Phân tích thị trường - Phân khúc thị trường: Đối tượng có nhu cầu đối với sản phẩm bếp hoá khí chủ yếu là những hộ dân sống ở các vùng nông thôn Việt Nam và một số ít những người dân sốn
Trang 1CHIẾN LƯỢC KINH DOANH, PHÂN TÍCH THỊ TRƯỜNG VÀ PHÂN TÍCH LỢI THẾ CẠNH TRANH CÔNG TY SÁNG TẠO VIỆT
MỤC LỤC
Trang
II Chiến lược kinh doanh của công ty, phân tích thị trường và
phân tích lợi thế cạnh tranh cần ưu tiên.
4
Environment techology
Trang 2I - Giới thiệu chung.
Việt Nam là nước sản xuất nông nghiệp, mỗi năm có khoảng 600 triệu tấn nguyên liệu sinh thái - thực vật các loại, đâu đâu cũng thấy những thứ thải bỏ như rơm rạ, thân cây ngô, vỏ thóc, vỏ quả (sọ dừa, vỏ lạc ), cành cây, mùn cưa, phoi bào, cỏ và các loại thực vật bãi thải của các nhà máy mía đường, nhà máy thuốc lá, xí nghiệp dược phẩm đa phần đều bị vứt bỏ, đốt bỏ hoặc được tái sử dụng nhưng hiệu quả rất thấp Điều đó không những gây ô nhiễm cực lớn cho môi trường, đáng tiếc hơn là lãng phí một nguồn tài nguyên quý giá Xuất phát
từ lý do trên Công ty sáng tạo Việt đã phát minh ra sản phẩm bếp hoá khí vừa
giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường vừa góp phần giảm áp lực thiếu chất đốt dùng cho sinh hoạt
Bếp hóa khí sử dụng nguồn nhiên liệu
từ phế thải Xenlulo vô tận của Việt Nam, là
sáng chế có ý nghĩa lớn về kinh tế, môi
trường, đồng thời còn có tác dụng hạn chế
việc chặt cây rừng làm chất đốt; loại bếp này
có thể tiết kiệm đến 75% so với sử dụng các
loại bếp khác ( 01 kg phế thải khô cho thời
gian cháy ở chế độ nấu bình thường khoảng 60 -70 phút) Bếp có đặc thù khi khí cháy trên mặt bếo tấm lưới bếp đỏ như than tổ ong, nhưng khi cháy không có khói, không có mùi, không đen nồi, không gây cháy nổ và đặc biệt có thể nướng trực tiếp trên mặt bếp, lượng nhiêt sinh ra từ 700 đến 1000oC và có thể tăng giảm nhiệt độ theo ý muốn Sản phẩm không dùng hóa chất, chỉ cần cho phế thải tự nhiên hoặc nông nghiệp có chứa xenlulo vào thùng,
Trang 3sau 5 phút có thể thể sử dụng Bếp hóa khí gồm các bộ phận: Thùng chứa nhiên liệu, bình chế khí và đốt trực tiếp, thiết bị lọc sạch, đường ống và bếp Thùng nhiên liệu được làm từ thép, bên trong là ruột chịu lửa chuyên dụng Nguyên liệu được đưa vào buồng hóa khí thể tích 0,3m 3 Sau khi áp dụng nhiệt giải hấp khô và phản ứng ôxy hóa sinh ra thể khí mang tính cháy được với sự trợ giúp của khí nitơ và ôxy Bếp có tính năng làm cho nhiên liệu đầu vào bốc cháy và tạo khí CO (cácbon điôxit), CH4 (Methane), H (Hydrogen), CH3CH3 (Ethane)
Toàn bộ khí thải thoát ra này được tự động thu vào hệ thống phân ly qua các bước: Thiết bị khử sạch hắc ín, khói, tro, hơi nước, từ đó tạo thành chất khí đốt sạch, rồi đi qua ống dẫn khí đưa tới mặt bếp và chuyển hoá thành bức xạ nhiệt tia hồng ngoại Bản thân tia hồng ngoại có mang một nguồn năng lượng không cần đến không khí dẫn xuất, tự thân nó đã có năng lực xuyên thấu cực mạnh nên nhiệt được nâng lên rất nhiều, hiệu suất chuyển hoá năng lượng được nâng cao gấp nhiều lần so với nguyên liệu đốt trực tiếp Việc sử dụng bếp cũng rất đơn giản Người sử dụng bỏ nhiên liệu vào thùng hóa khí và đậy nắp lại Mở các van theo hướng dẫn và bật lửa (như bếp gas) Quá trình đun nấu có thể tăng giảm ngọn lửa trên bếp bằng cách điều chỉnh tốc độ quạt gió hoặc điều chỉnh khóa bếp
II.
Chiến lược kinh doanh của công ty, phân tích thị trường và phân tích lợi thế cạnh tranh cần ưu tiên.
2.1 Chiến lược kinh doanh:
- Mục tiêu
Là Doanh nghiệp đầu tiên đưa ra sản phẩm bếp hoá khí cùng với tính năng đặc biệt của nó Nên chiến lược kinh doanh là đưa sản phẩm đến mọi gia đình và sản phẩm có thể dần thay thế được những sản phẩm khác Chiếm lĩnh thị trường, khẳng định vị trí độc tôn của mình trên thị trường Việt Nam
Trang 4- Môi trường
Hiện nay, nhìn chung tất cả các yếu tố về chính sách, pháp luật đều ủng hộ
phát triển sản phẩm mang tính phát minh cụ thể là bếp hoá khí vì một mặt tạo
việc làm cho người dân, mặt khác góp phần vào sự phát triển chung bảo vệ môi trường, hơn thế nữa nó giải quyết cho vấn đề thiếu hụt chất đốt và càng trở lên đắt đỏ…
2.2 Phân tích thị trường
- Phân khúc thị trường:
Đối tượng có nhu cầu đối với sản phẩm bếp hoá khí chủ yếu là những hộ dân sống ở các vùng nông thôn Việt Nam và một số ít những người dân sống ở ven thành thị Khách hàng ở đây họ đều có mức thu nhập không cao Để đưa các sản phẩm này đến được với người tiêu dùng Công ty mở các đại lý (cấp I) cấp tỉnh trên toàn quốc, còn tại các đại lý cấp tỉnh sẽ mở các đại (cấp II) để người dân có thể tiếp cận với sản phẩm gần nhất và dễ dàng nhất
- Đánh giá nhu cầu từng khúc thị trường:
Hiện tại thị trường Việt Nam, sản phẩm bếp hoá khí đang ở giai đoạn phát triển: Giai đoạn nầy sản phẩm đã được thị trường chấp nhận và doanh số bán và lợi nhuận tăng nhanh Đặc trưng của giai đoạn phát triển được thể hiện qua doanh số bán theo đơn vị sản phẩm ngày càng tăng và thôi thúc sự quan tâm của khách hàng Trong giai đoạn này, Công ty nên định giá như thế nào? Mặc dù Công ty đi đầu trong lĩnh vực bếp hoá khí nhưng không vì thế Công ty định giá theo kiểu “hớt váng” Mà Công ty phải giảm giá dần, tiếp cận các phân khúc thị trường khác nhạy cảm về giá hơn Một nhà sản xuất có được vị trí hàng đầu trên đường cong kinh nghiệm cũng sẽ muốn giảm giá dần trong giai đoạn này Chiến lược này sẽ duy trì lợi nhuận doanh số bán theo đơn vị sản phẩm và ngăn cản các đối thủ nhập cuộc sau
Trang 52.3 Lợi thế cạnh tranh
Đây là sản phẩm sáng chế độc quyền của Công ty, có rất nhiều ưu điểm về hiệu quả, chất lượng sử dụng, giảm ô nhiễm môi trường Thông qua việc phân tích thị trường, sản phẩm chủ yếu phục vụ cho đối tượng khách hàng có thu nhập không cao, giá thành một chiếc bếp chỉ từ
2-3tr đồng (tương đương 1 chiếc bếp ga trung
bình) cho thời gian sử dụng 10-15 năm Cho
nên, ưu tiên cạnh tranh của Công ty là: chi phí
hoạt động thấp Như vậy, để thực hiện mục tiêu
chiến lược kinh doanh đề ra, Công ty phải có
những chiến lược tác nghiệp dài hạn và ngắn hạn Tác nghiệp dài hạn: Quyết định về quá trình; quyết định về công suất; định vị và bố trí sản xuất Tác nghiệp ngắn hạn bao gồm: Dự báo nhu cầu, quản lý hàng tồn kho, chuỗi cung ứng… Những tác nghiệp trên góp phần thực hiện tốt kế hoạch sản xuất đề ra, nhằm giảm thiểu chi phí, hạ giá thành sản phẩm một cách tối đa
III - Quyết định tác nghiệp dài hạn
3.1 Quản lý quá trình.
Quản lý quá trình là sự lựa chọn các yếu tố đầu vào, các hoạt động thực hiện, các dòng chảy công việc, các phương pháp để biến đổi các yếu tố đầu vào thành các yếu tố đầu ra Như vậy, vấn đề đặt ra ở đây là chọn lựa quá trình như thế nào để phù hợp với hoàn cảnh doanh nghiệp và môi trường kinh doanh Hãy bắt đầu từ các chiến lược kinh doanh dựa trên các ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp mình, vạch ra các quá trình mà doanh nghiệp cần thực hiện trong quá trình tạo ra sản phẩm Xuất phát từ đặc điểm Công ty chỉ duy nhất sản xuất ra 1 loại sản phẩm và Công ty đi đầu trong việc chế tạo ra bếp hoá khí Nên máy móc thiết bị của Công ty chưa đạt tới sự hiện đại hoá cao nhất định nên Công ty lựa chọn quá trình sản xuất theo sản xuất theo dây chuyền
Trang 63.2 Quyết định về công suất.
Việc hoạch đinh công suất rất quan trọng trong quản trị tác nghiệp Bởi lẽ: Nếu công suất lớn hơn nhu cầu kéo theo tốn kém về chi phí đầu tư, tiêu tốn nhiều nguyên nhiên vật liêu; Còn nếu như công suất nhỏ hơn nhu cầu sẽ mất đui
cơ hội không đáp ứng nhu cầu thị trường từ đó mất đi doanh thu đồng nghĩa với việc chưa khai thác được thị trường hiệu quả Như đã nêu ở trên Công ty lựa chọn quá trình sản xuất theo dây chuyền Vì vậy, công việc tiếp theo Công ty lên
kế hoạch công suất sao cho phù hợp kế hoạch sản xuất cũng quá trình sản xuất của Công ty Việc lựa chọn công suất cần phải xem xét các yếu tố sau:
- Xác định công suất dự phòng nhằm đáp ứng được sự biến động của cầu;
- Công suất nên mở rộng trước hay sau khi cầu biến động
Như vậy, để thực hiện kế hoạch sản xuất của Công ty, Công ty đang xây dựng 3 phương án công suất như sau:
Đvị tính: tỷ đồng
1 Dây chuyền sản xuất có công suất
thấp
2 Dây chuyền sản xuất có công suất
TB
3 Dây chuyền sản xuất có công suất
cao
Vấn đề ở đây ta phản chọn phương án có công suất tối ưu
Theo chỉ tiêu Maxmin: Lựa chọn phương án có công suất thấp nhất có giá trị tiền tệ mong đợi là: 10tỷ
Trang 7Theo chỉ tiêu Maxmax: Lựa chọn phương án có công suất cao nhất có giá trị tiền tệ mong đợi là: 17tỷ
Theo chỉ tiêu may rủi ngang nhau: Lựa chon phương án có công suất trung bình có giá trị tiền tệ mong đợi là: 14tỷ
Theo chỉ tiêu giá trị cơ hội bỏ lỡ thấp nhất:
Đvị tính: tỷ đồng
trường
Giá trị cơ hội bỏ lỡ max
1 DCSX có công suất
thấp
Kết luận: Chọn phương án có công suất trung bình vì có giá trị cơ hội bỏ lỡ lớn nhất là 3 thấp nhất trong giá trị bỏ lỡ lớn nhất của các phương án đem so sánh.
3.3 Định vị doanh nghiệp.
Định vị doanh nghiệp có ý nghĩa rất quan trọng đối với sản xuất kinh doanh đối với bất kỳ doanh nghiệp nào Bởi:
- Là giải pháp quan trọng tạo ra lợi thế trong cạnh tranh và nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh ;
- Tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp xúc trực tiếp với khách hàng, nâng cao khả năng thu hút khách hàng;
Trang 8- Là biện pháp quan trọng giảm giá thành sản phẩm;
- Định vị doanh nghiệp hợp lý còn tạo một nguồn lực quan trọng cho doanh nghiệp và nó mang tính chiến lược dài hạn đối với doanh nghiệp
Xuất phát từ ưu tiên cạnh tranh của Công ty Sáng Tạo Việt là chi phí hoạt động doanh nghiệp thấp Đồng nghĩa với việc Công ty luôn tìm tòi những biệp pháp nhằm tiết giảm mọi chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm để phù hợp với nhu cầu thực tế của người dân Với quy mô hiện tại của Công ty chỉ có thể đáp ứng số lượng hàng vừa phải Trong điều kiện này, nếu theo kế hoạch sản xuất dài hạn đã đưa ra thì Công ty khó mà hoàn thành được Thêm vào đó hoạt động của Công ty đang trong trạng thái quá tải Vì thế mà giá thành sản phẩm của Công ty cũng đang ở mức cao Để thực hiện chiến lược kinh doanh của Công ty, lãnh đạo Công ty đang lên kế hoạch xây dựng một nhà máy sản xuất mới nhằm giảm trạng thái quá tải của Công ty, và mở rộng quá trình sản xuất Một vấn đề đặt ra ở đây là Công ty đang cân nhắc việc xây thêm một nhà máy tại Việt Trì - Phú Thọ hoặc là Công ty định xây thêm nhà máy ở Thái Nguyên Quan khảo sát Công ty thu thập một số thông tin như sau: Nếu xây dựng ở Việt Trì thì nguồn lao động đông đảo có tay nghề, chi phí lao động thấp, và không phải xây dựng thêm bộ máy quản lý Còn nếu xây dựng ở Thái Nguyên thì cũng
có những lợi thế nhất định như gần nơi cung cấp nguyên vật liệu vì thế chi phí vận chuyển nguyên vật liệu 4%, Công ty có thể thuê lại một nhà máy ngừng hoạt động có quy mô phù hợp với nhu cầu của Công ty Như vậy, qua khảo sát thực tế cũng như thực trạng của Công ty nên đã đưa ra phương pháp trọng số đơn gian
để định vị doanh nghiêp
số
Điểm số Điểm số đã tính đến trọng số
Nguyên
Phú Thọ Thái Nguyên
Trang 9Chi phí chung 0.2 60 75 0.12 0.15
Nhân tố văn
Theo kết quả trên, ta chọn nhà máy sản xuất tại Thái Nguyên vì có tổng số điểm cao hơn
3.4 Bố trí sản xuất.
Với mục tiêu tối giản chi phí phát sinh từ việc hư hao nguyên liệu và vận chuyển sản phẩm trung gian giữa các công đoạn, bộ phận Việc bố trí sản xuất hợp lý sẽ ảnh hưởng đến: năng suất, chất lượng, thời gian và tận dụng tối đa nguồn lực; đến sự di chuyển các nguồn lực, đến sự di chuyển và tâm lý của người lao động… Hay nói một cách khác nó làm cho các bộ phận kết nối trung gian thường được được bố trí gần nhau nhất Theo quá trình sản xuất của Công
ty theo tính chuyên môn hoá, các khâu sản xuất được lặp đi lặp lại liên tục và có khối lượng lớn nên Công ty áp dụng phương thức bố trí sản xuất theo sản phẩm Việc bố trí sản xuất theo sản phẩm làm tốc độ sản xuất nhanh, chuyên môn hoá lao động cao kéo theo năng suất lao động cao từ đó chi phí đơn vị sản xuất thấp
Với kế hoạch sản xuất 320 sản phẩm/ ngày(8giờ) cách bố trí hiện tại khi chưa thay đổi như sau:
Nơi làm
Công việc phải làm
trước
Thời gian hoàn thành
Trang 104 E A 40
Như vậy, vấn đề đặt ra ở đây ta phải thiết kế để có bố trí hiệu quả hơn Bước 1: Xác định thời gian chu kỳ
Dmax = 360
Dmax = 76
Do đó, kế hoạch sản xuất 360sp/ ngày có thể thực hiện được
CTkh = 90 (giây)
Bước 2: Biểu diễn cách bố trí hiện tại
8x3600
80 =
380
=
8x3600
380 8x3600
8x3600
320 =
G
H
E
F
B
Trang 1190 380
Bước 3: Đánh giá hiệu quả bố trí hiện tại
Thời gian thực hiện của
mỗi ckỳ
Thời gian ngừng của mỗi
ckỳ
Thời gian thực hiện = (380:540)x100% = 70,37%
Thời gian lãng phí = (160:540)x100% = 29,63%
Buớc 4: Xác định nơi làm việc tối thiểu
Nmin = = 4.22 (nơi) do đó số nơi làm việc tối thiểu là 5 Bước 5: Cải tiến để tìm cách bố trí tốt hơn
Bước 6:Đánh giá hiệu quả bố trí mới
G C
B
E
F
H
D
D
Trang 12Thời gian thực hiện của mỗi
ckỳ
Thời gian thực hiện = (380:450)x100% = 84,44%
Thời gian lãng phí = (70:450)x100% = 15,56%
Theo tính toán thì thời gian thực hiện bố trí sản xuất mới = 84,44%
>70,37% Nên ta chọn phương án này
IV - Quyết định tác nghiệp ngắn hạn.
4.1 Dự báo nhu cầu
Dự báo nhu cầu là khâu rất quan trọng trong hoạch định Dự báo nhu cầu
là cơ sở để Công ty có kế hoạch tập kết nguyên nhiên vật liệu, có kế hoạch sản xuất, bố trí nhân công một cách hợp lý nhằm thực hiện đúng kế hoạch sản xuất
đã đề ra Như vậy, dự báo nhu cầu vừa mang tính khoa học, vừa mang tính nghệ thuật Nó tiên đoán những sự việc diễn ra trong tương lai, trên cơ sở phân tích khoa học về các dữ liệu đã thu thập được Có rất nhiều phương pháp dự báo nhu cầu nhưng do đặc thù hoạt động của Công ty chỉ sản xuất duy nhất một loại sản
phẩm nên Công ty áp dụng phương pháp bình quân di động có trọng số
Bảng kê sản xuất bếp hoá khí
Đvị tính: Chiếc
Năm 2011
Trang 13Quý 1 28.450
Như vậy, theo phương pháp bình quân di động có trọng số ta có dự báo
sản xuất Quý 3 năm 2011 là:
F =
4.2 Quản lý hàng t ồn kho
Để phản ứng với sự thay đổi của nhu cầu thị trường, nhằm duy trì ổn định
để sản xuất được liên tục, đáp ứng nhu cầu sản xuất và khách hàng, giảm các tác động của lạm phát cũng như tận dụng chính sách khấu trừ giá đối với nguyên vật liệu đầu vào Tuy nhiên, việc dự trữ bao giờ cũng được coi là nhàn rỗi, do đó khi
dự trữ càng cao thì càng gây ra sự lãng phí Vậy dự trữ bao nhiêu là hợp lý? Đây không phải là vấn đề không hề đơn giản Bởi lẽ, trong điều kiện nhất định, dự trữ quá cao sẽ làm tăng chi phí đầu vào dự trữ, dự trữ thấp sẽ tốn kém chi phí trong việc đặt hàng, chuyển đổi lô hàng, bỏ lỡ cơ hội thu lợi nhuận Mặt khác, khi gia tăng dự trữ có 2 khuynh hướng chi phí trái ngược nhau: một số chi phí này thì tăng, còn một số chi phí khác thì giảm Nhận thấy được điều này Công ty Sáng Tạo Việt dùng phương pháp EQO để giảm cực tiểu chi phí liên quan đến hàng dự trữ Theo kế hoạch trong quý 3 Công ty phải sản xuất D = 28565 mặt bếp, số lượng đặt mặt bếp mỗi lần là Q = 1.200 cái, chi phí tồn trữ H = 0.5tr/mặt bếp/quý, chi phí đặt hàng S = 16.5tr/đơn hàng Thời gian làm việc trong quý 74 ngày thời gian đặt hàng mất 3 ngày kể từ khi nhận được hàng
Như vậy ta có TC = x16,5 + x 0.5= 692,8tr
28.500x1+28.350x2+28.730x3
1+2+3
= 28.565 (sp)
28.565 1.200
Trang 14Lượng mặt bếp tối ưu cho 1 đơn đặt hàng là :
Q*= 2*28.565*16,5
0.5 = 1.373 mặt bếp/1đơn hàng
Ước tính tiết kiệm hàng năm khoảng TK= 692,8-686,5=6.3tr
Xác định điểm đặt hàng lại : OP= x3 = 1158 mặt bếp
Như vậy, với lượng đặt hàng tối ưu Q*= 1.373 sản phẩm sẽ tiết kiệm cho Công ty 6.3trđ Từ đó sẽ giảm giá thành cho từng sản phẩm
4.3.Chuỗi cung ứng.
Công ty chủ động xây dựng một chuỗi cung ứng với các mạng lưới hoàn chỉnh từ “thượng nguồn” là các nhà cung cấp nguyên vật liệu, phụ kiện bếp đến
“hạ nguồn” là hệ thống phân phối đến làng, bản là các cửa hàng bán lẻ, các điểm bưu điện văn hóa xã
Sơ đồ cung ứng hiện tại
Việc quản trị chuỗi cung ứng sẽ đảm bảo duy trì nguồn nguyên vật liệu sản xuất, sản phẩm được sản xuất, lưu trữ và phân phối nhanh nhất với chi phí hợp lý đến tay người tiêu dùng
V- Kết luận.
Các nhà
sản xuất
cung cấp
nguyên
vật liệu
(tôn, mặt
bếp, mâm
lửa…)
Doanh nghiệp
Nhà phân phối, khách buôn
Khách hàng cuối (người nông dân, người sống ở ngoại thành)
Ngân hàng, ngân hàng phát triển Việt Nam Thông tin thị trường , phản hồikhách hàng
Nhà cung cấp hậu cần (đơn
vị vận chuyển )
28.565
74