HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM NGUYỄN THỊ BÍCH HẰNG ĐÁNH GIÁ SỰ THAM GIA CỦA PHỤ NỮ TRONG THỰC HIỆN TIÊU CHÍ MÔI TRƯỜNG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI HUYỆN NÔNG CỐNG, TỈNH THANH HÓA Chuy
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN THỊ BÍCH HẰNG
ĐÁNH GIÁ SỰ THAM GIA CỦA PHỤ NỮ
TRONG THỰC HIỆN TIÊU CHÍ MÔI TRƯỜNG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI HUYỆN NÔNG CỐNG,
TỈNH THANH HÓA
Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số: 60.62.01.15
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Mậu Dũng
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng được dùng để bảo
vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Bích Hằng
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn
bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết
ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Mậu Dũng đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo,
Bộ môn Kinh tế Tài nguyên và Môi trường, Khoa Kinh tế & Phát triển nông thôn - Học viện Nông Nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn UBND huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa; các phòng chuyên môn của huyện Nông Cống; Đảng ủy - HĐND - UBND xã Tế Lợi, xã Vạn Thắng đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và thu thập tài liệu phục vụ cho luận văn
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè và đồng nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Bích Hằng
Trang 4
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hộp ix
Trích yếu luận văn x
Thesis abstract xii
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 3
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 3
1.5 Đóng góp mới của nghiên cứu về lý luận và thực tiễn 4
Phần 2 Tổng quan tài liệu 5
2.1 Cơ sở lý luận về sự tham gia của phụ nữ trong thực hiện tiêu chí môi trường xây dựng ntm tại huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa 5
2.1.1 Lý luận về nông thôn mới và tiêu chí môi trường trong xây dựng NTM 5
2.1.2 Sự tham gia của phụ nữ trong thực hiện tiêu chí môi trường xây dựng nông thôn mới 11
2.1.3 Nội dung đánh giá sự tham gia của phụ nữ trong thực hiện tiêu chí môi trường xây dựng nông thôn mới 17
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của phụ nữ 19
2.2 Cơ sở thực tiễn 23
2.2.1 Sự tham gia của phụ nữ trong phát triển nông thôn ở một số nước trên thế giới 23
Trang 52.2.2 Tình hình tham gia xây dựng nông thôn mới của phụ nữ của một số địa
phương ở Việt Nam 27
2.2.3 Bài học kinh nghiệm 31
Phần 3 Phương pháp nghiên cứu 33
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 33
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 33
3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội huyện Nông Cống 36
3.2 Phương pháp nghiên cứu 45
3.2.1 Chọn điểm nghiên cứu 45
3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 45
3.2.3 Phương pháp xử lý thông tin và phân tích số liệu 47
3.2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 47
Phần 4 Kết luận và thảo luận 49
4.1 Tình hình tham gia thực hiện tiêu chí môi trường của phụ nữ huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa 49
4.1.1 Khái quát tình hình thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng ntm ở huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa 49
4.1.2 Thực trạng tình hình tham gia thực hiện tiêu chí môi trường của phụ nữ huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa 55
4.1.3 Sự tham gia của phụ nữ trong thu gom và xử lý rác thải 60
4.2 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của phụ nữ trong thực hiện tiêu chí môi trường, xây dựng nông thôn mới huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa 73
4.2.1 Độ tuổi của phụ nữ 73
4.2.2 Trình độ học vấn, chuyên môn, khoa học kỹ thuật của phụ nữ còn nhiều hạn chế 75
4.2.3 Điều kiện kinh tế gia đình 77
4.2.4 Công tác tuyên truyền, vận động phụ nữ tham gia thực hiện tiêu chí môi trường 78
4.2.5 Yếu tố cơ sở hạ tầng, công nghệ 80
4.2.6 Chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước 80
Trang 64.3 Giải pháp tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong thực hiện tiêu chí
môi trường xây dựng nông thôn mới huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa 81
4.3.1 Định hướng giải pháp 81
4.3.2 Giải pháp tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong thực hiện tiêu chí môi trường xây dựng nông thôn mới huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa 82
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 87
5.1 Kết luận 87
5.2 Kiến nghị 88
5.2.1 Đối với chính quyền địa phương 88
5.2.2 Đối với các cấp tổ chức Hội phụ nữ 89
Tài liệu tham khảo 91
Phụ lục 94
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Nội dung thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng NTM 10
Bảng 3.1 Tình hình sử dụng đất của huyện Nông Công năm 2013 – 2015 37
Bảng 3.2 Tình hình lao động của huyện Nông Cống năm 2013 – 2015 39
Bảng 3.3 Tình hình phát triển sản xuất của huyện Nông Cộng năm 2013 – 2015 44
Bảng 4.1 Kết quả thực hiện tiêu chí môi trường xây dựng NTM huyện Nông Cống 2013-2015 53
Bảng 4.2 Sự tham gia của phụ nữ trong công tác tuyên truyền về hoạt động bảo vệ môi trường, trong xây dựng nông thôn mới 56
Bảng 4.3 Nội dung tuyên truyền thực hiện tiêu chí môi trường 57
Bảng 4.4 Sự tham gia của phụ nữ trong hoạt động cấp nước sạch 59
Bảng 4.5 Tình hình thu gom rác thải của phụ nữ huyện Nông Cống 61
Bảng 4.6 Tình hình xử lý rác thải hữu cơ của phụ nữ Nông Cống 63
Bảng 4.7 Ý kiến đánh giá của cán bộ xã về việc phụ nữ tham gia thu gom và xử lý rác thải tại huyện Nông Cống tỉnh Thanh Hóa 65
Bảng 4.8 Sự tham gia của phụ nữ trong quản lý vệ sinh đường làng ngõ xóm tại huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa 67
Bảng 4.9 Đánh giá của cán bộ xã về sự tham gia của phụ nữ trong quản lý vệ sinh đường làng ngõ xóm 68
Bảng 4.10 Sự tham gia của phụ nữ trong công tác di dời chuồng trại chăn nuôi tại huyện Nông Cống, Tỉnh Thanh Hóa 69
Bảng 4.11 Đánh giá của cán bộ xã về sự tham gia của phụ nữ trong di dời chuồng trại chăn nuôi tại huyện Nông Cống tỉnh Thanh Hóa 70
Bảng 4.12 Sự tham gia của phụ nữ Nông Cống trong công tác tạo cảnh quan môi trường 72
Bảng 4.13 Sự tham gia của phụ nữ trong xây dựng NTM phân theo các nhóm tuổi tại huyện Nông Cóng tỉnh Thanh Hóa 74
Trang 9Bảng 4.14 Ảnh hưởng của trình độ học vấn tới sự tham gia của phụ nữ trong
thực hiện tiêu chí MT trong xây dựng NTM huyện Nông Cống 76 Bảng 4.15 Đánh giá khả năng tự quyết của phụ nữ khi được huy động tham gia
đóng góp trong xây dựng NTM tại Nông Cống 77 Bảng 4.16 Ảnh hưởng của công tác tuyên truyền tới thời gian lao động của phụ
nữ tham gia bảo vệ môi trường 78
Trang 10DANH MỤC HỘP
cấp nước sạch 60
tác di dời chuồng trại chăn nuôi 70
Trang 11TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
2 Tên luận văn: “Đánh giá sự tham gia của phụ nữ trong thực hiện tiêu chí môi trường xây dựng nông thôn mới tại huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa”
4 Cơ sở đào tạo: Học viện Nông Nghiệp Việt Nam
Bảo vệ môi trường là một vấn đề lớn và hết sức cấp thiết, được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới (NTM) đã trở thành một phong trào rộng lớn, tạo sự chuyển biến tích cực về nhận thức trong cả hệ thống chính trị và toàn xã hội Theo đánh giá của các chuyên gia, trong 11 nội dung và 19 tiêu chí tiêu chí thuộc bộ tiêu chí xây dựng NTM, tiêu chí môi trường vẫn là tiêu chí khó thực hiện nhất Huyện Nông Cống đã và đang thực hiện Chương trình MTQG xây dựng NTM và không tránh khỏi những khó khăn trong quá trình thực hiện Phụ
nữ Nông Cống là lực lượng đông đảo có nhiều đóng góp quan trọng trong thực hiện tiêu chí môi trường, xây dựng NTM với nhiều chương trình thiết thực Vì điều kiện về thời gian không cho phép, nghiên cứu này tập trung phân tích, đánh giá sự tham gia của phụ nữ trong viêc thực hiện tiêu chí môi trường xây dựng nông thôn mới ở huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong thực hiện tiêu chí môi trường xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện trong thời gian tới Tương ứng với đó là mục tiêu cụ thể bao gồm: (1) Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về sự tham gia của phụ nữ trong thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới; (2) Đánh giá sự tham gia của phụ nữ trong thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng NTM tại huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa; (3) Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới sự tham gia của phụ nữ trong việc thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng NTM tại huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa; (4) Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng NTM, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa
Đề tài sử dụng linh hoạt giữa số liệu sơ cấp và số liệu thứ cấp để đưa ra các phân tích, đánh giá Trong đó, số liệu thứ cấp được thu thập thông qua các báo cáo tổng kết từ phòng Kinh tế, Tài nguyên Môi trường, địa chính huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa về
sự tham gia của phụ nữ, kết quả công tác xây dựng nông thôn mới, việc thực hiện các tiêu chí xây dựng NTM Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua các công cụ: phỏng vấn thông qua bảng hỏi với những câu hỏi đóng, mở linh hoạt các đối tượng phụ nữ, cán bộ; phỏng vấn sâu cán bộ địa phương và sử dụng phương pháp thảo luận nhóm PRA tại 2
Trang 12xã Tế Lợi, xã Vạn Thắng tại huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa Đề tài sử dụng phương pháp phân tích: thống kê mô tả, phân tích so sánh, ma trận SWOT để đánh giá sự tham gia của phụ nữ trong thực hiện tiêu chí môi trường xây dựng NTM cũng như phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của phụ nữ trong thực hiện tiêu chí môi trường xây dựng NTM tại huyện Nông Cống
Qua đánh giá tình hình tham gia của phụ nữ trong thực hiện tiêu chí môi trường xây dựng NTM tại huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa cho thấy, phụ nữ tham gia thực hiện tiêu chí môi trường thông qua các nội dung: Sự tham gia của phụ nữ trong công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức và trách nhiệm bảo vệ môi trường; Sự tham gia của phụ nữ trong thu gom và xử lý rác thải; Sự tham gia của phụ nữ với vấn đề nước sạch; Sự tham gia của phụ nữ trong công tác di dời chuồng trại chăn nuôi; Sự tham gia của phụ nữ trong cải tạo cảnh quan (trồng cây, cải tạo ao hồ sinh thái ); Sự tham gia của phụ nữ trong quản lý vệ sinh đường làng ngõ xóm Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của phụ nữ trong thực hiện tiêu chí môi trường, xây dựng NTM huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa: (1) Độ tuổi của phụ nữ; (2) Trình độ học vấn, chuyên môn, khoa học kỹ thuật của phụ nữ còn nhiều hạn chế; (3) Điều kiện kinh tế gia đình; (4) Công tác tuyên truyền, vận động phụ nữ tham gia thực hiện tiêu chí môi trường; (5) Công tác tuyên truyền, vận động phụ nữ tham gia thực hiện tiêu chí môi trường; (6) Chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước
Thông qua nghiên cứu, đề tài đã đưa ra những giải pháp tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong thực hiện tiêu chí môi trường, xây dựng NTM tại huyện Nông Cống như sau: (1) Giải pháp về tuyên truyền, vận động; (2) Nâng cao trình độ học vấn, khả năng nhận thức của phụ nữ; (3) Nâng cao vai trò của Hội phụ nữ; (4) Nâng cao năng lực cán bộ địa phương Trong đó, giải pháp về tuyên truyển, vận động và giải pháp nâng cao trình độ học vấn, khả năng nhận thức của phụ nữ là những giải pháp then chốt, tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong thực hiện tiêu chí môi trường, xây dựng NTM tại huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa
Trang 13THESIS ABSTRACT
1 Master candidate: Nguyen Thi Bich Hang
2 Thesis title: "Evaluation on the women participation in implementing environmental criteria of new rural development in Nong Cong district, Thanh Hoa province"
4 Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)
Environmental protection is an urgent problem that the Party and State are interested National targeted program to new rural development has become a broad movement to make positive changes in perception both the political and social system According to the experts, in 11 content and 19 criteria in group of National targeted program to new rural development criteria, environmental criterion is the most difficult ones Nong Cong district has been implementing the National targeted program to new rural development and has been getting difficulties in the practice process Women's Nong Cong is a force that play an important role contributes to implemented environmental criteria, construction new rural deelopment with practical programs As conditions of time limitted, this study focuses on analyzing and assessing the participation of women in doing the environmental criteria of new rural development in Nong Cong district, Thanh Hoa province, from which, study and propose some feasible solutions to enhance the participation of women in the implementation of environmental criteria on new rural development in the district in near future Corresponding to problem are specific objectives: (1) systemize theorical and practical of the participation
of women in doing environmental criteria of new rural development; (2) Evaluate the participation of women in implementing environmental criteria of National targeted program to new rural development in Nong Cong district, Thanh Hoa province; (3) Analysis of factors affecting the participation of women in the implementation of environmental criteria; (4) Propose a number of measures to strengthen the participation
of women in the implementation of environmental criteria in National targeted program
to new rural development, Nong Cong district, Thanh Hoa province
The study used flexibly both primary and secondary data to analyze and evaluate In particular, secondary data was collected through the final report of Economic, Natural Resources and Environment, and Cadastral division of Nong Cong district, Thanh Hoa province on the participation of women, resulting and the criteria of new rural development Primary data was collected by: interview through a questionnaire with closed-open questions and respondents include women; goverment staff In addition, depth interview was conducted with local officials and PRA methods
Trang 14was used in Te Loi and Van Thang commune, Nong Cong district, Thanh Hoa province The study was used descriptive statistics, comparative analysis, SWOT matrix methods
to evaluate the participation of women in the implementation of environmental criteria
as well as analysis factors influencing on the participation of women in the implementation of environmental criteria of new rural development in Nong Cong district
The evaluation of women participation in implementating environmental criteria
of new rural development in Nong Cong district, Thanh Hoa province showed that women's participation in the environmental criteria implementation through the contents: Women participated in propaganda and education lead to raise awareness and responsibility to protect the environment, The participation of women in waste colection and treatment, women took part in clean water activity; relocated livestock cages; improved landscapes (planting trees, improving ecological ponds .); and managed sanitation of hamlet roads Factors affecting the participation of women in the environmental criteria implementation of new rural development in Nong Cong district, Thanh Hoa province are: (1) The age of the women; (2) Education, professional, scientific and technical of women is still limited; (3) household economic conditions; (4) The propaganda, encouraging women to participate in the implementation of environmental criteria; (5) The propaganda, encouraging women to participate in the implementation of environmental criteria; (6) The policy the Party and State
The study proposed some feasible solutions that enhance the participation of women in environmental criteria implementation of new rural development in Nong Cong district as follows: (1) Propaganda and mobilization solutions ; (2) Improving the educational level, awareness for women; (3) Expanding the role of women's associations; (4) Exploring capacity building for local officials In particularly, propaganda, advocacy and improve the education level, cognitive abilities of women are key solutions, enhancing the participation of women in the implementation of environmental criteria of new rural development in Nong Cong district, Thanh Hoa province
Trang 15PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Bảo vệ môi trường là một vấn đề lớn và hết sức cấp thiết, được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm Trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhiệm vụ bảo vệ môi trường luôn được đặt lên hàng đầu Thực tế cho thấy, môi trường nông thôn đang chịu sức ép ô nhiễm ngày càng lớn từ sự gia tăng dân
số, sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật bừa bãi, bỏ trống khâu xử lý chất thải trong chăn nuôi, chất thải nông nghiệp, sinh hoạt, sản xuất nghề…
Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới (NTM), đã trở thành một phong trào rộng lớn, tạo sự chuyển biến tích cực về nhận thức trong cả hệ thống chính trị và toàn xã hội Với sự vào cuộc quyết liệt của nhiều cấp ủy, chính quyền các cấp, sự hưởng ứng và tham gia tích cực của người dân, chương trình NTM đã đạt được kết quả bước đầu khả quan Theo đánh giá của các chuyên gia, trong 11 nội dung và 19 tiêu chí tiêu chí thuộc bộ tiêu chí xây dựng NTM, tiêu chí môi trường vẫn là tiêu chí khó thực hiện nhất, cả nước mới có 26% các xã điểm NTM đạt tiêu chí về môi trường (Phạm Thị Tố Oanh, 2015)
Có nhiều yếu tố tác động đến sự thành công của việc xây dựng nông thôn mới, trong đó lực lượng lao động ở nông thôn là một nhân tố quan trọng Một thực tế đang đặt ra hiện nay là cùng với quá trình đô thị hóa thì xu hướng lao động chuyển từ nông thôn ra thành thị nên lực lượng lao động chính ở khu vực này còn lại chủ yếu là phụ nữ Chính vì vậy, phụ nữ nông thôn nước ta có một vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội nói chung và việc xây dựng nông thôn mới nói riêng Chính phụ nữ là lực lượng đông đảo góp phần quan trọng làm thay đổi diện mạo bộ mặt nông thôn và xây dựng đời sống mới thông qua việc triển khai thực hiện tiêu chí môi trường- tiêu chí 17 trong bộ 19 tiêu chí về xây dựng NTM với nhiều chương trình thiết thực
Thực hiện Nghị quyết số: 26-NQ/TW ngày 5/8/2008 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Quyết định 800/QĐ-TTg ngày 4/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình MTQG xây dựng NTM, giai đoạn 2010-2020; quyết định số: 491/QĐ-TTg Ngày 16/4/2009 của Thủ tướng chính phủ về việc ban hành bộ tiêu chí quốc gia
Trang 16về xây dựng nông thôn mới; Nghị quyết số: 43/2012 NQ-HĐND ngày 5/12/2012 của HĐND tỉnh về ban hành cơ chế, chính sách hỗ trợ xây dựng nông thôn mới tỉnh Thanh Hóa đến năm 2015 Nghị quyết số: 07/NQ-HU của BCH đảng bộ Huyện Nông Cống về công tác vận động quần chúng chung tay xây dựng nông thôn mới; BCĐ xây dựng NTM của xã đã bám sát các chủ trương nghị quyết của các cấp, quán triệt sâu sắc đến cán bộ đảng viên và nhân dân để triển khai tổ chức thực hiện Chương trình xây dựng NTM một cách toàn diện, rộng khắp và có hiệu quả
Nông Cống là một huyện đồng bằng nằm về phía Tây Nam Thanh Hóa, đã
và đang thực hiện Chương trình MTQG xây dựng NTM Sau 5 năm thực hiện xây dựng NTM (giai đoạn 2010-2015), 100% xã trên địa bàn huyện Nông Cống
đã hoàn thành công tác đánh giá thực trạng nông thôn theo 19 tiêu chí để có định hướng trong thời gian tới, có 17 xã trên tổng số 31 xã đạt tiêu chí môi trường trong xây dựng NTM, 7 xã trên 31 xã đạt chuẩn xã NTM (UBND huyện Nông Cống, 2015)
Để đạt được những kết quả nhất định đó, sự tham gia đóng góp, cống hiến của lực lượng phụ nữ trong địa bàn huyện đóng một vai trò vô cùng quan trọng
Họ đã phát huy được vai trò to lớn của mình trong quá trình tham gia thực hiện tiêu chí môi trường xây dựng NTM Vậy phụ nữ đã tham gia thực hiện tiêu chí môi trường xây dựng NTM như thế nào? Kết quả tham gia hoạt động ra sao? Trong quá trình thực hiện tiêu chí môi trường gặp phải những khó khăn gì và làm sao để giải quyết được những khó khăn đó Để trả lời cho những câu hỏi trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá sự tham gia của phụ nữ trong thực hiện tiêu chí môi trường xây dựng nông thôn mới tại huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa”
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá sự tham gia của phụ nữ trong viêc thực hiện tiêu chí môi trường xây dựng nông thôn mới ở huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong thực hiện tiêu chí môi trường xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện trong thời gian tới
Trang 17- Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng NTM, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu này nhằm trả lời các câu hỏi:
1 Sự tham gia của phụ nữ trong thực hiện tiêu chí môi trường xây dựng nông thôn mới tại huyện Nông Cống đang diễn ra như thế nào?
2 Kết quả đạt được trong quá trình thực hiện là gì?
3 Những yếu tố nào ảnh hưởng tới quá trình tham gia của phụ nữ trong thực hiện tiêu chí môi trường?
4 Các giải pháp nào để tăng cường sự tham gia của phụ nữ đối với quá trình thực hiện tiêu chí môi trường?
1.4 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sự tham gia và vai trò của phụ nữ trong thực hiện tiêu chí môi trường xây dựng NTM tại huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Đánh giá sự tham gia của phụ nữ trong thực hiện tiêu chí môi trường xây dựng NTM, các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia, các giải pháp nhằm tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong thực hiện tiêu chí môi trường xây dựng NTM tại huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa
- Về không gian: Đề tài tiến hành nghiên cứu trong phạm vi huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa
Trang 18- Về thời gian: Số liệu được thu thập từ năm 2013- 2016 Đề tài được thực hiện từ tháng 10/2015 đến tháng 10/ 2016
1.5 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA NGHIÊN CỨU VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Luận văn giúp hệ thống hóa, làm sáng tỏ lý luận và thực tiễn về sự tham gia của phụ nữ trong thực hiện tiêu chí môi trường, các khái niệm, hình thức tham gia của phụ nữ trong thực hiên tiêu chí môi trường xây dựng NTM, các bài học kinh nghiệm về sự tham gia của phụ nữ tại một số địa phương trên cả nước
về xây dựng NTM
Luận văn phân tích tình hình tham gia của phụ nữ trong thực hiện tiêu chí môi trường, các nội dung tham gia thực hiện tiêu chí môi trường, phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới sự tham gia của phụ nữ trong thực hiện tiêu chí môi trường:
Độ tuổi của phụ nữ; Trình độ học vấn, chuyên môn, khoa học kỹ thuật của phụ
nữ còn nhiều hạn chế; Điều kiện kinh tế gia đình; Công tác tuyên truyền, vận động phụ nữ tham gia thực hiện tiêu chí môi trường; Công tác tuyên truyền, vận động phụ nữ tham gia thực hiện tiêu chí môi trường; Chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước Hầu hết các nghiên cứu trước chưa phân tích yếu tố độ tuổi, yếu tố điều kiện kinh tế gia đình tới sự tham gia của phụ nữ trong thực hiện tiêu chí môi trường, xây dựng NTM
Từ phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới sự tham gia của phụ nữ trong thực hiện tiêu chí môi trường, xây dựng NTM huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, luận văn đưa ra các giải pháp về tuyên truyền, vận động; về nâng cao trình độ học vấn, khả năng nhận thức của phụ nữ; về nâng cao vai trò của Hội phụ nữ; về nâng cao năng lực cán bộ địa phương nhằm tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong thực hiện tiêu chí môi trường, xây dựng NTM huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa
Trang 19PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ THAM GIA CỦA PHỤ NỮ TRONG THỰC HIỆN TIÊU CHÍ MÔI TRƯỜNG XÂY DỰNG NTM TẠI HUYỆN NÔNG CỐNG, TỈNH THANH HÓA
2.1.1 Lý luận về nông thôn mới và tiêu chí môi trường trong xây dựng NTM 2.1.1.1 Những khái niệm liên quan tới nông thôn mới
a Nông thôn
Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là ủy ban nhân dân xã (Bộ Nông nghiệp & PTNT, 2009)
Hiện nay, có rất nhiều quan điểm khác nhau về nông thôn, do đó cũng có nhiều khái niệm khác nhau về nông thôn Một quan điểm khác lại cho rằng, vùng nông thôn là vùng có dân cư làm nông nghiệp là chủ yếu, tức là nguồn sinh kế chính của dân cư nông thôn trong vùng là từ hoạt động sản xuất nông nghiệp Những ý kiến này chỉ đúng trong từng khía cạnh cụ thể và từng nước nhất định, phụ thuộc vào trình độ phát triển, cơ cấu kinh tế, cơ cấu áp dụng cho từng nền kinh tế Như vậy, khái niệm nông thôn chỉ có tính chất tương đối, nó có thể thay đổi theo thời gian và theo tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia trên thế giới Trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam chúng ta có thể hiểu:
"Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp dân cư, trong đó có nhiều nông dân Tập hợp dân cư này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa - xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác" (Mai Thanh Cúc, 2005)
b Nông thôn mới
Là nông thôn mà trong đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của người dân không ngừng được nâng cao, giảm dần sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị Nông dân được đào tạo, tiếp thu các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới
Nông thôn mới có kinh tế phát triển toàn diện, bền vững, cơ sở hạ tầng được xây dựng đồng bộ, hiện đại, phát triển theo quy hoạch, gắn kết hợp lý giữa
Trang 20nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ và đô thị Nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc, môi trường sinh thái được bảo vệ Sức mạnh của hệ thống chính trị được nâng cao, đảm bảo giữ vững an ninh chính trị và trật tự xã hội
c Xây dựng Nông thôn mới
Xây dựng nông thôn mới là cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn để cộng đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã, gia đình của mình khang trang, sạch đẹp; phát triển sản xuất toàn diện (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ) xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn từng bước hiện đại; xây dựng cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý; gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với
đô thị theo quy hoạch; xây dựng nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; bảo vệ môi trường sinh thái; giữ vững an ninh - trật tự; tăng cường hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân
Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, của cả hệ thống chính trị Nông thôn mới không chỉ là vấn đề kinh tế – xã hội, mà là vấn đề kinh tế – chính trị tổng hợp
Xây dựng nông thôn mới giúp cho nông dân có niềm tin, trở nên tích cực, chăm chỉ, đoàn kết giúp đỡ nhau xây dựng nông thôn phát triển giàu đẹp, dân chủ, văn minh
Xây dựng mô hình nông thôn mới là một chính sách liên quan đến mô hình phát triển cả về nông nghiệp và nông thôn, nên vừa mang tính tổng hợp, bao quát nhiều lĩnh vực, vừa đi sâu giải quyết nhiều vấn đề cụ thể, đồng thời giải quyết các mối quan hệ với các chính sách khác, các lĩnh vực khác trong sự tính toán, cân đối mang tính tổng thể, khắc phục tình trạng rời rạc, hoặc duy ý chí
Mô hình nông thôn mới là tổng thể những đặc điểm, cấu trúc tạo thành một kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới, đáp ứng yêu cầu mới đặt ra cho nông thôn trong điều kiện hiện nay, là kiểu nông thôn được xây dựng so với mô hình nông thôn cũ ở tính tiên tiến về mọi mặt (Mai Thanh Cúc, 2005)
Nội dung chủ yếu trong xây dựng nông thôn mới bao gồm:
- Quy hoạch xây dựng nông thôn mới;
- Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội;
Trang 21- Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập;
- Giảm nghèo và an sinh xã hội;
- Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở nông thôn;
- Phát triển giáo dục - đào tạo ở nông thôn;
- Phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe cư dân nông thôn;
- Xây dựng đời sống văn hóa, thông tin và truyền thông nông thôn cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn;
- Nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội trên địa bàn;
- Giữ vững an ninh, trật tự xã hội nông thôn
d Sự cần thiết của xây dựng nông thôn mới
Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM là rất cần thiết Sự cần thiết này được thể hiện bởi thực trạng:
Thứ nhất, kết cấu hạ tầng kỹ thuật nông thôn (điện, đường, trường, trạm, chợ, thủy lợi, còn nhiều yếu kém, vừa thiếu, vừa không đồng bộ) nhiều hạng mục công trình đã xuống cấp, tỷ lệ giao thông nông thôn được cứng hoá thấp; giao thông nội đồng ít được quan tâm đầu tư; hệ thống thuỷ lợi cần được đầu tư nâng cấp; chất lượng lưới điện nông thôn chưa thực sự an toàn; cơ sở vật chất về giáo dục, y tế, văn hoá còn rất hạn chế, chợ nông thôn chưa được đầu tư đồng bộ, trụ
sở xã nhiều nơi xuống cấp Mặt bằng để xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn đạt chuẩn quốc gia rất khó khăn, dân cư phân bố rải rác, kinh tế hộ kém phát triển
Thứ hai, sản xuất nông nghiệp manh mún, nhỏ lẻ, trình độ canh tác của nông dân còn lạc hậu, cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn chuyển dịch chậm chưa phát huy hết tiềm năng và lợi thế, xu hướng phát triển chưa ổn định,
cơ giới hóa trong nông nghiệp chưa đồng bộ, việc áp dụng những thành tựu khoa học, kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp còn hạn chế dẫn đến năng suất, chất lượng và hiệu quả chưa cao Mặt khác, việc bảo quản, chế biến nông sản chưa được quan tâm đúng mức, sản phẩm làm ra chưa tìm được thị trường tiêu thụ ổn định chưa gắn chế biến với thị trường tiêu thụ sản phẩm; chất lượng nông sản chưa đủ sức cạnh tranh trên thị trường Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, ứng dụng khoa học công nghệ trong nông nghiệp còn chậm, tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp còn thấp; cơ giới hoá chưa đồng bộ
Trang 22Thứ ba, thu nhập của nông dân thấp; số lượng doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn còn ít; sự liên kết giữa người sản xuất và các thành phần kinh tế khác ở khu vực nông thôn chưa chặt chẽ Kinh tế hộ, kinh tế trang trại, hợp tác xã còn nhiều yếu kém Tỷ lệ lao động nông nghiệp còn cao, cơ hội có việc làm mới tại địa phương không nhiều, tỷ lệ lao động nông lâm nghiệp qua đào tạo thấp; tỷ lệ hộ nghèo còn cao
Thứ tư, đời sống tinh thần của nhân dân còn hạn chế, nhiều nét văn hoá truyền thống đang có nguy cơ mai một (tiếng nói, phong tục, trang phục…); nhà
ở dân cư nông thôn vẫn còn nhiều nhà tạm, dột nát Hiện nay, kinh tế – xã hội khu vực nông thôn chủ yếu phát triển tự phát, chưa theo quy hoạch
Thứ năm, yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, cần 3 yếu tố chính: đất đai, vốn và lao động kỹ thuật Qua việc xây dựng nông thôn mới sẽ triển khai quy hoạch tổng thể, đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa
Mặt khác, mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp Chính vì vậy, một nước công nghiệp không thể để nông nghiệp, nông thôn lạc hậu, nông dân nghèo khó và việc xây dựng NTM là rất cấp bách hiện nay
2.1.1.2 Tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới
a Khái niệm về môi trường
Theo luật bảo vệ môi trường thì môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên
và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và tự nhiên
Theo định nghĩa của tổ chức kinh tế văn hóa xã hội Liên Hiệp Quốc (UNESCO) thì Môi trường của con người bao gồm toàn bộ các hệ thống tự nhiên
và các hệ thống do con người tạo ra, những cái hữu hình (tập quán, niềm tin…), trong đó con người sống và lao động, họ khai thác các tài nguyên thiên nhiên và nhân tạo nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình (Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường/ Cục môi trường, 2001)
Như vậy, môi trường sống của con người theo định nghĩa rộng nhất là tất
cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sống, sản xuất của con người như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, ánh sang, cảnh quan, quan hệ xã hội,…(Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường, 2001)
Trang 23b Nội dung tiêu chí môi trường
Ngày 05/8/2008, Hội nghị lần thứ 7 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ-TW về vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn Đồng thời, nhằm thực hiện các nhiệm vụ mà Nghị quyết 26-NQ/TW
đề ra, Chính phủ đã có Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới, Quyết định 800/QĐ-TTg ngày 4/6/2010 phê duyệt chương trình Mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới 2010-2020
Môi trường là tiêu chí thứ 17 trong tổng số 19 tiêu chí để một địa phương được công nhận là xã nông thôn mới Với mục tiêu:
- Mục tiêu chung: Bảo vệ môi trường, sinh thái, cải thiện, nâng cao chất lượng môi trường khu vực nông thôn thông qua các hoạt động tuyên truyền, nâng cao nhận thức, ý thức và đi đến hành động cụ thể của các cấp, các ngành và cả cộng đồng nhân dân
- Mục tiêu cụ thể: Đạt yêu cầu tiêu chí số 17 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới; đảm bảo cung cấp đủ nước sinh hoạt sạch và hợp vệ sinh cho dân
cư, trường học, trạm y tế, công sở và các khu dịch vụ công cộng; thực hiện các yêu cầu về bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái trên địa bàn xã Đến 2015 có 35% số xã đạt chuẩn và đến 2020 có 80% số xã đạt chuẩn
Tiêu chí 17 về môi trường có 05 chỉ tiêu:
(1) Tỷ lệ hộ được sử dụng nước sạch hợp vệ sinh theo quy chuẩn Quốc gia đạt 75%
(2) 100% Các cơ sở SX-KD đạt tiêu chuẩn về môi trường
(3) Không có các hoạt động gây suy giảm môi trường và có các hoạt động phát triển môi trường xanh, sạch, đẹp
(4) Nghĩa trang được xây dựng theo quy hoạch
(5) Chất thải, nước thải được thu gom và xử lý theo quy định
Trang 24Bảng 2.1 Nội dung thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng NTM
17.2
Tỷ lệ hộ dân sử dụng nước sạch theo quy chuẩn của Bộ Y tế (QCVN 02:2009/BYT ban hành theo Thông tư số 05/2009/TT-BYT ngày 17/6/2009)
08/2005/QĐ-BYT ngày 23/11/2005)
triển môi trường xanh, sạch, đẹp
trường
huyện, liên huyện và người dân phải trả chi phí thu gom và xử lý
được thu gom và xử lý theo quy định và người dân phải trả chi phí xử lý
Nguồn: Thủ tướng Chính phủ (2009)
c Nhiệm vụ của tiêu chí môi trường
Xây dựng các công trình bảo vệ môi trường nông thôn trên địa bàn xã, thôn theo quy hoạch, gồm: xây dựng, cải tạo nâng cấp hệ thống tiêu thoát nước trong thôn, xóm; xây dựng các điểm thu gom, xử lý rác thải ở các xã; chỉnh trang, cải tạo nghĩa trang; cải tạo, xây dựng các ao, hồ sinh thái trong khu dân cư, phát triển cây xanh ở các công trình công cộng…
d Các bước xây dựng và thực hiện tiêu chí môi trường
Điều 3 Thông tư liên tịch số 26/2011/TTLT-BNNPTNT-BKHĐT-BTC ngày13 tháng 4 năm 2011 của Bộ Nông nghiệp PTNT, Bộ Kế hoạch đầu tư, Bộ Tài chính quy định các bước xây dựng và thực hiện tiêu chí môi trường như sau:
Bước 1: Thành lập ban quản lý, thực hiện tiêu chí môi trường
Bước 2: Tuyên truyền vận động người dân tham gia
Trang 25Bước 3: Huy động và phân bổ vốn
Bước 4: Thành lập dịch vụ vệ sinh môi trường
Bước 5: Quy hoạch nghĩa trang, nghĩa địa, bãi xử lý rác
Bước 6: Kiểm tra, xử lý
2.1.2 Sự tham gia của phụ nữ trong thực hiện tiêu chí môi trường xây dựng nông thôn mới
2.1.2.1 Khái niệm và vai trò sự tham gia của phụ nữ trong thực hiện tiêu chí môi trường
a Khái niệm
- Giới tính
Chỉ các đặc điểm sinh học của nam và nữ mang tính toàn cầu và không thay đổi Các đặc trưng của giới tính bị quy định và hoạt động theo các cơ chế tự nhiên, di truyền Người nào có cặp nhiễm sắc thể giới tính XX thì thuộc về nữ giới, người nào có cặp nhiễm sắc thể giới tính XY thì thuộc về nam giới Nữ giới vốn có chức năng sinh lý học như tạo ra trứng, mang thai, sinh con và cho con bú bằng bầu sữa mẹ Nam giới có chức năng tạo ra tinh trùng Về mặt sinh lý học nữ giới khác nam giới (Trần Thị Vân Anh, 2006)
- Giới
Chỉ sự khác biệt về xã hội và quan hệ (về quyền lực) giữa trẻ em trai và trẻ
em gái, giữa phụ nữ và nam giới được hình thành và khác nhau ngay trong một nề văn hóa và thay đổi theo thời gian Sự khác biệt này được nhận thấy một cách rõ ràng trong vai trò, trách nhiệm, nhu cầu, khó khăn thuận lợi của các giới tính (Trần Thị Vân Anh, 2006)
Giới: chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan
hệ xã hội
Những khác biệt về mặt sinh học giữa nam và nữ là không thể thay đổi được Những đặc điểm có thể hoán đổi cho nhau giữa nam và nữ được coi là thuộc về khía cạnh Giới Những đặc điểm có thể hoán đổi đó là những khái niệm, nếp nghĩ và tiêu chuẩn mang tính chất xã hội Đó là sự khác biệt về Giới và nó thay đổi theo thời gian, không gian…
Giới tính là bẩm sinh và đồng nhất (nam và nữ khắp nơi trên thế giới đều
có chức năng/cơ quan sinh sản giống nhau), không thể thay đổi được (giữa nam
Trang 26và nữ), do các yếu tố sinh học quyết định Chúng ta sinh ra là đàn ông hay đàn bà: chúng ta không thể lựa chọn và không thể thay đổi được điều đó
Giới phản ánh sự khác biệt giữa nam và nữ về khía cạnh xã hội Những sự khác biệt này là do quá trình học mà thành, đa dạng, và có thể thay đổi Chúng thay đổi theo thời gian, từ nước này sang nước khác, từ nền văn hoá này sang nền văn hoá khác trong một bối cảnh cụ thể của một xã hội, do các yếu tố xã hội, lịch
sử, tôn giáo, kinh tế quyết định (Địa vị của người phụ nữ phương Tây khác với địa vị của người phụ nữ phương Đông, địa vị xã hội của phụ nữ Việt Nam khác với địa vị xã hội của phụ nữ Hồi giáo, địa vị của phụ nữ nông thôn khác với địa
Hơn nữa nam giới và nữ giới có xuất phát điểm không giống nhau để tiếp cận cái mới, họ có những thuận lợi, khó khăn với tính chất và mức độ khác nhau
để tham gia vào các chương trình kinh tế, từ góc độ nhận thức, nắm bắt các thông tin xã hội Trong nền kinh tế hội nhập quốc tế, từ điều kiện và cơ hội được học tập, tiếp cận việc làm và làm việc, từ vị trí trong gia đình, ngoài xã hội khác nhau, từ tác động của định kiến xã hội, các hệ tư tưởng, phong tục tập quán đối với mỗi giới cũng khác nhau (Trần Thị Vân Anh, 2006)
Trang 27- Các vai trò giới
Vai trò giới: là tập hợp các hành vi ứng xử mà xã hội mong đợi ở nam và
nữ liên quan đến những đặc điểm giới tính và năng lực mà xã hội coi là thuộc về nam giới hoặc thuộc về phụ nữ (trẻ em trai hoặc trẻ em gái) trong một xã hội hoặc một nền văn hoá cụ thể nào đó.(Đỗ Thị Bình, 2003)
Trong cuộc sống, nam và nữ đều tham gia vào mọi hoạt động của đời sống
xã hội, tuy nhiên mức độ tham gia của nam và nữ trong các loại công việc là khác nhau do những quan niệm, các chuẩn mực xã hội quy định Những công việc mà họ đảm nhận được gọi là vai trò giới
Vai trò giới được quyết định bởi các yếu tố kinh tế, văn hoá, xã hội
Phụ nữ và nam giới thường có 3 vai trò giới như sau: Vai trò sản xuất, vai trò tái sản xuất, vai trò cộng đồng
+ Vai trò sản xuất: là các hoạt động làm ra sản phẩm, hàng hoá hoặc dịch
vụ để tiêu dùng và trao đổi thương mại Đây là những hoạt động tạo ra thu nhập, được trả công Cả phụ nữ và nam giới đều có thể tham gia vào các hoạt động sản xuất, tuy nhiên do những định kiến trong xã hội nên mức độ tham gia của họ không như nhau và giá trị công việc họ làm cũng không được nhìn nhận như nhau Xã hội coi trọng và đánh giá cao vai trò này
+ Vai trò tái sản xuất: là các hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng, dạy dỗ giúp tái sản xuất dân số và sức lao động bao gồm sinh con, các công việc chăm sóc gia đình, nuôi dạy và chăm sóc trẻ con, nấu ăn, dọn dẹp, giặt giũ, chăm sóc sức khoẻ gia đình… Những hoạt động này là thiết yếu đối với cuộc sống con người, đảm bảo sự phát triển bền vững của dân số và lực lượng lao động; tiêu tốn nhiều thời gian nhưng không tạo ra thu nhập, vì vậy mà ít khi được coi là “công việc thực sự”, được làm miễn phí, không được các nhà kinh tế đưa vào các con tính Xã hội không coi trọng và đánh giá cao vai trò này Hầu hết phụ nữ và trẻ gái đóng vai trò và trách nhiệm chính trong các công việc tái sản xuất
+ Vai trò cộng đồng: bao gồm một tổ hợp các sự kiện xã hội và dịch vụ: ví
dụ như thăm hỏi động viên gia đình bị nạn trong thảm họa, thiên tai; nấu cơm hoặc bố trí nhà tạm trú cho những gia đình bị mất nhà ở; huy động cộng đồng đòng góp lương thực, thực phẩm cứu trợ người bị nạn… Công việc cộng đồng có
ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển văn hoá tinh thần của cộng đồng Có lúc
nó đòi hỏi sự tham gia tình nguyện, tiêu tốn thời gian và không nhìn thấy ngay
Trang 28được Có lúc nó lại được trả công và có thể nhìn thấy được (ví dụ: là thành viên phân phối hàng cứu trợ sau bão) (Đỗ Thị Bình, 2003)
- Vai trò của phụ nữ theo các quan điểm khác nhau
+ Quan điểm “Phụ nữ trong phát triển” đã nhấn mạnh vai trò của phụ nữ trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế của đất nước, coi trọng vai trò của phụ nữ với tư cách là người hưởng thụ thành quả của sự phát triển, nắm giữ được các nguồn lực như chìa khóa mở đường giúp cho phụ nữ thoát khỏi sự lệ thuộc Tuy nhiên, cách tiếp cận này mới chỉ đặt phụ nữ trong khuôn khổ phát triển đã được định sẵn chứ chưa coi phụ nữ là chủ thể của quá trình phát triển kinh tế xã hội, do đó không chỉ hạn chế khả năng phát huy tính chủ động, sáng tạo của phụ
nữ mà có thể làm giảm hiệu quả của các quá trình kinh tế Hơn nữa, cách tiếp cận WID còn xem xét vấn đề phụ nữ một cách tách biệt, quá nhấn mạnh đến khía cạnh sản xuất trong công việc và lao động của phụ nữ, nhất là việc tạo ra thu nhập, trong khi đó đã bỏ qua khía cạnh tái sản xuất (Trần Thị Vân Anh và Lê Ngọc Hùng, 2000)
+ Quan điểm, Tư tưởng của Hồ Chí Minh về vai trò của phụ nữ trong xã hội: “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu
mà thêm tốt đẹp, rực rỡ” Người cũng rút ra kết luận “Xem trong lịch sử cách mệnh chẳng có lần nào là không có đàn bà tham gia”, rồi Người khẳng định: “An Nam cách mệnh cũng phải có nữ giới tham gia mới thành công” (Hồ Chí Minh, 1970) Với cách nhìn toàn diện, Bác Hồ nhấn mạnh rằng phụ nữ chiếm một nửa nhân loại; “Nói đến phụ nữ là nói đến một nửa xã hội”, cũng tương tự “Phụ nữ Việt Nam chiếm một nửa tổng số nhân dân ta”; Người còn chỉ rõ: “Phụ nữ là một lực lượng lao động rất quan trọng” Vì vậy, theo Người, “Nếu phụ nữ chưa được giải phóng thì xã hội chưa được giải phóng”, “Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa”
Bác Hồ phân tích có lý, có tình, rằng: Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội,
“Nhất định phải sản xuất thật nhiều Muốn sản xuất nhiều thì phải có nhiều sức lao động Muốn nhiều sức lao động thì phải giải phóng lao động của phụ nữ” Quyền bình đẳng thực sự của người phụ nữ theo Bác là “Người phụ nữ Việt Nam đứng ngang hàng với đàn ông để hưởng mọi quyền công dân”
+ Vai trò và vị trí của phụ nữ Việt Nam trong sự nghiệp phát triển và xây dựng đất nước luôn được Đảng và Nhà nước ghi nhận, đánh giá cao và đã được
Trang 29thể chế hóa thông qua hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm bảo đảm lợi ích chính đáng của phụ nữ trong tất cả các lĩnh vực.Từ trước đến nay, tất cả các chính sách, đặc biệt chính sách liên quan đến giới, đều chú trọng bình đẳng giới, tôn trọng và đề cao vai trò của phụ nữ Để thúc đẩy các cơ hội cho phụ nữ phát triển và thụ hưởng từ các thành quả của mình, Luật Bình đẳng giới đã được Quốc hội thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2006 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01tháng 7 năm 2007; ngày 27 tháng 4 năm 2007, Bộ Chính trị đã có Nghị quyết
số 11-NQ/TW về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nghị quyết nêu rõ “phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tiếp tục đổi mới công tác phụ nữ để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều hơn, chủ động hơn, đóng góp ngày càng lớn hơn cho sự phát triển của gia đình, cộng đồng, đất nước
- Hội liên hiệp phụ nữ
Hội liên hiệp phụ nữ là tổ chức tập hợp rộng rãi các tầng lớp phụ nữ Việt Nam Hội tham gia tích cực trong các hoạt động vì hòa bình, đoàn kết, hữu nghị giữa các dân tộc và tiến bộ xã hội trên toàn thế giới Mục đích của hội là hoạt động vì sự bình đẳng, phát triển của phụ nữ, chăm lo bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp và chính đáng của phụ nữ Từ những tổ chức tiền thân cho đến Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam ngày nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam,
Trang 30Hội đoàn kết các tầng lớp phụ nữ, phát huy truyền thống yêu nước, anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang, tài năng, trí tuệ góp phần tích cực vòa sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh (Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, 2014)
b Sự tham gia của phụ nữ
- Sự tham gia
Sự tham gia là một quá trình cho phép người dân tự tổ chức để xác định nhu cầu và cùng nhau thiết kế, tổ chức thực hiện, đánh giá hoạt động và cùng nhau hưởng lợi từ hoạt động đó
- Sự tham gia của người dân
Sự tham gia của người dân là quá trình người dân cùng với các cơ quan phát triển xây dựng chương trình hoạt động, lựa chọn ưu tiên, khởi xướng và thực hiện dự án bằng cách đóng góp ý tưởng, mối quan tâm, vật liệu, tiền bạc, lao động và thời gian (Setty, 1991)
Sự tham gia của cộng đồng là quá trình trong đó các nhóm dân cư của cộng đồng tác động vào quá trình quy hoạch, thực hiện, quản lý, xử dụng hoặc duy trì một dịch vụ, trang thiết bị hay phạm vi hoạt động Các hoạt động cá nhân không có tổ chức sẽ không được coi là sự tham gia của cộng đồng Sự tham gia của cộng đồng là đảm bảo cho người chịu ảnh hưởng của chương trình được tham gia vào việc quyết định chương trình Sự tham gia của cộng đồng là tìm và huy động các nguồn lực của cộng đồng, qua đó để tăng lợi ích cho cộng đồng cư dân giảm các chi phí tăng hiệu quả kinh tế và hiệu quả chính trị cho Nhà nước (Clanrence Shubert, 2000)
- Sự tham gia của phụ nữ
Phụ nữ tham gia thực hiện chương trình NTM thể hiện ở nhiều mức độ khác nhau: tham gia vào chuyển giao ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuất, tham gia sản xuất và hưởng lợi từ các thành quả chương trình xây dựng NTM tại đại phương, cơ sở Sự tham gia của phụ nữ trong quá trình xây dựng NTM là quá trình phụ nữ biết về trách nhiệm và nghĩa vụ của họ khi tham gia chương trình xây dựng NTM, được biết và tham gia ý kiến, được đóng góp công, của, được thực hiện, giám sát, đánh giá và được hưởng lợi từ chương trình đó
- Sự tham gia của Hội phụ nữ
Trang 31Thực hiện quản lý môi trường nông thôn Hội phụ nữ đã chủ động và tích cực tham gia trong công tác chỉ đạo, điều hành thông qua việc xây dựng quy chuẩn, thành viên ban chỉ đạo giám sát, đánh giá các công trình phục vụ cho quản lý môi trường nông thôn Đặc biệt trong công tác tuyên truyền, phổ biến
về lợi ích việc quản lý môi trường xung quanh Thông qua hoạt động tuyên truyền đã góp phần nâng cao nhận thức, tinh thần trách nhiệm của mọi tầng lớp nhân dân, trong đó có nhiều cán bộ, hội viên phụ nữ trở thành lực lượng nòng cốt tham gia quản lý môi trường nông thôn, nhiều mô hình hay, cách làm tốt do cán bộ phụ nữ thực hiện, nhiều tấm gương điển hình trong mô hình “Đoạn đường phụ nữ tự quản”, “5 không 3 sạch”, góp tiền, ngày công lao động,… Góp phần bảo vệ môi trường ở các vùng nông thôn trong thời gian qua (Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, 2014)
2.1.3 Nội dung đánh giá sự tham gia của phụ nữ trong thực hiện tiêu chí môi trường xây dựng nông thôn mới
Tập trung chủ yếu thực hiện có hiệu quả các nội dung thuộc tiêu chí 17 về bảo vệ môi trường, trong đó cần thực hiện, nâng cao tỷ lệ hộ được sử dụng nước sạch hợp vệ sinh theo quy chuẩn quốc gia; tỷ lệ hộ dân có nhà tiêu hợp vệ sinh đạt chuẩn; không có các hoạt động làm suy giảm môi trường, đồng thời có các hoạt động phát triển môi trường xanh, sạch, đẹp; chất thải, nước thải được thu gom xử lý; xử lý các đoạn sông, suối, các điểm, khu dân cư gây ô nhiễm môi trường; Chất thải, nước thải trong khu dân cư, chợ, cơ sở sản xuất được thu gom,
xử lý theo quy định và người dân phải trả phí xử lý; Nghĩa trang, nghĩa địa được xây dựng theo quy hoạch (Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, 2013)
2.1.3.1 Sự tham gia của phụ nữ trong công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức và trách nhiệm bảo vệ môi trường
Công tác tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm; phát huy vai trò của phụ nữ trong các phong trào do địa phương và đoàn thể phát động đặc biệt là hình thành ý thức bảo vệ môi trường, xây dựng NTM được đẩy mạnh, phát huy phong trào “Phụ nữ Nông Cống chung tay xây dựng nông thôn mới" giai đoạn 2012 – 2016
Gắn việc tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức trách nhiệm bảo vệ môi trường của phụ nữ với việc triển khai thực hiện cuộc vận động xây dựng gia đình
”5 không, 3 sạch” hàng năm, “Phụ nữ Nông Cống tham gia cứng hóa ngõ đất vào nhà” (Hội liên hiệp phụ nữ huyện Nông Cống, 2013)
Trang 322.1.3.2 Sự tham gia của phụ nữ trong thu gom và xử lý rác thải
Tích cực vận động nhân dân tham gia giữ gìn và bảo vệ môi trường, xả rác đúng nơi quy định Xây dựng và nhân rộng các mô hình như: hố rác đảm bảo vệ sinh hình thành tổ thu gom rác thải ở xã, thị trấn Xây dựng mô hình “Hố rác ngoài đồng” thu gom vỏ chai lọ thuốc bảo vệ thực vật (Hội liên hiệp phụ nữ huyện Nông Cống, 2013)
2.1.3.3 Sự tham gia của phụ nữ với vấn đề nước sạch
Nước sạch – vệ sinh môi trường là 2 nội dung quan trọng hàng đầu của chiến lược toàn cầu chống ô nhiễm môi trường, giữ gìn sự cân bằng hệ sinh thái, giúp con người sống hài hòa với thiên nhiên Có nước sạch, môi trường sống trong sạch, góp phần nâng cao dân trí, phụ nữ có thêm thời gian để học hành, phát triển kinh tế gia
đình, tăng thu nhập, chăm sóc giáo dục con cái, nâng cao địa vị của người phụ nữa trong gia đình và ngoài xã hội Phụ nữ đóng vai trò quan trọng trong việc sử dụng nước sạch vì:
+ Phụ nữ là người trực tiếp sử dụng nguồn nước trong sinh hoạt hàng ngày của gia đình như: ăn uống, tắm giặt…
+ Phụ nữ là người trực tiếp giáo dục con cái, nhắc nhở các thành viên trong gia đình thực hiện những hành vi vệ sinh cá nhân
Để có một môi trường sống trong lành phụ nữ đóng vai trò to lớn trong việc bảo vệ sức khỏe các thành viên trong gia đình cũng như góp phần bảo vệ môi trường chung nơi họ sinh sống Đặc biệt, phụ nữ tuyên truyền vận động thành lập các tổ tuyên truyền, bảo vệ, sử dụng nguồn nước sạch hợp lý và tiết kiệm, hiệu quả đảm bảo sức khỏe cho người dân tại địa phương Kiên quyết lên
án, tạo áp lực xã hội đối với những hành vi cố tình xả, thải gây ô nhiễm môi trường nguồn nước…(Hội liên hiệp phụ nữ huyện Nông Cống, 2013)
2.1.3.4 Sự tham gia của phụ nữ trong công tác di dời chuồng trại chăn nuôi
Tổ chức cho phụ nữ tham gia các hoạt động giải quyết các vấn đề về môi trường trên địa bàn dân cư Vận động các hộ gia đình cải tạo nhà cửa, vườn, ao,
di dời chuồng trại ra xa khu vực nhà ở để đảm bảo vệ sinh và giữ gìn sức khỏe 2.1.3.5 Sự tham gia của phụ nữ trong cải tạo cảnh quan (trồng cây, cải tạo ao
hồ sinh thái )
Tích cực vận động phụ nữ tham gia cải tạo ao, hồ, nạo vét kênh mương, khơi thông dòng chảy đảm bảo cảnh quan và bảo vệ môi trường, trồng cây, bảo
Trang 33vệ rừng; khai thác và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên rừng; trồng cây cải tạo cảnh quan môi trường sống, khu dân cư, cơ quan, trường học phê phán, tạo áp lực xã hội đối với những hành vi cố tình xả rác thải, chất thải gây ô nhiễm môi trường sống (Hội liên hiệp phụ nữ huyện Nông Cống, 2013)
2.1.3.6 Sự tham gia của phụ nữ trong quản lý vệ sinh đường làng ngõ xóm
Cuộc vận động xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch: 5 không là Không đói nghèo, không vi phạm pháp luật và tệ nạn xã hội, không bạo lực gia đình, không sinh con thứ 3 trở lên, không có trẻ em suy dinh dưỡng và bỏ học; 3 sạch là sạch nhà, sạch bếp, sạch ngõ) Đăng ký và tổ chức cho phụ nữ tham gia xây dựng, tu sửa đường giao thông nông thôn; đường trục chính nội đồng; hệ thống kênh mương, thủy lợi và các công trình phúc lợi; xây dựng các "Đoạn đường phụ nữ tự quản' và gắn biển các đoạn đường do phụ nữ quản lý xanh - sạch - đẹp; định kỳ huy động lực lượng tham gia vệ sinh, duy tu, bảo dưỡng (Hội liên hiệp phụ nữ huyện Nông Cống, 2013)
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của phụ nữ
2.1.4.1 Độ tuổi
Độ tuổi của phụ nữ khi tham gia thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng NTM có ảnh hưởng lớn tới việc phát huy vai trò của họ Ở những độ tuổi khác nhau, phụ nữ thể hiện vai trò của mình không giống nhau, mức độ tham gia và vị trí đảm nhiệm của phụ nữ cũng khác Ở độ tuổi trẻ, chưa lập gia đình,
họ có những điều kiện thuận lợi khi tham gia hoạt động đoàn thể, hoạt động xã hội nói chung, tham gia thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng NTM nói riêng Họ trẻ trung, năng động, dễ nắm bắt những xu thế mới, tiến bộ mới, và phát triển tốt các hoạt động phong trào Tuy nhiên ở độ tuổi này, họ lại chưa thực sự có nhiều kinh nghiệm thực tế, chưa có nhiều mối quan hệ và cả kinh nghiệm sống cũng chưa thực sự đủ độ chín nên có thể gặp một số khó khăn trong tham gia hoạt động và thể hiện vai trò của mình trong thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng NTM Ở độ tuổi cao hơn, khi họ đã có gia đình, họ đảm nhiệm nhiều vai trò hơn, với thiên chức làm vợ, làm mẹ, làm con dâu và còn cả tham gia hoạt động xã hội, họ đảm nhận nhiều trách nhiệm hơn vì thế thời gian tham gia thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng NTM bị hạn chế hơn nhưng không vì thế mà vai trò của họ không được thể hiện Họ có kinh nghiệm từng trải hơn, độ tuổi đủ chín để có những quyết định chín chắn hơn tuy
Trang 34nhiên việc tiếp cận hay bắt nhịp với những cái mới còn chưa thực nhanh nhậy bằng lực lượng phụ nữ ở lứa tuổi trẻ Dù ở độ tuổi nào, phụ nữ cũng khẳng định được vai trò của mình, thế hệ trước dìu dắt, truyền kinh nghiệm cho thế hệ sau, thế hệ sau tiếp bước, thừa kế những truyền thống tốt đẹp, phát huy năng lực, nhiệt huyết của tuổi trẻ, vai trò của mình, họ hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau để cùng thực hiện tốt tiêu chí môi trường trong xây dựng NTM tại địa phương, hướng tới một môi trường xanh, sạch, đẹp, có văn hóa và phát triển bền vững (Hội liên hiệp phụ nữ huyện Nông Cống, 2013)
2.1.4.2 Trình độ học vấn, chuyên môn, khoa học kỹ thuật còn nhiều hạn chế
Ở nông thôn, đặc biệt là miền núi phương tiện thông tin nghe nhìn và sách báo đến với người dân còn rất nhiều hạn chế, do vậy phụ nữ tiếp cận và nắm bắt các thông tin về kỹ thuật, văn hóa, xã hội, môi trường còn gặp nhiều khó khăn Ngoài thời gian lao động sản xuất, người phụ nữ dường như có ít thời gian cho nghỉ ngơi hoặc hưởng thụ văn hóa tinh thần, học hỏi, nâng cao hiểu biết kiến thức xã hội mà họ phải giành phần lớn cho công việc gia đình Do vậy, phụ nữ bị hạn chế về kỹ thuật chuyên môn và sự hiểu biết xã hội
Theo đánh giá của hầu hết các nghiên cứu về phụ nữ thì trình độ học vấn của phụ nữ hầu hết thấp hơn nam giới Thực trạng này khiến cho công tác xã hội hoá hoạt động giáo dục, môi trường, dân số rất khó triển khai ở các vùng nông thôn và kém hiệu quả ở khu vực thành thị Muốn nâng cao dân trí, xoá đói giảm nghèo thì phải trang bị những kiến thức cơ bản cho người dân đặc biệt là phụ nữ,
để họ thay đổi nếp nghĩ, tiếp thu cái mới, để thay đổi nếp cũ, từ đó tự khẳng định vai trò của mình trong gia đình - xã hội
Phụ nữ bị hạn chế về trình độ kỹ thuật, chuyên môn và sự hiểu biết nên đã gây cho họ không ít khó khăn cho việc nắm bắt các thể chế pháp luật, tìm nguồn vốn, tìm kiếm thông tin, khó khăn trong việc tiếp cận và áp dụng khoa học kỹ thuật mới hay các phương tiện hiện đại vào sản xuất và đời sống, do vậy hiệu quả của công việc và năng suất lao động còn thấp cho nên vai trò đóng góp của phụ
nữ cho phát triển kinh tế hộ gia đình bị hạn chế
Trình độ học vấn tác động tới khả năng, năng lực về nhìn nhận vấn đề, giải quyết công việc của phụ nữ.Trong chương trình mục tiêu quốc gia về chương trình xây dựng nông thôn mới, phụ nữ đóng vai trong chủ thể, có vai trò tạo nên sự thành công của chương trình Trình độ học vấn cao, phụ nữ sẽ có cái
Trang 35nhìn đúng đắn hơn, rõ ràng hơn, khả năng nhận thức tốt hơn về tác động tích cực hay tiêu cực của một hoạt động, chủ trương, chính sách, khả năng tiếp cận tiến
bộ khoa học – kỹ thuật, vận dụng vào đời sống sản xuất một cách dễ dàng và hiệu quả hơn Tuy nhiên, phụ nữ có trình độ học thức hiện nay phần lớn tuổi đời còn khá trẻ, họ có tâm lý muốn thoát ra ngoài khỏi khu vực nông thôn, mong muốn làm việc ở thành phố- nơi có điều kiện kinh tế, xã hội phát triển hơn Số còn lại, phụ nữ có trình độ học vấn có hạn, nhận thức chính trị, xã hội còn hạn chế, tầm nhìn hạn chế, khép kín trong làm quê, an phận làm vợ, làm mẹ, lo toan cho gia đình và bắt nhập với các luồng tư tưởng mới còn hạn chế Đây là một vấn
đề cần quan tâm để chính quyền địa phương có những giải pháp phù hợp, thu hút được lực lượng lao động phụ nữ trẻ, có tình độ học vấn, lòng nhiệt huyết về làm việc tại địa phương, cống hiến, góp phần xây dựng thành công mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội, môi trường, tăng cường vai trò của phụ nữ trong thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng NTM tại địa phương (Trương Thị Minh, 2014)
2.1.4.3 Công tác tuyên truyền, vận động
Phụ nữ nông thôn nước ta có một vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội nói chung và việc xây dựng nông thôn mới nói riêng Chính phụ nữ là lực lượng đông đảo góp phần quan trọng làm thay đổi diện mạo bộ mặt nông thôn và xây dựng NTM cụ thể là trong việc thực hiện tiêu chí môi trường Chúng ta không thể có nông thôn mới nếu không đặt cao vai trò chủ thể của phụ
nữ Vì vậy, công tác tuyên truyền vận động để phụ nữ tham gia hiểu về nông thôn mới trong từng nội dung, tiêu chí xây dựng nông thôn mới, đặc biệt là đối với các tiêu chí còn đạt ở mức thấp là yêu cầu cấp thiết khi triển khai thực hiện chương trình (Hội liên hiệp phụ nữ huyện Nông Cống, 2013)
2.1.4.4 Điều kiện kinh tế hộ
Kinh tế hộ gia đình là yếu tố quan trọng, ảnh hưởng tới việc phụ nữ có điều kiện về thời gian, tài chính tham xây dựng NTM nói riêng, các hoạt động xã hội khác nói chung Điều kiện kinh tế hộ có khá giả, đời sống hộ được đảm bảo thì người phụ nữ trong gia đình mới an tâm, mới có thể có điều kiện tham gia công tác xã hội, đoàn thể cụ thể là tham gia thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng NTM tại địa phương Ngược lại, nếu đời sống còn khó khăn khổ cực, cuộc sống gia đình không hạnh phúc thì thật khó để lực lượng phụ nữ an tâm tham gia hoạt động, đóng góp, phát huy tốt năng lực, tâm huyết của mình trong
Trang 36thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng NTM Vì vậy, cần trú trọng đến việc phát triển kinh tế hộ, tăng thu nhập cho người dân, nâng cao năng lực tài chính cho người dân tại địa phương, như vậy các hộ sẽ có nhiều cơ hội hơn trong quá trình đóng góp góp phần xây dựng NTM tại địa phương, có như vậy lực lượng phụ nữ mới có cơ hội đóng góp vai trò của mình trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của địa phương nói chung, thực hiện tốt tiêu chí môi trường trong xây dựng NTM nói riêng (Nguyễn Thị Bích Hằng, 2014)
2.1.4.5 Sự tham gia, tổ chức của Hội phụ nữ
Hoạt động của Hội liên hiệp phụ nữ các cấp nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các tầng lớp phụ nữ có điều kiện phát huy vai trò của mình cho phụ nữ bằng việc nâng cao trình độ nhận thức về mọi mặt cho phụ nữ, hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho phụ nữ, tạo điều kiện hỗ trợ phụ
nữ xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc Đặc biệt, phụ nữ khu vực nông thôn ít được tiếp cận các nguồn tài liệu, kiến thức tổ chức cuộc sống gia đình Họ cần được nâng cao nhận thức, bổ sung kiến thức trong cuộc sống để
có đủ điều kiện phát huy vai trò của phụ nữ trong xây dựng gia đình, no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc
Tổ chức Hội phụ nữ năng động trong công tác, chủ động xây dựng chương trình hoạt động phù hợp với điều kiện thực tế, tổ chức nhiều hoạt động thiết thực, thu hút ngày càng nhiều chị em phụ nữ tham gia vào tổ chức hội tạo điều kiện cho chị em được phát triển, làm tốt công tác chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng cho phụ nữ Hội viên phụ nữ giúp nhau về kiến thức,
về vốn, kinh nghiệm sản xuất để cùng phát triển kinh tế và thoát khỏi hoàn cảnh khó khăn vươn lên làm giàu chính đáng, tăng cường mối đoàn kết, gắn bó, phát huy những truyền thống tốt đẹp của phụ nữ Việt Nam Vì vậy, Hội phụ nữ có ảnh hưởng lớn đến sự tham gia cũng như vai trò của phụ nữ trong chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng Nông thôn mới (Trương Thị Minh, 2014)
2.1.4.6 Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước
Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới đã đạt được những thành tựu quan trọng, trong đó có phần đóng góp to lớn của hội viên phụ
nữ trên cả nước, thông qua Cuộc vận động "Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch"
do Hội Liên hiệp phụ nữ (LHPN) Việt Nam phát động
Trang 37Ðể thực hiện tốt Chương trình xây dựng nông thôn mới, rất cần phát huy vai trò chủ thể của người dân nông thôn, trong đó có phụ nữ Vì vậy, các cấp ủy, chính quyền cần quan tâm và có các chính sách nhằm phát huy năng lực, khả năng đóng góp của phụ nữ ở cả hai vai trò: người lao động và người đang chịu trách nhiệm chính trong việc chăm sóc gia đình Ðồng thời, để mọi người dân ở nông thôn ý thức được trách nhiệm, vai trò của mình trong công cuộc xây dựng nông thôn mới, cần làm tốt công tác tuyên truyền, làm cho mỗi người dân hiểu được những lợi ích của nông thôn mới, từ đó phát huy tinh thần đoàn kết, thực hiện dân chủ ở cơ sở, tham gia một cách chủ động, tích cực vào quá trình xây dựng và triển khai các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của chính địa phương mình
Bên cạnh đó, các cấp ủy, chính quyền cần quan tâm đến việc thực hiện lồng ghép giới, trong Ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới cần có thành phần phụ nữ và tổ chức đại diện cho phụ nữ là Hội LHPN Việt Nam để bảo đảm phụ
nữ được bình đẳng về cơ hội tham gia vào thực hiện và thụ hưởng thành quả của Chương trình xây dựng nông thôn mới (Nguyễn Văn Chung, 2013)
2.1.4.7 Trình độ chuyên môn của cán bộ
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói : “Muốn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém; Cán bộ là gốc của mọi công việc” Đội ngũ cán bộ là khâu then chốt, quan trọng, đóng vai trò quyết định đến chất lượng, hiệu quả của công tác thực hiện tiêu chí môi trường Do đó năng lực quản lý, điều hành thực hiện tiêu chí môi trường cũng như năng lực chuyên môn của từng cán bộ cơ sở ảnh hưởng tới mức độ hoàn thiện của tiêu chí môi trường Cán bộ có năng lực tốt, chuyên môn giỏi sẽ đưa ra được các mục tiêu, nội dung thực hiện phù hợp, tạo động lực phấn đấu hoàn thiện tiêu chí môi trường và ngược lại nó sẽ làm mất lòng tin của dân (Nguyễn Thị Bích Hằng, 2014)
Trang 38nghiện rượu, cờ bạc của nam giới… Phụ nữ cũng là những người khôn khéo trong quản lý gia đình, có khát vọng và nhiều sáng kiến để vượt qua đói nghèo, các phong tục tập quán lạc hậu và thích ứng nhanh với sự thay đổi
Các dự án cải thiện điều kiện sống đã thực sự đáp ứng nguyện vọng và tăng cường sự tham gia của phụ nữ Chính vì vậy, ngay từ đầu Phong trào Làng mới, phụ nữ là những người tham gia nhiệt tình và tích cực hơn nam giới Phụ nữ tích cực tham gia vào các dự án về Cải cách đời sống tinh thần (cải thiện môi trường văn hóa nông thôn, phát triển kỹ năng, đào tạo kỹ thuật ); Cải thiện điều kiện sống (Tiết kiệm, cải thiện lương thực thực phẩm, quần áo ăn mặc và nơi ở; Quản lý, vận hành trung tâm trông trẻ ban ngày vào ngày mùa bận rộn…); Nâng cao thu nhập (Dự án hợp tác tăng thu nhập: gây quỹ, cho thành viên vay vốn ngắn hạn đầu tư sản xuất nông nghiệp; Quản lý vận hành chợ, cửa hàng của làng
để tạo thu nhập)
Qua việc tham gia vào các dự án này, phụ nữ đã đóng góp to lớn đối với thành công của Phong trào Làng mới Chính phủ và các cơ quan, tổ chức ở Hàn Quốc đều ghi nhận vai trò quan trọng của phụ nữ trong xây dựng nông thôn, từ khâu bàn bạc, lập kế hoạch đến triển khai thực hiện, vận động người thân tham gia các hoạt động, bản thân phụ nữ cũng tích cực cống hiến trong các hoạt động cộng đồng Đây là phong trào đầu tiên ghi nhận sự tham gia của phụ nữ vào hoạt động xã hội, thông qua đó, người phụ nữ được nâng cao quyền năng trong xã hội
Trong hệ tư tưởng phụ hệ của Nho giáo, những người phụ nữ nông thôn không thể nói lên tiếng nói của mình Nhưng với phong trào Làng mới, tổ chức Hội phụ nữ ra đời và thực hiện nhiều hoạt động đa dạng đã giúp họ được nhìn nhận dưới tư cách một chủ thể tích cực, có đóng góp thực hiện Hội phụ nữ Saemaul đóng vai trò quan trọng trong việc giúp nam giới - những người mang nặng tư tưởng cổ hủ không coi trọng phụ nữ với tư cách là một chủ thể kinh tế -
xã hội phải nhìn nhận lại năng lực tiềm tàng của phụ nữ Đặc biệt, những người lãnh đạo nữ Saemaul đã nhận được sự công nhận của quốc gia, và cái nhìn của cộng đồng đối với những người lãnh đạo nữ đã qua các khóa tập huấn của chính phủ cũng phải khác đi(Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, 2016)
2.2.1.2 Kinh nhiệm phát triển nông thôn của Trung Quốc gắn với môi trường
và nước sạch
Mục tiêu cải thiện nước sạch và VSMT ở Trung Quốc được bắt đầu từ những năm 1980; đến nay, Trung Quốc đã liên tục tổ chức thực hiện các kế
Trang 39hoạch 05 năm và xác định vấn đề nước sạch và vệ sinh môi trường lồng ghép với phát triển kinh tế nông thôn và là tiền đề cho việc xây dựng kế hoạch Chìa khóa thành công của Trung Quốc chính là quá trình lập kế hoạch, xác định trách nhiệm tham gia của các cấp chính quyền, các ngành từ Trung ương đến địa phương Theo kinh nghiệm của Trung Quốc, sau khi lập kế hoạch việc đảm bảo nguồn tài chính là rất quan trọng Chiến lược huy động vốn từ 03 nguồn: Nguồn Trung ương và địa phương, huy động quyên góp từ các tổ chức, giới kinh doanh và đóng góp của người hưởng lợi là của hộ gia đình từ những chương trình này (Tuấn Anh, 2013)
Về lĩnh vực cấp nước: Trung Quốc chủ trương khuyến khích hình thức cấp nước bằng đường ống và tùy theo từng điều kiện cụ thể mà lắp đặt các hệ thống đường ống cho phù hợp Đến cuối năm 2004, tỷ lệ người dân được sử dụng nước máy là 60% Hỗ trợ kỹ thuật của Chính phủ thông qua các thiết kế mẫu, hướng dẫn kỹ thuật theo từng loại hình thức cấp nước khác nhau, ban hành tiêu chuẩn nước ăn uống
Quản lý chất lượng nước: Năm 1985 ban hành tiêu chuẩn nước ăn, uống
áp dụng cho toàn Trung Quốc Đến năm 1991, do nhiều vùng nông thôn ở Trung Quốc khó đạt được tiêu chuẩn quốc gia; do vậy, Trung Quốc đã ban hành hướng dẫn giám sát chất lượng nước cho vùng nông thôn Kinh nghiệm thực tế cho thấy, nếu chỉ ban hành các tiêu chuẩn hay hướng dẫn thì chưa đủ mà cần phải có các cơ quan quản lý, giám sát và các giải pháp phù hợp, xây dựng tổ chuyên trách và đề ra chế tài xử lý sẽ góp phần đảm bảo chất lượng nước
Vệ sinh môi trường nông thôn: Tình trạng vệ sinh môi trường nông thôn ở Trung Quốc chưa được khả quan, còn nhiều lạc hậu so với các nước phát triển Nguyên nhân của sự chậm tiến đó là do: Nếp sống văn hóa của từng địa phương nông thôn, nhiều gia đình có nhà rất lớn, nhưng do tập quán nên nhiều nhà tiêu vẫn bố trí bên ngoài nhà ở và chưa hợp vệ sinh
Chính phủ đã có nhiều nỗ lực trong việc xây dựng cơ chế khuyến khích và
hỗ trợ thay đổi hành vi vệ sinh cá nhân và VSMT Các cấp lãnh đạo từ TW cho tới các cấp nhỏ nhất và người dân đều đã hiểu được tầm quan trọng của vấn đề
NS - VSMT; Vụ giáo dục vệ sinh đã thực hiện rất tốt công tác tuyên truyền giáo dục sức khỏe, việc giáo dục, nâng cao kiến thức được chia làm các giai đoạn Bên cạnh đó, chính quyền địa phương cũng có những khoản đầu tư nhất định cho
Trang 40xây dựng và phát triển nhà tiêu hợp vệ sinh Có cơ chế đầu tư xây dựng theo hướng Nhà nước và nhân dân cùng làm
Về hỗ trợ kỹ thuật: Trung Quốc đã xây dựng 02 tiêu chuẩn: Tiêu chuẩn nhà tiêu hợp vệ sinh và tiêu chuẩn xử lý rác thải (lò đốt rác) Ban hành thiết kế chuẩn cho nhà tiêu nông thôn gồm các loại sau: Biogas, tự hoại 3 bể, tự hoại 2
bể, nhà tiêu khô sinh thải, nhà tiêu tự hoại nối với hệ thống nước thải chung Các loại hình nhà tiêu này rất quan trọng đối với Trung Quốc do người dân có thói quen sử dụng phân người và gia súc làm phân bón cây trồng
Điều phối và phối hợp liên ngành trong việc NS-VSNT: Lĩnh vực môi trường nông thôn và đặc biệt là nhà tiêu nông thôn không thể chỉ do một cơ quan,
tổ chức thực hiện được Trung Quốc đã lập Ủy ban phát triển y tế với mục tiêu đẩy truyền thông đi trước một bước, Ủy ban này có trách nhiệm phối hợp với Bộ Nông nghiệp và 02 tổ chức lớn nhất ở Trung Quốc là Thanh niên và Phụ nữ Các địa phương cũng có mô hình tổ chức và hợp tác tương tự như TW, họ hợp tác theo cấp (Y tế - Nông nghiệp - Thanh niên - Phụ nữ)
Nước sạch và vệ sinh trong nhà trường: Trung Quốc không có một chương trình, hay dự án riêng về lĩnh vực này Nhưng các can thiệp đầu tiên về lĩnh vực NS - VSMT là ở trường học Các hoạt động trong trường học rất có lợi cho học sinh, vừa là đối tượng được truyền thông, vừa là truyền thông viên cho cộng đồng Trường học là nơi tập trung đông người, nếu các điều kiện về vệ sinh không đảm bảo sẽ sảy ra dịch bệnh và lan truyền nhanh chóng do đó cần quan tâm và phối hợp nghiên cứu để đưa ra thiết kế NS - VSMT trong trường học (Tuấn Anh, 2013)
2.2.1.3 Tại Thái Lan
Mô hình “Mỗi làng một sản phẩm - OVOP” được hình thành đầu tiên tại Nhật Bản từ năm 1979, nhằm phát triển các làng nghề theo hướng chuyên nghiệp, khuyến khích người dân trong việc tận dụng nguồn lực địa phương, phát huy sức mạnh cộng đồng và bảo tồn các làng nghề truyền thống Trải qua gần 30 năm, sự thành công của mô hình không chỉ thu hút sự quan tâm của các địa phương trên khắp Nhật Bản mà còn lan tỏa tới các quốc gia trên toàn thế giới Tại Đông Nam Á, nhiều quốc gia (Brunei, Malaysia, Indonesia, Campuchia…) cũng đã triển khai mô hình này và ghi nhận những thành công trong quá trình phát triển nông thôn, đặc biệt là Thái Lan (Viện chiến lược và chính sách tài chính, 2016)