Thực hành sinh thái môi trường - Tìm hiểu 4 tài nguyên Đất, Nước, Không khí, Rừng Thực hành sinh thái môi trường - Tìm hiểu 4 tài nguyên Đất, Nước, Không khí, Rừng Thực hành sinh thái môi trường - Tìm hiểu 4 tài nguyên Đất, Nước, Không khí, Rừng
Trang 1Nhóm 2: Bài về các nhóm Tài nguyên thiên nhiên
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ
KHOA CHĂN NUÔI – THÚ Y
LỚP TY51D
BÀI TRÌNH BÀY VỀ CÁC TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
NHÓM 2 Giảng Viên: Lê Thị Thu Hường
HUẾ, THÁNG 10 NĂM 2018
Trang 2Nhóm 2: Bài về các nhóm Tài nguyên thiên nhiên
Trang 3MỤC LỤC
Trang 4Ô nhiễm nó không chỉ sảy ra ở môi trường không khí, mà nó còn diễn ra cả ở những môi trường khác như môi trường nước, môi trường rừng, môi trường đất Lượng chất thải, khí thải, nước thải, mà con người đổ ra môi trường ngày càng nhiều nhưng lại chưa gắn liền với việc sủ lý chúng Như ta đã biết, con người không thể nhịn thở quá 3 phút, không thể không uống nước quá 3 ngày, không thể nhịn ăn quá 3 tháng Vì vậy mà môi trường ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của con người.Thế nhưng, chính chúng ta lại đang đe dọa đến cuộc sống của chúng ta, hãy nhìn những thứ mà con người đã thải ra, đã xả ra, đã vô tâm vô tình làm ảnh hưởng đến Mẹ thiên nhiên, để rồi nhận lại đó chính là mối lo ngại về sức khỏe, về cuộc sống ngày một ô nhiễm nhiều hơn Mẹ thiên nhiên không thể cưu mang ta nữa
Môi trường ô nhiễm có thể giết chết rất nhiều cơ thể sống, đem lại những mầm bệnh cho con người Riêng chỉ ô nhiễm môi trường tài nguyên nước thì dã cướp đi sinh mạng của
14000 con người mỗi ngày, một con số không hề nhỏ Môi trường đang bị đe dọa trầm trọng
vì tình hình thế giới phát triển càng lúc càng cao, các nhà máy, công trình, xưởng sản xuất mỗi ngày thải ra ngoài môi trường rất nhiều khí thải, chất thải nguy hại, dẫn đến môi trường
bị đe dọa ô nhiễm Môi trường toàn cầu hiện nay đầy những yếu tố, nào là hạn hán, đói kém, thiên tai, lũ lụt Không chỉ vậy, khí CO2 được sinh ra quá mức cho phép từ chính các nhà máy, xí nghiệp, các động cơ của các phương tiện di chuyển hàng ngày của chúng ta đã gây ra hiện tượng Hiệu ứng nhà kính, làm cho trái đất ngày càng nóng lên, băng ở hai cực đang dần dần tan ra, làm tăng mực nước biển gây nguy cơ những quốc gia thấp, ở vùng trũng gần biển
sẽ bị nhấn chìm trong tương lai Ở nước ta, nước biển dâng cao không những ảnh hưởng đến cuộc sống của mọi người dân mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế nước ta đã được ông Vũ Đức Đam (Phó Thủ tướng Chính phủ Việt Nam) nhận định nếu mực nước biển dâng cao 1 mét, sẽ có khoảng 40% diện tích Đồng bằng Sông Cửu Long, nơi hiện sản xuất 12 triệu tấn gạo/năm (xuất khẩu 6 triệu tấn), khoảng 10-12% dân số Việt Nam bị ảnh hưởng trực tiếp
và tổn thất khoảng 10% GDP
Trang 5Tại sao? Vì đâu mà những bạn nhỏ chỉ mới nhìn thấy ánh sáng thì trong ánh sáng đã bị ô nhiêm, hít thở O2 thì trong không khí cũng đã bị nhiễm tạp rất nhiều chất gây hại, uống những nguồn nước đã nhiềm kim loại nặng, ăn những thực phẩm đã nhiễm rất nhiều chất hóa học, tiền đề của căn bệnh hiểm nghèo: Ung thư Các cụ đã có câu "Đời cha ăn mặn, đời con khát nước" Đó chính là sự thiếu ý thức nghiêm trọng của nhiều người dân Nhiều người nghĩ rằng những việc mình làm là quá nhỏ bé, không đủ để làm hại môi trường Một số người kháclại cho rằng việc bảo vệ môi trường là trách nhiệm của nhà nước, của chính quyền mà không phải là của mình Số khác lại nghĩ rằng việc môi trường đã bị ô nhiễm thì có làm gì đi chăng nữa cũng không đáng kể, và việc ô nhiễm môi trường cũng không ảnh hưởng gì tới mình nhiều Việc phá hoại môi trường của một người tuy chỉ ảnh hưởng nhỏ nhưng tập hợp nhiều người lại là lớn.Trách nhiệm bảo vệ môi trường tuy cũng có một phần là của nhà nước nhưng
đa phần lại là của người dân Đúng như vậy, ý thức của nhiều con người ngày càng kém, lương tâm của họ chỉ quan tâm đến vấn đề tài chính, không quan tâm đến sức khỏe của mọi người, thì họ, chính họ sẽ nhận lại những điều như vậy từ những người như họ Thêm một nguyên nhân khác gây ra ô nhiễm môi trường chính là sự thiếu trách nhiệm của các doanh nghiệp Do đặt nặng mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, không ít doanh nghiệp đã vi phạm quy trình khai thác, góp phần đáng kể gây ô nhiễm môi trường
Con người đã nhận thức được vấn đề về môi trường, nhiều quốc gia đã thành lập ban, nghành để đề ra các giải pháp đấu tranh, phòng chống, giảm thiểu tác hại của vấn đề này Ở Việt Nam theo thống kê của Bộ Tư pháp, hiện nay có khoảng 300 văn bản pháp luật về bảo
vệ môi trường để điều chỉnh hành vi của các cá nhân, tổ chức, các hoạt động kinh tế, các quy trình kỹ thuật, quy trình sử dụng nguyên liệu trong sản xuất Dự thảo Mục tiêu Phát triển bền vững gồm 17 mục sẽ được xem xét thông qua tại Hội nghị thượng đỉnh Liên hợp quốc vào tháng 9/2015 Đây được coi là văn kiện định hướng quan trọng cho các chính sách phát triển toàn cầu Nhiều mục tiêu phát triển bền vững có liên quan trực tiếp đến môi trường như: Quản lý và đảm bảo cung cấp nước và điều kiện vệ sinh; Đảm bảo các dạng thức tiêu dùng vàsản xuất bền vững; Thực hiện hành động kịp thời ứng phó với BĐKH và tác động; Bảo tồn và
sử dụng bền vững biển và tài nguyên biển; Bảo vệ, khôi phục và phát triển các hệ sinh thái trên cạn, quản lý rừng bền vững, chống sa mạc hóa, dừng và đảo ngược xu thế suy thoái đất
và suy giảm ĐDSH Một số mục tiêu khác như xóa đói giảm nghèo, năng lượng, tăng trưởng bền vững cũng có quan hệ chặt chẽ với BVMT Vì vậy, để có thể giải quyết được các vấn đề môi trường, cần lồng ghép môi trường vào các chiến lược, chính sách thực hiện mục tiêu pháttriển bền vững, ở cấp toàn cầu và quốc gia Và cái quan trọng đó là đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục về môi trường trong toàn xã hội nhằm tạo sự chuyển biến và nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật BVMT, trách nhiệm xã hội của người dân, doanh nghiệp trong việc gìn giữ và BVMT; xây dựng ý thức sinh thái, làm cho mọi người nhận thức một cách tự giác về vị trí, vai trò, mối quan hệ mật thiết giữa tự nhiên - con người - xã hội Đi đôi với công tác tuyên truyền, giáo dục cần tăng cường hơn nữa vai trò của các cơ quan quản lý nhà nước về vấn đề này trên các địa bàn nông thôn, như các cấp chính quyền địa phương, các
cơ quan quản lý và BVMT, các cơ sở y tế, các tổ chức đoàn thể có liên quan để đảm bảo cho
Trang 6công tác tuyên truyền, giáo dục và thực thi các biện pháp BVMT, bảo vệ và nâng cao sức khỏe, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông thôn có hiệu quả hơn.
Chúng ta chỉ có một hành tinh mà thôi, hãy chung tay bảo vệ ngôi nhà chung cảu chúng ta, đừng để đến khi ngôi nhà chung bị phá hủy, con người sẽ bị diệt vong Hãy để giống nòi của chúng ta phát triển bình thường, hãy làm những điều nhỏ nhất để bảo vệ môi trường
Trang 7A. Tài Nguyên Nước:
I.Đặc điểm tài nguyên nước.
1. Khái niệm tài nguyên nước:
- Tài nguyên nước là toàn bộ lượng
nước có trong các thủy vực trên Trái
Đất mà con người có thể sử dụng được
cho các hoạt động dân sinh và phát
triển kinh tế xã hội của mình
- Tài nguyên nước của một lãnh thổ là
toàn bộ lượng nước có trong đó mà
con người có thể khai thác sử dụng
được, xét cả về mặt lượng và chất, cho
sinh hoạt, sản xuất, trong hiện tại và
3. Quy mô của tài nguyên nước trên thế giới:
a. Nước trong khí quyển:
- Tồn tại dưới dạng sương mù, mây, tuyết, băng
- Chứa khoảng 12.000 – 14.000 km3 nước
b. Nước trong thủy quyển:
- Đại dương chứa 1,37 tỷ km3
- Sông suối chứa 1.200km3
- Ao hồ chưa 230.000km3
- Băng ở hai cực chứa khoảng 26 triệu km3.
c. Nước trong địa quyển:
- Tồn tại dưới dạng: nước ngầm, sông ngầm, ao hồ ngầm
- Nước trong khe đá, các lớp thổ nhưỡng
- Chứa khoảng 64 triệu km3 toàn bộ địa cầu
Trang 8- Lượng nước trao đổi: 4 triệu km3.
- Lượng ẩm các lớp thổ nhưỡng: 80.000 km3
d. Nước trong sinh quyển
- Chứa khoảng 10.000km3
4. Thuận lợi của Tài nguyên nước:
a. Nguồn nước mưa dồi dào:
- Việt Nam có nguồn nước mưa dồi dào hơn so với các nước có cùng vĩ độ địa lý (các nước Tây Nam Á và Châu Phi)
- Lượng mưa trung bình năm toàn lãnh thổ: 1960mm gấp 2,6 lần lượng mưa trung bình lục địa Tạo ra lượng dòng chảy 650 tỷ m3 (Theo sở Tài nguyên và Môi Trường tỉnh Vĩnh Phúc)
b. Tài nguyên nước mặt:
b.1: Khái Niệm:
Tài nguyên nước mặt (dòng chảy cảu sông ngòi)
của một vùng lảnh thổ hay 1 quốc gia là tổng
lượng dòng chảy sông ngòi từ ngoài vùng chảy
vào và lượng dòng chảy được sinh ra trong vùng
(dòng chảy nội địa) (Theo website Bộ Tài nguyên và
Môi trường)
b.2: Sông ngòi:
- Việt Nam có mạng lưới sông ngòi vô
cùng phong phú và đầy tiềm năng, với
tổng chiều dài hơn 41.900km, do điều
kiện mưa nhiều đã tạo ra một số lượng sông suối rất lớn, tới khoảng 2.360 con sông và kênh lớn nhỏ Dọc bờ biển, khoảng 23 km có một cửa sông và theo thống kê có 112 cửa sông ra biển Chín lưu vực sông có diện tích lớn hơn 10.000km
→ Có tiềm năng thủy điện lớn
Số liệu lấy từ https://commons.wikimedia.org/
(Một góc nuôi trồng thủy sản tại xã Quảng Lợi – TT Huế)
Trang 9- Các sông lớn ở việt nam thường bắt nguồn từ bên ngoài, phần trung du và hạ du chảy trên đất việt nam Hầu hết các sông ở việt nam chảy theo hướng tây bắc-đông nam và đổ
ra biển đông Ngoại lệ có sông kỳ cùng và bằng giang Chảy theo hướng đông nam-tây bắc
- Tổng lượng nước trung bình của toàn bộ sông suối: 835 tỷ
+ Từ nước ngoài: 522 tỷ ( 62,5% )
+ Trong nước : 313 tỷ ( 37,5% )
- Modun dòng chảy: 31L/ s
→ Nguồn nước dồi dào
- Sông ngòi có tính đa quốc gia:
+ 7/9 hệ thống sông của Việt Nam chảy qua từ 2 - 5 nước
+Tỷ lệ diện tích lưu vực thuộc Việt Nam: 9 – 87%
+Tỷ lệ dòng chảy ngoại nhập: 5 – 90% ( không kể sông Kỳ Cùng, Bằng Giang)
b.3: Hồ và Đầm:
- Theo định nghĩa của các nhà Thủy văn Nga thì Hồ và Đầm là những lòng chảo hoặc vùng trũng của bề mặt đất có chứa nước Như vậy ở Việt Nam có các loại Hồ và Đầm phá như sau:
+ Hồ và Đầm tự nhiên nước ngọt: Các hồ đầm tự nhiên ở vùng đồng bằng thường là dấu vết còn lại của các đoạn sông hay vỡ đê Các hồ này nước ít luân chuyển, các hồ đầm tự nhiên xuất hiện ở vùng núi thường là dấu vết còn lại của núi lửa, động đất hay những nguyên nhân khác Phần lớn các hồ đầm tự nhiên nước không chảy nhưng cũng
có hồ nước chảy nhẹ như hồ Ba Bể
+ Các lợi đầm phá nước mặn: Các đầm phá nước mặm có rất nhiều ở vùng ven biển Việt Nam, và đang được khai thác triệt để
(Hồ Ba bể ở Bắc Cạn)
Trang 10(Đầm Cầu Hai – Phú Lộc – Thừa Thiên Huế)
+ Hồ và kho nước nhân tạo
- Chỉ tính riêng các hồ/đầm lớn (có diện tích mặt nước rộng trên 100ha), nước ta đã có khoảng 40 hồ với tổng diện tích gần 35.000ha, tổng trữ lượng ước đạt trên 780 triệu m3
- Việt Nam có khoảng 3500 hồ chứa có dung tích lớn hơn 0.2 triệu m3 Chỉ có 1976 hồ
có dung tích lớn hơn 1 triệu m3,
chiếm 55,9% với tổng dung
tích 24.8 tỷ m3 Trong số hồ
trên có 10 hồ do ngành điện
quản lý với tổng dung tích 19 tỷ m3 Có 44 tỉnh và thành phố trong 63 tỉnh thành
Việt Nam có hồ chứa Tỉnh có nhiều hồ nhất là Nghệ An (249 hồ),
Thọ (118 hồ), Đắk Lăk (116
hồ) và Bình Định (108 hồ)
- Trong số 1957 hồ cấp nước tưới do Bộ Nông nghiệp và
theo dung tích có: 79 hồ có dung tích trên 10
nước tưới cho 505.162 ha (Số
liệu lấy từ https://vi.wikipedia.org và http://www.vjol.info)
- Nước ta có nguồn tài nguyên nước ngầm khá phong phú
(Hồ nước ngọt Dầu Tiếng - Hồ nước nhân tạo lớn nhất ĐNA)
Trang 11- Qđ trên toàn lãnh thổ (chưa kể phần hải đảo) khoảng 2.000 m3/s Lưu lượng các sông trong mùa khô phần lớn là nước ngầm
Các thành hệ chứa nước lớn, có vai trò quan trọng bao gồm:
c.1: Thành hệ chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Đệ tứ và Neogen:
+ Phân bố rộng ở ĐBBB, ven biển miền Trung, ĐBNB
c.2: Thành hệ chứa nước Karst:
+ Phân bố chủ yếu ở khu vực miền Bắc: chiếm 1/3 diện tích của miền Bắc
+ Môdun dòng ngầm trung bình khoảng 10-12l/s.km2
+ Trong vùng Karst, nước mặt hiếm, vì vậy, nước ngầm có vai trò rất quan trọng cho cấpnước (Hà Giang, Cao bằng, Lạng Sơn, Sơn La, Thái Nguyên…)
c.3: Thành hệ chứa nước khe nứt-lỗ hổng trong bazan:
+ Phân bố ở Tây nguyên, chiều sâu từ một hai chục mét – >100m
+ Môdun dòng ngầm trung bình trong bazan: 8->10 l/s.km2
+ Qkt các giếng khoan có thể đạt tới 100 m3/h
+ Hiện nước trong bazan là nguồn cung cấp chủ yếu cho ăn uống, sinh hoạt của nhân dân vùng Tây Nguyên, ngoài ra còn là nguồn cấp nước quan trọng cho tưới cà phê, hồ tiêu, cao su các các loại cây trồng cạn khác ở khu vực Tây Nguyên
c.4: Ngoài các thành hệ chứa nước chủ yếu trên, còn có các thành hệ chứa nước khác:
(trầm tích, biến chất, macma) tuy có mức độ chứa nước, dẫn nước hạn chế nhưng cũng
có giá trị đối với việc cấp nước ăn uống, sinh hoạt quy mô nhỏ và cho tưới vườn, chăn nuôi… ở nhiều vùng, nhất là các khu vực thường xuyên bị hạn hán, thiếu nước như các tỉnh ở Miền Trung, Tây nguyên và trung du miền núi Bắc Bộ
Trang 125 Khó khăn đối với tài nguyên nước:
a Khó khăn thứ nhất: 2/3 tổng lượng nước mặt của Việt Nam phụ thuộc vào nước ngoài
Trang 13- Như trên đã trình bày, 63% tổng lượng dòng chảy nước mặt trên lãnh thổ Việt Nam là từ các nước láng giềng: Trung Quốc, Thái Lan, Mianma, Lào và Campuchia chảy vào Các nước này đều đang ở trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa, phát triển nông nghiệp, dịch vụ một cách nhanh chóng Quá trình phát triển này, dù bằng cách nào cũng
sẽ đặt ra cho các nước nói trên yêu cầu tận dụng hợp lý tài nguyên nước sản sinh trên lãnh thổ của họ Chế độ thủy văn của các dòng sông xuyên biên giới chảy vào nước ta sẽ thay đổi
Dòng chảy nước sẽ được điều tiết theo những chiều hướng có khi không phù hợp với yêu cầukinh tế và sinh thái của ta Khối lượng nước cần cho sinh hoạt, canh tác, đẩy mặn, giao thôngthủy vào mùa khô có thể sẽ không còn như trước Chất lượng nước của một số dòng sông saukhi đã tiếp nhận xả thải từ nhiều đô thị, khu dân cư, khu nông nghiệp trên các vùng thượng lưu sẽ không thể còn độ trong sạch như hiện nay
Trang 14- Lấy sông Mê Công làm thí dụ Mê Công là một con sông xuyên biên giới quan trọng ở châu Á có tiềm năng rất lớn về các dạng tài nguyên nước Từ những năm cuối thập kỷ 50 củathế kỷ XX đã được các nước trong lưu vực và các tổ chức quốc tế hết sức quan tâm việc quản lý hợp lý tài nguyên nước cùng các tài nguyên thiên nhiên liên quan khác và các hoạt động phát triển trên lưu vực Việc hợp tác quản lý dòng sông quan trọng này được thực hiện trong khuôn khổ tổ chức hợp tác quốc tế về phần hạ lưu sông Mê Công, cụ thể là của Ủy banquốc tế về hạ lưu sông Mê Công trước từ năm 1957 đến năm 1975, Ủy ban lâm thời hạ lưu sông Mê Công từ năm 1975 đến năm 1995 và Ủy ban sông Mê Công (Mekong River
Commission, MRC) hiện nay Qua nhiều đổi thay của lịch sử, thành viên của các Ủy ban này
là Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam Địa phận quản lý của các Ủy ban chỉ là phần "hạlưu" sông Mê Công Trung Quốc và Mianma không phải là thành viên chính thức của Ủy ban và chỉ tham gia một cách không chính thức vào một số cuộc họp của Ủy ban Với đặc điểm như trên, sông Mê Công là một dòng sông liên quốc gia Theo thỏa thuận đã có giữa bốn quốc gia thuộc phần hạ lưu lưu vực sông Mê Công là Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam, không nước nào được xây dựng công trình trên dòng sông chính, việc xây dựng các công trình quan trọng trên các sông nhánh lớn cũng cần thông báo và tham khảo ý kiến của nhau
- Cho tới nay, ở phần hạ lưu trên dòng sông chính không có công trình nào, nhưng ở phần thượng lưu thuộc địa phận lãnh thổ Trung Quốc, một loạt công trình thủy điện, với đập cao,
hồ chứa lớn đã được hoàn thành, vận hành phát điện, điều tiết nước, hoặc đang được xây dựng và chuẩn bị xây dựng Thủy điện Manwan, công suất lắp máy 1.500MW, đập cao 126m, đã hoàn thành và phát điện năm 1996 là một thí dụ Trên các sông nhánh, Thái Lan, - -Lào và ở nước ta cũng đã và đang xây dựng nhiều công trình phục vụ thủy điện và cấp nước cho nông nghiệp Các đập và hồ trên phần sông Sê San, chi nhánh của sông Mê Công, thuộc lãnh thổ nước ta là thí dụ về các công trình này Nếu trong tương lai các quốc gia ở thượng nguồn sông Mê Công sẽ sử dụng một lưu lượng nước khoảng 1.200 - 1.500 m3/s để tưới ruộng trong mùa khô, hoặc nước của Biển Hồ sẽ được Campuchia khai thác nhiều hơn cho nông, công nghiệp và sinh hoạt, thì Đồng bằng sông Cửu Long của ta sẽ có nguy cơ vô cùng thiếu nước Nạn xâm nhập mặn sẽ đe dọa toàn vùng
- Vì vậy, nhìn một cách lâu dài, không thể khẳng định là nước ta sẽ luôn luôn có tài nguyên nước phong phú với tổng lượng là 830 tỷ m3/năm, hay 10.375 m3/người.năm Phần chắc chắn là phải dựa chủ yếu vào lượng nước hình thành trên lãnh thổ là 310 tỷ m3/năm Lượng nước có thể có trên đầu người sẽ phải tính theo dân số ổn định xung quanh 100 triệu người
b Khó khăn thứ hai: tài nguyên nước phân bố rất không đều theo không gian và thời gian
- Lượng mưa, nhân tố chủ yếu hình thành tài nguyên nước trên lãnh thổ nước ta, phân bố rất không đều theo không gian và thời gian Bình quân toàn lãnh thổ lượng mưa năm là
1.944mm Tuy nhiên, lượng mưa này phân bố rất không đều theo không gian Có những nơi lượng mưa này đạt 8.000mm/năm như ở Bạch Mã thuộc Thừa Thiên - Huế; 5.000mm/năm như ở Bắc Quang thuộc Hà Giang; Nam Châu Lĩnh thuộc Quảng Ninh Trong lúc có những nơi lại chỉ có 700mm/năm như ở thị xã Phan Rang, Ninh Thuận, thậm chí chỉ có
Trang 15400mm/năm như ở thị xã Phan Rí thuộc Bình Thuận Trong từng phạm vi lãnh thổ nhỏ hơn như tỉnh, huyện lượng mưa phân bố cũng rất không đều Trong năm 2002, nhiều tỉnh ở Tây Nguyên và duyên hải Nam Trung Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long trong 3 - 4 tháng hầu như không có giọt mưa nào Trong năm 2003, nhiều tỉnh ở Tây Nguyên, duyên hải miền Trung đều có tình trạng không có mưa suốt trong 3 tháng mùa hè (Bảng II.3).
Bảng II.3 Lượng mưa trong một số tháng của năm 2002 tại một số địa điểm (mm)
(Nguồn: Niên giám Thống kê, 2002)
- Tại tất cả các vùng trong nước, hàng năm lượng nước trong khoảng ba tháng mùa lũ chiếm 75 - 85% tổng lượng nước trong năm Cùng với đó là mùa khô kéo dài từ 5 đến 6 tháng Trong mùa này, lượng dòng chảy trên rất nhiều con sông chỉ vào cỡ 15 - 20% tổng lượng dòng chảy năm
- Lượng dòng chảy trong sông, tổng hợp cả dòng chảy hình thành trong và ngoài lãnh thổ, cũng phân bố rất không đều Lấy theo số liệu của "Hồ sơ nguồn nước, 2002" thì suất dòng chảy năm bình quân của cả nước ta là 2,642 triệu m3/km2.năm Vùng Đông Bắc với diện tích bằng 65.327km2, có lượng dòng chảy năm bằng 15,4 tỷ m3/năm, suất dòng chảy năm chỉ là 0,236 triệu m3/km2 Vùng Đồng bằng sông Cửu Long với diện tích bằng 39.706km2 có lượng dòng chảy năm bằng 507,9 tỷ m3/năm, suất dòng chảy năm khoảng 12,79m3/km2, gấp 54 lần suất dòng chảy của vùng Đông Bắc Khác biệt giữa các vùng khác cũng tương đối lớn
Bảng II.4 So sánh suất dòng chảy năm của các vùng
Trang 16(Nguồn: Niên giám Thống kê và Hồ sơ nguồn nước, 2002)
- Trong bối cảnh chung cả nước như vậy, sự phân bố nước không đều theo không gian và thời gian làm cho tình trạng thiếu nước về mùa khô và lũ lụt với lưu lượng lớn, có sức tàn phá mạnh mẽ trở nên đặc biệt trầm trọng tại một số nơi Tỷ lệ giữa lưu lượng tối đa và lưu lượng tối thiểu của một số con sông lên tới 1.000, thậm chí 10.000 lần
c Khó khăn thứ ba: có nhiều thiên tai gắn liền với nước
- Lũ lụt là thiên tai phổ biến nhất và ác liệt nhất ở nước ta Theo tài liệu ghi chép của các cơ quan quản lý nước thì trongthế kỷ XIX, chỉ riêng ở Đồng bằng sông Hồng đã có khoảng
30 năm lụt rất lớn, trong đó 26 năm vỡ đê tả ngạn sông Hồng, 18 năm đê hữu ngạn bị vỡ Mỗi lần vỡ đê có thể gây thiệt hại cho hàng chục vạn ha mùa màng, cuốn trôi hàng ngàn làng xóm với hàng ngàn sinh mệnh người và gia súc, hủy hoại nhiều công trình công ích, gây dịch bệnh trên nhiều vùng
- Trong thế kỷ XX, mặc dầu hệ thống đê điều đã được tu bổ, kiên cố hóa nhưng do lũ lớn, đã
có 23 năm có sự cố vỡ đê lớn gây tai họa và tổn thất nghiêm trọng Trận lũ vỡ đê năm 1971 trên Đồng bằng sông Hồng đã gây thiệt hại khoảng 7 triệu tấn thóc, số dân bị ảnh hưởng lên tới 2,71 triệu người Lũ do bão gây ra ở miền Trung từ năm 1992 đến năm 1999 đã làm chết 2.716 người, bị thương 1.655 người, gây thiệt hại kinh tế trên 8.000 tỷ đồng Việt Nam Mườinăm gần đây, từ năm 1986 đến năm 2002, đã lần lượt xảy ra 30 trận lũ đặc biệt lớn trên nhiềulưu vực sông trong cả nước
Trang 17Bảng II.5 Một số trận lũ từ năm 1986 đến năm 2002
- Hạn hán cũng là thiên tai gây tác hại hết sức lớn, trên diện rộng cho sản xuất nông, công nghiệp và sinh hoạt của nhân dân Vào mùa khô tất cả các vùng sinh thái trên nước ta từ đồng bằng, trung du đến miền núi đều có thể bị hạn nặng
- Trong những năm gần đây ở Tây Nguyên đã liên tiếp có 6 năm bị hạn 1994, 1995, 1996,
1997, 1998 và 2003 Đặc biệt năm 1998 diện tích cây công nghiệp, cây ăn quả bị hạn là 111.000ha, bị chết là 19.300 ha, riêng cà phê bị hạn là 74.400ha, bị chết là 13.800ha và hơn 770.000 người thiếu nước sinh hoạt
- Tại vùng Lục Khu thuộc tỉnh Cao Bằng nhân dân địa phương cho biết trong các năm 1978,
1998 mùa khô kéo dài từ tháng 10 đến tận tháng 5 năm sau, nước cho trồng trọt và chăn nuôicạn kiệt, nước ăn uống, sinh hoạt cho nhân dân vô cùng khan hiếm Nhân dân phải bỏ hết mọi việc để đi tìm nước, "cõng" nước về nhà phục vụ ăn uống với mức tối thiểu Nhiều hộ hàng ngày phải đi xa 4 - 8km, vượt núi cao, đèo sâu để “cõng” nước, nhưng cũng chỉ đáp ứng được khoảng 40% nhu cầu tối thiểu Trong những năm cuối thập kỷ 80 của thế kỷ XX, hàng trăm hộ dân vùng này đã phải rời bỏ quê hương, di dân tự do vào Tây Nguyên để kiếm sống
Tại các đô thị, thậm chí đô thị lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Huế và một số thànhphố duyên hải miền Trung về mùa khô cũng có nạn thiếu gay gắt nước ăn uống sinh hoạt chonhân dân, cũng như nước cho sản xuất công nghiệp
d Khó khăn thứ tư: chất lượng nước đang giảm sút tại nhiều nơi
- Theo Chương trình Phát triển của Liên hợp quốc (UNDP) thì tỷ lệ tiếp cận với nước sạch của nhân dân Việt Namđã tăng 13% trong giai đoạn 1998 - 2000 Việt Nam là một trong những nước có tốc độ tăng nhanh nhất về tỷ lệ này trên thế giới So sánh với một số nơi trên thế giới thì nước sông ngòi phần thượng lưu và tại một số hồ lớn ở Việt Nam còn tương đối sạch Tuy nhiên, với sự phát triển nhanh của công nghiệp hóa, đô thị hóa, gia tăng dân số ở
(Nguồn: Ngô Đình Tuấn, 2003)
Trang 18nông thôn cũng như thành thị, chất lượng nước mặt cũng như nước ngầm đã có những biểu hiện suy thoái khá nghiêm trọng.
- Mức độ ô nhiễm nước ở một số khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệp tập trung
đã rất lớn Thí dụ tại Cụm Công nghiệp Tham Lương, thành phố Hồ Chí Minh, ước tính mỗi ngày có khoảng hàng trăm nghìn m3 nước thải công nghiệp từ các nhà máy giấy, hóa chất, dệt nhuộm thải ra, tuy đã có những cố gắng khắc phục, nhưng nước kênh Tham Lương vẫn còn mầu đen, mùi hôi thối, hàm lượng chất độc hại cao
- Ở thành phố Thái Nguyên nước thải từ các cơ sở luyện gang, thép, kim loại mầu, sản xuất giấy, khai thác than chưa được xử lý vẫn đổ ra sông Cầu và chuyển về vùng hạ lưu là nơi dân
cư đông đúc sản xuất nông, công nghiệp phát triển Hàng trăm làng nghề về sắt thép, đúc đồng, nhôm, chì, dệt nhuộm, giấy với lượng nước thải hàng ngàn m3/ngày không qua xử lý cũng góp phần gây ô nhiễm nguồn nước tại nhiều địa phương ở đồng bằng và trung du
- Ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và nhiều đô thị lớn và vừa vẫn còn tình trạng nước thải sinh hoạt, lẫn lộn với nước thải công nghiệp không qua xử lý tập trung, mà trực tiếp thải ra các sông, hồ, kênh, mương lộ thiên đi qua các khu dân cư và sản xuất Nước thải từ phần lớn các bệnh viện và cơ sở y tế cũng còn được thải chung vào hệ nước thải công cộng Độ ô nhiễm của phần lớn các vực nước tiếp nhận nước thải đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép
- Ô nhiễm nước ở nông thôn và các khu vực sản xuất nông nghiệp cũng rất nghiêm trọng Ở đây chưa có cơ sở hạ tầng tốt cho thoát nước thải, phần lớn chất thải của con người và gia súc không được xử lý, bị rửa trôi theo dòng mặt, hoặc thấm xuống đất, làm cho nguồn nước mặt cũng như nước ngầm bị ô nhiễm về mặt hữu cơ và vi sinh Môi trường nước nông thôn còn bị ô nhiễm do sử dụng không hợp lý và đúng quy cách các hóa chất nông nghiệp, trong
đó có không ít hóa chất độc hại Tỷ lệ số hộ ở nông thôn được dùng nước hợp vệ sinh chỉ mới đạt khoảng 30 - 40% Chỉ khoảng 28 - 30% số hộ có công trình vệ sinh đạt tiêu chuẩn
e Khó khăn thứ năm: yêu cầu về nước đang tăng nhanh
- Nạn thiếu nước đang đe dọa toàn thế giới Tài liệu thông tin về tài nguyên và môi trường nước không ngớt nhắc tới tình trạng "Trên trái đất hiện thường xuyên có hai tỷ người đang khát"; "trong mỗi khoảng thời gian 8 giây lại có một em bé bị chết vì các bệnh liên quan đến nước" Với sự gia tăng dân số và xu thế công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa đang bao trùm nhiều quốc gia, tình trạng thiếu nước ngày càng gia tăng Có dự báo cho rằng đến năm
2020 khoảng 40% nhân loại sẽ phải sống trong những vùng thiếu nước Nguy cơ xung đột, thậm chí chiến tranh đang tiềm tàng trên các lưu vực một số sông lớn chảy qua những vùng dân cư đông đúc và có nhiều khó khăn về nước
- Ở nước ta với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa, phát triển nông nghiệp
và nâng cao đời sống nhân dân ở nông thôn yêu cầu về nước đang tăng lên với gia tốc Theo tài liệu nghiên cứu về tài nguyên nước của Việt Nam do Viện Quy hoạch thủy lợi hợp tác vớiNgân hàng thế giới, Ngân hàng Phát triển châu Á thực hiện năm 1996 thì năm 1990 lượng tàinguyên nước được sử dụng ở nước ta mới chỉ có 50 tỷ m3/năm, chỉ mới bằng khoảng 6% tổng tài nguyên Trong đó 92% được dùng cho nông nghiệp, 5% cho công nghiệp và 4% cho cấp nước đô thị Tài liệu này dự báo rằng lượng nước sử dụng sẽ tăng lên tới khoảng 65 tỷ m3/năm vào năm 2000; 72 tỷ m3/năm vào năm 2010 (tức tăng khoảng 11%); 80 tỷ m3/năm
Trang 19vào năm 2020 và 87 m3/năm vào năm 2030 Tỷ lệ nước dùng cho nông nghiệp giảm xuống còn 75%, cho công nghiệp tăng lên 16% và cho sinh hoạt là 9%.
Những tài liệu nghiên cứu gần đây hơn đã đưa ra những yêu cầu cao hơn nhiều về gia tăng dùng nước ở nước ta So sánh với năm 2000 tổng lượng nước sử dụng trong năm 2010 sẽ tăng 14%; năm 2020, 25% và năm 2030, 38% Riêng cho nông nghiệp, đến năm 2010, với diện tích tưới là 12 triệu ha, lượng nước cần dùng đã là 88,8 tỷ m3/năm Tỷ lệ dân số được
sử dụng nước sạch hiện nay là 60%, dự kiến sẽ đạt 80% năm 2005 và 95% năm 2010 Nhu cầu nước cho sinh hoạt đương nhiên phải tăng theo Với đà gia tăng được dự báo trên đây đến năm 2030 lượng nước sử dụng sẽ có thể lên tới gần 90 tỷ m3/năm, tức bằng khoảng 11%tổng tài nguyên nước, hoặc 29% tài nguyên nước hình thành trên lãnh thổ quốc gia
II Ô nhiễm nguồn nước
1. Khái Niệm:
- Ô nhiễm nước là hiện tượng các vùng nước như sông, hồ, biển, nước ngầm bị các hoạt động của con người làm nhiễm các chất độc hại như chất có trong thuốc bảo vệ thực vật, chất thải công nghiệp chưa được xử lý, tất cả có thể gây hại cho con người vàcuộc sống các sinh vật trong tự nhiên
- Ô nhiễm nước là sự thay đổi thành phần và chất lượng nước không đáp ứng được cho các mục đích sử dụng khác nhau, vượt quá tiêu chuẩn cho phép và có ảnh hưởng xấu đến đời sống con người và sinh vật
- Hiến chương châu Âu về nước đã định nghĩa: "Ô nhiễm nước là sự biến đổi nói chung
do con người đối với chất lượng nước, làm nhiễm bẩn nước và gây nguy hiểm cho con người, cho công nghiệp, nông nghiệp, cho động vật nuôi và các loài hoang dã."
2. Nguồn gốc:
a. Ô nhiễm tự nhiên:
- Là do mưa,tuyết tan, lũ lụt, gió bão… hoặc do các sản phẩm hoạt động sống của sinh vật, kể cả xác chết của chúng Cây cối, sinh vật chết đi, chúng bị vi sinh vật phân hủy thành chất hữu cơ Một phần sẽ ngấm vào lòng đất, sau đó ăn sâu vào nước ngầm, gây ô nhiễm hoặc theo dòng nước ngầm hòa vào dòng lớn Lụt lội có thể làm nước mất sự trong sạch, khuấy động những chất dơ trong hệ thống cống rãnh, mang theo nhiều chất thải độc hại từ nơi đổ rác và cuốn theo các loại hoá chất trước đây đã được cất giữ Nướclụt có thể bị ô nhiễm do hoá chất dùng trong nông nghiệp, kỹ nghệ hoặc do các tác nhân độc hại ở các khu phế thải Công nhân thu dọn lân cận các công trường kỹ nghệ bị lụt cóthể bị tác hại bởi nước ô nhiễm hoá chất Ô nhiễm nước do các yếu tố tự nhiên (núi lửa, xói mòn, bão, lụt, ) có thể rất nghiêm trọng, nhưng không thường xuyên, và không phải
là nguyên nhân chính gây suy thoái chất lượng nước toàn cầu
- Nước bị ô nhiễm là do sự phủ dưỡng xảy ra chủ yếu ở các khu vực nước ngọt và các vùng ven biển, vùng biển khép kín Do lượng muối khoáng và hàm lượng các chất hữu
cơ quá dư thừa làm cho các quần thể sinh vật trong nước không thể đồng hoá được Kết quả làm cho hàm lượng ôxy trong nước giảm đột ngột, các khí độc tăng lên, tăng độ đục của nước, gây suy thoái thủy vực
b. Ô nhiễm nhân tạo
Trang 20b.1: Từ sinh hoạt hằng ngày:
Nước thải sinh hoạt (domestic wastewater): là nước
thải phát sinh từ các hộ gia đình, bệnh viện, khách
sạn, cơ quan trường học, chứa các chất thải trong
quá trình sinh hoạt, vệ sinh của con người Thành
phần cơ bản của nước thải sinh hoạt là các chất hữu
cơ dễ bị phân hủy sinh học (cacbohydrat, protein,
dầu mỡ), chất dinh dưỡng (photpho, nitơ), chất rắn
và vi trùng Tùy theo mức sống và lối sống mà
lượng nước thải cũng như tải lượng các chất có
trong nước thải của mỗi người trong một ngày là
khác nhau Nhìn chung mức sống càng cao thì
lượng nước thải và tải lượng thải càng cao
b.2: Từ các chất thải công nghiệp:
Nước thải công nghiệp (industrial wastewater): là
nước thải từ các cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ
công nghiệp, giao thông vận tải Khác với nước thải sinh hoạt hay nước thải đô thị, nướcthải công nghiệp không có thành phần cơ bản giống nhau, mà phụ thuộc vào ngành sản xuất công nghiệp cụ thể Ví dụ: nước thải của các xí nghiệp chế biến thực phẩm thường chứa lượng lớn các chất hữu cơ; nước thải của các xí nghiệp thuộc da ngoài các chất hữu
cơ còn có các kim loại nặng, sulfua, Người ta thường sử dụng đại lượng PE
(population equivalent) để so sánh một cách tương đối mức độ gây ô nhiễm của nước thải công nghiệp với nước thải đô thị Đại lượng này được xác định dựa vào lượng thải trung bình của một người trong một ngày đối với một tác nhân gây ô nhiễm xác định Các tác nhân gây ô nhiễm chính thường được sử dụng để so sánh là COD (nhu cầu oxy hóa học), BOD5 (nhu cầu oxy sinh hóa), SS (chất rắn lơ lửng) Ngoài các nguồn gây ô
(Ý thức của mọi người vẫn còn kém)
(Hình ảnh minh họa ô nhiễm từ các xí nghiệp xả thải thẳng ra môi trường)
Trang 21nhiễm chính như trên thì còn có các nguồn gây ô nhiếm nước khác như từ y tế hay từ các hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp của con người.
3. Nguyên Nhân:
- Trong quá trình sinh hoạt hàng ngày, dưới tốc độ phát triển như hiện nay con người vô tình làm ô nhiễm nguồn nước bằng các hóa chất, chất thải từ các nhà máy, xí nghiệp Các đơn vị cá nhân sử dụng nước ngầm dưới hình thức khoan giếng, sau khi ngưng không sử dụng không bịt kín các lỗ khoan lại làm cho nước bẩn chảy lẫn vào làm ô nhiễm nguồn nước ngầm Các nhà máy xí nghiệp xả khói bụi công nghiệp vào không khílàm ô nhiễm không khí, khi trời mưa, các chất ô nhiễm này sẽ lẫn vào trong nước mưa cũng góp phần làm ô nhiễm nguồn nước
a Nguyên nhân Hóa học:
a.1: Các ion hòa tan:
Nhiều ion hữu cơ có nồng độ rất cao trong nước tự nhiên, đặc biệt là trong nước
biển.Trong nước thải đô thị luôn chứa một lượng lớn các ion Cl-, SO42-, PO43, Na+, K+ Trong nước thải công nghiệp, ngoài các ion kể trên còn có thể có các chất vô cơ có độc tính rất cao như các hợp chất của Hg, Pb, Cd, As, Sb, Cr, F
a.2: Các chất dinh dưỡng (N,P):
Muối của nitơ và photpho là các chất dinh dưỡng đối với thực vật, ở nồng độ thích hợp chúng tạo điều kiện cho cây cỏ, rong tảo phát triển Amoni, nitrat, photphat là các chất dinh dưỡng thường có mặt trong các nguồn nước tự nhiên, hoạt động sinh hoạt và sản xuất của con người đã làm gia tăng nồng độ các ion này trong nước tự nhiên Mặc dù không độc hại đối với người, song khi có mặt trong nước ở nồng độ tương đối lớn, cùng với nitơ, photphat sẽ gây ra hiện tượng phú dưỡng Lúc đó bắt đầu xảy ra hiện tượng phúdưỡng với sự phát triển bùng nổ của tảo, nước hồ trở nên có màu xanh, một lượng lớn bùn lắng được tạo thành do xác của tảo chết Dần dần, hồ sẽ trở thành vùng đầm lầy và cuối cùng là vùng đất khô, cuộc sống của động vật thủy sinh trong hồ bị ngừng trệ
a.3: Các kim loại nặng:
Pb, Hg, Cr, Cd, As, Mn, thường có trong chất và nước thải công nghiệp Hầu hết các kim loại nặng đều có độc tính cao đối với con người và các động vật khác Chì (Pb): chì
có trong nước thải của các cơ sở sản xuất pin, acqui, luyện kim, hóa dầu Chì còn được đưa vào môi trường nước từ nguồn không khí bị ô nhiễm do khí thải giao thông Thủy ngân (Hg): thủy ngân là kim loại được sử dụng trong nông nghiệp (thuốc chống nấm) vàtrong công nghiệp (làm điện cực) Trong tự nhiên, thủy ngân được đưa vào môi trường
từ nguồn khí núi lửa Ở các vùng có mỏ thủy ngân, nồng độ thủy ngân trong nước khá cao Nhiều loại nước thải công nghiệp có chứa thủy ngân ở dạng muối vô cơ của Hg(I), Hg(II) hoặc các hợp chất hữu cơ chứa thủy ngân Asen (As): asen trong các nguồn nước
có thể do các nguồn gây ô nhiễm tự nhiên (các loại khoáng chứa asen) hoặc nguồn nhân tạo (luyện kim, khai khoáng ) Asen thường có mặt trong nước dưới dạng asenit
(AsO33-), asenat (AsO43-) hoặc asen hữu cơ (các hợp chất loại methyl asen có trong môi trường do các phản ứng chuyển hóa sinh học asen vô cơ)
a.4: Các chất hữu cơ:
Trang 22- Các chất hữu cơ dễ bị phân hủy sinh học Cacbonhidrat, protein, chất béo… thường
có mặt trong nước thải sinh hoạt, nước thải đô thị, nước thải công nghiệp chế biến thực phẩm là các chất hữu cơ dễ bị phân huỷ sinh học Trong nước thaỉ sinh hoạt, có khoảng 60-80% lượng chất hữu cơ thuộc loại dễ bị phân huỷ sinh học.Chất hữu cơ dễ bị phân huỷ sinh học thường ảnh hưởng có hại đến nguồn lợi thuỷ sản, vì khi bị phân huỷ các chất này sẽ làm giảm oxy hoà tan trong nước, dẫn đến chết tôm cá
- Các chất hữu cơ bền vững: Các chất hữu cơ có độc tính cao thường là các chất bền vững, khó bị vi sinh vật phân huỷ trong môi trường Một số chất hữu cơ có khả năng tồnlưu lâu dài trong môi trường và tích luỹ sinh học trong cơ thể sinh vật Do có khả năng tích luỹ sinh học, nên chúng có thể thâm nhập vào chuỗi thức ăn và từ đó đi vào cơ thể con người Các chất polychlorophenol(PCPs), polychlorobiphenyl (PCBs:
polychlorinated biphenyls), các hydrocacbon đa vòng ngưng tụ(PAHs: polycyclic
aromatic hydrocacbons), các hợp chất dị vòng N, hoặc O là các hợp chất hữu cơ bền vững Các chất này thường có trong nước thải công nghiệp, nước chảy tràn từ đồng ruộng (có chứa nhiều thuốc trừ sâu, diệt cỏ, kích thích sinh trưởng…) Các hợp chất này thường là các tác nhân gây ô nhiễm nguy hiểm, ngay cả khi có mặt với nồng độ rất nhỏ trong môi trường
a.5: Dầu mỡ: Dầu mỡ là chất khó tan trong nước, nhưng tan được trong các dung môi
hữu cơ Dầu mỡ có thành phần hóa học rất phức tạp Dầu thô có chứa hàng ngàn các phân tử khác nhau, nhưng phần lớn là các Hidro cacbon có số cacbon từ 2 đến 26 Trongdầu thô còn có các hợp chất lưu huỳnh, nitơ, kim loại Các loại dầu nhiên liệu sau tinh chế (dầu DO2, FO) và một số sản phẩm dầu mỡ khác còn chứa các chất độc như PAHs, PCBs,…Do đó, dầu mỡ thường có độc tính cao và tương đối bền trong môi trường nước.Độc tính và tác động của dầu mỡ đến hệ sinh thái nước không giống nhau mà phụ thuộc vào loại dầu mỡ
b Nguyên nhân sinh học:
- Các vi sinh vật gây bệnh: Nhiều vi sinh vật gây bệnh có mặt trong nước gây tác hại cho mục đích sử dụng nước trong sinh hoạt Các sinh vật này có thể truyền hay gây bệnhcho người Các sinh vật gây bệnh này vốn không bắt nguồn từ nước, chúng cần có vật chủ để sống ký sinh, phát triển và sinh sản Một số các sinh vật gây bệnh có thể sống một thời gian khá dài trong nước và là nguy cơ truyền bệnh tiềm tàng Các sinh vật này
là vi khuẩn, virút, động vật đơn bào, giun sán Ngoài ra còn có một số tác nhân như các chất có màu, các chất gây mùi vị…
- Ô nhiễm nước sinh học do các nguồn thải đô thị hay kỹ nghệ có các chất thải sinh hoạt, phân, nước rửa của các nhà máy đường, giấy
- Sự ô nhiễm về mặt sinh học chủ yếu là do sự thải các chất hữu cơ có thể lên men được: sự thải sinh hoạt hoặc kỹ nghệ có chứa chất cặn bã sinh hoạt, phân tiêu, nước rửa của các nhà máy đường, giấy, lò sát sinh
c Ô nhiễm Vật lý
- Các chất rắn không tan khi được thải vào nước làm tăng lượng chất lơ lửng, tức làm tăng độ đục của nước Các chất này có thể là gốc vô cơ hay hữu cơ Nhiều chất thải côngnghiệp có chứa các chất có màu, hầu hết là màu hữu cơ, làm giảm giá trị sử dụng của nước về mặt y tế cũng như thẩm mỹ
Trang 23- Ngoài ra các chất thải công nghiệp còn chứa nhiều hợp chất hoá học như muối sắt, mangan, clor tựdo, hydro sulfur, phenol làm cho nước có vị không bình thường Các chất amoniac, sulfur, cyanur, dầu làm nước có mùi lạ Thanh tảo làm nước có mùi bùn, một số sinh vật đơn bào làm nước có mùi tanh của cá.
4. Hậu quả:
a. Nhiễm kim loại nặng
- Các kim loại nặng có trong nước là cần
thiết cho sinh vật và con người vì chúng
là những nguyên tố vi lượng mà sinh vật
cần tuy nhiên với hàm lượng cao nó lại là
nguyên nhân gây độc cho con người, gây
ra nhiều bệnh hiểm nghèo như ung thư,
đột biến Đặc biệt đau lòng hơn là nó là
nguyên nhân gây nên những làng ung
thư Các ion kim loại được
phát hiện là hợp chất kìm
methionin và xystein Các kim loại nặng có tính độc cao như chì (pb), thủy ngân (hg), asen (as)…
b. Do các hợp chất hữu cơ
- Trên thế giới hàng năm có khoảng 60.105 tấn các chất hữu cơ tổng hợp bao gồm các chất nhiên liệu,chất màu, thuốc trừ sâu, thuốc kích thích tăng trưởng, các phụ gia trong dược phẩm thực phẩm Các chất này thường độc và có độ bền sinh học khá cao, đặc biệt
là các hiđrôcacbon thơm gây ô nhiễm môi trường mạnh, gây ảnh hưởng lớn đến sức khỏe con người
- Các hợp chất hữu cơ như: các hợp chất hữu cơ của phenol, các hợp chất bảo vệ thực vật như thuốc trừ sâu DDT, linden(666), endrin, parathion, sevin, bassa… Các chất tẩy rửa có hoạt tính bề mặt cao là những chất ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe, bị nghi ngờ là gây ung thư
c. Vi khuẩn có trong nước thải
- Vi khuẩn có hại trong nước bị ô nhiễm có từ chất thải sinh hoạt của con người, động vật có thể gây ra bệnh tả,ung thư da, thương hàn và bại liệt
- Cần tiến hành xử lý nguồn nước thải từ các ao nuôi trước khi thải ra môi trường
(Một trong những triệu chứng của cơ thể bị tích tụ
kim loại nặng)
Trang 24- Có thể ứng dụng các kỹ thuật xử lý nước thải sau nuôi tôm bằng biện pháp xử lý sinh học như dùng các loài nhiễm thể hai mảnh vỏ lọ bỏ các chất hữu cơ trong nước thải tại các ao chứa nước thải và có thể tái sử dụng nguồn nước này cấp lại cho các ao nuôi (đã áp dụng thành công tại Cà Mau.
- Lượng bùn sên vét đáy cào ao nuôi cần được xử lý làm phân bón vi sinh học được chôn lấp, không được để tràn tự nhiên ra môi trường
a Các biện pháp thuỷ lợi nhằm giảm ô nhiễm nguồn nước.
- Xây dựng chế độ tưới, tiêu hợp lý cho các vùng quy hoạch sản xuất lúa, vùng nuôi thuỷ sản, xây dựng quy trình đóng mở cống ngăn mặn hợp lý đáp ứng yêu cầu: Lấy nước mặn, ngăn mặn, xả phèn và trữ ngọt
- Quản lý nước trong hệ thống kênh mương nội đồng cần phải được tính toán theo chế
độ rửa, chế độ tưới cho các loại cây trồng, cho từng loại đất và hướng dẫn người dân cách thức vận hành quản lý nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao về hệ số sử dụng nước và giảm mức độ gây ô nhiễm môi trường hoặc gây lãng phí nguồn nước
- Xây dựng các tổ dùng nước nhằm sử dụng hợp ý, có hiệu quả nguồn nước tưới tạo điều kiện tốt cho việc quản lý tài nguyên nước, sử dụng nước tiết kiệm và các hộ gia đình học hỏi lẫn nhau về kỹ thuật canh tác, nuôi trồng cũng như kỹ thuật sử dụng nguồn nước cho thuỷ sản
- Lập các chương trình dự báo về diễn biến môi trường nước trong các vùng bố trí quy hoạch nuôi thuỷ sản, trồng lúa theo các phương án thiết kế hệ thống công trình thuỷ lợi
Trang 25b Các biện pháp trong nông nghiệp:
- Quy hoạch sản xuất nông nghiệp cho từng tiểu vùng cần phải xét đến tính phù hợp
về điều kiện thổ nhưỡng, tập quán canh tác, nguồn nước cấp, mức tăng trưởng dân số trong những năm tới
- Các vùng đất trũng, phèn nặng cần xây dựng các hồ sinh thái phát triển tổng hợp: Phát triển thuỷ sản, lấy nước tưới vào thời kỳ hạn và sử dụng nước sinh hoạt
- Thiết kế, quy hoạch của các ngành như nông nghiệp, thuỷ lợi, giao thông, thuỷ sản, xây dựng nên được xét đồng bộ nhằm xây dựng một kế hoạch hoàn chỉnh, lâu dài,
không chồng chéo để không xảy ra hiện tượng lãng phí và ảnh hưởng tới môi trường
- Canh tác trên vùng đất phèn phải thực hiện theo các hướng dẫn kỹ thuật nhằm hạn chế sự xì phèn, tiêu thoát các độc tố từ trong đất ra nguồn nước mặt do quá trình thau rửa phèn
- Khuyến cáo nông dân sử dụng phân bón vi sinh, sử dụng thuốc trừ sâu và thuốc diệt
cỏ có thời gian phân giải ngắn
c Biện pháp quản lý và giáo dục cộng đồng:
- Cần có sự hợp tác toàn diện giữa Ban quản lý các dự án với các ban ngành có liên quan của địa phương
bàn về vấn đề tổ chức
thực hiện, về tiến độ
thi công, về biện pháp
thi công và về giám
sát thi công công
trình
- Giám sát việc
thực thi các hạng mục
công trình theo nội
dung thiết kế, khi có
các vấn đề ô nhiễm
môi trường xảy ra cần
đề xuất ngay các giải
pháp cụ thể mang tính khả thi để khắc phục mà không phải chờ đợi kéo dài thời gian tăng thêm mức độ nghiêm trọng
- Thông báo cho người dân trong vùng dự án về những kế hoạch, tiến độ xây dựng cáccông trình và lợi ích của các công trình này đối với đời sống dân sinh kinh tế
- Tuyên truyền vận động quần chúng hưởng ứng các chương trình chống ô nhiễm môi trường nước: Không thải các chất thải sinh hoạt, chất thải chăn nuôi và chất thải rắn xuống các kênh rạch
- Di rời các nhà ở phía lòng kênh vào phía trong để tránh hiện tượng xả thải xuống lòngkênh và tai nạn giao thông thuỷ
- Xây dựng các khu tái định cư cần phải bố trí hệ thống thu gom xử lý nước thải, rác thải, xây dựng hệ thống nước cấp sinh hoạt
- Cần xây dựng kế hoạch thu thập, phân tích định kỳ về chất lượng nước trong vùng Phân tích diễn biến về thành phần các loài sinh vật nước
Trang 26(Các một số biện pháp từ Bộ Tài nguyên và Môi trường, và tham khảo trên mạng)
Trang 27B. Tài Nguyên Không Khí:
I Khái niệm ô nhiễm không khí:
Ô nhiễm không khí là sự thay đổi lớn trong thành phần của không khí, chủ yếu
do khói, bụi, hơi hoặc các khí lạ được đưa vào không khí, có sự tỏa mùi, làm giảm tầm nhìn xa, gây biến đổi khí hậu, gây bệnh cho con người và cũng có thể gây hại cho các sinh vật khác như động vật và cây lương thực, và có thể làm hỏng môi trường tự nhiên hoặc xây dựng Hoạt động của con người và các quá trình tự nhiên có thể gây ra ô nhiễmkhông khí
II Các chất gây ô nhiễm môi trường:
- Sol khí là chất lơ lửng phân tán trong không khí với kích thước dạng keo (d < 1μ m)
và tương đối bền, khó lắng Sol khí cũng là nguồn gốc tạo nên các nhân ngưng tụ hình thành mây mưa
3. Các Ion:
- Ở các thành phố, nơi tập trung đông dân, nhà máy, ô nhiễm nhiều nên lượng ion nhẹ ít, chỉ khoảng 400 ion/ml Ở nông thôn, hàm lượng ion nhẹ nhiều hơn, 2.000 ion/ml không khí
- Thiếu ion nhẹ sẽ bị mệt mỏi, buồn ngủ Ion nhẹ có tác dụng chữa bệnh rất tốt, với hàm lượng 20.000 ion/ml không khí sẽ có tác dụng tốt đến hệ thần kinh và các bệnh huyết áp cao, hen suyễn, dị ứng và nội tiết
4. Các hạt nhỏ, các chất nguy hại khác:
Phóng xạ có nguồn gốc từ tự nhiên (từ mặt đất, các lớp đá hoa cương) và từ nhân tạo chủ yếu là từ các cơ sở sử dụng chất phóng xạ, nhà máy điện hạt nhân
III Các chất ô nhiễm chủ yếu và phổ biến như sau:
- SO2 (Dioxide lưu huỳnh, sulfurơ):
Là chất chủ yếu làm nhiễm bẩn không khí – có hại cho quá trình hô hấp Do tính acid,
SO2 có hại cho đời sống của thủy sinh vật cũng như các vật liệu khác SO2 vượt quá mức thì hạn chế quang hợp, gây mưa acid, là chất không màu, hơi cay, hơi nặng, bay là
là mặt đất
- NOx (Oxide Nitơ):
Đáng lưu ý là NO và NO2, có tính acid như SO2, 70% NOx trong không khí là sản phẩm của các phương tiện vận tải, hoặc do đốt nhiên liệu nhiệt độ cao, do sấm sét oxy hóa nitơ
Trang 28không khí Tính khó tan của chất thải này, cùng với sự gia tăng các phương tiện vận tải giao thông đã làm tăng ô nhiễm môi trường ở các thành phố.
- CO (mono oxide cacbon):
Phát sinh nhiều từ khí thải xe hơi (80%) hoặc chính xác hơn là các xe chạy bằng xăng tạo sản phẩm đốt không hoàn toàn CO là chất khí không màu, không mùi Con người nhạy cảm với CO hơn động vật Hiện nay CO chiếm tỉ lệ gây ô nhiễm cao nhất
- CO2 (Dioxide Cacbon):
Là sản phẩm của quá trình đốt cháy, là một trong những yếu tố tạo nên hiện tượng hiệu ứng "nhà kính" Các quá trình đốt cháy như cháy rừng, sản xuất điện, trong công nghiệp,trong vận tải, trong xây dựng
- Chì (Pb):
Là sản phẩm điển hình của văn minh ôtô chạy xăng Tetraethyl chì được pha vào xăng làm tăng chỉ số octan Pb được thải ra dưới dạng hạt nhỏ, gây ảnh hưởng lên sự hô hấp, máu của con người
- Các chất hydrocacbon và các dung môi (gọi chung là chất hữu cơ bay hơi – VOC)
* Hiện trạng MTKK ở Việt Nam: Bụi vẫn là tác nhân ô nhiễm chủ yếu
a MTKK đô thị
- Tại các đô thị, ô nhiễm do bụi vẫn là vấn đề đáng lo ngại nhất và chưa được cải thiện
so với giai đoạn từ 2003 - 2007 Nồng độ các thông số bụi (bụi mịn và bụi lơ lửng tổng số) có xu hướng duy trì ở ngưỡng cao, đặc biệt tại các trục giao thông và tuyến đường chính ở các đô thị lớn Các khu công trường xây dựng cũng góp phần đáng kể gây ô nhiễm bụi và phạm vi ô nhiễm chủ yếu là cục bộ Kết quả đo cho thấy, số ngày có giá trị
Trang 29bụi PM10, PM2,5 vượt QCVN chiếm tỷ lệ khá cao, đặc biệt tại các trạm ven đường giaothông.
- Bên cạnh đó là vấn đề bụi mịn, yếu tố có tác động nguy hại đáng kể đối với sức khỏe người dân Tỷ lệ bụi mịn (PM2,5 và PM1) ở nước ta khá cao, đặc biệt ghi nhận vào những ngày nhiệt độ thấp hoặc không khí khô
b MTKK quanh khu vực sản xuất
- Vấn đề nổi cộm ở các khu vực sản xuất là ô nhiễm bụi Nồng độ bụi lơ lửng tổng số tại nhiều điểm quan trắc quanh các khu công nghiệp vượt quy chuẩn trung bình 24 giờ
và trung bình năm
- Ngoài ra, ô nhiễm tiếng ồn xung quanh các khu công nghiệp cũng được ghi nhận Đặctrưng ở một số nhà máy chế biến nông lâm thủy sản, mùi ô nhiễm rất nặng gây ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống người dân ở khu vực lân cận Các thông số khác (NO2, SO2) nhìn chung vẫn thấp hơn ngưỡng quy chuẩn cho phép
c MTKK khu vực nông thôn và làng nghề
- Đối với vùng nông thôn, nhìn chung chất lượng MTKK còn khá tốt Môi trường chủ yếu bị tác động cục bộ do các hoạt động sản xuất của làng nghề, xây dựng, đốt rơm rạ, đốt rác thải, đun nấu
- Nồng độ SO2, NO2 tại các làng nghề tái chế nhựa, đúc đồng rất cao, vượt nhiều lần giới hạn cho phép Bụi và tiếng ồn là hai vấn đề ô nhiễm thường xảy ra ở các làng nghề
cơ khí và sản xuất đồ gỗ Đối với các làng nghề chế biến thực phẩm, ô nhiễm mùi là vấn
đề nổi cộm ảnh hưởng đáng kể đến môi trường
2. Thế giới
- Thủ đô New Delhi của Ấn Độ
+ Thủ đô New Delhi của Ấn Độ là thành phố ô nhiễm nhất thế giới Tình trạng ô nhiễmkhông khí nghiêm trọng gây ra chủ yếu bởi khí thải từ phương tiện giao thông, ước tính
có tới 8,5 triệu phương tiện đang hoạt động tại đây
+ Mới đây Viện Nguồn lực năng lượng New Delhi và Viện Tác động y tế (Mỹ) cùng công bố nghiên cứu cho thấy mỗi năm có 3.000 người chết ở New Delhi vì ô nhiễm không khí