1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quản lý nhà nước về thể dục thể thao của huyện gia lâm, thành phố hà nội

134 207 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 1,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong thời gian qua sự nghiệp thể dục thể thao của huyện từng bước phát triển ổn định, vững chắc; Tuy nhiên công tác quản lý nhà nước về thể dục thể thao của huyện cũng còn một số hạn ch

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Minh Hiền

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này là hoàn toàn trung thực, khách quan và chưa từng được sử dụng để bảo vệ lấy bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Phạm Thị Bưởi

Trang 3

Qua đây tôi cũng vô cùng biết ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi xin gửi lời chúc sức khoẻ và chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Phạm Thị Bưởi

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục chữ viết tắt vi

Danh mục bảng vii

Danh mục hình, sơ đồ ix

Trích yếu luận văn x

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.2.1 Mục tiêu chung 3

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 4

1.5 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4

Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn 5

2.1 Cơ sở lý luận của quản lý nhà nước về thể dục thể thao 5

2.1.1 Các khái niệm cơ bản 5

2.1.2 Vai trò của quản lý nhà nước về thể dục thể thao 9

2.1.3 Nội dung quản lý nhà nước về thể dục thể thao 10

2.1.4 Nguyên tắc quản lý nhà nước về thể dục thể thao 10

2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về thể dục thể thao 13

2.2 Cơ sở thực tiễn quản lý nhà nước về thể dục thể thao 15

2.2.1 Kinh nghiệm quản lý thể dục thể thao ở một số nước trong khu vực 15

2.2.2 Kinh nghiệm quản lý nhà nước ở một số địa phương 25

2.2.3 Những chủ trương, chính sách của đảng và nhà nước về phát triển thể dục thể thao việt nam 28

Phần 3 Phương pháp nghiên cứu 37

Trang 5

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 37

3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 37

3.1.2 Kinh tế - xã hội 40

3.1.3 Đánh giá chung về địa bàn nghiên cứu 47

3.2 Phương pháp nghiên cứu 48

3.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 48

3.2.2 Phương pháp phân tích 51

3.2.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 51

Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 55

4.1 Thực trạng quản lý nhà nước về thể dục thể thao của huyện gia lâm 55 4.1.1 Tổ chức bộ máy và phân cấp quản lý 55

4.1.2 Công tác lập kế hoạch quản lý, chỉ đạo về thể dục thể thao 63

4.1.3 Thực trạng phát triển đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về thể dục thể thao 68

4.1.4 Thực trạng đầu tư nguồn lực cho phát triển tdtt 71

4.1.5 Thực trạng công tác đánh giá, khen thưởng trong lĩnh vực tdtt 76

4.1.6 Kết quả công tác quản lý nhà nước về thể dục thể thao của huyện gia lâm 81

4.1.7 Những thuận lợi khó khăn trong công tác quản lý nhà nước về tdtt 87

4.2 Yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về tdtt trên địa bàn huyện gia lâm, thành phố hà nội 90

4.2.1 Sự quan tâm của các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương 91

4.2.2 Đội ngũ cán bộ quản lý, hướng dẫn viên, cộng tác viên, huấn luyện viên và giáo viên giáo dục thể chất 93

4.2.3 Hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bị, kinh phí chi tổ chức các hoạt động thể dục thể thao 94

4.2.4 Sự phối hợp của các bên tham gia 95

4.2.5 Ý thức của người dân và cộng đồng về việc luyện tập thể dục thể thao 97

4.3 Định hướng và giải pháp chủ yếu tăng cường công tác quản lý nhà nước về thể dục thể thao trên địa bàn huyện gia lâm, thành phố hà nội giai đoạn 2016-2020 102

4.3.1 Định hướng phát triển thể dục thể thao 102

4.3.2 Nhiệm vụ quản lý nhà nước về thể dục thể thao 102

Trang 6

4.3.3 Giải pháp tăng cường công tác quản lý nhà nước về tdtt 104

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 110

5.1 Kết luận 110

5.2 Kiến nghị 111

Tài liệu tham khảo 112

Phụ lục 1 115

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Nghĩa tiếng việt

CNVC Công nhân viên chức

CSKD Cơ sở kinh doanh

UBND Ủy ban nhân dân

VHTT Văn hóa Thông tin

VHTTDL Văn hóa Thể thao & Du lịch

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Tình hình đất đai của huyện Gia Lâm 39

Bảng 3.2 Tình hình dân số và lao động của huyện Gia Lâm 41

Bảng 3.3 GTSX các ngành kinh tế do huyện quản lý ( theo giá so sánh 2010) giai đoạn 2013-2015 43

Bảng 3.4 GTSX các ngành kinh tế do huyện quản lý (theo giá hiện hành) giai đoạn 2013-2015 44

Bảng 3.5 Số lượng và cơ cấu các thành phần KTTN trên địa bàn huyện Gia Lâm giai đoạn 2013-2015 45

Bảng 3.6 Tình hình phân bổ mẫu phỏng vấn 50

Bảng 4.1 Thực trạng văn bản ban hành quản lý TDTT giai đoạn 2011-2015 62

Bảng 4.2 Cách thức lập kế hoạch quản lý về thể dục thể thao 64

Bảng 4.3 Thực trạng phát triển đội ngũ cán bộ quản lý TDTT huyện Gia Lâm 67

Bảng 4.4 Thực trạng công tác tuyển dụng, tập huấn cán bộ quản lý TDTT 69

Bảng 4.5 Thực trạng công trình thể dục thể thao trên địa bàn huyện Gia Lâm 71

Bảng 4.6 Thực trạng kinh phí chi hoạt động TDTT giai đoạn 2013-2015 73

Bảng 4.7 Thực trạng đội ngũ HLV, CTV, Giáo viên GDTC giai đoạn 2013-2015 75

Bảng 4.8 Định mức khen thưởng trong lĩnh vực TDTT huyện Gia Lâm năm 2013-2015 80

Bảng 4.9 Một số chỉ tiêu phát triển phong trào TDTT quần chúng của huyện Gia Lâm năm 2013-2015 81

Bảng 4.10 Hệ thống các môn TDTT của huyện Gia Lâm 83

Bảng 4.11 Tổng hợp thành tích một số môn TDTT giai đoạn 2013-2015 85

Bảng 4.12 Thống kê VĐV được tuyển chọn vào đội tuyển QG, TP giai đoạn 2013-2015 87

Bảng 4.13 Các yếu tố và mức độ ảnh hưởng đến công tác quản lý TDTT trên địa bàn huyện Gia Lâm (n=83) 91

Bảng 4.14 Đánh giá về việc ban hành các thể chế quản lý nhà nước đối với công tác quản lý thể dục thể thao huyện Gia Lâm (n=83) 92

Bảng 4.15 Mức độ ảnh hưởng nguồn nhân lực, vật lực đến hoạt động TDTT 93

Trang 9

Bảng 4.16 Thực trạng nguồn kinh phí tổ chức thi đấu, đầu tư CSVC phát triển

TDTT trên địa bàn huyện Gia Lâm 95 Bảng 4.17 Mức độ tổ chức các giải thể dục thể thao trên địa bàn 96 Bảng 4.18 Thực trạng các môn TDTT được người dân lựa chọn luyện tập, thi

đấu trên địa bàn huyện Gia Lâm (n=30) 99 Bảng 4.29 Yếu tố và mức độ ảnh hưởng đến luyện tập TDTT của người dân

trên địa bàn huyện Gia Lâm 100 Bảng 4.20 Thực trạng đối tượng luyện tập TDTT trên địa bàn huyện Gia Lâm 101 Bảng 4.21 Một số giải pháp chủ yếu tăng cường công tác quản lý nhà nước

nhằm phát triển sự nghiệp TDTT trên địa bàn huyện Gia Lâm 105 Bảng 4.22 Giải pháp chủ yếu khuyến khích người dân thường xuyên luyện tập

TDTT trên địa bàn huyện Gia Lâm 106

Trang 10

DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ

Hình 2.1 Lễ khai mạc Sea Games 22 (năm 2003) tổ chức tại Việt Nam 24

Hình 3.1 Bản đồ hành chính huyện Gia Lâm 37

Sơ đồ 2.1 Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về TDTT 34

Sơ đồ 4.2 Bộ máy quản lý có sự tham gia 55

Trang 11

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

1 Tên tác giả: Phạm Thị Bưởi

2 Tên luận văn: “Quản lý Nhà nước về thể dục thể thao của huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội”

3 Ngành: Quản lý kinh tế Mã số: 60.34.04.10

4 Cơ sở đào tạo: Học Viện Nông nghiệp Việt Nam

Huyện Gia Lâm đang trên đà phát triển với nhiều bước ngoặt về kinh tế - xã hội Phát triển thể dục thể thao là một trong những vấn đề được các cấp, các ban ngành của huyện đặc biệt quan tâm Trong thời gian qua sự nghiệp thể dục thể thao của huyện từng bước phát triển ổn định, vững chắc;

Tuy nhiên công tác quản lý nhà nước về thể dục thể thao của huyện cũng còn một số hạn chế trong việc ban hành các chính sách khuyến khích nhằm thu hút các tổ chức, đơn vị, cá nhân tham gia xã hội hóa thể dục thể thao, kinh phí từ ngân sách nhà nước chi hoạt động thể dục thể thao chưa đáp ứng được yêu cầu, hệ thống cơ sở vật chất như sân bãi, dụng cụ, phương tiện tập luyện chưa đồng bộ; thiếu cán bộ hướng dẫn hoạt động thể dục thể thao xã, thị trấn

Xuất phát từ thực tiễn trên chúng tôi nghiên cứu đề tài “Quản lý nhà nước về thể dục thể thao của huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội” với mục tiêu nhằm: i) Hệ thống các vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước về thể dục thể thao; ii) Đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước về thể dục thể thao; iii) Phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về thể dục thể thao và iv) Đề xuất một

số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước về thể dục thể thao trên địa bàn huyện Gia Lâm

Các bên có liên quan bao gồm 83 cán bộ làm công tác quản lý về thể dục thể thao ở huyện và các xã, 90 người dân ở các xã đã được thảo luận và phỏng vấn Các nội dung phỏng vấn và thảo luận tập trung vào đặc điểm hệ thống thể dục thể thao ở Gia Lâm, việc ban hành các văn bản quản lý, việc tổ chức các hoạt động thể dục thể thao, tổ chức phát triển đội ngũ nhân lực cho hoạt động thể dục thể thao, phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ thể dục thể thao, các thuận lợi và khó khăn trong quản lý thể dục thể thao và các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý Các phương pháp phân tổ thống kê, thống

kê mô tả, phương pháp so sánh là những phương pháp chính để phân tích Các nhóm chỉ tiêu đánh giá bao gồm các chỉ tiêu về thực trạng công tác quản lý, kết quả hiệu quả quản

lý và nhóm các chỉ tiêu về yếu tố ảnh hưởng cũng đã được hệ thống

Trang 12

Kết quả nghiên cứu cho thấy, quản lý nhà nước về thể dục thể thao thể hiện ở công tác lập kế hoạch, triển khai và tổ chức thực hiện được đảm bảo thống nhất sự chỉ đạo từ trên xuống, có sự phối hợp tham gia của các bên liên quan, trên cơ sở thực trạng nguồn lực và nhu cầu của địa phương nhằm phát triển tối đa nguồn lực hiện có Bên cạnh đó xác định được các yếu tố chính ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước về thể dục thể thao như: sự quan tâm của các cấp ủy đảng, chính quyền; đội ngũ cán bộ quản lý, HDV, CTV, giáo viên; hệ thống cơ sở vật chất và trang thiết bị TDTT, sân bãi luyện tập; sự phối hợp giữa các ngành, đoàn thể; chính sách động viên đối với lực lượng làm công tác thể dục thể thao; nhu cầu tập luyện của người dân; hệ thống thi đấu các môn thể dục thể thao

Các nhóm giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước về thể dục thể thao của huyên Gia Lâm trong thời gian tới đã được đề xuất đó là i) Tăng cường công tác lãnh đạo chỉ đạo; ii) Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; iii) Tăng cường đầu tư cơ

sở vật chất, trang thiết bị luyện tập; iv) Huy động nguồn tài chính phục vụ phát triển sự nghiệp thể dục thể thao trên địa bàn huyện Gia Lâm

Trang 13

THESIS ABSTRACT

1 Author: Pham Thi Buoi

2 Thesis title: “State management of sport in Gia Lam district, Hanoi city”

3 Major: Economic management Code: 60.34.04.10

4 University: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)

Gia Lam district is developing not only economics but also culture and society Sports development is one of the sectors that eye-caching of all levels and departments

in the district In recent years, the sport field develops gradually stable and steady; However, the activities of sport’s state management still had some limitations such as lack of mechanisms and policies to attract encourage organizations, units and individuals to participate in society and sports goods; state budget expenditure on sport

is very limited Infrastructure systems such as yards, tools and training facilities are not synchronized and lack of guidance and sports activities at communes/towns, etc

Based on this problems, the research topic named "State management of Sport in Gia Lam district, Hanoi city" was conducted with the following objectives: i) To overview literature review about State management of Sport; ii) To Evaluate the status

of sport’s state management in Gia Lam district, Hanoi city; iii) To analyze of the factors influencing on sport’s state management in Gialam district; iv) To propose some solution enhancing state management of sport in the study area

The data was collected form 83 sport state managers at district and commune level 90 people also were interviewed and group discussion The interviews and group discussion focused on sport infrastructure system; policies implementation, sport activities organization; human development for sport sector; the advantages and disadvantages in sports management and factors affecting on sport management Research indicators system includes indicators reflecting on the status of the management activities, results management, efficiency management and the indicators reveals factors influencing on sport management

The study results showed that the state management of sport was expressed in some aspects such as planning, implementing and monitoring The management activities are unified top-down mechanism On the other hand, the state management of sports had coordinated participation of stakeholders The management based on resources actual situation and needs of the local people in order to develop maximum existing resources Besides, research has identified the main factors affecting on sport’s

Trang 14

state management such as the attention of the party committees, governments; management staff, guides, collaborators, teachers; systems infrastructure and sports facilities, training grounds; the coordination of the agencies; policy supporting for sport workers; the needs exercise of people; competition system sports subjects The solutions

to enhance sport state management of Gia Lam district in the near future has been proposed: i) Strengthening the leadership skills of sport managers; ii) Improving the quality of staffs; iii) Increasing investment in infrastructure, equipment and training; iv) Mobilizing financial resources to develop of the sports sector in Gia Lam district

Trang 15

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Phát triển thể dục, thể thao là yếu tố quan trọng trong chính sách phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nhằm bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người, tăng cường thể lực, tầm vóc, tăng tuổi thọ người Việt Nam và lành mạnh hóa lối sống của thanh thiếu niên Phát triển thể dục, thể thao là trách nhiệm của các cấp

ủy Đảng, chính quyền, các đoàn thể, các tổ chức xã hội và toàn thể nhân dân trong đó ngành thể dục thể thao giữ vai trò nòng cốt trong thực hiện chính sách phát triển thể dục thể thao của Đảng và Nhà nước (Thủ tướng Chính phủ, 2010)

Trong những năm gần đây, sự nghiệp thể dục thể thao nước ta đã có nhiều tiến bộ Thể dục thể thao quần chúng tiếp tục phát triển với nhiều hình thức đa dạng, góp phần nâng cao sức khỏe, xây dựng lối sống lành mạnh, cải thiện đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân Thể thao thành tích cao có bước phát triển, thành tích một số môn đạt trình độ Châu Á và Thế giới Hệ thống cơ sở vật chất được đầu tư, nâng cấp và xây dựng mới Hợp tác quốc tế về thể thao được tăng cường, vị thế của thể thao Việt Nam được nâng cao nhất là khu vực Đông Nam Á (Bộ chính trị, 2011)

Hà Nội với mục tiêu xây dựng thành công, phát triển sự nghiệp thể dục thể thao Thủ đô nhằm nâng cao sức khỏe, thể lực, tầm vóc người Thủ đô, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa tinh thần của nhân dân, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội của Thủ đô và đất nước, đạt được vị thế ngày càng cao hơn trong các hoạt động thể dục thể thao Quốc gia và Quốc tế; mở rộng

và nâng cao chất lượng hoạt động thể dục thể thao quần chúng, hình thành nền nếp rèn luyện thân thể thường xuyên cho mọi người dân; chú trọng nâng cao chất lượng giáo dục thể chất cho thanh thiếu niên, học sinh; quan tâm phát triển phong trào TDTT trong cán bộ, CNVC các cơ quan hành chính sự nghiệp, người cao tuổi, người khuyết tật, người lao động tại các khu công nghiệp và trong lực lượng

vũ trang; đáp ứng cung cấp nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa Thủ đô và đất nước; tập trung phát triển một số môn thể thao thành tích cao tiêu biểu của Hà Nội và cả nước đạt trình độ tiên tiến trong khu vực và tạo động lực cho phát triển thể dục thể thao quần chúng; phấn đấu thể thao thành tích cao Hà Nội giữ vững vị trí đứng đầu cả nước và góp phần để thể thao Việt Nam đứng trong tốp đầu khu vực Đông Nam Á Xây dựng Hà Nội là trung tâm đào tạo vận động viên và trọng tài cho quốc gia (UBND Thành phố Hà Nội, 2012)

Trang 16

Là huyện ngoại thành Hà Nội với dân số trên 271 nghìn người, phân bố trên 20 xã, 2 thị trấn; việc quản lý các xã, thị trấn trên địa bàn huyện theo cụm: cụm Nam Đuống (7 xã), cụm Bắc Đuống (7 xã, 1 thị trấn) và cụm Sông Hồng (6

xã, 1 thị trấn) Gia Lâm đang trên đà phát triển với nhiều bước ngoặt về kinh tế -

xã hội Vì vậy việc định hướng phát triển kinh tế - xã hội theo hướng bền vững là hết sức cần thiết; tăng trưởng kinh tế gắn với giải quyết tốt các vấn đề xã hội trong đó chú trọng giải quyết các vấn đề con người là động lực góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị của huyện

Phát triển thể dục thể thao trên địa bàn huyện được các cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể của huyện đặc biệt quan tâm, trong thời gian qua đã đạt được những kết quả quan trọng; sự nghiệp thể dục thể thao của huyện từng bước phát triển ổn định, vững chắc, trong đó có thể thao thành tích cao; phong trào thể dục thể thao quần chúng phát triển ngày càng sâu rộng, có tác dụng nâng cao sức khỏe, thể chất, góp phần hình thành lối sống lành mạnh cho người dân, tạo cơ sở cho việc phát hiện tuyển chọn và đào tạo vận động viên, nâng cao thành tích các môn thể thao

Bên cạnh những kết quả đạt được, thể dục thể thao Gia Lâm vẫn còn những khó khăn, vướng mắc trong công tác quản lý nhà nước về thể dục thể thao như: việc cụ thể hóa các chính sách khuyến khích của huyện nhằm thu hút các tổ chức, đơn vị, cá nhân tham gia xã hội hóa thể dục thể thao còn hạn chế (huy động kinh phí tổ chức giải chưa nhiều, việc huy động nguồn kinh phí cho đầu tư cơ sở vật chất chưa cao), kinh phí từ ngân sách nhà nước chi hoạt động thể dục thể thao chưa đáp ứng được yêu cầu, hệ thống cơ sở vật chất như sân bãi, dụng cụ, phương tiện tập luyện chưa đồng bộ; thiếu cán bộ hướng dẫn hoạt động thể dục thể thao xã, thị trấn; cơ chế chính sách thu hút nhân tài phục vụ trong phát triển thể dục thể thao không có; chế độ chính sách đối với lực lượng huấn luyện viên, cộng tác viên chưa cao; giáo dục thể chất và hoạt động thể thao trong nhà trường làm nền cho phát triển năng khiếu thể thao và thể thao mũi nhọn chưa được đầu

tư thích đáng

Ngoài ra, trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay vấn đề này chưa được nhiều nhà quản lý thể dục thể thao quan tâm Đặc biệt trên địa bàn huyện Gia Lâm vẫn chưa được nghiên cứu Để tăng cường công tác quản lý nhà nước phục

vụ phát triển sự nghiệp thể dục thể thao thì việc đánh giá đúng thực trạng và tìm

ra các giải pháp tối ưu là rất cần thiết

Trang 17

Xuất phát từ các lý do trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Quản

lý nhà nước về thể dục thể thao của huyện Gia Lâm - thành phố Hà Nội”

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.1 Mục tiêu chung

Trên cơ sở đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước về thể dục thể thao của huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội và các yếu tố ảnh hưởng trong thời gian qua, đề xuất một số giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về phát triển thể dục thể thao trên địa bàn trong thời gian tới

Hà Nội giai đoạn 2016-2020

1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

- Quản lý là gì? Quản lý nhà nước về thể dục thể thao là gì? Quản lý nhà nước về thể dục thể thao bao gồm những nội dung gì?

- Thực trạng quản lý nhà nước về thể dục thể thao trên địa bàn huyện Gia Lâm như thế nào?

- Có những yếu tố nào thúc đẩy và cản trở trong quản lý hoạt động thể dục thể thao ở Huyện?

- Những giải pháp nào cần áp dụng để tăng cường việc quản lý nhà nước

về phát triển thể dục thể thao trên địa bàn huyện Gia Lâm?

1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác quản lý nhà nước về thể dục thể thao và các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước về thể dục thể

Trang 18

thao của huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội Đối tượng khảo sát là các bên có liên quan trong hoạt động quản lý nhà nước về thể dục thể thao

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu

1.4.2.1 Phạm vi về nội dung

Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng công tác quản lý nhà nước về thể dục thể thao của huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội; đánh giá ưu, nhược điểm, những yếu tố ảnh hưởng và đưa ra giải pháp tăng cường công tác quản lý nhà nước về thể dục thể thao trên địa bàn nghiên cứu

2013 Các dữ liệu sơ cấp được thu thập vào năm 2015, 2016

- Các giải pháp đề xuất cho giai đoạn 2016-2020

1.5 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA

ĐỀ TÀI

Đề tài đã hệ thống hóa, làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước về thể dục thể thao thông qua đó rút ra những bài học kinh nghiệm trong công tác quản lý nhà nước về thể dục thể thao

Đề tài đã phản ánh rõ thực trạng việc quản lý nhà nước về thể dục thể thao của huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội trong thời gian vừa qua (các nghiên cứu trước đây chỉ đề cập đến phát triển phong trào TDTT quần chúng Đặc biệt nghiên cứu dưới góc độ quản lý nhà nước về TDTT chưa có…) Từ đó đánh giá kết quả công tác quản lý nhà nước tác động đến hoạt động thể dục thể thao trên địa bàn Đề tài tiến hành nghiên cứu và điều tra ở hai nhóm đối tượng là người quản lý, huấn luyện và người luyện tập thể dục thể thao Xác định được các yếu

tố ảnh hưởng, đưa ra định hướng, nhiệm vụ và giải pháp giai đoạn 2016-2020

Trang 19

PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THỂ DỤC THỂ THAO 2.1.1 Các khái niệm cơ bản

nó phát triển ngày càng sâu rộng trong mọi hoạt động của đời sống xã hội

Theo quan niệm của C Mác đã viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cũng cần phải có nhạc trưởng” (C.Mác và Ph.Ăng ghen, 2002)

Tức theo C.Mác thì quản lý là nhằm phối hợp các lao động đơn lẻ để đạt được cái thống nhất của toàn bộ quá trình sản xuất Ở đây C.Mác đã tiếp cận khái niệm quản lý từ góc độ mục đích của quản lý

Theo quan niệm của các nhà khoa học nghiên cứu về quản lý hiện nay: Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới mục đích đã

đề ra và đúng với ý trí của người quản lý trong điều kiện thời gian và không gian nhất định

Theo cách hiểu này thì quản lý là việc tổ chức, chỉ đạo các hoạt động của

xã hội nhằm đạt được một mục đích của người quản lý Theo cách tiếp cận này, quản lý đã nói rõ lên cách thức quản lý và mục đích quản lý

Như vậy, theo cách hiểu chung nhất thì quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý Việc tác động theo cách nào còn tuỳ thuộc vào các góc độ khoa học khác nhau, các lĩnh vực khác nhau cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu

Trang 20

2.1.1.2 Quản lý nhà nước

Quản lý nhà nước là tác động của bộ máy Nhà nước theo chức năng nhiệm vụ và bằng quyền lực Nhà nước đối với tất cả lĩnh vực đời sống xã hội của toàn dân sinh sống và hoạt động trên toàn bộ lãnh thổ trong một quốc gia thống nhất (Lê Quý Phượng và CS., 2014)

-Như vậy, quản lý nhà nước là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội Quản lý nhà nước được xem là một hoạt động chức năng của nhà nước trong quản lý xã hội

và có thể xem là hoạt động chức năng đặc biệt

Quản lý nhà nước được hiểu theo hai nghĩa:

Theo nghĩa rộng: quản lý nhà nước là toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước gồm có lập pháp, hành pháp và tư pháp Trong đó bộ máy nhà nước gồm có: cơ quan quyền lực nhà nước là Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp (thực hiện hoạt động lập pháp), cơ quan hành chính nhà nước là Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các cấp (thực hiện hoạt động hành pháp); cơ quan tư pháp là hệ thống Tòa án nhân dân các cấp (thực hiện hoạt động tư pháp)

Theo nghĩa hẹp: quản lý nhà nước là hoạt động riêng của cơ quan hành chính nhà nước Theo nghĩa này thì quản lý nhà nước là hoạt động điều hành công việc hàng ngày của bộ máy hành chính nhà nước

Quản lý nhà nước có một số đặc trưng:

Thứ nhất: Chủ thể của quản lý nhà nước là các cơ quan nhà nước

Thứ hai: Khách thể của quản lý nhà nước là các quá trình xã hội (trật tự quản lý nhà nước, trật tự xã hội… do pháp luật quy định) và các hoạt động của con người

Thứ ba: Quản lý nhà nước là hoạt động chấp hành và điều hành Chấp hành là hoạt động thực hiện trong thực tế các quy định pháp luật của nhà nước Điều hành là hoạt động chỉ đạo trực tiếp đối với đối tượng bị quản lý Đặc trưng của hoạt động điều hành là ban hành văn bản quy phạm pháp luật dưới luật mang tính chất pháp lý - quyền lực được đảm bảo bằng khả năng áp dụng cưỡng chế, trong đó chủ yếu là văn bản cụ thể hoặc văn bản hướng dẫn thi hành pháp luật

Trong luận văn này, quản lý nhà nước được hiểu theo nghĩa hẹp, là hoạt

Trang 21

động chấp hành và điều hành của các cơ quan hành chính nhà nước trong các ngành và lĩnh vực của xã hội nhằm thực hiện những mục tiêu đã được đề ra để phát triển đất nước

2.1.1.3 Thể dục thể thao

Thể dục thể thao (TDTT) là hiện tượng xã hội có quan hệ chặt chẽ với chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng, là một trong các lĩnh vực văn hóa của nhân loại, là hoạt động có tổ chức và quản lý mang tính xã hội đối với sự phát triển thể chất tự nhiên của cơ thể (đang độ phát triển, đã phát triển hay đang bị giảm sút do tuổi tác, bệnh tật) của mọi người dân sinh sống trong gia đình, nhà trường và xã hội theo hướng phát triển thể lực chung và thể lực chuyên môn phục

vụ cho học tập, lao động sản xuất, chiến đấu và kéo dài tuổi thọ (Lê Quý Phượng

và cs., 2014)

Để có những định hướng phát triển thể dục thể thao cho phù hợp theo đối tượng luyện tập thể dục thể thao phong trào hay thể thao thành tích Thể dục thể thao được phân thành thể dục thể thao cho mọi người, thể thao thành tích cao (thể thao chuyên nghiệp) Tiêu chí đánh giá thể thao cho mọi người là tỷ lệ % người luyện tập thể dục thể thao thường xuyên, tỷ lệ % gia đình đạt gia đình thể thao, số chiến sỹ khỏe, số tiết giảng dạy, số giờ ngoại khóa về TDTT Các tiêu chí đánh giá thể thao thành tích cao là số huy chương đạt được ở các giải quốc gia và quốc tế, các kỷ lục thể dục thể thao được xác lập

+ Thể dục, thể thao cho mọi người (thể thao quần chúng): là hoạt động tập luyện và vui chơi giải trí, thi đấu thể thao của các đối tượng nhân dân nhằm thỏa mãn nhu cầu giữ gìn sức khỏe, tăng cường thể chất và tinh thần của bản thân

và tham gia các hoạt động văn hóa - xã hội của cộng đồng Đối tượng của thể dục thể thao cho mọi người là mọi tầng lớp nhân dân: nông dân, công nhân lao động, cán bộ, chiến sỹ lực lượng vũ trang, ở mọi lứa tuổi; là học sinh, sinh viên (Lê Quý Phượng và cs., 2014)

+ Thể thao thành tích cao (TTTTC) và thể thao chuyên nghiệp: ngoài việc tăng cường thể chất nói chung, là tìm kiếm, bồi dưỡng và phát triển năng lực thể chất trội của từng cá thể, tìm được năng lực tối đa của họ để phát triển thành người tài thể thao - vận động viên tài năng của quốc gia Bản chất của quá trình

đó là bồi dưỡng - đào tạo người tài thể thao qua quá trình giáo dục - huấn luyện

hệ thống - khoa học của thể thao (Lê Quý Phượng và cs., 2014)

Nhiệm vụ chính của TTTTC là tìm cách khái quát, tìm hiểu tiềm năng thể

Trang 22

chất trội của từng cá thể để khai thác, phát triển, bồi dưỡng tiềm năng đó thành năng lực với mức phát triển tối đa

Vận động viên - người đại diện của TTTTC là niềm tự hào của dân tộc, đất nước Đó là người có năng lực thể chất trội đặc biệt, có đặc tính cá nhân đặc thù như các tài năng khác, tức là giống nhau và không mang tính phổ biến

Theo từ điển Bách khoa Việt Nam (2002) “Tài năng thể thao là tổng hòa những đặc điểm rất đa dạng về hình thái, chức năng, tâm lý, khả năng vận động

và những đặc điểm khác của con người, kết hợp với sự tập luyện kiên trì, lâu dài

có hệ thống để đạt thành tích cao, lập kỷ lục trong từng môn thể thao cụ thể và được xã hội thừa nhận Tài năng thể thao không hoàn toàn bẩm sinh Bản thân những tư chất sinh lý bẩm sinh chỉ là những tiền đề sinh học, phải được tiếp tục phát triển như quá trình giáo dục, tập luyện, tiếp thu kỹ năng, kỹ xảo vận động Tài năng thể thao là mức độ phát triển cao của năng khiếu thể thao” (dẫn theo Lê Quý Phượng và cs., 2014)

2.1.1.4 Quản lý thể dục thể thao

Quản lý thể dục thể thao là một bộ phận không thể thiếu được của quản

lý xã hội chủ nghĩa nhằm thực hiện các mục tiêu xã hội của Đảng và Nhà nước Quản lý thể dục thể thao hướng vào hành động, suy nghĩ có ý thức, có tổ chức của con người nhằm phát triển không ngừng sự nghiệp thể dục thể thao xã hội chủ nghĩa đúng quy luật và phù hợp với điều kiện của đất nước Quản lý thể dục thể thao góp phần đắc lực vào quá trình đào tạo con người phát triển toàn diện về đức, trí, thể, mỹ, có cuộc sống phong phú, lao động sáng tạo Quản lý thể dục thể thao còn bảo đảm cho sự phát triển thành tích thể thao cao (Nguyễn Cẩm Ninh và cs., 2015)

Như vậy quản lý thể dục thể thao là hoạt động tổng hợp, có mục tiêu xác định, có tổ chức thực hiện, có đánh giá hiệu quả nhằm phát triển sự nghiệp thể dục thể thao hoặc thực hiện các mục tiêu của công tác thể dục thể thao và không ngừng nâng cao hiệu quả của công tác thể dục thể thao

2.1.1.5 Quản lý nhà nước về thể dục thể thao

Là tác động tổng hòa của Quản lý hành chính Nhà nước về thể dục thể thao và Quản lý tổ chức xã hội về TDTT (trong đó quản lý hành chính nhà nước

về TDTT đóng vai trò giám sát - kiểm tra - chỉ đạo hành chính đối với Quản lý tổ chức xã hội về TDTT) đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động mang

Trang 23

tính bắt buộc cũng như tự nguyện liên quan đến tập luyện - thi đấu - hưởng thụ TDTT của các tầng lớp nhân dân trong các tổ chức cơ sở do Nhà nước bảo đảm

và do các tổ chức xã hội về TDTT bảo đảm (Lê Quý Phượng và cs., 2014)

2.1.1.6 Cơ quan quản lý nhà nước về thể dục thể thao

Theo quy định tại Điều 5, Luật thể dục, thể thao số 77/2006/QH11 được Quốc hội khóa XI thông qua và có hiệu lực từ ngày 01/7/2007 thì cơ quan quản

lý nhà nước về thể dục thể thao gồm có:

1 Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về thể dục thể thao

2 Ủy ban thể dục thể thao (nay là Tổng cục Thể dục Thể thao) chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về thể dục thể thao

3 Bộ, cơ quan ngang bộ phối hợp với Ủy ban Thể dục Thể thao (nay là Tổng cục TCTDTT) thực hiện quản lý nhà nước về thể dục thể thao theo thẩm quyền

4 Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về thể dục thể thao ở địa phương theo phân cấp quản lý của Chính phủ

Như vậy cơ quan quản lý nhà nước về thể dục thể thao ở đây gồm: các cơ quan quản lý theo lãnh thổ và theo ngành Trong đó cơ quan quản lý theo lãnh thổ là: Chính phủ (Trung ương) - UBND tỉnh, thành phố - UBND quận, huyện, thị xã - UBND xã, phường (địa phương); cơ quan quản lý chuyên môn theo ngành là: Bộ Văn hóa, Thể thao & Du lịch - Sở Văn hóa & Thể thao - Phòng Văn hóa thông tin - Ban văn hóa, Thể thao

Việc quy định cơ quan quản lý nhà nước về thể dục thể thao như vậy là đã

có sự vận dụng hài hòa nguyên tắc quản lý theo ngành và theo lãnh thổ nhằm phát huy tối đa sự lãnh đạo về quản lý nhà nước của cơ quan ngang cấp và sự lãnh đạo chỉ đạo về chuyên môn nghiệp vụ của cơ quan cấp trên

2.1.2 Vai trò của quản lý nhà nước về thể dục thể thao

Vai trò chính của Nhà nước trong lĩnh vực này trước hết là những định hướng bằng những chính sách và luật pháp; đảm bảo những điều kiện cơ bản cho

sự phát triển TDTT (cán bộ, cơ sở vật chất, khoa học kỹ thuật…); thực hiện sự kiểm soát và thống nhất quản lý công tác này ở các cấp, các ngành và các tổ chức

xã hội (Lê Quý Phượng và cs., 2014)

Để thực hiện vai trò đó Nhà nước có nhiệm vụ tiến hành công tác dự báo, lập quy hoạch, kế hoạch phát triển dài hạn, trung hạn, ngắn hạn; ban hành pháp

Trang 24

luật, các chính sách và quy định của Nhà nước có liên quan đến hoạt động TDTT; hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các chính sách, luật pháp trong các hoạt động trên; trực tiếp phát triển và điều hành các cơ quan, tổ chức sự nghiệp TDTT của Nhà nước; các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; cơ sở nghiên cứu khoa học; các cơ sở tập luyện TDTT quần chúng và cơ sở đào tạo vận động viên; các công trình thể thao chủ yếu ở các cấp; phối hợp với các tổ chức xã hội, tổ chức điều hành một số hoạt động thể thao quan trọng (Lê Quý Phượng và cs., 2014)

2.1.3 Nội dung quản lý nhà nước về thể dục thể thao

Theo quy định tại Điều 6, Luật thể dục, thể thao số 77/2006/QH11 được Quốc hội khóa XI thông qua và có hiệu lực từ ngày 01/7/2007, nội dung quản lý nhà nước về thể dục thể thao là:

- Xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển thể dục thể thao, các văn bản quy phạm pháp luật về thể dục thể thao

- Tổ chức, chỉ đạo công tác đào tạo, bồi dưỡng nhân lực cho thể dục thể thao

- Kiểm tra, đánh giá phát triển thể dục thể thao quần chúng và hoạt động thi đấu thể thao

- Tổ chức, chỉ đạo hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ trong lĩnh vực thể dục thể thao

- Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực phát triển sự nghiệp thể dục thể thao

- Tổ chức, chỉ đạo công tác thi đua khen thưởng trong hoạt động thể dục thể thao

- Tổ chức, chỉ đạo thực hiện hợp tác quốc tế về thể thao

- Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về thể dục thể thao

2.1.4 Nguyên tắc quản lý nhà nước về thể dục thể thao

Nguyên tắc quản lý là quy tắc chỉ đạo, là luận điểm cơ bản, những tiêu chuẩn hành động mà người và cơ quan quản lý phải tuân theo khi thực hiện các mục tiêu quản lý trong điều kiện kinh tế xã hội nhất định (Nguyễn Cẩm Ninh và cs., 2015)

Trang 25

2.1.4.1 Đối với thể dục thể thao quần chúng

Theo GS.TS Lê Quý Phượng và cs (2014) quản lý nhà nước về TDTT quần chúng cần đảm bảo một số nguyên tắc sau:

+ Nguyên tắc đảm bảo và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng là nền tảng tư tưởng, cơ sở lý luận và thực tiễn cho phương hướng, nội dung phát triển TDTT quần chúng tại các chỉ thị, nghị quyết của Đảng về công tác TDTT trên các nội dung sau:

- TDTT quần chúng vì mục tiêu sức khỏe, phát triển thể chất, giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống lành mạnh, cho con người và xã hội, phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

- TDTT quần chúng đảm bảo tính dân tộc, nhân dân và khoa học, kết hợp đúng đắn với các chính sách kinh tế - xã hội của Đảng

- Tăng cường sự quản lý Nhà nước, phát huy mọi nguồn và tiềm lực xã hội để phát triển TDTT ở cơ sở, đẩy mạnh xã hội hóa TDTT có sự quản lý của Nhà nước

- Phát triển TDTT quần chúng và thể thao thành tích cao luôn gắn bó mật thiết với nhau và là cơ sở cho việc mở rộng giao lưu quốc tế, phục vụ nhiệm vụ đối ngoại của Đảng

+ Nguyên tắc tăng cường quản lý nhà nước về TDTT quần chúng bằng việc xác định tổ chức bộ máy và các chức năng, nhiệm vụ ở từng cấp hành chính, từng ngành:

- Quy định về hệ thống tổ chức bộ máy quản lý từ Trung ương đến địa phương: Vụ thể thao quần chúng - Tổng cục TDTT, Phòng Thể thao quần chúng

- Sở Văn hóa & Thể thao, Phòng Văn hóa Thông tin các quận huyện

- Bảo đảm quản lý nhà nước bằng luật pháp: Hiến pháp, Nghị định, Chỉ thị, Quy định, Quy chế, Điều lệ và các chế độ - chính sách đối với TDTT do Nhà nước ban hành

- Thực hiện quy hoạch, kế hoạch dài hạn, trung hạn, ngắn hạn và các chương trình mục tiêu trên cơ sở quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước, đồng thời gia tăng không ngừng tiềm lực của ngành TDTT (cán

bộ, cơ sở vật chất - kỹ thuật TDTT, khoa học TDTT…)

- Quản lý về quốc tế trong hoạt động TDTT quần chúng

Trang 26

- Đôn đốc, kiểm tra, đánh giá, hướng dẫn và điều hành các hoạt động TDTT được phân cấp về mặt hành chính nhà nước

+ Nguyên tắc đảm bảo tính thống nhất quản lý nhà nước theo nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy vai trò các tổ chức xã hội về TDTT trên cơ sở trình

độ quản lý và phát triển của phong trào:

- Bộ Văn hóa, Thể thao & Du lịch hoặc liên tịch với các ngành ở các cấp Trung ương ban hành văn bản quản lý nhà nước về TDTT trên phạm vi toàn quốc

để thực hiện các chủ trương và chế độ chính sách chung của nhà nước

- Các Sở Văn hóa & Thể thao các tỉnh, Thành phố có văn bản hướng dẫn thi hành, hoặc UBND tỉnh, thành phố có quy định thực hiện trên lãnh thổ, ngành TDTT địa phương có kế hoạch quản lý hướng dẫn cơ sở, kế hoạch nghiệp vụ cho các cơ quan cấp dưới

- Các tổ chức xã hội về TDTT: Hội đồng TDTT là cơ quan tham mưu cho

cơ quan quản lý Nhà nước cùng cấp về TDTT

- Các Liên đoàn, Hiệp hội Thể thao ở cấp nào đều chịu sự quản lý Nhà nước của cơ quan TDTT cùng cấp và cấp trên về các chương trình hoạt động

- Các cơ quan TDTT từ quận, huyện trở xuống không ban hành các văn bản có tính chất pháp quy

2.1.4.2 Đối với thể thao thành tích cao (TTTTC)

Quản lý thể thao thành tích cao là việc quản lý ba mặt chủ yếu: quản lý con người, quản lý kỹ thuật và quản lý cơ chế điều khiển với các nội dung là quản lý hệ thống huấn luyện, quản lý cán bộ, quản lý vận động viên và quản lý thi đấu thể thao (Lê Quý Phượng và cs., 2014)

+ Quản lý chiến lược TTTTC:

Khi xây dựng chiến lược TTTTC phải đảm bảo mục tiêu của chiến lược phải rõ, hướng đi phải cụ thể, khoa học để xác định được hệ thống biện pháp và điều kiện phù hợp, đảm bảo mục tiêu có thể thực hiện được trong thời gian quy định; xác định chiến lược phải có tầm nhìn xa Mục tiêu chiến lược TTTTC phải phù hợp với mục tiêu tổng thể của quốc gia, phù hợp với điều kiện phát triển KHKT, kinh tế, xã hội trong nước và xu hướng quốc tế

Khi xây dựng chiến lược TTTTC phải đảm bảo phù hợp với trình độ thể thao (đấu trường Asiad và Olympic), hệ thống mạng lưới huấn luyện (các cấp

Trang 27

VĐV cơ sở, cấp III, II, I, dự bị kiện tướng và kiện tướng ) và hệ thống các môn thi đấu (gồm các tuyến VĐV, hệ thống từ cơ sở lên trung ương theo cấp riêng và hỗn hợp; ngoài ra còn theo địa bàn và theo ngành)

+ Quản lý hệ thống huấn luyện:

Hệ thống huấn luyện TTTTC chính là phạm vi thực hiện cụ thể phần quan trọng của mục tiêu chiến lược trong đào tạo trực tiếp vận động viên (Lê Quý Phượng và cs., 2014)

+ Quản lý cán bộ huấn luyện TTTTC: như huấn luyên viên, vận động viên

và nhân viên phục vụ

2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về thể dục thể thao

2.1.5.1 Sự quan tâm của các cấp ủy đảng, chính quyền

- Sự quan tâm trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo của chính quyền các cấp được cụ thể hóa bằng việc xây dựng và ban hành các văn bản như chỉ thị, nghị quyết, kế hoạch, chương trình, đề án nhằm định hướng, hoạch định phát triển sự nghiệp TDTT của một địa phương trên cơ sở những định hướng của cơ quan cấp trên và xét đến điều kiện của tình hình thực tế

- Sự quan tâm được cụ thể hóa bằng các chính sách Đảng, Nhà nước và của địa phương trong việc phát triển sự nghiệp TDTT cả về chiều rộng và chiều sâu như: chính sách về tăng cường đầu tư hệ thống cơ sở vật chất; chính sách thu hút nguồn lực như cán bộ quản lý, huấn luyện viên, cộng tác viên có trình độ đào tạo tốt về chuyên môn nghiệp vụ tham gia vào bộ máy quản lý, phát triển sự nghiệp TDTT; chính sách thu hút các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp tham gia đầu tư hạ tầng cơ sở, trang thiết bị tập luyện và tổ chức các hoạt động TDTT; chính sách về giao lưu và hợp tác trong tổ chức hoạt động TDTT…

- Sự quan tâm được cụ thể trong việc phân cấp tổ chức quản lý nhà nước

về TDTT, có quy định rõ chức năng nhiệm vụ của từng cấp, ngành nhằm đảm bảo theo quy định chung về tổ chức bộ máy do Bộ văn hóa Thể thao & Du lịch quy định từ Trung ương đến địa phương (3 cấp: tỉnh, huyện, xã) và phù hợp với điều kiện phát triển của địa phương là mô hình kết hợp hay không kết hợp với các bên liên quan Việc sắp xếp bộ máy quản lý hợp lý, gọn nhẹ góp phần nâng cao hiệu lực hiệu quả quản lý của chính bộ máy, phát huy được năng lực của đội ngũ giúp việc trong bộ máy đó

Trang 28

2.1.5.2 Công tác quản lý nguồn nhân lực

Đây là yếu tố cơ bản có tác động quyết định đến phát triển phong trào TDTT của địa phương đó là đội ngũ chuyên gia, giáo viên, huấn luyện viên, cộng tác viên TDTT, lực lượng trọng tài và người làm công tác quản lý về thể dục thể thao

Do vậy trong công tác quản lý nhà nước cần có kế hoạch tuyển dụng, sử dụng lực lượng cán bộ làm công tác quản lý thể dục thể thao, huấn luyện thể dục thể thao, HDV, CTV các môn thể dục thể thao phù hợp với điều kiện của địa phương, phù hợp với mọi đối tượng và ở nhiều lứa tuổi (theo môn thể thao truyền thống, thể thao mũi nhọn hoặc môn thể thể thao để đào tạo năng khiếu…); bố trí cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về thể dục thể thao từ huyện tới cơ sở có chuyên môn được đào tạo phù hợp nhằm phát triển phong trào thể dục thể thao từ

lý nhà nước cần có những định hướng về đầu tư các công trình phục vụ hoạt động TDTT, đầu tư có trọng điểm (nhà thi đấu, bể bơi) và các công trình thiết yếu (mỗi xã, thị trấn cần có một sân vận động hay trung tâm văn hóa thể thao), đầu tư các khu luyện tập thể thao cộng đồng…

- Nguồn tài chính là yếu tố cơ bản hàng đầu, quyết định sự thành công hay không của bất kỳ nhiệm vụ nào Trong hoạt động TDTT tài chính (tiền) được dùng để đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ luyện tập và tổ chức các hoạt động thi đấu, giao lưu thể dục thể thao Việc huy động tài chính có thể từ nguồn

xã hội hóa hoặc ngân sách nhà nước cấp

2.1.5.4 Ý thức của người dân và cộng đồng

Việc lựa chọn và duy trì luyện tập TDTT của mỗi người dân phụ thuộc vào nhận thức của họ về ý nghĩa và tầm quan trọng của việc luyện tập TDTT Để làm tốt việc nâng cao nhận thức và hiểu được tác dụng to lớn của việc luyện tập TDTT cần đẩy mạnh công tác tuyền truyền, phổ biến về mục đích, ý nghĩa và tầm quan trọng của TDTT trong mọi mặt của đời sống xã hội

Trang 29

2.1.5.5 Sự phối hợp của các bên có liên quan

Các bên liên quan ở đây bao gồm: Hội phụ nữ, Hội nông dân, Hội cựu chiến binh, Đoàn thanh niên, UBMT tổ quốc và các thành viên, các cơ quan, ban, ngành Đây là lực lượng chính trong việc truyền tải các nội dung về công tác lãnh đạo, chỉ đạo phát triển TDTT từ cấp huyện tới cơ sở cho mọi người dân như nông dân, công nhân viên chức lao động, lực lượng vũ trang, người cao tuổi, thanh thiếu nhi thông qua các giải thi đấu và giao lưu thể dục thể thao Yếu tố này rất quan trọng, quyết định phần lớn tới việc phát triển phong trào TDTT của một địa phương

2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THỂ DỤC THỂ THAO 2.2.1 Kinh nghiệm quản lý thể dục thể thao ở một số nước trong khu vực 2.2.1.1 Kinh nghiệm quản lý thể thao chuyên nghiệp Trung Quốc

Trước những năm 1990, thể thao ở Trung Quốc cũng như ở một số nước Đông Âu chưa hướng theo sự phát triển của thị trường mà vẫn nhờ sự bao cấp ngân sách từ Chính Phủ Năm 1994, bóng đá Trung Quốc là môn đầu tiên dẫn đường cho các Liên đoàn, Hiệp hội thể thao khác của Trung Quốc đi theo hướng phát triển ngành công nghiệp thể thao để thu lợi nhuận

Ngay sau đó, một loạt các môn thể thao đã xây dựng và phát triển theo hướng thể thao chuyên nghiệp như: bóng rổ, bóng chuyền, bóng bàn và cờ vây Nhiều giải thi đấu thể thao chuyên nghiệp đã đựợc tổ chức thu được nhiều khoản lợi nhuận từ doanh thu bán vé, quảng cáo, nghề cầu thủ, phát thanh truyền hình

và các hoạt động thương mại khác Nhờ sự phát triển của thể thao chuyên nghiệp, trong những năm gần đây, giá trị tổng sản lượng của ngành công nghiệp dụng cụ thể thao cũng tăng khoảng 50 tỷ nhân dân tệ mỗi năm Một số hàng hóa thể thao thương hiệu đã xuất hiện, ví dụ như Li Ning, Deng Yaping, (Trung tâm thông tin TDTT, 2012)

Sự phát triển của thể thao chuyên nghiệp của Trung Quốc đã thúc đẩy sự xuất hiện của một thị trường quản lý thể thao và hệ thống cấu trúc kinh doanh Hiện ở Trung Quốc có nhiều CLB hoạt động với nhiều nguồn doanh thu từ bán

vé, quảng cáo, chuyển nhượng hợp đồng giữa các câu lạc bộ, truyền thông thể thao và các hoạt động thương mại khác Mặt khác, sự phát triển của thể thao chuyên nghiệp cũng kéo theo việc một số các VĐV chuyên nghiệp của Trung Quốc đã có khả năng tham gia vào các giải đấu chuyên nghiệp, điển hình như

Trang 30

VĐV Bóng rổ Yao Ming Từ năm 2002 đến nay, Yao Ming tham gia thi đấu tại Giải Bóng rổ quốc gia Hoa Kỳ (NBA) Trong khi đó, các môn thể thao nghiệp dư của Trung Quốc cũng khá phát triển Bóng bàn là một trong những môn thể thao nghiệp dư lớn nhất ở Trung Quốc, ước tính khoảng 200 triệu người tham gia chơi Cầu lông cũng được thành lập và khá phổ biến ở Trung Quốc (Trung tâm thông tin TDTT, 2012)

Như vậy có thể thấy chính quyền các nước nói chung có sự quan tâm mạnh mẽ đến ý tưởng rằng sự thành công là dựa trên tính kỷ luật, lòng trung thành, tính quả quyết và khả năng duy trì rèn luyện trong điều kiện khó khăn Thể thao, đặc biệt ở đẳng cấp thế giới và thể thao đỉnh cao, được sử dụng tại nhiều quốc gia nhằm thúc đẩy những giá trị và vẽ ra những viễn cảnh về cuộc sống xã hội Qua đó cũng cho chúng ta thấy mục đích quản lý thể dục thể thao của mỗi quốc gia đều có nét riêng nhưng chung lại là việc quản lý thể dục thể thao theo lĩnh vực: thể thao đại chúng (thể thao cho mọi người) và thể thao thành tích cao (thể thao chuyên nghiệp) và cũng có sự phân cấp trong quản lý và phối hợp quản lý Riêng ở Trung Quốc, việc quản lý thể dục thể thao không chỉ dừng lại ở hoạt động chuyên môn mà đã định hướng phát triển công nghiệp thể dục thể thao, kinh doanh dịch vụ thể thao (như trang thiết bị,chuyển nhượng cầu thủ…) góp phần đóng góp sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước Đây là một khía cạnh mà các quốc gia khác nên quan tâm bởi phát triển thể dục thể thao không chỉ là phát triển xã hội mà còn đóng góp trực tiếp vào phát triển kinh tế của mỗi quốc gia thông qua các hoạt động liên quan đến hoạt động thể dục thể thao

2.2.1.2 Lịch sử hình thành ngành TDTT Việt Nam

* Giai đoạn từ khi thành lập 1946 đến năm 1956

Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với Đảng ta lãnh đạo toàn dân tiến hành cuộc cách mạng tháng Tám thành công, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Đất nước vừa giành được độc lập dân tộc đã gặp phải biết bao khó khăn, trở lực bởi thù trong giặc ngoài, cộng thêm với nền kinh tế do chế độ cũ để lại rất nghèo nàn lạc hậu, nhân dân nhiều nơi đói rét, dịch bệnh hoành hành, sức khỏe giảm sút nghiêm trọng, thất học và mù chữ nặng nề Trong hoàn cảnh đó Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với Đảng ta đề ra nhiều chủ trương hết sức đúng đắn, kịp thời nhằm đẩy lùi những khó khăn trở lực và Người kêu gọi đồng bào cả nước chống giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm Đồng thời do nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của vai trò sức khỏe con người, sức khỏe nhân dân

Trang 31

Ngày 30 tháng 01 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ liên hiệp lâm thời nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà ký Sắc lệnh số 14, thành lập Nha Thể dục Trung ương trong Bộ Thanh niên, tiền thân của ngành TDTT ngày nay Để tăng cường và mở rộng các hoạt động TDTT và trực tiếp chỉ đạo công tác giáo dục thể chất cho thế hệ trẻ, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký tiếp Sắc lệnh số 33 ngày 27-3-1946 thành lập Nha Thanh niên và Thể dục thuộc Bộ Quốc gia Giáo dục Với mục tiêu xét vấn đề thể dục rất cần thiết để tăng bổ sức khoẻ quốc dân

và cải tạo nòi giống Việt Nam

Trong giai đoạn này, ngành TDTT được thành lập, là cơ quan tham mưu của Chính phủ cách mạng do Hồ Chủ Tịch đứng đầu Đây là cơ quan quản lý, điều hành công tác TDTT trong phạm vi cả nước Ngành TDTT mới là cơ quan đặc trách công tác TDTT vì lợi ích của nhân dân và đất nước Mặc dù vậy, ở miền Bắc chưa có cơ quan chuyên trách thể dục thể thao Các hoạt động TDTT trong thời kỳ này do Đoàn thanh niên cứu quốc hoặc Ty văn hóa ở các tỉnh, thành phố chỉ đạo

* Giai đoạn 1956-1959

Giai đoạn này bộ máy quản lý ngành TDTT đã có ở Trung ương và mạng lưới cấp tỉnh Tháng 12 năm 1956, Chính phủ quyết định thành lập Ban /Phòng TDTT thành phố và tỉnh thuộc ủy ban hành chính cùng cấp

Ngày 6 tháng 4 năm 1957, Thủ tướng chính phủ ban hành Nghị định số 68-TTg về việc thành lập Ban thể dục thể thao trung ương trực thuộc Thủ tướng chính phủ Ban thể dục thể thao trung ương có nhiệm vụ giúp Chính phủ lãnh đạo phong trào thể dục thể thao trên toàn miền Bắc (kể cả phong trào thể dục trong quân đội)

Ngày 6-3-1957, Chính phủ ban hành Nghị định số 068-TTg thành lập Ban TDTT Trung ương trực thuộc Chính phủ và thành lập các Ban TDTT ở cấp khu, cấp tỉnh, thành phố

* Giai đoạn 1960-1970: Bộ máy quản lý ngành TDTT được phân thành 4 cấp, thống nhất quản lý phát triển sự nghiệp thể dục thể thao trong phạm vi cả nước từ trung ương đến địa phương

Ngày 6-1-1960, Hội nghị Thường vụ Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định chuyển Ban TDTT Trung ương thành Uỷ ban Thể dục thể thao trực thuộc Hội đồng Chính phủ, thành lập Đảng Đoàn Ủy ban TDTT Tại Nghị định này quy định tổ chức ngành TDTT được phân theo 4 cấp (cấp Trung ương, cấp tỉnh/

Trang 32

thành phố, cấp huyện và cấp xã) Cơ quan TDTT các cấp gồm đại diện các ngành Quốc phòng, Giáo dục, Y tế, Thanh niên, Tổng Liên đoàn lao động và 1 số ngành hữu quan; đồng thời yêu cầu nghiên cứu xây dựng tổ chức quần chúng của TDTT trong cả nước

Ngày 29-9-1961, Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định 139/CP quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Ủy ban thể dục thể thao

* Giai đoạn 1971-1990: thành lập Tổng cục Thể dục Thể thao và các cơ quan quản lý nhà nước về thể dục thể thao ở các cấp

Ngày 9 tháng 01 năm 1971, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 1035-NQ/TVQH chuyển Uỷ ban TDTT trung ương thành Tổng cục TDTT

Ngày 19-1-1971, Chính phủ ban hành Nghị định 13-CP về việc sửa đổi tổ chức TDTT với hệ thống 4 cấp Tổng cục TDTT ở cấp trung ương, Ty/Sở TDTT

ở cấp tỉnh, thành phố, Phòng TDTT ở cấp huyện và Ban TDTT ở cấp xã Đồng thời ban hành các văn bản hướng dẫn tổ chức, biên chế của các tổ chức TDTT ở địa phương

Ngày 20 tháng 12 năm 1976, Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định

số 500/TTg thành lập Ủy ban Olympic Quốc gia

Ngày 11 tháng 01 năm 1978, Chính phủ ra quyết định số 07/TTg xác lập ngành TDTT là đơn vị kế hoạch của Nhà nước

* Giai đoạn 1990 -1992: thành lập Bộ Văn hoá, Thông tin,Thể thao và Du lịch, sau đó là Bộ Văn hoá - Thông tin và Thể thao

Ngày 31 tháng 3 năm 1990, Hội đồng Nhà nước ban hành Nghị định NQ/HĐNN về việc thành lập Bộ Văn hoá, Thông tin, Thể thao và Du lịch Theo

244-cơ cấu, tổ chức bộ máy, các Vụ chuyên ngành TDTT sáp nhập thành Cục Thể dục thể thao

Trang 33

Nghị quyết số 02 NQ-1997/QH10 ngày 29/9/1997 của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khoá X, kỳ họp thứ nhất, quy định danh sách các Bộ và Cơ quan ngang Bộ của Chỉnh phủ, trong đó Uỷ ban Thể dục thể thao thuộc các Cơ quan ngang Bộ và ban hành Nghị định số 03/1998/NĐ-CP ngày 6-1-1998 quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của UBTDTT Các

cơ quan TDTT các địa phương được quy định tại Thông tư Liên bộ số 28/1998 ngày 13/1/1998 giữa UBTDTT- Bộ Văn hoá Thông tin-Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ

Đặc biệt, tại kỳ họp thứ 10, Khóa XI (từ ngày 17 tháng 10 đến ngày 29 tháng 11 năm 2006) Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam đã thông qua Luật Thể dục, thể thao; ngày 29/11/2006, Quốc hội đã ban hành Luật số 77/2006/QH 11 Luật Thể dục, Thể thao (có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2007) Đây

là văn bản pháp lý cao nhất của Nhà nước ta về TDTT từ trước tới nay

* Giai đoạn: ủy ban TDTT sáp nhập vào Bộ Văn hóa, Thể thao & Du lịch (tháng 8 năm 2007) và thành lập Tổng cục TDTT trực thuộc Bộ (tháng 3 năm 2008)

Từ tháng 8/2007, thực hiện Nghị quyết của Quốc hội và Nghị định của Chính phủ, Ủy ban TDTT sáp nhập với Bộ VHTT và Tổng cục Du lịch thành Bộ Văn hóa, Thê ̉ thao và Du lịch Bộ có 22 cơ quan tham mưu quản lý Nhà nước, trong đó có Tổng cục TDTT và 96 đơn vị sự nghiệp (15 đơn vị thuộc lĩnh vực TDTT) Tổng cục TDTT là cơ quan thuộc Bộ VHTTDL có 5 Vụ và văn phòng,

12 đơn vị sự nghiệp Đến năm 2015, có sự thay đổi về tổ chức bộ máy quản lý nhà nước ở cấp tỉnh, thành phố, đó là tách sở Văn hóa Thể thao & Du lịch thành

Sở Văn hóa & Thể thao và Sở Du lịch

2.2.1.3 Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về thể dục thể thao

Từ khi thành lập (năm 1946), ngành thể dục thể thao đã trải qua nhiều giai đoạn ứng với một mô hình tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về TDTT khác nhau Giai đoạn trước năm 1956, ngành TDTT chưa có cơ quan chuyên trách về thể dục thể thao Đến giai đoạn năm 1956-1959, bộ máy quản lý gồm: cấp trung ương (Ban TDTT trung ương) và cấp tỉnh, thành phố (các phòng, ban TDTT thuộc ủy ban hành chính cùng cấp) Như vậy, bộ máy tổ chức mới chỉ dừng lại ở cấp trung ương và cấp tỉnh Đến năm 1960, Bộ máy quản lý về thể dục thể thao nước ta được tổ chức thành 4 cấp (Trung ương, tỉnh, huyện, xã) như sau:

+ Trung ương: cơ quan quản lý nhà nước là Bộ Văn hóa Thể thao & Du

Trang 34

lịch Tham mưu, quản lý và phát triển sự nghiệp TDTT trên toàn quốc là Tổng cục Thể dục thể thể thao, đây là cơ quan quản lý nhà nước về thể dục thể thao trực thuộc Bộ VHTTDL

+ Tỉnh, thành phố (cấp tỉnh): Sở Văn hóa & Thể thao, là cơ quan trực thuộc UBND cấp tỉnh, thực hiện chức năng tham mưu quản lý nhà nước về thể dục thể thao ở cấp tỉnh

+ Huyện, quận (cấp huyện): Phòng Văn hóa Thông tin, là cơ quan thuộc UBND cấp huyện, thực hiện chức năng tham mưu quản lý nhà nước về thể dục thể thao ở cấp huyện

+ Xã, thị trấn, thị xã (cấp xã): Ban văn hóa hay cán bộ văn hóa xã hội thực hiện chức năng tham mưu tổ chức thực hiện trong lĩnh vực thể dục thể thao ở cấp xã

Đặc biệt, trong công tác lãnh đạo chỉ đạo, việc tham mưu xây dựng và ban hành hệ thống văn bản quản lý nhà nước về TDTT, các chương trình, đề án, chiến lược, kế hoạch dài hạn…Tổng cục TDTT đã tham mưu trình Bộ Chính trị, Chính phủ ban hành các văn bản pháp quy quan trọng, có tính định hướng, chiến lược cho ngành TDTT nước ta phát triển như: Nghị quyết số 08-NQ/TW, ngày 01/12/2011 của Bộ Chính trị “về tăng cường lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về thể dục, thể thao đến năm 2020”; chiến lược phát triển thể dục, thể thao Việt Nam đến năm 2020; đề án tổng thể phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam giai đoạn 2011-2030; quy hoạch phát triển thể dục thể thao đến năm 2020, định hướng đến năm 2030; nghị quyết 16/2013/NQ-CP của Chính phủ

về chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết 08-NQ/TW tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về thể dục, thể thao đến năm 2020”

Trang 35

a Về thể thao quần chúng

Trong những năm qua, phong trào tập luyện thể dục, thể thao của quần chúng nhân dân đã có bước phát triển mới cả về bề rộng và chiều sâu Tính đến năm 2009, cả nước gần 25% dân số thường xuyên tập luyện thể dục, thể thao (chưa tính học sinh, sinh viên); có 15,8% tổng số hộ gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình thể thao; có khoảng 40.000 câu lạc bộ thể dục, thể thao quần chúng hoạt động thường xuyên, trong đó, có khoảng 5000 câu lạc bộ võ thuật, 3000 câu lạc

bộ sức khỏe ngoài trời, 3000 câu lạc bộ Billiard Thể dục, thể thao quần chúng trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi có những bước tiến đáng kể; số người luyện tập thể dục, thể thao thường xuyên tính trung bình trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đạt khoảng 6 - 8% dân số; khoảng 2 - 3% tổng

số hộ gia đình đạt chuẩn gia đình luyện tập thể dục thể thao (Thủ tướng Chính phủ, 2010)

b Thể thao Người khuyết tật

Hiệp hội thể thao người khuyết tật Việt Nam được thành lập từ năm 1995 ngày càng phát triển rộng trong cộng đồng người khuyết tật và trở thành một hoạt động có ý nghĩa, giúp người khuyết tật vượt lên hoàn cảnh khó khăn, hòa nhập với cộng đồng; hiện nay, 46/65 đơn vị tỉnh, thành phố tổ chức hoạt động thường xuyên phong trào thể dục, thể thao cho người khuyết tật Việt Nam đã tham dự

ba kỳ Paralympic (tại Sydney - 2000, Athens - 2004 và Bắc Kinh - 2008), các cuộc thi cấp châu lục, khu vực và đã đạt được thành tích, thứ hạng cao (đứng thứ 14/45 ở châu Á, thứ 3/11 ở Đông Nam Á) (Thủ tướng Chính phủ, 2010)

c Về công tác giáo dục thể chất và thể thao trong nhà trường

Đến năm học 2014-2015 cả nước có trên 90% số trường học triển khai áp dụng chương trình giáo dục thể chất chính khóa và một số trường đã có hoạt động ngoại khóa thường xuyên Hội khỏe Phù Đổng toàn quốc và Đại hội Thể dục thể thao sinh viên toàn quốc được tổ chức theo chu kỳ 4 năm/lần cùng với hàng chục giải thể thao của học sinh, sinh viên đã thu hút hàng chục triệu lượt học sinh, sinh viên tham gia, góp phần tạo nguồn tài năng thể thao trẻ cho thể thao đỉnh cao quốc gia (Thủ tướng Chính phủ, 2010)

d Thể dục, thể thao trong lực lượng vũ trang

Luôn được quan tâm và phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây

Trang 36

Huấn luyện thể lực trong quân đội là một trong 4 nội dung huấn luyện quân sự bắt buộc đối với từng quân nhân; tỷ lệ trung bình về số quân nhân tham gia tập luyện thường xuyên so với quân số biên chế tại các đơn vị đạt 68,6% Lực lượng công an chú trọng phát triển các môn thể thao võ thuật, bắn súng, bơi, chạy vũ trang nhằm phục vụ trực tiếp cho tác nghiệp chuyên môn, nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu cho cán bộ chiến sĩ Các Trung tâm huấn luyện thể thao quân đội

là những trung tâm thể thao lớn của nước ta đã đào tạo được nhiều vận động viên thể thao trình độ cao tham gia thi đấu quốc gia, quốc tế và giành được nhiều huy chương ở nhiều môn thể thao chủ đạo (Thủ tướng Chính phủ, 2010)

e Về thể thao thành tích cao và thể thao chuyên nghiệp

Những năm tháng trước khi đất nước thống nhất (1975), ở khu vực Đông Nam Á, thể thao châu Á và đấu trường Olympic người Việt Nam ta đều tham gia một cách tích cực: Việt Nam trước đây là một trong sáu thành viên sáng lập nên Liên đoàn thể thao bán đảo Đông Nam Á và đã liên tục tham gia các Đại hội thể thao bán đảo Đông Nam Á (ASEAN Games, tiền thân của SEA Games) từ lần thứ 1 (1959) đến lần thứ 7 (1973) và đã giành tổng cộng 36 HCV, 44 HCB, 58 HCĐ ở các môn thể thao: bóng bàn, quần vợt, bơi, xe đạp, Judo, bóng chuyền nam, bắn súng, đặc biệt VN giành HCV môn bóng đá (nam) sau khi thắng trước chủ nhà Thái Lan trong trận chung kết (Thủ tướng Chính phủ, 2010)

Từ năm 2003 tới nay, thành tích thi đấu thể thao của nước ta liên tục được xếp hạng trong tốp 3 các kỳ SEA Games, trong tốp 20 của Đại hội Thể thao châu Á; tham gia thi đấu ở 40 môn thể thao thành tích cao, giành được huy chương vàng tại các Đại hội Thể thao châu Á ở 4 môn: Taekwondo, Karatedo, Billiard & Snooker, thể dục thể hình, cầu mây, huy chương bạc tại Olympic năm 2000 (môn Taekwondo) và tại Olympic năm 2008 (môn cử tạ) Ngành thể thao Việt Nam đã hoàn thành tốt nhiệm vụ đăng cai tổ chức các giải thể thao đỉnh cao, các kỳ Đại hội thể thao khu vực (SEA Games 22 năm 2003), châu lục (Asian Indoor Games III năm 2009), được các tổ chức, liên đoàn thể thao quốc tế đánh giá cao về năng lực tổ chức cũng như trình độ chuyên môn (Thủ tướng Chính phủ, 2010)

g Về điều kiện và nguồn lực phát triển ngành thể dục thể thao

Cơ chế, thể chế quản lý nhà nước về thể dục, thể thao tiếp tục được củng

cố và hoàn thiện; đã hình thành hệ thống các tổ chức xã hội về thể dục, thể thao; nhà nước đã chú trọng đầu tư xây dựng các công trình phục vụ nhu cầu luyện tập,

Trang 37

giải trí thể thao của nhân dân, đến năm 2005, các công trình thể dục, thể thao đã

có sự tăng đáng kể cả về lượng và chất, nhất là thời kỳ chuẩn bị tổ chức Seagames 22 năm 2003; hiện nay có 572 công trình đủ tiêu chuẩn thi đấu cấp quốc gia và quốc tế Ngoài ra, có khoảng 27149 công trình thể thao công cộng phục vụ nhu cầu tập luyện thể dục, thể thao của nhân dân do Nhà nước và các tổ chức kinh tế - xã hội đầu tư xây dựng; khoảng 60 - 70% xã, phường, thị trấn đã dành đất cho thể dục, thể thao, trong đó khoảng 30% xã, phường có sân bóng, hồ bơi, nhà tập (Thủ tướng Chính phủ, 2010)

Tiềm lực khoa học công nghệ và y học thể thao tăng lên rõ rệt trong những năm gần đây Tính đến tháng 7 năm 2009 toàn ngành thể dục, thể thao có

99 tiến sĩ, trong đó có 4 giáo sư và 19 phó giáo sư; có 649 thạc sĩ được đào tạo trong và ngoài nước; cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ nghiên cứu của Viện Khoa học Thể dục thể thao và một số Trường đại học thể dục, thể thao đã được bổ sung thêm nhiều trang thiết bị nghiên cứu hiện đại Bệnh viện Thể thao Việt Nam (bệnh viện loại II) đã được xây dựng và chính thức hoạt động từ năm 2007 với hơn 100 y, bác sỹ; 22% số tỉnh, thành phố có bác sỹ thể thao; các trường đại học thể dục, thể thao đều có trung tâm y học thể thao hoặc trung tâm nghiên cứu khoa học và y học thể thao

Xã hội hóa hoạt động thể thao thành tích cao đã thu hút thêm nguồn lực xã hội cho phát triển thể thao thành tích cao và phù hợp với xu thế phát triển thể thao thành tích cao hiện đại trên thế giới Đời sống của nhân dân được cải thiện, nhu cầu văn hóa tinh thần của nhân dân tăng lên đã thu hút ngày càng đông đảo khán giả đến với các cuộc thi đấu thể thao thành tích cao, thể thao chuyên nghiệp như: Bóng đá, Bóng chuyền, Bóng bàn, Cầu lông, Tennis, Taekwondo, Golf…, đây là điều kiện thuận lợi để thể thao chuyên nghiệp phát triển kinh doanh dịch

vụ thể thao liên quan và kêu gọi đóng góp cho các hoạt động từ thiện (Thủ tướng Chính phủ, 2010)

Trang 38

Hình 2.1 Lễ khai mạc Sea Games 22 (năm 2003) tổ chức tại Việt Nam

Nguồn: Tổng cục Thể dục Thể thao (2003) Bên cạnh những kết đã đạt được thì thể thao Việt Nam vẫn còn một số tồn tại và hạn chế: như phong trào thể dục, thể thao quần chúng phát triển mạnh nhưng chưa đều, chất lượng chưa cao Các vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo còn thiếu các phương tiện tập luyện và thiếu cán bộ hướng dẫn viên thể dục, thể thao Công tác giáo dục thể chất trong nhà trường và các hoạt động thể thao ngoại khóa của học sinh, sinh viên còn hạn chế, nghèo nàn

Hiện nước ta vẫn còn thiếu chính sách thu hút nhân tài thể thao; thiếu hụt nguồn vận động viên, huấn luyện viên, trọng tài… quy chế tuyển dụng vận động viên nước ngoài đối với các đội tuyển thể thao chưa phù hợp với thực tiễn phát triển thể thao chuyên nghiệp

Hiện chúng ta vẫn còn thiếu về chiến lược phát triển nguồn nhân lực cho thể dục, thể thao, thiếu chính sách và các quy định về đào tạo nguồn nhân lực cho thể dục, thể thao, nhất là đối với thể thao thành tích cao; xã hội hóa hoạt động TDTT còn chưa được nhân rộng

Hoạt động của một số Liên đoàn, Hiệp hội thể dục, thể thao còn bị động; Hợp tác quốc tế về thể dục thể thao chưa tương xứng với tiềm năng của ngành…

Trang 39

2.2.2 Kinh nghiệm quản lý nhà nước ở một số địa phương

2.2.2.1 Kinh nghiệm quản lý thể thao thành tích cao ở thành phố Đà Nẵng

Song song với sự phát triển của phong trào thể thao quần chúng, trong những năm qua, thể thao thành tích cao thành phố Đà Nẵng đã có những bước trưởng thành từ công tác quản lý cán bộ ngành TDTT, đến hệ thống thi đấu TTTTC và huy động nguồn lực cho đầu tư phát triển TTTTC

Chiến lược phát triển thể thao thành tích cao thành phố Đà Nẵng đến năm

2020 nhằm xây dựng và phát triển nền thể thao thành tích cao ổn định, vững chắc; đội ngũ HLV, VĐV có phẩm chất đạo đức, có trình độ chuyên môn cao Trên quan điểm đó, một trong những giải pháp quan trọng để thực hiện được chiến lược mà Đà Nẵng đặt ra là thu hút những huấn luyện viên giỏi trong và ngoài nước cho các môn thể thao mũi nhọn và một số môn thể thao mới phát triển tại thành phố Đà Nẵng Công tác này được thực hiện thường xuyên, liên tục Trong 5 năm, từ năm 2005 đến năm 2010, UBND thành phố đã ban hành nhiều văn bản quy định về chế độ chính sách và mức độ đầu tư thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao (đội ngũ huấn luyện viên, vận động viên) đã có thành tích tại các giải tổ chức trong nước và quốc tế Bên cạnh đó cũng có những chế độ đặc thù với VĐV, HLV đạt thành tích xuất sắc trong thi đấu thể thao ở các giải trong nước và quốc tế (Bộ Văn hóa, Thể thao & Du lịch, 2015)

Chính vì vậy, đội ngũ HLV từng bước được chuẩn hóa (trên 80% đạt trình

độ đại học), và đạt được nhiều thành tích trong việc đào tạo vận động viên Hiện nay, 90% lực lượng huấn luyện viên của Ngành có khả năng đào tạo vận động viên đạt trình độ VĐV cấp I và cấp kiện tướng quốc gia

Có được kết quả như vậy là nhờ sự quan tâm lãnh đạo của các cấp ủy Đảng từ Trung ương đến địa phương, đặc biệt là sự quan tâm lãnh đạo chỉ đạo của lãnh đạo Đảng bộ, chính quyền thành phố Đà Nẵng trong việc đầu tư phát triển TTTTC của Đà Nẵng, nhất là vấn đề về nguồn lực phục vụ phát triển TTTTC, cụ thể như sau:

- Về phát triển nguồn nhân lực chuyên môn (HLV, VĐV): thực hiện chính sách thu hút nhân tài của thành phố, Ngành đã thu hút được các VĐV, HLV giỏi

về phục vụ cho thể thao thành tích cao Đà Nẵng với số lượng: 3 chuyên gia, 10 HLV, 18 VĐV (chiếm tỉ lệ 3,6% trong tổng số VĐV thể thao thành tích cao của thành phố) Cùng với những VĐV xuất sắc của thành phố, đây là lực lượng VĐV

Trang 40

chủ lực tham gia Đại hội Thể dục thể thao toàn quốc lần thứ VI và lần thứ VII.; ứng dụng khoa học công nghệ trong huấn luyện, chăm sóc sức khỏe cho VĐV, HLV; sử dụng thực phẩm chức năng, các loại thuốc nhằm nâng cao dinh dưỡng

và hồi phục cho vận động viên; bước đầu đã triển khai xây dựng Trung tâm hồi phục thể lực cho vận động viên; thường xuyên phối hợp với Viện nghiên cứu khoa học thể dục thể thao, các trường Đại học thể dục thể thao để thu thập các tài liệu phục vụ công tác huấn luyện, tiến hành kiểm tra sức khỏe định kỳ cho tất cả các VĐV, đặc biệt là ứng dụng các chỉ số khoa học trong việc tuyển chọn ban đầu đối với các VĐV năng khiếu…

- Ban hành hệ thống văn bản nhằm cụ thể hóa chủ trương đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước trong việc ban hành các chính sách thu hút các đơn vị, tổ chức tham gia xã hội hóa trong lĩnh vực TDTT đặc biệt là TTTTC

2.2.2.2 Kinh nghiệm quản lý, phát triển phong trào TDTT quần chúng (TDTTQC) ở một số huyện ngoại thành Hà Nội

Với trách nhiệm là cán bộ trực tiếp chỉ đạo, tổ chức các hoạt động phát triển sự nghiệp thể dục thể thao của huyện Gia Lâm, thường xuyên giữ mối liên

hệ, giao lưu và trao đổi kinh nghiệm với 30 quận huyện của thành phố Hà Nội, nay lại trực tiếp nghiên cứu, hoàn thiện đề tài khoa học này Tác giả đã chủ động cập nhật thông tin (qua theo dõi báo cáo tổng kết hàng năm của các quận huyện, của Sở VHTT) có những cuộc phỏng vấn, trực tiếp trao đổi kinh nghiệm với các đồng chí cán bộ, lãnh đạo Phòng VHTT, Trung tâm Thể dục Thể thao của 2 huyện ngoại thành Hà Nội có cơ cấu tổ chức, điều kiện xã hội, điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, tình hình phát triển kinh tế, mức thu nhập bình quân trên đầu người ở mặt bằng tương đối đồng đều so với huyện Gia Lâm, đặc biệt là các kết quả về công tác phát triển thể dục thể thao (theo đánh giá của Sở Văn hóa & Thể thao Hà Nội và UBND thành phố Hà Nội) chỉ đứng thứ 2 và thứ 3 ngay sau Gia lâm đó là huyện Đông Anh, huyện Thanh Trì

Kết quả cho thấy ở huyện Đông Anh - Thanh Trì

Ngày đăng: 17/11/2018, 15:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban chấp hành Trung ương (2011). Nghị quyết của Bộ chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về thể dục, thể thao đến năm 2020, số 08-NQ/TW. Hà Nội, 01 tháng 12 năm 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết của Bộ chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về thể dục, thể thao đến năm 2020, số 08-NQ/TW
Tác giả: Ban chấp hành Trung ương
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2011
6. Bộ Văn hóa, Thể thao & Du lịch (2012). Quyết định về việc ban hành hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành Văn hóa Thể thao và Du lịch, số 5139/QĐ-BVHTTDL. Hà Nội, 28 tháng 12 năm 2012.7. bvhttdl.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định về việc ban hành hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành Văn hóa Thể thao và Du lịch, số 5139/QĐ-BVHTTDL
Tác giả: Bộ Văn hóa, Thể thao & Du lịch
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2012
10. Chính phủ (2007). Nghị định quy định chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, số 185/2007/NĐ-CP. Hà Nội, 25 tháng 12 năm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định quy định chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, số 185/2007/NĐ-CP
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2007
11. Chính phủ (2010). Quyết định phê duyệt chiến lược phát triển thể dục thể thao Việt Nam đến năm 2020, số 2198/QĐ-TTg. Hà Nội, 03 tháng 12 năm 2010 . 12. Chính phủ (2014). Quyết định quy định chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định phê duyệt chiến lược phát triển thể dục thể thao Việt Nam đến năm 2020, số 2198/QĐ-TTg
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2010
15. Hồ Hải, Nguyễn Thanh Bình, Nguyễn Hoàng Minh Thuận và Lê Quý Phượng (2014). Giáo trình quản lý nhà nước về thể dục thể thao, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh. Tr. 19-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản lý nhà nước về thể dục thể thao
Tác giả: Hồ Hải, Nguyễn Thanh Bình, Nguyễn Hoàng Minh Thuận, Lê Quý Phượng
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2014
20. Phạm Đình Bẩm và Trần Tuấn Hiếu (2008). Quản lý thể dục thể thao, Nhà xuất bản thể dục thể thao, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý thể dục thể thao
Tác giả: Phạm Đình Bẩm, Trần Tuấn Hiếu
Nhà XB: Nhà xuất bản thể dục thể thao
Năm: 2008
22. Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2003). Luật Thi đua- Khen thưởng, số 15/2003/QH11. Hà Nội, 26 tháng 11 năm 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Thi đua- Khen thưởng
Tác giả: Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2003
30. UBND huyện Gia Lâm (2015). Quyết định về việc kiện toàn Hội đồng Thể dục, thể thao huyện Gia Lâm, số 8035/QĐ-UBND. Gia Lâm, 13 tháng 11 năm 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định về việc kiện toàn Hội đồng Thể dục, thể thao huyện Gia Lâm, số 8035/QĐ-UBND
Tác giả: UBND huyện Gia Lâm
Nhà XB: Gia Lâm
Năm: 2015
31. UBND huyện Gia Lâm (2016). Quyết định về việc ban hành quy chế đánh giá, khen tưởng cán bộ, công chức, viên chức, số 42/2016/QĐ-UBND. Gia Lâm, 06 tháng 4 năm 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định về việc ban hành quy chế đánh giá, khen tưởng cán bộ, công chức, viên chức, số 42/2016/QĐ-UBND
Tác giả: UBND huyện Gia Lâm
Nhà XB: Gia Lâm
Năm: 2016
33. UBND thành phố Hà Nội (2012). Kế hoạch phát triển thể dục thể thao Thủ đô đến năm 2030, số 132/KH-UBND. Hà Nội, 19 tháng 10 năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch phát triển thể dục thể thao Thủ đô đến năm 2030, số 132/KH-UBND
Tác giả: UBND thành phố Hà Nội
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2012
2. Bộ Văn hóa Thể thao & Du lịch (2009). Thông tư hướng dẫn tổ chức và đánh giá phong trào thể dục thể thao quần chúng tại địa phương, số 02/2009/TT- BVHTTDL. Hà Nội, 17 tháng 3 năm 2009 Khác
3. Bộ Văn hóa Thể thao & Du lịch (2010). Thông tư của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định tiêu chí của Trung tâm văn hóa - thể thao quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, số 11/2010/TT-BVHTTDL. Hà Nội, 22 tháng 12 năm 2010 Khác
4. Bộ Văn hóa Thể thao & Du lịch (2010). Thông tư quy định mẫu tổ chức và hoạt động của Trung tâm Văn hóa - Thể thao xã, số 12/2010/TT-BVHTTDL. Hà Nội, 22 tháng 12 năm 2010 Khác
5. Bộ Văn hóa Thể thao & Du lịch và Bộ Nội vụ (2008). Thông tư liên tịch số hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, Phòng Văn hoá và Thông tin thuộc Uỷ ban nhân dân cấp huyện, số 43/2008/TTLT-BVHTTDL-BNV. Hà Nội, 06 tháng 6 năm 2008 Khác
8. C.Mác và Ph.Ăng ghen (2002). Toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 23, 480 Khác
13. Đặng Đình Minh, Nguyễn Cẩm Ninh, Phạm Đình Bẩm và Phạm Việt Hùng (2015). Giáo trình quản lý thể dục thể thao. Nhà xuất bản thể dục thể thao, Hà Nội.14. gialam.gov.vn Khác
16. Hội đồng bộ trưởng (1991). Quyết định về việc lấy ngày 27 tháng 3 làm ngày Thể thao Việt Nam, số 25-CT. Hà Nội, 29 tháng 01 năm 1991 Khác
17. Hội đồng Thể dục Thể thao huyện Gia Lâm (2015). Phân công nhiệm vụ thành viên Hôi đồng thể dục thể thao huyện Gia Lâm, số 91/HĐ-TDTT. Gia Lâm, 10 tháng 12 năm 2015 Khác
18. Huyện ủy Gia Lâm (2012). Chỉ thị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ đối với thể dục thể thao huyện Gia Lâm đến năm 2020, số 22- CT/HU. Gia Lâm, 14 tháng 9 năm 2012 Khác
19. Phạm Đình Bẩm (2005). Một số vấn đề cơ bản về quản lý thể dục thể thao, Nhà xuất bản thể dục thể thao, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w