1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu liên kết kinh tế giữa các tác nhân trong sản xuất kinh doanh đồ gỗ mỹ nghệ ở các làng nghề ở thị xã từ sơn, tỉnh bắc ninh

113 262 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 1,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM PHẠM THỊ THANH QUÝ NGHIÊN CỨU LIÊN KẾT KINH TẾ GIỮA CÁC TÁC NHÂN TRONG SẢN XUẤT KINH DOANH ĐỒ GỖ MỸ NGHỆ Ở CÁC LÀNG NGHỀ Ở THỊ XÃ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH Ch

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

PHẠM THỊ THANH QUÝ

NGHIÊN CỨU LIÊN KẾT KINH TẾ GIỮA CÁC TÁC NHÂN TRONG SẢN XUẤT KINH DOANH ĐỒ GỖ MỸ NGHỆ Ở CÁC LÀNG NGHỀ Ở THỊ XÃ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH

Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Phượng Lê

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo

vệ lấy bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám

ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Phạm Thị Thanh Quý

Trang 3

LỜI CẢM ƠN Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được

sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình

Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết

ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Phượng Lê, là người trực tiếp hướng dẫn khoa học, đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Chính sách, Khoa Kinh tế và phát triển nông thôn - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ, công chức, viên chức Ủy ban nhân thị xã Từ Sơn đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Phạm Thị Thanh Quý

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan ii

Lời cảm ơn iii

Mục lục iv

Danh mục chữ viết tắt vii

Danh mục bảng viii

Danh mục sơ đồ x

Trích yếu luận văn xi

Thesis abstract xiii

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 3

1.5 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học thực tiễn 3

Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về liên kết kinh tế giữa các tác nhân trong sản xuất kinh doanh đồ gỗ mỹ nghệ ở các làng nghề 5

2.1 Cơ sở lý luận về liên kết kinh tế giữa các tác nhân trong sản xuất kinh doanh đồ gỗ mỹ nghệ ở các làng nghề 5

2.1.1 Một số khái niệm có liên quan 5

2.1.2 Liên kết kinh tế giữa các tác nhân trong sản xuất kinh doanh đồ gỗ mỹ nghệ 15

2.1.3 Đặc điểm của liên kết kinh tế giữa các tác nhân trong sản xuất kinh doanh đồ gỗ mỹ nghệ ở các làng nghề 17

2.1.4 Vai trò của liên kết kinh tế giữa các tác nhân trong sản xuất kinh doanh đồ gỗ mỹ nghệ ở các làng nghề 19

Trang 5

2.1.5 Nội dung liên kết kinh tế giữa các tác nhân trong sản xuất kinh doanh

đồ gỗ mỹ nghệ ở các làng nghề 21

2.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng liên kết kinh tế giữa các tác nhân sản xuất kinh doanh đồ gỗ mỹ nghệ ở các làng nghề 24

2.2 Cơ sở thực tiễn về liên kết kinh tế giữa các tác nhân trong sản xuất kinh doanh ở một số nước trên thế giới 25

2.2.1 Thực tiễn về liên kết kinh tế giữa các tác nhân trong sản xuất kinh doanh ở một số nước trên thế giới 25

2.2.2 Thực tiễn về vấn đề liên kết ở Việt Nam 29

2.3 Một số công trình nghiên cứu có liên quan 33

2.4 Bài học kinh nghiệm về liên kết kinh tế giữa các tác nhân trong sản xuất kinh doanh đồ gỗ mỹ nghệ ở các làng nghề ở thị xã Từ Sơn 34

Phần 3 Phương pháp nghiên cứu 36

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 36

3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 36

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 39

3.2 Phương pháp nghiên cứu 43

3.2.1 Chọn điểm nghiên cứu 43

3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp 44

3.2.3 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp 45

3.3 Phương pháp xử lý thông tin 46

3.4 Phương pháp phân tích 46

3.5 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 46

3.5.1 Nhóm chỉ tiêu phản ánh sản xuất kinh doanh đồ gỗ mỹ nghệ 46

3.5.2 Nhóm chỉ tiêu phản ánh hoạt động liên kết đồ gỗ mỹ nghệ 47

3.5.3 Nhóm chỉ tiêu phản ánh kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh 47

3.5.4 Nhóm chỉ tiêu phản ánh mối quan hệ liên kết trong sản xuất và tiêu thụ đồ gỗ mỹ nghệ 48

3.5.5 Nhóm chỉ tiêu phản ánh kết quả, hiệu quả của quan hệ liên kết trong sản xuất và tiêu thụ đồ gỗ mỹ nghệ 49

Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 50

Trang 6

4.1 Thực trạng sản xuất kinh doanh đồ gỗ mỹ nghệ ở các làng nghề ở thị

xã Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh 50

4.1.1 Tình hình sản xuất sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ ở thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh 50

4.1.2 Tình hình tiêu thụ sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ ở thị xã Từ Sơn 56

4.2 Thực trạng liên kết kinh tế giữa các tác nhân trong sản xuất kinh doanh đồ gỗ mỹ nghệ ở các làng nghề ở thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh 60

4.2.1 Khái quát về các tác nhân tham gia vào sản xuất kinh doanh đồ gỗ mỹ nghệ ở các làng nghề ở thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh 60

4.2.2 Liên kết kinh tế giữa các tác nhân trong sản xuất kinh doanh đồ gỗ mỹ nghệ ở các làng nghề ở thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh 67

4.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới liên kết kinh tế giữa các tác nhân trong sản xuất kinh doanh đồ gỗ mỹ nghệ ở các làng nghề ở thị xã Từ Sơn 85

4.3.1 Nhận thức của các tác nhân 83

4.3.2 Năng lực tổ chức của các tác nhân 85

4.3.3 Nhân tố vốn 85

4.3.4 Quy mô sản xuất 86

4.3.5 Các yếu tố từ nhà nước 86

4.3.6 Yếu tố khác 87

4.4 Định hướng và một số giải pháp đẩy mạnh liên kết kinh tế trong sản xuất kinh doanh đồ gỗ mỹ nghệ ở các làng nghề ở thị xã Từ Sơn 88

4.4.1 Định hướng để đẩy mạnh sản xuất kinh doanh đồ gỗ ở thị xã Từ Sơn 88

4.4.2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường liên kết kinh tế trong sản xuất kinh doanh đồ gỗ mỹ nghệ ở thị xã Từ Sơn 89

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 94

5.1 Kết luận 94

5.2 Kiến nghị 95

5.2.1 Đối với nhà nước 95

5.2.2 Đối với chính quyền địa phương 96

5.2.3 Đối với các tác nhân 96

Tài liệu tham khảo 98

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Nghĩa tiếng việt

BQ Bình quân CCNL Cung cấp nguyên liệu CNH-HĐH Công nghiệp hóa hiện đại hóa CN-TTCN Công nghiệp tiểu thủ công nghiệp

DT Diện tích DV-TM Dịch vụ thương mại HTX Hợp tác xã

KHCN Khoa học công nghệ

KT – XH Kinh tế xã hội NCC Nhà cung cấp

NN & PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn NQ-CP Nghị quyết – Chính phủ

NSNN Ngân sách nhà nước QĐ-TTg Quyết định - Thủ Tướng TT-BNN Thông tư Bộ Nông nghiệp UBND Ủy ban nhân dân

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Cơ cấu sử dụng đất ở Từ Sơn 37

Bảng 3.2 Dân số và lao động thị xã Từ Sơn qua 3 năm (2013-2015) 40

Bảng 3.3 Kết quả phát triển kinh tế thị xã Từ Sơn (2013 – 2015) 43

Bảng 3.4 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp 44

Bảng 3.5 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp 45

Bảng 4.1 Các làng nghề gỗ mỹ nghệ ở thị xã Từ Sơn năm 2015 51

Bảng 4.2 Một số sản phẩm chủ yếu của các làng nghề gỗ mỹ nghệ trên địa bàn thị xã Từ Sơn 52

Bảng 4.3 Một số chỉ tiêu thể hiện phát triển sản xuất sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ địa bàn thị xã Từ Sơn 53

Bảng 4.4 Giá cả một số sản phẩm chính trên địa bàn thị xã Từ Sơn 59

Bảng 4.5 Chức năng của các tác nhân sản xuất kinh doanh đồ gỗ mỹ nghệ 60

Bảng 4.6 Thông tin chung về hộ kinh doanh gỗ nguyên liệu 61

Bảng 4.7 Nguồn vốn huy động của hộ kinh doanh gỗ nguyên liệu 62

Bảng 4.8 Thông tin chung của hộ sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ 63

Bảng 4.9 Thông tin về doanh nghiệp điều tra 64

Bảng 4.10 Thông tin chung về hộ thu gom 66

Bảng 4.11 Phương thức thanh toán khi mua sản phẩm của các hộ thu gom 67

Bảng 4.12 Nội dung liên kết giữa các hộ kinh doanh cung ứng gỗ nguyên liệu với nhau 68

Bảng 4.13 Nội dung liên kết giữa các hộ sản xuất 69

Bảng 4.14 Cách thức liên kết giữa người thu gom với người thu gom 70

Bảng 4.15 Nội dung liên kết giữa người thu gom với người thu gom 70

Bảng 4.16 Cách thức liên kết giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp 71

Bảng 4.17 Nội dung liên kết giữa các doanh nghiệp với nhau 71

Bảng 4.18 Hình thức liên kết giữa người cung cấp nguyên liệu với người sản xuất 73

Bảng 4.19 Phương thức thanh toán mua bán nguyên liệu gỗ 74

Bảng 4.20 Lợi ích khi tham gia liên kết của hộ sản xuất với hộ cung ứng gỗ nguyên liệu 75

Trang 9

Bảng 4.21 Cách thức liên kết giữa người sản xuất với tác nhân tiêu thụ 76

Bảng 4.22 Phương thức vận chuyển, thanh toán và lợi ích của hộ sản xuất khi liên kết tiêu thụ 76

Bảng 4.23 Liên kết của hộ bán buôn với các tác nhân khác 77

Bảng 4.24 Nội dung liên kết giữa người thu gom với doanh nghiệp 78

Bảng 4.25 Cách thức người thu gom liên kết với các tác nhân khác 79

Bảng 4.26 Kết quả và hiệu quả của hộ sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ trên địa bàn thị xã Từ Sơn năm 2015 79

Bảng 4.27 Hiểu biết của các tác nhân về vấn đề liên kết 83

Bảng 4.28 Lý do các hộ không tham gia liên kết và quyết định của hộ 86

Bảng 4.29 Vốn sản xuất 85

Trang 10

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 2.1 Phương thức liên kết 11

Sơ đồ 2.2 Các hình thức, các khâu và cơ chế liên kết giữa các tác nhân 13

Sơ đồ 4.1 Quy trình sản xuất sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ 55

Sơ đồ 4.2 Kênh tiêu thụ sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ của các cơ sở sản xuất 58

Sơ đồ 4.3 Kênh sản xuất kinh doanh đồ gỗ mỹ nghệ ở thị xã Từ Sơn 72

Trang 11

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Tên tác giả: Phạm Thị Thanh Quý

Tên luận văn: Nghiên cứu liên kết kinh tế giữa các tác nhân trong sản xuất kinh doanh

đồ gỗ mỹ nghệ ở các làng nghề ở thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh

Ngành: Kinh tế nông nghiệp Mã số: 60.62.01.15

Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Thị xã Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh là nơi tập trung nhiều nghề truyền thống, nổi bật nhất là nghề sản xuất gỗ mỹ nghệ Theo số liệu phòng thống kê Thị xã Từ Sơn có 37 làng nghề trong đó nổi bật nhất là làng nghề sản xuất gỗ mỹ nghệ Trên thực tế cho thấy sản xuất kinh doanh đồ gỗ mỹ nghệ trên địa bàn vẫn còn nhiều khó khăn, các mối liên kết trong sản xuất kinh doanh gỗ mỹ nghệ chưa thật sự hiệu quả, không bền vững, thiếu sự ràng buộc, chủ yếu là tự nguyện, các bên khó tìm tiếng nói chung dẫn đến bất hòa, nhiều hộ, cá nhân nhỏ lẻ không tham gia liên kết vì vậy khả năng cạnh tranh kém hơn Câu hỏi đặt ra là các tác nhân trong sản xuất kinh doanh đồ gỗ mỹ nghệ trên địa bàn Thị xã Từ Sơn, Bắc Ninh đã liên kết như thế nào; rào cản liên kết; lợi ích? yếu tố nào ảnh hưởng đến các liên kết kinh tế trong sản xuất kinh doanh đồ gỗ

mỹ nghệ trên địa bàn Thị xã Từ Sơn, Bắc Ninh; giải pháp nào nhằm tăng cường và nâng cao hiệu quả của các liên kết trong sản xuất kinh doanh đồ gỗ mỹ nghệ trên địa bàn Thị xã Từ Sơn, Bắc Ninh Để góp phần giải quyết những vấn đề trên và tìm ra câu trả lời cho các câu hỏi trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu liên kết kinh tế giữa các tác nhân trong sản xuất kinh doanh đồ gỗ mỹ nghệ ở các làng nghề ở thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh”

Phân tích liên kết giữa các tác nhân trong sản xuất kinh doanh đồ gỗ mỹ nghệ ở các làng nghề ở thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh trên cơ sở đó đề xuất giải pháp phát triển sản xuất kinh doanh đồ gỗ mỹ nghệ

Sử dụng các phương pháp thu thập số liệu từ các phòng ban thuộc UBND thị xã

Từ Sơn và phương pháp điều tra phỏng vấn trực tiếp cán bộ, hộ sản xuất, thu gom, doanh nghiệp trên địa bàn thị xã Từ Sơn

Liên kết kinh tế giữa các tác nhân trong sản xuất kinh doanh đồ gỗ mỹ trên địa bàn Thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh gồm liên kết ngang và liên kết dọc

Trong liên kết ngang có liên kết giữa những hộ sản xuất với nhau để góp vốn mua nguyên liệu; đổi công lao động, quảng bá và tiêu thụ sản phẩm Liên kết này giúp người sản xuất đẩy nhanh tiến độ sản xuất và tiêu thụ được nhiều sản phẩm hơn Liên

Trang 12

kết giữa các hộ kinh doanh cung ứng gỗ nguyên liệu để khai thác nguyên liệu mang lại hiệu quả kinh doanh cao Liên kết giữa các hộ thu gom, doanh nghiệp giúp tăng lợi nhuận

Liên kết dọc giữa hộ sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ với hộ kinh doanh cung cấp gỗ nguyên liệu, hình thức liên kết chủ yếu ở đây bằng thỏa thuận miệng, ngoài ra là hợp đồng văn bản Liên kết này mang lại lợi ích cho hộ sản xuất có đầu vào chất lượng, được hỗ trợ vận chuyển,…Liên kết dọc giữa hộ sản xuất với hộ thu gom ít diễn ra và không chặt chẽ, chủ yếu bằng mua bán tự do và hợp đồng miệng Liên kết dọc giữa hộ thu gom vứi doanh nghiệp tiêu thụ chặt chẽ hơn chủ yếu qua hợp đồng văn bản

Các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đá mỹ nghệ có: năng lực, nhận thức của các tác nhân quyết định đến tham gia và hình thức liên kết Yếu tố vốn, quy mô sản xuất cũng ảnh hưởng tới liên kết thông qua các quyết

mở rộng hay thu hẹp sản xuất kinh doanh của hộ Ngoài ra các yếu tố cơ chế liên chính sách nhà nước, chính quyền địa phương tác động mạnh, tạo môi trường liên kết đồ gỗ

Từ thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đá mỹ nghệ đề tài đưa ra một số giải pháp góp phần định hướng phát triển và tăng cường mối liên kết kinh tế trong sản xuất kinh doanh đồ gỗ mỹ nghệ trên địa bàn Thị xã

Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh

Trong sản xuất kinh doanh đồ gỗ mỹ nghệ tại thị xã Từ Sơn đã hình thành các mối liên kết giữa các tác nhân tham gia hộ sản xuất, hộ kinh doanh cung ứng gỗ nguyên liệu, người thu gom, doanh nghiệp Phần lớn, các mối liên kết trong sản xuất – tiêu thụ sản phẩm còn lỏng lẻo, chưa phát triển được hình thức tiêu thụ thông qua hợp đồng văn bản, phần lớn các hộ liên kết với nhau qua hình thức tự do và trao đổi miệng

Trang 13

THESIS ABSTRACT

Thesis Name: Economic Linkages among Actors in Production and Marketing in Woodcarving Villages in Tu Son Town, Bac Ninh Province

Author: Pham Thi Thanh Quy

Specialization: Agricultural Economics Code: 60.62.01.15

Educational institution: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)

Tu Son town, BacNinh province concentrate many traditional handicraft According the data of Tu Son town statistic office, there are 37 crafts villages and art furniture production is the most outstanding In fact, art furniture manufacturing business in local still have many difficulties, the link in the timber business has not really efficient, sustainable, not lack of binding, mostly voluntary, parties, hard to find

in general lead to discord, many households, smaller individual travelers did not join link so less competitiveness The question is the agent in the production of art furniture business on the town From the paint, has affiliate; link barriers; the benefit? factors affecting the economic links in the production of fine art furniture business on the town From the son, Bac Ninh province; any solutions to strengthen and enhance the effectiveness of the links in the production of art furniture business on the town From the son, Bac Ninh province To contribute to resolving the problem on and find out the answers to the questions above we conduct research project: “Economic Linkages among Actors in Production and Marketing in Woodcarving Villages in Tu Son Town, Bac Ninh Province”

Analysis of the link between the agent in the production of art furniture business

in the village in the town from the son, Bac Ninh province on the basis of which the proposed solution to produce fine art furniture business Use the methods of data collection from departments under the town From the paint and method for investigating officers to directly interview, households producing, gathering, local businesses in the town From the paint

The link between the economic agent in the production of fine furniture business

on the town From the son, BacNinh province include horizontal and vertical links link Horizontal links in the link between those produced household together for raising capital to buy raw materials; the change of labor, promotion and consumption of products This link helps the production of speeding up the production and consumption

of many more products The link between the sale of wood raw material for the extraction of raw materials brought high business performance The link between collectors, household help businesses increase profits

Trang 14

The vertical links between the households producing fine art furniture with wood supply business household materials, mainly links form here by oral agreement, there is a written contract This link brings benefits to households had produced quality inputs, transportation assistance, The vertical links between households with little place collectors and households do not closely, mainly by purchasing freedom and the oral contract The vertical links between the business , collectors household consumption primarily through tighter contract writing

The factors affecting the links in the production and consumption of products stone carving have: competence, awareness of the agents decided to join and form link Capital factors, production scale also affects the link through the expanding or shrinking business of manufacturing households In addition to factors related to State policy mechanisms, strong impact on local government, environment furniture link

From the real situation and the factors that affect links in the production and consumption of products stone carving the subject give some solutions that contribute to the development and strengthening of economic linkages in the production of fine art furniture business on the town from the paint , Bac Ninh province In art furniture manufacturing business in Tu Son town constituted the connections households production, wood materials supply business, the collectors, the business In large part, the linkages in production - consumption is also loose, not yet developed forms of consumption through the contract documents, the majority of households are linked together through the free form and the oral exchange

Trang 15

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Phát triển làng nghề tiểu thủ công nghiệp là một nội dung chủ yếu của CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn ở nước ta Nhờ những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong những năm qua sự phát triển nghề truyền thống, đặc biệt là nghề thủ công đã đạt được những kết quả to lớn, góp phần làm thay đổi nhanh chóng bộ mặt của nông thôn Chính sự phát triển nghề truyền thống đã đem lại hiệu quả to lớn về nhiều mặt, không chỉ góp phần phát triển kinh tế, mà còn góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, giải quyết vấn đề việc làm ở nông thôn

Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay làng nghề Việt Nam đang đứng trước nhiều thách thức, khó khăn, đó là huy động vốn trong sản xuất, năng lực tổ chức sản xuất kinh doanh, hàng hóa của làng nghề còn thấp, mẫu mã đơn điệu, chậm thay đổi, sức cạnh tranh hạn chế Làng nghề bị bó hẹp trong khuôn khổ sản xuất, tiêu thụ những sản phẩm vốn có, chưa vươn tới cung cấp cho các vùng, miền khác và xuất khẩu, gặp rất nhiều khó khăn về chiếm lĩnh thị trường Những khó khăn, rào cản làng nghề đang phải đối mặt nguyên nhân là do thiếu sự liên kết giữa các tác nhân tham gia sản xuất kinh doanh, giữa những người sản xuất, người sản xuất người với người cung cấp nguyên liệu, người sản xuất và người tiêu thụ,…

Thị xã Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh là nơi tập trung nhiều nghề truyền thống, nổi bật nhất là nghề sản xuất gỗ mỹ nghệ Theo số liệu phòng thống kê Thị xã Từ Sơn có 37 làng nghề trong đó nổi bật nhất là làng nghề sản xuất gỗ mỹ nghệ đóng góp giá trị sản xuất đạt gần 2.130 tỷ đồng bằng 1/3 giá trị sản xuất công nghiệp-TTCN của thị xã, góp phần tạo ra công ăn việc làm cho lực lượng lao động, giải quyết việc làm cho lực lượng lao động dôi dư do diện tích sản xuất nông nghiệp ngày càng thu hẹp, gia tăng thu nhập cho người lao động Tuy đóng vai trò phát triển rất quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội và xây dựng nông thôn mới tại địa phương, song trên thực tế cho thấy sản xuất kinh doanh đồ gỗ

mỹ nghệ trên địa bàn vẫn còn nhiều khó khăn: Phần lớn các hộ gia đình, cơ sở hoạt động sản xuất kinh doanh vẫn còn mang tính quy mô nhỏ lẻ, khó khăn trong việc tìm đầu ra, chưa có sự liên minh, gắn kết tạo nên sức mạnh tổng hợp Sự

Trang 16

cạnh tranh còn thiếu lành mạnh, quảng bá, giới thiệu sản phẩm và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm chưa được quan tâm,…

Mặc dù Thị xã Từ Sơn đã thành lập hiệp hội làng nghề gỗ mỹ nghệ để hỗ trợ, giúp đỡ các hộ phát triển và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Các hộ

đã biết liên kết với nhau trong đầu tư vốn, lao động, nguyên liệu, tìm kiếm thị trường tiêu thụ, Nhưng các mối liên kết trong sản xuất kinh doanh gỗ mỹ nghệ chưa thật sự hiệu quả, các quan hệ liên kết không bền vững, thiếu sự ràng buộc, chủ yếu là tự nguyện, các bên khó tìm tiếng nói chung dẫn đến bất hòa, nhiều hộ,

cá nhân nhỏ lẻ không tham gia liên kết vì vậy khả năng cạnh tranh kém hơn Bên cạnh đó, vai trò của Nhà nước, chính quyền địa phương chưa rõ nét trong việc giải quyết xung đột và định hướng phát triển các mối liên kết

Câu hỏi đặt ra là các tác nhân trong sản xuất kinh doanh đồ gỗ mỹ nghệ trên địa bàn Thị xã Từ Sơn, Bắc Ninh đã liên kết như thế nào? Rào cản liên kết trong các nhân sản xuất kinh doanh là gì? Các liên kết này mang lại lợi ích gì cho các tác nhân trong sản xuất kinh doanh đồ gỗ mỹ nghệ trên địa bàn Thị xã Từ Sơn, Bắc Ninh? Yếu tố nào ảnh hưởng đến các liên kết kinh tế trong sản xuất kinh doanh đồ

gỗ mỹ nghệ trên địa bàn Thị xã Từ Sơn, Bắc Ninh? Giải pháp nào nhằm tăng cường và nâng cao hiệu quả của các liên kết trong sản xuất kinh doanh đồ gỗ mỹ nghệ trên địa bàn Thị xã Từ Sơn, Bắc Ninh? Để góp phần giải quyết những vấn đề trên và tìm ra câu trả lời cho các câu hỏi trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Nghiên cứu liên kết kinh tế giữa các tác nhân trong sản xuất kinh doanh đồ gỗ

mỹ nghệ ở các làng nghề ở thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh”

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.1 Mục tiêu chung

Phân tích liên kết kinh tế giữa các tác nhân trong sản xuất kinh doanh đồ gỗ

mỹ nghệ ở các làng nghề ở thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh trên cơ sở đó đề xuất giải pháp phát triển sản xuất kinh doanh đồ gỗ mỹ nghệ ở các làng nghề

Trang 17

- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết kinh tế giữa các tác nhân trong sản xuất kinh doanh đồ gỗ mỹ nghệ ở các làng nghề ở thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh

- Đề xuất các giải pháp thúc đẩy liên kết kinh tế giữa các tác nhân trong sản xuất kinh doanh đồ gỗ mỹ nghệ ở các làng nghề ở thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh 1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

- Nghiên cứu liên kết kinh tế giữa các tác nhân trong sản xuất kinh doanh đồ gỗ

mỹ nghệ ở các làng nghề dựa trên những cơ sở lý luận và thực tiễn nào?

- Thực trạng về liên kết kinh tế giữa các tác nhân trong sản xuất kinh doanh đồ

gỗ mỹ nghệ ở các làng nghề ở thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh trong thời gian qua?

- Các yếu tố nào ảnh hưởng liên kết kinh tế giữa các tác nhân trong sản xuất kinh doanh đồ gỗ mỹ nghệ ở các làng nghề ở thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh?

- Cần có những giải pháp nào để thúc đẩy liên kết kinh tế giữa các tác nhân trong sản xuất kinh doanh đồ gỗ mỹ nghệ ở các làng nghề ở thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh đạt hiệu quả?

1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Là liên kết kinh tế giữa các tác nhân trong sản xuất kinh doanh đồ gỗ mỹ nghệ ở các làng nghề ở thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh

- Chủ thể nghiên cứu là các cơ sở sản xuất kinh doanh: hộ sản xuất, hộ thu gom, doanh nghiệp sản xuất, tiêu thụ, vận chuyển, tổ chức tín dụng

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: Thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh

- Về thời gian: Số liệu thứ cấp được thu thập trong khoảng thời gian từ năm

2012 đến năm 2015 Số liệu sơ cấp được điều tra và thu thập trong năm 2013,

2014 và năm 2015

1.5 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC THỰC TIỄN

Đề tài luận văn đã hệ thống hoá, làm rõ, phân tích đánh giá, phát triển một

số vấn đề lý luận về liên kết kinh tế giữa các tác nhân trong sản xuất kinh doanh

đồ gỗ mỹ nghệ

Luận văn cũng đã căn cứ vào tiêu chí đánh giá kết quả và hiệu quả để đánh

Trang 18

giá hiện trạng liên kết và tìm ra nguyên nhân của những hạn chế và tồn tại của liên kết kinh tế giữa các tác nhân trong sản xuất kinh doanh đồ gỗ mỹ nghệ Khi nghiên cứu đề tài này, chúng tôi nhận thấy sự liên kết giữa các tác nhân trong sản xuất kinh doanh đồ gỗ mỹ nghệ được thực hiện từ khâu mua bán nguyên liệu gỗ đầu vào đến hoạt động sản xuất tạo ra sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ

và cuối cùng là khâu tiêu thụ sản phẩm Hình thức liên kết chủ yếu thông qua thỏa miệng là chủ yếu dựa vào niềm tin, tình cảm họ hàng, làng xóm láng giềng Trên cơ sở phân tích lý luận và thực tiễn luận văn đã đề xuất đề xuất phương hướng và giải pháp cơ bản để tiếp tục phát triển liên kết kinh tế giữa các tác nhân trong sản xuất kinh doanh đồ gỗ mỹ nghệ ở các làng nghề ở thị xã Từ Sơn

Trang 19

PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ LIÊN KẾT KINH TẾ GIỮA CÁC TÁC NHÂN TRONG SẢN XUẤT

KINH DOANH ĐỒ GỖ MỸ NGHỆ Ở CÁC LÀNG NGHỀ

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LIÊN KẾT KINH TẾ GIỮA CÁC TÁC NHÂN TRONG SẢN XUẤT KINH DOANH ĐỒ GỖ MỸ NGHỆ Ở CÁC LÀNG NGHỀ

2.1.1 Một số khái niệm có liên quan

2.1.1.1 Liên kết, liên kết kinh tế

a Liên kết

Khái niệm liên kết xuất phát từ tiếng Anh “integration” mà trong hệ thống thuật ngữ kinh tế có nghĩa là sự hợp nhất, sự phối hợp hay sát nhập của nhiều bộ phận thành một chỉnh thể Trước đây khái niệm này được biết đến với tên gọi là nhất thể hóa và gần đây mới gọi là liên kết

Theo từ điển ngôn ngữ học (1992) thì: Liên kết là kết lại với nhau từ nhiều thành phần hoặc tổ chức riêng rẽ Liên kết đề cập đến hai hay nhiều đối tượng có tính độc lập tương đối với nhau cùng thực hiện một công việc khi một cá nhân không thực hiện được hoặc cùng thực hiện để mang lại lợi ích tốt hơn hoặc chia

sẻ rủi ro

b Liên kết kinh tế

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam năm 1996: Liên kết kinh tế là hình thức hợp tác và phối hợp thường xuyên các hoạt động do các đơn vị kinh tế tự nguyện tiến hành theo hướng có lợi nhất, trên cơ sở nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng thông qua hợp đồng kinh tế ký kết giữa các bên tham gia và trong khuôn khổ pháp luật của nhà nước Mục tiêu của liên kết nhằm tạo ra mối quan hệ kinh

tế ổn định thông qua các hợp đồng kinh tế hoặc các quy chế hoạt động để tiến hành phân công sản xuất chuyên môn hóa và hiệp tác hóa, nhằm khai thác tốt các tiềm năng của từng đơn vị tham gia liên kết, hoặc cùng nhau tạo thị trường chung, phân định hạn mức sản lượng cho từng đơn vị thành viên, giá cả cho từng loại sản phẩm nhằm bảo vệ lợi ích của nhau

Trong các văn bản của Nhà nước mà cụ thể là trong quy định ban hành theo Quyết định số 38-HĐBT ra ngày 10/04/1989 thì liên kết kinh tế là những

Trang 20

hình thức phối hợp hoạt động do các đơn vị kinh tế tiến hành để cùng nhau bàn bạc và đề ra các chủ trương, biện pháp có liên quan đến công việc sản xuất kinh doanh của mình nhằm thúc đẩy sản xuất theo hướng có lợi nhất Sau khi bàn bạc thống nhất, các đơn vị thành viên trong tổ chức liên kết kinh tế cùng nhau ký hợp đồng về những vấn đề có liên quan đến phần hoạt động của mình để thực hiện

Tất cả các mối quan hệ được hình thành giữa hai hay nhiều đối tác với nhau dựa trên những hợp đồng đã ký kết với những thỏa thuận nhất định được gọi là liên kết kinh tế (Phạm Thị Minh Nguyệt, 2006)

Liên kết kinh tế được xây dựng trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi thông qua hợp đồng kinh tế ký kết giữa các bên tham gia và trong khuôn khổ pháp luật của Nhà nước Mục tiêu của liên kết kinh tế là tạo ra mối quan hệ kinh tế ổn định thông qua hợp đồng kinh tế, hoặc các quy chế hoạt động để tiến hành phân công sản xuất chuyên môn hóa, hợp tác hóa, nhằm khai thác tốt tiềm năng của mỗi đơn vị tham gia liên kết, hoặc để cùng nhau tạo ra thị trường chung, phân định hạn mức sản lượng cho từng đơn vị thành viên, giá

cả cho từng loại sản phẩm, nhằm bảo vệ lợi ích của nhau Liên kết kinh tế có nhiều hình thức và quy mô tổ chức khác nhau tương ứng với nhu cầu sản xuất, kinh doanh của các đơn vị thành viên tham gia liên kết Những hình thức phổ biến là: Hiệp hội sản xuất và tiêu thụ; nhóm sản xuất; nhóm vệ tinh; hội đồng sản xuất và tiêu thụ theo ngành hoặc theo vùng; liên kết xuất nhập khẩu… Trong liên kết các đơn vị thành viên có tư cách pháp nhân đầy đủ, không phân biệt hình thức sở hữu, quan hệ trực thuộc về mặt quản lý Nhà nước, ngành kinh

tế - kỹ thuật hay lãnh thổ Trong khi tham gia liên kết, không một đơn vị thành viên nào bị mất quyền tự chủ của mình, không được miễn giảm bất cứu nghĩa

vụ nào đối với Nhà nước theo pháp luật hoặc nghĩa vụ hợp đồng đã ký với các đơn vị khác

Như vậy, liên kết kinh tế là sự phối hợp của hai hay nhiều bên, không kể quy mô hay loại hình sở hữu Mục tiêu của liên kết kinh tế là các bên tìm cách bù đắp sự thiếu hụt của mình, từ sự phối hợp hoạt động với các đối tác nhằm đem lại lợi ích cho các bên

2.1.1.2 Mục tiêu của liên kết kinh tế

Liên kết kinh tế nhằm tạo ra mối quan hệ kinh tế ổn định thông qua các hợp đồng kinh tế hoặc các quy chế hoạt động của từng tổ chức liên kết để tiến

Trang 21

hành phân công sản xuất chuyên môn hoá và hiệp tác hoá, nhằm khai thác nhiều hơn tiềm năng của từng đơn vị tham gia liên kết, góp phần nâng cao sản lượng, chất lượng sản phẩm, nâng cao hiệu quả kinh tế, nâng cao thu nhập của các bên liên kết, cũng như tăng thu ngân sách Nhà nước

Liên kết để cùng nhau tạo thị trường chung, phân định hạn mức sản lượng cho từng đơn vị thành viên, giá cả cho từng loại sản phẩm để bảo vệ lợi ích kinh

tế của nhau, tạo cho nhau những khoản lợi nhuận cao nhất

Liên kết kinh tế giúp đỡ nhau về kinh nghiệm sản xuất, kinh doanh và quản lý, giúp đỡ nhau về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ kỹ thuật và cán bộ quản lý, công nhân kỹ thuật, cũng như thực hiện cho nhau các công việc cung ứng vật tư, tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ vận chuyển, thông tin, xử lý thông tin v.v… Các hoạt động này được ghi thành hợp đồng

2.1.1.3 Đặc điểm của liên kết kinh tế

Liên kết kinh tế là một phạm trù khách quan phản ánh những quan hệ xuất phát từ lợi ích kinh tế khác nhau của những chủ thể kinh tế cũng như quá trình vận động và phát triển theo tự nhiên của lực lượng sản xuất, xuất phát từ trình độ, phạm vi của phân công lao động xã hội và chuyên môn hoá sản xuất kinh doanh (Trần Văn Hiếu, 2005)

Liên kết kinh tế là những quan hệ kinh tế đạt tới trình độ gắn bó chặt chẽ,

ổn định, thường xuyên, lâu dài thông qua những thoả thuận, hợp đồng từ trước giữa các bên tham gia liên kết Không phải tất cả quan hệ kinh tế nào cũng là liên kết kinh tế Những quan hệ kinh tế nhất thời, những trao đổi ngẫu nhiên không thường xuyên giữa các chủ thể kinh tế không phải là liên kết kinh tế

Liên kết kinh tế là một quá trình làm xích lại gần nhau và ngày càng cố kết với nhau, trên tinh thần tự nguyện giữa các bên tham gia liên kết (Dương

Bá Phượng, 1995) Quá trình này vận động, phát triển qua những nấc thang từ quan hệ hợp tác, liên doanh đến liên hợp, liên minh, hợp nhất lại Như vậy phân công lao động và chuyên môn hoá sản xuất kinh doanh là điều kiện hình thành các liên kết kinh tế còn hợp tác hoá, liên hợp hóa là những hình thức biểu hiện của những nấc thang, những bước phát triển của liên kết kinh tế(Lê Văn Lương, 2008)

Liên kết kinh tế là những hình thức hoặc biểu hiện của sự hành động giữa chủ thể liên kết thông qua những thoả thuận, những giao kèo, hợp đồng, hiệp

Trang 22

định, điều lệ nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định trong tất cả các lĩnh vực khác nhau của hoạt động kinh tế (đầu tư, sản xuất, kinh doanh ) Tuỳ theo góc

độ xem xét, quá trình liên kết có thể diễn ra liên kết theo ngành, liên kết giữa các thành phần kinh tế, liên kết theo vùng lãnh thổ

2.1.1.4 Những nguyên tắc cơ bản của liên kết kinh tế

Một là, phải đảm bảo sản xuất kinh doanh của các chủ thể tham gia liên kết phát triển và có hiệu quả ngày càng tăng

Dù liên kết kinh tế dưới hình thức và mức độ nào đi nữa thì yêu cầu của hoạt động liên kết kinh tế ấy phải đảm bảo để sản xuất và kinh doanh của các chủ thể tham gia không ngừng được phát triển, doanh thu ngày càng tăng, năng suất và chất lượng sản phẩm ngày càng cao Liên kết kinh tế phải nâng cao được trình độ công nghệ, mở rộng mặt hàng, sản xuất ngày càng phù hợp với nhu cầu thị trường, giá thành hạ, đem lại nhiều lợi nhuận cho các chủ thể trên cơ sở giá bán và chất lượng sản phẩm được người tiêu dùng chấp nhận

Hai là, phải đảm bảo nguyên tắc tự nguyện và tự chịu trách nhiệm giữa các bên tham gia liên kết

Các hoạt động hợp tác, liên kết kinh tế giữa các chủ thể tham gia được thực hiện một cách thuận lợi, trôi chảy, thành công và đem lại hiệu quả cao khi các chủ thể tự nguyện tìm đến với nhau, tự thoả thuận quan hệ hợp tác, liên kết làm ăn với nhau lâu dài trên tinh thần bình đẳng, cùng chịu trách nhiệm đến cùng

về các thành công cũng như thất bại và rủi ro Tất cả các hình thức hợp tác, liên kết kinh tế, tổ chức kinh tế được thiết lập trên cơ sở những ý đồ không xuất phát

từ nguyên tắc tự nguyện, từ những liên hệ tất yếu về phương diện kinh tế, nghĩa

là tiến hành trên cơ sở gò bó, gượng ép bắt buộc đều hoạt động không thành công, kém hiệu quả

Ba là, phải đảm bảo sự thống nhất hài hoà lợi ích kinh tế giữa các bên tham gia liên kết

Lợi ích kinh tế chính là động lực thúc đẩy các bên tham gia liên kết kinh

tế với nhau, là chất kết dính với nhau trong quá trình liên kết Các bên tìm đến với nhau thoả thuận tiến hành hợp tác, liên kết với nhau vì họ tìm thấy những lợi ích lâu dài Cho nên việc đảm bảo thống nhất hài hoà lợi ích giữa các bên sẽ tạo nên chất kết dính bền vững Khi lợi ích kinh tế của một hoặc một số chủ thể nào

đó bị xâm phạm hoặc thiếu sự công bằng, thống nhất sẽ tạo ra sự rạn nứt của mối

Trang 23

liên hệ bền vững, dẫn đến sự phá vỡ tổ chức liên kết, mối liên hệ đã được thiết lập Sự phân chia lợi nhuận, phổ biến thiệt hại, rủi ro, các tính toán về chi phí giá cả cần được tiến hành thoả thuận, bàn bạc một cách công khai, dân chủ, bình đẳng và đảm bảo công bằng trên cơ sở những đóng góp của các bên liên kết (Nguyễn Thị Bích Hồng, 2008)

Bốn là, phải thực hiện được trên cơ sở những ràng buộc pháp lý giữa các bên tham gia ràng buộc giữa các bên tham gia liên kết, và thông qua hợp đồng kinh tế

Hợp đồng kinh tế là khế ước, là những thỏa thuận, những điều khoản ràng buộc trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi giữa các bên tham gia liên kết, được pháp luật thừa nhận và bảo hộ Trong nền kinh tế thị trường, mọi hoạt động kinh tế đều phải tiến hành trên cơ sở pháp luật của Nhà nước cho phép, đồng thời được pháp luật bảo hộ những tranh chấp giữa các bên quan hệ làm ăn với nhau Cho nên, để có những căn cứ pháp lý cho các cơ quan pháp luật phán quyết những tranh chấp giữa các bên có quan hệ kinh tế với nhau đều phải có khế ước hay hợp đồng kinh tế được ký kết theo đúng luật pháp của quốc gia Nước ta đang trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế, mọi mối liên kết kinh tế muốn phát triển lâu dài, cần phải thực hiện theo đúng pháp luật, phải thông qua hợp đồng kinh tế

Có như vậy nhà nước mới đủ căn cứ pháp lý để giải quyết tranh chấp, bất đồng xảy ra giữa các bên Đối với hoạt động liên kết kinh tế là những mối quan hệ kinh tế ổn định, thường xuyên, lâu dài lại càng cần được tiến hành qua hợp đồng kinh tế Nó còn là những căn cứ để các bên tiến hành đàm phán giải quyết những bất đồng, tranh chấp nhỏ xảy ra giữa các bên, làm cho các quan hệ kinh tế liên kết ngày càng bền chặt hơn Việc thực hiện tốt các hợp đồng kinh tế sẽ tạo thuận lợi cho các bên tham gia liên kết thực hiện tốt các kế hoạch sản xuất kinh doanh của mình

Sự phát triển của liên kết kinh tế làm cho lực lượng sản xuất ngày càng phát triển, mức độ tập trung hóa ngày càng cao, làm cho các khu vực kinh tế ngày càng xích lại gần nhau, gắn bó với nhau hơn Liên kết kinh tế là sợi dây, là chất nhựa gắn bó các doanh nghiệp, các chủ thể liên kết lại với nhau trên cơ sở đảm bảo lợi ích sống còn trên thị trường Hoạt động liên kết kinh tế là nhằm phát triển, tìm kiếm, khai thác ngày càng nhiều nguồn nguyên liệu cho sản xuất, đa dạng hóa mặt hàng, tăng nhanh khối lượng và chất lượng sản phẩm, rút ngắn và đẩy nhanh quá trình lưu thông, tiêu thụ sản phẩm, mở rộng và phát triển thị

Trang 24

trường, tức là nâng cao năng suất lao động, tồn tại, phát triển và mang lại hiệu quả kinh tế ngày càng cao (Phan Xuân Dũng, 2007)

Tùy từng loại hình tổ chức và yêu cầu của sản xuất kinh doanh, mức độ liên kết giữa các thành viên có thể theo từng loại công việc, từng bước của công nghệ sản xuất, theo từng loại sản xuất hoặc theo từng lĩnh vực hoạt động chuyên môn hóa cũng như cung ứng, sản xuất, bảo quản, tiêu thụ…

2.1.1.5 Phân loại liên kết kinh tế

Trong liên kết kinh tế có rất nhiều chủ thể tham gia do đó mối quan hệ giữa họ cũng phức tạp, khi liên kết với nhiều chủ thể khác nhau sẽ tạo ra những mối quan hệ chồng chéo Nhưng chúng ta có thể dựa vào vai trò của các chủ thể

để phân nhóm và chia thành hai phương thức liên kết là liên kết theo chiều ngang

và liên kết theo chiều dọc Theo tài liệu của Phạm Thị Minh Nguyệt (2006), chúng ta có thể hiểu về các phương thức liên kết này như sau:

Liên kết dọc: Định nghĩa đơn giản, liên kết dọc là liên kết giữa các tác nhân ở các mắt xích liên tiếp khác nhau trong sản xuất của một ngành hàng Trên phạm vi rộng hơn, liên kết dọc được điều tiết thông qua cả quá trình sản xuất và phân phối, hơn là điều tiết mỗi một đầu vào cụ thể bất kỳ nào đối với quá trình sản xuất

Hình thức liên kết và mức độ liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi rất đa dạng, nó phụ thuộc vào hai biến số chủ yếu là mức độ phụ thuộc về tài chính và mức độ phụ thuộc vào về tổ chức

Quá trình liên kết giữa cung đoạn và giữa các tác nhân trong ngành hàng tất yếu dẫn đến hợp nhất dọc Hợp nhất dọc là mức độ liên kết cao nhất trong hệ thống Trong hợp nhất dọc, các giai đoạn sản xuất hay nhiều phân đoạn thị trường được hợp nhất làm một Các sản phẩm được chuyển dịch từ phân đoạn này sang phân đoạn kế tiếp được thực hiện bởi những quyết định mang tính quản

lý thay vì hoạt động thương mại theo cơ chế thị trường Theo Maddigan (1981), hợp nhất dọc giúp cho nhà sản xuất kiểm soát quản lý quá trình sản xuất, chế biến những sản phẩm được sử dụng như là nguyên liệu đầu vào của nhau

Hợp nhất dọc thực chất là sự hợp nhất các giai đoạn kế tiếp trong quá trình sản xuất và phân phối sản phẩm, được thực hiện dưới quyền sở hữu và kiểm soát thống nhất của một tổ chức nhất định nhằm mục đích tăng sức mạnh thương trường của công ty hay thực thể đó

Trang 25

Liên kết ngang: là hình thức liên kết giữa các chủ thể cùng một cấp, cùng mắt xích tạo nên sự mở rộng về quy mô, chiếm lĩnh thị trường và có thể dẫn tới độc quyền trong một số thị trường nhất định Các thành viên tham gia liên kết này thường có sản phẩm hay dịch vụ cạnh tranh lẫn nhau nhưng bằng cách liên kết với nhau họ đã nâng cao sức cạnh tranh cho từng thành viên cũng như cho tập thể liên kết Trong thực thế được thể hiện bằng sự sát nhập các công ty cạnh tranh cùng sản phẩm hoặc hình thành liên minh, hiệp hội, câu lạc bộ

Trong liên kết này mỗi thành viên tham gia có sản phẩm hoặc dịch vụ cạnh tranh nhau nhưng họ liên kết lại để nâng cao khả năng cạnh tranh cho từng thành viên nhờ phát huy tính lợi ích kinh tế quy mô của tổ chức liên kết

Chúng ta chia thành hai phương thức liên kết như trên, nhưng trong bất kỳ một ngành hàng nào chúng ta cũng có thể thấy sự xuất hiện của hai phương thức liên kết này và mỗi tác nhân có thể đồng thời tham gia cả hai phương thức liên kết nói trên

Sơ đồ 2.1 Phương thức liên kết

Nguồn: Phạm Thị Minh Nguyệt (2006)

Sơ đồ trên thể hiện hai phương thức liên kết theo chiều ngang và theo chiều dọc Ta thấy liên kết theo chiều dọc làm tăng độ dài các mối liên kết và liên kết theo chiều ngang giúp mở rộng mối liên kết

Hiệp hội: là một loại hình liên kết, hợp tác mang tính cộng đồng hỗ trợ phát triển và bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho các cơ sở, đồng thời là cầu nối giữa các cơ

Trang 26

quan chính quyền với cơ sở Hiệp hội với những lợi thế trong tổ chức liên kết, hợp tác và sự kết nối các hoạt động sẽ giảm được chi phí, tiết kiệm nguồn lực, tạo năng lực nội sinh mới trên nhiều phương diện: về thời gian khoảng cách, chi phí, tốc độ

và tính ổn định cho các giao dịch trên thị trường Qua đó quy mô và không gian kinh tế của các doanh nghiệp được mở rộng và có nhiều cơ hội được tiếp cận với các nguồn lực và thị trường Trên thế giới tiếng nói của hiệp hội có sức mạnh và quyền lực rất lớn Sự phát triển của các hiệp hội là một tất yếu của nền kinh tế thị trường hiện đại trong thể chế phát triển kinh tế - xã hội hiện nay

Thành viên của các hiệp hội có thể là các doanh nghiệp, một số tổ chức kinh tế - kỹ thuật khác cùng chung lợi ích hợp tác bảo vệ quyền lợi chung và phát triển như: HTX, trang trại, Cơ sở nghiên cứu và dịch vụ KHCN, ngân hàng, các tổ chức tín dụng Ngoài ra Hiệp hội là một tổ chức mà sự tham gia của các thành viên không mang tính áp đặt, bắt buộc mà hoàn toàn mang tính

tự nguyện

2.1.1.6 Hình thức liên kết kinh tế

Từ những quan điểm về liên kết, các hình thức và mục tiêu của liên kết kinh tế cho thấy các liên kết trong quá trình sản xuất kinh doanh giữa các tác nhân rất đa dạng, gồm cả liên kết dọc và liên kết ngang đan xen lẫn nhau Cơ chế liên kết cũng rất đa dạng, thể hiện sự phát triển của cung cách sản xuất từ sản xuất đơn lẻ, manh mún sang dạng hàng hoá và mức độ phức tạp của việc cung cấp tiếp cận thị trường, cung cấp nguồn lực và công tác tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh và để đánh giá mức độ liên kết, mức độ quan hệ chặt chẽ giữa các tác nhân khi tham gia liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm

Trang 27

Sơ đồ 2.2 Các hình thức, các khâu và cơ chế liên kết giữa các tác nhân

Nguồn: Trịnh Thị Thùy (2014)

Sự thoả thuận hay cam kết giữa các tác nhân trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thể hiện sự hợp tác giúp đỡ nhau vì lợi ích chung cho cả hai bên, dựa trênnguyên tắc tự nguyện bình đẳng và phát triển của cả hai bên

Các cam kết, thoả thuận phải có các điều kiện ưu đãi, các ưu đãi này phải được xây dựng thông qua bàn bạc, thống nhất vì lợi ích của cả hai bên và dựa trên quan hệ cung cầu thị trường

Các thoả thuận, cam kết phải thể hiện trách nhiệm của mỗi bên khi thực hiện cam kết và các hình thức phạt nếu một bên không thực hiện đúng, đủ theo thoả thuận, cam kết Các mối liên kết này thể hiện thông qua các hình thức liên kết với các nội dung như sau:

Mua bán tự do trên thị trường

Mua bán tự do trên thị trường là hình thức giao dịch trực tiếp giữa người mua và người bán Người mua thấy được số lượng và chất lượng hàng hoá mình cần, còn người bán khi thoả thuận được giá cả sẽ bán và thu được tiền mặt đáp ứng yêu cầu sản xuất và đời sống Việc mua bán được thực hiện trên thị trường theo quan hệ cung cầu Bất kỳ bên mua hoặc bên bán hàng hoá nào, nếu thoả thuận được với nhau thì hoạt động giao dịch được diễn ra Thị trường có vai trò định giá

Hình thức liên kết

 Liên kết theo chiều dọc

 Liên kết theo chiều ngang

Trang 28

Thị trường tự do phản ánh quan hệ cung cầu của thị trường, do đó trong một số trường hợp thương mại thị trường tự do không cho hiệu quả khi nó gây ra các khó khăn trong điều hành hoạt động của thị trường và giữa các tác nhân

Những nhu cầu về sự khác biệt sản phẩm từ cấp độ sản xuất đã đặt áp lực lên các mối quan hệ thị trường tự do và có thể dẫn tới hình thức liên kết dạng hợp đồng giữa các giai đoạn chủ chốt trong hệ thống thị trường hoặc hình thức hợp nhất dọc (Barry, 1992)

Hợp đồng miệng (Thoả thuận miệng)

Hợp đồng miệng là các thoả thuận không được thể hiện bằng văn bản giữa các tác nhân cam kết cùng nhau thực hiện một số hoạt động, công việc nào đó Hợp đồng miệng cũng được hai bên thống nhất về số lượng, chất lượng, giá cả, thời hạn

và địa điểm giao nhận hàng Cơ sở của hợp đồng miệng là niềm tin, độ tín nhiệm, trách nhiệm cam kết thực hiện giữa các tác nhân tham gia hợp đồng hợp đồng miệng thường được thực hiện giữa các tác nhân có quan hệ thân thiết (họ hàng, an

em ruột thịt, bạn bè, ….), hoặc giữa các tác nhân đã có quá trình hợp tác, liên kết sản xuất - kinh doanh với nhau mà trong quá trình hợp tác luôn thể hiện được nguồn lực tài chính, khả năng tổ chức và trách nhiệm giữ chữ tín với các đối tác

Tuy nhiên, hợp đồng miệng thường chỉ là các thỏa thuận trên nguyên tắc

về số lượng, giá cả, điều kiện giao nhận hàng hoá Hợp đồng miệng cũng có thể hoặc không có đầu tư ứng trước về tiền vốn, vật tư cũng như các hỗ trợ và các giám sát kỹ thuật So với hợp đồng bằng văn bản, thì hợp đồng miệng lỏng lẻo và

có tính pháp lý thấp hơn

Hợp đồng bằng văn bản (hợp đồng)

Theo Eaton, Shepherd (2001), hợp đồng là sự thoả thuận giữa nông dân và các cơ sở chế biến hoặc tiêu thụ nông sản về việc tiêu thụ sản phẩm trong tương lai và thường với mức giá đặt trước Liên kết theo hợp đồng là quan hệ mua bán chính thức được thiết lập giữa các tác nhân trong việc mua nguyên liệu hoặc bán sản phẩm

Theo Michael Boland (2002), liên kết dạng hợp đồng là hình thức một công ty mua hàng hoá từ một nhà sản xuất với một mức giá được xác định trước khi mua Mối quan hệ hợp đồng giữa nhà sản xuất và nhà chế biến chỉ sự điều chỉnh của những văn bản thoả thuận cá nhân mang tính pháp lý, những giao dịch này có thể là giá mua bán, thị trường, chất lượng và số lượng nguyên vật liệu đầu vào, các dịch vụ kỹ thuật, cung cấp tài chính… được thoả thuận trước khi bán

Trang 29

Liên kết hợp đồng tạo ra sự linh hoạt trong việc chia sẻ rủi ro và quyền kiểm soát giữa các chủ thể tham gia hợp đồng

Hợp đồng được ký kết giữa các doanh nghiệp, tổ chức, ngân hàng tín dụng, trung tâm khoa học kỹ thuật và hộ theo các hình thức:

- Ứng trước vốn, vật tư, hỗ trợ kỹ thuật, công nghệ và mua lại sản phẩm hàng hóa

- Bán vật tư mua lại sản phẩm

- Trực tiếp tiêu thụ sản phẩm, thuê mướn tư vấn kỹ thuật, mua vật tư, thiết

bị, nguyên liệu đầu vào, vay vốn

- Liên kết sản xuất bằng việc góp vốn cổ phần, liên doanh liên kết với các doanh nghiệp hoặc cho doanh nghiệp thuê đất, sau đó hộ được sản xuất trên diện tích đó hoặc cho thuê, bán lại sản phẩm cho doanh nghiệp tạo sự gắn kết bền vững giữa hộ và doanh nghiệp

2.1.2 Liên kết kinh tế giữa các tác nhân trong sản xuất kinh doanh đồ gỗ mỹ nghệ 2.1.2.1 Các tác nhân trong sản xuất kinh doanh đồ gỗ mỹ nghệ

a Hộ sản xuất

Hộ sản xuất sản phẩm đồ gỗ thường có quy mô sản xuất nhỏ, vốn đầu tư sản xuất thấp, hạn chế khả năng đầu tư tái sản xuất; Về lao động, chủ yếu sử dụng lao động gia đình; kỹ thuật thủ công và công cụ sản xuất ít thay đổi, nặng tính truyền thống Hộ sản xuất có thể tự thiết kế, sản xuất thành phẩm và bán sản phẩm, quy mô sản xuất nhỏ Đối với người sản xuất do trình độ hiểu biết còn hạn chế về liên kết, về hợp đồng, trách nhiệm trong liên kết, họ chỉ nhìn những cái lợi trước mắt mà không nhìn lâu dài Họ sợ sự rằng buộc về mặt pháp luật khi ký kết hợp đồng

Mặt khác, có những hộ sản xuất mặc dù đã ký hợp đồng tiêu thụ với công

ty nhưng nơi nào mua với giá cao hơn họ vẫn bán

Như vậy, nhận thức của liên kết sản xuất của hộ rất kém, các lý do chính trên là làm cho việc liên kết còn hạn chế và để liên kết trong sản xuất của hộ được hiệu quả hơn cần giải quyết tốt các lý do ảnh hưởng trên

b Người cung cấp nguyên liệu đầu vào

Thị trường cung cấp nguyên vật liệu để sản xuất ra các sản phẩm thì nguyên liệu đầu vào là rất cần thiết cho quá trình sản xuất Sự hình thành các làng nghề chủ yếu do có sẵn nguồn nguyên liệu Nhưng sau một thời gian sản

Trang 30

xuất nguồn nguyên liệu có sẵn dần cạn đi, do đó phải được bổ sung bằng các nguồn ở nơi khác Vì vậy, khi sản xuất phát triển thì kéo theo sự xuất hiện các tổ chức, cá nhân làm dịch vụ cung cấp nguyên vật liệu cho các hộ, các cơ sở chuyên làm nghề Phương thức mua – bán hoàn toàn dựa trên sự thoả thuận ngầm giữa các tác nhân Chính điều này dẫn đến người sản xuất bị lệ thuộc vào việc khai thác và thu gom của người cung ứng, làm ảnh hưởng tới tiến độ sản xuất Vì vậy, sau này thị trường nguyên vật liệu đã phát triển rộng lớn hơn, không chỉ cung cấp nguyên vật liệu ở tại làng nghề mà còn ở các làng nghề ở các địa phương khác

c Người thu gom, vận chuyển

Người thu gom là là lực lượng rất quan trọng, bởi là cầu nối giữa các doanh nghiệp với hộ sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ thông qua các hợp đồng, hoặc cam kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm

Người thu gom có nhiệm vụ thu gom, kiểm tra hàng, giao hàng cho các doanh nghiệp chế biến và tiêu thụ Quan hệ giữa ông chủ DN và chủ thu gom được thực hiện thông qua các hợp đồng kinh tế hoặc thỏa thuận miệng hoặc giao nhận hàng thông qua ghi sổ Mối quan hệ giữa chủ thu gom với doanh nghiệp và

hộ sản xuất là: Tự nguyện, tự chủ và cùng có lợi

Là những người thu gom, vận chuyển, đóng vai trò là cầu nối giữa người sản xuất và người tiêu dùng, tạo ra lợi ích hài hòa với người sản xuất Họ nắm bắt thông tin thị trường rất nhạy bén, ít chịu sự quản lý, ràng buộc bởi một cơ quan

tổ chức nào nên họ có thể ép giá, tranh mua tranh bán nhằm tối đa hóa lợi ích cá nhân gây nên mối liên kết lỏng lẻo Nhưng tập hợp những người trung gian là không thể thiếu với nên kinh tế phát triển

d Các tác nhân khác

Ngoài các tác nhân trên trên ảnh hưởng tới quá trình tiêu thụ sản phẩm còn rất nhiều tác nhân như: chính sách của nhà nước, thị trường tiêu thụ, vấn đề giá cả, điều kiện của vùng và vai trò của chính quyền địa phương trong sự quản

lý mối liên kết kinh tế này

2.1.2.2 Liên kết kinh tế trong sản xuất kinh doanh đồ gỗ mỹ nghệ

Từ những khái niệm về liên kết, liên kết kinh tế có thể đưa ra khái niệm về liên kết kinh tế trong sản xuất kinh doanh đồ gỗ mỹ nghệ

Liên kết kinh tế trong sản xuất kinh doanh đồ gỗ mỹ nghệ là hình thức phối hợp, hợp tác thường xuyên các hoạt động do các tác nhân kinh tế tự nguyện

Trang 31

tiến hành để cùng nhau đề ra và thực hiện các chủ trương, biện pháp có liên quan đến công việc sản xuất kinh doanh của các bên tham gia nhằm thúc đẩy sản xuất, kinh doanh đồ gỗ mỹ nghệ phát triển theo hướng có lợi nhất Liên kết kinh tế trong sản xuất kinh doanh trong các làng nghề có sự tham gia của tất cả các tác nhân kinh tế có nhu cầu và không bị giới hạn bởi phạm vi địa lý Mục tiêu của liên kết kinh tế là tạo ra mối quan hệ kinh tế ổn định thông qua hợp đồng kinh tế, hoặc các quy chế hoạt động để tiến hành phân công sản xuất chuyên môn hóa, hợp tác hóa, nhằm khai thác tốt tiềm năng của mỗi đơn vị tham gia liên kết, hoặc

để cùng nhau tạo ra thị trường chung, phân định hạn mức sản lượng cho từng đơn

vị thành viên, giá cả cho từng loại sản phẩm, nhằm bảo vệ lợi ích của nhau Liên kết kinh tế có nhiều hình thức và quy mô tổ chức khác nhau tương ứng với nhu cầu sản xuất, kinh doanh của các đơn vị thành viên tham gia liên kết

Liên kết kinh tế trong sản xuất kinh doanh đồ gỗ mỹ nghệ là hình thức kết hợp các tác nhân kinh tế lại với nhau, dựa trên cơ sở tự nguyện liên kết lại với nhau trong một khâu hoặc nhiều khâu của quá trình sản xuất kinh doanh để các đơn vị cùng ổn định phát triển lâu dài Liên kết trong sản xuất kinh doanh đồ gỗ

mỹ nghệ là sự liên kết giữa tác nhân cung cấp nguyên liệu, tác nhân sản xuất, tác nhân thu gom, tác nhân tiêu thụ, tác nhân vận chuyển và tác tổ chức tín dụng trong đầu tư vốn nhằm đem lại lợi ích cho các bên tham gia liên kết, giúp cùng nhau phát triển kinh tế

2.1.3 Đặc điểm của liên kết kinh tế giữa các tác nhân trong sản xuất kinh doanh đồ gỗ mỹ nghệ ở các làng nghề

2.1.3.1 Đặc điểm về sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ

a Đặc điểm về kinh tế

Nghề trạm khắc đồ gỗ mỹ nghệ đã được hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời ở nước ta Đây là nghề có truyền thống hàng trăm năm nay gắn liền với nhiều tên làng nghề Trong quá trình phát triển, nghề trạm khắc đồ gỗ đã có vai trò tích cực góp phần tăng tỉ trọng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, thu hẹp nông nghiệp, chuyển lao động từ sản xuất nông nghiệp có thu nhập thấp sang ngành nghề phi nông nghiệp có thu nhập cao hơn Lịch sử ra đời của ngành nghề này đã làm thay đổi cơ cấu kinh tế nông thôn của các làng nghề Sự tác động này

đã tạo ra sự đa dạng nền kinh tế nông thôn không chỉ có ngành nông nghiệp thuần nhất mà bên cạnh là các ngành thủ công nghiệp, thương nghiệp và dịch vụ, cùng tồn tại và phát triển

Trang 32

b Đặc điểm về kĩ thuật

Mặt hàng mộc có đặc điểm là được làm ra từ những nguyên liệu tự nhiên, phương pháp chế tác thủ công Bằng tài hoa, sự khéo léo và óc thẩm mỹ sáng tạo tinh tế của những người thợ thủ công, những khúc gỗ qua bàn tay chế tác của những người thợ biến thành những sản phẩm hữu ích cho cuộc sống của con người Những sản phẩm của nghề mộc không chỉ mang hơi thở của cuộc sống thường ngày mà còn thể hiện trình độ của người thợ, thể hiện cái tâm của người thợ và gìn giữ trong các sản phẩm ấy là cả một bản sắc của văn hoá Việt Nam Sản phẩm gỗ mỹ nghệ là một trong số rất nhiều những sản phẩm thủ công

mỹ nghệ, mang nhiều đặc điểm riêng biệt so với những sản phẩm công nghiệp khác Một số đặc điểm của sản phẩm gỗ mỹ nghệ là :

Tính văn hóa

Trong sản xuất gỗ mỹ nghệ, lao động chủ yếu dựa vào đôi bàn tay khéo léo

và đầu óc sáng tạo của người thợ, người nghệ nhân Sản phẩm làm ra không chỉ

có giá trị sử dụng mà còn mang đậm dấu ấn bàn tay tài hoa của người thợ và nét văn hóa riêng của miền quê nào đó Các sản gỗ mỹ nghệ phản ánh sinh động và sâu sắc nền văn hóa Việt Nam là những sản phẩm để xuất khẩu hoặc là quà lưu niệm cho du khách nước ngoài đến du lịch ở Việt Nam giúp họ hiểu được phần nào đó trong nét đẹp văn hóa của dân tộc Việt Nam

Tính mỹ thuật

Sản phẩm gỗ mỹ nghệ là một tác phẩm nghệ thuật, vừa có giá trị sử dụng, vừa có giá trị thẩm mỹ Nhiều loại sản phẩm vừa phục vụ tiêu dùng, vừa là đồ trang trí trong nhà, đình chùa, cơ quan,… các sản phẩm đều là sự kết tinh giữa phương pháp thủ công tinh sảo với sự sáng tạo nghệ thuật So với các sản phẩm công nghiệp sản xuất hàng loạt thì các sản phẩm gỗ mỹ nghệ có giá trị cao ở phương diện nghệ thuật sáng tạo, do được sản xuất bằng công nghệ thủ công chủ yếu dựa vào đôi bàn tay khéo léo của người thợ

Tính đơn chiếc

Mỗi một sản phẩm gỗ mỹ nghệ mang nét đặc trưng, sắc thái riêng của từng vùng, từng địa phương sản xuất ra chúng Căn cứ vào từng nét chạm khắc, vào hoa văn, họa tiết trên sản phẩm có thể xác định được sản phẩm gỗ mỹ nghệ đó được sản xuất ở vùng quê nào, địa phương nào

Trang 33

Tính đa dạng

Thể hiện ở phương thức làm nên sản phẩm và những nét độc đáo riêng biệt của từng loại sản phẩm Các loại sản phẩm gỗ mỹ nghệ được tạo nên từ nguyên liệu chính là gỗ, nhờ bàn tay khéo léo của người thợ và những nghệ nhân Với phương thức khác nhau đã tạo nên rất nhiều sản phẩm đa dạng về chủng loại và mẫu mã

2.1.3.2 Đặc điểm của liên kết kinh tế giữa các tác nhân trong sản xuất kinh doanh

đồ gỗ mỹ nghệ

Thể hiện sự chuyên môn hóa trong từng công đoạn sản xuất Sản phẩm sản xuất ra chủ yếu từ các hộ nghề và các doanh nghiệp làng nghề, thông thường các hộ nghề chỉ đảm nhận một khâu công việc (khâu chính) cũng có trường hợp các hộ nghề hoàn thiện tất cả các khâu của sản phẩm sau đó chuyển qua các đơn

vị trung gian, các đơn vị trung gian thu gom sản phẩm mang về doanh nghiệp tiêu thụ trực tiếp hoặc DN xuất khẩu hoàn thiện nốt các khâu còn lại rồi tổ chức đóng gói, xuất hàng Cũng có những hộ nghề, nhóm nghề, HTX, tổ hợp tác hay

DN tự mình thực hiện sản xuất tất cả các khâu để hoàn thiện sản phẩm và tự tổ chức tiêu thụ mà không cần đến trung gian Liên kết giữa các tác nhân trong sản xuất sẽ làm tăng tính chuyên môn hóa trong sản xuất, mối liên hệ giữa các loại hình sản xuất tạo thành chuỗi liên hoàn qua đó tiết kiệm chi phí lao động nâng cao hiệu quả sản xuất

Liên kết kinh tế giữa tác nhân trong sản xuất kinh doanh trong các làng nghề thể hiện quan hệ xã hội đó là mối quan hệ họ hàng, gia đình, dòng tộc Người sản xuất trong làng nghề chủ yếu là các hộ gia đình, cha truyền con nối Liên kết giữa các tác nhân trong làng nghề xuất phát từ liên kết các hộ gia đình lại với nhau, các nhà sản xuất là hàng xóm của nhau hay các gia đình trong dòng tộc lại với nhau, là đặc điểm riêng chỉ có ở các làng nghề

2.1.4 Vai trò của liên kết kinh tế giữa các tác nhân trong sản xuất kinh doanh đồ gỗ mỹ nghệ ở các làng nghề

2.1.4.1 Liên kết kinh tế trong sản xuất kinh doanh đồ gỗ mỹ nghệ giúp các tác nhân khắc phục những bất lợi về quy mô

Trong hoạt động sản xuất - kinh doanh, mỗi đơn vị sản xuất kinh doanh (hộ, HTX, doanh nghiệp) đều thực hiện một chuỗi các hoạt động từ cung cấp, dịch vụ đầu vào và đầu ra; mỗi cung đoạn lại có những đầu vào khác nhau, quy trình

Trang 34

công nghệ khác nhau và mang tính đặc thù; hơn nữa để sản xuất một loại sản phẩm đầu ra nào đó lại yêu cầu những chủng loại vật tư, nguyên liệu đầu vào khác nhau mà bản thân đơn vị sản xuất (hộ, HTX, doanh nghiệp) không tự sản xuất ra tất cả, mà đó là kết quả của quá trình phân công lao động, liên kết hợp tác của hai hay nhiều bên nhằm phát huy lợi thế so sánh, giảm chi phí sản xuất và chủ động, ổn định sản xuất - kinh doanh

Trong một chuỗi các hoạt động sản xuất kinh doanh mỗi hộ, cơ sở đều có một hoặc một số lĩnh vực hoạt động chủ đạo, mang tính đặc thù, chuyên biệt Bên cạnh những hoạt động chính, còn một loạt các hoạt động phụ, mà bản thân

cơ sở không thể thực hiện được, nhưng nó lại không thể thiếu đối với cả chuỗi dây chuyền sản xuất chính Ví dụ, trong sản xuất hàng đồ gỗ mỹ nghệ, người ta

sử dụng các nguyên liệu sản xuất chính là gỗ như: gụ, trắc, hương …các nguyên liệu này nằm ở nhiều vùng miền khác nhau do nhiều chủ thể khác nhau đang quản lý sử dụng Sau đó, người ta khai thác, sơ chế, vận chuyển đến các làng nghề Tại các làng nghề để tạo ra một sản phẩm hoàn chỉnh, ngoài sử dụng nguyên liệu chính là gỗ còn sử dụng thêm một số nguyên liệu khác như keo, sơn, vecni… để đảm bảo mỹ thuật và tính bền vững của sản phẩm Tất cả những sản phẩm này là kết quả hoạt động của nhiều lĩnh vực, nhiều chủ thể khác nhau mà mỗi hộ, doanh nghiệp khó có thể đảm nhận hết Hơn nữa nếu có làm được thì ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm Chính vì vậy các liên kết giúp các hộ, doanh nghiệp khắc phục những hạn chế về qui mô và lĩnh vực hoạt động theo hướng hiệu quả hơn

2.1.4.2 Liên kết kinh tế kinh tế trong sản xuất kinh doanh đồ gỗ mỹ nghệ giúp các tác nhân phản ứng nhanh với những thay đổi của thị trường

Nhu cầu của thị trường là luôn thay đổi, điều đó buộc các nhà sản xuất , doanh nghiệp sản xuất kinh doanh vừa phải luôn thay đổi mẫu mã của các sản phẩm hiện có, vừa phải tìm cách đa dạng hoá sản phẩm Để có được những thay đổi phù hợp với nhu cầu của thị trường, doanh nghiệp cần phải có thông tin và có

đủ khả năng triển khai nhanh các phương án sản xuất mới Chính sự liên kết kinh

tế sẽ giúp cho doanh nghiệp đạt được điều đó

Liên kết kinh tế giúp cho các doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm của mình được nhanh hơn, thể hiện thông qua sự liên kết của hệ thống các nhà thu gom với các nhà sản xuất, doanh nghiệp với nhà sản xuất thông qua hình thức đại lý bán hàng Hình thức liên kết này, các cửa hàng kinh doanh sẽ nhận làm đại lý bán buôn

Trang 35

hay bán lẻ sản phẩm cho doanh nghiệp sản xuất Và nhờ đó, sản phẩm của doanh nghiệp sẽ được đưa vào thị trường một cách nhanh chóng hơn, kịp thời hơn

Liên kết kinh tế còn giúp cho các nhà sản xuất có thể tiếp cận nhanh chóng với các công nghệ và kỹ thuật mới

Ngược lại, sự thay đổi của thị trường cũng thúc đẩy liên kết kinh tế Trong thực tế, khi những thay đổi của thị trường vượt ra ngoài khả năng đáp ứng của nhà sản xuất, doanh nghiệp sản xuất, buộc các doanh nghiệp phải tìm cách liên kết với các đối tác khác để tìm kiếm sự hỗ trợ về vốn và công nghệ, kể cả việc tiến hành đặt gia công sản xuất ở bên ngoài những phụ kiện phục vụ cho sản phẩm chính của mình

2.1.4.3 Liên kết kinh tế giúp các tác nhân giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh Phát triển sản xuất là một quá trình vận động không ngừng, tích tụ tập trung rồi lại chia tách, sáp nhập để đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội và phù hợp với khả năng nội tại của doanh nghiệp nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận cao nhất, mà lại giảm thiểu được rủi ro Quá trình đó diễn ra thực chất là thông qua các hoạt động liên kết kinh tế

Đứng trước một cơ hội sản xuất lớn, nhiều khi vượt quá khả năng sản xuất của nhà sản xuất Nếu nhà sản xuất bỏ sẽ mất cơ hội làm ăn hay đơn độc một mình triển khai thực hiện dự án dẫn đến hiệu quả thấp, thậm chí thua lỗ Sản xuất

ra một sản phẩm đồ gỗ hoàn chỉnh cần chi phí rất lớn, nhiều khi vượt quá khả năng của các hộ sản xuất, nếu người sản xuất bỏ qua sẽ mất cơ hội làm ăn, nhưng nếu thực hiện một mình sẽ dẫn đến hiệu quả thấp thậm chí là thua lỗ Để giảm thiểu rủi ro do cạnh tranh, các tác nhân trong sản xuất kinh doanh đồ gỗ mỹ nghệ phải liên kết lại Khi tham gia liên kết, các cơ sở sản xuất đồ gỗ mĩ nghệ có điều kiện mở rộng quy mô hoạt động do có sự đảm bảo ổn định về số lượng, chất lượng và tiến độ của nguyên liệu cung cấp cho sản xuất

Nhiều hộ sản xuất đồ gỗ mĩ nghệ đã phân tán rủi ro bằng cách liên kết các

hộ khác để cùng sản xuất mỗi hộ sẽ đảm nhận một phần công việc, tùy theo năng lực của từng hộ

2.1.5 Nội dung liên kết kinh tế giữa các tác nhân trong sản xuất kinh doanh

đồ gỗ mỹ nghệ ở các làng nghề

Nội dung liên kết thể hiện thoả thuận của các tác nhân tham gia liên kết Liên kết có thể được thực hiện ở nhiều khâu của quá trình sản xuất như liên kết trong

Trang 36

cung ứng vật tư đầu vào, cho vay vốn, sản xuất, tiêu thụ sản phẩm… thông thường nội dung liên kết bao gồm:

Các cam kết, thoả thuận về điều kiện ưu đãi Đây là những điều khoản ưu đãi mà hai bên dành cho đối tác của mình thông qua quá trình bàn bạc, thoả thuận Tuỳ vào khả năng, mục đích cảu mỗi tác nhân liên kết mà họ đưa ra những điều khoản cho đối tác và vẫn đảm bảo lợi ích cho chính mình

Các cam kết, thoả thuận về việc làm của mỗi bên Thể hiện sự phân công về thời gian và công việc của mỗi bên phải làm trong suốt thời gian liên kết, tạo ra sự phối hợp nhịp nhàng của cả hai bên nhằm đạt được mục tiêu chung của liên kết

Các cam kết, thoả thuận về trách nhiệm thi hành của mỗi bên và hình thức

xử xự phạt nếu một bên vi phạm không thực hiện đúng như cam kết Trong phần này hai bên tham gia liên kết phải làm rõ ràng trách nhiệm thực hiện đúng, kịp thời những gì thoả thuận, cam kết và những hình phạt họ phải chấp nhận thi hành nếu làm sai Với những nội dung liên kết như trên có thể được hình thành bởi những cách thức khác nhau như sau:

Hợp đồng bằng văn bản: là sự thỏa thuận của các tác nhân tham gia liên kết

và được thể hiện dưới dạng văn bản Liên kết theo hợp đồng được hiểu là quan hệ mua bán được thiết lập trước khi nó xảy ra giữa người mua và người bán về giá bán, chất lượng, số lượng của sản phẩm, những dịch vụ được cung cấp như kỹ thuật, tài chính Khi ký kết hợp đồng hai bên sẽ bị ràng buộc bởi trách nhiệm thi hành hợp đồng, tạo ra sự ổn định trước những biến đổi của thị trường và việc chia

sẻ lợi ích, rủi ro trong quá trình thực hiện hợp đồng

Hợp đồng bằng lời nói: là sự thỏa thuận bằng lời nói của hai bên cùng thực hiện một hoặc một số hoạt động, công việc nào đó Hợp đồng bằng lời nói cũng được hai bên thống nhất về những nội dung như số lượng, chất lượng, giá cả sản phẩm nhưng nó được thực hiện trên cơ sở niềm tin, độ tín nhiệm giữa các đối tác thường có quan hệ thân thiết hay bạn hàng tin cậy Do đó hợp đồng bằng lời nói thường lỏng lẻo và có tính pháp lý thấp hơn so với hợp đồng bằng văn bản

Mối liên kết kinh tế giữa các tác nhân trong sản xuất kinh doanh đồ gỗ mỹ nghệ thể hiện là liên kết ngang và liên dọc như sau:

Liên kết ngang giữa các tác nhân trong sản xuất kinh doanh đồ gỗ mỹ nghệ

Trang 37

Liên kết ngang giữa các hộ cung cấp nguyên liệu gỗ với nhau Các hộ cung cấp nguyên liệu liên kết với nhau để thống nhất giá bán gỗ, cùng sử dụng phương tiện để vận chuyển gỗ

Liên kết ngang giữa những người sản xuất trong cả quá trình sản xuất ra sản phẩm từ khâu thu mua nguyên liệu đầu vào đến khi sản xuất xong sản phẩm, với mục đích khác nhau nhằm mang lại lợi ích cho các nhân khi tham gia liên kết

Các hộ sản xuất ở cùng thôn, cùng xã hay quen biết thường có mối liên kết với nhau Nội dung liên kết giữa người sản xuất với người sản xuất trong việc cùng thu mua nguyên liệu đầu vào, trao đổi kinh nghiệm sản xuất sản phẩm, hay giới thiệu cho nhau những người mua tốt

Liên kết ngang giữa các hộ thu gom với nhau trong việc thu mua và bán sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ Các hộ thu gom cùng nhau thống nhất giá, cũng như chất lượng sản phẩm

Liên kết ngang giữa các doanh nghiệp trong tiêu thụ đồ gỗ mỹ nghệ Liên kết dọc giữa các tác nhân trong sản xuất kinh doanh đồ gỗ mỹ nghệ Liên kết dọc giữa các tác nhân trong sản xuất kinh doanh đồ gỗ mỹ nghệ thể hiện từ khâu mua nguyên liệu gỗ đến sản xuất và tiêu thụ sản phẩm

Liên kết dọc giữa người cung cấp nguyên liệu – người sản xuất Đây là mối liên kết rất chặt chẽ, nhà cung ứng đầu vào sẽ cung cấp nguyên liệu gỗ cho các cơ sở để sản xuất Thông qua mối liên kết này, các nhà cung ứng vật tư sẽ bán được sản phẩm của mình, đồng thời các hộ sản xuất lại có được nguồn nguyên liệu đầu vào cho sản xuất Khi liên kết được thực hiện, sẽ đem lại lợi ích cho các bên tham gia

Hình thức liên kết có thể là: ký kết các hợp đồng hoặc thỏa thuận trực tiếp với người sản xuất Qua hình thức này các nhà cung ứng đầu vào sẽ cung cấp các đầu vào để người sản xuất có vật tư đầu vào và họ sản xuất

Như vậy, thông qua mối liên kết này, các nhà cung ứng nguyên liệu đầu vào sẽ bán được sản phẩm mình sản xuất ra và thu lại lợi nhuận cho cơ sở, tổ chức, đơn vị mình Đồng thời người sản xuất lại có đầu vào để sản xuất với cam kết đảm bảo số lượng, chất lượng nguyên liệu đầu vào Khi liên kết này được thực hiện đều mang lại lợi ích cho các bên tham gia Từ đó người sản xuất sẽ chủ động về các nguồn nguyên liệu đầu vào và sẽ yên tâm sản xuất hơn Liên kết

Trang 38

giữa doanh nghiệp cho hộ sản xuất ứng trước vật tư để sản xuất, từ đó chủ động nguồn nguyên liệu và bán thành phẩm cho doanh nghiệp Liên kết này phần lớn được thể hiện qua hợp đồng kinh tế, một phần là sự thỏa thuận ngầm định giữa các bên tham gia nhằm đảm bảo lợi ích hài hòa giữa các bên tham gia liên kết

Liên kết dọc giữa người sản xuất với người thu gom, doanh nghiệp Hộ sản xuất sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp kí kết các hợp đồng hoặc thỏa thuận bằng miệng với các cam kết về số lượng, chất lượng… để cung cấp sản phẩm cho các

hộ thu gom, doanh nghiệp

2.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng liên kết kinh tế giữa các tác nhân sản xuất kinh doanh đồ gỗ mỹ nghệ ở các làng nghề

Nhận thức, trình độ, hiểu biết của các tác nhân về liên kết, các tác nhân hiểu biết càng rõ về ý nghĩa, vai trò và những lợi ích của liên kết càng cao thì mức độ tham gia liên kết càng nhiều và sự liên kết càng chặt chẽ Sự tín nhiệm, tin tưởng lẫn nhau thì liên kết càng bền chặt

Năng lực tổ chức các khâu trong sản xuất, tiêu thụ sản phẩm đòi hỏi có sự liên kết Năng lực quản lý về hợp đồng, lao động, tài sản đầu tư của các tác nhân càng cao thì sự liên kết càng bền chặt

Nhân tố vốn, mức độ phụ thuộc về tài chính càng cao thì việc liên kết càng chặt chẽ càng cao Người sản xuất nhận được sự hỗ trợ từ phía nhà cung cấp nguyên liệu, doanh nghiệp tiêu thụ thì phải có trách nhiệm thực hiện những điều kiện mà họ đưa ra trên cơ sở thỏa thuận của hai bên

Quy mô hoạt động của các tác nhân cụ thể về lao động, tài sản đầu tư càng cao đòi hỏi nhu cầu liên kết càng lớn

Biến động của thị trường khi thị trường ổn định đặc biệt là vấn đề giá cả được giữ ổn định thì các cá nhân có xu hướng liên kết với nhau nhiều và chặt chẽ hơn

Cơ chế chính sách của nhà nước có ảnh hưởng rất lớn đến sự liên kết giữa các tác nhân sản xuất kinh doanh trong các làng nghề Chính sách liên kết, hợp tác giữa các tác nhân trong làng nghề bao gồm cơ chế về đất đai, vốn sản xuất, thuế xuất khẩu, các chế tài, luật định…khuyến khích phát triển liên kết thì thúc đẩy các mối liên kết phát triển và làm cho các mối liên kết thêm bền chặt, ngược lại nếu chính sách nhà nước không tạo điều kiện thuận lợi và không khuyến

Trang 39

khích thì sẽ không tồn tại hay rất ít các mối quan hệ liên kết vì sẽ không đem lại hiệu quả trong sản xuất

Các yếu tố khác:

- Trình độ nhận thức, năng lực tư duy của các chủ thể tham gia liên kết

- Giá cả thị trường: Là yếu tố quyết định đến hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm, như vậy ảnh hưởng đến hoạt động liên kết trong sản xuất và tiêu thụ gỗ mỹ nghệ

- Sự tin tưởng, tín nhiệm: Cơ sở để các hộ lựa chọn đối tác và duy trì mối liên kết

- Mối quan hệ họ hàng, hàng xóm láng giềng

2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ LIÊN KẾT KINH TẾ GIỮA CÁC TÁC NHÂN TRONG SẢN XUẤT KINH DOANH Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

2.2.1 Thực tiễn về liên kết kinh tế giữa các tác nhân trong sản xuất kinh doanh ở một số nước trên thế giới

2.2.1.1 Trung Quốc

Nghề thủ công ở Trung Quốc có từ lâu đời và rất nổi tiếng như đồ gốm, dệt vải, dệt tơ lụa, luyện kim, nghề làm giấy Đầu thế kỷ XX, Trung Quốc có khoảng 10 triệu thợ thủ công, làm việc trong các hộ gia đình, trong phường nghề

và làng nghề Đến năm 1954, số người làm nghề tiểu thủ công nghiệp được tổ chức vào hợp tác xã Sau này phát triển thành xí nghiệp Hương Trấn và cho đến nay vẫn còn tồn tại ở một số địa phương

Xí nghiệp Hương Trấn là tên gọi chung của các xí nghiệp công, thương nghiệp, xây dựng hoạt động ở khu vực nông thôn Nó bắt đầu xuất hiện vào năm 1978, khi Trung Quốc thực hiện chính sách mở cửa Xí nghiệp “Hương Trấn” phát triển mạnh mẽ đã góp phần đáng kể vào việc thay đổi bộ mặt nông thôn Những năm 80, các xí nghiệp cá thể và làng nghề phát triển nhanh, đóng góp tích cực trong việc tạo ra 68% giá trị sản lượng công nghiệp nông thôn và trong số 32% sản lượng công nghiệp nông thôn do các xí nghiệp cá thể tạo ra có phần đóng góp đáng kể từ các làng nghề Trong các hàng thủ công xuất khẩu, hang thảm có vị trí quan trọng (chiếm 75% số lượng thảm ở thị trường Nhật)

Trang 40

Tại Trung Quốc, liên kết giữa Nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp và nhà nông phát triển rất nhanh chóng trong thời gian gần đây và đã trở thành công cụ khuyến khích các thành phần công, thương nghiệp tham gia nhiều hơn nhăm thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển, tạo liên kết chặt chẽ giữa sản xuất- chế biến

và tiêu thụ nông sản Trung quốc gọi là “kinh doanh sản nghiệp hoá nông nghiệp” Đây là phương thức kinh doanh nông nghiệp kiểu mới, trong đó nhà nước phối hợp với các xí nghiệp và các nhà khoa học trong các khâu tác nghiệp trước sản xuất, trong sản xuất và sau sản xuất của hàng triệu hộ sản xuất, nhằm hướng vào thị trường nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất thực hiện nhất thể hoá sản xuất- chế biến- tiêu thụ, đưa sản xuất nông nghiệp phát triển theo hướng quy

mô hoá, chuyên môn hoá và thâm canh hoá

Có 4 hình thức của sản nghiệp hoá:

Thứ nhất, hình thức doanh nghiệp chế biến gia công là chủ thể: tức là doanh nghiệp tìm kiếm thị trường trong và ngoài nước rồi thông qua hình thức ký hợp đồng, kế ước,cổ phần… rồi liên hệ với nhân dân và vùng sản xuất nguyên liệu Trong đó doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ, thu mua nông sản định hướng sản xuất cho sản xuất Sản xuất đảm bảo nguyên liệu ổn định cho doanh nghiệp sản xuất Nhà nước tạo điều kiện cho doanh nghiệp và sản xuất vay vốn, bảo vệ lợi ích cảu doanh nghiệp và sản xuất trước các thay đổi của thị trường nhằm cho doanh nghiệp yên tâm đầu tư, người dân yên tâm sản xuất

Thứ hai, hình thức hợp tác xã nông nghiệp là chủ thể: các tổ chức hợp tác sản xuất đứng ra liên hệ với các doanh nghiệp gia công chế biên, các đơn vị kinh doanh nông sản, mặt khác tiến hành tổ chức sản xuất sản xuất họ đóng vai trò như chiếc cầu nối liên kết người dân và doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ sản phẩm

Thứ ba, hình thức hiệp hội sản xuất chuyên nghiệp: đây là hình thức chia

sẽ thông tin, hỗ trợ nhau về tiền vốn, kỹ thuật sản xuất, tiêu thụ… giữa các hộ gia đình trên cơ sở tự nguyện cùng có lợi

Thứ tư, hình thức mắt xích của thị trường bán buôn: ở đây hình thức này hạt nhân trung tâm là các chợ buôn bán, các công ty thương mại nông sản Tức là các chợ công ty này tác động hướng dẫn sản xuất sản sản xuất các mặt hàng riêng biệt, từ đó hình thành các khu chuyên canh cung cấp đầu vào cho kinh doanh của mình (Nguyễn Thị Bích Hồng, 2008)

Ngày đăng: 17/11/2018, 15:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w