinh tế khác Vì thế hiệu quả kinh tế phải đáp ứng được 3 vấn đề:

- Một là, mọi hoạt động của con người đều tuân theo quy luật “tiết kiệm thời gian”

- Hai là, hiệu quả kinh tế phải được xem xét trên quan điểm của lí thuyết hệ thống

- Ba là, hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế bằng quá trình tăng cường các nguồn lực sẵn có phục vụ cho lợi ích của con người

Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh Kết quả đạt được là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra

là phần giá trị của các nguồn lực đầu vào Mối tương quan đó cần xét cả về phần so sánh tuyệt đối và tương đối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa 2 đại lượng đó

Hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác là một bộ phận của hiệu quả kinh tế sản xuất nói chung Hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác cao mới góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế của quá trình sản xuất nông nghiệp Đây là một chỉ tiêu kinh tế phản ánh sức sản xuất của đất trên cơ sở đất canh tác hiện trạng dưới tác động của con người và những điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khác Hiệu quả kinh tế thể hiện sự so sánh giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra, nhưng do sản xuất nông nghiệp có những nét đặc thù riêng so với ngành sản xuất khác Cho nên khái niệm về hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác cũng có những đặc thù riêng “Bản chất của phạm trù kinh tế sử dụng đất canh tác là với một đơn vị diện tích nhất định sản xuất ra một đại lượng của cải, vật chất nhiều nhất với một lượng đầu tư chi phí thấp nhất nhằm đáp ứng ngày càng tăng về vật chất của xã hội” (Vũ Thị Phương Thụy, 2000)

Hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác khác với các ngành sản xuất khác ở chỗ nó được tính trên một đơn vị diện tích đất canh tác Trong điều kiện của Việt Nam, Nhà nước giao quyền sử dụng đất nông nghiệp cho các đơn vị sản xuất nhưnông trường, HTX nông nghiệp, hộ gia đình Đất canh tác tuy có vai trò như một tài sản cố định tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất nhưng lại không tính khấu hao nên nó không được tính giá trị chi phí của đất vào chi phí sản xuất của

Trang 22

sản phẩm ngành nông nghiệp Vì vậy, không thể tính được hiệu quả của đồng chi phí về đất đai trong sản xuất nông nghiệp như khái niệm chung về hiệu quả kinh

tế Do vậy, ta dùng chỉ tiêu năng suất cây trồng để thay thế

Đất đai nói chung, đất canh tác nói riêng là loại tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng nó là loại tư liệu sản xuất không thể thiếu được trong sản xuất nông nghiệp Do đó, biết sử dụng nó một cách có hệ thống sẽ thu được khối lượng sản phẩm (giá trị sản phẩm) lớn với hiệu quả kinh tế cao và ngược lại Để đạt được mục tiêu kinh tế thì người sản xuất phải có biện pháp sử dụng có hiệu quả các yếu tố của quá trình sản xuất mà đất đai là một trong những yếu tố quan trọng Vì vậy, mỗi vùng sản xuất cần phân tích kết quả sản xuất hàng năm để đánh giá những loại đất nào đã sử dụng tốt, có hiệu quả, phù hợp với các điều kiện hiện tại

và ngược lại Đối với loại đất sử dụng chưa phù hợp, hiệu quả kinh tế thấp cần phải tìm ra biện pháp kỹ thuật khắc phục để đạt hiệu quả cao hơn trong tương lai

Ở đây cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao, được thị trường chấp nhận Hệ thống sử dụng đất phải có mức năng suất sinh học cao trên mức bình quân vùng

có cùng điều kiện đất đai Năng suất sinh học bao gồm các sản phẩm chính và phụ (đối với cây trồng là gỗ, hạt, củ, quả và tàn dư để lại)

Một hệ bền vững phải có năng suất trên mức bình quân vùng, nếu không sẽ không cạnh tranh được trong cơ chế thị trường

Về chất lượng: sản phẩm phải đạt tiêu chuẩn tiêu thụ tại địa phương, trong nước và xuất khẩu, tùy mục tiêu của từng vùng Tổng giá trị sản phẩm trên đơn vị diện tích là thước đo quan trọng nhất của hiệu quả kinh tế đối với một hệ thống sử dụng đất Tổng giá trị trong một giai đoạn hay cả chu kỳ phải trên mức bình quân của vùng, nếu dưới mức đó thì nguy cơ người sử dụng đất

sẽ không có lãi, hiệu quả vốn đầu tư phải lớn hơn lãi suất tiền vay vốn ngân hàng (Hoàng Thu Hà, 2001)

2.1.4.2 Hiệu quả về mặt xã hội sử dung đất nông nghiệp

Thu hút được lao động, đảm bảo đời sống và phát triển xã hội Đáp ứng nhu cầu của nông hộ là điều quan tâm trước,nếu muốn họ quan tâm đến lợi ích lâu dài (bảo vệ đất, môi trường ) Sản phẩm thu được cần thoả mãn cái ăn, cái mặc, và nhu cầu sống hàng ngày của người nông dân Nội lực và nguồn lực địa phương phải được phát huy

Về đất đai, hệ thống sử dụng đất phải được tổ chức trên đất mà nông dân có quyền hưởng thụ lâu dài, đất đã được giao và rừng đã được khoán với lợi ích các

Trang 23

bên cụ thể Sử dụng đất sẽ bền vững nếu phù hợp với nền văn hoá dân tộc và tập quán địa phương, nếu ngược lại sẽ không được cộng đồng ủng hộ (Hoàng Thu

Hà, 2001)

2.1.4.3 Hiệu quả về môi trường sử dung đất nông nghiệp

Loại hình sử dụng đất phải bảo vệ được độ màu mỡ của đất, ngăn chặn thoái hoá đất và bảo vệ môi trường sinh thái Giữ đất được thể hiện bằng giảm thiểu lượng đất mất hàng năm dưới mức cho phép Độ phì nhiêu đất tăng dần là yêu cầu bắt buộc đối với quản lý sử dụng bền vững Độ che phủ tối thiểu phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái (>35%)

Đa dạng sinh học biểu hiện qua thành phần loài (đa canh bền vững hơn độc canh, cây lâu năm có khả năng bảo vệ đất tốt hơn cây hàng năm) (Hoàng Thu Hà, 2001)

Để có một nền nông nghiệp bền vững, trước hết phải quan tâm đến vấn đề môi trường Môi trường trong nông nghiệp bao gồm các biện pháp làm đất, bón phân, tưới tiêu nước Nếu nhưsự phối hợp các khâu này trong canh tác không hợp

lý sẽ dẫn đến tình trạng ô nhiễm đất bởi các chất hoá học, đất bị chua, mặn hoặc phèn hoá, làm giảm độ phì nhiêu của đất, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, phẩm chất nông sản và làm suy thoái môi trường (Nguyễn Minh Tuấn, 2005) Hiệu quả môi trường là môi trường được sản sinh do tác động của sinh vật, hoá học, vật lý chịu ảnh hưởng tổng hợp của các yếu tố môi trường của các loại vật chất trong môi trường Hiệu quả môi trường phân theo nguyên nhân gây nên gồm: hiệu quả hoá học môi trường, hiệu quả vật lí môi trường và hiệu quả sinh vật môi trường Hiệu quả sinh vật môi trường là hiệu quả khác nhau của hệ thống sinh thái dosự phát sinh biến hoá của các loại yếu tố môi trường dẫn đến Hiệu quả hoá học môi trường là hiệu quả môi trường do các phản ứng hoá học giữa các vật chất chịu ảnh hưởng của điều kiện môi trường dẫn đến Hiệu quả vật lý môi trường là hiệu quả môi trường do tác động vật lý dẫn đến (Nguyễn Hữu Quỳnh và cs., 1998)

Để đánh giá một phương thức canh tác nào đó làtiến bộ, đi đôi với việc xem xét hiệu quả kinh tế còn phải đánh giá chung về hiệu quả môi trường Hiệu quả môi trường của một hệ thống canh tác trước hết phải phục vụ mục tiêu của sự phát triển một nền nông nghiệp bền vững Đó là:

- Bảo vệ và làm tăng độ phì nhiêu của đất, cải tạo và phục hồi những loại đất nghèo dinh dưỡng, đất đã bị suy thoái do kỹ thuật canh tác gây nên, duy trì và

Trang 24

nâng cao tiềm năng sinh học của các loại đất còn chưa bị suy thoái Các tiêu thức dùng để đánh giá bao gồm:

+ Bón phân và giữ gìn đất; việc cung cấp lại lượng mùn bị mất đi hàng năm của đất là rất cần thiết để giữ độ phì cho đất

+ Hạn chế dùng hoá chất trong nông nghiệp

+ Trồng cây họ đậu bao gồm các cây họ đậu ngắn ngày, dài ngày, cây phân xanh, cây đa tác dụng bằng nhiều hình thức: trồng luân canh, trồng xen, trồng ở dọc đường ranh giới

+ Tăng vụ, tăng hệ số quay vòng của đất để tăng cường sự che phủ đất

- Tính đa dạng sinh học, bảo vệ nguồn gien của các động vật, thực vật hoang dã dùng để lai tạo thành các giống chống chịu tốt với sâu bệnh và các điều kiện ngoại cảnh bất thường

- Tính đa dạng giữa các hệ phụ trồng trọt, chăn nuôi, ngành nghề phụ, bảo quản chế biến sau thu hoạch và tiêu thụ hàng hoá

- Phát triển phương thức nông, lâm kết hợp, xây dựng các mô hình VAC

- Bảo vệ và duy trì nguồn tài nguyên nước bằng việc trồng rừng, xoá bỏ đất trống đồi núi trọc, trồng cây lâu năm, kết hợp nông lâm với nuôi trồng thuỷ sản 2.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

2.1.5.1 Nhóm nhân tố tự nhiên

Điều kiện tự nhiên (đất, nước, khí hậu, thời tiết ) có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp (Nguyễn Đình Hợi, 1993) Bởi vì, các yếu tố của điều kiện tự nhiên là tài nguyên để sinh vật tạo nên sinh khối Do vậy, cần đánh giá đúng điều kiện tự nhiên để trên cơ sở đó xác định cây trồng chủ lực phù hợp và định hướng đầu tư thâm canh đúng

Theo C.Mác, điều kiện tự nhiên là cơ sở hình thành địa tô chênh lệch I Theo N.Borlang - người được giải Nobel về giải quyết lương thực cho các nước phát triển cho rằng: Yếu tố duy nhất quan trọng hạn chế năng suất cây trồng ở tầm cỡ thế giới trong các nước đang phát triển, đặc biệt đối với nông dân thiếu vốn là độ phì đất (trích bởi Vũ Thị Phương Thuỵ, 2000)

Các cây trồng sinh trưởng phát triển theo các quy luật riêng vốn có của chúng, đồng thời chịu tác động rất nhiều của nhóm nhân tố tự nhiên như thời tiết, khí hậu, môi trường Các quy luật sinh học và điều kiện ngoại cảnh tồn tại độc lập với ý muốn chủ quan của con người Nếu như điều kiện tự nhiên thuận lợi,

Trang 25

cây trồng vật nuôi sẽ sinh trưởng phát triển mạnh, cho năng suất và chất lượng cao Ngược lại, nếu điều kiện tự nhiên không thuận lợi sẽ gây ảnh hưởng không tốt đến sự sinh trưởng phát triển của cây trồng dẫn đến hiệu quả kinh tế đạt được thấp Chính vì vậy trong sản xuất nông nghiệp, nhất là trong quá trình sử dụng đất nông nghiệp sẽ không đạt được hiệu quả nếu như chúng ta không nắm vững các quy luật của tự nhiên và sinh vật để có thể hạn chế các tác hại, đồng thời lợi dụng để tác động một cách phù hợp tới cây trồng, vật nuôi sinh trưởng, phát triển theo chiều hướng có lợi cho con người

2.1.5.2 Nhóm nhân tố đầu tư công và dịch vụ công

a Chính sách phát triển nông nghiệp

Các chính sách của chính phủ được đưa ra nhằm tác động vào một lĩnh vực

cụ thể của nền kinh tế Đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp, điều này được thể hiện rất rõ Nếu chính sách đúng đắn phù hợp sẽ góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, và ngược lại nếu chính sách không phù hợp sẽ góp phần kìm hãm sự phát triển của sản xuất Trên thực tế chúng ta đã thấy rất rõ điều này ở thời kỳ bao cấp Hiện nay, một số chính sách nông nghiệp mới ra đời như chính sách trợ giá nông sản, chính sách khuyến nông đã góp phần thúc đẩy việc phát triển sản xuất nông nghiệp, đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn, sử dụng hợp lý và có hiệu quả các nguồn lực hơn

b Cơ sở hạ tầng

Trong sản xuất nông nghiệp cơ sở hạ tầng đóng vai trò rất quan trọng.Nếu

cơ sở hạ tầng không tốt sẽ làm ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất, năng suất và chất lượng cây trồng, nhất là vào mùa hạn hán, lũ lụt Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho quá trình sản xuất sẽ tạo động lực kích thích phát triển nông nghiệp hàng hoá và các hoạt động phi nông nghiệp, trên cơ sở đó tăng thu nhập cho các hộ gia đình ở nông thôn

c Khuyến nông và chuyển giao kỹ thuật

Đây là một trong những nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả và hiệu quả trong sản xuất trồng trọt Công nghệ trong nông nghiệp là tập hợp các tri thức khoa học nông nghiệp áp dụng vào nông nghiệp Công nghệ áp dụng trong nông nghiệp cần theo hướng làm giảm sự lệ thuộc quá mức vào các sản phẩm hoá học của người nông dân Nhờ áp dụng công nghệ và kỹ thuật mới vào sản xuất, đã giúp cho trình sản xuất đạt hiệu quả cao hơn, giúp cho con người sản xuất ra nhiều sản phẩm hơn với số lượng nguồn lực (đầu vào) không đổi, thậm

Trang 26

chí còn ít hơn Tuy nhiên, việc áp dụng công nghệ kỹ thuật mới cần phải kết hợp hài hoà với công nghệ cổ truyền đang có trong dân, đồng thời phải chú ý đảm bảo môi trường sinh thái

2.1.5.3 Đặc điểm của chủ thể sử dụng đất

a Quy mô sản xuất của chủ thể

Quy mô sản xuất có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh tế Quy mô sản xuất càng lớn thì chi phí quản lý cũng như các chi phí khác được tiết kiệm hơn và ngược lại

b Trình độ sản xuất

Sản xuất nông nghiệp phụ thuộc nhiềuvào điều kiện tự nhiên, do đó trình độ của người sản xuất có ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất của cây trồng và vật nuôi Việc áp dụng kỹ thuật mới vào sản xuất không đảm bảo chắc chắn mang lại hiệu quả kinh tế cao ngay từ lúc mới áp dụng nếu như người nông dân không có kiến thức khoa học và thành thạo kỹ thuật Những người nông dân nắm vững kỹ thuật, có kinh ngiệm sản xuất, trình độ tổ chức quản lý thường thu được sản phẩm nhiều hơn, hiệu quả kinh tế cao hơn trên một đơn vị diện tích so với những người nông dân có trình độ văn hoá thấp, không hoặc ít am hiểu kỹ thuật (Lê Hội, 1996)

c Vốn sản xuất

Vốn là vấn đề cần thiết và quan trọng đối với hộ nông dân nhằm đầu tư cho sản xuất, thâm canh tăng năng suất nông lâm nghiệp Nếu thiếu vốn hiệu quả kinh tế sử dụng đất sẽ không được cải thiện Vì vậy, vốn là nhân tố hết sức quan trọng trong quá trình sản xuất (Nguyễn Minh Tuấn, 2005)

2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP 2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Cho tới nay, trên thế giới đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu đưa ra nhiều phương pháp đánh giá để tìm ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả

sử dụng đất nông nghiệp Các nước Đông Nam Á đã áp dụng các phương pháp như: phương pháp chuyên khảo, phương pháp mô phỏng, phương pháp phân tích kinh tế vào việc áp dụng đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp thông qua việc tập trung hướng nghiên cứu vào việc đánh giá hiệu quả đối với từng loại cây trồng, từng giống cây trồng, để từ đó sắp xếp, bố trí một công thức luân canh phù hợp hơn, khai thác một cách tối ưu tiềm năng của đất (Phạm Chí Thành và cs., 1996)

Trang 27

Các nhà khoa học nghiên cứu trên thế giới đã đưa ra một số cây trồng mới

có năng suất và chất lượng cao, giúp cho việc sử dụng đất ngày càng có hiệu quả hơn Tạp chí Farming Japan của Nhật Bản ra hàng tháng đã giới thiệu nhiều công trình ở các nước trên thế giới về các hình thức sử dụng đất đai Các nhà khoa học Nhật Bản hệ thống hoá tiêu chuẩn hiệu quả sử dụng đất thông qua hệ thống câytrồng trên đất nông nghiệp là sự phối hợp giữa các cây trồng và gia súc, các phương pháp trồng trọt và chăn nuôi Các nhà khoa học Hàn Quốc đã đề xướng

và phát triển phương pháp nông nghiệp tự nhiên tại Hàn Quốc, đến nay phương pháp này đã được áp dụng rất thành công không những tại Hàn Quốc mà còn ở một số nước trong khu vực Châu á như Trung Quốc, Thái Lan, Nhật Bản… Sản xuất theo phương pháp nông nghiệp tự nhiên sẽ kiểm soát được toàn bộ quá trình sản xuất từ nguyên liệu đầu vào để tạo ra các chế phẩm, quá trình làm đất, bón phân, chăm sóc (sử dụng hợp lý chất dinh dưỡng cho cây trồng) do vậy sản phẩm mang tính an toàn cao, nâng cao năng suất

Nói chung về việc sử dụng đất đai, các nhà khoa học trên thế giới đều cho rằng đối với các vùng nhiệt đới có thể thực hiện các công thức luân canh cây trồng hàng năm, có thể chuyển từ chế độ nông nghiệp cũ sang chế độ nông nghiệp mới tiến bộ hơn, mang lại kết quả và hiệu quả cao hơn (Purnomo and Sugeng Widodo, 1995)

Hiện nay, khi dân số tăng nhanh thì nhu cầu lương thực thực phẩm cũng tăng theo trong khi đất nông nghiệp đang ngày càng bị thu hẹp dần Theo tài liệu của FAO, năm 1980 diện tích đất trồng trọt trên toàn thế giới là gần 1467 triệu hecta (chiếm 10%) tổng diện tích đất tự nhiên của thế giới Trong đó có tới 973 triệu hecta là ở vùng đồi núi Hàng năm đất bị xói mòn mất khoảng 57 triệu hecta Trên toàn thế giới có gần 1200 triệu hecta đất đang bị thoái hoá ở mức trung bình hoặc nghiêm trọng, và có gần 544 triệu hecta đất nông nghiệp mất khả năng sản xuất do không sử dụng hợp lý Trung quốc chiếm 23% dân số thế giới nhưng chỉ có 7% đất nông nghiệp Theo thống kê mới nhất cho thấy diện tích đất đai bị cát hoá của Trung Quốc đã đạt tới hơn 1 triệu 740 nghìn 30 km2, chiếm 18,2% diện tích lãnh thổ Diện tích cát hoá đang lan rộng với tốc độ mỗi năm

3436 km2 Ấn Độ 30% diện tích đất bị xói mòn 31% diện tích Tây Ban Nha có nguy cơ trở thành sa mạc Dự báo tới năm 2025, 2/3 đất nông nghiệp ở châu Phi

sẽ biến mất cùng với1/3 đất nông nghiệp ở Châu á và 1/5 của Nam Mỹ Các khu vực bị ảnh hưởng nhiều nhất là vùng khô cằn nằm cạnh những sa mạc hiện nay,

Trang 28

bao gồm nhiều vùng ở cận Shahara (châu Phi) hay sa mạc Gobi ở Trung Quốc (FAOSAT, 1995)

a Trung Quốc

Kinh tế Đài Loan thuộc loại hình kinh tế hải đảo, đất chật người đông, tài nguyên hạn chế Sau đại chiến thế giới lần thứ hai kết thúc, nông nghiệp nước này ở trong tình trạng sa sút, sức sản xuất thấp kém Từ năm 1953, nông nghiệp

là chủ đạo của nền kinh tế Đài Loan, thông qua nhiều biện pháp cải tiến kỹ thuật, thực hiện các chính sách khuyến khích, tạo cho nông nghiệp có bước phát triển nhanh, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; Đặc biệt ưu tiên các chương trình nghiên cứu, chọn tạo giống, phát triển công nghệ sinh học Hệ thống nhiều biện pháp đó đã giúp Đài Loan từ chỗ tự cung, tự cấp nông sản phẩm, chuyển sang sản xuất nông sản hàng hóa và xuất khẩu hàng loạt nông sản chế biến Đài Loan

đã thành công trong việc đưa một số giống cây màu chịu bóng vào trồng xen trong ruộng mía và bố trí hợp lý những giống màu chịu hạn trong mùa khô để tăng vụ, nhờ vậy đã làm tăng đáng kể tổng sản phẩm thu nhập trên một đơn vị diện tích Để phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn, Đài Loan đã tiến hành cải cách ruộng đất, thúc đẩy kiến thiết nông thôn Cơ cấu sản xuất nông nghiệp chuyển dịch theo hướng phù hợp với yêu cầu công nghiệp hóa, giảm tỷ trọng sản lượng trồng trọt từ 71,9% (1952) xuống 47,1% (1981), tăng giá trị sản lượng công nghiệp từ 15,6% lên 29,5% (Costatynova M, Xocolinsky V, 1984)

b Ấn Độ

Chương trình nghiên cứu nông nghiệp phối hợp toàn Ấn Độ từ năm 1960 -

1972, lấy hệ thâm canh tăng vụ chu kỳ một năm làm hướng chiến lược phát triển sản xuất nông nghiệp đã kết luận, hệ canh tác giành ưu tiên cho cây lương thực chu kỳ 1 năm 2 vụ ngũ cốc (2 vụ lúa nướchoặc 1 vụ lúa nước - 1 vụ lúa mì) đưa thêm 1 vụ đậu đỗ đã đáp ứng được 3 mục tiêu: khai thác tối ưu tiềm năng đất đai, ảnh hưởng tốt tới độ phì nhiêu của đất và đảm bảo lợi ích của người dân Vào cuối năm 1973, Ấn Độ đã nhập hàng loạt các giống lúa mì mới của Mêhicô và xử

lý giống Sonora 64 bằng phóng xạ tạo ra giống Shapati Sonora năng suất và chất lượng cao Đồng thời bố trí lại hệ thống cây trồng hợp lý đã đưa nước này từ một nước có nạn đói triền miên thành một nước đủ ăn và dư thừa để xuất khẩu, tổng sản lượng lương thực đạt 60 triệu tấn/năm Đánh giá hiệu quả của các công thức luân canh trên đất lúa được nhiều nhà khoa học quan tâm Ở Ấn Độ và Pakistan, các tác giả đã đề cập đến cơ cấu luân canh cây trồng hợp lý, phụ thuộc vào điều

Trang 29

kiện canh tác, các chính sách và giá cả nông sản hàng hóa Vì vậy, hàng loạt các công thức khác nhau cho các vùng, các tiểu vùng sinh thái được khảo nghiệm và triển khai trên diện rộng, cho năng suất cao (Garry A.Smith, 1998)

Tài nguyên đất dùng vào sản xuất nông nghiệp trên thế giới vốn đã không nhiều, nhưng lại ngày càng bị thu hẹp bởi sự gia tăng của mục đích phi nông nghiệp, trong khi đó khả năng mở rộng không còn nhiều Do vậy, phát triển nông nghiệp nhằm đảm bảo nhu cầu nông sản và lương thực cho hơn 6 tỷ người trên trái đất này yêu cầu chúng ta cần phải nghiên cứu các biện pháp sử dụng đất nông nghiệp tối ưu theo hướng thâm canh tăng vụ trên cơ sở bố trí hệ thống cây trồng hợp lý là cần thiết

2.2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

2.2.2.1 Kinh nghiệm sử dụng đất nông nghiệp một số địa phương trong nước Thời gian qua, các giống cây trồng vật nuôi mới và phương thức canh tác khoa học đã chứng minh rất rõ khả năng tăng nhanh năng suất và chất lượng sản phẩm nông nghiệp, tăng nhanh giá trị thu nhập trên diện tích canh tác Các giống lúa, khoai tây, ngô lai, lạc và đậu tương mới cho năng suất tăng từ 20 - 50%, cá biệt tăng từ 50 - 80% Các phương thức nông nghiệp mới như làm mạ non, che phủ nilon, nông nghiệp trong nhà lưới, sản xuất giống cây trồng, vật nuôi với công nghệ cao đã góp phần tạo nên bước đột phá về năng suất, chất lượng sản phẩm nông nghiệp, rút ngắn thời gian sử dụng đất, giúp cho việc bố trí các công thức luân canh thuận tiện hơn Hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất như thuỷ lợi, giao thông, điện có thể đáp ứng yêu cầu thâm canh, tăng vụ, nâng cao giá trị thu nhập của các loại cây trồng, vật nuôi (Đào Thế Tuấn, 1993)

a Thái Bình

Thái Bình là một điển hình trong việc nâng cao hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp với phong trào 5 tấn, 10 tấn thóc/ha Năm 1996 Thái Bình là tỉnh đầu tiên trên Miền Bắc đạt 5 tấn thóc/ha Theo thời gian, Thái Bình phấn đấu đạt

8 tấn, 10 tấn,rồi 12,6 tấn/ha vào năm 2002 Những năm gần đây, thực hiện chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, chuyển mạnh nông nghiệp sang sản xuất hàng hoá, với các giải pháp đồng bộ về tưtưởng, quy hoạch, chuyển đổi

cơ cấu cây trồng, vật nuôi, đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ… Thái Bình lại là một trong những địa phương đi đầu chủ trương phấn đấu đạt giá trị 50 triệu đồng/ha/năm, góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống người nông dân và

Trang 30

đóng góp thêm kinh nghiệm cho việc phát triển phong trào trong cả nước Năm

2002, giá trị sản xuất bình quân đạt 32 triệu đồng/ha Nhờ thâm canh, mở rộng diện tích vụ đông, nâng cao hệ số sử dụng đất và chuyển mạnh diện tích trồng lúa

và làm muối kém hiệu quả sang nuôi trồng cây, con khác có hiệu quả kinh tế cao, những cánh đồng đạt giá trị 50 triệu đồng/ha đã xuất hiện ở tất cả các huyện, thị

xã trong tỉnh Đến nay Thái Bình có 4.876 ha đạt 50 triệu đồng/ha/năm, một số cánh đồng đạt hơn 100 triệu đồng/ha/năm Xã Quỳnh Hải - Quỳnh Phụ có diện tích 357 ha, giá trị sản xuất bình quân năm 2002 đạt 57,8 triệu đồng, 70% số hộ đạt 50 triệu đồng/ha/năm (Trần Đình Đằng, 1994)

b Hải Dương

Diện tích đất nông nghiệp của tỉnh Hải Dương là 105 nghìn ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp 79.500 ha, diện tích cây ăn quả 17.500 ha Với dân số 1.684 nghìn người, trong đó dân nông nghiệp chiếm gần 78% Xuất phát là tỉnh

có truyền thống sản xuất cây vụ đông (hằng năm thường đạt 40% diện tích đất nông nghiệp) và là vụ sản xuất chính, chiếm 50% tổng thu nhập từ trồng trọt của các hộ nông dân Hải Dương có 12 xã đạt toàn bộ diện tích bình quân 50 triệu đồng/ha trở lên là Đồng Gia (Kim Thành), Gia Xuyên, Thạch Khôi, Nhật Tân, Đoàn Thượng, Phạm Trấn, Toàn Thắng,Gia Tần (Gia Lộc), Đức Chính, Cẩm Sơn (Cẩm Giàng), Hưng Đạo (Tứ Kỳ), Cao Thắng (Thanh Miện) và đến cuối năm

2003 Hải Dương có 30.150 hộ đạt thu nhập 50 triệu đồng/năm, chiếm 8,61% số

hộ nông nghiệp của tỉnh (trong đó 4,2% số hộ có thu nhập hơn 100 triệu đồng, 31,5% số hộ có thu nhập 75 - 100 triệu đồng/năm, 64,3% số hộ có thu nhập 50 -

75 triệu đồng/năm) Mục tiêu của nông nghiệp Hải Dương là đạt 36 triệu đồng/ha/năm vào năm 2005 và sẽ phấn đấu để đạt 42 triệu đồng vào năm 2010 (Vũ Thị Bình, 1993)

c Đồng bằng sông Hồng

Chương trình quy hoạch tổng thể vùng đồng bằng sông Hồng (VIE/89/032) đang nghiên cứu đề xuất dự án phát triển đa dạng hoá nông nghiệp đồng bằng sông Hồng Nội dung quan trọng nhất là phát triển hệ thống cây trồng để nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp từ năm 1993 - 2010 Những công trình nghiên cứu mô phỏng chiến lược phát triển nông nghiệp đồng bằng sông Hồng của giáo sư viện sĩ Đào Thế Tuấn năm 1993 cũng đề cập đến việc phát triển hệ thống cây trồng, nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai trong điều kiện Việt Nam (Đào Thế Tuấn, 1993)

Trang 31

Công trình nghiên cứu phân loại vùng sinh thái, hệ thống giống lúa, hệ thống cây trồng vùng đồng bằng sông Hồng do giáo sư viện sĩ Đào Thế Tuấn chủ biên và hệ thống cây trồng vùng đồng bằng sông Cửu Long do giáo sư viện sĩ Nguyễn Văn Luật chủ biên cũng đưa ra một số kết luận về phân vùng sinh thái và hướng áp dụng những giống cây trồng trên các vùng sinh thái khác nhau nhằm khai thác đất mang lại hiệu quả cao hơn

Chương trình đồng trũng (1985 - 1987) do ủy ban kế hoạch hoá Nhà nước chủ trì, chương trình Bản đồ nông nghiệp (1988 - 1990) do ủy ban khoa học nhà nước chủ trì đã đưa ra những quy trình hướng dẫn sử dụng giống cây trồng và phân bón trên các chân ruộng ở đồng bằng sông Hồng, khai thác tiềm năng đất đai hợp lý và hiệu quả hơn

Chương trình KN 01 (1991 - 1995) do Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn chủ trì đã tiến hành nghiên cứu hệ thống cây trồng trên các vùng sinh thái khác nhau như vùng núi và trung du phía bắc, vùng đồng bằng sông Cửu Long… nhằm đánh giá hiệu quả của các hệ thống cây trồng trên từng vùng, từ đó định hướng cho việc khai thác tiềm năng đất đai của từng vùng sao cho phù hợp với

sự quy hoạch phát triển chung của nền nông nghiệp cả nước, phát huy được lợi thế so sánh của từng vùng kinh tế Kết quả nghiên cứu,bố trí luân canh cây họ đậu trên đất 3 vụ làm tăng HQKT sử dụng đất nông nghiệp và nâng cao độ phì nhiêu của đất bạc màu Hệ thống cây trồng trên đất có địa hình dốc xen kẽ ruộng

ở vùng bạc màu Sóc Sơn, bố trí kết hợp cây lâu năm, cây hàng năm cho HQKT cao hơn các mô hình khác và có khả năng bảo vệ môi trường

d Thừa thiên Huế

Trên đất lúa Thừa Thiên - Huế, nghiên cứu của Nguyễn Đức Hưng đã áp dụng mô hình lúa - vịt Mô hình này đã hạn chế sử dụng phân hoá học, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ nhằm hạn chế sự ô nhiễm môi trường và đạt hiệu quả kinh tế cao hơn 34,5 - 61,3% so với canh tác lúa không thả vịt

Các nghiên cứu của Cao Liêm, Trần Đức Viên đưa ra mô hình lúa - cá là có hiệu quả cao về kinh tế và cải thiện môi trường sinh thái Mô hình này có ưu điểm là tiết kiệm phân bón do lợi dụng hệ sinh vật trong nước, giữ nước tại chỗ, giúp điều hoà dòng chảy khi gặp mưa lớn, HQKT ổn định hơn so với trồng lúa màu (Cao Liêm và Trần Đức Viên, 1993)

Trang 32

2.2.2.2 Bài học kinh nghiệm về nâng cao hiệu quả sử dụng đất

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu cũng như thực tiễn khai thác tiềm năng đất đai hiện nay mới giải quyết được phần nào những vấn đề đang đặt ra của việc sử dụng đất đai Nhiều mô hình canh tác có năng suất cây trồng cao, bảo

vệ được môi trường nhưng hiệu quả kinh tế đem lại thấp Trong khi đó có mô hình đạt hiệu quả kinh tế cao song chưa có gì đảm bảo cho việc khai thác lâu dài

ổn định Đặc biệt, có nơi vì mục tiêu kinh tế, vì cái lợi trước mắt đã làm cho tài nguyên đất, rừng bị khai thác không đúng mức dẫn đến đất đai bị rửa trôi, xói mòn, tài nguyên thiên nhiên bị cạn kiệt, gây ảnh hưởng cho môi trường sinh thái Tuy nhiên việc sử dụng tiềm năng đất đai còn thấp, chưa khai thác được hết những tiềm năng sẵn có Vì vậy vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng đất canh tác đang là nhiệm vụ cần thiết và nan giải, đòi hỏi cần có những biện pháp kinh tế kỹ thuật đồng bộ phù hợp với sản xuất

Hiện nay, tuy đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều đề tài, luận văn viết

về việc đánh giá hiệu kinh tế sử dụng đất nông nghiệp, tuy nhiên tại huyện Phú Xuyên chưa có nhiều công trình nghiên cứu, chưa có đề tài, luận văn nào về việc đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp tại huyện Năm 2015, viện Thổ nhưỡng Nông hóa tiến hành nhiệm vụ: “Nghiên cứu xây dựng cơ sở khoa học phục vụ thâm canh, chuyển đổi cơ cấu cây trồng và quản lý sử dụng bền vững tài nguyên đất nông nghiệp huyện Phú Xuyên TP Hà Nội” là cơ sở khoa học quan trọng để tiến hành nghiên cứu này

Trang 33

PHẦN 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

3.1.1.1 Vị trí địa lý

Phú Xuyên là một huyện thuộc TP Hà Nội, nằm ở đồng bằng sông Hồng, thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ Việt Nam, có tổng diện tích đất tự nhiên là 15.810,93 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp là 11.108,55 ha chiếm 65,04% tổng diện tích đất tự nhiên Tổng dân số là 187.631 người với mật độ dân số trung bình khoảng 1.097 người/km2 (Niên giám thống kê, 2015) Huyện có tọa

độ địa lý từ 20039’ đến 20048’ vĩ độ Bắc, từ 105047’ đến 106000’ kinh độ Đông

và có địa giới hành chính như sau

- Phía Bắc giáp huyện Thanh Oai và Thường Tín TP Hà Nội

- Phía Nam giáp huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam

- Phía Đông giáp huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên

- Phía Tây giáp huyện Ứng Hòa TP Hà Nội

3.1.1.2 Đặc điểm địa hình

Phú Xuyên có địa hình tương đối bằng phẳng, cao hơn mực nước biển từ 1,5 - 6,0 m Địa hình có hướng dốc dần từ Đông Bắc xuống Tây Nam Theo đặc điểm địa hình lãnh thổ huyện có thể chia thành hai vùng sau:

- Vùng phía Đông đường Quốc lộ 1A gồm các xã/thị trấn như Văn Nhân, Thụy Phú, Nam Phong, Nam Triều, Hồng Thái, Khai Thái, Phúc Tiến, Quang Lãng, Minh Tân, Bạch Hạ, Tri Thủy, Đại Xuyên và Thị trấn Phú Minh Đây là những xã/thị trấn có địa hình cao hơn mực nước biển khoảng 4 m

- Vùng phía Tây đường Quốc lộ 1A gồm các xã/thị trấn như Phượng Dực, Đại Thắng, Văn Hoàng, Hồng Minh, Phú Túc, Chuyên Mỹ, Tri Trung, Hoàng Long, Quang Trung, Sơn Hà, Tân Dân, Vân Từ, Phú Yên, Châu Can và TT Phú Xuyên Do địa hình thấp trũng và không có phù sa bồi đắp hàng năm nên đất có

độ chua cao, trồng trọt chủ yếu là 2 vụ lúa, một số chân đất cao có thể trồng cây

vụ đông Cây trồng chủ yếu là lúa, ngô, ngoài ra còn một số ít diện tích trồng lạc,

đỗ tương, khoai lang, rau các loại, vùng thấp trũng nuôi trồng thủy sản kết hợp với chăn nuôi thủy cầm

Trang 34

Nhìn chung, địa hình của huyện Phú Xuyên thuận lợi không chỉ cho việc phát triển hệ thống giao thông, xây dựng cơ sở hạ tầng, mở rộng mạng lưới khu dân cư, các khu công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, giao lưu buôn bán cho phát triển kinh tế nói chung, cho nông nghiệp nói riêng mà còn rất thuận lợi cho kiến thiết đồng ruộng, hệ thống thủy lợi tưới tiêu, tạo ra những vùng chuyên canh lúa, màu và cây công nghiệp ngắn ngày

3.1.1.3 Khí hậu

Phú Xuyên nằm ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, có khí hậu nhiệt đới gió mùa với 2 mùa chủ yếu trong năm là mùa nóng và mùa lạnh Mùa nóng kéo dài từ tháng Tư đến tháng Mười, đặc điểm chủ yếu là nóng, ẩm, mưa nhiều, nắng nhiều

và có gió mùa Đông Nam thịnh hành Mùa lạnh kéo dài từ tháng Mười Một đến tháng Ba năm sau, khí hậu mùa này tương đối lạnh, khô và ít mưa và chịu sự chi phối của gió mùa Đông Bắc Ngoài ra, 2 tháng là tháng Tư và tháng Mười có thể coi là những tháng chuyển tiếp tạo cho khí hậu Phú Xuyên có 4 mùa là xuân - hạ

- thu - đông

a Nhiệt độ

Nhiệt độ trung bình năm là 23,60C Nhiệt độ trung bình tháng trong năm dao động từ 16,3 - 29,50C (trạm Ba Thá) Mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, thời tiết lạnh và khô Tháng lạnh nhất là tháng 1 và tháng 2 Mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 10, nhiệt độ trung bình tháng thường trên 23,90C, tháng nóng nhất là tháng 7

b Độ ẩm

Độ ẩm tương đối trung bình từ 83 - 85% Tháng có độ ẩm trung bình cao nhất là tháng 3 và tháng 4 độ ẩm lên tới 92%, các tháng có độ ẩm trung bình thấp nhất là tháng 11, tháng 12 (76 - 82%)

c Lượng mưa

Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.200 - 1.900 mm, lượng mưa phân bố không đều chủ yếu tập trung từ tháng 6 đến tháng 9 (chiếm 81 - 86% lượng mưa

cả năm) Do hoạt động của gió mùa đã phân hóa chế độ mưa thành 2 mùa:

+ Mùa mưa: Từ tháng 5 đến tháng 10 với lượng mưa trung bình 1.496 mm, chiếm 80 - 82% tổng lượng mưa năm Mưa lớn thường tập trung vào các tháng 6,

7, 8 với lượng mưa xấp xỉ 310 mm/tháng

Trang 35

+ Mùa khô: Từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa mùa này khoảng

350 - 400 mm, chiếm 18 - 20% lượng mưa năm Các tháng có lượng mưa ít nhất thường là tháng 12, 1 và 2

d Lượng bốc hơi

Lượng bốc hơi bình quân năm đạt khoảng 883 mm/năm Các tháng đầu mùa mưa (tháng 6, 7, 9, 10) là các tháng có lượng bốc hơi lớn nhất Lượng bốc hơi bình quân tháng 6 đạt trên 110 mm

e Gió bão

Gió theo mùa, mùa Đông thường là gió Đông Bắc Mùa hè thường là Đông Nam Trung bình mỗi năm có từ 1 đến 3 cơn bão đổ bộ vào thời gian từ cuối tháng 6 đến hết tháng 9 với lượng mưa lớn kéo dài gây úng lụt cho các khu vực thấp trũng ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp

f Chế độ bức xạ

Nằm trong vùng có tình chất chung của vùng đồng bằng Bắc Bộ, hàng năm

có từ 120 - 150 ngày nắng Số giờ nắng trong năm từ 1.200 giờ đến 1.400 giờ Số giờ nắng trung bình nhiều năm đạt 1.436 giờ (trạm Ba Thá) Trong mùa Đông thường xuất hiện nhiều đợt không có nắng kéo dài 2 - 5 ngày Tháng 2, 3 có số giờ nắng thấp nhất, độ ẩm cao sẽ làm phát sinh nhiều dịch bệnh cho cây trồng và vật nuôi

Nhìn chung, điều kiện khí hậu thời tiết khá thuận lợi để phát triển nông nghiệp đa dạng với nhiều loại cây trồng, vật nuôi Tuy nhiên yếu tố hạn chế là mùa mưa dễ gây ngập úng ở vùng trũng, mùa khô dễ bị khô hạn, đặc biệt với cây trồng vụ đông thường thiếu nước Điều này đòi hỏi huyện phải có hệ thống thủy lợi thật chủ động để đáp ứng tốt nguồn nước tưới vào mùa khô nhưng cũng tiêu nước kịp thời về mùa mưa Mặt khác cần có cơ cấu cây trồng với chế độ canh tác phù hợp nhằm giảm thiểu tác động xấu do thời tiết gây ra

3.1.1.4 Thủy văn, sông ngòi

Trên địa bàn huyện Phú Xuyên có 3 con sông lớn chảy qua là sông Hồng, sông Nhuệ và sông Lương

- Sông Hồng chạy dọc ranh giới giữa huyện Phú Xuyên và huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên, nằm ở phía Đông của huyện với chiều dài 17 km, đây là con sông lớn có ảnh hưởng trực tiếp đến chế độ thủy văn của huyện

Trang 36

- Sông Nhuệ chạy dọc qua các xã phía Tây của huyện, nằm ở phía Tây của huyện với chiều dài 17 km, phục vụ trực tiếp cho việc tưới tiêu trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là tưới tự chảy

- Sông Lương là con sông cụt chảy từ Nam Hà qua các xã Minh Tân, Tri Thủy, Bạch Hạ, Đại Xuyên và cuối cùng là xã Phúc Tiến với chiều dài 12,75 km, chủ yếu phục vụ cho việc tưới tiêu trong sản xuất nông nghiệp

Ngoài ra có các sông nhỏ khác là sông Duy Tiên dài 13 km, sông Vân Đình dài 5 km, sông Hữu Bành dài 2 km, chủ yếu phục vụ cho việc tưới tiêu trong sản xuất nông nghiệp

Hệ thống sông Nhuệ, sông Lương, sông Duy Tiên, sông Vân Đình, sông Hữu Bành thuộc hệ thống tưới tiêu do Công ty Thủy nông sông Nhuệ quản lý Trên hệ thống sông Hồng sau khi trạm bơm Khai Thái hoàn thành giải quyết tiêu úng cho trên 6.000 ha đất canh tác của các xã vùng miền Đông và trung Tây Đồng thời lấy nước phù sa của sông Hồng để phục vụ tưới cho cây trồng và cải tạo đồng ruộng

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

3.1.2.1 Dân số, lao động và việc làm

Dân số năm 2014 là 187.631 người, trong đó dân số đô thị là 15.084 người, nông thôn là 172.574 người, mật độ dân số trung bình khoảng 1.097 người/km2(có xu hướng tăng qua các năm) Tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên trong những năm gần đây có chiều hướng tăng, năm 2010 là 1,02%, đến năm 2014 đạt 1,34%

Bảng 3.1 Dân số huyện Phú Xuyên giai đoạn 2010 - 2014

Đơn vị tính: Người

Trang 37

là xã Hồng Thái với 749 người/km2 Dân số đô thị chiếm 8,0%, dân số nông thôn 92,0%, mức độ đô thị hóa còn thấp Hiện nay, Phú Xuyên có 101.214 lao động, nhưng chủ yếu là lao động nông nghiệp

3.1.2.2 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế

Phú Xuyên là một huyện sản xuất nông nghiệp đặc thù, có nhiều thuận lợi

về điều kiện tự nhiên, có lực lượng lao động dồi dào để phát triển kinh tế - xã hội Trong những năm qua cùng với sự phát triển của đất nước, nền kinh tế của huyện đã có sự chuyển biến nhất định, góp phần ổn định chính trị, giữ gìn trật tự

an toàn xã hội, cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân trong huyện

Theo kết quả năm 2015, tổng giá trị sản xuất đạt 7.215 tỷ đồng tăng 8,39%

so với năm 2014 Năm 2015, tổng giá trị sản xuất ước đạt 8.136 tỷ 848 triệu đồng đạt 101,6% kế hoạch Về cơ cấu kinh tế, nông, lâm, thủy sản đạt 22,49% (KH 25,92%), công nghiệp - xây dựng đạt 54,27% tăng 4,08% so với kế hoạch và thương mại - dịch vụ đạt 23,24% (KH 23,89%) Huyện thực hiện phát triển kinh

tế theo hướng tăng dần tỷ trọng của ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng của ngành nông nghiệp Những năm vừa qua, cơ cấu kinh tế của huyện chuyển dịch phù hợp hơn với sự phát triển kinh tế chung của Thành phố Hà Nội 3.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu

Việc chọn điểm nghiên cứu được xem là một công việc rất quan trọng trong quá trình thực hiện đề tài, chọn điểm mang tích chất đại diện và quyết định đến

sự thành công của đề tài Tổng thể phải nghiên cứu rất rộng nên không thể nghiên cứu cả tổng thể được, vì vậy phải chọn điểm nghiên cứu như thế nào để

có thể đại diện cho tổng thể Kết quả nghiên cứu có thành công hay không phụ thuộc vào việc lựa chọn điểm nghiên cứu Nếu chọn điểm nghiên cứu phù hợp, đại diện cho tổng thể thì từ điểm nghiên cứu sẽ giúp ta suy rộng được cả tổng thể Nếu không phù hợp thì việc suy rộng sẽ gặp khó khăn Do đó việc lựa chọn điểm nghiên cứu phải căn cứ vào nội dung, mực tiêu, mục đích của đề tài nghiên cứu Như vậy, với những cơ sở trên chúng tôi lựa chọn địa điểm nghiên cứu đề tài trên địa bàn huyện Phú Xuyên, một huyện ngoại thành Hà Nội có nhiều điều kiện

để phát triển nông nghiệp đa dạng Trong huyện chúng tôi nghiên cứu đặc điểm, điều kiện phát triển nông nghiệp trong các tiểu vùng sinh thái của huyện, sau đó chọn địa điểm xã theo địa bàn các vùng và một số mô hình trang trại, hộ gia đình

có những điểm phù hợp với nội dung, mục đích, mục tiêu của đề tài để nghiên cứu

Trang 38

Do đặc điểm địa hình, do sự phân bố của hệ thống sông ngòi trên địa bàn huyện, chia các vùng sản xuất nông nghiệp tại huyện Phú Xuyên thành 2 tiểu vùng với các đặc trưng nông nghiệp khác nhau:

+ Tiểu vùng 1: Với đặc điểm đất nhẹ hơn (đất cát), hệ thống cây trồng ít phong phú hơn, điều tra hộ dân thuộc xã Nam Triều, Nam Phong, Thị trấn Phú Xuyên Đây là các xã tiêu biểu cho cả tiểu vùng

+ Tiểu vùng 2: Với đặc điểm đất phù sa, hệ thống cây trồng phong phú hơn, điều tra tại các xã Tân Dân, Hoàng Long, Hồng Minh là các xã mang tính đại diện cho toàn tiểu vùng

3.2.2 Phương pháp thu thập tài liệu

3.2.2.1 Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp

Sử dụng lý luận duy vật lịch sử và duy vật biên chứng để thu thập các văn bản tài liệu của Nhà nước và các cơ quan có liên quan đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp cả nước, của thành phố Hà Nội và trực tiếp là huyện Phú Xuyên (qua sách báo, internet, Sở NN&PTNT Hà Nội, Chi cục BVTV, Thú y; qua UBND huyện, các phòng Kế hoạch kinh tế & PTNT, Thống kê, Đất đai & Tài nguyên môi trường của huyện Phú Xuyên

Bảng 3.2 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp

đến nghiên cứu

- Các phòng: Kế hoạch kinh tế

&PTNT, Thống kê, đất đai & Tài

nguyên môi trường

- Cung cấp một số thông tin tổng quan đến tình hình SXNN, các đề án phát triển chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, phát triển hoa cây cảnh, rau an toàn

- Các số liệu thống kê về đất đai, dân số lao động, sản lượng, năng suất các loại cây trồng vật nuôi

- UBND huyện

Cung cấp một số thông tin tổng quan đến tình hình phát triển kinh tế xã hội của huyện qua các năm Các chương trình dự án quy hoạch huyện

- UBND các xã, các hộ gia đình,

các trang trại

Cung cấp thông tin về tình hình sản xuất nông nghiệp của xã, thu thập tình hình sản xuất của hộ và trang trại

Trang 39

Phương pháp thu thập thông tin: Phôtô tài liệu, truy cập Internet, phỏng vấn các các cán bộ của UBND xã và một số hộ nông dân

3.2.2.2 Phương pháp thu thập tài liệu sơ cấp

Khảo sát thực tế tại các xã nằm trong các vùng sinh thái có điều kiện phát triển mạnh về nông nghiệp Đối tượng là người dân và cán bộ khuyến nông Tổng số mẫu là 60 phiếu điều tra phân theo các đối tượng của cả hai tiểu vùng sinh thái:

- Mỗi tiểu vùng điều tra 30 hộ sản xuất (phân theo các hộ có quy mô sản xuất lớn, nhỏ và trung bình)

- Số lượng gồm 23 phiếu điều tra hộ thuần nông

- Điều tra các hộ có trang trại, số phiếu là 7

Nội dung điều tra: Điều tra, phỏng vấn trao đổi thu thập số liệu, thông tin của các hộ nông dân về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, tình hình sản xuất của

hộ Phỏng vấn hộ có mô hình trang trại để thu thập các thông tin về diện tích, hiệu quả mô hình

3.2.3 Phương pháp xử lý số liệu

Tài liệu thu thập được thực hiện kiểm tra và chỉnh lý để đảm bảo tính đầy

đủ, chính xác và thống nhất Lựa chọn hệ thống chỉ tiêu tính toán phù hợp và áp dụng phương pháp tổng hợp, xử lý tài liệu thống nhất như phân tổ thống kê… Thực hiện xử lý toàn bộ tài liệu điều tra trên máy tính bằng chương trình Exel Các tài liệu xử lý được trình bày một cách hợp lý qua bảng, đồ thị thống kê nhằm đáp ứng yêu cầu của từng nội dung nghiên cứu Các tài liệu được sử dụng trong luận văn được đảm bảo với độ tin cậy khá cao Các tài liệu của luận văn được dùng phân tích, đánh giá và rút ra các quy luật, xu hướng phát triển của từng vấn

đề, từng hiện tượng nghiên cứu, đảm bảo có cơ sở khoa học

3.2.4 Phương pháp phân tích thông tin

- Thống kê mô tả: dùng một số chỉ tiêu để đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp huyện Phú Xuyên qua đó đưa ra các định hướng và

Trang 40

nguyên nhân tác động đến nông nghiệp huyện làm cơ sở đề xuất các giải pháp chủ yếu để thúc đẩy nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp

3.2.5 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá kết quả hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 3.2.5.1 Hiệu quả kinh tế

Xác định chỉ tiêu đánh giá HQKT đúng sẽ định hướng phát triển sản xuất và đưa ra các quyết định phù hợp để tăng nhanh HQKT Xuất phát từ bản chất và đặc điểm đánh giá HQKT và từ yêu cầu nghiên cứu của đề tài, chúng tôi đã thống nhất nhiều ý kiến và xác định các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất sau:

- Giá trị sản xuất (GO) : là giá trị tính bằng tiền của toàn bộ các loại sản phẩm tính trên một đơn vị diện tích

Qi: Khối lượng sản phẩm thứ i; Pi: Đơn giá sản phẩm thứ i; n : Số lượng sản phẩm sản xuất ra

- Chi phí trung gian (IC) : là toàn bộ các khoản chi phí vật chất thường xuyên và dịch vụ trong quá trình sản xuất

IC=Ii x Ci Ii: Số đầu vào thứ i được sử dụng; Ci: Đơn giá sản phẩm thứ i

- Thu nhập hỗn hợp (MI): là phần thu nhập thuần tuý của người sản xuất bao gồm thu nhập của người lao động và lợi nhuận thu được trên một đơn vị diện tích

MI = VA - (A+T) A: Giá trị khấu hao tài sản cố định và chi phí phân bổ; T: Thuế nông nghiệp

- Giá trị gia tăng(VA) : là giá trị tăng thêm của người sản xuất trên một đơn

vị diện tích

VA = GO - IC

- Giá trị sản xuất/đồng chi phí trung gian;

- Giá trị gia tăng/đồng chi phí trung gian;

- Thu nhập hỗn hợp/đồng chi phí trung gian;

- Giá trị sản xuất/công lao động;

Ngày đăng: 17/11/2018, 15:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Nguyễn Hữu Quỳnh, Đỗ Huy Lân, Trần Đức Hậu (1998). Đại từ điển kinh tế thị trường, NXB Từ điển Bách Khoa Hà Nội, trang 262, 900, 963 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại từ điển kinh tế thị trường
Tác giả: Nguyễn Hữu Quỳnh, Đỗ Huy Lân, Trần Đức Hậu
Nhà XB: NXB Từ điển Bách Khoa Hà Nội
Năm: 1998
15. Phạm Chí Thành, Phạm Tiến Dũng, Đào Châu Thu, Trần Đức Viên (1996). Hệ Thống nông nghiệp, Giáo trình cao học nông nghiệp, trường ĐHNN I, Hà Nội 16. Phạm Thị Hương (2006). Bài giảng hệ thống nông nghiệp, trường Đại học Nôngnghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ Thống nông nghiệp
Tác giả: Phạm Chí Thành, Phạm Tiến Dũng, Đào Châu Thu, Trần Đức Viên
Nhà XB: Giáo trình cao học nông nghiệp
Năm: 1996
20. Trần Đình Đằng (1994). trường Đại học Kinh tế Quốc dân - Uỷ Ban Kế hoạch Nhà nước “Hội thảo khoa học về chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn Việt Nam”, Hà Nội, ngày 22 và 23/11/1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội thảo khoa học về chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn Việt Nam
Tác giả: Trần Đình Đằng
Năm: 1994
21. Trần Đức Viên (1995). Cân bằng dinh dưỡng đất và phát triển nông nghiệp vùng Nguyên Xá đồng bằng sông Hồng, Kết quả Nghiên cứu khoa học Khoa Trồng Trọt 1994- 1995, ĐHNN I - Hà Nội, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, trang 256- 257 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cân bằng dinh dưỡng đất và phát triển nông nghiệp vùng Nguyên Xá đồng bằng sông Hồng
Tác giả: Trần Đức Viên
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1995
25. Vũ Thị Phương Thuỵ (2000). Thực trạng và giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác ở ngoài thành Hà Nội, Luận án tiến sĩ kinh tế, trường ĐHNN I - Hà Nội.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác ở ngoài thành Hà Nội
Tác giả: Vũ Thị Phương Thuỵ
Nhà XB: trường ĐHNN I - Hà Nội
Năm: 2000
26. A.J.Smith, Julian Dumaski (1993). FESLM An International framme - work for Evaluating sustainable and management, World soil report No Sách, tạp chí
Tiêu đề: FESLM An International framework for Evaluating sustainable and management
Tác giả: A.J. Smith, Julian Dumaski
Nhà XB: World soil report No
Năm: 1993
27. Costatynova M, Xocolinsky V (1984). Economic efficiency of social production, the Hanoi Statistics Sách, tạp chí
Tiêu đề: Economic efficiency of social production
Tác giả: Costatynova M, Xocolinsky V
Nhà XB: Hanoi Statistics
Năm: 1984
29. Purnomo and Sugeng Widodo (1995). The management of sloping lands for sustainable agriculture in Indonesia. pp. 53-86 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The management of sloping lands for sustainable agriculture in Indonesia
Tác giả: Purnomo, Sugeng Widodo
Năm: 1995
30. Samuelson P.A và Nordhouse W (1989). Economics, Institute of International Relations, Hanoi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Economics
Tác giả: Samuelson P.A, Nordhouse W
Nhà XB: Institute of International Relations, Hanoi
Năm: 1989
1. Cao Liêm, Trần Đức Viên (1993). Sinh thái học Nông nghiệp và bảo vệ môi trường, NXB Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, Hà Nội Khác
2. Chi cục Thống kê huyện Phú Xuyên (2015). Niên giám thống kê Phú Xuyên 2014. Phú Xuyên Khác
3. Đào Châu Thu và Nguyễn Khang (1997). Bài giảng đánh giá đất, trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Khác
4. Đào Thế Tuấn (1993). Cơ sở khoa học xác định cơ cấu luân canh cây trồng, NXBNN, Hà Nội Khác
5. Đỗ Nguyên Hải (2001). Đánh giá khả năng sử dụng đất và hướng sử dụng đất bền vững trong sản xuất nông nghiệp của huyện Tiên Sơn – tỉnh Bắc Ninh, Luận án tiến sĩ nông nghiệp, Trường ĐHNNN I - Hà Nội Khác
6. Đỗ Thị Tám (2001). Đánh giá hiệu quả sử dụngđất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá huyện Văn Giang - tỉnh Hưng Yên, Luận văn thạc sĩ nông nghiệp, Trường ĐHNNI - Hà Nội Khác
7. Đường Hồng Dật (2008). Kỹ thuật bón phân cân đối và hợp lý cho cây trồng. NXB Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Hà Nội Khác
8. FAOSAT (1995). Hội thảo về Phân tích kinh tế của các chính sách nông nghiệp (GCP/JNT/591/FRA), 4/1995 Khác
9. Hoàng Thu Hà (2001). Cần dấn thân nghiên cứu chọn vẹn1 vấn đề nào đó (Bài phỏng vấn đồng chí Nguyễn Quang Thạch), Tạp chí Tia sáng3/2001 Khác
10. Nguyễn Đình Hợi (1993). Kinh tế tổ chức và quản lý sản xuất kinh doanh nông nghiệp. NXB Thống kê, Hà Nội Khác
12. Nguyễn Minh Tuấn (2005). Đánh giá hiệu quả kinh tế của một số loại hình sử dụng đất canh tác chủ yếu tại huyện Tam Nông - tỉnh Phú Thọ Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w