Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là quá trình thực hiện các nội dung quản lý nhà nước về website thương mại điện tử tại Bộ Công thương; là các doanh nghiệp đang thực hiện thương m
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
PHẠM NGỌC DƯƠNG
MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ WEBSITE THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
Ở BỘ CÔNG THƯƠNG
Mã số: 60 34 04 10
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo
vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Phạm Ngọc Dương
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết
ơn sâu sắc GS.TS Đỗ Kim Chung đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian
và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Kinh tế nông nghiệp và chính sách, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ công chức, viên chức Bộ Công Thương đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Phạm Ngọc Dương
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hình viii
Danh mục sơ đồ, biểu đồ ix
Trích yếu luận văn xi
Thesis abstract xiii
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
1.4 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.5 Đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3
1.5.1 Về mặt lý luận 3
1.5.2 Về mặt thực tiễn 4
Phần 2 Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn quản lý nhà nước về website thương mại điện tử 5
2.1 Cơ sở lý luận về website thương mại điện tử 5
2.1.1 Khái niệm quản lý nhà nước về website thương mại điện tử 5
2.1.2 Vai trò của các tác nhân trong phát triển website thương mại điện tử 11
2.1.3 Đặc điểm quản lý nhà nước về website thương mại điện tử 14
2.1.4 Nội dung quản lý nhà nước về website thương mại điện tử 15
2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về website thương mại điện tử 23
Trang 52.2 Cơ sở thực tiễn quản lý nhà nước về website thương mại điện tử 25
2.2.1 Kinh nghiệm về quản lý nhà nước về website thương mại điện tử trên thế giới 25
2.2.2 Các nghiên cứu liên quan 29
2.2.3 Bài học kinh nghiệm về quản lý nhà nước về thương mại điện tử đối với Việt Nam 30
Phần 3 Phương pháp nghiên cứu 33
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 33
3.2 Phương pháp nghiên cứu của đề tài 38
3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 38
3.2.2 Phương pháp tổng hợp xử lý thông tin và phân tích số liệu 38
3.2.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 39
Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 40
4.1 Thực trạng quản lý website thương mại điện tử 40
4.1.1 Chính sách pháp luật về website thương mại điện tử 40
4.1.2 Cơ quan quản lý website thương mại điện tử 44
4.1.3 Triển khai hoạt động đăng ký và thông báo website thương mại điện tử 49
4.1.4 Hoạt động kiểm tra, thanh tra trong thương mại điện tử 64
4.1.5 Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về website thương mại điện tử 68
4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về website thương mại điện tử 71
4.2.1 Các nguồn lực của cơ quan quản lý nhà nước về website thương mại điện tử 71
4.2.2 Yếu tố pháp luật 76
4.2.3 Yếu tố tâm lý 79
4.3 Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về website thương mại điện tử 83
4.3.1 Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về website thương mại điện tử và bán hàng đa cấp 83
4.3.2 Đào tạo nâng cao chất lượng cán bộ quản lý nhà nước và doanh nghiệp 86
4.3.3 Triển khai các hoạt động về tuyên truyền, hỗ trợ đăng ký website thương mại điện tử, bán hàng đa cấp và tăng cường thanh tra, kiểm tra 88
Trang 6Phần 5 Kết luận và kiến nghị 90
5.1 Kết luận 90
5.2 Kiến nghị 91
Tài liệu tham khảo 92
Phụ lục 94
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Các văn bản liên quan đến pháp lý website thương mại điện tử 18
Bảng 4.1 Bảng cập nhật khung pháp lý cơ bản thương mại điện tử Việt Nam năm 2015 40
Bảng 4.2 Thông tin doanh nghiệp bán hàng đa cấp 9 tháng năm 2016 48
Bảng 4.3 Thông tin phản ánh của người dân trên trang: Online.gov.vn 69
Bảng 4.4 Thông tin xử lý vi phạm về bán hàng đa cấp 69
Bảng 4.5 Thông tin xử phạt vi phạm về website thương mại điện tử 70
Bảng 4.6 Nhân lực công nghệ thông tin trong các cơ quan nhà nước 72
Bảng 4.7 Tái phạm trong hoạt động kinh doanh đa cấp 79
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1 Cổng thông tin quản lý hoạt động thương mại điện tử 47 Hình 4.2 Mô hình đa cấp trên website thương mại điện tử 48 Hình 4.3 Quy trình thông báo, đăng ký website thương mại điện tử 55
Trang 10DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 3.1 Bộ máy quản lý nhà nước về website thương mại điện tử 33
Sơ đồ 4.1 Quy trình quản lý thông báo website TMĐT theo thông tư 47/2014/TT-BCT 56
Sơ đồ 4.2 Quy trình quản lý đăng ký website TMĐT theo thông tư 47/2014/TT-BCT 58
Biểu đồ 4.1 Doanh thu thương mại điện tử thế giới từ 2012 và dự kiến 2020 45
Biểu đồ 4.2 Doanh thu thương mại điện tử Việt Nam từ 2012 và dự kiến 2020 46
Biểu đồ 4.3 Số lượng tên miền “.vn” lũy kế qua các năm và tỷ lệ tăng trưởng 46
Biểu đồ 4.4 Số lớp tuyên truyền phổ biến pháp luật cho doanh nghiệp và quản lý nhà nước 51
Biểu đồ 4.5 Mức độ đồng ý với việc tuyên truyền pháp luật cho cán bộ quản lý nhà nước 52
Biểu đồ 4.6 Số doanh nghiệp tham gia lớp tuyên truyền pháp luật về website thương mại điện tử 52
Biểu đồ 4.7 Mức độ đồng ý của doanh nghiệp với các chính sách thương mại điện tử hiện hành 53
Biểu đồ 4.8 Hồ sơ thông báo, đăng ký website thương mại điện tử 60
Biểu đồ 4.9 Mức độ nhận thức của doanh nghiệp và xã hội đối với website thương mại điện tử 62
Biểu đồ 4.10 Doanh nghiệp đánh giá đăng ký website thương mại điện tử 63
Biểu đồ 4.11 Hình thức doanh nghiệp đăng ký website thương mại điện tử 63
Biểu đồ 4.12 Số lần thanh tra, kiểm tra website của cơ quan quản lý 65
Biểu đồ 4.13 Doanh nghiệp phản hồi về việc thanh tra, kiểm tra website của cơ quan quản lý nhà nước 67
Biểu đồ 4.14 Chế tài xử phạt của cơ quan quản lý nhà nước 71
Biểu đồ 4.15 Quy mô và loại hình doanh nghiệp điều tra 74
Biểu đồ 4.16 Đánh giá của doanh nghiệp về các trở ngại đối với các hoạt động trên website thương mại điện tử 75
Biểu đồ 4.17 Mức độ đầy đủ của các tiêu chuẩn do cơ quan quản lý nhà nước ban hành 77
Trang 11Biểu đồ 4.18 Cơ cấu mức độ phù hợp của hệ thống pháp luật đối với doanh
nghiệp trong quản lý website và bán hàng đa cấp 78 Biểu đồ 4.19 Mức độ hỗ trợ của cơ quan quản lý nhà nước còn hạn chế 81 Biểu đồ 4.20 Mức độ bảo vệ người tiêu dùng trong các giao dịch thương mại
điện tử chưa cao 82 Biểu đồ 4.21 Trở ngại khi mua sắm trên website thương mại điện tử 83
Trang 12TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Phạm Ngọc Dương
Tên luận văn: Một số biện pháp quản lý nhà nước về website thương mại điện tử ở Bộ Công Thương
Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm rõ cơ sở khoa học, lý luận tăng cường quản lý nhà nước về website thương mại điện tử ở Bộ Công thương Từ đó đề xuất một
số giải pháp nhằm tăng cường quản lý đảm bảo an toàn trong giao dịch trên website thương mại điện tử và lợi ích của người tiêu dùng Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là quá trình thực hiện các nội dung quản lý nhà nước về website thương mại điện tử tại Bộ Công thương; là các doanh nghiệp đang thực hiện thương mại điện tử
Luận văn sử dụng phương pháp thu thập số liệu: tài liệu thứ cấp được sử dụng ở đây là các sách, báo cáo…chứa đựng các thông tin về đối tượng được nghiên cứu của các tác giả khác nhau Tài liệu sơ cấp được tổng hợp qua phiếu điều tra khảo sát năm
2016 Sử dụng bảng hỏi có cấu trúc (phụ lục 2) để phỏng vấn công ty đang sử dụng website thương mại điện tử để kinh doanh Phỏng vấn trực tiếp 100 cán bộ thuộc doanh nghiệp, phỏng vấn 10 người tiêu dùng về mua hàng trên website TMĐT, vấn đề đa cấp đang diễn ra Phỏng vấn sâu cán bộ quản lý nhà nước đang phụ trách quản lý hoạt động thương mại điện tử để làm rõ các vấn đề mà đơn vị quản lý nhà nước về TMĐT đang thực hiện Sau khi thu thập được các thông tin cần thiết qua các phiếu điều tra và các báo cáo, số liệu sẽ được xử lý chủ yếu bằng phần mềm Excel để tính toán, so sánh các chỉ tiêu, tìm ra những vấn đề còn bất cập trong quản lý nhà nước Đó cũng là cơ sở để chúng ta phân tích, tìm ra những thuận lợi, khó khăn trong công tác quản lý về TMĐT
từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện và tăng cường quản lý về hoạt động TMĐT
Luận văn đã góp phần hệ thống hoá được những vấn đề lý luận cơ bản về QLNN đối với website TMĐT như khái niệm, mục tiêu, nguyên tắc, nội dung QLNN về website TMĐT; đây là những vấn đề lý luận mà chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập tới Luận văn đã tổng kết được một số kinh nghiệm trong QLNN về website TMĐT của một số quốc gia đã và đang phát triển TMĐT Qua kinh nghiệm của các nước trên thế giới luận văn đã rút ra được một số bài học kinh nghiệm có ích trong công tác QLNN về website TMĐT ở Việt Nam Trên cơ sở sử dụng các phương pháp nghiên cứu một cách khoa học, luận văn đã phân tích thực trạng QLNN về website TMĐT ở Bộ Công Thương trong giai đoạn vừa qua Luận văn đã xây dựng được bộ tiêu chí đánh giá các nội dung QLNN về website TMĐT, thông qua các tiêu chí này, luận văn tiến hành
Trang 13đánh giá việc thực hiện các nội dung QLNN về website TMĐT để từ đó nêu rõ những thành tựu đã đạt được, các tồn tại cần khắc phục trong QLNN về website TMĐT Luận văn đã đề xuất được một số giải pháp chủ yếu bao gồm: (i) Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về website thương mại điện tử và bán hàng đa cấp (ii) Đào tạo nâng cao chất lượng cán bộ quản lý nhà nước và doanh nghiệp (iii) Triển khai các hoạt động về tuyên truyền, hỗ trợ đăng ký website thương mại điện tử, bán hàng đa cấp và tăng cường thanh tra, kiểm tra Luận văn đã kiến nghị để thực hiện các giải pháp này với cơ quan QLNN, các kiến nghị gồm: (1) Triển khai chương trình phát triển TMĐT quốc gia giai đoạn 2016-2020 Hoàn thiện các chính sách TMĐT như: chính sách thương nhân; chính sách bảo vệ người tiêu dùng; chính sách thuế Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bán hàng đa cấp (2) Đào tạo nâng cao chất lượng cán
bộ quản lý nhà nước và nhận thức về lợi ích khi mua hàng trên website thương mại điện
tử của người dân và doanh nghiệp Công nhận chuyên ngành TMĐT là một chuyên ngành chính thức trong hệ thống giáo dục quốc gia (3) Đầu tư kinh phí cho hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật (4) Triển khai các hoạt động về tuyên truyền, hỗ trợ đăng ký website thương mại điện tử, bán hàng đa cấp và tăng cường thanh tra, kiểm tra
Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến việc quản lý nhà nước về website TMĐT còn chưa cao là do người dân và doanh nghiệp chưa quan tâm nhiều đến các quy định liên quan, dẫn đến ý thức kém trong việc chấp hành pháp luật Một số doanh nghiệp còn sử dụng website TMĐT để kinh doanh trái phép, lừa đảo làm mất lòng tin của người tiêu dùng Mặc dù, các cơ quan quản lý nhà nước đã triển khai nhiều biện pháp để đưa các văn bản quy phạm pháp luật đến với người dân và doanh nghiệp như tổ chức hội thảo, hội nghị để hướng dẫn trực tiếp, tuyên truyền phổ biến qua nhiều hình thức nhưng hiệu quả các hoạt động này còn nhiều hạn chế Các văn bản pháp luật sau một thời gian ban hành đã xuất hiện một số điểm chưa hợp lý cần phải điều chỉnh, thay đổi đề phù hợp với hiện tại Các cơ quan nhà nước vẫn chưa thực sự đi đầu trong việc cung cấp thông tin công khai, minh bạch quá trình thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp
vi phạm Việc quản lý và thu thuế trong TMĐT đang đặt ra yêu cầu cho cơ quan quản lý cần sớm có chính sách phù hợp tránh tình trạng thất thu thuế như hiện nay
Trang 14THESIS ABSTRACT
Name of author: Phạm Ngọc Dương
Thesis title: Some state management measures for e-commerce websites at the Ministry of Industry and Trade
Educational institution: Vietnam National University of Agriculture
The fundamental objectives of this study are to review scientific and empirical literature of strengthening state management of e-commerce websites at the Ministry of Industry and Trade, and then propose some solutions to improve management practice
in order to ensure safety of transactions on e-commerce websites as well as to ensure customer benefits The main subject of the dissertation is the process of implementing different state management contents regarding e-commerce websites at the Ministry of Industry and Trade; and the entrepreneurs that are currently implementing e-commerce
Data was collected through different sources in this study, more specifically, secondary data sources includes books and reports, etc containing information of the studied subjects of different scholars, whereas primary data was collected through questionnaires in 2016 Structured questionnaires (as can be seen in Appendix 2) were used to interview the companies using e-commerce websites for business The other primary data collection methods applied include direct interviews with 100 entrepreneur staff, direct interviews with 10 customers about buying products on e-commerce websites, and about the current multi-level marketing issue; in-depth interview with state management officials in charge of managing e-commerce activities to clarify existing problems that the e-commerce management agencies were dealing with The collected data was then processed and analyzed by Excel software to calculate and compare research indicators to find out problems remaining in state management Based
on those data analysis, it would be possible for the research to identify not only advantages but also disadvantages in e-commerce management, then to propose solutions for improving and strengthening e-commerce state management
The main contribution of this dissertation is to systemize the basic theories about state management of e-commerce websites such as definitions, objectives, principles and contents of state management of e-commerce websites; which have not been mentioned in any other research Moreover, this study also systemized some experiences in state management of e-commerce websites in some countries that developed or are developing e-commerce Based on experiences throughout the world,
Trang 15some useful lessons have been drawn for the state management e-commerce websites in Vietnam By employing scientific methodologies, the current state management of e-commerce websites at the Ministry of Industry and Trade over the past few years was carefully examined The study developed indicators for assessing state management contents of e-commerce websites, and by employing these indicators; the study evaluated the implementation of the state management of e-commerce websites, and then clearly identify achievements as well as limitations of state management of e-commerce websites Based on the above analysis, the main recommendations to be proposed to state management agencies include the followings: (1) To implement the national e-commerce development program for the period 2016-2020 To improve e-commerce policies such as policies for merchants, consumer protection policies, and tax policies, etc To improve legal regulations regarding multi-level marketing; (2) To provide training to improve capabilities of state officials and increase awareness of people and entrepreneurs about the benefits of making purchases via e-commerce websites Officially approve e-commerce to be an official major in the national education system (3) To provide funds to investing in creating activities to propagate and disseminate the current laws and legal regulations(4) To implement different activities to propagate, provide supports in registering of e-commerce websites and multi-level marketing, as well as enhancing investigation and examination practices
One of the most important reasons for the underperformance of state management of e-commerce websites was that people and entrepreneurs had not paid much attention to relevant regulations, leading to low awareness in acting in compliance with the law Some firms even used e-commerce websites for illegal businesses and for cheating customers, etc which then made consumers lose faith Even though state management agencies already applied many measures to disseminate the legal documents to people and entrepreneurs such as holding seminars and conferences to directly instruct and propagandize in many ways, but the effectiveness of these activities were still limited In addition, after being issued, the legal documents now needed to be revised and modified to be more in line with the current situation State management agencies have not really take the leading position in providing clear and public information during the investigation and examination of entrepreneurs violating legal regulations The management and tax collection of e-commerce are setting out requirements for management agencies to develop appropriate policies as soon as possible to avoid the current tax loss
Trang 16PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Ngày nay, giao dịch điện tử trong hoạt động thương mại đã trở thành một phần tất yếu của cuộc sống trên toàn thế giới Công nghệ thông tin, Internet ra đời và phát triển, đồng thời thương mại điện tử cũng xuất hiện, phát triển với tốc
độ rất nhanh dù ở các hình thức, các mức độ khác nhau tuỳ theo từng quốc gia, từng khu vực Muốn gọi một dịch vụ nào đó, người ta có thể nhấc điện thoại lên gọi và thế là một giao dịch được hình thành hay muốn mua một món đồ gì đó, có thể là dịch vụ hay sản phẩm cụ thể, hay thậm chí là sản phẩm số hóa người ta cũng chỉ cần một cú “nhấp chuột” trên trang Web là đã có thể sở hữu sản phẩm hay thụ hưởng dịch vụ mình mong muốn một cách rất nhanh chóng và thuận tiện
Trong quá trình phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam, Nhà nước với vai trò là chủ thể quản lý đã tạo ra những ra những tiền đề cơ bản cho việc ứng dụng và triển khai TMĐT trong các doanh nghiệp Bằng các công cụ quản lý của mình, Nhà nước đã đóng vai trò định hướng, tạo lập môi trường cho sự phát triển của TMĐT Tuy nhiên từ quá trình triển khai TMĐT trong thời gian vừa qua cho thấy tuy môi trường cho sự phát triển TMĐT ở Việt Nam đã hình thành nhưng vẫn chưa đáp ứng được cho sự phát triển có hiệu quả của TMĐT Hoạt động quản lý nhà nước (QLNN) về TMĐT hiện nay còn tồn tại một số bất cập chủ yếu sau: thiếu các định hướng chiến lược trong phát triển TMĐT; pháp luật về TMĐT chưa điều chỉnh hết nhiều lĩnh vực mới nảy sinh trong TMĐT; sự phối hợp quản lý nhà nước về TMĐT giữa các cơ quan QLNN về TMĐT chưa hiệu quả; niềm tin của người tiêu dùng đối với TMĐT còn thấp; nguồn nhân lực cho TMĐT còn thiếu về số lượng và yếu về chất lượng; hoạt động kiểm tra, giám sát TMĐT chưa được trú trọng
Theo thông tin Cục Thương mại điện tử và Công nghệ thông tin (TMĐT&CNTT) cho biết hiện có khoảng 45% dân số Việt Nam sử dụng internet (tương ứng với 41 triệu người) 62% số người dùng internet hiện có thực hiện các hoạt động mua sắm trực tuyến (tương ứng với khoảng 28% dân số cả nước) năm
2015, trung bình mỗi người chi khoảng 160 USD để mua hàng trực tuyến, đem
về gần 4,1 tỉ USD Con số này dự kiến sẽ lên tới 10 tỉ USD vào năm 2020 (tương ứng mỗi người chi cho thương mại điện tử 350 USD/người/năm) Những năm
Trang 17gần đây, thương mại điện tử ở Việt Nam đang phát triển nhanh Mỗi ngày có hàng ngàn các giao dịch mua bán thành công trên môi trường internet Việc mua bán dễ dàng trên môi trường internet, kẻ gian đã lợi dụng để lừa đảo, chiếm đoạt tài sản của người mua hàng Hàng hóa được rao bán trên các website đa dạng chủng loại như: điện thoại, máy tính, quần áo… Hầu hết các đối tượng lừa đảo lập website bán hàng nhắm đến là hàng được rao bán với giá cực rẻ, mới sản xuất hoặc hàng nhái theo các thương hiệu danh tiếng
Hiện nay, nhiều đối tượng lừa đảo còn lập ra những trang website “ma”, giả danh các công ty lớn có uy tín, sau đó tung ra những lời quảng cáo “sốc” như khuyến mãi khủng 200% khi đến mua hàng, thanh toán trước sẽ được tặng quà hoặc phiếu giảm giá Những lời quảng cáo “đường mật” này đã đánh trúng tâm lý của người mua hàng ham đồ hiệu giá rẻ Nhiều người cả tin đã chuyển tiền cho đối tượng lừa đảo thông qua những trang web “ma” để rồi ngậm đắng với chương trình “khuyến mãi” trên trời mà bọn chúng đưa ra Khi khách hàng mất công tìm đến trụ sở được cung cấp trên website thì đây lại là địa chỉ “ma”
Trước những nguy cơ, rủi ro về sự mất an toàn và gian lận trong thương mại điện tử, cần thiết phải hoàn chỉnh khung pháp lý đủ mạnh, các biện pháp thực thi có hiệu quả, các công tác thanh, kiểm tra, giám sát chặt chẽ để nhằm xử
lý, răn đe, phòng ngừa những đối tượng sử dụng website để thực hiện hoạt động phạm pháp Vì thế, đòi hỏi sự nghiên cứu, thống nhất về mặt lý luận, làm rõ các vấn đề liên quan đến công tác quản lý nhà nước trong việc đảm bảo an toàn và minh bạch trong các hoạt động giao dịch trên website thương mại điện tử ở Việt Nam Chính vì vậy tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Một số biện pháp quản lý nhà nước về website thương mại điện tử ở Bộ Công Thương”
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Trang 18- Đánh giá công tác quản lý nhà nước về website thương mại điện tử ở Bộ Công Thương
- Đề xuất một số giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về website thương mại điện tử để tạo môi trường, điều kiện phát triển cho thương mại điện tử ở Việt Nam, đảm bảo quyền lợi người tiêu dùng khi mua hàng trên website
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là các nội dung quản lý nhà nước về website thương mại điện tử tại Bộ Công thương; là các doanh nghiệp đang thực hiện thương mại điện tử
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
+ Về nội dung: Thực trạng công tác quản lý nhà nước về website thương mại điện tử, các giải pháp tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước về hoạt động quản lý website thương mại điện tử tại Bộ Công Thương
+ Về không gian: Đề tài tiến hành nghiên cứu trong phạm vi Bộ Công Thương
+ Về thời gian: Số liệu được thu thập từ năm 2005 đến năm 2015
1.4 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
- Website thương mại điện tử là gì?
- Quản lý nhà nước về website thương mại điện tử ở Bộ Công Thương như thế nào?
- Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về website thương mại điện tử ở
Bộ Công Thương ra sao?
1.5 ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
1.5.1 Về mặt lý luận
- Để thực hiện chức năng QLNN về TMĐT trong điều kiện hội nhập kinh
tế quốc tế hiện nay, luận văn đã góp phần hệ thống hoá được những vấn đề lý luận cơ bản về QLNN đối với website TMĐT như khái niệm, mục tiêu, nguyên tắc, nội dung QLNN về website TMĐT
- Luận văn đã tổng kết được một số kinh nghiệm trong QLNN về website TMĐT của một số quốc gia đã và đang phát triển TMĐT
Trang 191.5.2 Về mặt thực tiễn
Trên cơ sở sử dụng các phương pháp nghiên cứu một cách khoa học, luận văn phân tích thực trạng QLNN về website TMĐT ở Bộ Công Thương trong giai đoạn vừa qua Luận văn đã xây dựng được bộ tiêu chí đánh giá các nội dung QLNN về website TMĐT, thông qua các tiêu chí này, luận văn tiến hành đánh giá việc thực hiện các nội dung QLNN về website TMĐT để từ đó nêu rõ những thành tựu đã đạt được, các tồn tại yếu kém cần khắc phục trong QLNN về website TMĐT Để hoàn thiện QLNN về website TMĐT, luận văn đề xuất một
số giải pháp chủ yếu sau:
- Triển khai chương trình phát triển TMĐT quốc gia giai đoạn 2016-2020 Hoàn thiện các chính sách TMĐT như: chính sách thương nhân; chính sách bảo
vệ người tiêu dùng; chính sách thuế Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bán hàng đa cấp
- Đào tạo nâng cao chất lượng cán bộ quản lý nhà nước và nhận thức về lợi ích khi mua hàng trên website thương mại điện tử của người dân và doanh nghiệp Công nhận chuyên ngành TMĐT là một chuyên ngành chính thức trong
hệ thống giáo dục quốc gia
- Đầu tư kinh phí cho hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật
- Triển khai các hoạt động về tuyên truyền, hỗ trợ đăng ký website thương mại điện tử, bán hàng đa cấp và tăng cường thanh tra, kiểm tra
Trang 20PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ WEBSITE THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ WEBSITE THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
2.1.1 Khái niệm quản lý nhà nước về website thương mại điện tử
2.1.1.1 Khái niệm
Thương mại điện tử được biết đến với nhiều tên gọi khác nhau, như
“thương mại điện tử”, “thương mại trực tuyến”,“thương mại không giấy tờ” hoặc
“kinh doanh điện tử” Tuy nhiên, “thương mại điện tử” vẫn là tên gọi phổ biến nhất và được dùng thống nhất trong các văn bản hay công trình nghiên cứu của các tổ chức hay các nhà nghiên cứu Thương mại điện tử bắt đầu bằng việc mua bán hàng hóa và dịch vụ thông qua các phương tiện điện tử và mạng viễn thông, các doanh nghiệp tiến tới ứng dụng công nghệ thông tin vào mọi hoạt động của mình, từ bán hàng, marketing, thanh toán đến mua sắm, sản xuất, đào tạo, phối hợp hoạt động với nhà cung cấp, đối tác, khách hàng khi đó thương mại điện tử phát triển thành kinh doanh điện tử, tức là doanh nghiệp ứng dụng thương mại điện tử ở mức cao được gọi là doanh nghiệp điện tử
Thương mại điện tử là hình thức mua bán hàng hóa và dịch vụ thông qua mạng máy tính toàn cầu Thương mại điện tử theo nghĩa rộng được định nghĩa là:
“Thuật ngữ Thương mại cần được diễn giải theo nghĩa rộng để bao quát các vấn
đề phát sinh từ mọi quan hệ mang tính chất thương mại dù có hay không có hợp đồng Các quan hệ mang tính thương mại bao gồm các giao dịch sau đây: bất cứ giao dịch nào về thương mại nào về cung cấp hoặc trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ; thỏa thuận phân phối; đại diện hoặc đại lý thương mại, ủy thác hoa hồng; cho thuê dài hạn; xây dựng các công trình; tư vấn; kỹ thuật công trình; đầu tư; cấp vốn; ngân hàng; bảo hiểm; thỏa thuận khai thác hoặc tô nhượng; liên doanh các hình thức khác về hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh; chuyên chở hàng hóa hay hành khách bằng đường biển, đường không, đường sắt hoặc đường bộ” (Nguyễn Đăng Hậu, 2013)
Thương mại điện tử, hiểu theo nghĩa thông thường nhất là giao dịch thương mại thông qua môi trường điện tử Xét về mặt kỹ thuật đó là nhờ thành quả của cuộc cách mạng khoa học công nghệ, sự phát triển nhanh của công nghệ thông tin và truyền thông, đặc biệt là mạng Internet, sự ra đời của các sản phẩm
Trang 21kỹ thuật số cầm tay hay các thiết bị di động Xét về mặt phát triển kinh tế thì công nghệ thông tin vừa là sản phẩm, vừa là công cụ tất yếu cho sự phát triển kinh tế thế giới trong quá trình toàn cầu hóa dần hướng tới một nền kinh tế tri thức trong đó thông tin là yếu tố chủ đạo
Thương mại điện tử theo nghĩa hẹp bao gồm các hoạt động thương mại được thực hiện thông qua mạng internet Thương mại điện tử được nói đến ở đây
là hình thức mua bán hàng hóa được bày tại các trang web trên internet với phương thức thanh toán bằng thẻ tín dụng Có thể nói rằng thương mại điện tử đang trở thành một cuộc cách mạng làm thay đổi cách thức mua sắm của con người Thương mại điện tử là các giao dịch thương mại về hàng hoá và dịch vụ được thực hiện thông qua các phương tiện điện tử (Diễn đàn đối thoại xuyên Đại Tây Dương, 1997)
Theo Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) (1998): “Thương mại điện tử bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên mạng internet, nhưng được giao nhận một cách hữu hình
cả các sản phẩm được giao nhận cũng như những thông tin số hóa thông qua mạng Internet”
Thương mại điện tử là việc hoàn thành bất kỳ một giao dịch nào thông qua một mạng máy tính làm trung gian mà bao gồm việc chuyển giao quyền sở hữu hay quyền sử dụng hàng hoá và dịch vụ (USA, 2000)
Khái niệm về thương mại điện tử do Tổ chức hợp tác phát triển kinh tế của Liên Hợp quốc (OECD) (2000) đưa ra là: “Thương mại điện tử được định nghĩa sơ bộ là các giao dịch thương mại dựa trên truyền dữ liệu qua các mạng truyền thông như internet”
Qua nghiên cứu các khái niệm về thương mại điện tử như trên, hiểu theo nghĩa rộng thì hoạt động thương mại được thực hiện thông qua các phương tiện thông tin liên lạc đã tồn tại hàng chục, thậm chí hàng trăm năm nay như: điện thoại, fax, telex Theo nghĩa hẹp thì thương mại điện tử chỉ mới tồn tại được khoảng thời gian chưa lâu nhưng nhờ tiến bộ công nghệ đã đạt được những kết quả rất đáng quan tâm Trên thực tế, chính các hoạt động thương mại thông qua mạng Internet đã làm phát sinh thuật ngữ “Thương mại điện tử” Ngoài ra, từ các giác độ khác nhau, người ta có những khái niệm khác nhau về thương mại điện tử
Trang 22Từ góc độ viễn thông, là sự cung cấp thông tin sản phẩm, hàng hóa, dịch
vụ hay thanh toán các sản phẩm, dịch vụ, hàng hóa thông qua mạng máy tính hay các phương tiện điện tử khác
Từ góc độ quản trị kinh doanh, là sự ứng dụng công nghệ hướng tới việc
tự động hóa trong những giao dịch thương mại và quản lý
Từ góc độ dịch vụ, là một công cụ mà qua đó có thể gửi đơn hàng của các hãng, của khách hàng để giảm chi phí và nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hóa
và dịch vụ, giảm thời gian vận chuyển hàng hóa, dịch vụ tới tay người tiêu dùng
Từ góc độ trực tuyến, thương mại điện tử là khả năng mua bán trao đổi các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ trên Internet
Website hiểu theo nghĩa thông thường là một tập hợp các trang web (web pages) bao gồm văn bản, hình ảnh, video, flash v.v… thường chỉ nằm trong một tên miền (domain name) hoặc tên miền phụ (subdomain) Trang web được lưu trữ (web hosting) trên máy chủ web (web server) có thể truy cập thông qua Internet Website đóng vai trò là một văn phòng hay một cửa hàng trên mạng Internet, nơi giới thiệu thông tin về doanh nghiệp, sản phẩm hoặc dịch vụ do doanh nghiệp cung cấp… Có thể coi website chính là bộ mặt của doanh nghiệp,
là nơi để đón tiếp và giao dịch với các khách hàng, đối tác trên internet (Anh Nguyên, 2008)
Khái niệm về website thương mại điện tử căn cứ theo Điều 3 của Nghị định 52/2013/NĐ-CP của Chính phủ “ là trang thông tin điện tử được thiết lập để phục vụ một phần hoặc toàn bộ quy trình của hoạt động mua bán hàng hóa hay cung ứng dịch vụ, từ trưng bày giới thiệu hàng hóa, dịch vụ đến giao kết hợp đồng, cung ứng dịch vụ, thanh toán và dịch vụ sau bán hàng”
Khái niệm quản lý nhà nước được hiểu là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước do các cơ quan nhà nước tiến hành đối với tất cả các mặt của đời sống
xã hội bằng cách sử dụng quyền lực nhà nước có tính cưỡng chế đơn phương nhằm mục tiêu phục vụ lợi ích chung của cộng đồng, duy trì ổn định, an ninh trật
tự và thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng thống nhất của nhà nước
Tuy nhiên, ở đây khái niệm quản lý nhà nước được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, và đồng nghĩa với quản lý hành chính nhà nước Đó là sự thực thi quyền hành pháp của nhà nước; là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực pháp luật của Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con
Trang 23người để duy trì và phát triển mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật, nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của nhà nước, do các cơ quan trong hệ thống hành chính từ trung ương đến cơ sở tiến hành
Do đó, Quản lý nhà nước về website thương mại điện tử được hiểu là quá trình nhà nước sử dụng các chính sách quản lý về website tác động lên hoạt động thương mại trong môi trường điện tử nhằm mục đích kiểm soát thông tin trên website thương mại điện tử Để các website hoạt động theo đúng quy định của pháp luật cơ quan quản lý xây dựng hành lang pháp lý; thực hiện cấp phép; kiểm tra, giám sát và giải quyết các tranh chấp, khiếu nại trên website thương mại điện tử
2.1.1.2 Các mô hình thương mại điện tử
Có nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại các mô hình TMĐT tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu, luân văn chỉ đề cập đến mô hình thương mại điện tử phi lợi nhuận giữa cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp (G2B) Theo Cục TMĐT&CNTT (2005) tiêu thức phân loại này có bốn chủ thể chính tham gia phần lớn vào các giao dịch TMĐT, đó là: Chính phủ (G), doanh nghiệp (B), khách hàng cá nhân (C), người lao động (E) Việc kết hợp các chủ thể này lại với nhau sẽ cho chúng ta những mô hình TMĐT khác nhau
a) Các mô hình thương mại điện tử lợi nhuận
- Thương mại điện tử giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp (Business to Business - B2B)
B2B là loại hình giao dịch qua các phương tiện điện tử giữa DN với DN Các giao dịch B2B chủ yếu được thực hiện trên các hệ thống ứng dụng TMĐT, các sàn giao dịch TMĐT B2B Các DN có thể chào hàng, tìm kiếm DN cung ứng, đặt hàng, ký kế hợp đồng, thanh toán qua các hệ thống này Thương mại điện tử B2B đem lạo lợi ích rất thiết thực cho các DN, đặc biệt giúp các DN giảm chi phí về thông thu thập thông tin, tìm hiểu thị trường, quảng cáo, tiếp thị, đàm phán, tăng cường các cơ hội kinh doanh
- Thương mại điện tử giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng (Business to Consumer - B2C)
Đây là loại hình giao dịch giữa DN và người tiêu dùng qua các phương tiện điện tử DN sử dụng các phương tiện điện tử để bán hàng hóa, dịch vụ tới người tiêu dùng Người tiêu dùng thông qua các phương tiện điện tử để lựa chọn,
Trang 24đặt hàng, thanh toán, nhân hàng Để tham gia hình thức kinh doanh này, thông thường DN sẽ thiết lập Website, hình thành cơ sở dữ liệu và hàng hóa, dịch vụ, tiến hành các quy trình tiếp thị, quảng cáo, phân phối trực tiếp tới người tiêu dùng Thương mại điện tử B2C đem lại lợi ích cho cả DN lẫn người tiêu dùng:
DN tiết kiệm được chi phí bán hàng, chi phí quản lý cũng giảm đáng kể Người tiêu dùng sẽ cảm thấy thuận tiện vì không phải tới tận nơi bán hàng mà chỉ cần ở bất kỳ nơi đâu và vào bất kỳ thời gian nào cũng có thể lựa chọn sản phẩm, so sánh nhiều mặt hàng cùng một lúc cũng như tiến hành việc mua hàng
- Thương mại điện tử giữa người tiêu dùng với người tiêu dùng (Consumer to Consumer - C2C)
Đây là các giao dịch giữa các cá nhân người tiêu dùng với nhau Sự phát triển của các phương tiện điện tử làm cho nhiều cá nhân có thể tham gia hoạt động thương mại với tư cách là người bán, người cung cấp dịch vụ Một cá nhân
có thể tự thiết lập website để kinh doanh những mặt hàng do mình làm ra hoặc sử dụng một website có sẵn để đấu giá một mặt hàng mình có
b) Các mô hình thương mại điện tử phi lợi nhuận
- Thương mại điện tử giữa cơ quan nhà nước với doanh nghiệp (Government to Business - G2B)
Là hình thức tương tác trực tuyến không mang tính thương mại giữa Chính phủ (địa phương và trung ương) và các doanh nghiệp thương mại Đây là một trong ba yếu tố chính trong Chính phủ điện tử Một số hình thức giao dịch điển hình đó là: cung cấp các thông tin về luật, qui chế, chính sách và các dịch vụ hành chính công trực tuyến cho doanh nghiệp chủ yếu thông qua Internet
- Thương mại điện tử giữa cơ quan nhà nước với người lao động (Government to Employee - G2E)
Đây là loại hình giao dịch giữa cơ quan nhà nước với các cá nhân người lao động trong xã hội Đây chủ yếu là các giao dịch mang tính hành chính nhưng
có thể mang những yếu tố của TMĐT Ví dụ, khi người dân đóng tiền thuế qua mạng, trả phí đăng ký hồ sơ trực tuyến, v.v
- Thương mại điện tử giữa cơ quan nhà nước với cá nhân (Government to Consumer - G2C)
Là loại hình giao dịch giữa cơ quan nhà nước với cá nhân Đây chủ yếu là các giao dịch mang tính hành chính, nhưng có thể mang những yếu tố của
Trang 25TMĐT Ví dụ khi người dân đóng tiền thuế qua mạng, trả phí khi đăng ký hồ sơ trực tuyến, v.v
Với sự phát triển mạnh mẽ của phong trào khởi nghiệp và công nghệ thông tin, doanh nghiệp ngày càng tập trung vào việc cung cấp các sản phẩm, dịch vụ kỹ thuật số qua mạng Tuỳ loại website mà sẽ có những thủ tục hành chính riêng biệt Cần tìm hiểu định nghĩa theo pháp luật của từng loại website này là gì để thực hiện các thủ tục pháp lý chính xác và hợp pháp cho hoạt động của mình
Website thương mại điện tử B2B, B2C, C2C: Loại website phổ biến nhất đối với người tiêu dung và doanh nghiệp Website TMĐT là trang thông tin điện
tử được dùng để thực hiện một phần hoặc toàn bộ quy trình của hoạt động mua bán hàng hóa hay cung ứng dịch vụ Việc này bao gồm các công đoạn như trưng bày giới thiệu hàng hóa đến giao kết hợp đồng, cung ứng dịch vụ, thanh toán và dịch vụ sau bán hàng Loại website cung cấp dịch vụ TMĐT là sàn giao dịch TMĐT, website khuyến mại trực tuyến và website đấu giá trực tuyến
Sàn giao dịch là website mà doanh nghiệp, cá nhân khác có thể đăng sản phẩm, thực hiện mua bán sản phẩm, dịch vụ của họ trên đó (dù họ không phải là chủ sở hữu website) Website khuyến mại trực tuyến là do tổ chức, cá nhân lập ra
để thực hiện khuyến mại cho các sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp khác Website đấu giá trực tuyến là như Ebay, nơi doanh nghiệp, cá nhân có thể thực hiện việc đấu giá mua bán hàng hoá trên đó (dù không phải là chủ sở hữu của website) Các loại website cung cấp dịch vụ TMĐT này phải làm thủ tục đăng ký với Bộ công thương theo Nghị định 52/2013/NĐ-CP, Thông tư 47/2014/TT-BCT
Trang thông tin điện tử: Việc quản lý, cung cấp, sử dụng thông tin trên mạng dưới hình thức báo điện tử phải tuân theo các quy định của pháp Luật về báo chí Ví dụ của báo điện tử là VnExpress, Tuoitreonline Trang thông tin tổng hợp là website cung cấp thông tin tổng hợp trên cơ sở trích dẫn nguyên văn, chính xác nguồn tin chính thức và ghi rõ tên tác giả hoặc tên cơ quan của nguồn tin chính thức, thời gian đã đăng, phát thông tin đó Các trang thông tin tổng hợp phải xin giấy phép của Sở Thông Tin và Truyền Thông Nguồn tin chính thức là những thông tin được đăng, phát trên báo chí Việt Nam hoặc trên các trang thông tin điện tử của cơ quan Đảng, Nhà nước theo quy định pháp Luật về báo chí, sở hữu trí tuệ Trang thông tin điện tử nội bộ, cá nhân và ứng dụng chuyên ngành không cung cấp thông tin tổng hợp Các loại website phải làm thủ tục đăng ký
Trang 26theo quy định tại Nghị định 72/2013/NĐ-CP, Thông tư 09/2014/TT-BTTTT
Mạng xã hội (social network): Các tính năng của mạng xã hội bao gồm: tạo trang thông tin điện tử cá nhân, diễn đàn (forum), trò chuyện (chat) trực tuyến, chia sẻ âm thanh, hình ảnh và các hình thức dịch vụ tương tự khác Tổ chức, doanh nghiệp phải đáp ứng một số điều kiện nhất định để được cấp giấy phép thiết lập mạng xã hội quy định tại Nghị định 72/2013/NĐ-CP, Thông tư 09/2014/TT-BTTTT
2.1.2 VAI TRÒ CỦA CÁC TÁC NHÂN TRONG PHÁT TRIỂN WEBSITE THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
2.1.2.1 Quản lý nhà nước trong phát triển website thương mại điện tử
Nhà nước trong vai trò điều tiết vĩ mô nền kinh tế, nên là một yếu tố quan trọng quyết định đối với việc phát triển thương mại điện tử Bằng các công cụ quản lý, Nhà nước xây dựng hành lang pháp lý cho giao dịch thương mại điện tử Tại các nước phát triển, khi cơ sở hạ tầng của thương mại điện tử phát triển, các nhà lập pháp quan tâm tới việc tạo dựng các hành lang pháp lý điều chỉnh các quan hệ giao dịch trên mạng, tạo ra môi trường an toàn, công bằng, hạn chế các rủi ro hay tranh chấp thương mại Bằng cách đó khuyến khích các doanh nghiệp chủ động tham gia thương mại điện tử, tìm kiếm kênh bán hàng mới
Để phát triển TMĐT cần phải có con người có trình độ tương ứng Con người cấu thành cơ sở nhân lực của TMĐT trước hết là đội ngũ các chuyên gia tin học, thường xuyên cập nhật các kiến thức của công nghệ thông tin và có khả năng đưa vào ứng dụng trong môi trường và điều kiện kinh doanh cụ thể Đội ngũ các chuyên gia công nghệ thông tin và kỹ thuật máy tính sẽ tạo ra nền tảng vật chất kỹ thuật cho TMĐT Đồng thời, các chuyên gia công nghệ thông tin và
kỹ thuật máy tính, các nhà kinh doanh, những người quản lý, các chuyên viên, người tiêu dùng cũng phải có khả năng tham gia TMĐT với trình độ nhất định về công nghệ thông tin, về ngoại ngữ và kỹ năng giao tiếp trên mạng Chính vì vậy,
để hạn chế rủi ro khi tham gia vào TMĐT cần đào tạo trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho những người thực hiện TMĐT và tuyên truyền, phổ biến kiến thức cho người tiêu dùng nắm được các đặc điểm kỹ thuật của TMĐT
Việc điều tiết nền kinh tế vĩ mô của nhà nước còn thể hiện trong việc xây dựng các dự án cụ thể để phát huy sức mạnh thúc đẩy phát triển thương mại công nghệ cao Đó là các chính sách ưu đãi, hỗ trợ phát triển hạ tầng bằng các công cụ
Trang 27về thuế, ưu đãi dự án của nhà nước trong từng thời kỳ để phát triển thương mại điện tử Thông qua các chính sách đó, nhà nước tạo ra những đòn bẩy tăng hiệu quả cho nền kinh tế, cho doanh nghiệp và khiến người tiêu dùng tham gia tích cực hơn vào môi trường thương mại điện tử
2.1.2.2 Vai trò của người tiêu dùng
Theo cách hiểu đơn giản nhất thì người tiêu dùng chính là người mua và
sử dụng hàng hóa, dịch vụ do các doanh nghiệp cung cấp Người tiêu dùng mua với số lượng lớn, doanh nghiệp bán được nhiều hàng thì doanh thu tăng cao, doanh nghiệp mới có thể tồn tại Chính vì vậy có thể nói sức mua của người tiêu dùng là yếu tố quyết định sự thành bại của doanh nghiệp Người tiêu dùng là người quyết định hành vi mua sắm của chính mình Cuộc sống ngày càng phát triển thì nhu cầu mua sắm của con người cũng tăng dần và nhu cầu mua sắm trên môi trường trực tuyến càng tăng cao Khi đưa bất kỳ một quyết định mua sắm nào, người tiêu dùng có quyền được tự do tham khảo, chọn lựa sản phẩm mình muốn mua và sử dụng theo đúng nhu cầu và mục đích của mình
Người tiêu dùng trong thương mại điện tử (TMĐT) là người trực tiếp sử dụng mạng Internet để tìm kiếm mua hàng hóa Số lượng cá nhân tham gia thương mại điện tử luôn phụ thuộc vào số người sử dụng Internet Lượng cá nhân tham gia thương mại điện tử càng lớn thì mức độ xã hội hóa càng cao Điều này tạo ra một thị trường rộng lớn hơn cho các doanh nghiệp, khiến doanh nghiệp thấy cần thiết khi lựa chọn thương mại điện tử để thực hiện phân phối sản phẩm của mình Chính vì thế, phát triển số người tiêu dùng trong thương mại điện tử thực chất phụ thuộc vào sự phát triển cơ sở hạ tầng viễn thông hiện đại và khả năng phủ rộng của mạng Internet
Chính từ nhu cầu mua sắm của người tiêu dùng, nhiều doanh nghiệp sẽ lên
kế hoạch đưa ra nhiều sản phẩm, dịch vụ đa dạng nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng ngày càng cao của người tiêu dùng đồng thời tăng tính cạnh tranh giữa các doanh nghiệp Từ đó doanh nghiệp sẽ có chiến lược phát triển lâu dài và phù hợp với tình hình thực tế Chính vì vậy, người tiêu dùng chính là người tác động không nhỏ đến kế hoạch và chiến lược kinh doanh của mỗi doanh nghiệp khi lựa chọn bán hàng truyền thông hay bán hàng trên website
Từ góc độ của người mua hàng, TMĐT tạo sự thuận tiện hơn cả về không gian và thời gian, tăng khả năng lựa chọn do tiếp cân dễ dàng các mặt hàng, các dịch vụ, thu được thông tin phong phú hơn, từ đó có thể đáp ứng nhu cầu tốt hơn
Trang 28Mặc dù họ phải bỏ thêm chút ít công sức khi mua hàng qua mạng, nhưng bù lại,
họ có thể mua hàng tại nhà bất cứ lúc nào, dù ngày hay đêm Internet cách mạng hoá marketing bán lẻ và marketing trực tiếp Người tiêu dùng có thể mua sam bất
cứ sản phẩm nào của nhà sản xuất và những nhà bán lẻ trên khắp thế giới Họ có thể xem xét các sản phấm, thông tin và sản phấm trên máy tính hay màn hình tivi, có thể lấy những thông tin này hay dùng nó để tạo ra những yêu cầu về các sản phẩm phù hợp với mình, đặt hàng và thanh toán
Thêm vào đó, việc so sánh hàng hoá trên mạng cũng rất thuận lợi Thời gian để người mua kiểm tra hàng loạt website thương mại chỉ bằng vài phan trăm lượng thời gian họ can để gọi điện hoặc ghé thăm một vài cửa hàng hữu hình Việc tìm kiếm những mặt hàng khan hiếm, ít người biết đến, như sách cổ, đồ cổ cũng trở nên dễ dàng hơn, thông qua việc ngồi một chỗ tra cứu danh mục sản phẩm của một thương hiệu, thay vì phải tới hết cửa hiệu này đến cửa hiệu khác Trong nhiều trường hợp, các cửa hàng trên mạng cung cấp dịch vụ khách hàng tốt hơn những cửa hàng truyền thống, kể cả khi không có sự tương tác người - người trực tiếp Khả năng tìm hiểu kiến thức cơ bản, hoặc trao đổi với nhân viên bán hàng qua Internet cao hơn
2.1.2.3 Vai trò của xã hội
Sự ra đời của thương mại điện tử khiên người tiêu dùng bây giờ có thể mua sắm trực tuyến tất cả các mặt hàng, từ những thứ đơn giản, phổ thông như
đồ ăn, quần áo đến những đồ nội thất đắt tiền Thậm chí các dịch vụ như chuyển nhà, tắm cho em bé…họ đều được phục vụ nhanh chóng qua một trang thương mại điện tử Sự tiện lợi, riêng tư, bảo mật và tiết kiệm khiến hình thức mua sắm trên thị trường thương mại điện tử này ngày càng ưa chuộng Sự phổ biến của thương mại điện tử ở nhiều nơi đã ở đến mức buộc các cửa hàng hay các đơn vị bán lẻ truyền thống phải mở một kênh bán hàng trực tuyến nếu không muốn bị mất khách hay đóng cửa Việc các doanh nghiệp không theo kịp thương mại điện tử bị đóng cửa hay phải chuyển đổi hoàn toàn sang kinh doanh trực tuyến cũng ảnh hưởng đến thị trường việc làm Nhiều lao động có nguy cơ bị thất nghiệp nếu không vận động cùng sự phát triển của thương mại điện tử Bởi vì thương mại điện tử tạo ra nhiều vị trí việc làm mới nhàn hạ hơn, có thu nhập cao hơn nhưng cũng đòi hỏi trình độ về công nghệ cao hơn như như xuất, nhập
dữ liệu, thiết kế website, bảo trì, xử lý thẻ tín dụng, bảo mật trên Internet, quảng cáo, marketing online,…
Trang 29Xã hội có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy thương mại điện tử phát triển, mọi ngành nghề nếu được tạo điều kiện áp dụng thì sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý của cơ quan nhà nước cũng như việc tuân thủ và thực hiện của người dân Thương mại điện tử muốn phát triển rất cần sự đồng nhất và được
xã hội chấp nhận, xuất phát từ các mối quan hệ xã hội, gắn liền với quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tới việc cung cấp dịch vụ trên website một cách cụ thể
Mặc dù lúc đầu chỉ là một hiện tượng kinh tế, thương mại điện tử nay đã trở thành bộ phận của cả quá trình cải biến xã hội rộng lớn trên nền tảng xu thế toàn cầu hoá, của quá trình dịch chuyển nền kinh tế theo xu hướng cơ sở tri thức
và thông tin, công nghệ phát triển nhanh chóng, thời gian từ nghiên cứu đến ứng dụng ngày càng rút ngắn Có ít nhất hai yếu tố xã hội dùng để xem xét trình độ phát triển và hiệu quả của thương mại điện tử: một là, khả năng liên kết bởi thương mại điện tử; hai là, niềm tin về thương mại điện tử
2.1.3 ĐẶC ĐIỂM QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ WEBSITE THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
Quản lý nhà nước về website chính là hoạt động thể hiện tính quyền lực của nhà nước trong việc quản lý, nó là được hiểu là hoạt động chấp hành – điều hành của nhà nước và được tiến hành bởi những chủ thể có thẩm quyền, để bảo đảm sự chấp hành pháp luật của các cơ quan quyền lực nhà nước, nhằm tổ chức, chỉ đạo trực tiếp và thường xuyên đối với các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động trên website TMĐT Bao gồm các đặc điểm đặc trưng sau:
- Định hướng cho sự phát triển: sự định hướng này được thực hiện thông qua việc xây dựng và tổ chức thực hiện các chiến lược phát triển TMĐT, các chương trình mục tiêu, các kế hoạch ngắn hạn và dài hạn Định hướng dẫn dắt sự phát triển của TMĐT còn được đảm bảo bằng hệ thống chính sách, sự tác động của hệ thống tổ chức quản lý TMĐT từ Trung ương đến địa phương
- Tạo lập môi trường cho sự phát triển của TMĐT: các yếu tố môi trường nhà nước cần tạo lập là: môi trường kinh tế - xã hội; môi trường công nghệ; môi trường pháp luật trong đó yếu tố môi trường công nghệ là đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của TMĐT
- Điều tiết các hoạt động: điều chỉnh mối quan hệ giữa các đối tượng tham gia TMĐT bao gồm: người mua, người bán và nhà cung cấp dịch vụ; điều tiết việc phân bổ nguồn lực tài chính thực hiện các chương trình, dự án phát triển TMĐT
Trang 30- Kiểm tra, giám sát hoạt động TMĐT, bao gồm kiểm soát sự phát triển theo các định hướng phát triển TMĐT đã đặt ra; kiểm soát việc thực hiện và chấp hành các chủ trương, chính sách và pháp luật về TMĐT của các đối tượng tham gia TMĐT trong nền kinh tế
2.1.4 NỘI DUNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ WEBSITE THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
Quản lý nhà nước (QLNN) về website thương mại điện tử là một bộ phận của QLNN về kinh tế do đó các nội dung QLNN về TMĐT cũng xuất phát từ các nội dung QLNN về kinh tế Theo hướng tiếp cận từ quá trình quản lý, QLNN về TMĐT bao gồm các nội dung: (a) Xây dựng chính sách và ban hành pháp luật về quản lý website TMĐT; (b) Tổ chức thực hiện kế hoạch cấp phép cho website TMĐT; (c) Kiểm tra, giám sát hoạt động website TMĐT; (d) Giải quyết tranh chấp, khiếu nại trong TMĐT
2.1.4.1 Xây dựng chính sách và ban hành pháp luật về quản lý website thương mại điện tử
Theo nghĩa rộng, chính sách TMĐT là một hệ thống các quy định, công cụ
và biện pháp thích hợp mà Nhà nước áp dụng để điều chỉnh các hoạt động TMĐT ở những thời kỳ nhất định nhằm đạt được các mục tiêu đã đặt ra trong chiến lược phát triển TMĐT
Chính sách TMĐT bao gồm các chính sách chủ yếu sau:
Đây là chính sách rất quan trọng của cơ quan QLNN trong lĩnh vực thương mại nói chung, TMĐT nói riêng Chính sách này quy định các điều kiện, thủ tục khi các thương nhân đăng ký thành lập Website TMĐT; quy định quyền hạn và nghĩa vụ của thương nhân khi tham gia TMĐT; quy định những lĩnh vực, ngành hàng thương nhân không được kinh doanh trong TMĐT; quy định những hành vi của thương nhân bị cấm trong hoạt động TMĐT
Mục tiêu của chính sách là bảo vệ các lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng khi họ tham gia TMĐT Bảo vệ người tiêu dùng có vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển TMĐT, một chính sách bảo vệ người tiêu dùng tốt sẽ tạo ra niềm tin cho người tiêu dùng khi họ thực hiện các hoạt động TMĐT
từ đó sẽ thúc đẩy sự phát triển của TMĐT Nội dung của chính sách bảo vệ người
Trang 31tiêu dùng trong TMĐT bao gồm: bảo vệ dữ liệu cá nhân của người tiêu dùng khi
họ thực hiện TMĐT; bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng khi phát sinh các tranh chấp trong quá trình thực hiện giao dịch TMĐT; cơ chế giải quyết các mâu thuẫn phát sinh trong quá trình thực hiện các giao dịch TMĐT
Nội dung của chính sách nguồn nhân lực cho TMĐT bao gồm: hỗ trợ các đơn vị trong đào tạo nguồn nhân lực cho TMĐT, các hỗ trợ này bao gồm: hỗ trợ
về xây dựng chương trình đào tạo; hỗ trợ về tài liệu đào tạo; hỗ trợ về đào tạo đội ngũ giảng viên; hỗ trợ hợp tác quốc tế trong đào tạo TMĐT Hỗ trợ cho đào tạo nâng cao trình độ, năng lực quản lý cho đội ngũ thực hiện công tác QLNN về TMĐT ở cấp Trung ương và địa phương
Để phát triển TMĐT thì hai loại hạ tầng công nghệ không thể thiếu đó là
hạ tầng CNTT & TT và công nghệ thanh toán trong TMĐT
Hạ tầng CNTT & TT: Chính sách phát triển hạ tầng CNTT & TT với mục tiêu là xây dựng được hạ tầng CNTT & TT hiện đại, an toàn, đồng bộ để đáp ứng được các yêu cầu phát triển của TMĐT
Các yếu tố trong hạ tầng CNTT & TT bao gồm: ngành công nghiệp thiết
bị CNTT & TT (máy tính, thiết bị mạng .) đây là các yếu tố thuộc về "phần cứng" trong đầu tư cho TMĐT; ngành công nghiệp phần mềm; ngành viễn thông ( các hệ thống dịch vụ viễn thông cố định, di động ); Internet và các dịch vụ gia tăng dựa trên nền Internet
Chính sách thuế trong TMĐT quy định những khoản nộp bắt buộc mà các cá nhân và pháp nhân thực hiện TMĐT có nghĩa vụ phải thực hiện đối với Nhà nước
Mục đích chính yếu của chính sách thuế nói chung, thuế trong TMĐT nói riêng là phải đáp ứng yêu cầu ổn định và tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước
Để đạt được mục tiêu này, hệ thống pháp luật thuế nói chung, thuế trong TMĐT thường được xây dựng trên một số nội dung sau đây:
Về mặt kinh tế việc tăng nguồn thu cho ngân sách phụ thuộc chủ yếu vào việc mở rộng hay thu hẹp phạm vi áp dụng của từng luật thuế cụ thể Đe xác định
Trang 32phạm vi áp dụng của một luật thuế, thông thường các luật thuế hiện nay dựa trên hai tiêu chí cơ bản là: chủ thể nộp thuế và đối tượng chịu thuế
Thứ nhất, nếu lược bỏ những đặc điểm của chủ thể nộp thuế gần với những đối tượng chịu thuế cụ thể (ví dụ: thu nhập, tài sản, doanh thu) thì một cách khái quát ta có thể thấy, để xác định chủ thể nộp thuế, pháp luật thuế thường
đề cập tới đặc điểm về quốc tịch và thường trú Điều này thường phản ánh mối quan hệ có tính chất chính trị và pháp lý giữa chủ thể nộp thuế và quốc gia Tiêu chí này có thể có các dạng chi tiết hơn, tuỳ từng trường hợp, như: công dân, người thường trú, nơi đăng ký pháp nhân, hoặc nơi quản lý hiệu quả nhất của pháp nhân Để xác định những trường hợp như vây người ta thường thiết kế trong các luật thuế các dấu hiệu hữu hình như thời gian sinh sống và làm việc, địa chỉ của trụ sở chính pháp nhân
Thứ hai, đối tượng chịu thuế trong hệ thống thuế hiện hành có thể là từ các hoạt động kinh doanh hàng hoá hoặc dịch vụ chịu thuế, thu nhập hoặc tài sản Bản chất của việc xác định đối tượng chịu thuế như vây là căn cứ vào nguồn gốc hình thành đối tượng tính thuế dưới các dạng như doanh thu, lợi nhuận, thu nhập
cá nhân, trị giá tài sản Tuy nhiên, cũng can nhân thấy rằng, mặc dù những đối tượng tính thuế như vây có thể dễ dàng quan sát và nam bắt thông qua các số liệu
sổ sách, chứng từ hoá đơn, nhưng về bản chất chúng là kết quả của các quan hệ kinh tế giữa các chủ thể khác nhau Vì vây, trong quan hệ thuế người ta thường phải phân tích xem là nguồn gốc của việc chuyển dịch giá trị như vây có trở thành một yếu tố cơ bản để thực hiện quyền thu thuế của quốc gia hay không
Quản lý thuế: để quản lý thuế, cơ quan quản lý thuế quy định việc sử dụng
sổ sách, hóa đơn chứng từ theo mẫu được cơ quan thuế phát hành; quy định trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức hữu quan với cơ quan thuế Việc quản
lý thuế trong TMĐT đang là vấn đề được cơ quan quản lý nghiên cứu, để tìm giải pháp thích hợp thu thuế từ TMĐT và tránh tình trạng trốn thuế trong TMĐT như thời gian qua
Để tiến hành tổ chức và quản lý nền kinh tế nói chung, các hoạt động website TMĐT nói riêng, Nhà nước phải ban hành một hệ thống pháp luật kinh
tế và văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội hình thành trong lĩnh vực QLNN về kinh tế nói chung, QLNN về TMĐT nói riêng Pháp luật về TMĐT là hệ thống các quy tắc có tính chất bắt buộc chung, thể hiện ý chí của các cơ quan QLNN về kinh tế nói chung, về TMĐT nói riêng, do Nhà nước
Trang 33đặt ra, thực thi và bảo vệ nhằm phát triển TMĐT theo những mục tiêu đã định Bảng 2.1 Các văn bản liên quan đến pháp lý website thương mại điện tử
16/01/2008 Nghị định số 06/2008/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi
phạm hành chính trong hoạt động thương mại
15/11/2013 Nghị định số 185/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi
phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
14/5/2014 Nghị định số 42/2014/NĐ-CP của Chính phủ ngày về quản lý hoạt
động bán hàng đa cấp về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp
Công Thương
định TMĐT về cung cấp thông tin và giao kết hợp đồng trên website TMĐT
31/12/2010 Thông tư số 46/2010/TT-BCT của Bộ Công Thương quy định về
quản lý hoạt động các website thương mại điện tử bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ
thông báo, đăng ký và công bố thông tin liên quan đến website thương mại điện tử
05/12/2014 Thông tư số 47/2014/TT-BCT của Bộ Công Thương quy định về
quản lý website thương mại điện tử
Nguồn: Cục TMĐT&CNTT – Bộ Công Thương (2015)
Hệ thống pháp luật về website TMĐT tạo tiền đề pháp lý vững chắc để điều chỉnh các quan hệ kinh tế trong TMĐT, đảm bảo sự phát triển bền vững của TMĐT, tạo cơ sở để thực hiện các mục tiêu QLNN về website TMĐT Hệ thống pháp luật về website TMĐT tạo cơ chế pháp lý hiện hữu để thực hiện sự bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các chủ thể kinh tế tham gia TMĐT nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế
2.1.4.2 Tổ chức thực hiện kế hoạch cấp phép cho website thương mại điện tử
a Truyền thông và tư vấn
Các cơ quan tổ chức thực thi cần vận hành hệ thống truyền thông, tư vấn
Trang 34đại chúng và chuyên môn để tuyên truyền, hướng dẫn việc thực hiện các kế hoạch, chính sách phát triển TMĐT, giúp cho các doanh nghiệp và người tiêu dùng hiểu được các nội dung của kế hoạch, chính sách để từ đó ủng hộ việc thực hiện các kế hoạch và chính sách một cách tự nguyện Do TMĐT là hoạt động mới mẻ với hầu hết các DN và người tiêu dùng nên hoạt động truyền thông và tư vấn có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc triển khai và thực hiện các chính sách phát triển TMĐT Nội dung của công tác truyền thông và tư vấn bao gồm: Tuyên truyền về các lợi ích TMĐT từ đó làm thay đổi căn bản nhân thức của DN và người tiêu dùng về TMĐT;
Tuyên truyền về nội dung các chính sách, văn bản pháp luật về TMĐT; Phổ biến, tuyên truyền các kiến thức căn bản về TMĐT cho DN và toàn
xã hội
b Thực hiện kế hoạch cấp phép website thương mại điện tử
Căn cứ Nghị định 52/2013/NĐ-CP của Chính phủ về thương mại điện tử; Thông tư số 12/2013/TT-BCT của Bộ Công Thương quy định thủ tục thông báo, đăng ký và công bố thông tin liên quan đến website thương mại điện tử; Thông
tư số 47/2014/TT-BCT của Bộ Công Thương quy định về quản lý website thương mại điện tử đối tượng thông báo website
- Đối tượng thông báo website: Thương nhân; Tổ chức mà trong chức năng, nhiệm vụ có bao gồm việc tổ chức hoạt động bán hang hóa, cung ứng dịch
vụ hoặc tiến hành các hoạt động thương mại điện tử; Cá nhân đã được cấp mã số thuế cá nhân và không thuộc đối tượng phải đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật về đăng ký kinh doanh
- Đối tượng đăng ký website TMĐT: là các thương nhân hoặc tổ chức hoạt động trong lĩnh vực xúc tiến thương mại hoặc hỗ trợ doanh nghiệp, có website thương mại điện tử trên đó cung cấp ít nhất một trong các dịch vụ sau: Sàn giao dịch TMĐT; Khuyến mại trực tuyến, Dịch vụ đấu giá trực tuyến
- Quy trình thông báo/đăng ký website TMĐT
Việc tiếp nhận, xử lý thông báo(đăng ký) website thương mại điện tử được
Bộ Công Thương thực hiện trực tuyến tại Cổng thông tin Quản ký hoạt động thương mại điện tử tại địa chỉ: www.online.gov.vn
Thương nhân, tổ chức, cá nhân thiết lập website TMĐT truy cập vào Cổng thông tin Quản lý hoạt động thương mại điện tử và thực hiện các bước sau:
Trang 35Bước 1: Đăng ký tài khoản đăng nhập hệ thống(cung cấp các thông tin liên quan đến DN : Tên thương nhân, tổ chức; Số ĐKKD…)
Bước 2: Trong thời hạn 3 ngày làm việc, thương nhân, tổ chức, cá nhân nhận kết quả từ Bộ Công Thương qua địa chỉ thư điện tử đã đăng ký về một trong các nội dung sau:
+ Nếu đăng ký tài khoản đầy đủ, thương nhân, tổ chức, cá nhân được cấp một tài khoản đăng nhập hệ thống và tiến hành Bước 3
+ Nếu đăng ký bị từ chối hoặc yêu cầu bổ sung, thương nhân, tổ chức, cá nhân phải tiến hành đăng ký lại hoặc bổ sung thông tin theo yêu cầu
Bước 3: Sau khi được cấp tài khoản đăng nhập hệ thống, thương nhân, tổ chức, cá nhân tiến hành đăng nhập, chọn chức năng Thông báo website thương mại điện tử bán hang và tiến hành khai báo thông tin theo mẫu
Bước 4: Trong thời hạn 3 ngày làm việc, thương nhân, tổ chức, cá nhân nhận thông tin phản hồi của Bộ Công Thương qua địa chỉ thư điện tử đã đăng ký
- Xác nhận thông tin khai báo đầy đủ, hợp lệ;
- Cho biết thông tin khai báo chưa đầy đủ hoặc không hợp lệ Khi đó thương nhân, tổ chức, cá nhân phải quay về bước 3 để khai báo lại hoặc bổ sung các thông tin theo yêu cầu
Thời gian nhận thông báo 3 - 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ thông báo đầy đủ, hợp lệ của thương nhân, tổ chức, cá nhân
Khi xác nhận thông báo, Bộ Công Thương sẽ gửi cho thương nhân, tổ chức,
cá nhân qua địa chỉ thư điện tử đã đăng ký một đoạn mã để gắn lên website thương mại điện tử, thể hiện thành biểu tượng đã thông báo Khi chọn biểu tượng này, người sử dụng được dẫn về phần thông báo tương ứng của thương nhân, tổ chức, cá nhân tại Cổng thông tin Quản lý hoạt động thương mại điện tử
2.1.4.3 Kiểm tra, giám sát hoạt động website thương mại điện tử
Giám sát về TMĐT là tổng thể những hoạt động của cơ quan QLNN nhằm kịp thời phát hiện và xử lý những sai sót, những khó khăn, vướng mắc cũng như những cơ hội phát triển TMĐT nhằm đảm bảo cho hoạt động TMĐT tuân theo đúng các định hướng, mục tiêu phát triển TMĐT đã đề ra
Giám sát về website TMĐT bao gồm các nội dung chủ yếu sau:
Trang 36triển website TMĐT Cơ sở để thực hiện hoạt động này là các chiến lược, kế hoạch phát triển như: chiến lược phát triển TMĐT quốc gia, các chiến lược phát triển khác có liên quan như: chiến lược phát triển CNTT quốc gia, chiến lược phát triển nguồn nhân lực quốc gia v.v Mỗi sự sai lệch quá mức độ so với các mục tiêu trong các chiến lược và kế hoạch trên đều cần có sự điều chỉnh nhất định
website TMĐT: hoạt động kiểm soát nhằm đảm bảo việc chấp hành chính sách, pháp luật của Nhà nước về website TMĐT
TMĐT: nội dung kiểm soát này nhằm đảm bảo tính trách nhiệm trong hoạt động của cơ quan QLNN về TMĐT
thức này thì hình thức kiếm tra website TMĐT có vai trò đặc biệt quan trọng Đối với hình thức kiểm tra website TMĐT, chủ thể thực hiện hoạt động kiếm tra
là thanh tra chuyên ngành TMĐT, trong quá trình kiếm tra có thể kết hợp với thanh tra của các đơn vị khác như thanh tra chuyên ngành công nghệ thông tin, thanh tra chuyên ngành văn hóa - xã hội
Đối tượng kiểm tra chính là các DN đang thực hiện các hoạt động TMĐT,
là các đơn vị cung cấp hạ tang công nghệ cho TMĐT Để bảo đảm việc kiểm tra có hiệu quả, chủ thể kiểm tra cần phải xác định nội dung kiểm tra, đề ra các tiêu chuẩn kiểm tra, lựa chọn các phương pháp kiểm tra, đo lường các kết quả thực hiện, so sánh các kết quả đó với các mục tiêu trong kế hoạch phát triển TMĐT đã đặt ra từ đó xác định các nguyên nhân sai lệch và đưa ra các giải pháp khắc phục
Nội dung kiểm tra TMĐT bao gồm các nội dung: kiểm tra sự phát triển của TMĐT theo các định hướng và mục tiêu trong chiến lược phát triển TMĐT quốc gia; Kiểm tra việc thực hiện các chủ trương, chính sách pháp luật của nhà nước
về website TMĐT; Kiểm tra việc thực hiện kinh doanh hàng hóa dịch vụ trên website TMĐT; Kiểm tra tính hợp lý của các công cụ, chính sách pháp luật về TMĐT để đảm bảo tính chất thúc đẩy của các công cụ này Để thực hiện hoạt động kiểm tra có thể lựa chọn các phương pháp kiểm tra như: kiểm tra thường xuyên, kiểm tra định kỳ và kiểm tra đột xuất Do đặc thù của hoạt động TMĐT
Trang 37nên có thể thực hiện hình thức kiểm tra trực tuyến các hoạt động website TMĐT của đối tượng cần kiểm tra
2.1.4.4 Giải quyết tranh chấp, khiếu nại trong thương mại điện tử
Luật giao dịch điện tử 2005 và Nghị định 52/2013/NĐ-CP về thương mại điện tử năm 2013 đã đưa ra những nguyên tắc cơ bản về thông điệp dữ liệu nói chung và chứng từ thương mại nói riêng, đặt nền tảng cho việc tiến hành giao dịch thương mại qua phương tiện điện tử Tiếp theo đó, thông tư hướng dẫn Nghị định Thương mại điện tử về cung cấp thông tin và giao kết hợp đồng trên website thương mại điện tử (thông tư 47/2014/TT-BCT ngày 05/12/2014 đã quy định khá chi tiết về một chu trình giao kết hợp đồng giữa thương nhân và người tiêu dùng thông qua website; Nghị định 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng) Tuy nhiên, khâu thực hiện hợp đồng giữa các bên trong một giao dịch B2C, B2B, C2C tiềm ẩn những khả năng xảy ra tranh chấp mà hệ thống pháp luật hiện nay chưa có quy định cụ thể
để làm căn cứ giải quyết cho các bên liên quan
Về mặt nguyên tắc, hệ thống pháp luật về thương mại điện tử chỉ điều chỉnh những khía cạnh liên quan đến hình thức điện tử của giao dịch Cụ thể hơn, thông
tư 47/2014/TT-BCT, tập trung điều chỉnh những vấn đề mang tính đặc thù khi giao kết hợp đồng trên website thương mại điện tử, còn việc thực hiện hợp đồng
sẽ được điều chỉnh bởi pháp luật chung về hợp đồng (cũng như hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phải tuân thủ pháp luật chung về thương mại) Do đó, đa phần các tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng điện tử sẽ được giải quyết trong khuôn khổ Luật Dân sự, Luật thương mại, Luật bảo vệ người tiêu dùng và các văn bản liên quan.Chỉ những tranh chấp liên quản đến những giá trị pháp lý của chứng từ khởi tạo và lưu trữ trong quá trình giao kết cũng như thực hiện hợp đồng mới thuộc phạm vi điều chỉnh của hệ thống luật thương mại điện tử Và phần lớn những vấn đề này có thể được giai quyết nếu các bên sử dụng chữ ký điện tử khi tiến hành giao dịch
Hiện nay, hai vấn đề mà doanh nghiệp cũng như người tiêu dùng quan tâm nhất khi tham gia giao dịch thương mại điện tử là: 1) làm thế nào xác minh được danh tính cũng như ràng buộc trách nhiệm của đối tác khi toàn bộ một giao dịch được bắt đầu và tiến hành trên môi trường điện tử 2) Những chứng từ trao đổi trong quá trình giao dịch phải đáp ứng điều kiện gì để có đủ giá trị pháp lý làm
Trang 38căn cứ dẫn chiếu và giải quyết khi phát sinh tranh chấp Với khả năng “xác nhận người ký thông điệp dữ liệu và xác nhận sự chấp thuận của người đó đối với nội dung thông điệp dữ liệu được ký “đồng thời” xác định sự toàn vẹn của nội dung thông điệp dữ liệu kể từ khi được ký”, chữ ký số là biện pháp hiệu quả và được pháp luật thừa nhận để giải quyết những vấn đề này Luật giao dịch điện tử cùng với nghị định về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số đã thiết lập khung pháp lý cơ bản nhất cho việc ứng dụng chữ ký số trong mọi giao dịch hành chính, kinh tế và dân sự Bên cạnh việc triển khai đồng bộ dịch vụ chứng thực chữ ký số
để tạo điều kiện cho quá trình giải quyết các tranh chấp liên quan đến hợp đồng điện tử, một thách thức lớn nữa đang đặt ra cho các cơ quan chức năng là vấn đề nâng cao năng lực của hệ thống tư pháp và trọng tài kinh tế Các cơ quan xét xử đóng vai trò trung tâm trong việc giải quyết tranh chấp, tuy nhiên kiến thức về thương mại điện tử nói chung và năng lực giải quyết tranh chấp liên quan đến hợp đồng điện tử nói riêng của các cán bộ tòa án, luật sư và trọng tài kinh tế ở Việt Nam hiện nay còn rất hạn chế Đây có thể nói là một trở ngại lớn cho việc đưa các quy định pháp luật về thương mại điện tử vào triển khai trong thực tế
2.1.5 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ WEBSITE THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
2.1.5.1 Các nguồn lực của cơ quan quản lý nhà nước về website thương mại điện tử
Các yếu tố này bao gồm: nguồn nhân lực; nguồn tài chính; nguồn lực vật chất
Nguồn nhân lực của cơ quan QLNN về TMĐT được thể hiện qua chất lượng của đội ngũ cán bộ quản lý về website TMĐT ở Trung ương và địa phương như: trình độ chuyên môn, năng lực và kĩ năng quản lý, kinh nghiệm thực tế v.v Nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao, có năng lực và kinh nghiệm sẽ là những yếu tố tiền đề cơ bản thực hiện thành công các chức năng và nhiệm vụ QLNN đối với TMĐT
Nguồn lực tài chính của cơ quan QLNN về TMĐT được thể hiện qua số ngân quỹ cung cấp hàng năm cho các hoạt động quản lý TMĐT, bao gồm: tiền lương cho cán bộ quản lý, nguồn vốn cho các hoạt động triển khai và hỗ trợ TMĐT của cơ quan quản lý, nguồn vốn cho các hoạt động nghiên cứu, đào tạo của cơ quan quản lý v.v Nếu nguồn lực tài chính hạn chế sẽ có những ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động QLNN về TMĐT
Trang 39Nguồn lực vật chất của cơ quan QLNN về TMĐT bao gồm: cơ sở hạ tầng phục vụ công tác điều hành và quản lý; các trang thiết bị kĩ thuật như: hệ thống máy vi tính, các trang thiết bị của phòng thí nghiệm, trang thiết bị mạng v.v Nếu nguồn lực vật chất không đầy đủ, hiện đại sẽ tạo ra những rào cản cho việc triển khai các nhiệm vụ QLNN về TMĐT
cũng gia tăng Số doanh nghiệp sử dụng nền tảng di động như kênh liên lạc giữa nhà bán lẻ và người tiêu dùng ngày càng tăng Do đó, quản lý các mạng xã hội kinh doanh TMĐT cũng như nền tảng di động cũng không kém phần cấp thiết Thực tế cho thấy, Cơ quan chức năng cũng chưa có quy định rõ ràng đối với hoạt động kinh doanh này trên môi trường internet
Nguyên nhân, do Thông tư quy định trách nhiệm đăng ký là của doanh nghiệp
mà không quy định rõ trách nhiệm kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Do vậy, nhiều doanh nghiệp “né” trách nhiệm đăng ký mà vẫn chưa
bị xử lý
2.1.5.3 Yếu tố tâm lý
Có thể nói, hoạt động thương mại điện tử là một giải pháp không thể thiếu trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Bên cạnh đó sự quản lý, điều hành của nhà nước đối với tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân trong hoạt động thương mại điện tử phải được hoàn thiện, tạo hành lang pháp lý và hướng đối tượng quản lý thực hiện đúng quy định của pháp luật Thực tế cho thấy, những năm trước đây việc lợi dụng thương mại điện tử, kẽ hở pháp luật để hoạt động bán hàng đa cấp trên mạng, với những chiêu thức dụ dỗ tinh vi, đánh vào tâm lý người tiêu dùng nhằm huy động một lượng tiền lớn để thu lợi bất chính, điển
Trang 40hình là các vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản thông qua việc mua bán các gian hàng
ảo trên mạng giá trị hàng chục triệu USD như: Mua bán 24, Tâm Mặt Trời, Cộng đồng Việt, và đã được các cơ quan chức năng vào cuộc và xử lý
Trước những hành vi vi phạm về thương mại điện tử như lợi dụng thương mại điện tử để lừa đảo người tiêu dùng hoặc kinh doanh đa cấp bất chính đã làm ảnh hưởng tiêu cực đến xã hội, gây xôn xao trong dư luận và do đặc thù của hoạt động thương mại điện tử Chính phủ đã ban hành Nghị định số 52/2013/NĐ-CP
về thương mại điện tử thay thế Nghị định số 57/2006/NĐ-CP năm 2006, là bước điều chỉnh một cách toàn diện các hoạt động TMĐT trong xã hội và đáp ứng nhu cầu quản lý của lĩnh vực này Để triển khai Nghị định một cách có hiệu quả, Bộ Công Thương cũng đã kịp thời ban hành Thông tư hướng dẫn số 12/2013/TT-BCT ngày 20/6/2013 về quy định thủ tục thông báo, đăng ký và công bố thông tin liên quan đến website thương mại điện tử có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2013 Đặc biệt, đầu năm 2014, Nghị định 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Hàn Quốc là thị trường thương mại điện tử bán lẻ lớn thứ bảy trên thế giới
và lớn thứ ba ở châu Á Thái Bình Dương, sau Trung Quốc và Nhật Bản Hàn quốc tự hào có tốc độ internet nhanh nhất thế giới, mà phần mềm một trong những tỷ lệ thương mại điện tử thâm nhập cao nhất ở châu Á Thái Bình Dương của gần 65% Thương mại điện tử bao gồm khoảng 10% của doanh số bán lẻ trong nước Hai trang web thương mại điện tử chiếm ưu thế trong nước là chợ: Gmarket, 11street, Coupang một thị trường gần đây đã có 25.000 người bán trên website này Hàn Quốc là một thị trường thương mại điện tử cạnh tranh lớn, nhiều người bán hàng cạnh tranh thường bán các sản phẩm tương tự Để hỗ trợ cho sự phát triển trong lĩnh vực thương mại điện tử, các cơ quan chính phủ có liên quan, bắt đầu vào năm 1997, thành lập và sửa đổi thương mại điện tử quy