Đề tài:Doanh nghiệp Việt Nam của các anh chị đã rất thành công và Ban Giám đốc đã chỉ đạo các nhà lãnh đạo doanh nghiệp mở rộng kinh doanh trên một nền tảng toàn cầu – môi trường cạnh t
Trang 1Đề tài:
Doanh nghiệp Việt Nam của các anh chị đã rất thành công và Ban Giám đốc
đã chỉ đạo các nhà lãnh đạo doanh nghiệp mở rộng kinh doanh trên một nền tảng toàn cầu – môi trường cạnh tranh quốc tế.
Các anh chị hãy viết một bài phân tích chi tiết về cách thức các anh chị sẽ chuẩn bị cho doanh nghiệp hiện tại của mình bước vào cạnh tranh trên quy
mô quốc tế.
Cần thiết phải có những thay đổi nào để có thể cạnh tranh trên quy mô toàn cầu? Tại sao những thay đổi này lại cần thiết?
Những điểm mạnh và điểm yếu của các thông lệ kinh doanh ở Việt nam là gì? Doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với những thách thức nào trong môi trường kinh doanh quốc tế mà không có trong môi trường kinh doanh Việt Nam? Các anh chị làm thế nào để vượt qua những thách thức này? Một bài phân tích so sánh sẽ hữu ích.
Bài làm:
1 Mở đầu:
Doanh nghiệp Việt Nam của chúng tôi là Công ty cổ phần dệt may Thành Nam Trong những năm qua, mặc dù là một công ty nhỏ, công ty chúng tôi đã
có nhiều thành công trên thị trường nội địa và đang trên đà phát triển Vừa qua, Ban Lãnh đạo Công ty đã quyết định mở rộng kinh doanh ra thị trường thế giới thông qua xuất khẩu hàng dệt may Chúng tôi đang chuẩn bị phương
án cạnh tranh trên thị trường thế giới, đây là những vấn đề rất mới mẻ với chúng tôi Vì vậy, chúng tôi đang nghiên cứu, có những thay đổi căn bản để bước ra một môi trường kinh doanh hoàn toàn mới- môi trường kinh doanh
Trang 2Chúng tôi bắt đầu quá trình nghiên cứu bằng việc tìm hiểu thực trạng môi trường kinh doanh ở trong nước, để từ đó tìm hiểu những khác biệt ở môi trường thế giới để thích nghi và nâng cao năng lực cạnh tranh
2 Đặc điểm môi trường kinh doanh Việt Nam
2.1.Những thuận lợi cơ bản cho nhà đầu tư:
Nền kinh tế Việt Nam có tiềm năng tăng trưởng lớn vì có lực lượng lao động hùng hậu, linh hoạt, dễ thích ứng, đang được đầu tư ở mức cao
Bằng việc ban hành mới và điều chỉnh, bổ sung các luật về kinh doanh, như Luật Cạnh tranh, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Thương mại, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt có thể nói rằng hệ thống pháp luật về kinh doanh của Việt Nam đã tương đối đầy đủ và đồng bộ, bảo đảm cơ sở pháp lý để mở rộng các quyền về tự do kinh doanh cho tất cả các thành phần kinh tế
Tất cả các doanh nghiệp, không phân biệt khu vực kinh tế nhà nước, khu vực
tư nhân và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đều được tự do kinh doanh những hàng hóa và dịch vụ mà pháp luật không cấm
Ở khu vực kinh tế tư nhân, chính sách về gia nhập thị trường, trong đó đặc biệt là khâu thành lập doanh nghiệp và đăng ký kinh doanh, đã tạo ra một bước đột phá cho sự phát triển của khu vực tư nhân
Môi trường kinh doanh cho các đầu tư trực tiếp nước ngoài đã được cải thiện trên nhiều mặt, các công ty có vốn đầu tư nước ngoài được bình đẳng về pháp
lý như các doanh nghiệp Việt Nam
Năng lực quản lý và điều hành của Chính phủ ngày càng tốt hơn và hiệu quả hơn Môi trường kinh doanh về cơ bản đã bảo đảm thuận lợi cho phát triển kinh doanh ở Việt Nam và xu hướng cải thiện ngày càng tốt hơn trong so sánh
Trang 3Trong thể chế công ty, tính công khai minh bạch của hệ thống cũng được cải thiện rõ rệt Sự ra đời và phát triển của thị trường chứng khoán và yêu cầu công khai minh bạch thông tin đối với các công ty niêm yết cùng với việc các công ty, doanh nghiệp tích cực cải cách các tiêu chuẩn về kế toán và kiểm toán phù hợp với thông lệ quốc tế đã góp phần đáng kể cho việc cải thiện thể chế công ty
2.2 Những hạn chế, bất hợp lý trong thông lệ kinh doanh ở Việt Nam:
Nhiều doanh nghiệp nước ngoài, đại diện các hiệp hội kêu ca về gánh nặng thủ tục hành chính khi xúc tiến đầu tư như: thời gian phê duyệt cấp phép kéo dài, thủ tục còn cồng kềnh
Việc doanh nghiệp đưa tiền “phong bì” cho các công chức nhà nước khi giải quyết công việc diễn ra ở nhiều nơi Bên cạnh đó, trong quan hệ doanh nghiệp
- doanh nghiệp, xuất hiện thông lệ chi tiền “lại quả” theo giá trị hợp đồng
Về vấn đề bản quyền, Việt Nam đã chính thức gia nhập công ước Bern năm
2004 nhưng lòng tham của một số tổ chức, cá nhân khiến cho việc vi phạm bản quyền vẫn còn phổ biến, khiến nhiều nhà đầu tư quốc tế e ngại khi quyết định mở rộng thị trường vào Việt Nam
3 Những thuận lợi, khó khăn của doanh nghiệp Việt Nam trong môi trường kinh doanh quốc tế:
3.1 Những thuận lợi và cơ hội:
Quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng giúp các doanh nghiệp Việt Nam giảm được thuế nhập khẩu và tiếp cận với các nguồn cung mới Đặc biệt, lợi nhuận cho các doanh nghiệp cũng được gia tăng nhờ gia tăng doanh số đầu ra và tiết kiệm chi phí đầu vào Đây là những lợi ích lớn nhất cho các doanh nghiệp Việt Nam
Trang 4Từ khi Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức Thương mại lớn nhất thế giới WTO, đa số các doanh nghiệp đều gia tăng nguồn lực lao động
và phần lớn các doanh nghiệp có xu hướng mở rộng quy mô kinh doanh Doanh nghiệp Việt Nam có lực lượng lao động dồi dào,trẻ tuổi, cần cù, khéo tay, ham học hỏi, giá nhân công thấp Doanh nhân Việt là rất cần cù chịu khó, không ngại gian khổ, khó khăn, sức làm việc tốt, khả năng chịu áp lực cao Có
độ linh hoạt và khả năng nắm bắt cơ hội thị trường
Ngành dệt may là ngành mà Việt Nam có thế mạnh trong cạnh tranh quốc
tế Xét về mặt tăng trưởng xuất khẩu, sau 5 năm gia nhập WTO, năm 2012 Việt Nam đã vươn lên đứng trong nhóm 10 quốc gia có kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may hàng đầu thế giới Xét về mặt thị phần, đến nay, hàng dệt may xuất khẩu đã có mặt tại khoảng 180 thị trường trên thế giới Các thị trường trọng điểm có thể kể tới là Mỹ, EU, Nhật Bản, Canada, Hàn Quốc và
Austrailia
Kể từ tháng 9/2011, Tập đoàn Dệt May Việt Nam (Vinatex) trở thành thành viên của Liên đoàn các nhà sản xuất Sợi dệt quốc tế (ITMF), từ đây sẽ có
sự kết nối trực tiếp với ngành công nghiệp dệt của nhiều quốc gia trên
thế giới; tham gia sâu hơn nữa vào chuỗi cung ứng dệt may toàn cầu Đây
là cơ hội lớn để các doanh nghiệp dệt may Việt Nam mở rộng thị trường xuất khẩu
3.2 Những khó khăn, thách thức doanh nghiệp Việt Nam phải đối mặt:
Khi mở rộng kinh doanh ra nước ngoài, khó khăn lớn nhất của doanh nghiệp Việt Nam là sự thiếu hụt thông tin về thị trường Để tiêu thụ sản phẩm, các doanh nghiệp luôn có nhu cầu được tiếp cận với các thông tin liên quan đến đầu ra của sản phẩm bao gồm: nhu cầu- thị hiếu của người tiêu dùng, thông tin
Trang 5không tìm được thị trường đầu ra thì mọi nỗ lực của doanh nghiệp về cải tiến sản phẩm, tiết kiệm chi phí sản xuất… sẽ không có ý nghĩa gì
Quy mô doanh nghiệp Việt Nam còn nhỏ, khả năng liên kết, hợp tác, chia sẻ thông tin giữa các doanh nghiệp kém Hậu quả là rất nhiều cơ hội lớn đã bị bỏ qua do đối tác nước ngoài đặt hàng lớn nhưng DN không có khả năng đáp ứng, trong khi lại không chịu liên kết với DN khác cùng làm
Phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam còn thiếu kinh nghiệm trên thương trường, đặc biệt là kinh nghiệm xử lý các cơ hội cũng như nguy cơ mang tính toàn cầu, khả năng chịu đựng các va đập, rủi ro trong kinh doanh thấp Chưa thực sự am hiểu các thông lệ, luật phát kinh doanh quốc tế
Nguồn nhân lực chất lượng thấp Đội ngũ chủ doanh nghiệp còn nhiều hạn chế về kiến thức và kỹ năng quản lý Số lượng doanh nghiệp có chủ doanh nghiệp, giám đốc giỏi, trình độ chuyên môn cao và năng lực quản lý tốt chưa nhiều Một bộ phận lớn chưa được đào tạo bài bản về kinh doanh và quản lý, còn thiếu kiến thức và kỹ năng quản trị kinh doanh, đặc biệt là yếu về năng lực kinh doanh quốc tế
Năng suất lao động thấp, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm cao làm yếu khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam So sánh giữa sản phẩm trong nước với các nước như Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia, Philipines, thì các sản phẩm sản xuất của các doanh nghiệp Việt Nam
có giá thành cao hơn, mặc dù giá nhân công lao động thuộc loại thấp so với các nước trong khu vực
Năng lực cạnh tranh về tài chính vẫn còn kém Quy mô vốn và năng lực tài chính (kể cả vốn của chủ sở hữu và tổng nguồn vốn) của nhiều DN còn rất nhỏ bé, vừa kém hiệu quả, vừa thiếu tính bền vững
Trang 6Về công nghệ, trong những năm qua, mặc dù nhiều doanh nghiệp đã đổi mới máy móc thiết bị và công nghệ từ các nước công nghiệp phát triển nhưng tốc
độ đổi mới công nghệ, trang thiết bị còn chậm, chưa đồng đều
Hầu hết các doanh nghiệp ở Việt Nam chưa xây dựng được các thương hiệu mạnh, chưa khẳng định được uy tín và khả năng cạnh tranh trên thị trường khu vực và quốc tế Sự yếu kém về thương hiệu đã góp phần làm yếu khả năng cạnh tranh
Doanh nghiệp Việt thiếu tập trung xây dựng chiến lược kinh doanh, lựa chọn sản phẩm cốt lõi và thị trường trọng điểm hoặc nếu có thì chiến lược mang tính ngắn hạn, thời cơ, thiếu sự cam kết lâu dài Chưa đầu tư nhiều cho
nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới
Về hệ thống kênh phân phối, do các doanh nghiệp Việt Nam có quy mô vừa
và nhỏ là chủ yếu, chưa thiết lập được hệ thống kênh phân phối hàng hóa đến người tiêu dùng cuối cùng, phần lớn vẫn áp dụng hình thức các kênh phân phối qua các trung gian thương mại do đó chưa kiểm soát được quá trình phân phối và tiêu thụ sản phẩm, chưa nắm bắt trực tiếp những thông tin phản ánh tình hình thị trường từ khách hàng
Về quảng cáo, nhiều doanh nghiệp mới chỉ dừng lại ở việc in ấn và phát hành các tờ rơi, lập các trang web giới thiệu về doanh nghiệp Chi phí dành cho quảng cáo còn thấp
4 Những giải pháp giúp doanh nghiệp vượt qua thách thức, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trong môi trường kinh doanh toàn cầu:
4.1 Những thay đổi cần thiết trong cách thức kinh doanh:
Yêu cầu đầu tiên là chọn đúng đối tượng mà doanh nghiệp hướng tới, phân
Trang 7tiêu giống mình, xác định xem họ đang ở mức nào và so sánh với chính mình
để thấy rõ sự mạnh, yếu, từ đó có giải pháp phát huy điểm mạnh, khắc phục điểm yếu, hoặc tránh đối đầu với một đối thủ mạnh Ví dụ như, hàng dệt may Trung Quốc áp dụng chiến lược giá rẻ cho phân khúc thị trường bình dân thì
DN dệt may Việt Nam nên áp dụng chiến lược Khác biệt - hướng tới phân khúc khách hàng trung lưu
Rà soát lại những công đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh, làm rõ các khâu không hợp lý, các khâu yếu nhằm cắt giảm chi phí, nâng cao năng suất, chất lượng hạ giá thành để cạnh tranh; Lập chương trình đổi mới công nghệ Nghiên cứu phát triển sản phẩm mới
Đào tạo cán bộ lãnh đạo, quản lý, chuyên gia và công nhân kỹ thuật, làm cho khoa học công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực và kỹ năng quản lý hiện đại Coi chất lượng nguồn nhân lực là tiền đề, là lợi thế cạnh tranh dài hạn Bồi dưỡng, phát triển năng lực quản lý chiến lược và tư duy chiến lược cho đội ngũ giám đốc và cán bộ kinh doanh, cần chú trọng đặc biệt những kỹ năng: phân tích kinh doanh, dự đoán và định hướng chiến lược, quản trị chiến lược, quản trị rủi ro
Nâng cao khả năng và giao dịch quốc tế cho đội ngũ lãnh đạo DN, cần chú trọng phát triển những kiến thức, kỹ năng chủ yếu như: Năng lực về ngoại ngữ; Kiến thức cơ bản về văn hoá, xã hội, lịch sử trong kinh doanh quốc tế; Giao tiếp quốc tế và xử lý sự khác biệt về văn hoá trong kinh doanh; Thông lệ quốc tế trong lĩnh vực /ngành kinh doanh
Cần rà soát để điều chỉnh chiến lược thị trường, thiết lập chuỗi cung ứng Đối với doanh nghiệp dệt may phải hình thành chuỗi cung ứng từ trồng bông, kéo sợi, dệt vải đến nhuộm màu
Trang 8Tăng cường mối liên kết với các đối tác để tăng sức mạnh của chính doanh nghiệp Lối làm ăn theo kiểu win - win, có nghĩa là cả hai cùng thắng là lối làm ăn nên được phát huy để cùng hưởng lợi và cùng chia sẻ khó khăn
4.2 Một số kinh nghiệm nâng cao sức cạnh tranh cần học hỏi từ các doanh nghiệp dệt may Trung Quốc:
Cần quan tâm tập trung vào việc nâng cao thương hiệu dệt may để sản phẩm
có chỗ đứng trong thị trường quốc tế và tạo ra sức sống lâu dài cho sản phẩm,
vì các sản phẩm dệt may của doanh nghiệp Việt Nam còn ít chủng loại, mẫu
mã cải tiến chậm, chưa đáp ứng được nhu cầu thời trang của thị trường quốc
tế Cần tập trung nghiên cứu, cải tiến mẫu mã, thiết kế, phát triển công nghiệp phụ trợ nhằm tạo ra thương hiệu riêng biệt Cần đạt được các tiêu chuẩn quốc
tế như ISO 9001-2000, SA8000, AHSAS 18001, Oko-Tex 100…
Việc phát triển kênh phân phối, logistics xuất khẩu dệt may của Trung Quốc rất linh hoạt với các hình thức hợp tác, đại
lý, liên doanh liên kết với các đối tác ở các nước sở tại; Các hoạt động xúc tiến thương mại mang tầm quốc gia được quản lý thống nhất là những kinh nghiệm quý mà các DN Việt Nam nên học hỏi
Xây dựng và thực thi những biện pháp đối phó có hiệu quả các rào cản thương mại của các nước nhập khẩu đối với hàng dệt may xuất khẩu, ví dụ như thuế chống bán phá giá… hoặc các rào cản mang tính kỹ thuật khác
Kết luận:
Để mở rộng kinh doanh ra thị trường quốc tế, Công ty CP dệt mayThành Nam cần xác định rõ điểm mạnh, điểm yếu
Trang 9chờ trong môi trường kinh doanh thế giới Cần có sự thay đổi đồng bộ cả về chiến lược kinh doanh, liên kết,
marketing, lựa chọn phân khúc thị trường, thiết lập chuỗi cung ứng, đào tạo nguồn nhân lực kinh doanh quốc tế, học tập một số kinh nghiệm từ các doanh nghiệp dệt may xuất khẩu Trung Quốc đồng thời nâng cao năng lực tài chính, công nghệ để nâng cao sức cạnh tranh,chiếm lĩnh thị trường quốc tế./
Tài liệu tham khảo:
http://www.saigondautu.com.vn
http://viennghiencuuthuongmai.com.vn