1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

phát triển sản xuất mận trên địa bàn huyện trà lĩnh, tỉnh cao bằng

123 445 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 6,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chỉ tiêu giá trị sản xuất, giá trị gia tăng và thu nhập hỗn hợp đạt được của cây mận tính trên đồng chi phí trung gian trung bình lần lượt là 4,93 lần; 3,93 lần và 3,63 lần đã chứng tỏ s

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Văn Đức

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng được dùng để bảo vệ lấy bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm

ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Hoàng Thị Hương

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được

sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình

Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết

ơn sâu sắc đối với thầy giáo hướng dẫn TS Trần Văn Đức đã dành nhiều công sức, thời gian tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Kinh tế, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn Tôi chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Cao Bằng, UBND huyện Trà Lĩnh, các phòng chuyên môn huyện Trà Lĩnh, UBND và nhân dân các xã Quang Hán, Xuân Nội, thị trấn Hùng Quốc đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Hoàng Thị Hương

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục chữ viết tắt vi

Danh mục bảng vii

Danh mục biểu đồ, sơ đồ ix

Danh mục hộp ix

Trích yếu luận văn x

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 4

1.5 Đóng góp của đề tài 4

Phần 2 Tổng quan tài liệu về phát triển sản xuất mận 5

2.1 Cơ sở lý luận về phát triển sản xuất mận 5

2.1.1 Một số khái niệm cơ bản 5

2.1.2 Vai trò của phát triển sản xuất mận 9

2.1.3 Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật sản xuất mận 11

2.1.4 Nội dung của phát triển sản xuất mận 13

2.1.5 Những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất mận 16

2.2 Cơ sở thực tiễn về phát triển sản xuất mận 19

2.2.1 Tình hình phát triển sản xuất mận của các nước trên thế giới 19

2.2.2 Kinh nghiệm phát triển sản xuất mận của các địa phương trong nước 22

2.2.3 Các công trình nghiên cứu về cây mận 26

Trang 5

2.3 Bài học kinh nghiệm về phát triển sản xuất mận của huyện Trà Lĩnh,

tỉnh Cao Bằng 26

Phần 3 Phương pháp nghiên cứu 28

3.1 Đặc điểm cơ bản của huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng 28

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 28

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội của huyện 30

3.2 Phương pháp nghiên cứu 34

3.2.1 Chọn điểm nghiên cứu 34

3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 34

3.2.3 Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu 37

3.2.4 Phương pháp phân tích số liệu 37

3.2.5 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 38

Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 40

4.1 Khái quát về sản xuất và tiêu thụ mận tại huyện Trà Lĩnh 40

4.1.1 Chủ trương chính sách 40

4.1.2 Quy hoạch phát triển sản xuất mận giai đoạn 2011 - 2015 41

4.1.3 Diện tích, năng suất, sản lượng mận 43

4.1.4 Tình hình tiêu thụ mận của huyện Trà Lĩnh 49

4.2 Thực trạng phát triển sản xuất mận của huyện Trà Lĩnh 52

4.2.1 Đặc điểm chung của hộ sản xuất mận 52

4.2.2 Diện tích, năng suất và sản lượng mận của các hộ điều tra 54

4.2.3 Đầu tư cho phát triển sản xuất mận 55

4.2.4 Các yếu tố đầu vào phục vụ phát triển sản xuất mận 60

4.2.5 Tập huấn kỹ thuật cho người lao động 66

4.2.6 Liên kết trong sản xuất 68

4.2.7 Kết quả và hiệu quả sản xuất mận tại huyện Trà Lĩnh 69

4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất mận trên địa bàn huyện Trà Lĩnh 77

4.3.1 Các yếu tố điều kiện tự nhiên 77

4.3.2 Quy mô, cơ cấu sản xuất 78

4.3.3 Các nguồn lực cho phát triển sản xuất 79

4.3.4 Các yếu tố đầu vào và kỹ thuật 80

Trang 6

4.3.5 Thị trường tiêu dùng mận 82

4.3.6 Chủ trương chính sách 83

4.3.7 Cơ sở hạ tầng 83

4.4 Giải pháp phát triển sản xuất mận tại huyện Trà Lĩnh 84

4.4.1 Căn cứ của giải pháp 84

4.4.2 Các giải pháp chủ yếu phát triển sản xuất mận ở huyện Trà Lĩnh 88

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 95

5.1 Kết luận 95

5.2 Kiến nghị 97

5.2.1 Đối với tỉnh Cao Bằng 97

5.2.2 Đối với huyện Trà Lĩnh 97

5.2.3 Đối với các địa phương sản xuất mận nói chung 97

Tài liệu tham khảo 98

Phụ lục 100

Trang 7

Nông nghiệp và phát triển nông thôn Phát triển nông thôn

Phương pháp Phát triển sản xuất

SX

TB

UBND

Sản xuất Trung bình

Ủy ban nhân dân

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Tình hình sản xuất mận ở các vùng trên thế giới qua các năm 21

Bảng 2.2 Tình hình sản xuất mận ở một số nước trên thế giới năm 2015 21

Bảng 2.3 Đặc điểm của một số giống mận đang được trồng ở Việt Nam 23

Bảng 2.4 Tình hình sản xuất mận ở một số tỉnh trong nước năm 2015 23

Bảng 3.1 Tình hình sử dụng và phân bổ đất đai huyện Trà Lĩnh 30

Bảng 3.2 Tình hình lao động và sử dụng lao động của huyện Trà Lĩnh năm 2013 - 2015 32

Bảng 3.3 Số lượng mẫu điều tra 36

Bảng 4.1 Quy hoạch phát triển sản xuất mận giai đoạn 2011 - 2015 41

Bảng 4.2 Diện tích trồng mận của huyện Trà Lĩnh từ năm 2011 - 2015 44

Bảng 4.3 Năng suất mận tại huyện Trà Lĩnh giai đoạn 2011-2015 46

Bảng 4.4 Năng suất của một số giống mận chính ở huyện Trà Lĩnh 47

Bảng 4.5 Sản lượng mận của huyện Trà Lĩnh giai đoạn 2011 - 2015 48

Bảng 4.6 Khối lượng tiêu thụ mận trên thị trường huyện Trà Lĩnh giai đoạn 2011 - 2015 51

Bảng 4.7 Giá bán mận ở các thời kỳ thu hoạch 52

Bảng 4.8 Đặc điểm cơ bản của hộ sản xuất mận huyện Trà Lĩnh 53

Bảng 4.9 Diện tích, năng suất, sản lượng mận của các hộ điều tra 54

Bảng 4.10 Diện tích đất đai để phát triển sản xuất mận Trà Lĩnh 55

Bảng 4.11 Tình hình sử dụng lao động sản xuất mận của các hộ điều tra 56

Bảng 4.12 Tình hình sử dụng vốn đầu tư cho sản xuất mận tại các xã điều tra 57

Bảng 4.13 Chi phí sản xuất thực tế của hộ sản xuất mận huyện Trà Lĩnh năm 2015 59

Bảng 4.14 Cơ cấu về nhu cầu giống mận qua các kênh cung ứng năm 2015 61

Bảng 4.15 Độ đồng đều và tỷ lệ sống của cây mận giống qua các kênh cung ứng

của các hộ điều tra 62

Bảng 4.16 Lượng phân bón đưa vào sản xuất mận tại các hộ điều tra 63

Bảng 4.17 Số lượng thuốc trừ sâu đưa vào sản xuất mận năm 2013 - 2015 64

Bảng 4.18 Tình hình sử dụng thuốc BVTV cho sản xuất mận ở điểm điều tra 65

Bảng 4.19 Tình hình sử dụng nước tưới tại các hộ điều tra năm 2015 66

Trang 9

Bảng 4.20 Kết quả tập huấn kỹ thuật sản xuất mận của huyện Trà Lĩnh năm

2013 - 2015 67 Bảng 4.21 Kết quả tập huấn kỹ thuật sản xuất mận cho các hộ dân tại điểm điều

tra năm 2015 68 Bảng 4.22 Kết quả và hiệu quả sản xuất của các hộ sản xuất mận huyện Trà

Lĩnh năm 2015 71 Bảng 4.23 Thay đổi thu nhập trong các hộ trồng mận 73 Bảng 4.24 Số lao động thu hút từ phát triển sản xuất mận 75 Bảng 4.25 Nguồn kinh phí hỗ trợ xây dựng mô hình che chắn sương muối trong

sản xuất mận tại huyện Trà Lĩnh 78 Bảng 4.26 Quy hoạch diện tích, năng suất, sản lượng mận huyện Trà Lĩnh

giai đoạn 2016 - 2020 84 Bảng 4.27 Phân tích ma trận SWOT trong phát triển sản xuất mận tại huyện

Trà Lĩnh 87

Trang 10

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Cơ cấu giá trị sản xuất năm 2015 33

Biểu đồ 4.1 Tỷ lệ cây mận được trồng theo các hình thức 60

Biểu đồ 4.2 Số cây mận được trồng mới tại huyện Trà Lĩnh 76

Sơ đồ 4.1 Các mối quan hệ trong cung ứng giống mận 61

Sơ đồ 4.2 Các kênh tập huấn kỹ thuật trồng mận 67

DANH MỤC HỘP Hộp 4.1 Từ khi gia đình chúng tôi mở rộng diện tích trồng mận, kinh tế khá hơn rất nhiều 72

Hộp 4.2 Sự chuyển mình từ cây mận 74

Hộp 4.3 Vào vụ mận làm không hết việc 75

Hộp 4.4 Thủ tục vay ở ngân hàng rườm rà, số tiền vay không đủ mua giống, phân bón, thuốc BVTV, nên ảnh hưởng đến sản xuất của hộ 79

Hộp 4.5 Gia đình tôi vẫn chưa trồng nhiều giống mận mới 80

Trang 11

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Hoàng Thị Hương

Tên luận văn: Phát triển sản xuất mận trên địa bàn huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp Mã số: 60.62.01.15

Cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Trên cơ sở đánh giá thực trạng phát triển sản xuất mận trên địa bàn huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển sản xuất mận trên địa bàn trong những năm tới

Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: Phương pháp chọn điểm nghiên cứu, phương pháp thu thập số liệu thứ cấp và số liệu sơ cấp và các phương pháp phân tích; phương pháp so sánh, phương pháp thống kê mô tả, phương pháp phân tích SWOT để đánh giá thực trạng cũng như phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất mận trên địa bàn huyện Trà Lĩnh

Luận văn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về phát triển sản xuất nói chung và phát triển mận nói riêng, đặc biệt luận văn đã đi sâu phân tích những nội dung nghiên cứu và các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất mận làm cơ sở cho việc đánh giá thực trạng phát triển sản xuất mận huyện Trà Lĩnh

Trên cơ sở lý luận, hệ thống các chỉ tiêu, luận văn đã đánh giá thực trạng phát triển sản xuất mận trên địa bàn huyện Trà Lĩnh Qua đánh giá cho thấy, diện tích trồng mận không ngừng tăng lên qua các năm, từ năm 2011 đến năm 2015 bình quân tăng 2,51% Năm 2015 toàn huyện Trà Lĩnh có 85,23 ha trồng mận, với năng suất 72,89 tạ/ha sản lượng mận toàn huyện năm 2015 là 6472,20tạ Với khối lượng tiêu thụ là 6013,15 chủ yếu qua hình thức gián tiếp (83,33%), giá bán dao động từ 10-12 nghìn đồng Chỉ tiêu giá trị sản xuất, giá trị gia tăng và thu nhập hỗn hợp đạt được của cây mận tính trên đồng chi phí trung gian trung bình lần lượt là 4,93 lần; 3,93 lần và 3,63 lần đã chứng tỏ sản xuất mận đem lại hiệu quả kinh tế cao cho huyện Trà Lĩnh nói chung và người nông dân nói riêng Ngoài ra sản xuất mận còn mang lại hiệu quả với xã hội, môi trường qua số lượng lao động có công ăn việc làm hàng năm tăng lên và diện tích trồng mận hàng năm tăng giúp phủ xanh đất trống đồi núi trọc

Tuy nhiên, sản xuất mận huyện Trà Lĩnh vẫn gặp phải nhiều khó khăn: Diện tích đất các vùng trồng mận đang bị thu hẹp do phát triển công nghiệp và đô thị hoá; sản xuất chủ yếu vẫn quan tâm đến lợi nhuận trước mắt mà chưa thực sự quan tâm đến người tiêu dùng muốn gì; rủi ro do biến động giá cao; hộ nông dân còn sử dụng nhiều

Trang 12

thuốc BVTV mà không theo tiêu chuẩn an toàn thực phẩm, ảnh hưởng tới chất lượng mận thương phẩm Mối quan hệ giữa tác nhân sản xuất với các tác nhân khác trong chuỗi giá trị, sản xuất thiên về hướng cung (trong khi sản xuất trong chuỗi giá trị có đặc điểm là hướng cầu) Điều này ảnh hưởng đến kết quả sản xuất mận của huyện Trà Lĩnh

Trên cơ sở số liệu điều tra, luận văn đã đánh giá được những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất mận như: điều kiện tự nhiên, yếu tố đầu vào, yếu tố về giống, kỹ thuật, quy mô, cơ cấu sản xuất, thị trường tiêu thụ, nguồn lực phát triển, chủ trương chính sách, tác động tới năng suất hiệu quả cũng như các yếu tố tác động đến quyết định

mở rộng diện tích và chuyển đổi giữa các giống mận tại huyện Trà Lĩnh

Luận văn đã đưa ra được một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển sản xuất mận trong những năm tới đó là: Giải pháp về quy hoạch vùng phát triển sản xuất mận; giải pháp về kỹ thuật sản xuất; giải pháp về vốn và đầu tư; giải pháp về thu hái, đóng gói, bảo quản mận; giải pháp nâng cao hiệu quả tiêu thụ mận; giải pháp về chính sách

Luận văn cũng đã đề xuất một số kiến nghị với cơ quan chính quyền địa phương trực tiếp quản lý, nhằm đưa ra các chính sách hỗ trợ người dân tăng gia sản xuất mận

Trang 13

THESIS ABSTRACT

Name of author: Hoang Thi Huong

Title of the thesis: Developing plum production in Tra Linh district, Cao Bang province

Major: Agricultural Economics Code: 60.62.01.15

Educational institution: Vietnam National University of Agriculture

The study was carried out in order to evaluate the current situation of plum production in Tra Linh district, Cao Bang province, thereby proposing some solutions for developing plum production in the coming years

In this study, the main research methods employed to evaluate the current plum production and analyze factors affecting the development of plum production in Tra Linh district include study site selection method, primary data and secondary data collection methods; and analytical methods; comparative statistics, descriptive statistics, and SWOT analysis

The study systemized literature review of developing agricultural production in general and plum production in particular Particularly, the study focused on analyzing different research aspects and factors affecting plum production in order to evaluate the current situation of plum production in Tra Linh district

By taking into account literature review and indicators, this study evaluated the current situation of plum production in Tra Linh district It is clearly shown that the cultivation area for plum increased steadily over the years, from 2011 to 2015, the total plum area increased by 2.51% annually on average In 2015, in Tra Linh district there was 85.23 ha of land used for plum produciton, with a corresponding yield of 72.89 quintal/ha, and the total plum production in the district in 2015 was 6472.20 quintal of plum In total, 6013.15 quintal was sold, mainly through indirect channel (83.33%), at selling prices ranging from 10 to 12 thousand VND/kg The ratios of production value, value-added and mixed income over the average production cost gained from plum production were 4.93, 3.93 and 3.63, respectively That indicates that plum production provided high economic efficiency to Tra Linh district in general and farmers in particular Futhermore, plum production also brought out benefits to the society, environment, with the annual increase in employment record and the increase in area of plum cultivation which then helped to revagate barren and hilly areas

However, there were still many problems with plum production in Tra Linh district, more specifically: Land area for plum production was being narrowed due to

Trang 14

the industrialization and modernization; the main focus was still direct profit gained rather than consumers’ real interest and demand; high risks caused by wide price fluctuation; inappropriate use of pesticide by farmers which did not match food safety standard and affected quality of plum products sold to the market; and the relationship between production agents and other agents in the value chain, production was supply-based (while the production in the value chain is characterized by demand-based) All of these factors greatly affected the efficiency and profit gained from plum production in Tra Linh district

By analysing research data, the disseration helped to evaluate factors affecting plum production such as: natural conditions, inputs, breed quality, techniques, scale and structure of production, consumption markets, development resources, policies; the factors influencing productivity, efficiency; and the factors affecting decisions to expand scale of production and transition between different plum varieties in Tra Linh district

Based on the above analysis, the main solutions were proposed for developing plum production in the coming years as follows: planning of plum production areas; solutions regarding production techniques; solutions in terms of capital and investment; solutions in terms of harvesting, packaging and preserving; solutions for improving consumption rates; solutions in terms of appropriate policies

In addition, the dissertation also proprose a number of recommendations to local authorities in order to find out appropriate policies to support farmers in developing local plum production

Trang 15

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Cây ăn quả có vai trò quan trọng trong đời sống con người Sản phẩm quả

là nguồn dinh dưỡng quý cho con người về chất khoáng, đặc biệt chứa nhiều vitamin A và vitamin C rất cần cho cơ thể, sản phẩm từ cây ăn quả ngoài sử dụng

để ăn tươi còn là nguyên liệu cho ngành chế biến nước giải khát, đồ khô, đóng hộp Cây ăn quả đã trở thành một trong những loại cây có thế mạnh về kinh tế ở Việt Nam Sản phẩm cây ăn quả ngoài cung cấp cho thị trường trong nước còn là nguồn xuất khẩu sang các nước Trong những năm qua, nghề trồng cây ăn quả (trong đó có cây mận) đã trở thành một bộ phận quan trọng không thể thiếu đối với nền nông nghiệp và có nhiều đóng góp tích cực vào việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, góp phần xóa đói giảm nghèo và tăng thu nhập cho người nông dân Mận là loại cây ăn quả hạt cứng được trồng nhiều ở các tỉnh miền núi phía Bắc, được người tiêu dùng ưa thích Quả mận có thể sử dụng ăn tươi, chế biến nước giải khát, rượu hoa quả, bánh, mứt, kẹo, bột dinh dưỡng… Quả mận có giá trị dinh dưỡng cao, có lợi cho sức khỏe của người sử dụng, đặc biệt là người bị bệnh Trung bình trong mỗi quả mận có 7g đường, 26% vitamin C, 13% vitamin

K và 11% vitamin A, 1g chất xơ và một số dưỡng chất như đồng, mangan, kali, phốt pho, sắt, giàu axit malic, axit citric thiết yếu cho cơ thể Mận là một trong số các loại quả không chứa cholesterol (gây mệt mỏi), natri (gây huyết áp cao) và chất béo (gây mỡ máu) (Mạc Kim Tuyến, 2012) Các bộ phận của cây mận đều được sử dụng trong y dược như vị thuốc quý, lá mận giã nhỏ, ngâm rượu dùng xoa bóp đau nhức xương, gân, không đi lại được; hoa mận dùng trong mỹ phẩm

để làm mịn da, trắng da, trị nám và tàn nhang; vỏ rễ mận chữa kiết lỵ, đau răng; nhân hạt mận có tác dụng giảm đau, lợi tiểu, nhuận tràng; dịch ép quả mận có tác dụng thanh nhiệt, nhuận tràng… Trong y dược người ta thống kê được rất nhiều tác dụng của mận trong việc chữa trị cảm lạnh, viêm phế quản, đái đường, xơ gan

cổ chướng, kiết lỵ, thiếu máu, có công dụng của Viagra, ức chế tế bào ung thư thực quản, dạ dày và ung thư bàng quang…

Là cây trồng có hiệu quả kinh tế cao, nhưng thời gian gần đây cây mận gặp không ít khó khăn trong quá trình phát triển, do nhu cầu sản xuất lương thực, ngành trồng cây ăn quả nói chung và trồng mận nói riêng chưa được quan tâm phát triển Mận được trồng rải rác trong các vườn của nông dân và hoàn toàn

Trang 16

phát triển tự nhiên “nhờ trời”, làm cho các vườn cây xuống cấp, giống cây dần thoái hóa, chất lượng suy giảm (quả nhỏ, chua, mẫu mã xấu) dẫn đến năng suất thấp Đặc biệt sâu bệnh hại đa dạng và nguy hiểm (sâu đục quả, bệnh chảy gôm) cũng là những yếu tố hạn chế rất lớn đến sự phát triển của mận Quy trình kỹ thuật chăm sóc chưa được hoàn thiện để phù hợp với điều kiện sản xuất của địa phương (các vấn đề ẩm độ đất, tăng tỷ lệ đậu quả, hạn chế rụng quả non, chống nứt quả …); Các tiến bộ kỹ thuật về cây ăn quả được ứng dụng còn ít, chưa đồng bộ; Hiện tượng cách niên ra quả, năng suất thấp khá phổ biến; Năng lực đầu tư của các hộ hạn chế ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng, phát triển, năng suất, chất lượng và uy tín của giống mận bản địa trên thị trường

Huyện Trà Lĩnh nằm ở phía bắc tỉnh Cao Bằng, là một huyện có điều kiện đất đai, khí hậu đặc thù, rất thích hợp cho các loại cây ăn quả nói chung và cây mận nói riêng phát triển Với năng xuất và hương vị đặc biệt mận Trà Lĩnh đã mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho người nông dân Tuy nhiên, cũng giống tình trạng chung của các huyện trên địa bàn tỉnh Cao Bằng, năng suất mận Trà Lĩnh hầu như phụ thuộc vào các yếu tố tự nhiên đất đai, thời tiết, các vườn mận trở nên cằn cỗi, thoái hoá, trên các cây mận địa y và rêu mọc phủ kín Bên cạnh

đó, phát triển sản xuất mận chưa phù hợp, một số xã không có tiềm năng phát triển nhưng phát triển quá nhanh, chưa gắn liền sản xuất với chế biến, tiêu thụ sản phẩm, hiệu quả kinh tế trong sản xuất mận giảm sút

Trước thực trạng trên cần có những giải pháp phù hợp để phát triển sản xuất mận, góp phần nâng cao đời sống người nông dân, việc “Phát triển sản xuất mận trên địa bàn huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng” là rất cần thiết và cấp bách, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao nhằm bảo tồn, phát triển và mở rộng quy mô canh tác giống mận bản địa thành vùng sản xuất hàng hoá có năng suất cao, sản lượng ổn định, chất lượng tốt, góp phần xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập và làm giàu cho người dân địa phương, cung cấp nguồn thực phẩm sạch và

bổ dưỡng cho thị trường trong nước, hướng đến xuất khẩu

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.1 Mục tiêu chung

Đánh giá thực trạng phát triển sản xuất mận trên địa bàn huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng thời gian qua, phân tích nguyên nhân và đề xuất một số giải pháp phát triển sản xuất mận của huyện trong thời gian tới

Trang 17

1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

Để đánh giá thực trạng phát triển sản xuất mận trên địa bàn huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng thời gian qua, phân tích nguyên nhân và đề xuất một số giải pháp phát triển sản xuất mận của huyện trong thời gian tới Tác giả đã đặt ra một

số câu hỏi nghiên cứu sau

(4) Hộ nông dân huyện Trà Lĩnh đang áp dụng các biện pháp canh tác và

kỹ thuật như thế nào vào quá trình sản xuất mận?

(5) Những yếu tố nào ảnh hưởng đến phát triển sản xuất mận trên địa bàn Trà Lĩnh?

1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài nghiên cứu là những nội dung phát triển sản xuất mận của hộ nông dân trên địa bàn huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng

Đối tượng khảo sát:

+ Hộ nông dân sản xuất mận

+ Cán bộ địa phương, các tổ chức kinh tế xã hội có liên quan: UBND, Phòng Nông nghiệp & PTNT, Trạm khuyến nông khuyến lâm

Trang 18

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu

1.4.2.1 Phạm vi nội dung

Đề tài nghiên cứu nội dung phát triển sản xuất cây mận của các hộ nông dân trên địa bàn huyện Trà Lĩnh Tập trung những giải pháp chủ yếu thúc đẩy phát triển sản xuất cây mận phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và định hướng của huyện Trà Lĩnh

1.4.2.2 Phạm vi không gian

Đề tài được thực hiện trên địa bàn huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng Trong

đó tập trung nghiên cứu tình hình phát triển sản xuất mận của các hộ nông dân trên địa bàn thị trấn Hùng Quốc, xã Quang Hán và xã Xuân Nội

- Từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu để phát triển sản xuất mận của huyện Trà Lĩnh trong thời gian tới

Những kết quả nghiên cứu trên của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu cùng lĩnh vực sau này và làm căn cứ để UBND huyện Trà Lĩnh có thể tham khảo nhằm đưa ra hướng đi đúng đắn cho phát triển sản xuất mận, hướng tới mục tiêu cuối cùng nhằm tăng hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và nâng cao thu nhập cho người dân

Trang 19

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

VỀ PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT MẬN

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT MẬN

2.1.1 Một số khái niệm cơ bản

2.1.1.1 Khái niệm về phát triển

Phát triển được hiểu là một phạm trù triết học dùng để chỉ quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật Quá trình đó diễn ra vừa dần dần, vừa nhảy vọt, đưa tới sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ Quan điểm này cũng cho rằng, sự phát triển là kết quả của quá trình thay đổi dần dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, là quá trình diễn ra theo đường xoáy ốc và hết mỗi chu kỳ sự vật lặp lại dường như sự vật ban đầu nhưng ở cấp độ cao hơn (Nguyễn Ngọc Long và Nguyễn Hữu Vui, 2009)

Phát triển là việc nâng cao phúc lợi của nhân dân, nâng cao tiêu chuẩn sống, cải thiện giáo dục, sức khỏe và đảm bảo sự bình đẳng cũng như quyền của công dân Phát triển còn được định nghĩa là sự tăng bền vững về tiêu chuẩn sống, bao gồm tiêu dùng vật chất, giáo dục, sức khỏe và bảo vệ môi trường Tăng trưởng và phát triển là hai mặt của sự phát triển xã hội có quan hệ chặt chẽ với nhau Tăng trưởng diễn tả động thái của nền kinh tế, còn phát triển phản ánh sự thay đổi về chất lượng của nền kinh tế xã hội để phân biệt các trình độ khác nhau trong sự tiến bộ xã hội (Phạm Vân Đình và Đỗ Kim Chung, 1997)

Theo lý thuyết tăng trưởng và phát triển kinh tế của kinh tế học phát triển, tăng trưởng kinh tế là một phạm trù kinh tế diễn tả động thái biến đổi về mặt lượng của nền kinh tế của một quốc gia Tăng trưởng kinh tế thường được quan niệm là sự tăng thêm (hay gia tăng) về quy mô sản lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định Đó là kết quả của tất cả các hoạt động sản xuất và dịch vụ của nền kinh tế tạo ra Còn phát triển có thể hiểu là một quá trình lớn lên (hay tăng tiến) về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định Trong đó, bao gồm cả sự tăng thêm về quy mô sản lượng (tăng trưởng) và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế xã hội (Phạm Vân Đình, Đỗ Kim Chung, 1997)

2.1.1.2 Khái niệm về phát triển kinh tế

Phát triển kinh tế được hiểu là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh

Trang 20

tế phát triển kinh tế được xem là quá trình biến đổi cả về lượng và về chất, nó là

sự kết hợp chặt chẽ quá trình hoàn thiện của hai vấn đề về kinh tế và xã hội ở mỗi quốc gia (Phạm Ngọc Linh và Nguyễn Thị Kim Dung, 2008)

Quá trình biến đổi về lượng là sự gia tăng tổng mức thu nhập của nền kinh

tế và mức gia tăng thu nhập bình quân trên đầu người Sự biến đổi về chất kinh tế

là sự biến đổi theo đúng xu thế của cơ cấu kinh tế và sự biến đổi ngày càng tốt hơn trong các vấn đề xã hội

Mục tiêu cuối cùng của sự phát triển kinh tế trong các quốc gia không phải là tăng trưởng hay chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mà là việc xóa bỏ nghèo đói, suy dinh dưỡng, sự tăng lên của tuổi thọ bình quân, khả năng tiếp cận đến các dịch vụ y tế, nước sạch, trình độ dân trí giáo dục của quần chúng nhân dân v.v… Hoàn thiện các tiêu chí trên là sự thay đổi về chất xã hội của quá trình phát triển

Phát triển kinh tế là một quá trình hoàn thiện về mọi mặt của nền kinh tế bao gồm kinh tế, xã hội, môi trường, thể chế trong một thời gian nhất định nhằm đảm bảo rằng GDP cao hơn đồng nghĩa với mức độ hạnh phúc hơn

Theo Nguyễn Thế Nhã và Vũ Đình Thắng (2004), trong phạm vi nền kinh

tế quốc dân có dùng các chỉ tiêu tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sản phẩm quốc dân (GNP), thu nhập quốc gia từ sản xuất (NI), thu nhập quốc gia tăng sử dụng (NDI) và tốc độ phát triển của chúng ta để đánh giá sự phát triển Như vậy, phát triển kinh tế là một khái niệm chung nhất về sự chuyển biến của nền kinh tế

từ một trạng thái thấp lên một trạng thái cao hơn Tuy nhiên có quan điểm cho rằng phát triển kinh tế cần chú trọng đến phát triển theo chiều rộng, chiều sâu:

* Phát triển kinh tế theo chiều rộng:

Phát triển kinh tế bằng cách tăng số lượng lao động, khai thác thêm các nguồn tài nguyên thiên nhiên, tăng thêm tài sản cố định và tài sản lưu động trên

cơ sở kỹ thuật như trước Trong điều kiện một nước kinh tế chậm phát triển, những tiềm năng kinh tế chưa được khai thác và sử dụng hết, nhất là nhiều người lao động chưa có việc làm thì phát triển kinh tế theo chiều rộng là cần thiết và có

ý nghĩa quan trọng, nhưng đồng thời phải coi trọng phát triển kinh tế theo chiều sâu Tuy nhiên, phát triển kinh tế theo chiều rộng có những giới hạn, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội thấp Vì vậy, phương hướng cơ bản và lâu dài là phải chuyển sang phát triển kinh tế theo chiều sâu

* Phát triển kinh tế theo chiều sâu:

Trang 21

Phát triển kinh tế chủ yếu nhờ đổi mới thiết bị, áp dụng công nghệ tiên tiến, nâng cao trình độ kĩ thuật, cải tiến tổ chức sản xuất và phân công lại lao động, sử dụng hợp lý và có hiệu quả các nguồn nhân tài, vật lực hiện có Trong điều kiện hiện nay, những nhân tố phát triển theo chiều rộng đang cạn dần, cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật trên thế giới ngày càng phát triển mạnh với những tiến bộ mới về điện tử và tin học, công nghệ mới, vật liệu mới, công nghệ sinh học đã thúc đẩy các nước coi trọng chuyển sang phát triển kinh tế theo chiều sâu Kết quả phát triển kinh tế theo chiều sâu được biểu hiện ở các chỉ tiêu: tăng hiệu quả kinh tế, tăng năng suất lao động, giảm giá thành sản phẩm, giảm hàm lượng vật tư và tăng hàm lượng chất xám, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng hiệu suất của đồng vốn, tăng tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân theo đầu người 2.1.1.3 Khái niệm về sản xuất

Sản xuất là hoạt động chủ yếu trong các hoạt động kinh tế của con người Sản xuất là quá trình làm ra sản phẩm để sử dụng, hay để trao đổi trong thương mại Quyết định sản xuất dựa vào những vấn đề chính sau: sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? sản xuất cho ai? giá thành sản xuất và làm thế nào để tối ưu hóa việc sử dụng và khai thác các nguồn lực cần thiết làm ra sản phẩm? Trong sản xuất, con người đấu tranh với thiên nhiên để làm thay đổi những vật chất sẵn

có nhằm tạo ra lương thực, thực phẩm, quần áo, nhà ở và những của cải vật chất khác phục vụ cho cuộc sống Sản xuất là điều kiện tồn tại của mỗi xã hội, việc khai thác và tận dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên, phụ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Trong sản xuất, con người

là lực lượng sản xuất chủ yếu giữ vai trò quyết định Có nhiều quan điểm khác nhau về sản xuất, trong đó có hai quan điểm chính sau:

Theo quan điểm của hệ thống sản xuất vật chất (MPS), thì sản xuất là tạo

ra của cải vật chất, nên trong xã hội chỉ có hai ngành sản xuất là Nông nghiệp và Công nghiệp Theo hệ thống tài khoản quốc gia của Liên hiệp quốc, thì quan niệm về sản xuất rộng hơn Sản xuất là tạo ra của cải vật chất và dịch vụ, nên trong xã hội có ba ngành sản xuất là Nông nghiệp, Công nghiệp và dịch vụ Quá trình sản xuất bắt đầu từ khâu chuẩn bị các yếu tố đầu vào, để tiến hành sản xuất cho tới khi có các sản phẩm đủ tiêu chuẩn nhập kho (Nguyễn Văn Công, 2009)

Theo quan điểm sản phẩm vật chất sản xuất, có thể định nghĩa sản xuất là hoạt động có mục đích của con người nhằm tạo ra các sản phẩm vật chất đáp ứng nhu cầu cá nhân và xã hội (Ngô Thị Thuận và Phạm Vân Hùng, 2006)

Trang 22

Sản xuất hay sản xuất của cải vật chất là hoạt động chủ yếu trong các hoạt động kinh tế của con người Sản xuất là quá trình làm ra sản phẩm để sử dụng, hay để trao đổi thương mại Quyết định sản xuất dựa vào những vấn đề sau: Sản xuất cái gì? Sản xuất cho ai? Sản xuất như thế nào? Giá thành sản xuất và làm thế nào để tối ưu hóa việc sử dụng và khai thác các nguồn lực cần thiết để làm ra sản phẩm? (Mạc Kim Tuyến, 2012)

Như vậy, sản xuất là quá trình phối hợp và điều hòa các yếu tố đầu vào (tài nguyên hoặc các yếu tố sản xuất) để tạo ra sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ (đầu ra) Nếu giả thiết sản xuất sẽ diễn biến một cách có hệ thống với trình độ sử dụng đầu vào hợp lý, người ta mô tả mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra bằng một hàm sản xuất:

Trong đó: Q biểu thị số lượng một loại sản phẩm nhất định

trong quá trình sản xuất

Các yếu tố này thường gọi là yếu tố đầu vào hay nguồn lực sản xuất 2.1.1.4 Khái niệm về phát triển sản xuất

Tăng trưởng là tăng về số lượng, còn phát triển không những tăng về số lượng mà còn phong phú hơn về chủng loại, chất lượng và phù hợp hơn về cơ cấu, phân bổ của cải Theo Nguyễn Ngọc Long và Nguyễn Hữu Vui (2009) thì phát triển được định nghĩa là quá trình nâng cao điều kiện sống về vật chất và tinh thần của con người bằng mở rộng sản xuất Phát triển cùng với những thay đổi về chất của nền kinh tế như phúc lợi xã hội, tuổi thọ…và những thay đổi về chất của nền kinh tế

Từ khái niệm về phát triển, có thể rút ra khái niệm về phát triển sản xuất: Phát triển sản xuất là quá trình vận động của đối tượng sản xuất tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn, nó cũng bao hàm việc phát triển về cả mặt lượng và chất của sản xuất hàng hóa 2.1.1.5 Phát triển sản xuất mận

Sản xuất mận là một nghề truyền thống của người nông dân vùng cao có từ rất xa xưa Trước đây sản xuất mận trong mỗi gia đình ở nước ta chủ yếu là khai thác sản phẩm quả theo phương thức thu hái tự nhiên, đơn thuần, qui mô nhỏ lẻ,

Trang 23

chỉ đảm bảo một phần nào đó cho nhu cầu của gia đình, hoàn toàn chưa có ý thức trở thành nhu cầu trao đổi hàng hoá do vậy hiệu quả kinh tế không cao, sản phẩm mận bị coi nhẹ

Do sự gia tăng về dân số, sự phát triển mạnh mẽ về khoa học, kỹ thuật trên toàn thế giới và trong mọi lĩnh vực, ngành nông nghiệp nói chung và lĩnh vực trồng cây ăn quả nói riêng cũng không ngừng phát triển, trong đó có cây mận Từ sản xuất theo phương thức quảng canh, thu hái tự nhiên đã chuyển sang phương thức sản xuất theo hướng hàng hoá qui mô lớn, nhằm đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi của toàn xã hội Những đột phá về mặt công nghệ tạo giống, quy hoạch vườn trồng cũng như các tiến bộ về phân bón, kỹ thuật trồng, chăm sóc… đã tạo đà cho lĩnh vực trồng cây ăn quả phát triển và đã có vị trí trong ngành nông nghiệp Theo quan điểm phát triển, phát triển sản xuất mận là sự tăng lên về mặt số lượng, cải thiện về chất lượng sản phẩm, năng suất sản phẩm, sự hoàn thiện của

cả thị trường đầu vào và đầu ra Tuy nhiên phải phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội nói chung và phát triển nông nghiệp nói riêng, đảm bảo sự ổn định

về kinh tế, xã hội và môi trường, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội về sản phẩm mận

2.1.2 Vai trò của phát triển sản xuất mận

- Trồng mận khai thác được nguồn lực địa phương, tận dụng lợi thế so sánh, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động ở nông thôn

Mận là một trong các loại quả được ưa chuộng rộng rãi, có giá trị kinh tế cao Mấy năm gần đây, diện tích trồng mận ở nước ta tăng nhanh, nhất là các tỉnh miền núi

Cây mận ưa thích khí hậu mát và lạnh, những giống mận ngon như mận hậu, mận Tam hoa là những giống có giá trị hàng hóa ở nước ta, được trồng tập trung chủ yếu ở những vùng núi cao của các tỉnh như Lào Cai, Sơn La, Lai Châu,

Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn… phát huy được lợi thế so sánh của địa phương

Bên cạnh đó, phát triển sản xuất mận còn giúp giải quyết công ăn việc làm cho hàng chục vạn lao động ở vùng trung du và miền núi

- Mận là cây trồng góp phần tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo cho người dân:

Xuất phát từ giá trị dinh dưỡng cao của các sản phẩm quả, từ đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của cây ăn quả nói chung là yêu cầu đầu tư không quá lớn và

Trang 24

cho khai thác nhiều lần trong thời gian tương đối dài, nhất là trong điều kiện sản xuất quả ở nước ta chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường cả về số lượng, chất lượng và giá cả, thì trồng cây ăn quả, trong đó có cây mận đã và đang mang lại thu nhập cao hơn so với trồng nhiều loại cây khác Tùy thuộc vào cách nhân giống và chăm sóc, cây mận bắt đầu cho thu hoạch từ năm thứ 3 trở đi sau khi trồng, từ 8-10 năm tuổi, mỗi cây bình quân từ 30 - 40kg quả, nếu chăm sóc tốt tối

đa có thể đạt tới 50 - 60kg, mỗi ha trồng mận, người nông dân có thể có nguồn thu nhập khoảng 70 - 80 triệu đồng/ha/năm, hiệu quả cao gấp nhiều lần so với trồng một số loại hoa màu khác Chính vì vậy, cây ăn quả nói chung và cây mận nói riêng đã được xem là cây xóa đói giảm nghèo của rất nhiều hộ nông dân ở các khu vực khác nhau trong cả nước, nhất là các vùng trung du, miền núi phía Bắc nước ta

- Phát triển sản xuất cây mận góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng đa dạng hóa và sản xuất hàng hóa:

Phát triển sản xuất cây ăn quả nói chung và cây mận nói riêng góp phần làm cho ngành công nghiệp chế biến phát triển, tạo thêm công ăn việc làm cho một phần lao động nông nghiệp dôi dư ở khu vực nông thôn trở thành công nhân, thực hiện chủ trương chuyển dịch của Đảng và Nhà nước; đồng thời cũng cấp nguồn quả nhanh chóng, chất lượng, quanh năm cho người tiêu dùng

Phát triển sản xuất mận còn góp phần tạo cảnh quan, môi trường sinh thái, thúc đẩy ngành du lịch dịch vụ nông nghiệp phát triển như tham quan mô hình,

du lịch miệt vườn, nghỉ dưỡng

Phát triển sản xuất mận còn thúc đẩy việc tìm tòi và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất

- Phát triển sản xuất cây mận góp phần phủ xanh đất trồng đồi núi trọc, bảo vệ môi trường sinh thái:

Cây ăn quả nói chung và cây mận nói riêng là những cây phù hợp trồng được ở những vùng đất khô cằn vì cây ăn quả thường là những cây có sức sống mãnh liệt, hoặc ở nơi mà cây lương thực, thực phẩm không trồng được hoặc không nên trồng như đồi núi trọc Ngoài ra, trồng mận giúp giảm xói mòn, rửa đất trôi, cho bóng mát, hạn chế gió bão và cải thiện môi trường sinh thái

- Mận là nguồn thực phẩm dinh dưỡng tốt cho sức khỏe:

Trang 25

Quả mận dùng để ăn tươi hoặc chế biến thành rượu, nước ngọt hoặc sấy khô, mận khô để được lâu và có tác dụng giải khát, kích thích thần kinh… Mận

là loại quả có giá trị dinh dưỡng phong phú Mận chứa rất nhiều kali, vitamin A, sắt, vitamin B2, các vitamin nhóm B và ma giê Loại quả này còn rất giàu chất sơ giúp tăng cường chức năng tiêu hóa Một quả mận chín chuẩn có 26% vitamin C, 13% vitamin K và 11% vitamin A rất tốt cho sức khỏe

Theo y học cổ truyền, các bộ phận của cây mận như: quả, rễ, vỏ rễ, nhựa,

lá, nhân hạt đều có tác dụng chữa bệnh Quả mận có vị chua ngọt, tính bình, có công dụng thanh can điều nhiệt, sinh tân lợi thủy, thường được dùng để chữa các chứng bệnh như hư lao cốt chưng, âm hư nội nhiệt, thủy thũng, tiêu khát Rễ mận thường được thu hoạch vào tháng 9 - 10, vị đắng, tính lạnh, có công dụng thanh nhiệt giải độc Lá mận vị chua, tính bình, chuyên trị vết thương do sang chấn Nhân hạt mận còn gọi là lí hạch nhân, vị ngọt đắng, tính bình, có công dụng tán ứ, lợi thủy, nhuận tràng

Nói tóm lại, việc phát triển cây ăn quả nói chung và cây mận nói riêng đã góp phần khai thác được nguồn lực địa phương, tận dụng được lợi thế so sánh, tạo thêm công ăn việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn, chuyển dịch cơ cấu lao động là một hướng xóa đói giảm nghèo hiệu quả Các cơ sở kinh

tế và dân sinh được hình thành, nâng cấp khi xây dựng những khu vực sản xuất hàng hóa như đường giao thông, điện, trung tâm thông tin qua đó làm thay đổi

cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn

2.1.3 Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật sản xuất mận

2.1.3.1 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của mận

Mận là cây ăn quả thân gỗ nhỡ, cây cao trung bình, cành mảnh dẻ, tán xoè rộng, sức nảy chồi mạnh Hình dáng của cây phụ thuộc vào giống, các giống mận Đắng, mận Chua, mận Thép có tán hình trứng ngược, mận Tam Hoa có hình mâm xôi dẹt Thời kỳ cây còn non sinh trưởng nhanh, trong 1 năm cành có thể sinh trưởng đạt tới 2-3 lần, cành của mận có thể ra quả nhiều lần trên một cành, nhiều cành vừa là cành quả vừa là cành mẹ

Lá mận có hình bầu dục, gân lá nổi rõ, mép lá có răng cưa, đỉnh lá nhọn hay tù Màu sắc lá cũng rất khác nhau tuỳ giống, nhìn chung có các mầu đặc trưng: đỏ, đỏ tím, xanh, xanh đậm, xanh nhạt Lá mận rụng vào mùa đông từ tháng 10 - tháng 12 hoặc sớm hơn Lá mận rụng càng sớm và càng triệt để chứng

Trang 26

tỏ điều kiện ngoại cảnh và nội tại giúp cây có quá trình ngủ sâu trong vụ đông, thì hoa nở càng nhiều và tỷ lệ đậu quả rất cao (Mạc Kim Tuyến, 2012)

Quả mận thuộc loại quả hạch, vỏ quả nhẵn và mỏng, lúc còn xanh vỏ quả màu xanh, lúc chín tuỳ giống mà có màu xanh, vàng, tím Khi chín trên vỏ có lớp phấn trắng Quả to hay nhỏ, hạt dóc hay không là tuỳ theo giống Mận thường chín vào tháng 5, 6 và kéo dài sang tháng 7, các giống mận chua chín sớm hơn giống mận ngọt

Cây mận có thể trồng được trên nhiều loại đất, kể cả đất đồi dốc, đất bạc màu hoặc khô hạn nên rất thích hợp để gây trồng phủ xanh đất trống đồi trọc 2.1.3.2 Đặc điểm kinh tế

* Giá trị sử dụng

Mận là giống cây ăn trái được trồng nhiều nơi trên thế giới Ở đô thị cây mận trồng để làm cảnh, lấy bóng râm vì cây có tán lá sum suê, xanh mướt quanh năm, hoa, lá có mùi hương thơm dễ chịu

Mận là cây bản địa đã có từ rất lâu năm trên địa bàn tỉnh Cao Bằng nói chung, địa bàn huyện Trà Lĩnh nói riêng Cây mận trồng chủ yếu để sử dụng quả, quả mận ngoài ăn tươi được chế biến như sấy khô làm ô mai, làm đồ hộp, nước giải khát được thị trường trong và ngoài nước ưa chuộng Quả mận khi chín có mùi thơm đặc trưng do đó từ lâu mận đã được coi là một trong những loại quả ôn đới và á nhiệt đới ngon, được người tiêu dùng ưa chuộng

Mận chứa rất nhiều kali, vitamin A, sắt, vitamin B2, các vitamin nhóm B

và ma giê Loại quả này còn rất giàu chất sơ giúp tăng cường chức năng tiêu hóa Một quả mận chín chuẩn có 26% vitamin C, 13% vitamin K và 11% vitamin A Giá trị y học Cây mận còn được sử dụng trong đông y để chữa các bệnh táo bón, nhuận tràng, mày đay, thiếu máu, bệnh lị, đái đường… Cây mận dân gian còn gọi

là lí tử, lí thực, gia khánh tử Các bộ phận của cây mận như quả, rễ, vỏ rễ, nhựa,

lá, nhân hạt đều có tác dụng chữa bệnh

Với khả năng cung cấp chất xơ dồi dào của mận giúp ngăn ngừa vón cục tiểu cầu, một trong những nguyên nhân gây các bệnh rối loạn máu như xơ cứng động mạch và cao huyết áp Mận còn giúp thanh lọc máu bằng cách cung cấp thêm ô xi Mận còn tăng cường chức năng gan và dạ dày và ngăn ngừa táo bón

Mận có chứa axit xitric có tác dụng phòng chống mệt mỏi và chuột rút co

cơ Bên cạnh đó, chất xơ trong mận không những có khả năng thanh lọc máu mà

Trang 27

còn giúp làm giảm lượng cholesterol trong máu Chất xơ trong mận là chất xơ hòa tan, có khả năng kết lại với cholesterol và thúc đẩy quá trình đào thải cholesterol đó ra khỏi cơ thể Loại chất xơ này còn giúp điều chỉnh lượng đường trong máu bằng cách làm chậm quá tình hấp thụ glucôdơ Mận mang lại một đôi mắt sáng nhờ hàm lượng cao vitamin A giúp ngăn ngừa thoái hóa điểm vàng và chống lại các vi khuẩn gây hại

* Giá trị kinh tế:

Từ diện tích khoảng 25 ha (năm 1995) nay tăng lên hơn 85 ha (năm 2015), vùng phát triển mận mở rộng, những năm đầu cây được trồng chủ yếu thị trấn Hùng Quốc sau này đã nhân rộng diện tích ra các xã trên địa bàn như: Quang Hán, Xuân Nội, Quang Trung, Quốc Toản, Cao Chương Thời điểm này, năng suất đạt khoảng hơn 70 tạ/ha Nhiều gia đình có các cây mận bình quân 30 - 40 kg/cây, với giá bán trung bình 10.000 đồng/kg tại vườn, giá trị khoảng 300 - 400 nghìn đồng/cây, nhiều hộ có thu nhập từ vườn mận đạt trên dưới 100 triệu đồng, hiệu quả cao gấp nhiều lần so với trồng ngô, lúa Nếu mỗi hộ dân ở các vùng trồng chính có trung bình 400 - 500 cây mận (tương đương 1 ha), hàng năm có thể thu được 70 - 80 triệu đồng/hộ từ bán quả sau khi trừ các chi phí, có thể nói cây mận không chỉ là cây xóa đói giảm nghèo, mà còn giúp tăng thu nhập và làm giàu cho người trồng mận

Vùng trồng mận ngoài việc thu được năng suất quả thành hàng hóa, hoa mận có phấn nên mận còn là nguồn mật cho nghề nuôi ong phát triển có chất lượng cao

2.1.4 Nội dung của phát triển sản xuất mận

Từ khái niệm, vai trò, đặc điểm, cũng như xuất phát từ các vấn đề thuộc nội dung kinh tế, xã hội và môi trường của phát triển sản xuất mận đảm bảo được phát triển ổn định và bền vững, phát triển sản xuất mận là quá trình tăng lên cả về lượng và chất Nội dung phát triển sản xuất mận được khái quát theo các nội dung sau:

2.1.4.1 Chủ trương chính sách

Chủ trương, chính sách cho phát triển sản xuất mận bao gồm các chính sách về đất đai, tín dụng, chính sách hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực như đào tạo nghề Các cấp chính quyền có tác động trực tiếp và sâu sát đến ngành nông nghiệp nói chung, trong đó có sản xuất cây mận Việc ban hành chủ trương,

Trang 28

chính sách kịp thời, đồng bộ, đáp ứng yêu cầu, sẽ tạo điều kiện thúc đẩy các hộ sản xuất mận phát triển Chủ trương, chính sách đúng sẽ tạo sự tin tưởng cho người sản xuất yên tâm đầu tư, đem lại kết quả, hiệu quả sản xuất ngày càng cao

và ổn định

2.1.4.2 Quy hoạch phát triển sản xuất mận

Mức độ ổn định của quy hoạch phát triển sản xuất mận tác động đến mức

độ ổn định của các vùng sản xuất và mức độ đầu tư của các hộ gia đình Mục đích của quy hoạch là sắp xếp và bố trí lại cho phù hợp với điều kiện sản xuất và

tổ chức sản xuất hợp lý Quy hoạch phát triển sản xuất mận gồm quy hoạch về đất đai Nội dung quy hoạch cần cụ thể, xác định rõ các vùng đủ điều kiện đất đai cho sản xuất, bảo đảm tính khả thi, phù hợp với quy định hiện hành về sản xuất

và phù hợp với trình độ sản xuất

2.1.4.3 Đầu tư cho phát triển sản xuất mận

Đầu tư cho phát triển sản xuất mận bao gồm đầu tư về cơ sở hạ tầng và nguồn lực Phát triển sản xuất mận đòi hỏi phải có đủ cơ sở hạ tầng thiết yếu để phục vụ sản xuất như đường giao thông, kênh mương thủy lợi, chợ, nguồn lực cần có để đầu tư cơ sở hạ tầng là rất lớn nên việc đầu tư trên diện rộng cần phải

có vai trò chủ đạo của Nhà nước và sự tham gia của các doanh nghiệp, tổ chức,

cá nhân và cộng đồng dân cư Nguồn lực trong phát triển sản xuất mận bao gồm các nguồn lực về đất đai, nguồn lực về vốn, lao động Nguồn lực về đất đai cho phát triển mận phải xem xét trên các tiêu chí: diện tích canh tác, diện tích có khả năng sản xuất mận và diện tích đã sản xuất mận của hộ nông dân, bên cạnh đó cần đánh giá chất lượng nguồn đất đai phù hợp cho sản xuất mận Nguồn lực về vốn được xem xét trên phương diện mức độ chi phí đầu tư cho sản xuất Nguồn lực về lao động bao gồm số lượng lao động và chất lượng lao động

2.1.4.4 Các yếu tố đầu vào phục vụ phát triển sản xuất mận

Các yếu tố đầu vào phục vụ phát triển sản xuất mận gồm yếu tố về giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật Giống mận sử dụng trong sản xuất không những phải phù hợp với điều kiện sản xuất của từng địa phương, trình độ

kỹ thuật, khả năng đầu tư của người sản xuất mận, mà phải đáp ứng yêu cầu của thị trường Theo quy định các hộ sản xuất mận phải lựa chọn phân bón và các chất phụ gia nhằm giảm thiểu nguy cơ gây ô nhiễm lên cây, quả Chỉ sử dụng các loại phân bón có trong danh mục được phép sản xuất, kinh doanh tại Việt

Trang 29

Nam Về việc thực hiện quy trình kỹ thuật sử dụng thuốc BVTV trong sản xuất mận, không được phép sử dụng thuốc BVTV không cho phép sử dụng thuốc cấm, chỉ sử dụng loại thuốc trong danh mục được phép sử dụng đối với từng loại mận, quả tại Việt Nam

2.1.4.5 Tập huấn kỹ thuật cho người lao động

Tập huấn kỹ thuật là cầu nối đưa các tiến bộ khoa học tới người nông dân trong sản xuất mận Chính quyền địa phương tăng cường số lượng và chất lượng các mô hình, các buổi tập huấn chuyển giao kỹ thuật tới người dân Bên cạnh đó cần chú trọng mở rộng mạng lưới hệ thống khuyến nông nhằm tăng cường các thông tin về sản xuất tới người dân, giúp cho người dân được tiếp cận một cách

dễ dàng nhất với các tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất

2.1.4.6 Liên kết trong sản xuất

Trong thực tế, sản xuất trong quy mô nhỏ lẻ, manh mún sẽ dẫn đến năng suất, chất lượng sản phẩm không đồng đều, kém hiệu quả, giá thành sản xuất trên một đơn vị sản phẩm Vì vậy, tổ chức sản xuất mận theo hướng liên kết là yếu tố cần thiết Mục đích liên kết là nhằm hỗ trợ nhau về vốn, kỹ thuật, lao động và tiêu thụ sản phẩm Thông qua liên kết giữa các tác nhân (nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp và người dân) Trong các nội dung liên kết (liên kết trong cung ứng giống, liên kết trong chuyển giao kỹ thuật, liên kết trong tiêu thụ) sẽ góp phần giúp các tác nhân có điều kiện tiếp thu, phổ biến, truyền đạt kinh nghiệm, kỹ thuật trong sản xuất nhằm nâng cao năng xuất, chật lượng, kết quả, hiệu quả sản xuất từ đó góp phần cho phát triển sản xuất mận ổn định, bền vững

2.1.4.7 Kết quả và hiệu quả sản xuất mận tại huyện Trà Lĩnh

Trong khái niệm phát triển sản xuất mận nhằm mục đích cuối cùng là tạo

ra được sản phẩm mận đạt về cả kết quả và hiệu quả sản xuất Kết quả sản xuất là

sự tăng lên về quy mô diện tích, khối lượng sản phẩm và tổng giá trị sản xuất mận Để phản ánh được khả năng phát triển sản xuất mận thì việc đánh giá quy

mô diện tích, cơ cấu diện tích cây trồng, diện tích đất có khả năng khai thác sản xuất mận là điều quan trọng Bên cạnh đó để thấy được tính hiệu quả hay chưa hiệu quả trong phương thức sản xuất thì việc đánh giá kết quả, hiệu quả sản xuất, năng suất, sản lượng, giá trị sản xuất mận diễn biến qua từng năm để thấy được giá trị kinh tế của cây mận Hiệu quả sản xuất mận cũng là sự thay đổi về mặt xã hội (công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo) và sự cải tạo, bảo vệ môi trường Vì

Trang 30

vậy việc phát triển sản xuất mận cần được đánh giá tính hiệu quả không chỉ về mặt kinh tế mà còn cả về hiệu quả xã hội và môi trường

2.1.5 Những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất mận

2.1.5.1 Nhóm yếu tố về điều kiện tự nhiên

- Đất đai:

Đất canh tác là yếu tố quan trọng bậc nhất và là môi trường sống của cây mận Các loại đất chất lượng kém như nghèo dinh dưỡng, nghèo mùn, đất chua, đất dốc, đất không chủ động được nước tưới, đều có ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng, phát triển, năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế vườn cây Cây mận trên các loại đất này cần đầu tư cao hơn so với đất mầu mỡ, giàu dinh dưỡng

Độ dốc của đất cũng ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng, phát triển, năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế vườn cây Trên đất dốc cây mận không giữ được ẩm, thường bị khô hạn ảnh hưởng, ngoài ra mưa to gây xói mòn đất canh tác, gây nghèo kiệt dinh dưỡng cũng là yếu tố hạn chế đối với cây mận

Hiện nay diện tích đất sản xuất mận của hộ nông dân còn manh mún, chưa tập chung Diện tích đất có khả năng mở rộng sản xuất mận của địa phương còn lớn, tuy nhiên do sự hạn chế về đầu tư cơ sở hạ tầng thủy lợi, giao thông do vậy người dân không yên tâm đầu tư mở rộng diện tích canh tác

- Thời tiết:

Các yếu tố khí hậu cũng tác động rất lớn đến sinh trưởng, phát triển, năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế vườn cây Mùa đông ấm, ít mưa phùn, thiếu lạnh sẽ không tạo điều kiện cho cây phân hóa mầm hoa, dẫn đến tỷ lệ hoa đực cao, khả năng đậu quả thấp và năng suất giảm Hoặc mùa đông nhiều đợt rét đậm, rét hại sẽ làm thui chột các đỉnh sinh trưởng, ảnh hưởng đến khả năng ra hoa vụ xuân của cây, tác động trực tiếp đến năng suất cây Lượng mưa trong năm phân bổ không đều trong các tháng, khô hạn mùa đông, lũ lụt mùa hè cũng là một trong các yếu tố hạn chế đến sự phát triển của cây mận

2.1.5.2 Quy mô, cơ cấu sản xuất

Các hộ nông dân khác nhau có diện tích trồng mận khác nhau Diện tích càng lớn thì công tác quản lý giảm đi và mọi công việc như tổ chức chăm sóc, thu hoạch, chi phí cũng được tiết kiệm và ngược lại Do vậy quy mô, cơ cấu sản xuất có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất, tiêu thụ sản phẩm

Trang 31

2.1.5.3 Các nguồn lực cho phát triển sản xuất

Nguồn lực hiểu theo nghĩa rộng là tiềm năng phục vụ cho sản xuất: vốn, lao động, tri thức, khả năng tổ chức Trong sản xuất kinh doanh, các nguồn lực được hiểu đó là giá trị đầu vào, là điều kiện vật chất cần thiết để tiến hành sản xuất kinh doanh Người sản xuất chủ động về nguồn lực sẽ thực hiện tốt hơn quá trình sản xuất

+ Chi phí sản xuất mận của các hộ: đây là yếu tố quan trọng ảnh hưởng rất lớn tới năng xuất, sản lượng cây mận Yếu tố chi phí gồm chi phí về vật tư đầu vào (phân bón, thuốc trừ sâu, giống ) và chi phí về lao động

+ Trình độ, kinh nghiệm của người nông dân (chất lượng lao động) trong việc sản xuất mận có tác dụng quyết định trực tiếp việc tổ chức và hiệu quả kinh

tế cây mận Năng lực, kinh nghiệm của người nông dân được thể hiện qua: Trình

độ tổ chức quản lý và khả năng áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới; Khả năng ứng xử trước các biến động của thị trường, môi trường sản xuất kinh doanh; Khả năng vốn và trình độ trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật Trình độ, kinh nghiệm của người nông dân sẽ có ảnh hưởng tích cực tới sản xuất mận và ngược lại Cây mận đòi hỏi sự chăm sóc kịp thời và đúng quy trình kỹ thuật mới làm cho năng suất tăng, chất lượng tốt Nếu chủ hộ có trình độ văn hóa cao, có kinh nghiệm trồng và chăm sóc cây mận sẽ lựa chọn giống cây trồng, biện pháp canh tác, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón một cách hợp lý

Từ đó cây sinh trưởng, phát triển tốt, tạo ra năng suất cao, chất lượng tốt Ngược lại chủ hộ có trình độ văn hóa thấp, thiếu kinh nghiệm trong sản suất cây mận sẽ không nắm bắt được kỹ thuật thâm canh, chăm sóc không đúng quy trình kỹ thuật sẽ cho kết quả và hiệu quả thấp

2.1.5.4 Các yếu tố đầu vào và kỹ thuật

- Giống:

Trong nhiều năm qua bộ giống mận trên địa bàn không được cải thiện, các giống bắt đầu thái hóa, cây sinh trưởng kém, năng suất, chất lượng thấp Nhu cầu

về bộ giống mận chất lượng đặt ra ở đây là bộ giống đáp ứng yêu cầu chất lượng

và rải vụ thu hoạch, các giống mận chín sớm (tháng 4), mận thép (cuối tháng 4, đầu tháng 5), mận Tam Hoa (tháng 5), mận máu (nửa đầu tháng 6), mận tháng 6 (nửa cuối tháng 6 đến đầu tháng 7) sẽ hình thành bộ giống rải vụ thu hoạch, sản phẩm quả mận sẽ có từ đầu tháng 4 đến đầu tháng 7

Trang 32

- Kỹ thuật chăm sóc:

Quy trình kỹ thuật trồng, chăm sóc mận do Bộ NN&PTNT ban hành áp dụng chung cho toàn quốc, với Trà Lĩnh, Cao Bằng cần có những bổ sung về kỹ thuật cho phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương đó là đất nghèo dinh dưỡng, đất chua, đất dốc, không chủ động được nước tưới, tỷ lệ rụng quả non nhiều, sâu bệnh hại nhiều và nguy hiểm, mã quả xấu, quả nhỏ, chát, năng suất thấp, cách niên ra quả như vậy cần hoàn thiện các biện pháp kỹ thuật này và bổ sung vào trong quy trình thâm canh để ứng dụng đại trà

- Hoạt động khuyến nông trong phát triển sản xuất mận:

Đây là tác nhân khách quan tới sự phát triển sản xuất mận Các chương trình tập huấn khuyến nông, hội thảo, hội nghị đầu bờ, thông tin khuyến nông có tác động rất lớn đến nhận thức của người dân, từ đó gián tiếp tác động tới việc phát triển sản xuất mận Hiện nay mạng lưới khuyến nông đã hình thành từ trung ương đến địa phương: Trung tâm khuyến nông quốc gia, Trung tâm khuyến nông tỉnh, Trạm khuyến nông huyện, khuyến nông viên cơ sở tại các xã Hệ thống khuyến nông là kênh thông tin chuyển giao công nghệ quan trọng giúp cho người dân tiếp cận được với các công nghệ mới, những phương thức làm ăn hiệu quả thông qua các chương trình tập huấn, hội thảo, hội nghị đầu bờ, các mô hình trình diễn

2.1.5.5 Thị trường

Trong nền kinh tế thị trường, cầu - cung là yếu tố quyết định đến sự ra đời

và phát triển một ngành sản xuất, hay một hàng hóa, dịch vụ nào đó Người sản xuất chỉ sản xuất những hàng hóa, dịch vụ mà thị trường có nhu cầu và xác định khả năng của mình khi đầu tư vào lĩnh vực, hàng hóa, dịch vụ nào đó mang lại lợi nhuận cao nhất, thông qua các thông tin và các tín hiệu giá cả phát ra từ thị trường Thị trường với các quy luật cầu - cung, cạnh tranh và quy luật giá trị, nó

có tác động rất lớn đến các nhà sản xuất Thị trường mận ở đây được đề cập đến

cả hai yếu tố cầu - cung, có nghĩa là sức mua và sức sản xuất đều ảnh hưởng rất lớn đến phát triển sản xuất mận, mất cân bằng một trong hai yếu tố đó thì sản xuất sẽ bất ổn

Yếu tố thị trường ảnh hưởng tới phát triển sản xuất mận bao gồm thị trường tiêu thụ sản phẩm mận, đối tượng thu mua sản phẩm mận, phương thức tiêu thụ (trực tiếp, gián tiếp) Ngoài ra giá cả các vật tư đầu vào như phân bón,

Trang 33

thuốc BVTV, giống cũng ảnh hưởng rất lớn tới việc đầu tư sản xuất mận trong các hộ nông dân Đầu tư vốn cho cây mận có giá trị kinh tế đòi hỏi chi phí khá lớn về vật tư đầu vào Nếu giá cả vật tư đầu vào tăng cao sẽ làm cho tăng chi phí sản xuất dẫn đến một số hộ gia đình nghèo, không có vốn sản xuất sẽ không có điều kiện mở rộng, đầu tư sản xuất dẫn đến ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất 2.1.5.6 Chủ trương chính sách

Trong cơ chế phát triển của nền kinh tế thị trường, dưới tác động từ nhiều phía các hoạt động kinh tế và các chính sách nhà nước ban hành nhằm đáp ứng nhu cầu cụ thể cho mỗi đối tượng trong mọi lĩnh vực Trong những năm gần đây nhà nước đã ban hành rất nhiều chính sách phát triển sản xuất nông nghiệp, khuyến khích nông dân tích cực sản xuất, đưa tiến bộ KHKT mới vào để nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất Nhiều chính sách khi áp dụng đã thực sự góp phần thúc đẩy nền sản xuất phát triển

Thể hiện qua các chính sách về đất đai, vốn tín dụng, giải quyết việc làm, quy hoạch sử sụng đất, đầu tư cơ sở hạ tầng và hàng loạt các chính sách khác liên quan đến sản xuất nông nghiệp trong đó có sản xuất mận Đây là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp tới sản xuất mận, các chính sách thích hợp, đủ mạnh của Nhà nước sẽ gắn kết các yếu tố trong sản xuất với nhau để sản xuất phát triển Bao gồm: Quy hoạch vùng sản xuất chính xác, sẽ phát huy được lợi thế so sánh của vùng; Xây dựng được các quy mô sản xuất phù hợp, tổ chức các đầu vào theo đúng các quy trình tiên tiến; Tăng cường công tác quản lý, thường xuyên quan tâm đổi mới quy trình sản xuất, đa dạng hóa sản phẩm sẽ tiết kiệm được chi phí, nâng cao được năng xuất cây trồng và có hiệu quả cao

2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT MẬN

2.2.1 Tình hình phát triển sản xuất mận của các nước trên thế giới

Cây mận (Prunus salicina) Prunus triflora hay Prunus thibetica) thuộc chi mận mơ (Prunus) là cây ăn quả phổ biến, được trồng nhiều ở cả Châu Âu, Châu

Á, Châu Mỹ, Châu Úc Ở Châu Á mận được trồng nhiều ở Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên Các sản phẩm chế biến từ quả mận được nhiều người ưa thích

và được tiêu thụ rộng rãi trên thế giới Cây mận có thể trồng được trên nhiều loại đất, kể cả đất đồi dốc, đất bạc màu hoặc khô hạn So với nhiều loại cây ăn quả khác, cây mận sớm cho thu hoạch và có tiềm năng năng suất khá cao Có thể thấy rằng cây mận có đặc tính đa dụng cao vì vừa có khả năng phủ xanh đất trống đồi

Trang 34

núi trọc, cải tạo môi sinh vừa góp phần xoá đói giảm nghèo và nâng cao thu nhập cho nông dân Chính vì vậy tại các nước có diện tích, sản lượng mận lớn đều triển khai nhiều công việc nhằm bảo tồn và phát triển loại cây ăn quả này

Hội nghị thượng đỉnh lần thứ nhất về môi trường họp tại Stockholme - Thụy Điển năm 1972 đã kêu gọi khẩn cấp nhiệm vụ bảo tồn nguồn tài nguyên di truyền thực vật Hai mươi năm sau Hội nghị thưởng đỉnh lần thứ hai họp tại Rio

de Janero - Braxin năm 1992 đã thỏa thuận Công ước đa dạng sinh vật Năm

2001 Đại hội đồng FAO đã thông qua Hiệp ước về Tài nguyên di truyền thực vật phục vụ mục tiêu lương thực và nông nghiệp và năm 2006 Hội nghị quốc tế lần thứ tư về tài nguyên di truyền thực vật phục vụ mục tiêu lương thực và nông nghiệp do FAO tổ chức tại Cộng hòa liên bang Đức đã thống nhất kế hoạch hành động toàn cầu (Global Plant of Action, GPA) về bảo tồn quỹ gen cây trồng nông nghiệp Hiện nay đã có rất nhiều nghiên cứu được thực hiện nhẳm bảo tồn nguồn gen thực vật nói chung và nguồn gen cây mận nói riêng trên quy mô đồng ruộng hay trong phòng thí nghiệm (Đài Loan, Trung Quốc, Ấn Độ, Nam Phi ) Trong quy mô phòng thí nghiệm nguồn gen cây trồng có thể được bảo tồn dưới dạng hạt, phấn hoa, chồi ngủ, đỉnh sinh trưởng Trên quy mô đồng ruộng nguồn gen được bảo tồn tại các cơ sở nhân giống, tại vùng nguyên thổ Các nước có nhiều thành tựu trong bảo tồn nguồn gen cây ăn quả đặc sản, đặc biệt là cây ăn quả ôn đới là Nam Phi, Úc, Mỹ, Nga

Theo nguồn FAO năm 2015, tổng diện tích trồng mận trên thế giới đến năm 2015 là 2.495.351 ha với sản lượng 11.359.707 tấn Trong đó, Châu Á chiếm diện tích, sản lượng cao nhất (diện tích là 1.820.729 ha chiếm 73% tổng diện tích mận thế giới, với sản lượng 7.090.653 tấn chiếm 62% tổng sản lượng của thế giới); Châu Đại Dương có diện tích trồng mận ít nhất với 3.361 ha chiếm 0,14% tổng diện tích mận của thế giới và sản lượng là 17.686 tấn chiếm khoảng 0,16% tổng sản lượng mận thế giới

Trang 35

Bảng 2.1 Tình hình sản xuất mận ở các vùng trên thế giới qua các năm

Chỉ tiêu Năm

Các châu lục trên thế giới

Thế giới Châu

Phi Châu Á Châu Âu Châu Mỹ

Châu Đại Dương Diện

tích (ha)

2013 45.065 1.779.521 578.648 95.205 3.543 2.501.982

2014 49.819 1.831.946 507.814 95.365 3.430 2.488.347

2015 49.751 1.820.729 526.843 94.667 3.361 2.495.351 Năng

Diện tích, năng suất, sản lượng của một số nước trên thế giới năm 2015 như sau:

Bảng 2.2 Tình hình sản xuất mận ở một số nước trên thế giới năm 2015

STT Tên quốc gia Diện tích (ha) Năng suất

Trang 36

Ở Châu Á, Trung Quốc là nước đứng đầu thế giới về diện tích, sản lượng, chiếm 67,63% diện tích trồng mận và 51,51% sản lượng mận của toàn thế giới Châu Âu cũng có nhiều nước trồng mận với diện tích lớn, đồng thời năng suất khá cao như: Serbia đứng thứ hai về diện tích, đứng thứ tư về sản lượng, Ru-ma-

ni đứng thứ ba về diện tích, đứng thứ hai về sản lượng Ở châu Mỹ, Mỹ là nước nổi bật có sản lượng mận đứng thứ ba trên thế giới và đạt năng suất khá, khoảng 159.539 tạ/ha

2.2.2 Kinh nghiệm phát triển sản xuất mận của các địa phương trong nước

Mận là một trong những loại cây được ưa chuộng rộng rãi, có giá trị kinh

tế khá cao Ở Việt Nam, mận được phân bố chủ yếu trên vùng núi cao, đặc biệt là vùng núi phía Bắc Vùng núi phía Bắc Khu Bốn cũ cũng trồng được mận song chỉ là các giống mận chua Ở miền Nam, Đà Lạt cũng trồng được mận nhưng năng suất, chất lượng không tốt

Từ cuối những năm 70 và những năm 80, giống mận Tam Hoa của Trung Quốc được đưa vào trồng tại Quảng Ninh và sau đó được chuyển về trồng tại Mộc Châu và Bắc Hà Tuy nhiên, diện tích mận ở Bắc Hà và Mộc Châu chỉ thực

sự tăng nhanh từ cuối những năm 90, khi mà Việt Nam đã trở thành một nước xuất khẩu gạo lớn thứ 3 trên thế giới và thu nhập của các hộ nông dân có vườn mận ở các vùng này tăng hơn nhiều lần so với hộ nông dân không có vườn mận Vào thời điểm này cây mận tam hoa thật sự đã trở thành một cây hàng hoá của cả

2 vùng Mộc Châu và Bắc Hà

Ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam có khá nhiều giống mận chất lượng cao như: mận Tam hoa, quả vỏ tím xanh, ruột tím đậm; mận Tả van tím (mận đường) có vỏ tím ruột vàng; mận Hậu: quả tím có ruột xanh lơ chuyển sang vàng, ruột vàng, ra hoa tháng 2, chín tháng 7, khối lượng quả: 30-40 quả/kg; mận Tả hoàng ly: quả chín có vỏ vàng, ruột vàng, ra hoa tháng 1, đến đầu tháng

2, quả chín từ cuối tháng 6 sang tháng 7; mận Trải tráng li: ra hoa tháng 2, quả chín tháng 7, quả thường chín không đều, quả nhỏ: 50-60 quả/kg Năng suất đạt 2,8-3,0 tấn/ha; mận Chua: (mận đắng) vỏ quả màu tím vàng, ruột vàng, là giống mận địa phương có vị chua đắng, sức sinh trưởng khoẻ, thường được làm gốc ghép và giống mận Đỏ (còn gọi là mận Máu), vỏ nhẵn bóng, to bằng đầu ngón chân cái, khi ăn có vị ngọt dịu, hương thơm tự nhiên, không chua Trong đó giống mận Đỏ trồng ở huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng được đánh giá là giống mận ngon nhất

Trang 37

Bảng 2.3 Đặc điểm của một số giống mận đang được trồng ở Việt Nam

Giống Phân bố

Thời gian ra hoa (Tháng)

Thời gian thu hoạch (Tháng)

Số quả/kg

Dáng quả

và màu thịt quả

Độ đường Brix (%)

đầu tháng

2

cuối 6, đầu 7

Nguồn: Niên giám thống kê (năm 2015)

Các địa phương phát triển thành vùng mận chuyên canh như Sơn La (10.416ha), Lạng Sơn (7.177,5ha), Lào Cai (2.932ha), Cao Bằng (1.597ha), Bắc Kạn (652ha) Năm 2015, nước ta có khoảng 23 ngàn ha mận, sản lượng ước tính hơn 160 ngàn tấn quả tươi

Bảng 2.4 Tình hình sản xuất mận ở một số tỉnh trong nước năm 2015

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (tấn) Bắc Kạn 652,0 588,0 68,7 4.039,6 Cao Bằng 1.597,0 1.352,5 71,6 9.683,9 Lào Cai 2.932,0 2.644,0 72,1 19.063,2 Lạng Sơn 7.177,5 5.347,5 70,8 40.860,3 Sơn La 10.416,0 10.016,0 85,5 85.636,8 Quảng Ninh 232,0 232,0 50,2 1.164,6

Nguồn: Niên giám thống kê (2015)

* Tình hình phát triển sản xuất mận ở Chiềng Cọ, tỉnh Sơn La:

Chiềng Cọ là một trong những vùng có diện tích mận lớn nhất Thành phố Sơn La Đây là xã vùng I của thành phố, địa hình phức tạp chủ yếu là đồi núi, núi

đá Cây mận được đưa vào trồng tại Chiềng Cọ từ những năm 1995 tới nay Loại

Trang 38

cây này phù hợp với đất đai, thổ nhưỡng, không bị ảnh hưởng bởi sương muối nên

dù không đủ nước tưới tiêu vẫn cho kết quả thu hoạch tốt, mang lại hiệu quả kinh

tế cao

Chiềng Cọ có hơn 1.000 hộ dân thì gia đình nào cũng trồng mận Nhà ít thì 30-40 cây, nhà nhiều trồng hơn 1.000 cây Trong đó, chỉ có khoảng 5-6 hộ gia đình trồng chuyên canh mận, thu nhập lên tới hàng trăm triệu mỗi năm Trong 6 tháng đầu năm năm 2015, nhân dân trên địa bàn xã đã thu hoạch mận tam hoa, mận hậu sản lượng ước đạt 3.000 tấn So với năm 2014, sản lượng này sụt giảm khoảng 30% Nguyên nhân là do sự thay đổi bất thường của thời tiết Cây mận ra hoa nhiều nhưng không đậu quả Sản lượng mận năm 2015 chỉ đạt khoảng 2/3 so với năm 2014, tuy nhiên, giá mận năm nay lại cao hơn năm ngoái Vào đầu vụ, mận có giá từ 40.000-70.000 đồng/kg tùy loại Do vậy, nếu năm 2014, 10 tấn mận cho thu hoạch 50 triệu đồng thì năm nay 5 tấn mận đã cho thu hoạch bằng đó

Tuy nhiên, vấn đề đặt ra hiện nay vẫn là câu chuyện đầu ra cho sản phẩm Mận Chiềng Cọ vẫn chủ yếu tiêu thụ thông qua các thương lái đến từ các tỉnh Hòa Bình, Điện Biên, Thanh Hóa, Phú Thọ… Việc trồng mận trên địa bàn đang mang tính tự phát là chính Dẫn tới có tình trạng ép giá giữa thương lái với người bán và ngay cả những người bán với nhau Thời gian tới, UBND

xã Chiềng Cọ chủ trương đưa ra Nghị quyết phát triển cây chủ lực như cà phê, mận, hướng tới thành lập Hợp tác xã thu mua sản phẩm để đảm bảo sự ổn định cho cây mận địa phương

* Tình hình phát triển sản xuất mận ở huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai Bắc Hà được xem là vương quốc mận tam hoa với diện tích trồng chuyên canh gần 1.000 ha, mỗi năm thu hoạch khoảng 3.000 tấn quả Mận được trồng chủ yếu ở các xã: Na Hối, Tà Chải, Bản Phố và thị trấn Bắc Hà Năm 1990-2000, diện tích trồng mận ở Bắc Hà phát triển mạnh lên đến 2.300 ha, giá bán xuống thấp chỉ 300 đồng/kg, vì thế nhiều người phá đi trồng cây khác Đầu năm 2011, tỉnh Lào Cai đánh giá lại tiềm năng và tầm quan trọng của cây mận trong đời sống nông nghiệp vùng cao Bắc Hà, sau đó quy hoạch diện tích trồng mới, đầu tư giống, kỹ thuật để mận trở thành hình ảnh của nông nghiệp Bắc Hà

Hiện Bắc Hà có trên 1.000 ha mận Tam hoa, giảm hơn 40% so với thời điểm được coi là “hoàng kim” của cây mận (2000-2005), tập trung chủ yếu ở thị

Trang 39

trấn Bắc Hà và các xã Na Hối, Bản Phố, Thải Giàng Phố, Tà Chải với sản lượng ước đạt 10.000 tấn, tăng gấp hai lần sản lượng niên vụ 2013 (do niên vụ 2013 chịu ảnh hưởng nhiều của giông lốc và mưa đá) Năm 2015 Bắc Hà thu hoạch được khoảng trên 3.000 tấn, giá trung bình từ 15- 30 ngàn đồng/kg Vụ này, diện tích mận cho thu hoạch 564 ha, giảm so với năm 2009 do người dân trồng mận chủ động cải tạo, chặt bỏ 136 ha cây mận già cỗi, thoái hóa giống Người dân cũng trồng thay thế giống mận thuần chủng, chất lượng cao đã được phục hồi, lai ghép giống Ngoài ra người dân được hướng dẫn kỹ thuật, tự lai ghép giống, nên sản lượng cao hơn năm ngoái

Hiện nay, các vườn mận của địa phương đã bắt đầu có dấu hiệu thoái hóa,

có nhiều cây cho quả nhỏ dần và chua hơn Do vậy, huyện Bắc Hà và tỉnh Lào Cai cũng đang có kế hoạch cải tạo giống mận Tam Hoa Bắc Hà để giữ cho loại quả đặc hữu của Cao nguyên trắng luôn có được hương vị ngon nhất

* Tình hình phát triển sản xuất mận ở Cao Bằng

Cao Bằng là tỉnh miền núi phía Bắc, có nhiều ưu thế về khí hậu, địa lý và đất đai phát triển cây mận Theo số liệu thống kê của Phòng Trồng trọt, Sở Nông nghiệp &PTNT, năm 2013 diện tích mận toàn tỉnh là 783,83 ha (Thạch An 98,4ha; Nguyên Bình 56,5 ha; Bảo Lạc 65,4ha; Trà Lĩnh 79,07 ha; …), diện tích cho sản phẩm 541,73 ha; Năng suất trung bình đạt 41,85 tạ/ha; sản lượng đạt 3.945,72 tấn quả Năm 2015, diện tích mận toàn tỉnh là 1.597 ha, diện tích cho sản phẩm 1.352,5ha; Năng suất trung bình đạt 71,6 tạ/ha; sản lượng đạt 9.683,9 tấn quả, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người trồng mận Nhiều gia đình có cây mận cho thu hoạch 30 - 40 kg/cây, bán được 300 - 400 nghìn đồng/cây, có hộ

có thu nhập từ vườn mận đạt dưới100 triệu đồng/năm Nếu mỗi hộ dân có trung bình 400 - 500 cây mận (tương đương 1ha), hàng năm có thể thu 70 - 80 triệu đồng từ bán quả sau khi đã trừ đi các chi phí Có thể nói cây mận không chỉ là cây xóa đói giảm nghèo, mà còn là cây giúp tăng thu nhập và làm giàu cho người trồng mận

Là cây trồng có hiệu quả kinh tế cao, nhưng hiện nay diện tích trồng mận của tỉnh Cao Bằng chiếm phần lớn là cây mận trồng lâu năm, giống cây dần thoái hóa, chất lượng suy giảm dẫn đến năng suất thấp Chính vì vậy những năm gần đây, nghiên cứu bảo tồn, nhân giống mở rộng diện tích trồng mận mới nhằm phát triển năng suất, chất lượng mận đang là vấn đề được tỉnh Cao Bằng chú trọng và quan tâm hàng đầu

Trang 40

2.2.3 Các công trình nghiên cứu về cây mận

Có nhiều nghiên cứu về cây mận và quá trình sinh trưởng và phát triển ở nước ta như:

Theo Lê Đức Khánh và Hà Minh Chung (2006): Mận có thể được chọn tạo bằng nhiều phương pháp như: gieo hạt, ghép, triết cành và giâm cành Trong

đó, phương pháp ghép có nhiều ưu điểm hơn như hệ số nhân giống cao, giữ được các đặc tính của cây mẹ, nâng cao tính thích nghi của cây với điều kiện khí hậu của địa phương… Vì vậy, các vùng trồng mận lớn trên thế giới như: Trung Quốc,

Mỹ và ở nước ta đã có nhiều nghiên cứu ứng dụng phương pháp ghép vào sản xuất và xem đây là phương pháp chủ đạo trong nhân giống mận hiện nay Có nhiều phương pháp ghép mận như: ghép cửa sổ, ghép áp, ghép nêm, ghép chẻ bên, ghép nối tiếp, ghép luồn dưới vỏ, song phương pháp ghép thông dụng hiện nay là ghép áp và ghép nối tiếp

Công trình nghiên cứu của Mạc Kim Tuyến (2012) về “Nghiên cứu một

số đặc điểm nông sinh học của các dòng, giống mận tại Bắc Hà, Lào Cai” Đề tài đã đánh giá về quá trình phát triển của cây mận dựa trên đặc tính, cây mận trồng và cây mận ghép, khả năng nảy mầm vào phát triển dựa trên điều kiện tự nhiên và kỹ thuật chăm sóc của con người Nghiên cứa chỉ ra các dòng, giống mận khác nhau khi ghép trên gốc ghép 2 năm tuổi và 7 năm tuổi cũng có các đặc điểm về hình thái khác nhau; cùng một dòng, giống được ghép trên hai gốc ghép có độ tuổi khác nhau thì các đặc điểm hình thái như màu sắc, hình dạng của lá, hoa, quả như nhau Tuy nhiên có sự chênh lệch về kích thước lá, số lượng hoa, tỷ lệ đậu quả Các chỉ tiêu này trên gốc ghép 7 năm tuổi tốt hơn trên gốc ghép 2 năm tuổi

2.3 BÀI HỌC KINH NGHIỆM RÚT RA TỪ THỰC TIỄN CHO PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT MẬN Ở HUYỆN TRÀ LĨNH, TỈNH CAO BẰNG

Qua tìm hiểu tình hình phát triển sản xuất mận ở các tỉnh, các công trình nghiên cứu và chủ trương chính sách của nhà nước đối với phát triển sản xuất mận trong hộ nông dân đã rút ra một vài bài học kinh nghiệm sau:

- Việc lựa chọn giống mận chủ lực trong sản xuất mận ở huyện Trà Lĩnh phải căn cứ vào điều kiện kiện đất đai, thổ những từng vùng, căn cứ vào trình độ thâm canh và nhu cầu của thị trường Tuy nhiên phát triển sản xuất mận cần có quy hoạch, tránh sản xuất ồ ạt

Ngày đăng: 17/11/2018, 00:14

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w