Ngành Dầu khí nói chung và Tổng Công ty vận tải Dầu khí nói riêng thường xuyên chú trọng xây dựng chiến lược để có thể đảm bảo cho Công ty hoạt động có hiệu quả và nắm thế chủ động trong
Trang 1
HOẠCH ĐỊNH SẢN XUẤT TẠI CÔNG
TY VẬN TẢI DẦU KHÍ PVTrans
Trang 2Lêi më §Çu
Mọi tổ chức, mọi doanh nghiệp đều phải lập kế hoạch hoạt động, hoạch định chiến lược sản xuất
và từ đó tổ chức thực thi chiến lược Nhận thức được tầm quan trọng của công tác hoạch định chiến lược sản xuất, Công ty Vận tải dầu khí thực sự chú trọng đến công tác này Bởi lẽ dầu mỏ
và khí thiên nhiên vốn là tài nguyên quý hiếm và không thể tái tạo được Hiện nay và trong nhiều thập niên kế tiếp dầu khí vẫn là nguồn năng lượng, nhiên liệu quan trọng của nước ta và các
nước khác trên Thế giới Ngành Dầu khí nói chung và Tổng Công ty vận tải Dầu khí nói riêng
thường xuyên chú trọng xây dựng chiến lược để có thể đảm bảo cho Công ty hoạt động có hiệu quả và nắm thế chủ động trong sản xuất kinh doanh, từ đó có sức cạnh tranh với các đối thủ trong nước cũng như trên thị trường quốc tế
I GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TỔNG CÔNG TY CP VẬN TẢI DẦU KHÍ
1 Giới thiệu chung
Tên công ty: TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN VẬN TẢI DẦU KHÍ
Tên đối ngoại: PETROVIETNAM TRANSPORTATION CORPORATION
Tên viết tắt: PV Trans Corp
Số điện thoại: + 84-8- 911301 Số fax : +84-8- 911300
Website : PVTrans.com ; Email : pvtrans @ hcm.fpt.vn
PVTrans được thành lập ngày 27/05/2002, là doanh nghiệp Nhà Nước, đơn vị thành viên hạch toán độc lập trực thuộc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam Đến năm 2007 doanh nghiệp đã tiến hành cổ phần hóa, theo đó Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PetroVietNam) nắm 60% vốn điều lệ Hiện nay Tổng công ty có một trụ sở chính Thành phố HỒ CHÍ MINH và 10 công ty thành viên : Hà Nội 2; TP HCM 5; Thành phố Vũng Tàu 2 ; và Quảng Ngãi 1 và PVTrans sản xuất kinh doanh trên các lĩnh vực chính sau:
• Quản lý và kinh doanh vận tải dầu thô, các sản phẩm dầu - khí, hóa chất và các hàng hóa khác;
• Quản lý, thuê và cho thuê tàu biển, phương tiện vận tải biển, tàu dịch vụ chuyên dụng;
Trang 3• Dịch vụ kỹ thuật hàng hải dầu khí;
• Dịch vụ bảo dưỡng, sửa chữa, lắp đặt công trình dầu khí;
• Kinh doanh dịch vụ môi giới tàu biển, đại lý hàng hải và các dịch vụ hàng hải khác;
• Đào tạo và cung ứng thuyền viên;
• Dịch vụ sửa chữa, đóng mới tàu biển và các công trình dầu khí;
• Kinh doanh vận tải đường bộ và đường thủy nội địa;
• Dịch vụ giao nhận hàng hóa; Kinh doanh vận tải đa phương thức quốc tế;
• Dịch vụ cung ứng vật tư, trang thiết bị phục vụ cho ngành dầu khí và vận tải;
• Dịch vụ quản lý bất động sản, dịch vụ thương mại và đầu tư tài chính
• Dịch vụ hỗ trợ khác liên quan đến vận tải: kho bãi và lưu giữ hàng hóa; đại lý làm thủ tục hải quan
2 Cơ cấu tổ chức tại PVTrans:
PVTrans gồm có: Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Ban Tổng giám đốc và bộ máy giúp việc gồm 10 phòng ban trực thuộc
Trang 4Sơ đồ bộ máy quản lý của PVTrans.
II CHIẾN LƯỢC KINH DOANH CỦA PV TRANS.
1 Chiến lược chung của PVTrans:
Với định hướng phát triển chung của ngành Dầu khí là : “ Đưa dầu khí trở thành một ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của đất nước những thập kỷ tới; tiếp tục xây dựng ngành dầu khí Việt Nam hoàn chỉnh từ thăm dò, khai thác, chế biến, dự trữ, phân phối, dịch vụ và xuất nhập khẩu; tăng cường công tác tìm kiến- thăm dò- khai thác
và sử dụng hợp lý, có hiệu quả nguồn tài nguyên dầu khí trong nước; từng bước mở rộng hoạt động dầu khí ra nước ngoài; tích cực xây dựng công nghiệp lọc hóa dầu và sử dụng khí thiên nhiên; đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia; đa dạng hóa phương thức đầu tư và kinh doanh trong lĩnh vực dầu khí; từng bước hình thành và phát triển thị trường cạnh tranh; mở
Trang 5rộng và đẩy mạnh phát triển các loại hình dịch vụ dầu khí; phát triển nhanh, hiệu quả đi đôi với việc đảm bảo an ninh quốc phòng; đảm bảo chủ quyền quốc gia, bảo vệ tài nguyên, môi trường sinh thái và tiết kiệm năng lượng cho sự phát triển bền vững của đất nước”
Để góp phần thực hiện thành công chiến lược chung của Ngành Dầu khí Việt Nam, PVTrans được giao nhiệm vụ thành lập và phát triển đội tàu vận tải dầu thô, sản phẩm dầu - khí, và các loại hình kinh doanh khác để đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn của Ngành Dầu khí ở Việt Nam và trong khu vực
2 Phân tích môi trường kinh doanh vận tải dầu khí:
2.1 Môi trường bên ngoài:
* Dự báo cung - cầu dầu khí trên Thế giới giai đoạn từ nay đến 2025:
Theo dự báo của Tổ chức các nước xuất khẩu dầu lửa (OPEC) thì nguồn cung cấp năng lượng chính cho Thế giới trong thời gian tới vẫn là từ dầu khí và than với số lượng tiêu thụ dầu khí hiện nay là khoảng 100 triệu thùng/ngày và 119 triệu thùng/ngày vào năm 2025 Châu Á sẽ trở thành khu vực nhập khẩu ròng dầu mỏ lớn nhất thế giới vào năm 2020, vượt cả Châu Âu và Bắc Mỹ khi tốc độ tăng trưởng kinh tế của khu vực này cao hơn các khu vực khác trên Thế giới
Nhu cầu về khí có mức tăng trưởng trung bình là 2,3%/năm với mức tiêu thụ năm 2011 là 110.000 tỷ m3 và dự báo đến 2025 là 156.000tỷ m3 Mức tăng trưởng của cả giai đoạn này là 45%
và đóng góp vào mức tăng nhu cầu năng lượng của Thế giới 23,5% lên 25%
Với trữ lượng dầu khí hiện nay, dự kiến thế giới có thể khai thác thêm khoảng 32 năm nữa đối với dầu thô và trên 50 năm đối với khí
* Thương mại và vận tải dầu khí thế giới:
Tỷ trọng thương mại trên thế giới về dầu khí là lớn nhất so với tất cả các hàng hóa khác kể cả về
số lượng, giá trị, năng lực và công suất phương tiện chuyên chở Vận tải từ các kho chứa đóng vai trò hết sức quan trọng trong kinh doanh dầu khí, nó không chỉ là cầu nối giữa xuất khẩu và nhập khẩu mà còn là giữa các vùng khai thác tới các nhà máy lọc dầu, giữa nhà máy lọc dầu tới
hệ thống thương mại và giữa hệ thống này tới người tiêu dùng
Trên thế giới hiện nay có hai phương thức chính để vận tải dầu thô là: Tàu chở dầu và đường ống dẫn dầu Ngoài ra, dầu thô còn vận chuyển bằng đường sắt tuy nhiên số lượng rất ít (tuyến Nga -Trung Quốc) Vận tải bằng tàu biển có tính linh động cao hơn, giá rẻ và hiệu quả
* Tình hình phát triển đội tàu vận tải dầu khí trong khu vực:
Do tốc độ phát triển kinh tế của Trung Quốc trong các năm gần đây tăng mạnh, nhu cầu năng lượng của nước này cũng tăng đột biến Năm 2010 Trung Quốc đã nhập khẩu 150 triệu tấn và dự
Trang 6tính năm 2020 nhu cầu này sẽ là 250 triệu tấn Đội tàu của Trung Quốc hiện nay già hơn mức trung bình của thế giới là 6 năm tuổi (tuổi trung bình của đội tàu thế giới là 11,4 năm) và chỉ chuyên chở được 10% nhu cầu nhập khẩu Nhằm đảm bảo an ninh năng lượng, Trung Quốc đặt mục tiêu xây dựng đội tàu đủ năng lực vận tải 50% lượng dầu thô nhập khẩu, chủ yếu là các tàu VLCC (tàu chở dầu thôi loại lớn từ 150.000 đến 550.000DWT)
Đội tàu dầu của Nhật Bản có công suất 20 triệu tấn và đảm bảo được 80% nhu cầu nhập khẩu cho nước này
Đội tàu của Hàn Quốc có công suất 6,6 triệu tấn, đáp ứng 30% nhu cầu nhập khẩu
Thái Lan hiện có 7 tàu loại VLCC Thái Lan dự tính sẽ khuyến khích các công ty đầu tư tầu chở dầu bằng cách miễn thuế cho đội tàu mới đầu tư trong 8 năm đầu hoạt động
Malaysia: Công ty vận tải biển quốc tế Malaysia ( MISC) với đội tàu chở dầu có tổng số 53 chiếc, trong đó có 4 chiếc VLCC, 6 chiếc LNG lớn nhất thế giới phục vụ tại vùng Châu Á Thái Bình Dương và Châu Âu
Việt Nam: Tổng năng lực vận tải xăng dầu nhập khẩu của đội tàu Việt Nam hiện nay khoảng 280.400 DWT, bao gồm một số đơn vị như Vosco, Petrolimex, Vitaco, …
2.2 Môi trường bên trong:
* Năng lực vận tải dầu thô:
Hiện nay PVTrans mới có 03 tàu chuyên chở dầu thô với công suất từ 96.000 đến 105.000 DWT Với công suất thiết kế thì mỗi năm 03 chiếc trên chỉ vận chuyển được khoảng 1,5 triệu tấn dầu thô, trong khi đó nhu cầu vận chuyển dầu thô phục vụ các nhà máy lọc dầu tại Việt Nam và xuất khẩu vào khoảng 15 - 18 triệu tấn
Năng lực của đội tàu trong nước hiện còn rất nhỏ so với nhu cầu vận chuyển dầu thô xuất khẩu
và hoàn toàn không đủ khả năng đáp ứng cho nhu cầu vận chuyển nguyên liệu cho các nhà máy lọc dầu Dung Quất, Nghi Sơn nhà máy chế biến khí Dinh Cố
* Năng lực vận tải xăng dầu thành phẩm:
PV Trans hiện có 7 tàu chở xăng dầu thành phẩm có công suất từ 8.000 đến 46.000 DWT Do tàu
có công suất nhỏ nên chủ yếu phục vụ chuyên chở cho các nhà máy lọc dầu trong nước và phân phối xăng dầu nội địa
Hiện tại có 9 doanh nghiệp tham gia thị trường nhập khẩu xăng dầu, trong đó Petrolimex là đơn
vị nhập khẩu nhiều nhất và chiếm thị phần phân phối xăng dầu lớn nhất và cũng là đơn vị duy nhất có tàu chở từ nước ngoài về, các đơn vị còn lại phải thuê các đơn vị chuyên kinh doanh vận tải khác như Vosco, Vitaco… Do năng lực vận chuyển còn hạn chế, các nhà kinh doanh như
Trang 7Petrolimex cũng như các nhà kinh doanh phân phôi khác phần lớn nhập khẩu theo giá CIF Việc vận chuyển trong nước cũng không phải do các nhà phân phối nhiên liệu mà do một số công ty vận tải thực hiện
* Năng lực vận tải Gas, LPG và hóa chất:
- PV Trans hiện có 04 tàu chuyên chở Gas, LPG và hóa chất với khối lượng từ 1.800m3 đến 3.500m3, chủ yếu phục vụ vận chuyển và phân phối trong thị trường nội địa
3 Phân khúc nhu cầu thị trường:
Qua các thống kê và dự báo nhu cầu thị trường cũng như năng lực vận tải hiện có trong nước, ta thấy thị trường vận tải dầu thô và sản phẩm dầu còn rất lớn mà bất cứ công ty vận tải nào cũng có thể tham gia Tuy nhiên, đầu tư phương tiện vận tải dầu khí cần vốn lớn và không nhiều công ty
có khả năng đầu tư
3.1 Thị phần vận chuyển dầu thô:
Hiện nay 50% lượng dầu thô khai thác được của Việt Nam phải xuất khẩu do công suất các nhà máy lọc dầu còn hạn chế Sản lượng dầu thô dự kiến khai thác từ 2011- 2025 được thể hiện trong bảng sau:
(Nguồn: Chiến lược phát triển ngành dầu khí Việt Nam đến 2015 định hướng đến năm 2025)
Năng lực vận tải dầu thô xuất khẩu tối đa của Việt Nam chỉ khoảng 1,5 triệu tấn/năm Như vậy, năng lực đội tàu hiện có quá nhỏ so với yêu cầu vận chuyển tối thiểu 30% lượng dầu xuất khẩu theo chỉ đạo của Chính phủ
Ngoài ra, ngành Dầu khí còn cần phải đầu tư đội tàu đủ lớn để đảm bảo cung cấp kịp thời nguyên liệu dầu thô cho các nhà máy lọc dầu trong nước như Dung Quất công suất 6,5 triệu tấn dầu thô/năm, Nghi Sơn và Long Sơn năm 2012, công suất mỗi nhà máy khoảng 7 triệu tấn dầu thô/năm)
Năm Sản Lượng
( triệu tấn) Năm
Sản Lượng ( triệu tấn) Năm
Sản Lượng ( triệu tấn)
Trang 8Theo thiết kế, NMLD Dung Quất sẽ cần 14% dầu thô Trung Đông từ năm 2015, NMLD Nghi Sơn và Long Sơn có thể cần 50% hoặc 100% dầu thô Trung Đông từ khi bắt đầu hoạt động vào năm 2012 Do tyến đường từ Trung Đông về các NMLD ở Việt Nam xa hơn 6 lần so với các tuyến từ các dầu mỏ ở Việt Nam
Vì vậy nhu cầu vận chuyển dầu thô cho các NMLD khi sử dụng dầu Trung Đông sẽ càng tăng cao Khi đó cần đầu tư thêm loại tàu VLCC 250.000 DWT để tăng năng suất vận chuyển
3.2 Thị phần vận chuyển xăng dầu:
Từ số liệu thống kê ta có thể dự báo nhu cầu tiêu thụ trong các năm tới như sau:
Dự báo nhu cầu tiêu thụ xăng dầu 2011- 2015: (ĐVT: nghìn tấn)
( Nguồn : Petrolimex)
Hiện nay, phần lớn xăng dầu tiêu thụ ở Việt Nam được nhập từ Singgapore, một phần nhỏ khác từ các nước trong khu vực Đông Nam Á Năng lực vận chuyển xăng dầu nhập khẩu tối đa của đội tàu trong nước kể cả tàu 30.000- 40.000DWT chuẩn bị đầu tư của PetroVietNam, chỉ khoảng 8,65 triệu tấn/năm, chiếm khoảng 50% thị phần Thị phần vận tải nhập khẩu xăng dầu còn lại sẽ
do các công ty nước ngoài đảm nhận Như vậy, Việt Nam lại phải chi một khoản lớn ngoại tệ để thuê tàu mà vần không thể chủ động cho kế hoạc cung ứng nhiên liệu cho nền kinh tế quốc dân, đồng thời cũng không có khoản thu từ dịch vụ vận chuyển này nếu nó không được thực hiện bởi các doanh nghiệp vận tải biển trong nước
Đối với các sản phẩm của NMLD, ngành dầu khí cần đầu tư đội tàu của mình để chủ động giải phóng hàng cho các nhà máy một cách nhanh chóng, kịp thời, không thể phụ thuộc vào đội tàu của nước ngoài Nhu cầu vận chuyển nhập khẩu đến các kho đầu mối sau khi các NMLD đi vào hoạt động sẽ do các đơn vị khác thực hiện PetroVietnam sẽ thuê thêm tàu ngoài để đáp ứng khi
có nhu cầu nhập khẩu
3.3 Thị phần vận chuyển Gas, LPG và hóa chất:
Hiện tại trong nước mới chỉ có nhà máy Dinh Cố sản xuất được khoảng 310.000 tấn LPG mỗi năm, nhà máy lọc dầu Dung Quất là 271.000 tấn/năm, nhà máy Nghi Sơn 2012 mới đi vào hoạt
Trang 9động nên hàng năm Việt Nam vẫn cần nhập khẩu một lượng Gas, LPG và hóa chất rất lớn Tuy nhiên, năng lực của đội tàu trong nước còn rất nhỏ so với nhu cầu vận chuyển Hiện tại năng lực của đội tàu LPG trong nước chỉ mới đáp ứng được 48,3% nhu cầu vận chuyển nhập khẩu chưa kể cần phải có đội tàu để vận chuyển sản phẩm cho nhà máy Dinh Cố và nhu cầu tiêu thụ LPG trong nước ngày càng tăng
4 Tổng hợp điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của PVTrans:
Qua phân tích môi trường bên trong, bên ngoài cũng như nhu cầu của thị trường, ta có thể đưa ra một số điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của PVTrans như sau:
Những cơ hội ( O)
+ Việt Nam tham gia tổ chức thương mại
Thế giới (WTO) từ tháng 11/2006 là một cơ
hội cho PVTrans, tạo điều kiện cho PVTrans
mở rộng thị trường và trao đổi thương mại
Quốc tế
+ Sự phát triển ổn định của nền kinh tế Việt
Nam trong những năm qua tạo cơ sở vững
chắc cho hoạt động kinh doanh của PVTrans
+ Môi trường pháp lý của Việt Nam ngày
càng hoàn thiện, thông thoáng và gọn nhẹ
+ Việt Nam được đánh giá là quốc gia có an
ninh vững chắc nên tạo điều kiện cho
PVTrans thu hút được đầu tư nước ngoài
Những thách thức ( T)
+ Cạnh tranh diễn ra ngày càng khốc liệt
Ngoài sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nước mà còn cả các đối thủ nước ngoài
+ Quá trình hội nhập quốc tế tạo ra cơ hội nhưng đồng thời cũng tạo ra nhiều thách thức mới cho PVTrans
+ Khách hàng ngày càng khó tính, đòi hỏi PVTrans phải cung cấp các dịch vụ vận chuyển chính xác, kịp thời, chất lượng cao với giá cả cạnh tranh
Những điểm mạnh (S)
+ Là một trong những doanh nghiệp có đầy
đủ kinh nghiệm quản lý, điều hành và khai
thác các đội tàu vận tải trong nước cũng như
nước ngoài
+ Hình ảnh và uy tín của PVTrans đã và đang
được khẳng định trên thị trường trong nước
Đồng thời được các đối tác nước ngoài biết
đến và kí hợp đồng vận chuyển
+ Đội ngũ CBCNV có trình độ chuyên môn
cao, nhiều kinh nghiệm, có tinh thần đoàn
kết, sáng tạo trong công việc
+ PVTrans hiện đang sở hữu đội tàu có trọng
tải tương đối lớn và hiện đại
+ PVTrans đã tiến hành cổ phần hóa do đó cơ
Những điểm yếu( W)
+ Trọng tải của tàu nhỏ chủ yếu phục vụ thị trường trong nước, chưa đáp ứng được nhu cầu vận chuyển số lượng lớn và đường dài của Thế giới
+ Khả năng cạnh tranh và thích ứng với sự thay đổi của môi trường kinh doanh còn chậm
+ Chịu nhiều chi phối của điều kiện khí hậu,
tự nhiên
+ Hoạt động của PVTrans bị chia thành nhiều khu vực, không thể tập trung một nơi
+ Giá của các nguyên vật liệu cho đội tàu vẫn cao
+ Các con tàu đều phải mua của nước ngoài
Trang 10cấu tổ chức được sắp xếp và kiện toàn hợp lý
hơn, chức năng nhiệm vụ của các bộ phận
được quy định rõ ràng
với giá tương đối cao
+ PVTrans hàng năm vẫn phải thuê đội ngũ chuyên gia nước ngoài Đội ngũ nhân viên kỹ thuật trong nước chưa đáp ứng được khả năng điều hành và khai thác tàu PVTrans chưa có đội ngũ chuyên gia giỏi
III HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA PVTrans
1. Sự cần thiết của việc hoạch định chiến lược
Đảm bảo nguồn cung cấp và vận chuyển nguyên liệu dầu cho sự phát triển chung của quốc gia, giải phóng sản phẩm cho các nhà máy một cách kịp thời, giảm sự phụ thuộc vào các đội tàu nước ngoài
Nhằm đón đầu phục vụ nhu cầu vận chuyển xuất khẩu dầu thô và nhập khẩu dầu thành phẩm cho các nhà máy lọc dầu
Kịp thời cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy lọc dầu và giải phóng thành phẩm một cách nhanh nhất cho các nhà máy lọc dầu, mang lại hiệu quả kinh tế cho đất nước, góp phần hoàn thiện dịch vụ của ngành Dầu khí
2 Các mục tiêu cụ thể của Tổng công ty
2.1 Mục tiêu phát triển thị trường
Hợp tác với đối tác nước ngoài, phát huy mọi nguồn lực sẵn có, thu hút vốn đầu tư trong nước và nước ngoài nhằm mở rộng thị trường
Huy động vốn đầu tư thông qua việc phát hành cổ phiếu
Khai thác tối đa thị trường trong nước, tìm kiếm cơ hội vươn ra thị trường Quốc tế, hội nhập kinh tế quốc tế
2.2 Mục tiêu phát triển công nghệ
Cập nhật và ứng dụng các thành quả Khoa học công nghệ hiện đại, tiên tiến của Thế giới
Tăng cường kinh phí cho học tập cải tiến công nghệ Cân nhắc xem xét kỹ các hơp đồng chuyển giao công nghệ, tiếp cận các công nghệ hiện đại trên thế giới, tránh việc trở thành bãi rác thải cho những công nghệ lạc hậu cho nước khác
2.3 Mục tiêu phát triển nguồn nhân lực
Cần có kế hoạch đào tạo đội ngũ thuyền viên, cán bộ quản lý để đảm bảo sau một thời gian nhất định phần lớn các vị trí chủ chốt trên tàu và trong bộ máy quản lý sẽ do người Việt Nam đảm nhiệm