Công tác quản lý VSATTP tại huyện Khoái Châu vẫn còn nhiều tồn tại, chưa có sự phân công, phân nhiệm rõ ràng; điều kiện cơ sở vật chất thiếu thốn; năng lực cán bộ hạn chế, hàng năm có tr
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGÔ MẠNH TƯỞNG
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VỆ SINH AN TOÀN
THỰC PHẨM TẠI CÁC CƠ SỞ KINH DOANH ĂN UỐNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN KHOÁI CHÂU TỈNH HƯNG YÊN
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Đỗ Kim Chung
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo
vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Ngô Mạnh Tưởng
Trang 3Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của các thầy,
cô giáo khoa Kinh tế và phát triển nông thôn – Học viện Nông nghiệp Việt Nam; đặc biệt là sự quan tâm, chỉ dẫn tận tình của thầy giáo GS.TS Đỗ Kim Chung người trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các cá nhân trong các tổ chức thuộc hệ thống quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm Huyện khoái Châu, Tỉnh Hưng Yên, các cơ sở liên quan đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và thu thập tài liệu phục vụ cho luận văn
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Ngô Mạnh Tưởng
Trang 4
MỤC LỤC
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục iv
Danh mục chữ viết tắt vii
Danh mục bảng viii
Danh mục hình, sơ đồ, biểu đồ x
Trích yếu luận văn xii
Phần 1 Mở đầu xi
1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 3
1.5 Đóng góp mới của luận văn 4
Phần 2 Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm tại các cơ sở kinh doanh ăn uống 5
2.1 Cơ sở lý luận 5
2.1.1 Khái niệm Quản lý nhà nước về Vệ sinh an toàn thực phẩm 5
2.1.2 Vai trò của quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm trong kinh doanh ăn uống 9
2.1.3 Đặc điểm của Quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm trong kinh doanh ăn uống 12
2.1.4 Nội dung nghiên cứu quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm 12
2.1.5 Yếu tố ảnh hưởng đến Quản lý nhà nước về Vệ sinh an toàn thực phẩm trong kinh doanh ăn uống 15
2.2 Cơ sở thực tiễn 17
2.2.1 Tình hình vệ sinh an toàn thực phẩm ở Việt Nam 17
2.2.2 Thuận lợi và khó khăn trong vấn đề quản lý an toàn thực phẩm 20
Trang 5v
2.2.3 Những bài học kinh nghiệm rút ra cho Huyện Khoái Châu, Tỉnh Hưng Yên 24
Phần 3 Phương pháp nghiên cứu 26
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 26
3.1.1 Đặc điểm về tự nhiên 26
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 30
3.1.3 Đánh giá chung về địa bàn nghiên cứu 33
3.2 Phương pháp nghiên cứu 33
3.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 33
3.2.2 Phương pháp phân tích 35
3.2.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 36
Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 37
4.1 Thực trạng quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm tại địa bàn huyện khoái châu, tỉnh hưng yên 37
4.1.1 Thực trạng tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên 37
4.1.2 Tình hình vận dụng, ban hành, tổ chức thực hiện văn bản, chính sách pháp luật về Quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm 47
4.1.3 Thực trạng công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức về an toàn thực phẩm trên địa bàn huyện Khoái Châu 56
4.1.4 Thực trạng công tác đào tạo, thẩm định và cấp phép về vệ sinh an toàn thực phẩm tại các cơ sở kinh doanh ăn uống tại Khoái Châu 58
4.1.5 Thực trạng hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm trong phạm vi ngành y tế huyện 61
4.1.6 Thực trạng công tác giám sát, điều tra và xử lý ngộ độc thực phẩm 64
4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm 66
4.2.1 Năng lực trình độ cán bộ Quản lý Nhà nước về An toàn thực phẩm 66
4.2.2 Nguồn kinh phí 67
4.2.3 Sự phối hợp của cơ quan quản lý nhà nước 67
4.2.4 Nhận thức của người dân 67
4.2.5 Kiến thức hành vi của các chủ cửa hàng và cơ sở sản xuất kinh doanh 73
4.3 Một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm tại các cơ sở kinh doanh ăn uống ở huyện Khoái Châu 78
Trang 64.3.1 Hoàn thiện hệ thống tổ chức quản lý thanh tra giám sát vệ sinh an toàn
thực phẩm 79
4.3.2 Tăng cường nguồn nhân lực cho công tác Quản lý nhà nước về Vệ sinh an toàn thực phẩmtại các cơ sở kinh doanh ăn uống 79
4.3.3 Hoàn thiện khung pháp lý, cơ chế chính sách 80
4.3.4 Nâng cấp cơ sở vật chất, nguồn vốn phục vụ quản lý Nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm 80
4.3.5 Tăng cường công tác giáo dục, truyền thông 81
4.3.6 Hoàn thiện hệ thống kiểm tra, giám sát vả xử lý vi phạm 82
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 83
5.1 Kết luận 83
5.2 Kiến nghị 83
5.2.1 Kiến nghị – ngành Y tế 83
5.2.2 Kiến nghị đối với UBND huyện Khoái Châu 84
5.2.3 Kiến nghị đối với TTYT 84
Tài liệu tham khảo 85
Phụ lục 87
Trang 7vii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt
AFTA Khu vực mẫu dịch tự do ASEAN ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á ATTP An toàn thực phẩm
UBND Ủy ban nhân dân
VSATTP Vệ sinh an toàn thực phẩm
WTO Tổ chức Thương mại Thế giới
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Số vụ ngộ độc thực phẩn từ năm 2007- 2014 18
Bảng 2.2 Điểm điểm sảy ra vụ ngộ độc từ năm 2009 – 2014 19
Bảng 3.1 Hiện trạng sử dụng đất của huyện Khoái Châu năm 2015 28
Bảng 3.2 Thành phần dinh dưỡng đất huyện Khoái Châu 30
Bảng 3.3 Tình hình dân số và lao động 30
Bảng 3.4 Kết quả phát triển kinh tế của huyện Khoái Châu qua các năm (2013-2015) 32
Bảng 3.5 Đặc điểm mẫu nghiên cứu 34
Bảng 3.6 Các phương pháp phân tích số liệu 35
Bảng 4.1 Trình độ chuyên môn của cán bộ làm công tác Quản lý nhà nước về Vệ sinh an toàn thực phẩm cấp huyện 39
Bảng 4.2 Tình hình trang thiết bị phục vụ quản lý nhà nước về ATVSTP tại Khoái Châu 44
Bảng 4.3 Nguồn lực tài chính phục vụ quản lý nhà nước về VSATTP ở huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2013 - 2015 45
Bảng 4.4 Đánh giá về nguồn nhân lực quản lý VSATTP huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên 46
Bảng 4.5 Đánh giá của cán bộ về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ Quản lý nhà nước về Vệ sinh an toàn thực phẩmTại các cơ sở kinh doanh ăn uống ở huyện Khoái Châu 47
Bảng 4.6 Tổng hợp các chính sách về Quản lý VSATTP trên địa bàn huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên 48
Bảng 4.7 Tình hình thực hiện mục tiêu Quản lý nhà nước về Vệ sinh an toàn thực phẩmtrên địa bàn huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên 50
Bảng 4.9 Đánh giá các chính sách về VSATTP trên địa bàn huyện Khoái Châu, Tỉnh Hưng Yên 52
Bảng 4.10 Đánh giá của cán bộ quản lý Nhà nước về cơ chế chính sách về vệ sinh an toàn thực phẩm 55
Bảng 4.11 Tình hình đào tạo, tập huấn kiến thức ATVSTP huyện Khoái Châu giai đoạn 2013– 2015 57
Trang 9ix
Bảng 4.12 Tình hình tuyên truyền, phổ biến kiến thức về VSATTP tại các cơ sở
kinh doanh ăn uống ở Khoái Châu giai đoạn 2013 - 2015 58
Bảng 4.13 Thực trạng cấp giấy chứng nhận về VSATTP tại các cơ sở kinh doanh ăn uống tại Khoái Châu trên địa bàn huyện Khoái Châu giai đoạn 2013 – 2015 59
Bảng 4.14 Đánh giá về công tác, tuyên truyền, cấp giấy chứng nhận 60
Bảng 4.15 Tình hình thanh tra, kiểm tra VSATTP tại các cơ sở kinh doanh ăn uống đoạn 2013 – 2015 61
Bảng 4.16 Tình hình xử lý vi phạm VSATTP tại các cơ sở kinh doanh ăn uống tại huyện Khoái Châu giai đoạn 2013 – 2015 62
Bảng 4.17 Các nội dung vi phạm chủ yếu trên địa bàn huyện Khoái Châu giai đoạn 2013 – 2015 62
Bảng 4.18 Đánh giá về hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm 63
Bảng 4.19 Tình hình điều tra và xử lý NĐTP huyện Khoái Châu giai đoạn 2013 – 2015 64
Bảng 4.20 Tình hình xét nghiệm VSATTP tại các cơ sở kinh doanh ăn uống tại huyện Khoái Châu giai đoạn 2013 - 2015 65
Bảng 4.21 Kiến thức về thực phẩm an toàn 68
Bảng 4.22 Kiến thức về các bệnh và triệu chứng mắc phải thì không được tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm 69
Bảng 4.23 Kiến thức về các thông tin trên nhãn thực phẩm bao gói sẵn 70
Bảng 4.24 Kiến thức về cách chọn thịt, cá tươi 71
Bảng 4.25 Tỷ lệ nhà hàng quán ăn sử dụng trang phục chuyên dụng khi làm việc 73
Bảng 4.26 Tỷ lệ chủ nhà hàng, quán ăn tiếp xúc với thực phẩm chín, thực hành vệ sinh móng tay và đeo trang sức khi chế biến thực phẩm 74
Bảng 4.27 Tỷ lệ chủ nhà hàng quán ăn thực hiện đúng quy trình chế biến thực phẩm 74
Bảng 4.28 Thực hành rửa rau, quả tươi của Số chủ Nhà hàng, quán ăn 75
Bảng 4.29 Thực hành sơ chế thực phẩm của chủ cơ sở kinh doanh 76
Bảng 4.30 Thực hành bảo quản và chia thức ăn của chủ cơ sở kinh doanh 77
Bảng 4.31 Thực hành lưu mẫu thực phẩm, nơi lưu mẫu và thời gian lưu mẫu 78
Trang 10DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Hình 3.1 Bản đồ vị trí huyện khoái châu 26
Sơ đồ 4.1 Mạng lưới về VSATTP trong ngành y tế 37
Sơ đồ 4.2 Bộ máy quản lý nhà nước về VSATTP ngành Y tế huyện 39
Biểu đồ 4.1 Đánh giá về nguồn nhân lực quản lý VSATTP Huyện Khoái Châu 66
Biểu đồ 4.2 Kiến thức về nguyên nhân gây ngộ độc thực phẩm 69
Biểu đồ 4.3 Kiến thức về cách xử lý khi mắc các bệnh truyền nhiễm 70
Biểu đồ 4.4 Kiến thức về lấy mẫu khi ngộ độc thực phẩm xảy ra 72
Biểu đồ 4.5 Hiểu biết về các quy định bảo đảm an toàn thực phẩm 72
Biểu đồ 4.6 Kiến thức chung về an toàn thực phẩm 73
Biểu đồ 4.7 Thực hành rửa tay của chủ nhà hàng, quán ăn 75
Biểu đồ 4.8 Thực hành vệ sinh bếp 78
Trang 11
xi
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Vệ sinh an toàn thực phẩm là việc bảo đảm thực phẩm không gây hại cho sức khỏe, tính mạng người sử dụng, bảo đảm thực phẩm không bị hỏng, không chứa các tác nhân vật lý, hóa học, sinh học, hoặc tạp chất quá giới hạn cho phép, không phải là sản phẩm của động vật, thực vật bị bệnh có thể gây hại cho sức khỏe người sử dụng
Quản lý nhà nước về Vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn huyện Khoái Châu, Tỉnh Hưng Yên đã đề ra được mục tiêu, kế hoạch thực hiện QL NN về VSATTP và thể hiện sự phân công nhiệm vụ của từng ngành, cấp thực hiện Tuy trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ chưa gắn liền với điều kiện cơ sở vật chất và nguồn lực con người để thực thi, trong thực tế lực lượng cán bộ mỏng và thiếu máy móc, thiết bị phục vụ cho công tác kiểm tra, xét nghiệm là những cản trở cho việc hoàn thành nhiệm vụ Đồng thời, sự chồng chéo trong chính sách và công tác tổ chức thực hiện dẫn đến việc QL NN về VSATTP còn chưa hoàn thiện Theo đánh giá của đội ngũ cán bộ về cơ sở vật chất, trang thiết bị ở bảng 4.5 cho thấy khoảng 70% cán bộ cho rằng hệ thống cơ sở vật chất đáp ứng yêu cầu công việc Hệ thống trang thiết bị phục vụ QLNN và VSATTP có tỷ lệ đánh giá thấp nhất, trong đó Chi cục ATVSTP là đơn vị có tỷ lệ đánh giá trang thiết bị đầy đủ thấp nhất Là đơn vị trực tiếp thực hiện nên CB tại Chi cục hiểu rõ nhất về tính phù hợp, đầy đủ của các loại trang thiết bị phục vụ cho quản lý
Công tác tuyên truyền, tập huấn về VSATTP được tổ chức thường xuyên trên địa bàn huyện Các lớp tập huấn được tổ chức phù hợp với thực tiễn và tuân theo các quy định của pháp luật, các hình thức tuyên truyền đa dạng, hướng tới nhiều đối tượng Dù vậy, do kinh phí chưa đảm bảo nên hoạt động tập huấn chưa bao quát được toàn bộ các đối tượng, tuyên truyền chưa sâu, không thực hiện đánh giá được hiệu quả công tác tuyên truyền Hiện nay, số lượng cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm được tập huấn đạt khoảng 85 – 90%, khoảng 80% các đối tượng tiếp cận được các hình thức tuyên truyền
Bên cạnh việc tăng cường các đợt thanh tra, kiểm tra thì chất lượng các cuộc thanh, kiểm tra cũng được coi trọng, sự phối hợp tốt giữa các cơ quan chức năng, cơ quan chuyên môn và năng lực chuyên môn tốt hơn đã phát hiện nhiều sai phạm về VSATTP trên địa bàn Theo bảng 4.15, tỷ lệ cơ sở sai phạm tăng cao, từ 18,87% năm
2014 lên 30,41% (2015) Thực trạng này cũng phản ánh hiệu quả công tác tuyên truyền
về VSATTP chưa cao, ý thức của các cơ sở về tuân thủ các quy định VSATTP còn thấp Năm 2014, tình hình NĐTP xảy ra nhiều trên địa bàn huyện Trong đó, xảy ra 5
vụ NĐTP tại các bếp ăn tập thể với số người mắc cao Năm 2014 cũng là năm duy nhất
có người chết do NĐTP Tuy nhiên việc xác định nguyên nhân gây NĐTP còn yếu kém,
Trang 12hơn 50% các vụ NĐTP hàng năm chưa được điều tra xác định rõ nguyên nhân Từ đó gây khó khăn trong công tác điều trị cũng như xử lý sai phạm trong việc xảy ra NĐTP
Nghiên cứu chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến Quản lý nhà nước về Vệ sinh an toàn thực phẩmtại các cơ sở kinh doanh ăn uống trên địa bàn tỉnh như cơ chế chính sách chồng chéo; nguồn lực con người và nguồn lực CSVC, tài chính có hạn; thiếu sự phối hợp của các cơ quan trong QL, thanh kiểm tra về ATTP
Xuất phát từ nghiên cứu thực tiễn VSATTP tại các cơ sở kinh doanh ăn uống ở Khoái Châu, cần thực hiện một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý VSATTP: Hoàn thiện khung pháp lý, cơ chế chính sách; Hoàn thiện hệ thống tổ chức quản lý, thanh tra, kiểm tra; Huy động nguồn lực từ bên ngoài tham gia quản lý chất lượng ATVSTP; Tăng cường thông tin giáo dục truyền thông
Trang 13xiii
THESIS ABSTRACT
Food safety is to ensure food does not harm the health and life of the user, ensure food is not damaged, does not contain physical, chemical, biological, or impurities Exceeding the allowable limit, not the product of the animal or plant disease can harm the health of the user
State management of food hygiene and safety in Khoai Chau district, Hung Yen province has set objectives and plans for implementation of state management of food hygiene and safety and show the assignment of responsibilities Department of each branch, level of implementation While responsibility for implementing tasks is not linked to physical facilities and human resources to implement, in reality the staff is thin and there is a lack of machinery and equipment for inspection work Experiments are obstacles to the completion of the task At the same time, the overlap in policy and organization of implementation leading to the state management of food safety and hygiene is not complete According to staff assessment on facilities and equipment, Table 4.5 shows that about 70% of staff think that the facilities meet the requirements of work The system of equipment for state management and food hygiene and safety has the lowest rate of appraisal, in which the Department of Food Safety and Hygiene is the unit with the rate of full equipment evaluation Low enough As the unit directly implemented, officers at the Sub-Department understand best about the suitability and adequacy of equipment for management
IEC activities on food hygiene and safety are organized regularly in the district The training courses are organized in accordance with reality and comply with the law, diversified and multi-disciplinary forms of communication However, due to the lack of funding, the training activities did not cover the entire population, propagandizing deeply and not effectively evaluating propaganda activities Food production, processing and trading activities are about 85-90%, about 80% of the target groups have access to propaganda
Apart from intensifying inspections and inspections, the quality of the inspections and inspections are well respected, the good coordination between the competent authorities, the specialized agencies and the better professional capacity There are many violations on food hygiene and safety in the area According to Table 4.15, the incidence of abuse is rising from 18.87% in 2014 to 30.41% in 2015 This situation also reflects the effectiveness of propaganda on food hygiene and safety is not high, the sense of compliance with low standards of food safety and hygiene In 2014, the situation of food poisoning occurred more in the district Of which, 5 cases of food poisoning occurred in the kitchens with high numbers of people 2014 is also the only year in which people die from food poisoning However, the identification of causes of
Trang 14food poisoning is still weak, more than 50% of cases of food poisoning annually have not been investigated clearly identify the cause Since it causes difficulties in the treatment as well as wrong handling in the occurrence of food poisoning
The study indicates the factors that affect the state management of food hygiene and safety in food businesses in the province such as overlapping policy mechanism; Human resources and resources are limited; Lack of coordination of agencies in food safety management and inspection
Starting from the research on food hygiene and safety practice in food establishments in Khoai Chau, a number of measures should be taken to improve the management of food safety and hygiene: policy mechanisms; To perfect the system of organization of management, inspection and examination; Mobilize external resources
to participate in management of food safety and hygiene; Enhance communication education information
Trang 151
PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Tuyên ngôn của Hội nghị thượng đỉnh về dinh dưỡng toàn cầu tại Rome năm 1992 đã nhận định rằng: tiếp cận đủ nhu cầu dinh dưỡng và an toàn vệ sinh thực phẩm được xem là một trong những quyền cơ bản của con người Một xã hội văn minh không chỉ dừng ở việc đảm bảo cho người dân ăn uống no đủ mà còn phải đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng và an toàn thực phẩm Thực phẩm kém chất lượng và không an toàn là nguyên nhân của một số bệnh có nhiều người mắc, gây ảnh hưởng lớn tới sức khỏe cộng đồng và sự phát triển kinh tế xã hội
Vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP) không chỉ là mối quan tâm của Đảng và Nhà nước ta mà còn là vấn đề chung của toàn thế giới VSATTP giữ vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ sức khỏe con người, làm giảm tỷ lệ bệnh tật, phát triển giống nòi, phát triển kinh tế, lợi ích, hạnh phúc của nhân dân, tăng cường giao lưu quốc tế về kinh tế, văn hóa xã hội và thể hiện nếp sống văn minh của dân tộc
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), hàng năm trên thế giới có khoảng 1,3
tỷ người bị tiêu chảy, 3,2 triệu trẻ em chết do các bệnh tiêu chảy và hàng triệu trẻ
em khác bị tiêu chảy nhiều lần, trong đó 70% nguyên nhân do sử dụng thực phẩm không an toàn Hơn 1/3 dân số của các nước đang phát triển bị ảnh hưởng sức khỏe bởi các bệnh do thực phẩm gây ra, vấn đề càng trầm trọng hơn đối với các nước đang phát triển, tính ra mỗi năm tổn thất hàng chục triệu đô la Mỹ (WHO, 2006)
Trong những năm gần đây, mặt hàng lương thực thực phẩm rất phong phú, đa dạng về số lượng, chủng loại, rất thuận tiện và đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng Song mặt trái của nó đang là nỗi lo của người tiêu dùng và toàn
xã hội VSATTP luôn là mối quan tâm lớn của toàn thế giới bởi nguy cơ thực phẩm không an toàn do bị nhiễm khuẩn Hiện nay, thực phẩm ngày càng có nguy
cơ cao bị ô nhiễm độc hại do việc sử dụng không đúng quy định các hóa chất bảo
vệ thực phẩm trong sản xuất nông nghiệp, thuốc tăng trọng trong chăn nuôi động vật, nhiễm độc vi nấm do bảo quản thực phẩm, kim loại nặng trong thực phẩm và
sử dụng không đúng, gian dối các chất phụ gia, phẩm màu trong chế biến thực phẩm gây ra ngộ độc thực phẩm Tác hại của ngộ độc thực phẩm là vô cùng to lớn: đe dọa trực tiếp đến tính mạng, ảnh hưởng trước mắt và lâu dài đến sức khỏe
Trang 16con người, làm sa sút kinh tế của gia đình và xã hội
Mục tiêu đầu tiên của VSATTP là đảm bảo cho người ăn tránh bị ngộ độc thức ăn do ăn phải thức ăn bị ô nhiễm hoặc có chất độc, gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe Bất kỳ cơ sở chế biến, sản xuất hay cơ sở dịch vụ ăn uống, bếp ăn tập thể mà không hiểu biết về VSATTP đều có nguy cơ gây nhiễm độc thực phẩm cho người ăn Do đó việc tìm hiểu về VSATTP là yếu tố bắt buộc đối với những nhân viên trực tiếp chế biến tại các cơ sở này Việc đánh giá tiêu chuẩn vệ sinh của các bếp ăn đặc biệt là bếp ăn trong các cơ sở ăn uống có thể định hướng cho các nhà quản lý, cũng như cơ quan làm công tác VSATTP có những biện pháp khắc phục kịp thời, đồng thời cũng đưa ra được những giải pháp tiếp theo Chất lượng VSATTP đang là vấn đề báo động
Công tác quản lý VSATTP tại huyện Khoái Châu vẫn còn nhiều tồn tại, chưa có sự phân công, phân nhiệm rõ ràng; điều kiện cơ sở vật chất thiếu thốn; năng lực cán bộ hạn chế, hàng năm có trên 50% số vụ NĐTP không xác định rõ nguyên nhân….là những khó khăn, vướng mắc cần tháo gỡ nhằm nâng cao hiệu quả quản lý VSATTP của huyện Khoái Châu
Do đó, đứng trước xu thế hội nhập và toàn cầu hóa, Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của WTO (World Trade Organization) và thực hiện thỏa thuận AFTA (ASEAN Free Trade Area) nên việc sản xuất và chế biến các loại thực phẩm có chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng, đặc biệt là chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm trở nên rất cần thiết Xuất phát từ những lý do trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “ Quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm tại các cơ sở kinh doanh ăn uống trên địa bàn huyện Khoái Châu tỉnh HưngYên” nhằm góp phần tăng cường quản lý VSATTP tại các cơ sở kinh doanh ăn uống và giải quyết những vướng mắc trong quá trình triển khai
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
- Trên cơ sở đánh giá tình hình quản lý Nhà nước vệ sinh an toàn thực phẩm, đề xuất giải pháp nhằm tăng cường quản lý Nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm tại các cơ sở kinh doanh ăn uống trên địa bàn huyện Khoái Châu 1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý Nhà nước
Trang 173
về vệ sinh an toàn thực phẩm tại các cơ sở kinh doanh ăn uống
- Đánh giá thực trạng quản lý Nhà nước Nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm tại các cơ sở kinh doanh ăn uống ở huyện Khóai Châu Hưng Yên
- Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý Nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm của huyện Khoái Châu
- Đề xuất giải pháp nhằm tăng cường quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm tại các cơ sở kinh doanh ăn uống ở huyện Khoái Châu
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
- Tại sao phải quản lý Nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm?
- Huyện Khoái Châu đã làm gì để quản lý Nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm?
- Tình hình vệ sinh an toàn thực phẩm ở huyện hiện nay như thế nào?
- Thuận lợi, khó khăn trong quản lý Nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm tại các cơ sở kinh doanh ăn uống ở huyện là gì ?
- Yếu tố ảnh hưởng đến kết quả, hiệu lực trong quản lý Nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm tại các cơ sở kinh doanh ăn uống ?
- Giải pháp nào để quản lý tốt an toàn vệ sinh thực phẩm tại các cơ sở kinh doanh ăn uống ở Huyện Khoái Châu?
- Tình hình cấp giấy phép, thanh tra kiểm tra, xử lý vi phạm?
1.4 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Công tác quản lý Nhà nước Nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm tại các cơ sở kinh doanh ăn uống ở huyện Khóai Châu Hưng Yên
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Các nội dung cơ bản của quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm tại các cơ sở kinh doanh ăn uống trên địa bàn huyện Khoái Châu
Về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn huyện Khoái Châu
Về thời gian: Nghiên cứu thực trạng quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm tại các cơ sở kinh doanh ăn uống từ năm 2013 đến 2015 và đề xuất đến năm 2020
Trang 181.5 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN
Vệ sinh an toàn thực phẩm là việc bảo đảm thực phẩm không gây hại cho sức khỏe, tính mạng người sử dụng, bảo đảm thực phẩm không bị hỏng, không chứa các tác nhân vật lý, hóa học, sinh học, hoặc tạp chất quá giới hạn cho phép, không phải là sản phẩm của động vật, thực vật bị bệnh có thể gây hại cho sức khỏe người sử dụng
Quản lý nhà nước về VSATTP là hoạt động có tổ chức của nhà nước thông qua các văn bản pháp quy, các công cụ, chính sách của nhà nước sẽ tác động đến tình hình thực hiện VSATTP của đơn vị sản xuất, chế biến, kinh doanh
và người tiêu dùng tại các cơ sở kinh doanh ăn uống nhằm định hướng, dẫn dắt các chủ thể này thực hiện tốt các quy định về VSATTP
Đề tài đánh giá thực trạng Quản lý nhà nước về VSATTP trên địa bàn huyện Khoái Châu
Đề tài đưa ra những giải pháp nhằm tăng cường quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm tại các cơ sở kinh doanh ăn uống ở huyện Khoái Châu
Trang 195
PHẦN 2.MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM TẠI CÁC CƠ SỞ KINH DOANH ĂN UỐNG
a Khái niệm vệ sinh thực phẩm
Là mọi điều kiện và biện pháp cần thiết để đảm bảo sự an toàn và phù hợp của thực phẩm ở mọi khâu thuộc tru trình thực phẩm (Trần Đáng, 2007) b.Khái niệm an toàn thực phẩm
Là thực phẩm bảo đảm không gây hại cho người tiêu dùng khi nó được chuẩn bị hoặc ăn theo mục đích sử dụng (Trần Đáng, 2007)
c Định nghĩa về vệ sinh an toàn thực phẩm
Là tất cả điều kiện, biện pháp cần thiết từ khâu sản xuất, chế biến, bảo quản, phân phối, vận chuyển, cũng như sử dụng nhằm bảo đảm cho thực phẩm sạch sẽ, an toàn, không gây hại cho sức khoẻ người tiêu dùng
Theo các chuyên gia của Tổ chức Lương Nông (FAO) và tổ chức y tế thế giới (WHO, 2000) thì: “Vệ sinh an toàn thực phẩm là việc bảo đảm thực phẩm không gây hại cho sức khỏe, tính mạng người sử dụng, bảo đảm thực phẩm không bị hỏng, không chứa các tác nhân vật lý, hóa học, sinh học, hoặc tạp chất quá giới hạn cho phép, không phải là sản phẩm của động vật, thực vật bị bệnh có thể gây hại cho sức khỏe người sử dụng Quan niệm này rất đầy đủ, lột tả được bản chất của vấn đề nhưng đề ngắn gọn và dễ hiểu mà vẫn bao hàm được ý nghĩa trong quản lý nhà nước, khái niệm được chấp nhận hơn cả là: “Vệ sinh an toàn thực phẩm là việc bảo đảm thực phẩm không gây hại cho sức khỏe, tính mạng của con người, không chứa các tác nhân sinh học, hóa học, lý học quá giới hạn cho phép”
Trang 202.1.1.2 Khái niệm quản lý nhà nước và Quản lý nhà nước về Vệ sinh an toàn thực phẩm tại các cơ sở kinh doanh ăn uống
a Khái niệm quản lý nhà nước:
Quản lý nhà nước ra đời cùng với sự xuất hiện của Nhà nước là sự quản lý của nhà nước đối với xã hội và công dân
Quản lý nhà nước là sự chỉ huy, điều hành xã hội để thực hiện quyền lực nhà nước, là tổng thể và thể chế về tổ chức và cán bộ của bộ máy nhà nước có trách nhiệm quản lý công việc hàng ngày của nhà nước, do các cơ quan nhà nước (lập pháp, hiến pháp, tư pháp) có tư cách pháp nhân công pháp (công quyền) tiến hành bằng các văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn mà nhà nước đó giao quyền trong việc tổ chức và điều khiển các quan hệ xã hội và hành vi của con người
Quản lý nhà nước tác động một cách có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý vào một đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành
vi của con người nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối tượng theo những mục tiêu nhất định
Quản lý Nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật để điều chỉnh hành vi hoạt dộng của con người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy Nhà nước thực hiện, nhằm thoả mãn nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ổn định và phát triển xã hội (Đỗ Mai Thành, 2010)
b Quản lý Nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm tại các cơ sở kinh doanh ăn uống
Quản lý nhà nước về VSATTP là hoạt động có tổ chức của nhà nước thông qua các văn bản pháp quy, các công cụ, chính sách của nhà nước sẽ tác động đến tình hình thực hiện VSATTP của đơn vị sản xuất, chế biến, kinh doanh
và người tiêu dùng trên cả nước nhằm định hướng, dẫn dắt các chủ thể này thực hiện tốt các quy định về VSATTP
Quản lý nhà nước về VSATTP bao gồm một số các hoạt động chủ yếu: Công tác hoạch định và ban hành các văn bản, chính sách, chiến lược, kế hoạch
có liên quan đến vấn đề VSATTP và công tác tổ chức tuyên truyền, giáo dục, công tác kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm, công tác phối hợp liên ngành trong quản lý VSATTP
Trang 217
2.1.1.3 Nguyên tắc quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm
Theo quy định của Luật an toàn thực phẩm năm 2010, nguyên tắc quản lý
an toàn thực phẩm được quy định như sau:
Đảm bảo an toàn thực phẩm là trách nhiệm của mọi tổ chức, cá nhân sản xuất, cơ sở kinh doanh ăn uống thực phẩm
Sản xuất, kinh doanh thực phẩm là hoạt động có điều kiện; tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm chịu trách nhiệm về an toàn đối với thực phẩm do mình sản xuất, kinh doanh
Quản lý an toàn thực phầm phải trên cơ sở quy chuẩn kỹ thuật tương ứng, quy định do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành và tiêu chuẩn do
tổ chức, cá nhân sản xuất công bố áp dụng
Quản lý an toàn thực phẩm phải được thực hiện trong suốt quá trình sản xuất, kinh doanh thực phẩm trên cơ sở phân tích nguy cơ đối với an toàn thực phẩm
Quản lý an toàn thực phẩm phải bảo đảm phân công, phân cấp rõ ràng và phối hợp liên ngành
Quản lý an toàn thực phẩm phải đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội 2.1.1.4 Trách nhiệm của quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm
a Trách nhiệm trong quản lý
Quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm là trách nhiệm của 3 Ngành Y tế, ngành Công thương, Nông nghiệp và phát triển nông thôn, và Ủy Ban nhân dân các cấp Căn cứ Luật an toàn thực phẩm, số 55/2010/QH12 ngày 17 tháng 6 năm
2010 và Nghị định số 38/2012/NĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm 2012 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật an toàn thực phẩm, quy định rõ trách nhiệm của từng ngành trong quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm, cụ thể:
Trang 22Quy định về điều kiện chung bảo đảm an toàn thực phẩm đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm, đồ uống;
Chủ trì tổ chức thực hiện công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về an toàn thực phẩm; cảnh báo sự cố ngộ độc thực phẩm;
Thanh tra, kiểm tra đột xuất đối với toàn bộ quá trình sản xuất, nhập khẩu, kinh doanh thực phẩm, đồ uống thuộc phạm vi quản lý của các ngành khác khi cần thiết
Trách nhiệm trong quản lý ngành:
Chủ trì xây dựng, ban hành hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và tổ chức thực hiện chiến lược, chính sách, quy hoạch, kế hoạch và văn bản quy phạm pháp luật về an toàn thực phẩm thuộc lĩnh vực được phân công quản lý;
Quản lý an toàn thực phẩm trong suốt quá trình sản xuất, sơ chế, chế biến, bảo quản, vận chuyển, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh đối với phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, nuốc uống đóng chai, nước khoáng thiên nhiên, thực phẩm chức năng và các thực phẩm khác theo quy định của Chính Phủ;
Quản lý an toàn thực phẩm đối với dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng thực phẩm trong quá trình sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm thuộc lĩnh vực được phân công quản lý;
Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm trong quá trình sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh thực phẩm thuộc lĩnh vực được phân công quản lý
c Trách nhiệm trong thanh tra an toàn thực phẩm
Thanh tra về an toàn thực phẩm là thanh tra chuyên ngành Thanh tra an toàn thực phẩm do ngành y tế, ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn, ngành công thương thực hiện theo quy định của pháp luật về thanh tra Chính phủ quy định việc phối hợp giữa các lực lượng thanh tra an toàn thực phẩm của các bộ, cơ quan ngang bộ với một số lực lượng khác trong việc bảo đảm an toàn thực phẩm
Nội dung thanh tra về an toàn thực phẩm gồm:
Thanh tra việc thực hiện các quy định kỹ thuật, quy định về an toàn thực phẩm đối với sản xuất, kinh doanh thực phẩm và sản phẩm thực phẩm do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành
Trang 23Thực hiện các quy định khác của pháp luật về an toàn thực phẩm
d Trách nhiệm trong kiểm tra an toàn thực phẩm
Kiểm tra an toàn thực phẩm là trách nhiệm thuộc các ngành được giao trách nhiệm quản lý an toàn vệ sinh thực phẩm Cơ quan quản lý an toàn thực phẩm thuộc ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện việc kiểm tra an toàn thực phẩm trong phạm vi địa phương theo quy định của ngành quản lý ngành và sự phân công của Ủy ban nhân dân cấp huyện (Cục quản lý chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, 2002)
Trong trường hợp kiểm tra liên ngành về an toàn thực phẩm có liên quan đến phạm vi quản lý của nhiều ngành hoặc địa phương, cơ quan chủ trì thực hiện kiểm tra có trách nhiệm phối hợp với cơ quan hữu quan thuộc các bộ, cơ quan ngang bộ, ủy ban nhân dân cấp tỉnh có liên quan đề thực hiện (Cục quản lý chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, 2002)
Hoạt động kiểm tra an toàn thực phẩm phải đảm bảo nguyên tắc:
Khách quan, chính xác, công khai, minh bạch, không phân biệt đối xử Bảo vệ bí mật thông tin, tài liệu, kết quả kiểm tra liên quan đến cơ quan,
tổ chức cá nhân sản xuất, cơ sở kinh doanh thực phẩm được kiểm tra khi chưa có kết luận chính thức;
Không được sách nhiễu, gây phiền hà cho tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh thực phẩm;
Chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả kiểm tra, có kết luận liên quan;
Bộ trưởng bộ quản lý ngành quy định cụ thể về hoạt động kiểm tra an toàn thực phẩm trong phạm vi quản lý nhà nước được phân công
2.1.2 Vai trò của quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm trong kinh doanh ăn uống
2.1.2.1 Vai trò của quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm
Trong những năm gần đây vấn đề VSATTP đang diễn ra ngày càng trầm
Trang 24trọng, nhiều vụ ngộ độc thực phẩm xẩy ra liên tiếp, gây thiệt hại nhiều đến tính mạng con người và tiền của Trước những diễn biến đó thì vai trò của nhà nước đặc biệt quan trọng Trước hết nhà nước thông qua việc hoạch định và ban hành các văn bản pháp luật có liên quan đến VSATTP để hướng dẫn các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thực phẩm có định hướng để sản xuất thực phẩm sạch, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm Ngoài ra, thông qua các văn bản chính sách, nhà nước cũng quy định rõ nhiệm vụ quản lý của từng Bộ, ngành và các cấp chính quyền quản lý chặt chẽ vấn đề VSATTP
Thông qua việc tổ chức thực thi các văn bản quy phạm pháp luật, các chương trình, kế hoạch có liên quan đến VSATTP, nhà nước sẽ trực tiếp quản lý vấn đề VSATTP nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm tra, giám sát kết quả thực hiện về sản xuất, chế biến cũng như tiêu dùng của tất cả các mặt hàng thực phẩm
Nhà nước sử dụng công cụ pháp luật cũng như đội ngũ thanh tra các cấp
để quản lý vấn đề VSATTP Các bộ phận này có trách nhiệm riêng biệt để thanh tra, kiểm tra lập lại trật tự sản xuất, kinh doanh theo đúng yêu cầu, tiêu chuẩn kỹ thuật của nhà nước Các Bộ, ngành có liên quan phối hợp với ngành Y tế để cùng quản lý các vấn đề liên quan đến ATVSTP
Nhà nước tổ chức tuyên truyền, giáo dục về VSATTP cho nhân dân để nâng cao ý thức và hiểu biết vấn đề này Chỉ đạo tổ chức tháng hành động vì chất lượng VSATTP, đẩy mạnh công tác phòng chống, công tác tuyên truyền, giáo dục đạt hiệu quả Như vậy, nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng, quyết định trong mọi lĩnh vực có liên quan đến thực phẩm từ sản xuất, chế biến đến tiêu dùng Mặt khác, Quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm là hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước nhằm định hướng phát triển, nâng cao khả năng kiểm soát chất lượng sản phẩm thực phẩm đáp ứng các mục tiêu kinh tế xã hội trong từng thời kỳ Công tác quản lý chất lượng thực phẩm ra đời và phát triển cùng với các hoạt động của đời sống kinh tế và xã hội, công tác quản lý VSATTP
có vai trò quan trọng, tác động nhiều mặt và sâu sắc đến hầu khắp các lĩnh vực,
từ sản xuất kinh doanh, nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ cho đến việc bảo vệ môi trường, an toàn sức khoẻ con người, đảm bảo công bằng và lợi ích quốc gia Trong nền kinh tế phát triển sôi động như hiện nay thì vai trò quản lý của nhà nước ngày càng trở lên quan trọng Vai trò của quản lý nhà nước về VSATTP trước hết phải là vai trò định hướng và đảm bảo cho hoạt động có tác
Trang 2511
động tích cực đối với sự phát triển kinh tế mang tính dẫn dắt và chỉ hướng Trong giai đoạn hiện nay, sự phát triển kinh tế phải dựa vào đẩy mạnh xuất khẩu, mà muốn đẩy mạnh xuất khẩu phải dựa vào tăng cường khả năng cạnh tranh của sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ Như vậy, định hướng cơ bản về công tác VSATTP hiện nay là đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế Làm tốt công tác này sẽ giúp hàng hoá của Việt Nam đáp ứng được nhu cầu của thị trường trong nước và quốc tế Cơ quan nhà nước là nơi tập hợp, đề xuất và ban hành các tiêu chuẩn cho các doanh nghiệp (Trần Quang Trung, 2013)
Vai trò không thể thiếu của quản lý nhà nước về VSATTP là việc đảm bảo lợi ích quốc gia, dân tộc Thông qua việc quy định và kiểm soát về vệ sinh, an toàn, môi trường, Nhà nước đảm bảo sản phẩm, hàng hóa, nguyên vật liệu…nhập khẩu vào Việt Nam phải bảo đảm vệ sinh, an toàn cho người tiêu dùng, an toàn cho môi trường tự nhiên và xã hội Bằng các hoạt động kiểm tra giám sát thường xuyên ở các khu vực cửa khẩu các khu vực buôn bán để kịp thời phát hiện và xử
lý những vi phạm
Nhờ có vai trò quản lý của nhà nước về VSATTP đã tạo niềm tin đối với người tiêu dùng giúp cho người tiêu dùng cảm thấy yên tâm hơn khi sử dụng sản phẩm dịch vụ trên thị trường
Mặt khác, vai trò của nhà nước còn thể hiện ở chỗ đề ra quy hoạch, kế hoạch tổng thể, đáp ứng những cân đối lớn của toàn bộ nền kinh tế, tránh hiện tượng đầu tư dàn trải, không hiệu quả, đồng thời khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm Định hướng cho công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm theo đúng chủ trương chính sách đã đề ra Hạn chế tiêu cực, tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm (Trần Quang Trung, 2013)
2.1.2.2 Vai trò của vệ sinh an toàn thực phẩm
Mọi người chúng ta đều nhận thấy tầm quan trọng của ăn uống, đó là nhu cầu hàng ngày không thể thiếu, rất cấp bách và phải đáp ứng Ngay từ trước công nguyên, các nhà Y học cho rằng ăn uống là một phương pháp chữa bệnh và giữ gìn sức khỏe
Thực phẩm cung cấp các chất dinh dưỡng như chất đạm, đường, béo,các sinh
tố và muối khoáng, đảm bảo sức khỏe cho con người, đồng thời cũng có thể là nguồn gây bệnh, thậm chí còn dẫn tới tử vong Không một thức ăn nào được gọi là
có giá trị dinh dưỡng nếu không đảm bảo VSATTP Theo Hải Thượng Lãn Ông,
Trang 26thức ăn phải có các chất bổ dưỡng cho cơ thể chứ không phải là nguồn gây bệnh Đảm bảo thực phẩm phòng tránh ruồi nhặng, ẩm mốc, ôi thiu và giữ vệ sinh nguồn nước đã được ông khuyên dạy
2.1.3 Đặc điểm của Quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm trong kinh doanh ăn uống
Từ khái niệm Quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm ta rút ra các đặc điểm của quản lý nhà nước về VSATTP tại các cơ sở kinh doanh ăn uống như sau:
- Quản lý nhà nước về VSATTP tại các cơ sở kinh doanh ăn uống mang tính quyền lực đặc biệt, tính tổ chức cao và tính mệnh lệnh đơn phương của nhà nước
- Quản lý nhà nước về VSATTP tại các cơ sở kinh doanh ăn uống mang tính tổ chức và điều chỉnh Tổ chức ở đây được hiểu như một khoa học về việc thiết lập những mối quan hệ giữa con người với con người nhằm thực hiện quá trình quản lý xã hội
- Quản lý nhà nước về VSATTP tại các cơ sở kinh doanh ăn uống mang tính khoa học, tính kế hoạch Đặc trưng này đỏi hỏi nhà nước phải tổ chức các hoạt động quản lý của mình lên các cơ sở kinh doanh ăn uống phải có một chương trình nhất quán, cụ thể và theo những kế hoạch được vạch ra từ trước trên
cơ sở nghiên cứu một cách khoa học
- Quản lý nhà nước về VSATTP tại các cơ sở kinh doanh ăn uống là những tác động mang tính liên tục, và ổn định lên các quá trình xã hội và hệ thống các hành vi xã hội Cùng với sự vận động biến đổi của các cơ sở kinh doanh ăn uống, hoạt động quản lý nhà nước phải diễn ra thường xuyên, liên tục, không bị gián đoạn Các quyết định của nhà nước phải có tính ổn định, không được thay đổi quá nhanh Việc ổn định của các quyết định của nhà nước giúp cho các chủ thể quản lý có điều kiện kiện toàn hoạt động của mình và hệ thống hành
vi xã hội được ổn định
2.1.4 Nội dung nghiên cứu quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm tại các cơ sở kinh doanh ăn uống
2.1.4.1 Xây dựng bộ máy quản lý
Bộ máy quản lý nhà nước về VSATTP đến nay đã được xây dựng hoàn chỉnh từ Trung ương đến địa phương
Trang 2713
Bố trí nguồn lực cho bộ máy quản lý nhà nước về VSATTP đảm bảo hoạt động có hiệu quả
Đến nay, hệ thống quản lý nhà nước về VSATTP đều được trang bị các thiết
bị thiết yếu phục vụ cho hoạt động như: máy tính, laptop, Projector, màn chiếu, máy ảnh, máy quay, bộ tuyên truyền …
Đối với cơ quan quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm tại cơ sở kinh doanh ăn uống việc trang bị các thiết bị, máy móc phù hợp trong lĩnh vực an toàn vệ sinh thực phẩm có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá chất lượng sản phẩm, phản ánh tính chính xác, giúp cơ quan quản lý nhà nước hoàn thành tốt nhiệm vụ, trách nhiệm của mình
Hệ thống phòng kiểm nghiệm của Viện kiểm nghiệm trung ương và Trung tâm y tế dự phòng các tỉnh, thành phố được trang bị máy móc hiện đại Các phòng kiểm nghiệm này phần lớn được công nhận đạt chuẩn ISO 17025, thường xuyên tham gia các chương trình kiểm nghiệm thành thạo với các phòng kiểm nghiệm đạt chuẩn quốc gia và quốc tế đạt kết quả tốt, nâng cao kết quả kiểm nghiệm
2.1.4.2 Ban hành hướng dẫn chính sách pháp luật về VSATTP
- Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, chính sách, quy hoạch, kế hoạch về vệ sinh an toàn thực phẩm tại địa phương;
- Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm, các quy định và tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm;
- Ban hành các quy định về thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm hành chính
về vệ sinh an toàn thực phẩm và các quy định về chứng nhận y tế trong lĩnh vực
+ Đào tạo thường xuyên
+ Đào tạo nâng cao
chuyên môn nghiệp vụ
Trang 28+ Đào tạo sau đại học về an toàn vệ sinh thực phẩm
+ Cấp phép về VSATTP: Số cơ sở được cấp phép đủ điều kiện VSATTP, tiếp nhận công bố hợp quy
2.1.4.4 Tuyên truyền và phổ biến kiến thức
- Tổ chức hoạt động giáo dục truyền thông vào các dịp cao điểm
- Tổ chức phát tờ rơi, tờ gấp quy định về điều kiện VSATTP cho các nhóm đối tượng là cơ sở sản xuất, chế biến và người tiêu dùng
- Tổ chức công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến kiến thức và pháp luật
Đối với lĩnh vực ATVSTP, thanh tra là để đánh giá thực trạng việc bảo đảm ATVSTP của các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm, dịch vụ ăn uống và thức ăn đường phố; đánh giá thực trạng về chất lượng VSATTP của một số nhóm mặt hàng thực phẩm lưu thông trên thị trường nhằm phát hiện và cảnh bảo các mối nguy ảnh hưởng đến ATVSTP Thông qua việc thanh tra tại các cơ sở thực phẩm và xem xét các hồ sơ liên quan từ đó tiến hành đánh giá công tác quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước về ATVSTP các cấp trong việc quản lý và cấp các giấy tờ liên quan đến ATVSTP
2.1.4.6 Công tác giám sát xử lý ngộ độc thực phẩm
Giám sát, điều tra, xử lý ngộ độc thực phẩm là vấn đề rất quan trọng Thực hiện tốt công tác giám sát, điều tra và xử lý NĐTP góp phần kiểm soát, giảm thiểu khả năng và những thiệt hại do NĐTP gây ra, đồng thời sớm có những biện pháp khắc phục phù hợp, hiệu quả và xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật
Hệ thống giám sát NĐTP và các bệnh truyền qua thực phẩm từ huyện đến
cơ sở được thành lập và duy trì hoạt động, cảnh báo được các nguy cơ về ATTP Các cơ quan chuyên môn đã triển khai thực hiện các hoạt động giám sát tình hình
Trang 2915
ngộ độc thực phẩm xảy ra trên địa bàn Nâng cấp trang thiết bị kỹ thuật để phân tích tìm nguyên nhân gây ngộ độc thực phẩm, có biện pháp giải quyết kịp thời các hậu quả do ngộ độc thực phẩm gây ra
2.1.5 Yếu tố ảnh hưởng đến Quản lý nhà nước về Vệ sinh an toàn thực phẩm trong kinh doanh ăn uống
2.1.5.1 Năng lực cán bộ làm công tác Quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm
Trình độ của cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm được thể hiện thông qua bằng cấp, chứng chỉ chuyên môn mà họ được đào tạo Việc phân công nhiệm vụ phù hợp hay không phù hợp với chuyên môn được đào tạo cũng ảnh hưởng đến kết quả công việc được giao
Ngoài ra ý thức trách nhiệm đối với công việc của người làm công tác quản
lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm đóng vai trò quan trọng Ngoài việc có chuyên môn thì ý thức trách nhiệm quyết định chính trong việc hoàn thành nhiệm vụ hay không và hoàn thành nhiệm vụ ở mức độ nào
Một số chỉ tiêu thể hiện trình độ cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về
an toàn vệ sinh thực phẩm :
- Số lượng cán bộ
- Trình độ chuyên môn được đào tạo
- Kết quả công tác của mỗi cán bộ
Nguồn nhân lực là một yếu tố ảnh hưởng lớn đến việc quản lý nhà nước về
an toàn vệ sinh thực phẩm Bởi lẽ yếu tố con người luôn là yếu tố quyết định trong sự thành công của mọi vấn đề Khi đã sử dụng yếu tố con người hợp lý với năng lực, sở trường với chuyên môn của họ thì mới đạt được mục đích và nâng cao kết quả trong công việc nói chung và trong quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm nói riêng
2.1.5.2 Nguồn kinh phí
Nguồn tài chính là điều kiện cần thiết để duy trì bộ máy quản lý nhà nước
và triển khai các hoạt động trong quản lý nhà nước về VSATTP Nguồn kính phí
để đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, đào tạo nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ Cơ chế tài chính phù hợp không những khuyến khích, động viên đội ngũ cán bộ làm có nhiệt tình, hăng say, yên tâm trong công tác từ đó nâng cao hiệu quả quản lý mà còn phát triển và đẩy mạnh các hoạt động chuyên môn như mở
Trang 30rộng hệ thống kiểm nghiệm về VSATTP, đầu tư trang thiết bị cần thiết cho hoạt động tuyên truyền, tập huấn , thanh kiểm tra
2.1.5.3 Sự phối hợp của các cơ quan Quản lý nhà nước liên quan
Liên kết, phối kết hợp là cùng nhau làm việc theo một kế hoạch chung để đạt mục đích chung Đó là một trong những kỹ năng quan trọng của nhà quản lý Bởi lẽ mỗi người, mỗi đơn vị chỉ có thời gian, năng lực để làm một lĩnh vực nào đó, không thể bao quát tất cả các lĩnh vực Cơ quan y tế trong lĩnh vực an toàn vệ sinh thực phẩm là cơ quan thường trực, đầu mối của Ban chỉ đạo liên ngành về VSATTP Vì vậy giữa cơ quan quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm với các cơ quan liên quan cần có sự phối hợp với nhau để việc đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm đạt được kết quả tốt, thông qua các cuộc thanh tra liên ngành được tổ chức thường xuyên, liên tục vào các dịp cao điểm trong năm như: Tết Nguyên đán, tháng hành động vì chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, tết Trung thu hay thanh tra theo chuyên đề Phối kết hợp trong các hoạt động thanh tra, kiểm tra, tuyên truyền, đào tạo, nghiên cứu khoa học hay trong hoạt động kiểm nghiệm…Thường xuyên duy trì phối hợp với các cơ quan thông tin như: Đài, báo, truyền hình…đưa tin các hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm, qua đó tuyên truyền, hướng dẫn việc thực hiện các quy định của pháp luật
2.1.5.4 Nhận thức của chủ cơ sở kinh doanh và người dân
.Thực phẩm rất quan trọng đối với cuộc sống của tất cả mọi người trong xã hội, giúp con người duy trì cuộc sống, phát triển giống nòi, trí tuệ và thể lực Việc bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP) chính là giải pháp nhằm nâng cao sức khỏe, phòng chống bệnh tật, góp phần làm giảm gánh nặng cho bệnh viện và làm tăng GDP của quốc gia Tuy nhiên, không phải lúc nào, mọi người dân và doanh nghiệp đều hiểu đúng và thực hành đúng về VSATTP… 2.1.5.5 Kiến thức hành vi của người chủ cơ sở kinh doanh
Thực phẩm có thể truyền bệnh từ người sang người cũng như là một môi trường phát triển cho các vi khuẩn có thể gây ra ngộ độc thực phẩm Cuộc tranh luận về an toàn thực phẩm biến đổi gen bao gồm các vấn đề như tác động của thực phẩm biến đổi gen đối với sức khỏe của các thế hệ xa hơn và ô nhiễm môi trường, di truyền mà có thể phá hủy đa dạng sinh học tự nhiên Ở các nước phát triển có những tiêu chuẩn rất phức tạp và nghiêm ngặt cho việc chế biến, bảo quản và tiêu thụ thực phẩm, trong khi ở các nước đang phát triển và kém phát triển thì tiêu chuẩn này quá thấp và việc quản lý vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm tỏ ra quá lỏng lẽo, yếu kém và xã hội những nước này thường ngày phải
Trang 31Trong những năm gần đây, tình hình ngộ độc thực phẩm xảy ra trên phạm
vi cả nước có xu hướng gia tăng và diễn biến phức tạp hơn năm 2011, cả nước để xảy ra hơn 148 vụ, số người bị ngộ độc là 4700 người, số người phải nhập viện là
3663 người, số người tử vong do ngộ độ thực phẩm là 27 người Năm 2012, cả nước để xảy ra 168 vụ, số người bị ngộ độc là 5541 người, số người phải nhập viện là 4335 người, số người từ vong do ngộ độc thực phẩm là 34 người Tới năm
2013 cả nước xảy ra 163 vụ ngộ độc thực phẩm với hơn 5000 nạn nhân trong đó
28 người tử vong (Trần Quang Trung,2013) Tình hình VSATTP tiếp tục với những điểm nóng về ngộ độc thực phẩm tại các bếp ăn tập thể Riêng tháng 10, các tỉnh Bình Dương, Quảng Trị và Tiền giang xảy ra nhiều vụ ngộ độc thực phẩm với
số lượng lớn hàng trăm người công nhân ở các khu công nghiệp phải nhập viện cấp cứu do ngộ độc suất ăn công nghiệp, ăn bánh mỳ bị nhiễm khuẩn
Sang tới năm 2014 tình hình ngộ độc tại các bếp ăn tập thể có xu hướng tăng vọt, ngành Y Tế cho biết, tính đến ngày 30/6/2014 toàn quốc ghi nhận có 90
vụ ngộ độc thực phẩm với 2636 người mắc, 2035 người đi viện và 28 trường hợp
tử vong so với cùng kỳ năm 2013, số vụ giảm 05 (5,3%), tuy nhiên số mắc tăng
528 người (25%), số đi viện tăng 213 người (11,7%) và số tử vong tăng 10 người (55,6%) Số vụ ngộ độc thực phẩm lớn (>30 người mức / vụ) tăng 02 vụ (11,8%), ngộ độc thực phẩm tại bếp ăn tập thể tăng 10 vụ ngộ độc thực phẩm do thức ăn đường số giảm 0,5 vụ (62,5%) (Trần Quang Trung, 2014)
Nguyên nhân ngộ độc là do vi sinh vật, độc tố tự nhiên là 27 vụ (30%) và hóa chất Nguyên nhân gây tử vong chủ yếu do độc tố có trong nấm, cóc, cá nóc,
sò biển, rượu ngâm của ấu tàu, ve sầu, cồn trùng dạng bọ xít đen, độc tố vi nấm trong bánh trôi, ngô mốc, rượu chứa ethanol Theo báo cáo tổng kết tháng 8 của ngành Y Tế chỉ riêng trong tháng 8/2014, cả nước xảy ra 11 vụ ngộ độc thực phẩm làm 307 người mắc, 216 người đi viện và 1 trường hợp tử vong Tính từ đầu năm
đã có 87 vụ ngộ độc thực phẩm, làm 19 người thiệt mạng và hàng ngàn người khác nhập viện và điều trị (Trần Quang Trung, 2014) Hết năm 2014 (Tính đến ngày 15/12), toàn quốc ghi nhận 189 vụ ngộ độc thực phẩm với hơn 5100 người mắc,4100 người đi viện và 43 trường hợp tử vong (Trần Quang Trung, 2014)
Trang 32Nguồn: Trần Quang Trung, (2014)
Bảng 2.1 Thống kê các vụ ngộ độc thực phẩm từ năm 2007 tới năm 2014
từ bảng này cho thấy số vụ ngộ độc giảm dần từ năm 2007 tới năm 2011 (từ 247
vụ xuống 148 vụ), nhưng từ năm 2012 tới 2014 số vụ ngộ độc lại tăng lên Năm
2014 so với cùng kỳ năm 2013, số vụ ngộ độc thực phẩm tăng 22 vụ tuy nhiên số người mắc giảm 402 người, số người đi viện giảm 901 người và số người tử vong tăn 15 người (50%) (Trần Quang Trung, 2014) Bảng 2.2 Thống kê về địa điểm sảy ra ngộ độc: trong bảng thống kê nổi cộm lên nhóm có nguy cơ cao về số vụ ngộ độc thực phẩm và số người mắc là nhóm cơ sở bếp ăn tập thể, trung bình tư 13,1% - 20,6% số vụ/ năm, chỉ đứng sau nhóm gia đình, các loại cơ sở khác đều sảy ra các vụ ngộ độc thực phẩm chiếm tỷ lệ ít hơn
Tình trạng an toàn thực phẩm đường phố (TPĐP) đã được cải thiện nhờ việc triển khai xây dựng phường điểm về VSATTP thức ăn đường phố theo quy định của ngành Y tế Tuy nhiên đa số các cơ sở kinh doanh dịch vụ thức ăn đường phố được đầu tư ít vốn triển khai trong điều kiện môi chưa đảm bảo vệ sinh thiếu hạ tầng cơ sở và các dịch vụ nước sạch và kiến thức VSATTP của người trực tiếp chế biến kinh doanh còn nhiều hạn chế
Điều kiện VSATTP tại các bếp ăn tập thể của cơ quan trường học đã được cải thiện đáng kể (Nguyễn Công Khẩn, 2011) Nghiên cứu của Lê Văn Giang năm 2006 ở Huyện Gia Lâm cho thấy có 20% số cơ sở không đạt về điều kiện VSATTP (Lê Văn Giang, 2006) Nghiên cứu của Lý Thành Minh ở Thị Xa Bến Tre cho thấy tỷ lệ nhiễm S Aureus là 49,6% và Ecoli là 23,6% (Nguyễn Chí Linh, 2007) Năm 2007, Nghiên cứu của Trần Việt Nga cho thấy còn 18,2% bếp
ăn tập thể không đạt tiêu chuẩn về vệ sinh cơ sở, 9% mẫu thức ăn chính không không đạt tiêu chuẩn về chỉ tiêu Coliforms (Trần Việt Nga, 2007)
Trang 33Bảng 2.2 Điểm điểm sảy ra vụ ngộ độc từ năm 2009 – 2014
Trang 34Tại Thanh Hóa, tỷ lệ ô nhiễm chung của các mẫu thức ăn đường phố và dụng cụ chế biến là 57,74% (Trần Quang Huy và cs., 2007) Năm 2008, kết quả nghiên cứu tại Nha Trang cho thấy có 39,5% món ăn hải sản sống không đạt tiêu chuẩn về vệ sinh Có tới 31,8% bàn tay của nhân viên tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm bị nhiễm S Aureus (Nguyễn Mạnh Hùng, 2007)
Kiến thức thái độ và hành vi của người kinh doanh chế biến thực phẩm, người tiêu dùng là yếu tố quan trọng để đảm bảo thực thiện VSATTP Hầu hết các nghiên cứu về kiến thức, thực hành VSATTP của các nhóm đối tượng còn rất thấp (chung cho các nhóm đối tượng mới đạt khoảng 50%) Còn nhiều phong tục canh tác sinh hoạt, ăn uống lạc hậu là mối nguy ngộc độc thực phẩm và bệnh truyền qua thực phẩm (Trần Quang Huy và cs., 2007)
Theo văn phòng đại diện WHO tại Việt Nam thì chi phí nhân lực do các bệnh lây truyền qua thực phẩm, thiệt hại về năng xuất lao động do bệnh tật và thiệt hại thị trường liên quan vượt quá con số 1 tỷ đô la mỗi năm (2% GDP) Điều này đã cho thấy vấn đề về an toàn thực phẩm đóng một vai trò vô cùng quan trọng và cần có sự tham gia tích cực của toàn dân các doanh nghiệp, các ban ngành và sự quan tâm sâu sắc với hệ thống quản lý an toàn thực phẩm tại các bếp ăn tập thể
2.2.2 Thuận lợi và khó khăn trong vấn đề quản lý Nhà nước về an toàn thực phẩm
2.2.2.1 Thuận lợi
Vấn đề về ATTTP trong những năm gần đây luôn được sự quan tâm theo dõi chủ chính phủ các ban ngành, giới truyền thông và nhân dân cả nước Hệ thống kiểm nghiệm về an toàn thực phẩm tường bước được kiện toàn, ngoài các phòng kiểm nghiệm của các bộ ngành đến nay đã có 20 tỉnh, thành phố có phòng kiểm nghiệm được công nhận ISO/IEC/17025 (ngành Y,21/11/2015) Công tác thông tin truyền thông được duy trì thường xuyên vè theo từng chiến dịch với sự phối hợp với các cơ quan tổ chức năng đã đem lại hiệu quả rõ rệt Cùng với đó là
sự vào cuộc mạnh mẽ của các ban ngành Tuy nhiên các vụ ngộ độc thực phẩm vẫn tiếp tục xảy ra, thậm chí còn có xu hướng phức tạp khó kiểm soát và khó xác định được nguyên nhân hơn Điều này là do đâu ? Do các văn bản quy phạm pháp luật, thông tư, nghị định không được thực hiện tốt? Hay không phù hợp ? hay do ý thức tuân thủ của cơ sở kinh doanh ăn uống chưa tốt ?
Thực tế, các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ATTP, các thông tư quy định về điều kiện chung bảo đảm ATTP đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh
Trang 3521
thực phẩm là rất nhiều ví dụ như
- Cụ thể , điều 317 quy định chi tiết
Tội vi phạm quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm
Người nào chế biến, cung cấp hoặc bán thực phẩm mà biết rõ đó là thực phẩm không đảm bảo vệ sinh an toàn gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho tính mạng, sức khỏe của người tiêu dùng, thì bị phạt tù từ một đến năm năm
Tội gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười năm năm
Người phạm tội còn có thể bị phạt từ 15.000.000 triệu đồng đến 100.000.000 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ,cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm
Tuy nhiên, qua phương tiện thông tin đại chúng thì chúng ta thấy là có rất
ít vụ việc bị khởi tố, điều tra và sử lý hình sự theo quy định của điều 244 nêu trên
Vì vậy , không tạo ra tính răn đe và không nâng cao được ý thức của người kinh doanh trong lĩnh vực này
- Thông tư 15/2015/TT – BYT Quy định về điều kiện chung bảo đảm an toàn thực phẩm;
- Thông tư 47/2014/TT-BYT hướng dẫn quản lý ATTP đối với cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống;
- Thông tư liên tịch 13/2015/TTLT- BYT – BNNPTNT- BCT hướng dẫn viên phân công phối hợp trong quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm;
- Quy định 4128/2010/QĐ- BYT Quy định về điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm tại các nhà ăn, bếp ăn tập thể và cơ sở kinh doanh chế biến suất ăn sẵn;
Trang 36- Quy định 43/2005/QĐ – BYT Quy định yêu cầu kiến thức về VSTTP đối với người trực tiếp sản xuất, kinh doanh thực phẩm;
- Nghị định số 79/2008/ NĐ – CP ngày 18/7/2008 của chính phủ về việc quy định hệ thống tổ chức quản lý, thanh tra kiểm nghiệm về VSATTP
2.2.2.2 Khó khăn
Tuy nhiên, những văn bản trên một mặt dùng chủ yếu để phục vụ thanh kiểm tra, thường là khi các vụ ngộ độc đã xảy ra rồi lúc ấy các nhà chức trách xẽ tiến hành so sánh và đối chứng dựa trên những văn bản quy định đưa ra các biện pháp nộp phạt đối với cơ sở vi phạm, mặt khác, những văn bản trên đa phần thiếu
sự hướng dẫn cụ thể cho các cơ sở làm sao để giúp họ thực hiện tốt vấn đề đản bảo an toàn thực phẩm phù hợp với từng đặc thù cơ sở của họ Kiến những người chủ các cơ sở sản xuất kinh doanh thực phẩm có tư tưởng thực hiện để đối phó khi có sự kiểm tra của cơ quan chức năng
Đối với các chương trình quản lý an toàn thực phẩm tiến tiến như ISO
22000, và HACCP thì đây là những chương trình phát huy hiệu quả rất cao cho: Các nông trại, ngư trường và trang trại sữa; các đơn vị chế biến thịt, cá và thức
ăn chăn nuôi; các nhà máy sản xuất bánh mỳ ngũ cố, thức uống, thực phẩm đông lạnh hoặc đóng hộp; các dịch vụ hỗn hợp bao gồm lưu trữ và phân phối thực phẩm, phụ gia nguyên vật liệu Dịch vụ dọn dẹp và vệ sinh đóng gói Tuy nhiên vấn đề đảm bảo ATTP cho các nhóm ngành chế biến và phục vụ ăn uống bao gồm: Nhà hàng khách sạn, bếp ăn tập thể, thức ăn nhanh và thức ăn đường phố
có đặc điểm là có chế biếp phụ vụ ăn ngay tại chỗ hoặc mang đi nhưng thực phẩm được chế và ăn ngay lại gặp khá nhiều khó khăn trong khi đó các vụ ngộ độc thực phẩm từ các cơ sở này lại đóng vai trò vô cùng lớn và gây thiệt hại nặng
nề về người và của Đặc thù của các nhóm ngành này lại rất đặc biệt, từ lực lượng tham gia chế biến đến nguồn cung cấp thực phẩm đầu vào vào điều kiện cơ
sở vật chất rất đa dạng và rất khó kiểm soát Bao gồm sự phức tạp về các công đoạn trong chế biến nấu ăn; lực lượng tham gia sản xuất, chế biến không được đào tạo về các kiến thức quản lý an toàn còn ít do chủ yếu các lao động phổ thông và thường xuyên biến động mặt khác tiềm lực về kinh tế đa số là hạn chế 2.2.2.3 Bài học cho huyện Khoái Châu trong việc quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm
Vệ sinh an toàn thực phẩm đang là đề tài nóng bỏng của chúng ta hiện nay,
Trang 37- Nhất thiết phải xây dựng được hệ thống quy định pháp luật đồng bộ từ các biện pháp VSATTP đến các biện pháp kiểm dịch động vật theo tiêu chuẩn chung quốc tế (có tính đến điều kiện cụ thể của đất nước) Hệ thống này phải đầy
đủ trên các khía cạnh về luật thực phẩm, phụ gia thực phẩm, ethanol vấn đề hóa chất bảo vệ thực vật, vấn đề kiểm dịch …và việc cụ thể hóa các quy định của pháp luật bằng những biện pháp cụ thể trong từng hoạt động sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu, lưu thông thực phẩm đóng vai trò quan trọng khi thực thi chúng
- Trên cơ sở nguyên tắc tiếp cận hệ thống và toàn bộ chu trình thực phẩm, xây dựng bộ máy quản lý và kiểm soát VSATTP, phân công trách nhiệm các bộ/ ngành, địa phương liên quan và cơ chế phối hợp giữa chúng bởi năng lực của bộ máy là yếu tố quyết định hiệu quả công tác quản lý thực phẩm
- Công tác thanh tra là biện pháp quan trọng nhất trong kiểm soát thực phẩm, vì vậy cần có đội ngũ thanh tra đủ lớn và bảo đảm đủ năng lực chuyên môn mới kiểm soát và xử lý được tất cả các khâu của chu trình thực phẩm
- Cần xây dựng hệ thống tiêu chuẩn VSATTP mang tính khả thi, hiệu quả cao trong phòng ngùa và xử lý, khắc phục những vi phạm an toàn thực phẩm sao cho phù hợp với điều kiện của Việt Nam, đặc biệt là phù hợp về mức thu nhập và tập quán ăn uống Tuy nhiên, trong công tác xây dựng tiêu chuẩn vẫn cần lấy chuẩn quốc tế làm cơ sở để từng bước điều chỉnh quy định trong nước, nhất là các quy định liên quan đến thực phẩm xuất khẩu và kiểm soát nhập khẩu
- Xác định hệ thống HACCP là điều kiện tiên quyết đề thâm nhập vào thị trường quốc tế, phát triển kinh doanh, do đó các doanh nghiệp sản xuất và chế biến thực phẩm xuất khẩu cần hết sức chú trọng điều này
- Hệ thống kiểm nghiệm, phân tích thực phẩm có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm tính chính xác, khoa học của hoạt động thanh tra, kiểm tra chất lượng VSATTP để từ đó rà soát, sửa đổi, bổ xung những quy định cho phù hợp thực tế, vì vậy Việt nam nhất thiết cần xây dựng, quy định cụ thể chức năng,
Trang 38quyền hạn của các phòng thí nghiệm, hệ thống phòng phân tích chuẩn kiểm nghiệm chất lượng VSATTP ở tỉnh và các trung tâm y tế dự phòng cấp huyện
- Hoàn thiện hệ thống phân phối và bán lẻ trong nước để khỏi bỏ sót một loại hàng hóa nào liên quan đến vấn đề ăn, uống của người dân mà không được kiểm soát chất lượng VSATTP
2.2.3 Những bài học kinh nghiệm rút ra cho huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên
- Trong những năm gần đây trên địa bàn huyện liên tiếp xảy ra các vụ ngộ độc thực phẩm với quy mô ngày càng rộng, tỷ lệ bệnh nhân phải nhập viện do ngộ độc thực phẩm cũng tăng cao, không chỉ gây ảnh hưởng tới sức khỏe và cuộc sống của con người, mà còn thiệt hại về kinh tế đối với cá nhân người mắc bệnh, gia đình họ và cả cộng đồng Các bệnh này đã tạo ra một gánh nặng lớn cho hệ thống chăm sóc sức khỏe và giảm đáng kể năng suất kinh tế Chính vì vậy việc đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm được coi là một trong những vấn đề quan trọng trong việc bảo vệ sức khỏe nhân dân, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế -
xã hội của thế kỷ 21
- Các cơ quan quản lý nhà nước được giao nhiệm vụ này cần đẩy mạnh các hoạt động (thanh tra, kiểm tra, giám sát; thông tin, truyền thông , giáo dục…), nhằm nâng cao nhận thức của người sản xuất, chế biến và người tiêu dùng, góp phần hạn chế ngộ độc thực phẩm xẩy ra, tăng cường bảo vệ sức khỏe nhân dân, từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống
- Xây dựng mô hình điểm chợ điểm về VSATTP tại các cơ sở kinh doanh
ăn uống, khuyến khích người dân sản xuất, chăn nuôi sạch bằng cách quy hoạch các điểm trồng rau sạch và xây dựng mô hình chăn nuôi an toàn
Hiện nay huyện Khoái Châu cũng như nhiều huyện trong cả nước đã có quy hoạch vùng sản xuất rau an toàn, tập trung ở khu vực Văn Lâm và huyện Văn Đức Trong tương lai hai điểm này sẽ cung cấp rau xanh cho toàn tỉnh
Hưng Yên là tỉnh có rất nhiều khu công nghiệp phát triển như: KCN Phố Nối A, KCN Minh Đức, KCN TX Hưng Yên nhiều làng nghề truyền thống và lễ hội, thu hút số lượng lao động lớn đến làm việc, thăm quan Đảm bảo VSATTP
để hạn chế ngộ độc thực phẩm, đồ uống xẩy ra trong các bếp ăn tập thể và trong dịp lễ hội truyền thống, luôn là mối quan tâm của các nhà quản lý về vệ sinh an toàn thực phẩm Việc xây dựng các mô hình điểm về VSATTP là điều hết sức
Trang 3925
cần thiết trong thời điểm này Hiện tại, huyện vẫn chưa thực hiện xây dựng được mô hình tiên tiến về VSATTP, chưa có lò giết, mổ gia súc tập trung… việc quy hoạch 2 điểm trồng rau sạch cũng chưa thực hiện được
Trang 40PHẦN 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
3.1.1 Đặc điểm về tự nhiên
Hình 3.1 Bản đồ vị trí huyện khoái châu
Nguồn: Phòng thống kê huyện Khoái Châu (2016)
Huyện Khoái Châu nằm ở phía Bắc của tỉnh Hưng Yên có: phía Nam và Đông Nam giáp huyện Kim Động; phía Đông giáp huyện Ân Thi; phía Đông Bắc
và Bắc giáp huyện Yên Mỹ; phía Tây Bắc giáp huyện Văn Giang; phía Tây giáp các xã nằm trong huyện Thường Tín, Hà Nội, ranh giới là sông Hồng Huyện được tái lập từ ngày 01/9/1999 có 25 đơn vị hành chính, gồm 24 xã và 1 thị trấn, với tổng diện tích đất tự nhiên là 13091,55 ha, có hệ thống đường giao thông đồng bộ như đường quốc lộ 39A, các tỉnh lộ 199, 209, 205, 206, 209, đường 195 thuộc tuyến đê sông Hồng và đường liên tỉnh Hà Nội – Hưng Yên (đường 206) đang được triển khai thi công là điều kiện tốt cho phát triển kinh tế, thương mại, văn hoá, du lịch của huyện
- Địa hình: