Đánh giá về vấn đề nguồn lực trong thực hiện các chính sách, chương trình hỗ trợ y tế cho người nghèo tại huyện Mường Khương .... Cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam Hiện nay, c
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN MINH ĐỨC
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC THI CHÍNH SÁCH
HỖ TRỢ Y TẾ CHO NGƯỜI NGHÈO
Ở HUYỆN MƯỜNG KHƯƠNG, TỈNH LÀO CAI
Người hướng dẫn khoa học : GS.TS Đỗ Kim Chung
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIÊP – 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Minh Đức
Trang 3LỜI CẢM ƠN Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng
và biết ơn sâu sắc tới GS.TS Đỗ Kim Chung, người đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo,
Bộ môn Kinh tế nông nghiệp và Chính sách, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức UBND tỉnh Lào Cai, các Sở ban ngành liên quan, UBND huyện Mường Khương, Phòng Lao động – Thương binh – Xã hội, Phòng Y tế cùng các Phòng ban khác và các xã có liên quan đến đề tài nghiên cứu đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Minh Đức
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục từ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục đồ thị, hộp, sơ đồ viii
Trích yếu luận văn ix
Thesis abstract xi
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 2
1.3.1 Phạm vi nghiên cứu 2
1.3.2 Đối tượng nghiên cứu 3
1.4 Đóng góp của luận văn 3
Phần 2 Tổng quan cơ sở lý luận và thực tiễn về đánh giá tình hình thực thi chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo 5
2.1 Cơ sở lý luận về đánh giá thực thi chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo 5
2.1.1 Khái niệm và bản chất của chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo 5
2.1.2 Vai trò của thực thi chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo 11
2.1.3 Đặc điểm của thực thi chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo 12
2.1.4 Nội dung nghiên cứu 12
2.1.5 Yếu tố ảnh hưởng đến thực thi chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo 17
2.2 Cơ sở thực tiễn về đánh giá tình hình thực thi chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo 18
2.2.1 Kinh nghiệm của các nước trên thế giới 18
2.2.2 Kinh nghiệm của các địa phương khác ở Việt Nam 19
2.2.3 Bài học kinh nghiệm 21
Phần 3 Phương pháp nghiên cứu 23
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 23
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên tỉnh Lào Cai 23
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội tỉnh Lào Cai 24
3.1.3 Đặc điểm về lĩnh vực y tế của tỉnh Lào Cai 26
3.1.4 Điều kiện tự nhiên của huyện Mường Khương 29
Trang 53.1.5 Đặc điểm dân số, lịch sử, kinh tế huyện Mường Khương 30
3.2 Phương pháp nghiên cứu 31
3.2.1 Cách chọn điểm nghiên cứu 31
3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin, số liệu 31
3.2.3 Chỉ tiêu nghiên cứu 33
3.2.4 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 34
Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 36
4.1 Thực trạng thực thi chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo tại huyện mường khương trong giai đoạn 2010–2015 36
4.1.1 Các chính sách, chương trình và hoạt động hỗ trợ y tế cho người nghèo tại huyện Mường Khương trong giai đoạn 2010–2015 36
4.1.2 Tình hình thực thi các chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo tại huyện Mường Khương 44
4.1.3 Kết quả thực hiện chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo tại huyện Mường Khương giai đoạn 2012-2015 54
4.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới tình hình thực thi chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo tại huyện mường khương 71
4.2.1 Nguồn kinh phí cho thực thi chính sách 71
4.2.2 Năng lực tổ chức triển khai thực hiện chính sách của cán bộ thực thi 72
4.2.3 Ảnh hưởng của phong tục tập quán tới thực thi chính sách 74
4.2.4 Trình độ học vấn của người dân 77
4.3 Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo tại huyện mường khương 79
4.3.1 Hoàn thiện hệ thống chính sách để hỗ trợ tốt hơn về y tế cho người nghèo 79
4.3.2 Tiếp tục kêu gọi phát triển các tổ chức thực hiện những hoạt động hỗ trợ y tế cho người nghèo 80
4.3.3 Tiếp tục phát huy sự đa dạng trong hình thức tuyên truyền, phổ biến chính sách 81
4.3.4 Thay đổi, cải thiện cách thức phân bổ nguồn lực cho thực thi chính sách 81
4.3.5 Tiếp tục đầu tư xây dựng, nâng cấp các cơ sở y tế ở các phường, xã, thôn, bản 82
4.3.6 Tăng cường thêm số lượng và đào tạo thêm chất lượng cho đội ngũ y bác sĩ, nhân viên y tế 83
4.3.7 Cải thiện nội dung hỗ trợ BHYT và nâng cao chất lượng dịch vụ y tế khi khám chữa bệnh bằng thẻ BHYT 84
4.3.8 Nâng cao trình độ cho cán bộ thực thi chính sách tại địa phương 85
Trang 64.3.9 Tiếp tục phát huy nét văn hóa, phong tục hay của các dân tộc, dần loại bỏ
những hủ tục, tập quán lạc hậu 85
4.3.10 Nâng cao dân trí, tăng khả năng tiếp cận chính sách cho người dân 86
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 88
5.1 Kết luận 88
5.2 Kiến nghị 89
5.2.1 Kiến nghị với các cơ quan Trung ương 89
5.2.2 Kiến nghị với địa phương 90
Tài liệu tham khảo 91
Phụ lục 93
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Nghĩa tiếng việt BHYT : Bảo hiểm y tế BHXH : Bảo hiểm xã hội DTTS : Dân tộc thiểu số DSTB : Dân số trung bình KCB : Khám chữa bệnh KHHGĐ : Kế hoạch hóa gia đình LĐTBXH : Lao động – Thương binh – Xã hội UBND : Ủy ban nhân dân
Trang 8
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Tỷ lệ hộ nghèo tại tỉnh Lào Cai giai đoạn 2010–2014 25
Bảng 3.2 Thu nhập BQ đầu người/tháng và mức chênh lệch thu nhập giữa các nhóm thu nhập tại tỉnh Lào Cai 26
Bảng 3.3 Đặc điểm diện tích, dân số huyện Mường Khương 30
Bảng 3.4 Tốc độ phát triển bình quân dân số TB của huyện Mường Khương 30
Bảng 3.5 Số mẫu điều tra của đề tài 32
Bảng 4.1 Các chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo trên địa bàn huyện Mường Khương 38
Bảng 4.2 Các chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo cần sửa đổi, bổ sung hoặc thêm mới 41
Bảng 4.3 Khả năng tiếp cận của người nghèo đến chính sách hỗ trợ y tế tại huyện Mường Khương 47
Bảng 4.4 Hình thức phổ biến, tuyên truyền các chính sách hỗ trợ y tế đến người dân 48
Bảng 4.5 Đánh giá về vấn đề nguồn lực trong thực hiện các chính sách, chương trình hỗ trợ y tế cho người nghèo tại huyện Mường Khương 52
Bảng 4.6 Công tác giám sát, đánh giá các CS hỗ trợ y tế cho người nghèo tại huyện Mường Khương 53
Bảng 4.7 Số cơ sở y tế và số giường bệnh trên địa bàn huyện Mường Khương trong giai đoạn 2012-2015 55
Bảng 4.8 Sự thay đổi về đội ngũ cán bộ y tế tại các cơ sở y tế trên địa bàn huyện Mường Khương 56
Bảng 4.9 Đánh giá của người dân về hệ thống trang thiết bị y tế tại các cơ sở y tế 58
Bảng 4.10 Kết quả về BHYT và KHHGĐ cho người nghèo 59
Bảng 4.11 Những hỗ trợ về chi phí phát sinh khi khám chữa bệnh tại bệnh viện huyện Mường Khương 62
Bảng 4.12 Kết quả về hỗ trợ KHHGĐ cho các nhóm đối tượng 64
Bảng 4.13 Một số chỉ tiêu chăm sóc sức khỏe của huyện Mường Khương 65
Bảng 4.14 Đánh giá của người dân về chất lượng dịch vụ y tế 68
Bảng 4.15 Đánh giá về nguồn kinh phí cho thực hiện các chính sách 71
Bảng 4.16 Khó khăn do phong tục tập quán, phong cách sinh hoạt đến thực thi chính sách 75
Bảng 4.17 Ảnh hưởng của yếu tố dân tộc đến tiếp cận chính sách và các dịch vụ y tế 76
Bảng 4.18 Ảnh hưởng của trình độ học vấn đến việc tiếp cận các chính sách và dịch vụ hỗ trợ y tế 78
Trang 9DANH MỤC ĐỒ THỊ, HỘP, SƠ ĐỒ
Đồ thị:
Đồ thị 4.1 Ý kiến đánh giá của cán bộ thực thi về năng lực phối hợp các bên
liên quan trong tổ chức triển khai các hoạt động hỗ trợ y tế 522
Đồ thị 4.2 Đánh giá của người dân khi khám chữa bệnh bằng thẻ BHYT so với
khám chữa bệnh bằng dịch vụ trả tiền 612
Đồ thị 4.3 Đánh giá của nhóm người thuộc các hộ nghèo về mức chi phí khám
chữa bệnh hiện nay tại các cơ sở y tế trên địa bàn huyện 70
Đồ thị 4.4 Đánh giá của nhóm người thuộc các hộ cận nghèo về chi phí khám chữa bệnh hiện nay tại các cơ sở y tế trên địa bàn huyện 70
Đồ thị 4.5 Ý kiến đánh giá của cán bộ thực thi về năng lực quản lý và điều phối
của các cán bộ thực thi trong tổ chức triển khai các hoạt động hỗ trợ y tế 72
Đồ thị 4.6 Ý kiến đánh giá của cán bộ thực thi về năng lực quản lý sự thay đổi
của các cán bộ thực thi các chính sách hỗ trợ y tế 73
Hộp: Hộp 4.1 Phân công trách nhiệm giữa các cơ quan trong huyện 51
Hộp 4.2 Những khó khăn trong việc vận động tiêm vắc xin cho trẻ em 67
Hộp 4.3 Sự nhiệt tình của cán bộ y tế làm thay đổi ý thức của người dân 69
Hộp 4.4 Chị Khoa “chuẩn y tế” - Bác sĩ của bản 74
Sơ đồ: Sơ đồ 4.1 Cơ quan lập kế hoạch, phê duyệt và ban hành chính sách hỗ trợ y tế
cho người nghèo ở huyện Mường Khương 44
Trang 10TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
1 Tên tác giả: Nguyễn Minh Đức
2 Tên luân văn: “Đánh giá tình hình thực thi chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo ở huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai”
3 Ngành: Kinh tế nông nghiệp Mã số: 60.62.01.15
4 Cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Hiện nay, các chương trình, chính sách hỗ trợ về y tế cho người nghèo, cận nghèo, người dân tộc thiểu số nhằm nâng cao khả năng tiếp cận với các dịch
vụ y tế cũng như năng lực của các cơ sở y tế tại các khu vực còn khó khăn, trong quá trình thực thi, nhiều chương trình, chính sách hỗ trợ về y tế còn bộc lộ những bất cập và hạn chế nên hiệu quả chưa cao Vì vậy, việc thực hiện đề tài nghiên cứu “Đánh giá tình hình thực thi chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo ở huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai” là thực sự rất cần thiết
Mục tiêu chung đặt ra của luận văn là: Đánh giá được tình hình thực thi các chính sách hỗ trợ về y tế cho người nghèo ở huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai để từ đó đề xuất các giải pháp để thực hiện có hiệu quả các chính sách hỗ trợ
về y tế cho người nghèo ở địa phương Với mục tiêu chung như vậy, có ba mục tiêu cụ thể để hướng đến giải quyết gồm có: (1) Góp phần hệ thống hóa các cơ sở
lý luận và thực tiễn về chính sách và thực thi chính sách về vấn đề hỗ trợ y tế; (2) Đánh giá được thực trạng tình hình thực thi các chính sách hỗ trợ về y tế cho người nghèo ở huyện Mường Khương; (3) Đề xuất được các giải pháp để thực hiện có hiệu quả hơn các chính sách hỗ trợ về y tế cho người nghèo ở huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai
Thông tin thứ cấp được thu thập thông qua các nội dung cần thiết thu thập được tại các cơ quan quản lý Nhà nước Số liệu mới được điều tra bằng cách sử dụng bảng câu hỏi với những người dân thuộc các nhóm hộ nghèo, cận nghèo và không nghèo trên địa bàn 2 xã Bản Lầu và Bản Xen của huyện Mường Khương, với tổng số lượng mẫu là 120 mẫu Các phương pháp phân tích thông tin gồm: Phân tổ thống kê; Thống kê mô tả; Phân tích so sánh Số liệu điều tra được xử lý, tính toán trên phần mềm Excel và SPSS với phương pháp thống kê mô tả, bình quân, tần suất và phân tích xu hướng Sau đó trình bày các thông tin thu được dưới dạng các bảng biểu, sơ đồ, đồ thị
Trang 11Các chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo ở huyện Mường Khương khá nhiều và đa dạng UBND tỉnh Lào Cai ban hành với sự lập kế hoạch, giám sát, kiểm tra của Sở Y tế, Sở LĐTBXH và các Sở có liện quan Việc phân công, phân cấp, phối hợp hoạt động của các cơ quan rất rõ ràng và đúng nhiệm vụ Tuy vậy, vấn đề phân bổ nguồn lực cho thực thi chính sách còn thiếu, chậm trễ, chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế, từ đó gây ra sự chậm trễ trong quá trình thực thi chính sách, làm lãng phí nguồn lực
Các cơ sở y tế đã được xây dựng, nâng cấp; Đội ngũ cán bộ y tế, các y bác
sĩ cũng được chú ý đào tạo, bồi dưỡng năng lực; Hệ thống trang thiết bị, máy móc phục vụ khám chữa bệnh cũng đã được nâng cấp; Vấn đề tiêm chủng, dinh dưỡng đã được chú trọng và quan tâm; Những hỗ trợ về chi phí đi lại và chi phí
ăn uống trong quá trình khám chữa bệnh nội trú tại bệnh viện huyện đã được làm tốt; Đặc biệt vấn đề BHYT đã được ngành y tế và ngành LĐTBXH thực hiện rất tốt, đạt được hiệu quả cao Tuy nhiên, đội ngũ y bác sĩ còn thiếu về số lượng và yếu về chất lượng, hệ thống trang thiết bị còn chưa đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh, các cơ sở y tế xã, phường, thôn, bản còn chưa được chú trọng đầu tư đúng mức Bên cạnh đó, nguồn kinh phí cho thực thi chính sách, năng lực của các cán bộ thực thi chính sách, vấn đề phong tục, tập quán, dân tộc của người dân
và trình độ dân trí của họ còn nhiều hạn chế, gây khó khăn cho quá trình thực thi các chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo tại địa phương
Từ những điểm tích cực cũng như hạn chế nêu trên, 10 giải pháp được đưa
ra gồm có: (1) Hoàn thiện hệ thống chính sách để hỗ trợ tốt hơn về y tế cho người nghèo; (2) Tiếp tục phát huy sự đa dạng trong hình thức tuyên truyền, phổ biến chính sách; (3) Thay đổi, cải thiện cách thức phân bổ nguồn lực cho thực thi chính sách; (4) Tiếp tục đầu tư xây dựng, nâng cấp các cơ sở y tế ở các phường,
xã, thôn, bản; (5) Tăng cường thêm số lượng và đào tạo thêm chất lượng cho đội ngũ y bác sĩ, nhân viên y tế; (6) Cải thiện nội dung hỗ trợ BHYT và nâng cao chất lượng dịch vụ y tế khi khám chữa bệnh bằng thẻ BHYT; (7) Tiếp tục kêu gọi phát triển các tổ chức thực hiện những hoạt động hỗ trợ y tế cho người nghèo; (8) Nâng cao trình độ cho cán bộ thực thi chính sách tại địa phương; (9) Tiếp tục phát huy nét văn hóa, phong tục hay của các dân tộc, dần loại bỏ những hủ tục, tập quán lạc hậu; (10) Nâng cao dân trí, tăng khả năng tiếp cận chính sách cho người dân
Trang 12THESIS ABSTRACT
1 Author: Nguyen Minh Duc
2 Title of the study: “Evaluate the situation of the pro-poor healthcare
policy implementation in Muong Khuong district, Lao Cai province”
3 Major: Agricultural Economics Code: 60.62.01.15
4 Educational institution: Vietnam National University of Agriculture
With an aim to improving the accessibility of the poor, near poverty and ethnic minorities to the healthcare services, as well as enhancing the capacity of the healthcare facilities in the underprivileged areas, a lot of pro-poor healthcare policies have been issued and implemented The enforcement of those policies, in reality, has revealed a variety of shortcomings As a consequence, the outcome of the pro-poor healthcare policies and programs have not achieved the expected efficiency In this situation, the implementation of the study “Evaluate the situation
of the pro-poor healthcare policy implementation in Muong Khuong district, Lao Cai province” proves to be essential
In overall, on the basis of the evaluation of the pro-poor healthcare policies implementation situation in Muong Khuong district, Lao Cai province, the thesis seeks to propose the solutions to enhancing the efficiency of those policies implementation at the local area This overall objective of the study could be decomposed into three specific ones, including: (1) To review the theoretical and empirical framework for the healthcare policy implementation; (2) To evaluate the current situation of implementing the pro-poor healthcare policy in Muong Khuong district; (3) To propose the solutions to enhancing the efficiency of the pro-poor healthcare policy implementation in Muong Khuong district, Lao Cai province
The study has utilized both secondary and primary data The former is the related information provided by the state agencies The latter has been collected through the surveys by questionnaire in 120 households classified into three categories, i.e the poor, near-poverty and non-poverty, at Ban Lau and Ban Xen communes, Muong Khuong district Subsequently, the collected data is processed by Excel and SPSS, before being analyzed with the use of disaggregated data statistics, descriptive statistics, average, frequency analysis and comparison method Such processed data is finally presented in the forms of tables, figures and charts
Trang 13It has been found that the situation of the pro-poor healthcare policy implementation in the studied areas have both positive and negative sides On the one hand, positively, the task division, decentralization and coordination among Lao Cai province People’s Committee and the related departments, i.e Department
of Health, Department of Labor-Invalids and Social Affairs and other related ones are clearly defined To specify, Lao Cai province People’s Committee has promulgated the pro-poor healthcare policies while those departments are in charge of planning, supervision and monitoring the policy enforcement Better still, it is also found that there have been improvements in the healthcare services, including the renovation of the healthcare facilities and equipment, the capacity building of the medical staff; improvement in vaccination and nutrition issues; the financial support for the inpatient treatment patients in the district hospitals; the high efficiency of the health insurance policy On the other hand, negatively, the resources for the policy implementation process have not been distributed timely and appropriately As a result, that process has not been implemented efficiently while the resource is being wasted In addition, there are several emergent issues, including the inadequacy in the quality and quantity of the medical staff; poor-equipped infrastructure; the lack of investment in the village healthcare facilities Worse still, the limited budget, the underqualification of the policy enforcement officers, the locals’ low educational level of the locals and their outdated customs and traditions challenge the pro-poor healthcare policy enforcement process
Based on the analysis of both the advantages and disadvantages of the poor healthcare policy enforcement, the study proposes ten recommendations, including: (1) Complete the pro-poor healthcare policy framework; (2) Promote and diversify the forms of policy propaganda; (3) Adjust the resource distribution for the policy enforcement; (4) Continue the investment in constructing and upgrading the healthcare facilities at the commune and village levels; (5) Enhance both the quantity and quality of the doctors and medical staff; (6) Make appropriate amendments to the health insurance and better its accompanied healthcare services; (7) Continue to call for the support from development organizations when implementing pro-poor healthcare activities; (8) Upgrade the qualification of the local policy enforcement officers; (9) Promote the distinguished customs and traditions while gradually eradicate the outdated ones; (10) Raise the locals’ awareness and their policy outreach
Trang 14pro-PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Hiện nay, Việt Nam là một trong những quốc gia nằm trong nhóm đang phát triển Do vậy, trong quá trình phát triển của mình, Việt Nam còn gặp phải rất nhiều những khó khăn và thách thức Một trong những khó khăn, thách thức lớn nhất mà Việt Nam gặp phải trong quá trình phát triển là tình trạng nghèo vẫn còn cao và gây ảnh hưởng đến phát triển kinh tế cũng như xã hội
Thành tích của Việt Nam về giảm nghèo trong thời gian qua là rất lớn Tuy vậy, nhiệm vụ giảm nghèo của Việt Nam vẫn chưa hoàn tất Nếu xét trên một số phương diện khác nhau thì nhiệm vụ đó hiện nay thậm chí còn khó khăn hơn Trong những vùng nghèo của Việt Nam, các tỉnh Tây Bắc là những tỉnh có tỷ lệ nghèo khá cao và gặp nhiều vấn đề khó khăn trong việc giảm nghèo Đây cũng là vùng có số lượng đồng bào các dân tộc thiểu số chiếm đa số Bởi vậy, Nhà nước
đã có nhiều chương trình, chính sách xóa đói, giảm nghèo cho các tỉnh này Trong các tỉnh vùng Tây Bắc, Lào Cai là tỉnh đã thực hiện khá tốt và đã có được một số kết quả trong quá trình thực thi các chương trình xóa đói, giảm nghèo
Các chương trình xóa đói, giảm nghèo ở tỉnh Lào Cai nói riêng và trên cả nước nói chung đề cố gắng tăng thu nhập và chất lượng cuộc sống cho những người dân nghèo Trong đó, vấn đề về y tế là vấn đề rất quan trọng đối với người nghèo và đang được Đảng và Nhà nước quan tâm Các chương trình, chính sách
hỗ trợ về y tế cho đồng bào nghèo nhằm nâng cao khả năng tiếp cận với các dịch
vụ y tế cũng như đảm bảo điều kiện sức khỏe, điều kiện sống cho người dân nghèo tại các khu vực còn khó khăn, đồng bào các dân tộc thiểu số ở các xã đặc biệt khó khăn, miền núi, biên giới và vùng sâu, vùng xa; tạo điều kiện đưa nông thôn các vùng này thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, chậm phát triển, có thể nhanh chóng hoà nhập vào sự phát triển chung của cả nước; góp phần bảo đảm sự phát triển đồng đều về kinh tế - xã hội, bảo đảm về trật tự an toàn xã hội,
an ninh quốc phòng
Trong các huyện, thành phố tại Lào Cai, Mường Khương là một trong những huyện khó khăn, tình trạng nghèo còn khá là phức tạp Do đó, Mường Khương cũng là một trong những huyện được nhận nhiều các chính sách, chương trình hỗ trợ giảm nghèo như 30a, 167, 135… Như vậy, để tiến hành thực hiện nghiên cứu đánh giá về tình hình thực thi chính sách hỗ trợ giảm nghèo nói
Trang 15chung và về hỗ trợ y tế cho người nghèo nói riêng thì Mường Khương là địa phương rất phù hợp
Tuy nhiên, trong quá trình thực thi, nhiều chương trình, chính sách hỗ trợ
về y tế còn bộc lộ những bất cập và hạn chế nên hiệu quả chưa cao Quá trình thực thi các chương trình, chính sách hỗ trợ còn gặp phải nhiều khó khăn cả về điều kiện khách quan lẫn chủ quan Vì vậy, việc thực hiện đề tài nghiên cứu
“Đánh giá tình hình thực thi chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo ở huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai” là thực sự rất cần thiết cho cả đồng bào nghèo, đồng bào DTTS và cả những người làm công tác ra chính sách và thực thi chính sách của địa phương cũng như của tỉnh Lào Cai
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá được tình hình thực thi các chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo
ở huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai Từ đó đề xuất các giải pháp để thực hiện có hiệu quả các chính sách hỗ trợ về y tế cho người nghèo ở địa phương
Đề xuất được các giải pháp để thực hiện có hiệu quả hơn các chính sách
hỗ trợ y tế cho người nghèo ở huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai
1.3 PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
1.3.1 Phạm vi nghiên cứu
a Phạm vi nội dung
Phạm vi về nội dung của đề tài bao gồm nghiên cứu về các chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo ở huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai, vấn đề thực thi các chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo ở huyện, kết quả thực hiện và các yếu
tố ảnh hưởng tới chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo ở huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai
b Phạm vi thời gian
Các số liệu, thông tin của nghiên cứu về thực thi chính sách trong đề tài là các số liệu, thông tin trong phạm vi thời gian 4 năm, từ năm 2012 đến 2015
Trang 16c Phạm vi không gian
Đề tài nghiên cứu được thực hiện trên địa bàn tỉnh huyện Mường Khương, Lào Cai Trong đó lựa chọn thực hiện nghiên cứu điều tra số liệu mới tại 2 xã là Bản Lầu và Bản Xen của huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai
1.3.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng của đề tài nghiên cứu là thực thi chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo tại huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai
1.4 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
Luận văn “Đánh giá tình hình thực thi chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo ở huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai” là một nghiên cứu rất thiết thực đối với vấn đề hỗ trợ y tế cho người nghèo và vấn đề giảm nghèo theo góc độ nghèo
đa chiều Nội dung luận văn đề cập đến một góc nhìn từ vấn đề giúp người nghèo tiếp cận được với các dịch vụ xã hội (cụ thể là vấn đề y tế) trong nghèo đa chiều
Luận văn đã góp phần hệ thống hóa được các nội dung lý luận cũng như các vấn đề thực tiễn về thực thi chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo Việc hệ thống hóa này giúp cho luận văn này có thể trở thành tài liệu tham khảo khoa học khá hữu ích cho những người muốn nghiên cứu, tìm hiểu về giảm nghèo cũng như thực thi chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo
Luận văn đã đánh giá về các vần đề của thực thi chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo như: lập kế hoạch; Phân công, phân cấp, phối hợp hoạt động; Tuyên truyền, phổ biến chính sách; Bố trí nguồn lực; Công tác đánh giá, giám sát thực thi chính sách Từ đó luận văn đã nêu ra những vấn đề còn hạn chế, bất cập xuất hiện trong quá trình thực thi các chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo
Luận văn đã đưa ra và đánh giá được những kết quả của thực thi chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo Luận văn đã nêu được các hạn chế, tồn tại của vấn đề phát triển cơ sở hạ tầng cũng như bất cập của việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ y bác sĩ thực hiện khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế trên địa bàn huyện Tuy nhiên, luận văn cũng đã đưa ra được sự thành công trong vấn đề hỗ trợ về tiếp cận với các dịch vụ y tế, đặc biệt là vấn đề hỗ trợ cấp phát miễn phí thẻ BHYT cho người nghèo, cận nghèo…
Luận văn đã đánh giá sự ảnh hướng của một số yếu tố như nguồn kinh phí, năng lực của đội ngũ cán bộ, ảnh hưởng của phong tục tập quán và trình độ
Trang 17dân trí của người dân Đây là căn cứ khá quan trọng để có những giải pháp nhằm tác động đến những yếu tố này để nâng cao hiệu quả thực thi chính sách hỗ trợ y
tế cho người nghèo
Từ các kết quả nêu trên, luận văn đã đề xuất được 10 giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo trên địa bàn huyện Mường Khương nói riêng và tỉnh Lào Cai nói chung Các giải pháp tác động đến nhiều vấn đề, từ việc hoàn thiện hệ thống chính sách, phát triển cơ sở hạ tầng đến nâng cao trình độ của cán bộ y tế, nâng cao dân trí cho người dân… Đó là những giải pháp khá hoàn thiện và đầy đủ để có thể hoàn thiện và nâng cao công tác hỗ trợ y tế tại địa phương cũng như làm cơ sở để có thể đề xuất những chính sách hỗ trợ hiệu quả hơn trong tương lai
Trang 18PHẦN 2 TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC THI CHÍNH SÁCH
HỖ TRỢ Y TẾ CHO NGƯỜI NGHÈO
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ THỰC THI CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ
Y TẾ CHO NGƯỜI NGHÈO
2.1.1 Khái niệm và bản chất của chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo 2.1.1.1 Các khái niệm liên quan đến thực thi chính sách hỗ trợ y tế
a Khái niệm chính sách
Hiện nay, có rất nhiều các tác giả, nhà chuyên môn, nhà nghiên cứu đã đưa ra khái niệm về chính sách Tuy nhiên, có thể hiểu: Chính sách là phương cách, đường lối hoặc phương hướng dẫn dắt hành động trong việc phân bổ và sử dụng nguồn lực Chính sách là tập hợp các quyết sách của Chính phủ được thể hiện ở hệ thống quy định trong các văn bản pháp quy nhằm từng bước tháo gỡ những khó khăn trong thực tiễn, điều khiển nền kinh tế, hướng tới những mục tiêu nhất định, bảo đảm sự phát triển ổn định của nền kinh tế (Phạm Vân Đình, 2008)
Chính sách là sự kết hợp của đường lối, mục tiêu và phương pháp mà Chính phủ lựa chọn đối với lĩnh vực kinh tế, kể cả các mục tiêu mà Chính phủ tìm kiếm và sự lựa chọn các phương pháp để theo đuổi mục tiêu đó (Nguyễn Đức Quyền, 2006)
Chính sách là sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt được một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra (Hoàng Phê, 2010)
Chính sách là những quyết định, quy định của Nhà nước (tức là các cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương) được cụ thể hóa thành các chương trình, dự án cùng các nguồn nhân lực, vật lực, các thể thức, quy trình hay cơ chế thực hiện nhằm tác động vào đối tượng có liên quan, thay đổi trạng thái của đối tượng theo hướng mà Nhà nước mong muốn (Phạm Xuân Nam, 2003)
Hiện nay, ở Việt Nam có một số loại văn bản chính sách như sau:
- Nghị định: Là văn bản pháp quy của Chính phủ về một lĩnh vực hoặc một ngành cụ thể Nghị định thường định ra cho một thời gian dài và phát huy tác dụng trong thời gian dài Đây là loại văn bản mang tính pháp quy cao nhất, quan trọng
Trang 19nhất, chứa đựng đầy đủ nhất tinh thần của một chính sách Nghị định được ban hành
do Thủ tướng Chính phủ hoặc Phó Thủ tướng Chính phủ ký thay Thủ tướng
- Nghị quyết, Quyết định: Nghị quyết của Hội đồng Bộ trưởng hoặc Quyết định của Thủ tướng Chính phủ là văn bản pháp quy về những vấn đề tương đối bức xúc cần được giải quyết trong thực tiễn Văn bản này do Thủ tướng ký, hoặc do các Phó Thủ tướng ký thay Thủ tướng
- Thông tư: Là văn bản do các Bộ/Ngành chức năng ban hành nhằm hướng dẫn thực hiện Nghị định, Nghị quyết, Quyết định của Chính phủ Có hai loại Thông tư là Thông tư liên tịch và Thông tư riêng bộ Thông tư liên tịch là Thông tư hướng dẫn việc thực hiện Nghị định… và có liên quan đến nhiều Bộ/Ngành được các Bộ/Ngành liên tịch soạn thảo và ban hành Thông tư riêng bộ
là Thông tư hướng dẫn việc thực hiện Nghị định của một Bộ/Ngành nào đó về ciệc thực hiện chính sách Thông tư do Bộ trưởng ký hoặc Thứ trưởng ký thay
Bộ trưởng
- Quyết định của các Bộ/Ngành: Do Bộ/Ngành ban hành được Bộ trưởng
ký hoặc Thứ trưởng ký thay Bộ trưởng Các Quyết định của Bộ/Ngành thường ban hành kèm theo văn bản quy định cụ thể về một vấn đề dựa trên cơ sở của Luật, Pháp lệnh, Nghị định, Nghị quyết, Quyết định và ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ
- Chỉ thị: Là văn bản đôn đốc, nhắc nhở việc thực hiện chính sách Tùy theo nội dung và phạm vi thi hành mà Thủ tướng Chính phủ, các Bộ/Ngành đưa
ra các chỉ thị cho các ngành, các cấp tổ chức hướng dẫn thực hiện các văn bản chính sách của Chính phủ
- Công văn: Là một loại văn bản của chính sách, do Thủ tướng Chính phủ hoặc các Bộ/Ngành ban hành Nội dung Công văn nhằm hướng dẫn, nêu ý kiến chỉ đạo của cấp trên đối với cấp dưới trong việc triển khai thực hiện các chính sách
Trong quá trình triển khai thực hiện, tùy theo điều kiện, đặc điểm khác nhau của từng địa phương mà có thể vận dụng thực hiện chính sách một cách linh hoạt, nhưng không được trái với những quy định trong các văn bản chính sách đã được Chính phủ hoặc các Bộ/Ngành ban hành (Phạm Vân Đình, 2008)
Tùy theo các tiêu chí khác nhau mà phân loại chính sách thành các nhóm khác nhau
- Theo phạm vi ảnh hưởng: chính sách vĩ mô và chính sách vi mô
Trang 20- Theo thời gian tác động: chính sách dài hạn, trung hạn và ngắn hạn
- Theo cấp độ của chính sách: chính sách của Trung ương và chính sách của địa phương
- Theo mục tiêu của chính sách: chính sách mục tiêu và chính sách hỗ trợ Bên cạnh các chính sách nêu trên, có thể song song tồn tại các chương trình và hoạt động độc lập với chính sách Tuy các chương trình và hoạt động có
số lượng ít nhưng cũng là nội dung quan trọng cần nghiên cứu
b Chính sách hỗ trợ
Sau khi tham khảo Luận văn Thạc sỹ kinh tế của Vũ Ngọc Thư (2014), có thể rút ra được: Hỗ trợ là những hành động, chủ trương thực hiện sự giúp đỡ một nhóm mục tiêu nhất định, thông qua hỗ trợ vật chất, phát triển nhân lực, thể chế và
tổ chức Hỗ trợ được thực hiện chủ yếu không thông qua hệ thống giá cả Do vậy,
nó ít làm nhiễu loạn hệ thống giá Hỗ trợ có tính đến nhóm mục tiêu của hỗ trợ
Hỗ trợ nhằm phát huy những tác động của ngoại ứng tích cực (giáo dục, y
tế, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên…), khắc phục những tác động của ngoại ứng tiêu cực Do đó, hầu hết các Chính phủ của các nước trên thế giới đều thực hiện chuyển từ các chính sách bao cấp sang hỗ trợ
Từ quan điểm về hỗ trợ nêu trên, chính sách hỗ trợ là những chính sách khắc phục thất bại của thị trường, đặc biệt trong cung cấp hang hóa và dịch vụ công Việc áp dụng các chính sách hỗ trợ là một trong những biện pháp được Chính phủ sử dụng để điều chỉnh nền kinh tế vĩ mô, cung cấp các dịch vụ công cộng Vai trò của Nhà nước trong vấn đề cung cấp và hỗ trợ các dịch vụ công như y tế, giáo dục… là vô cùng quan trọng và không thể phủ nhận, nhất là ở các vùng có điều kiện kinh tế phát triển không đồng đều, nguồn lực của các vùng không giống nhau
c Chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo
Lĩnh vực y tế là một trong những lĩnh vực dịch vụ công vô cùng quan trọng của mỗi quốc gia Đặc biệt ở những nước như Việt Nam, là những nước đang phát triển, có tỷ lệ nghèo khá cao và điều kiện còn khó khăn, thì y tế là vấn
đề rất cấp thiết với quá trình phát triển
Hỗ trợ cho giảm nghèo là quá trình sử dụng cơ chế chính sách, nguồn lực của Chính phủ, của các tổ chức kinh tế - xã hội trong và ngoài nước để hỗ trợ cho quá trình xóa đói giảm nghèo thông qua thực hiện các cơ chế chính sách, các giải
Trang 21pháp đầu tư công để tăng cường năng lực vật chất và nhân lực tạo điều kiện cho người nghèo và vùng nghèo có cơ hội phát triển nhanh và bền vững, giải quyết các vấn đề nghèo đói có tính vùng, từng nhóm mục tiêu và xây dựng tính bền vững và tự lập cho cộng đồng (Đỗ Kim Chung, 2010)
Sau khi tham khảo Luận văn Thạc sỹ kinh tế của Vũ Ngọc Thư (2014), có thể rút ra được khái niệm về người nghèo và hộ nghèo như sau:
Người nghèo là nhóm mục tiêu cuối cùng mà việc hỗ trợ giảm nghèo hướng tới Do đó, các biện pháp hỗ trợ cần phải hướng tới tạo điều kiện cho người nghèo được đáp ứng các nhu cầu cơ bản
Hộ nghèo là các hộ có mức thu nhập bình quân dưới ngưỡng nghèo đói theo quy định của Chính phủ hay của địa phương Đây là đơn vị cơ bản để tính mức độ đói nghèo trong cộng đồng dân cư Việc hỗ trợ thông qua hộ có nhiều ưu điểm: một là, hộ là đơn vị cơ bản cuối cùng của cộng đồng; hai là, hộ là tế bào kinh tế gắn kết thành viên trong gia đình để thực hiện các hoạt động sản xuất và tái sản xuất kinh doanh; ba là, đơn vị hộ tiện lợi cho việc quản lý hành chính khi tiến hành các biện pháp hỗ trợ
Tại hội nghị về chống nghèo đói do Ủy ban kinh tế xã hội khu vực Châu
Á – Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại Thái Lan năm 1993, các quốc gia trong khu vực đã thống nhất: “Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không
có khả năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận”
Nghèo thường được chia thành 2 loại: nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối Nghèo tuyệt đối (nghèo thu nhập) là thước đo dễ lượng hóa để đo lường mức chi tiêu cần thiết để đảm bảo một người có thể mua được một lượng lương thực, thực phẩm đương 2100 – 2300 kcalo/người/ngày Nghèo tương đối là sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại Những người nghèo tương đối là những người phải đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ và trong tình trạng bỏ bê và mất phẩm cách vượt qua sức tưởng tượng mang dấu ấn của cảnh ngộ may mắn của giới trí thức chúng ta (Robert Mc Namara, 2000)
Hiện nay, các chính sách hỗ trợ cho người nghèo thường tiếp cận theo các tiêu chuẩn nghèo đa chiều Theo đó, hai tiêu chí chính để xác định nghèo là tiêu chí về thu nhập và tiêu chí về mức độ thiếu hụt về tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản Theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg (Phụ lục 7):
Trang 22* Tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản:
- Các dịch vụ xã hội cơ bản (05 dịch vụ): y tế; giáo dục; nhà ở; nước sạch và vệ sinh; thông tin;
- Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản (10 chỉ số): tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin
Từ đó, xác định chuẩn hộ nghèo và cận nghèo như sau:
Chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình áp dụng cho giai đoạn 2016-2020:
* Hộ nghèo
- Khu vực nông thôn: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:
+ Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống;
+ Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng
và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên
- Khu vực thành thị: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:
+ Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống;
+ Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng
và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên
* Hộ cận nghèo
- Khu vực nông thôn: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản
Trang 23- Khu vực thành thị: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản
Chính sách hỗ trợ y tế là những chính sách hướng đến mục tiêu tạo điều kiện, tạo ra những yếu tố giúp cho người dân có thể dễ dàng tiếp cận đến với các dịch vụ y tế hơn Cùng với đó, các chính sách hỗ trợ y tế còn giúp cho trình độ phát triển của ngành y tế và chất lượng dịch vụ y tế được nâng cao hơn, phục vụ tốt hơn cho người dân
Như vậy, có thể hiểu về nội hàm của vấn đề hỗ trợ y tế cho người nghèo bao gồm những nội dung chính sau: nâng cao năng lực của các cơ sở y tế, tăng khả năng tiếp cận với các dịch vụ y tế của người nghèo, hỗ trợ các vấn đề về tiêm chủng và sức khỏe bà mẹ và trẻ em, giải quyết các vấn đề về KHHGD, dinh dưỡng…
d Thực thi chính sách hỗ trợ y tế
Thực thi chính sách hỗ trợ y tế là quá trình biến các chính sách hỗ trợ về lĩnh vực y tế thành những kết quả trên thực tế thông qua các hoạt động tổ chức trong bộ máy Nhà nước, nhằm hiện thực hóa được những mục tiêu mà các chính sách hỗ trợ này đã đề ra Do đó, tình hình thực thi chính sách hỗ trợ y tế gồm có lập kế hoạch hỗ trợ, cơ chế phân cấp trong triển khai thực hiện, tình hình huy động nguồn lực, sự phân công và phối kết hợp của các bên liên quan, sự giám sát
và đánh giá, năng lực thực thi chính sách của các cơ quan Nhà nước cùng với cộng đồng trong triển khai các chương trình, chính sách hỗ trợ Tất cả các yếu tố này đều có ảnh hưởng quan trọng đến hiệu quả của các chương trình, chính sách
hỗ trợ y tế
Trang 242.1.1.2 Bản chất của thực thi chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo
Mục tiêu của chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo là hỗ trợ người nghèo trong việc chăm sóc sức khỏe ban đầu thông qua các tiếp cận dịch vụ y tế thuận lợi hơn, bình đẳng hơn nhằm giảm thiểu rủi ro, khó khăn cho họ (Nguyễn Thị Hoa, 2010)
Chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo là một trong những nhóm chính sách quan trọng của Chính phủ Các chính sách này hướng đến nhóm đối tượng người nghèo và giúp cho họ có thể tiếp cận được các dịch vụ y tế trong điều kiện hoàn cảnh khó khăn Đây là một trong những yếu tố quan trọng trong các chương trình mục tiêu Quốc gia giảm nghèo, góp phần giúp thực hiện thành công mục tiêu giảm nghèo của đất nước, làm cho trình độ phát triển của các vùng có thể tiến lại gần nhau hơn
Các chính sách hỗ trợ y tế nói chung và chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo nói riêng bao gồm các hoạt động hỗ trợ về xây dựng cơ sở hạ tầng y tế; Hỗ trợ đào tạo, nâng cao trình độ cho các cán bộ y tế tại địa phương; Hỗ trợ thuốc men và các dụng cụ, công cụ y tế tiên tiến; Và đặc biệt ở các khu vực vùng sâu, vùng xa, các chính sách hỗ trợ y tế thường quan tâm đến vấn đề BHYT cho người nghèo và vấn đề kế hoạch hóa gia đình cho các hộ nghèo, các hộ đồng bào DTTS, nhằm ổn định dân số để phát triển kinh tế
2.1.2 Vai trò của thực thi chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo
Các chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo có vai trò rất quan trọng trong Chương trình mục tiêu Quốc gia về giảm nghèo Trong các mục tiêu giảm nghèo, vấn đề y tế cho người nghèo được chú ý và quan tâm bởi các nhà hoạch định chính sách Tuy nhiên, việc thực thi các chính sách hỗ trợ này lại có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả của công tác giảm nghèo
Thực thi chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo biến những ý tưởng của chính sách hỗ trợ y tế trong các chương trình giảm nghèo thành công cụ để đưa vào cuộc sống Nó phát hiện ra những bất cập trong việc thực hiện chính sách để điều chỉnh chính sách cho hợp lý, đáp ứng được việc giữ vững mục tiêu ban đầu của chính sách Nó giải quyết những khó khăn, bức xúc của người dân trong quá trình thực hiện chính sách
Do đó, nghiên cứu, đánh giá tình hình thực thi chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo có vai trò vô cùng quan trọng để xác định được thực trạng công tác
Trang 25thực thi chính sách cùng với các kết quả mà các chính sách này đã đạt được, từ
đó tìm ra được những hạn chế và có giải pháp khắc phục
2.1.3 Đặc điểm của thực thi chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo
Đối tượng chịu tác động của chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo khá
đa dạng, gồm người nghèo, người dân trong các hộ cận nghèo và đồng bào DTTS Họ là những đối tượng không thể tự vươn lên thoát nghèo nếu thiếu sự hỗ trợ của Chính phủ, xã hội và cộng đồng
Hiện nay, có rất nhiều chính sách hỗ trợ cho người nghèo về nhiều lĩnh vực Tuy nhiên, trong lĩnh vực y tế, hầu như chỉ có một số ít các chính sách hỗ trợ tác động trực tiếp tới người nghèo Đó thường là những hỗ trợ về cấp hoặc hỗ trợ mua thẻ BHYT cho người nghèo Bên cạnh đó là những hỗ trợ về kế hoạch hóa gia đình Ngoài ra, những chính sách hỗ trợ về cơ sở hạ tầng y tế hay về đào tạo trình độ cán bộ y tế… lại rất khó có thể bóc tách được sự tác động tới người nghèo vì những lợi ích nó mang lại là dành cho cả nhóm người nghèo và nhóm người không nghèo Tuy nhiên, đây vẫn là những chính sách hỗ trợ rất quan trọng và không thể thiếu không chỉ cho công tác giảm nghèo mà còn cho sự phát triển về kinh tế - xã hội của cả nước
Quá trình thực thi chính sách nói chung và thực thi chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo nói riêng bao gồm nhiều đặc điểm Đầu tiên phải nói đến là các chính sách đều phải có công đoạn lập kế hoạch Sau đó là các đặc điểm khác nhau như quá trình phổ biến, tuyên truyền chính sách; Sự phân công, phân cấp trong quá trình thực thi; Cách bố trí nguồn lực trong thực thi chính sách hỗ trợ; Quá trình giám sát và đánh giá thực thi chính sách Đặc điểm quan trọng của thực thi chính sách là kết quả, hiệu quả của nó phụ thuộc nhiều vào công tác hoạch định chính sách và năng lực của các cán bộ thực thi Đây là yếu tố quan trọng giúp đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của các chính sách hỗ trợ khi ban hành xuống thực hiện trong thực tế
2.1.4 Nội dung nghiên cứu
2.1.4.1 Các chính sách, chương trình và hoạt động hỗ trợ y tế cho người nghèo
Trước khi thực hiện đánh giá về tình hình thực thi chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo trong giai đoạn 2010–2015, cần biết được trong giai đoạn này tại tỉnh Lào Cai nói chung và huyện Mường Khương nói riêng có bao nhiêu chính sách, chương trình hay hoạt động hỗ trợ về y tế cho người nghèo Bên cạnh đó cũng cần tìm hiểu những chính sách đó là gì và nội dung của chúng như thế nào
Trang 26Nắm được số lượng và nội dung các chính sách, từ đó có thể xác định được đối tượng chính sách hướng tới, cách thức và tình hình thực thi của chính sách đó Như vậy, việc đánh giá thực thi các chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo sẽ chính xác hơn
2.1.4.2 Tình hình thực thi các chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo
a Lập kế hoạch
Lập kế hoạch là một giai đoạn rất quan trọng, quyết định lớn đến hiệu quả
áp dụng chính sách vào thực tế Đối với những chính sách hỗ trợ cho người nghèo thì giai đoạn lập kế hoạch lại càng giữ vị trí quan trọng Vì vấn đề áp dụng cho người nghèo là khá khó khăn và nếu chính sách không phù hợp thì hiệu quả đạt được sẽ không cao
Để đánh giá tình hình thực thi chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo, việc đánh giá giai đoạn lập kế hoạch là rất cần thiết Nó quyết định đến tính hiệu quả của thực thi chính sách hỗ trợ vào tình hình thực tế của địa phương
b Công tác phổ biến, tuyên truyền
Công tác tuyên truyền chính sách là truyền bá, giáo dục, giải thích nhằm chuyển biến và nâng cao về nhận thức; bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm xây dựng thành niềm tin; thúc đẩy mọi người hành động một cách tự giác nhằm thực hiện thắng lợi những mục tiêu, nhiệm vụ đề ra
Công tác tuyên truyền chính sách là hoạt động có mục đích, có hoạch định nhằm phổ biến, giải thích về chính sách, làm cho người dân hiểu rõ nội dung về chính sách Để một chính sách được thực thi tốt và có thể đi vào cuộc sống và tạo
ra hiệu quả thì công tác phổ biến, tuyên truyền là rất quan trọng Một chính sách chỉ thực sự được thực thi tốt khi đối tượng của nó, ở đây là nhóm người nghèo được tiếp cận và tham gia vào quá trình thực hiện nó
Vì vậy, đánh giá tình hình thực thi chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo cần phải đánh giá về công tác phổ biến, tuyên truyền để xác định được mức độ tiếp cận chính sách của người nghèo và từ đó biết được chính sách đó đã thực sự được áp dụng phù hợp hay không
c Phân công, phối hợp thực hiện
Trong thực tế có nhiều cơ quan, sở, ban ngành tham gia vào quá trình thực thi chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo Do vậy, vấn đề phân công, phân cấp
Trang 27giữa các đơn vị quản lý Nhà nước và giữa các cấp là khá quan trọng Nó phân rõ ràng trách nhiệm, chức năng và quyền hạn của mỗi cơ quan sở, ban ngành và của từng cấp quản lý Phân công, phân cấp được thực hiện tốt, chủ động, khoa học, sang tạo thì quá trình thực thi sẽ diễn ra một cách thống nhất, thông suốt và giúp cho công tác giám sát, đánh giá được dễ dàng và chính xác hơn Bởi vậy, đánh giá công tác phân công, phân cấp trong quá trình thực thi chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo là cần thiết
d Bố trí nguồn lực
Việc hỗ trợ giảm nghèo thường được thực hiện theo 2 phương thức: hỗ trợ trực tiếp và hỗ trợ gián tiếp Hỗ trợ trực tiếp là thông qua ban hành và thực thi các chính sách tạo điều kiện cho người nghèo tiếp cận được các dịch vụ y tế, giáo dục, an sinh xã hội… Hỗ trợ gián tiếp là thông qua đầu tư công cho giảm nghèo (phát triển cơ sở hạ tầng, đào tạo đội ngũ cán bộ y tế…) (Đỗ Kim Chung, 2010)
Để các chính sách được thực hiện, điều vô cùng quan trọng chính là nguồn lực Nguồn lực ở đây bao gồm không chỉ có kinh phí, vốn mà còn có cả con người Do vậy, nghiên cứu về bố trí nguồn lực là nghiên cứu về sự phân bổ kinh phí, bố trí vốn và bố trí sử dụng yếu tố con người sao cho phù hợp, để việc thực hiện chính sách đạt hiệu quả cao nhất
Khi có sự bố trí vốn hợp lý, phù hợp với mỗi hoạt động, mỗi đối tượng của chính sách thì việc thực thi chính sách mới có thể tiến hành đúng theo kế hoạch, đúng theo mục tiêu đã đề ra
e Hoạt động giám sát, đánh giá
Đối với vấn đề thực thi mọi chính sách, hoạt động cuối cùng cũng rất quan trọng là hoạt động giám sát, đánh giá Giám sát thực thi chính sách là việc các cơ quan có trách nhiệm thực hiện theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động nhằm kịp thời tác động để chính sách được thực thi đúng hướng, đúng đối tượng Hoạt động giám sát thực hiện trong suốt cả quá trình thực thi chính sách và giúp cho chính sách được thực hiện đúng theo nội dung và mục tiêu định sẵn Bên cạnh
đó, hoạt động đánh giá chính sách giúp cho các nhà hoạch định chính sách có thể nhìn nhận bao quát toàn bộ quá trình thực hiện và kết quả, hiệu quả của chính sách Từ đó nhận biết được những điểm tồn tại, những mặt khó khăn, hạn chế của chính sách để đưa ra các giải pháp để hoàn thiện chính sách và rút ra được những bài học kinh nghiệm cho các chính sách trong tương lai
Trang 282.1.4.3 Kết quả thực hiện các chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo
a Nâng cao năng lực của các cơ sở y tế
* Về cơ sở hạ tầng phục vụ khám chữa bệnh
Để chất lượng của hoạt động ngành y tế được nâng cao thì vấn đề cơ sở hạ tầng y tế là không thể thiếu Tại các khu vực, nhất là các xã nghèo của huyện thì vấn đề thiếu các cơ sở y tế (bệnh viện, trạm y tế…) là vấn đề khá thường xuyên gặp phải Từ thiếu thốn về hạ tầng y tế dẫn đến người nghèo khó tiếp cận được với các dịch vụ y tế
Vì vậy, để giúp người nghèo tiếp cận được với các dịch vụ y tế cần thiết, các chính sách trước hết cần có kế hoạch xây dựng các cơ sở y tế tại các vùng nghèo, có nhóm người nghèo và đồng bào DTTS
* Về đội ngũ cán bộ y tế phục vụ khám chữa bệnh
Trình độ tay nghề chuyên môn của đội ngũ cán bộ y tế là một yếu tố quyết định lớn đến chất lượng y tế Tại những vùng nghèo, vấn đề các cán bộ y tế có trình độ chưa cao hay chưa đủ trình độ mà vẫn thực hiện khám chữa bệnh đôi khi vẫn xảy ra vì thiếu số lượng cán bộ y tế Như vậy, người nghèo và đồng bào DTTS nghèo không những chưa tiếp cận được với các dịch vụ y tế mà khi tiếp cận được thì lại gặp phải các cán bộ y tế có trình độ tay nghề chưa cao Từ đó dẫn đến nhiều khó khăn cho công tác y tế cho người nghèo, ảnh hưởng không nhỏ đến vấn đề giảm nghèo
Vì vậy, việc đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ tay nghề chuyên môn cho đội ngũ cán bộ y tế là điều không thể thiếu trong các chính sách hỗ trợ y tế của huyện nói chung và cho đối tượng người nghèo và đồng bào DTTS nói riêng
* Hệ thống trang thiết bị phục vụ khám chữa bệnh
Trang thiết bị, máy móc phục vụ hoạt động khám chữa bệnh là một phần quan trọng không thể thiếu Do vậy, các chính sách hỗ trợ y tế luôn có nội dung phát triển, nâng cấp hệ thống máy móc, trang thiết bị phục vụ khám chữa bệnh Cuộc sống càng hiện đại, nền y học càng phát triển thì nhu cầu sử dụng các trang thiết bị hiện đại càng tăng Do đó, nghiên cứu về thực trạng hỗ trợ phát triển hệ thống trang thiết bị cho y tế sẽ thể hiện năng lực của hệ thống y tế địa phương cũng như hiệu quả
và chất lượng của các chính sách hỗ trợ y tế trên địa bàn nghiên cứu
b Khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế của người nghèo
* Kết quả về bảo hiểm y tế
Trang 29BHYT là một nội dung quan trọng và luôn được nhắc tới trong các hỗ trợ
y tế cho người nghèo Theo nội dung của các chính sách hỗ trợ y tế tại huyện Mường Khương, BHYT là nội dung hàng đầu và được thực hiện rất tích cực Do vậy, khi nghiên cứu về kết quả của các chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo ở huyện Mường Khương, cần có những nội dung phản ánh thực trạng hỗ trợ BHYT cho người nghèo và đánh giá chúng để từ đó có các giải pháp nâng cao hiệu quả
hỗ trợ y tế cho đối tượng người dân nghèo
* Kết quả về những hỗ trợ chi phí phát sinh trong quá trình khám chữa bệnh
Hỗ trợ các chi phí phát sinh trong quá trình điều trị là nội dung khá quan trọng trong các chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo Trong khoảng thời gian điều trị tại các cơ sở y tế, người dân ngoài khoản tiền viện phí thì còn có thể phát sinh thêm một số khoản chi phí khác Trong khi đó, với các đối tượng của đề tài nghiên cứu là nhóm người dân nghèo và cận nghèo thì chỉ tính riêng khoản viện phí đã gây ra nhiều khó khăn cho họ chứ chưa kể đến những khoản chi phí phát sinh thêm kể trên Các chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo vì thế mà có những hỗ trợ về một số nội dung chi phí phát sinh ngoài viện phí Bởi vậy, đưa ra thực trạng và đánh giá nó cũng góp phần làm rõ được tình hình thực thi các chính sách hỗ trợ y tế trên địa bàn huyện, từ đó có những đóng góp và giải pháp nâng cao hiệu quả và kết quả hỗ trợ y tế cho người nghèo
* Về hỗ trợ kế hoạch hóa gia đình cho người nghèo
Thông thường trong thực tế, các chính sách hỗ trợ y tế thường khó chia tách rõ ràng được tác động giữa người nghèo và người không nghèo Do đó nên các hỗ trợ trực tiếp cho nhóm người nghèo và đồng bào DTTS là những hỗ trợ về BHYT và kế hoạch hóa gia đình
Vấn đề hỗ trợ KHHGĐ cho người dân nghèo và đồng bào DTTS sinh sống trên địa bàn huyện được triển khai như thế nào và đã đạt được các kết quả
ra sao sẽ góp phần thể hiện hiệu quả của các chính sách, giúp đánh giá về tình hình thực thi các chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo trên địa bàn huyện được đầy đủ và rõ ràng hơn
* Về một số chỉ tiêu chăm sóc sức khỏe
Để đánh giá về kết quả và hiệu quả của thực thi các chính sách hỗ trợ y tế, không thể không xem xét đến các chỉ tiêu về chăm sóc sức khỏe Đây là nhóm các chỉ tiêu phản ánh mức độ phát triển của ngành y tế của địa phương, từ đó
Trang 30xem xét được các chính sách được đưa ra đã phù hợp chưa và quá trình thực thi chính sách đã có tác động như thế nào đến ngành y tế của toàn huyện
Trong đề tài, một số chỉ tiêu chăm sóc sức khỏe được lựa chọn để đánh giá do có liên quan nhiều tới nhóm người nghèo bao gồm các chỉ tiêu về số bác
sỹ bình quân 1 vạn dân, số giường bệnh tính bình quân 1 vạn dân, tỷ lệ trạm y tế xã/phường/thị trấn có bác sỹ, tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ các loại vắc xin, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng
* Tiêm chủng cho trẻ em
Tình trạng tiêm chủng cho trẻ em thể hiện mức độ tiếp cận với các dịch vụ
y tế của người dân sống trên địa bàn Do đó, đánh giá về khả năng tiếp cận với các dịch vụ y tế thì phải có nội dung nghiên cứu về thực trạng tiêm chủng cho trẻ
em tại địa phương, đặc biệt là trẻ em dưới 1 tuổi Từ đó có thể thay đổi và hoàn thiện các chính sách, giúp có thể hỗ trợ tốt hơn và hiệu quả hơn đến những đối tượng mà chính sách quan tâm
* Đánh giá của người dân về khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế
Mục tiêu quan trọng mà các chính sách hỗ trợ y tế hướng tới là nâng cao năng lực của các cơ sở y tế và nâng cao khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế cho người nghèo Bởi vậy, chính sách hỗ trợ y tế có hiệu quả là khi nó giúp cho người dân có thể dễ dàng tiếp cận và được hưởng lợi nhiều nhất từ các dịch vụ y
tế Để đánh giá về thực thi các chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo và hiệu quả của chúng thì phải nghiên cứu, đánh giá về khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế của người dân, đặc biệt là nhóm người nghèo và cận nghèo Do đó, nghiên cứu đánh giá của người dân về khả năng tiếp cận và chất lượng các dịch vụ y tế là rất quan trọng để làm rõ tình hình thực thi và hiệu quả của các chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo đã và đang được thực hiện trên địa bàn huyện Mường Khương 2.1.5 Yếu tố ảnh hưởng đến thực thi chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo 2.1.5.1 Nguồn kinh phí cho thực thi chính sách
Để có thể thực thi bất kỳ một chính sách nào đều cần phải có nguồn kinh phí nhất định Bên cạnh sự phân bổ kinh phí hợp lý còn cần sự cung cấp kinh phí một cách đầy đủ và kịp thời cho quá trình thực thi chính sách Do vậy, vấn đề kinh phí có ảnh hưởng khá nhiều đến thực thi chính sách
Đặc biệt, với các chính sách hỗ trợ cho người nghèo và đồng bào DTTS, vấn đề nguồn kinh phí là rất quan trọng và có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả và sự thành công của chính sách
Trang 312.1.5.2 Năng lực tổ chức thực hiện chính sách của cán bộ thực thi
Cũng như kết quả của hoạt động y tế phụ thuộc rất lớn vào trình độ của đội ngũ cán bộ y tế, vấn đề thực thi chính sách hỗ trợ y tế phụ thuộc rất nhiều vào năng lực tổ chức thực hiện chính sách của các cán bộ thực thi chính sách Do vậy, hoạt động đào tạo, bồi dưỡng năng lực cho cán bộ thực thi chính sách là vấn
đề cấp thiết
Nghiên cứu đánh giá về năng lực tổ chức thực hiện của các cán bộ thực thi chính sách là nghiên cứu về năng lực quản lý các chương trình hỗ trợ, năng lực quản lý tài chính, năng lực giám sát – đánh giá, năng lực ứng phó khi có sự thay đổi trong thực thi chính sách
2.1.5.3 Ảnh hưởng của phong tục tập quán tới thực thi chính sách
Một chính sách thành công là chính sách gắn liền với điều kiện phát triển của địa phương, phù hợp với mức độ và trình độ phát triển của đối tượng mà chính sách tác động Do vậy, các điều kiện về phong tục tập quán của người dân
có ảnh hưởng khá lớn đến quá trình thực thi chính sách hỗ trợ y tế Mỗi dân tộc, mỗi nhóm người dân có một phong tục, tập quán khác nhau Do vậy, cách tiếp cận, thực thi chính sách với mỗi nhóm đối tượng đó cũng cần có các phương thức khác nhau cho phù hợp
2.1.5.4 Trình độ học vấn của người dân
Trình độ học vấn là một khía cạnh của trình độ dân trí và có ảnh hưởng khá lớn đến quá trình thực thi chính sách Với mỗi nhóm người dân có trình độ học vấn khác nhau thì cần có các cách phổ biến, tuyên truyền, hỗ trợ khác nhau sao cho phù hợp Như vậy thì các chính sách mới có thể được áp dụng sâu và triệt để trong tất cả các đối tượng mục tiêu của chính sách
2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC THI CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ Y TẾ CHO NGƯỜI NGHÈO
2.2.1 Kinh nghiệm của các nước trên thế giới
2.2.1.1 Kinh nghiệm chính sách bảo hiểm y tế ở Nhật Bản
Theo Từ Nguyên Linh (2008), Nhật Bản là quốc gia có hệ thống pháp luật
về BHYT từ rất sớm và có bề dày phát triển Luật BHYT bắt buộc của Nhật Bản ban hành từ năm 1922, là quốc gia châu Á đầu tiên ban hành luật BHYT bắt buộc Năm 1938 ban hành luật BHYT quốc gia Năm 1939 ban hành luật BHYT
Trang 32cho người lao động, luật BHYT cho ngư dân Đến năm 1961, Nhật Bản thực hiện BHYT cho toàn dân
Luật BHYT Nhật Bản xác định riêng 2 loại quỹ cho các đối tượng để có
sự hỗ trợ cho những đối tượng yếu thế là Quỹ BHYT quốc gia áp dụng cho lao động tự do, nông dân và người không có nghề nghiệp và Quỹ BHYT của người làm công ăn lương Quỹ BHYT quốc gia áp dụng cho lao động tự do, nông dân
và người không có nghề nghiệp Nhà nước bảo trợ nhiều hơn cho loại quỹ này, vì đối tượng của quỹ thường có thu nhập thấp và không ổn định Luật BHYT Nhật Bản quy định bệnh nhân BHYT phải thực hiện trách nhiệm cùng chi trả Quy định này nhằm tăng thêm chi phí cho quỹ BHYT đồng thời hạn chế sự lạm dụng quỹ từ phía người thụ hưởng Mức cùng chi trả phụ thuộc vào đối tượng hoặc nhóm đối tượng cụ thể: người lao động tự do trả 30%, công chức trả 20%, người lao động hưởng lương trả 10% chi phí khám chữa bệnh
2.2.1.2 Kinh nghiệm chính sách bảo hiểm y tế ở Hàn Quốc
Theo thông tin từ Viện nghiên cứu lập pháp (2013), ở Hàn Quốc, luật BHYT bắt buộc toàn dân được ban hành năm 1977 Mức đóng BHYT tính theo thu nhập hoặc tài sản cố định Thông thường, người lao động đóng 2-8% thu nhập; Công chức đóng 4,2% thu nhập; Chính phủ cũng nộp 4,2% Còn đối với lao động tự do, mức đóng được tính theo mức xếp loại thu nhập hoặc tài sản cố định Ngân sách Nhà nước hỗ trợ 30% mức phí nhằm mục đích đảm bảo chi phí quản lý
Theo Hải Nguyên (2007), Luật BHYT Hàn Quốc quy định chế độ cùng chi trả khi đi khám chữa bệnh Mức cùng chi tả là 20% đối với điều trị nội trú; từ 40-55% đối với khám chữa bệnh ngoại trú Đóng góp của người lao động tự do dựa trên tài sản và thu nhập của từng cá nhân (hoặc ước tính thu nhập), Chính phủ trợ cấp một phần đến người lao động tự do đã tham gia để dễ dàng mở rộng đối tượng tham gia Do Chính phủ trợ cấp theo đầu người mà không quan tâm đến thu nhập của từng cá nhân nên nảy sinh các vấn đề về công bằng trong việc trợ cấp của Chính phủ vì không phải người lao động tự do nào cũng có thu nhập giống nhau, từ đó có những quan điểm đề nghị cân nhắc lại mục đích trợ cấp cho những người lao động tự do của Chính phủ
2.2.2 Kinh nghiệm của các địa phương khác ở Việt Nam
2.2.2.1 Kinh nghiệm thực thi hỗ trợ y tế cho người nghèo ở tỉnh Điện Biên
Tại tỉnh Điện Biên, công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em và bảo vệ sức khỏe cho đồng bào DTTS ngày càng được quan tâm Đến năm 2014, toàn tỉnh
Trang 33Điện Biên có 100% số xã, thị trấn có y sỹ và nhân viên y tế; các cụm y tế đã có bác sỹ; tỷ lệ bác sỹ đạt 8,71/vạn dân; tỷ lệ thôn, bản có nhân viên y tế đạt 94,6% Công tác tuyên truyền về dân số - kế hoạch hóa gia đình được chú trọng, tập trung ở các địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng có mức sinh cao Cấp thẻ BHYT cho
hộ nghèo là DTTS với tỷ lệ đạt 97,5%, tỷ lệ trẻ em dưới 6 tuổi được cấp thẻ BHYT đạt 99,5% Các chính sách trên đã góp phần bảo vệ sức khỏe đồng bào và bảo đảm quyền lợi cho người tham gia BHYT, đặc biệt là đồng bào DTTS (Khánh Toàn, 2015)
2.2.2.2 Kinh nghiệm hỗ trợ mua BHYT ở tỉnh Phú Thọ
Theo thông tin trên Cổng giao tiếp điện tử tỉnh Phú Thọ, toàn tỉnh Phú Thọ năm 2014 có khoảng 43.799 hộ nghèo với 171.176 người cận nghèo; trong
đó số đối tượng đã có BHYT là 100.603 người, số người cận nghèo cần hỗ trợ mua thẻ BHYT năm 2014 là 70.573 người Theo Quyết định về việc hỗ trợ kinh phí từ ngân sách cấp tỉnh thực hiện mua thẻ BHYT cho người thuộc hộ gia đình cận nghèo của UBND tỉnh vừa được ban hành, kể từ ngày 01/7/2014 đến năm
2020, tất cả các đối tượng thuộc hộ cận nghèo trên địa bàn tỉnh sẽ được hỗ trợ 100% kinh phí mua thẻ BHYT
Những năm trước đây, người thuộc hộ gia đình cận nghèo trên địa bàn tỉnh đã được ngân sách Nhà nước hỗ trợ 50% kinh phí khi mua BHYT; nâng mức
hỗ trợ lên 70% từ tháng 01/2012 Năm 2014, tỉnh triển khai Dự án Hỗ trợ y tế các tỉnh Đông Bắc Bộ và Đồng bằng sông Hồng sử dụng vốn vay của Ngân hàng Thế giới (WB), trong đó dự án đã có mức hỗ trợ thiết thực về kinh phí mua thẻ BHYT cho người cận nghèo chưa có thẻ BHYT từ năm 2014 đến năm 2020 (20% mệnh giá thẻ BHYT) Như vậy, những người thuộc hộ gia đình cận nghèo trên địa bàn tỉnh đã được hỗ trợ kinh phí mua thẻ BHYT lên đến 90%, người cận nghèo chỉ phải đóng 10% còn lại Tỉnh ủy, UBND tỉnh cũng đã ban hành nhiều văn bản tập trung chỉ đạo thực hiện BHYT cho người thuộc hộ gia đình cận nghèo và BHYT
tự nguyện Thực hiện hỗ trợ 100% kinh phí mua thẻ BHYT cho người thuộc hộ gia đình cận nghèo, năm 2014, tỉnh đã quyết định dành 4,3 tỷ đồng hỗ trợ mua thẻ BHYT cho người cận nghèo Các năm tiếp theo căn cứ vào thực tế số khẩu cận nghèo thuộc đối tượng được hỗ trợ, tỉnh sẽ xây dựng dự toán kinh phí Tuy nhiên, tỷ lệ hộ cận nghèo tham gia mua thẻ BHYT trên địa bàn tỉnh vẫn đạt rất thấp, mới chỉ có 18% người thuộc hộ gia đình cận nghèo tham gia mua BHYT, như vậy cũng đồng nghĩa với việc số người cận nghèo chưa được hưởng các chính sách ưu đãi về chăm sóc sức khỏe là khá cao (L Thủy, 2015)
Trang 342.2.2.3 Chính sách hỗ trợ bảo hiểm y tế ở tỉnh Hà Giang
Theo trang tin điện tử BHXH tỉnh Hà Giang, thực hiện Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT, Sở LĐ – TBXH đã phối hợp với các ngành có liên quan tham mưu cho UBND tỉnh ban hành văn bản chỉ đạo và trực tiếp hướng dẫn các huyện, thành phố Theo đó, công văn số 4106 của UBND tỉnh, về việc cấp, sử dụng thẻ BHYT đối với người nghèo, người DTTS; Nghị quyết số 174 của HĐND tỉnh, quy định hỗ trợ 80% mức đóng BHYT cho các đối tượng thuộc
2.2.3 Bài học kinh nghiệm
Trên thế giới, nhiều quốc gia cũng có những chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo, tuy nhiên, các chính sách này hầu như chỉ tập trung vào vấn đề BHYT Một xu hướng chung trên thế giới ngày nay là các nước giàu có chi tiêu cho y tế nhiều hơn các nước nghèo, dù sức khỏe của họ nói chung tốt hơn so với các nước nghèo Theo bài viết về BHYT cộng đồng của Nguyễn Văn Tuấn trên Thời báo kinh tế Sài Gòn số tháng 5 năm 2007, ở nước ta năm 2007, tổng số chi tiêu cho y tế chiếm khoảng 5,1% tổng số GDP Tỉ lệ này còn khá khiêm tốn, nếu
so với 5,5% ở Trung Quốc, 6% ở Hàn quốc, 8% ở Nhật, và 9,2% ở Úc Thật ra,
đó chỉ là con số trung bình, vì theo một nghiên cứu chuyên sâu cho thấy ở các hộ nghèo nông thôn, chi tiêu cho y tế chiếm khoảng 13% tổng thu nhập, so với các
hộ “không nghèo” chi phí này chỉ chiếm 3-5% ngân sách gia đình
Kinh nghiệm ở Úc cho thấy hệ thống bảo hiểm y tế tư nhân chỉ bổ sung, chứ không thể thay thế hệ thống chăm sóc sức khỏe của Nhà nước Nói cách
Trang 35khác, không còn con đường nào khác: Nhà nước phải tăng ngân sách y tế Năm
2007, trong tổng số chi tiêu cho y tế của cả nước, Nhà nước chỉ đóng góp khoảng 28%, phần còn lại (72%) là từ dân hay tư nhân Ngoài ra, chi tiêu của Nhà nước cho y tế chỉ chiếm 6,1% tổng số chi tiêu của Nhà nước Tỉ lệ này còn khiêm tốn
so với các nước láng giềng như Campuchia (16%), Lào (khoảng 7%), Mã Lai (6,5%), Trung Quốc (10%, và Nhật (16.4%) (Nguyễn Văn Tuấn, 2007)
Bên cạnh đó, do đặc điểm của Việt Nam là còn có tỷ lệ nghèo cao nên cần phải có những phương pháp, cách thức áp dụng chính sách hỗ trợ y tế nói chung
và BHYT nói riêng cho phù hợp với mỗi đối tượng theo mục tiêu của chính sách Cần phải cải thiện khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế cơ bản cho người dân nghèo
và đồng bào DTTS bằng cách đa dạng hóa các hình thức cung ứng các dịch vụ y
tế Cùng với đó, cần tiếp tục tăng cường hỗ trợ về hệ thống BHYT phổ cập cho người nghèo
Trang 36PHẦN 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên tỉnh Lào Cai
Lào Cai là một tỉnh vùng cao biên giới thuộc vùng trung du và miền núi phía Bắc của Việt Nam, giáp ranh giữa vùng Tây Bắc và vùng Đông Bắc Phía Bắc Lào Cai giáp Trung Quốc, phía Tây giáp tỉnh Lai Châu, phía đông giáp tỉnh
Hà Giang, phía Nam giáp tỉnh Yên Bái Diện tích tự nhiên của tỉnh Lào Cai là khoảng 6383,9 km2, bao gồm 1 thành phố là thành phố Lào Cai và 8 huyện là huyện Bát Xát, huyện Mường Khương, huyện Si Ma Cai, huyện Bắc Hà, huyện Bảo Thắng, huyện Bảo Yên, huyện Sa Pa và huyện Văn Bàn Trong đó, nghiên cứu được thực hiện tại huyện Mường Khương
Địa hình tỉnh Lào Cai chia làm 2 vùng là vùng cao và vùng thấp Vùng cao có độ cao trên 700m trở lên, được hình thành do 2 dãy núi chính là dãy Hoàng Liên Sơn và dãy Con Voi Độ dốc địa hình khá lớn, chủ yếu từ 150 đến 200m Nhiệt độ trung bình vùng này từ 150C đến 200C, lượng mưa trung bình từ
1800 mm đến 2000 mm Vùng còn lại là vùng thấp có nhiệt độ trung bình từ
230C đến 290C, lượng mưa trung bình từ 1400 mm đến 1700 mm
Đất: Lào Cai Có 10 nhóm đất chính, được chia làm 30 loại đất 10 nhóm đất là: đất phù sa, đất lầy, đất đen, đất đỏ vàng, đất mùn vàng đỏ, đất mùn alit trên núi, đất mùn thô trên núi, đất đỏ vàng bị biến đổi do trồng lúa, đất sói mòn mạnh trơ sỏi đá và đất dốc tụ
Nước: hệ thống sông suối dày đặc được phân bố khá đều trên địa bàn tỉnh với 2 con sông lớn chảy qua là sông Hồng và sông Chảy bắt nguồn Trung Quốc
và hàng nghìn sông, suối lớn nhỏ Đây là điều kiện thuận lợi cho Lào Cai phát triển các công trình thủy điện vừa và nhỏ Trên địa bàn tỉnh có bốn nguồn nước khoáng, nước nóng có nhiệt độ khoảng 400C và nguồn nước siêu nhạt ở huyện
Sa Pa, hiện chưa được khai thác, sử dụng
Rừng: 336210,16 ha, chiếm khoảng 52,67% tổng diện tích tự nhiên, trong
đó có 140232,05 ha rừng sản xuất, có 137836,01 ha rừng phòng hộ và 58142,10
ha rừng đặc dụng Động vật rừng Lào Cai có khoảng 442 loài chim, thú, bò sát, ếch nhái
Khoáng sản: Lào Cai đã phát hiện được hơn 150 mỏ và điểm mỏ với trên
30 loại khoáng sản, trong đó có một số mỏ chất lượng thuộc loại quy mô lớn nhất
Trang 37nước và khu vực như: mỏ apatit Cam Đường với trữ lượng 2,5 tỷ tấn, mỏ sắt Quý
Xa trữ lượng 124 triệu tấn, mỏ đồng Sin Quyền trữ lượng 53 triệu tấn, mỏ Molipden Ô Quy Hồ trữ lượng 15,4 nghìn tấn
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội tỉnh Lào Cai
Dân số toàn tỉnh Lào Cai tính đến năm 2013 là khoảng 659731 người với
25 nhóm dân tộc khác nhau sinh sống Trong đó, các nhóm dân tộc có dân số khá cao gồm có: Kinh, Mông, Tày, Dao, Thái, …
Lào Cai là một trong số ít tỉnh miền núi có mạng lưới giao thông vận tải
đa dạng, bao gồm: đường bộ, đường sắt, đường sông, và trong giai đoạn
2015-2020 sẽ triển khai dự án sân bay Lào Cai, tỉnh đề nghị chính phủ cho phép kêu gọi đầu tư nước ngoài đối với dự án này
Dự án đường cao tốc Nội Bài – Lào Cai dài 264 km có điểm đầu tại nút giao của đường cao tốc Nội Bài – Hạ Long với Quốc lộ 2; điểm cuối tại vị trí đấu nối với đường cao tốc Côn Minh – Hà Khẩu tại xã Quang Kim, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai Tuyến đi qua địa phận 5 tỉnh và thành phố: Thành phố Hà Nội và các tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Yên Bái và Lào Cai Được thiết kế theo tiêu chuẩn đường cao tốc hiện đại nhất Việt Nam với tốc độ chạy xe tối thiểu từ 80 km –
100 km/h, Dự án có tổng mức đầu tư lên tới 19.984 tỷ đồng (1,249 tỷ USD), trong đó 1,096 tỷ USD là vốn vay của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) Đây
là dự án đường cao tốc đầu tiên tại Việt Nam được xây dựng do nhà đầu tư (Công
ty Đầu tư Phát triển đường cao tốc Việt Nam - VEC) tự huy động vốn, không sử dụng vốn ngân sách nhà nước
Tuyến đường sắt Hà Nội - Lào Cai dài 296 km, đoạn qua địa phận Lào Cai dài 62 km được nối với đường sắt Trung Quốc, năng lực vận tải khoảng 1 triệu tấn/năm và hàng ngàn lượt khách/ngày đêm
Trên địa bàn tỉnh Lào Cai có khoảng 25 dân tộc khác nhau cùng sinh sống Chính sự phong phú về đời sống các dân tộc đã tạo ra một bản sắc riêng của Lào Cai Việc các tỉnh Phú Thọ, Yên Bái, Lào Cai cùng phối hợp tiến hành khai thác
Du lịch về cội nguồn chính là phát huy thế mạnh này và đã thu hút được dự quan tâm của du khách
Lào Cai là một trong những tỉnh liên tục đứng ở vị trí tốp đầu về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong bảng xếp hạng những năm gần đây Trong bảng xếp hạng về Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam năm 2014, tỉnh Lào Cai xếp ở vị trí thứ 3/63 tỉnh thành với chỉ số PCI là 64,67
Trang 38Như có thể thấy qua Bảng 3.1, tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh Lào Cai trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2014 nếu tính theo mức chuẩn nghèo mới thì là khá cao Năm 2010, tỷ lệ nghèo ở đây lên tới gần 43%, trong đó tỷ lệ nghèo ở nông thôn còn lên tới trên 53% Đây là những con số rất cao và khiến các nhà hoạch định chính sách giảm nghèo phải lưu tâm Đến năm 2013, tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh đã hạ xuống còn trên 22% (đã giảm đi khoảng 20%) và tỷ lệ nghèo ở nông thôn đã giảm xuống còn trên 28% Sau 1 năm, năm 2014 tỷ lệ nghèo của tỉnh Lào Cai đã tiếp tục giảm xuống chỉ còn trên 17,5% Đây là kết quả của những hoạt động giảm nghèo một cách rất tích cực của địa phương trong thời gian đã qua
Bảng 3.1 Tỷ lệ hộ nghèo tại tỉnh Lào Cai giai đoạn 2010–2014
Trang 39Bảng 3.2 Thu nhập BQ đầu người/tháng và mức chênh lệch thu nhập giữa
các nhóm thu nhập tại tỉnh Lào Cai
Chỉ tiêu ĐVT 2010 2011 2012 2013
Tốc độ phát triển
BQ (%) Thu nhập BQ đầu
người/tháng:
Nghìn đồng 850 917 1155 1442 19,27 Trong đó:
1 Thành thị Nghìn đồng 1537 1927 2378 2935 24,06
2 Nông thôn Nghìn
đồng 641 672 783 912 12,47 Chênh lệch giữa nhóm thu
nhập cao nhất và thấp nhất: Lần 9,3 7,4 8,8 9,5
Trong đó:
1 Thành thị Lần 8,6 7,2 8,5
2 Nông thôn Lần 7,7 5,5 7,6
Nguồn: Cục thống kê tỉnh Lào Cai (2014)
Nếu tính về tốc độ phát triển bình quân năm về thu nhập, trong tổng thể người dân tại tỉnh Lào Cai thì con số này là 19,27%/năm, trong đó tốc độ phát triển bình quân thu nhập tại thành thị là 24,06% và tại nông thôn là 12,47% Đây cũng là điều bình thường do ở thành thị có nhiều điều kiện thích hợp để phát triển kinh tế và thu nhập cho người dân hơn là ở vùng nông thôn
Mức độ chênh lệch về thu nhập giữa nhóm thu nhập cao nhất với nhóm thu nhập thấp nhất cũng đáng quan tâm Sự chênh lệch này tính trên toàn tỉnh dao động trong khoảng 7,4 đến 9,5 lần, trong đó tại thành thị là từ 7,2 đến 8,6 lần và nông thôn là từ 5,5 đến 7,7 lần Có một điều rất logic là ở những khu vực nông thôn, mức thu nhập càng thấp thì sự chênh lệch lại càng thấp Đây là do người dân tại đây có mức thu nhập thấp đều nhau chứ không có sự khác biệt cao thấp như ở thành thị
3.1.3 Đặc điểm về lĩnh vực y tế của tỉnh Lào Cai
Trong giai đoạn 2006–2010, ngành y tế tỉnh Lào Cai đã có những định hướng rõ ràng để phát triển Cụ thể là:
Trang 40- Duy trì xu thế giảm tỷ lệ sinh một cách vững chắc và tăng cường sức khoẻ sinh sản; Quy mô dân số, phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Lào Cai vào năm 2010 Giảm mức sinh bình quân hàng năm giai đoạn 2006–
2010 là 0,6%/năm
- Giảm tỷ lệ tử vong trẻ em < 1 tuổi đến năm 2010 xuống còn 26,5%.Giảm
tỷ suất tử vong trẻ em < 5 tuổi đến năm 2010 còn 29% Giảm tỷ suất chết bà mẹ liên quan đến thai sản xuống 75/100.000 trẻ đẻ sống)
- Giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em < 5 tuổi đến năm 2010 còn 28% Giảm nhanh tỷ lệ sinh thiếu cân (dưới 2500gr) xuống còn 7,3% vào năm 2010
- Tăng các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ nhân dân tới mức cao hơn và cải thiện chất lượng các dịch vụ y tế cao hơn Đến năm 2005 bình quân khám bệnh đạt 2 lần/1 người dân/năm, đến năm 2010 đạt 2,5 lần/1 người dân/năm, đặc biệt tăng cường các dịch vụ CSSK cho phụ nữ và trẻ em, cho vùng nghèo, người nghèo và các đối tượng chính sách
Đến năm 2010: Tuyến tỉnh có đủ các các bệnh viện theo quy hoạch: Bệnh viện đa khoa tỉnh 500 giường bệnh, các bệnh viện chuyên khoa y học cổ truyền, điều dưỡng – PHCN, tâm thần kinh, lao và bệnh phổi Các bệnh viện tuyến tỉnh đạt bệnh viện hạng 2 Tuyến huyện các bệnh viện được phát triển quy mô 80 giường bệnh trở lên Các bệnh viện tuyến huyện đạt bệnh viện hạng 3 Có 100% PKĐKKV được xây dụng kiên cố và có bác sỹ Có 100% Trạm y tế được xây dựng cơ sở theo chuẩn quốc gia Có 70% số Trạm y tế đạt chuẩn quốc gia về y tế xã; 60% Trạm y tế có bác sỹ Có 100% thôn bản có nhân viên y tế hoạt động
- Kiểm soát và tiến tới khống chế các bệnh xã hội, các bệnh không nhiễm trùng: Khống chế đến mức thấp nhất tỷ lệ mắc và chết của các bệnh nhiễm trùng,
ký sinh trùng Đến năm 2010 giảm mắc các bệnh: Tỷ lệ mắc sốt rét/1000 dân < 5%; Tỷ lệ mắc bướu cổ 8-12 tuổi: < 5%; Tỷ lệ mắc lao: 60/100.000 dân; Tỷ lệ mắc phong lưu hành < 0,1/10.000 dân và Tỷ lệ tâm thần phân liệt còn 0,3% Khống chế tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS trong cộng đồng dân cư xuống dưới 0,3% vào năm 2010 và không tăng sau 2010; Giảm tác hại của HIV/AIDS đối với sự phát triển kinh tế – Xã hội
- Đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm (VSATTP): Ngăn chặn không để các vụ ngộ độc thực phẩm xảy ra, Tăng cường quản lý thực phẩm lưu hành