Để làm được điều này Maslow đã chỉ ra rằng người quản lý cần phải có các biện pháp tìm ra và thỏa mãn nhu cầu người lao động, khi đó sẽ tạo ra được động lực cho người lao động và ông nhấ
Trang 1Đề bài: PHÂN TÍCH HAI HOC THUYẾT CƠ BẢN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC
CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG, VÀ VẬN DỤNG HAI HỌC THUYẾT NÀY VÀO CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN NHƠN HÒA
Vấn đề quản lý và sử dụng con người hiện nay trong các tổ chức đang là vấn đề rất quan trọng vì nó quyết định đến hiệu quả của mọi hoạt động khác trong tổ chức Bất kỳ tổ chức nào muốn khai thác và hoạt động triệt để hiệu quả nguồn lực con người thì ở đó hoạt động kinh tế nói riêng và các hoạt động khác nói chung sẽ đạt hiệu quả cao Đối với tổ chức hoạt động SXKD thì nó góp phần giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh các mặt hàng trên thị trường và tạo thế vững chắc cho tổ chức mình ngày càng mở rộng và phát triển
Để làm được điều đó người quản lý phải biết khai thác những nguồn lực
đó của con người, những nhu cầu, sở thích, đam mê,lòng nhiệt tình……, tất cả những điều đó tạo nên động lực lớn trong lao động Mà lòng nhiệt tình được tạo
ra từ đông lực lao động, nó làm cho người ta hăng say làm việc, phát huy hết khả năng làm việc của bản thân để dồn vào công việc, tạo nên năng suất lao động cao
Trang 2Có rất nhiều học thuyết về tạo động lực cho người lao động, mỗi học thuyết đi sâu vào từng khía cạnh và khai thác các mặt khác nhau của các yếu tố tác động
Sau đây tôi xin đi sâu vào hai hoc thuyết cơ bản về tạo động lực đó là Lý Thuyết Hệ Thống Nhu Cầu Của Maslow và Thuyết Hệ Thồng Hai Yếu Tố Của Frederic Herzberg.
I-Lý thuyết hệ thống nhu cầu của Maslow:
Hệ thống nhu cầu của Maslow xây dựng nên một trong những mô hình được sử dụng rộng rãi nhất trong nghiên cứu về động cơ cá nhân Nhu cầu của
cá nhân rất phong phú và đa dạng, do vậy để đáp ứng được nhu cầu đó cũng rất phức tạp Để làm được điều này Maslow đã chỉ ra rằng người quản lý cần phải
có các biện pháp tìm ra và thỏa mãn nhu cầu người lao động, khi đó sẽ tạo ra được động lực cho người lao động và ông nhấn mạnh rằn mỗi con người bao giờ cũng tồn tại một hệ thống phức tạp gồm 5 nhóm nhu cầu Dó là :
1- Nhu cầu sinh lý
2- Nhu cầu an toàn
3- Nhu cẫu xã hội
4- Nhu cầu tôn trọng
Trang 3Theo thuyết này nhu cầu của con người xuất hiện theo thứ bậc từ thấp đến cao Khi nhu cầu thấp được thỏa mãn thì nhu cầu cao sẽ xuất hiện Ban đầu là các nhu cầu về sinh lý, tiếp theo là đến các nhu cầu về an toàn xà hội, nhu cầu tôn trọng và tự hoàn thiện mình
1 – Nhu cầu sinh lý : Nằm ở cấp thấp nhất trong hệ thống Đây là nhu cầu mà
con người luôn thỏa mãn trước tiên Bởi nó là nhu cầu duy trì sự tồn tại tự nhiên của cơ thể, nó bao gồm các yếu tố : ăn, ở, mặc, nghỉ ngơi, duy trì nòi giống… các nhu cầu này xuất hiện sớm nhất, nó chi phối những mong muốn của con người, do đó con người sẽ tìm mọi cách để thỏa mãn rồi đạt đến những nhu cầu cao hơn,
2- Nhu cầu an toàn : Đây là nhu cầu sẽ xuất hiện tiếp theo sau khi nhu cầu về
sinh lý được thỏa mãn Ở mức nhu cầu này con người sẽ có những phản ứng lại đối với nhừng dấu hiệu nguy hiểm, có nguy cơ đe dọa đến bản thân, người lao động sẽ không thích làm việc trong những điều kiện nguy hiểm mà thích được làm việc trong những điều kiện an toàn
3- Nhu cầu giao tiếp : Khi các nhu cầu sinh lý, an toàn được thỏa mãn thì tiếp
theo là các nhu cầu về tình cảm, sự thương yêu, tình đồng loại…Con người sẽ cảm thấy trống vắng khi thiếu bạn bè, người thân trong gia đình, và họ sẽ cố gắng tìm hiểu mọi người xung quanh
Trang 44- Nhu cầu được tôn trọng: Nhu cầu này bao gồm cả việc cần hay mong muốn
có được giá trị cao cả của tự đồn hoặc kích thích và tôn trọng của người khác Maslow đã chia ra làm hai loại:
- Các loại mong muốn về sức mạnh, sự đạt được , thẩm quyền, lòng tin đối với mọi người, đối với độc lập tự do
- Loại có mong muốn về thanh danh, uy tín, địa vị, thống trị, được chú ý thể hiện mình…
5- Nhu cầu tự hoàn thiện mình : Maslow cho rằng: Mặc dù tất cả các nhu cầu
trên được thỏa mãn, chúng ta vẫn cảm thấy sự bất mãn mới và sự lo lắng sẽ xuất hiện, từ khi các nhu cầu cá nhân đang làm những công việc phù hợp với mình Như thế rõ ràng nhu cầu này xuất hiện khi đã có sự thỏa mãn nhu cầu thấp hơn nó Ta thấy rằng không phải trong cùng một thời kỳ mọi người đều xuất hiện nhu cầu như nhau, mà ở cùng thời điểm thì mọi người khác nhau có nhu cầu khác nhau Nhưng về nguyên tắc các nhu cầu thấp hơn phải được thỏa mãn trước khi được khuyến khích, được thỏa mãn các nhu cầu ở bậc cao hơn Nhà quản trị sẽ tạo ra động cơ thúc đẩy người lao động là việc tốt hơn, giúp họ yên tâm với công việc hơn bằng cách thỏa mãn những nhu cầu hiện tại của họ Nhưng điều quan trọng đối với nhà quản trị là phải thực hiện phương trâm : “ đói cho ăn, khát cho uống ”, tức là phải tìm hiểu xem nhân viên của mình đang
ở cấp nhu cầu nào, từ đó mới đưa ra được cách giải quyết hợp lý
Trang 5II- Học thuyết về hệ thống hai yếu tố của Frederic Herzberg:
Học thuyết này dựa trên cơ sở quan điểm tạo động lực là kết quả của sự tác động của nhiều yếu tố Trong đó có các yếu tố tạo nên sự thỏa mãn và không thỏa mãn Bản thân mỗi yếu tố đều bao gồm cả hai mặt trên tùy thuộc vào việc
nó được thực thi như thế nào, được đáp ứng như thế nào để thấy rõ bản chất của các yếu tố Học thuyết này được phân ra làm hai yếu tố có tác dụng tạo động lực là :
Nhóm yếu tố thúc đẩy : Đó là các yếu tố tạo nên sự thỏa mãn, sự thành
đạt, sự thừa nhận thành tích, bản thân công việc của người lao động, trách nhiệm và chức năng lao động, sự thăng tiến Đây chính là năm nhu cầu cơ bản của người lao động khi tham gia làm việc Đặc điểm nhóm này là nếu không được thỏa mãn thì dẫn đến bất mãn, nếu được thỏa mãn thì sẽ có tác dụng tạo động lực
Nhóm yếu tố duy trì : Đó là cá yếu tố thuộc về môi trường làm việc của
người lao động, các chính sách , chế độ quản trị của doanh nghiệp, tiền lương,
sự hướng dẫn công việc, các quan hệ với cọn người, các điều kiện làm việc Các yếu tố này khi được tổ chức tốt thì nó có tác dụng ngăn ngừa sự không thỏa mãn đối với công việc của người lao động
III- Mối quan hệ giữa hai học thuyết :
Trang 6Từ cơ sở lý luận trên ta có thể nhận thấy mối quan hệ giữa hai học thuyết này như sau: Động cơ nhu cầu và mục tiêu kích thích dẫn dến hành vi
Maslow đã chỉ ra trong mỗi con người luôn có nhu cầu và nó được chi thành 5 nấc thang từ thấp đến cao Herzberg lại nhấn mạnh hai yếu tố là thúc đẩy và duy trì
Khi con người đã thỏa mãn hai yếu tố này rồi thì trong họ sẽ nảy sinh nhu cầu khác cao hơn trước đó Tuy nhiên để thỏa mãn được nhu cầu cao đó thì vần đề đặt ra là vẫn phải duy trị được nhu cầu trước đó Khi đó mục tiêu họ đặt ra là thỏa mãn nhu cầu cao hơn Nhu cầu và động cơ của họ kết hợp với mục tiêu mà
họ đặt ra sẽ tạo thành hành vi của họ Vì thế trong một DN nếu chế độ chính sách mà đảm bảo tốt cho người lao động thì sẽ kích thích người lao động hăng say làm việc Hành vi của họ có tác động tích cực đến quá trình của DN Mặt khác nếu chế độ chính sách không thỏa mãn được nhu cầu của người lao động thì sẽ không thể kích thích họ hăng say làm việc được
IV Thực trạng tạo động lực cho người lao động qua các chương trình khuyến khích tại Việt Nam hiện nay.
Đánh giá chung: Vấn đề tạo động lực cho người lao động ở Việt Nam
hiện nay đã và đang ngày càng được chú trọng Nhà nước cũng như bản thân mỗi chủ doanh nghiệp cũng đã quan tâm nhiều hơn đến vấn đề kích thích người lao động thông qua các chính sách khuyến khích sao cho thông qua đó khai thác
Trang 7được tốt nhất tiềm năng của người lao động, tạo cho họ cảm giác muốn làm việc và muốn luôn sáng tạo trong công việc
Những thành tựu đạt được : Việc tạo động lực cho người lao động ở
Việt Nam thông qua các chính sách khuyến khích tuy mới được chú trọng ở Việt Nam nhưng đã đạt được những bước tiến đáng kể Đặc biệt là đối với các doanh nghiệp tư nhân và các doanh nghiệp liên doanh hiện nay đang có những chương trình phúc lợi rất tốt nhằm giữ chân người lao động, thu hút nhân tài đến với tổ chức.Ta sẽ thấy rõ hơn điều này qua một số dẫn chứng cụ thể dưới đây:
Tạo động lực cho người lao động tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Nhơn Hòa:
Công ty trách nhiệm hữu hạn Nhơn Hòa có môi trường làm việc rất lý
tưởng:Nhà xưởng khanh trang, có khuôn viên rộng rãi, thoáng mát Đặc biệt công ty vừa mới xây nhà ăn mới rộng hơn 750 m2 và nâng suất ăn trưa của công nhân từ 4.000 đồng lên 5.000 đồng
Tháng 10 hàng năm, Công đoàn công ty đều mời Trung tâm Sức khỏe lao động
và Môi trường TP HCM đến khám sức khỏe định kỳ cho công nhân Còn tại công ty luôn có bác sĩ và y tá trực để theo dõi tình hình sức khỏe công nhân
Ở Công ty Nhơn Hòa hàng năm có 200 Công nhân học tập nâng cao tay nghề, chuyên môn Công ty còn ưu tiên cho những người đi học không phải làm đêm, tăng ca và bố trí việc làm, mức lương phù hợp sau khi công nhân hoàn thành
Trang 8quá trình học.Ngoài ra, còn tổ chức cuộc thi:”Bàn tay vàng lắp ráp cân” tuyên dương khen thưởng kịp thời những công nhân vượt khó, có thành tích trong học tập, lao động…
Ở công ty, việc giúp đỡ nhau trở thành truyền thống.Bất kỳ người nào gặp khó khăn khi Công đoàn phát động đều nhiệt tình đóng góp.Công ty luôn chú trọng các hoạt động tương thân tương ái giúp tạo ra tình cảm gắn kết giữa công nhân với nhau và giữa công nhân với công ty
Ngoài ra, công ty còn bảo lãnh cho khoảng 100 công nhân vay Quỹ CEP để cải thiện đời sống, mua sắm các phương tiện sinh hoạt gia đình
Chăm lo tốt cho công nhân, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, tay nghề giúp công nhân ổn định việc làm, thu nhập.Công ty Nhơn Hòa đã khẳng định được vai trò, vị trí trong lòng người lao động
Những hạn chế và khó khăn gặp phải:
Mặc dù việc tạo động lực cho người lao động thông qua các chính sách khuyến khích có vai trò và ý nghĩa to lớn như vậy nhưng trong quá trình thực hiện vẫn còn nhiều khó khăn hạn chế:
Trong trường hợp trả lương cho người lao động, nếu thu nhập của nhân viên thấp hơn mức chuẩn thì nhân viên sẽ không thỏa mãn, nhưng thu nhập của nhân viên cao hơn mức chuẩn thì cũng không hẳn tạo được động lực bền vững cho
Trang 9nhân viên.Động lực của nhân viên cũng bị ảnh hưởng không nhỏ bởi phong cách và tài năng quản lý của người quản lý cấp trên
Trường hợp, công nhân rời bỏ công ty vì họ không thể chấp nhận được việc họ vào làm cho công ty đã lâu năm rồi, có kinh nghiệm nhiều hơn nhưng lại nhận mức lương thấp hơn người mới vào công ty được vài tháng và thuộc lớp đàn em
Một số công ty lại giao việc dưới khả năng chuyên môn, kinh nghiệm, khiến nhân viên cảm thấy bất công không hài lòng với nhà quản lý
Một số nhà quản lý vì lo nhân viên không làm được việc, hoặc sợ nhân viên không trung thực đã quản lý và theo dõi quá gắt gao, khiến nhân viên cảm thấy khó chịu và bất mãn
Để thực hiện công việc, nhiều lúc nhân viên cần sự hỗ trợ của cấp trên về tài chính, thời gian và nhân lực Khi không được hỗ trợ đúng mức và đúng lúc,họ
sẽ cảm giác mình không được công ty quan tâm và từ đó bất mãn với công việc Tính chất công việc quá đơn điệu, người lao động không được phát huy tính sáng tạo của mình trong công việc cúng dễ khiến cho họ chán nản với công việc
Trong một công ty mà các phòng ban được lập ra không phải để hỗ trợ nhau mà
là để kiểm tra và làm khó nhau, cũng sẽ gây sự bất mãn lớn cho người lao động
Trang 10Hệ thống cồng kềnh thủ tục nội bộ phức tạp sẽ làm nhân viên không hài lòng và triệt tiêu hưng phấn làm việc của người lao động
Nhân viên làm việc trong một môi trường mà không có được một tinh thần đồng đội, không gắn bó với nhau, làm khó nhau…khiến người lao động không hài lòng với bản thân, với đồng nghiệp
Nguyên nhân
Với mỗi một môi trường cụ thể thì sẽ có một nguyên nhân nhất định làm cho người lao động thiếu động lực trong quá trình làm việc Tuy nhiên, chũ yếu gồm những nguyên nhân sau:
Do môi trường làm việc, điều kiện làm việc không đảm bảo
Chế độ lương bổng chưa thỏa đáng
Chính sách khuyến khích và phúc lợi đối với người lao động chưa tạo động lực được cho người lao động
Do tính chất công việc, cơ hội thăng tiến của công việc
Do tầm nhìn và quan điểm của người lãnh đạo có chú trọng đến nguồn nhân lực trong tổ chức hay không
Trang 11V-Một số kiến nghị và giải pháp
Để thực hiện tốt hơn nữa việc tạo động lực cho người lao động thông qua các chính sách khuyến khích cũng như khắc phục những hạn chế và khó khăn đã gặp phải.Người viết đề án xin được đưa ra một số giải pháp sau:
Có chính sách tiền lương rõ ràng và hợp lý.trong đó có các hình thức khuyến khích và tạo động lực cho người lao động thông qua các phần thưởng, tiền thưởng cho những người hoàn thành công việc tốt…
Thực hiện tốt phúc lợi cho người lao động, quan tâm đến đời sống và sức khỏe người lao động.Chăm lo đến cả đời sống vật chất và tình cảm cho người lao động
Thường xuyên tổ chức các phong trào, các hoạt động thi đua trong đoàn thể doanh nghiệp nhằm tạo ra sự gắn kết giữa cán bộ công nhân viên chức,…
Tạo môi trường làm việc thuận lợi cho người lao động, làm việc có hiệu quả hơn…
Giúp đỡ về mặt tài chính cho những người lao động gặp hoàn cảnh khó khăn Động viên và khuyến khích người lao động thường xuyên học tập nâng cao tay nghề và có những sáng tạo trong công việc