Qua đánh giá thực trạng công tác quản lý các lễ hội truyền thống tại huyện Gia Lâm cho thấy việc tổ chức, quản lý các lễ hội đã thực hiện đúng các nội dung theo quy định của Nhà nước, đị
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN HOÀNG GIANG
QUẢN LÝ CÁC LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN GIA LÂM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60 34 04 10
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Minh Hiền
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này là hoàn toàn trung thực, khách quan và chưa từng được sử dụng để bảo vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Nguyễn Hoàng Giang
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết
ơn sâu sắc PGS.TS Nguyễn Thị Minh Hiền đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Kinh tế và Phát triển nông thôn, khoa Quản lý Kinh tế - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ủy ban nhân dân và các phòng, ban, đơn vị huyện Gia Lâm; đặc biệt là cán bộ và nhân dân xã Dương Xá, Phú Thị, Phù Đổng đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và thu thập tài liệu phục
vụ cho luận văn
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Trang 4
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt v
Danh mục bảng vi
Danh mục sơ đồ vii
Trích yếu luận văn viii
Thesis abstract x
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 2
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.5 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý lễ hội truyền thống 4
2.1 Cơ sở lý luận 4
2.1.1 Một số khái niệm có liên quan về lễ hội và quản lý lễ hội 4
2.1.2 Giá trị của lễ hội truyền thống và vai trò của công tác quản lý các lễ hội truyền thống 7
2.1.3 Nội dung của công tác quản lý lễ hội truyền thống 12
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý lễ hội 15
2.2 Cơ sở thực tiễn 17
2.2.1 Thực tiễn về công tác quản lý lễ hội ở Việt Nam hiện nay 17
2.2.2 Kinh nghiệm quản lý lễ hội truyền thống của một số nước trên thế giới và ở trong nước 19
2.2.3 Bài học kinh nghiệm 22
Phần 3 Phương pháp nghiên cứu 23
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 23
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 23
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 23
3.1.3 Đánh giá chung về địa bàn nghiên cứu 25
3.2 Phương pháp nghiên cứu 26
Trang 53.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 26
3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin, số liệu 26
3.2.3 Phương pháp phân tích số liệu 28
3.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 28
Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 29
4.1 Lễ hội truyền thống trên địa bàn huyện Gia Lâm và một số lễ hội tiêu biểu 29
4.1.1 Khái quát chung về lễ hội truyền thống trên địa bàn huyện Gia Lâm 29
4.1.2 Khái quát về một số lễ hội truyền thống tiêu biểu trên địa bàn huyện 30
4.2 Thực trạng công tác quản lý lễ hội truyền thống trên địa bàn huyện Gia Lâm những năm qua 37
4.2.1 Công tác lãnh đạo, quán triệt các văn bản chỉ đạo của cấp trên và của Huyện 37
4.2.2 Công tác tuyên truyền 38
4.2.3 Công tác tổ chức nội dung hoạt động lễ hội 40
4.2.4 Quản lý tài chính trong lễ hội 47
4.2.5 Công tác đảm bảo an ninh trật tự, môi trường an toàn tổ chức lễ hội 50
4.2.6 Công tác tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử 59
4.2.7 Công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm 61
4.2.8 Đánh giá công tác quản lý lễ hội truyền thống trên địa bàn huyện Gia Lâm 62
4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý lễ hội truyền thống trên địa bàn huyện Gia Lâm 64
4.3.1 Yếu tố khách quan 64
4.3.2 Yếu tố chủ quan 66
4.4 Phương hướng, giải pháp tăng cường công tác quản lý lễ hội truyền thống trên địa bàn huyện Gia Lâm 71
4.4.1 Một số dự báo xu thế tiến triển của lễ hội truyền thống ở nước ta trong thời gian tới 71
4.4.2 Phương hướng chung về tăng cường công tác quản lý lễ hội truyền thống hiện nay 74
4.4.3 Một số giải pháp tăng cường công tác quản lý lễ hội truyền thống trên địa bàn huyện Gia Lâm 76
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 80
5.1 Kết luận 80
5.2 Kiến nghị 81
Tài liệu tham khảo 82
Phụ lục 85
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Đối tượng, nội dung tiến hành khảo sát 27
Bảng 4.1 Thống kê quy mô tổ chức các lễ hội trên địa bàn huyện Gia Lâm 29
Bảng 4.2 Công tác xây dựng văn bản chỉ đạo của huyện Gia Lâm về quản lý và tổ chức lễ hội truyền thống 37
Bảng 4.3 Kết quả thực hiện công tác thông tin, tuyên truyền lễ hội Gióng từ năm 2010 đến nay 39
Bảng 4.4 Kết quả thực hiện công tác thông tin, tuyên truyền lễ hội Đền Nguyên phi Ỷ Lan 39
Bảng 4.5 Công tác thu – chi tài chính Đền Nguyên phi Ỷ Lan năm 2014 48
Bảng 4.6 Công tác thu – chi tài chính Đền Nguyên phi Ỷ Lan năm 2015 49
Bảng 4.7 Công tác thu – chi tài chính lễ hội Đền Gióng năm 2016 50
Bảng 4.8 Bảng đánh giá các tiêu chí thực hiện công tác phòng chống cháy nổ, hỏa hoạn 52
Bảng 4.9 Đánh giá của nhân dân và khách du lịch đối với công tác đảm bảo an ninh trật tự, an toàn lễ hội (an toàn phòng chống cháy nổ, an toàn giao thông) trong thời gian tổ chức lễ hội 53
Bảng 4.10 Đánh giá của nhân dân địa phương và khách du lịch đối với công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm 55
Bảng 4.11 Đánh giá công tác đảm bảo vệ sinh môi trường của lễ hội 56
Bảng 4.12 Đánh giá của Ban quản lý di tích về chất lượng công trình vệ sinh tại các khu di tích 57
Bảng 4.13 Kế hoạch, tiến độ thực hiện Dự án “Tu bổ, tôn tạo Khu di tích lịch sử văn hóa Phù Đổng, huyện Gia Lâm” 60
Bảng 4.14 Tình hình tu bổ, tôn tạo, xây mới khu di tích Đền – Chùa Nguyên phi Ỷ Lan 60
Bảng 4.15 Đánh giá của nhân dân các địa phương về công tác tu bổ, tôn tạo di tích 61
Bảng 4.16 Đánh giá tác động của việc tổ chức lễ hội mang lại cho nhân dân 68
Bảng 4.17 Điều tra cán bộ văn hóa xã, thị trấn 69
Bảng 4.18 Thống kê các hình thức sử dụng tiền lẻ khi đi lễ của khách du lịch và nhân dân địa phương 3 xã Dương Xá, Phù Đổng, Phú Thị 70
Trang 8DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 4.1 Công tác tổ chức thực hiện lễ hội Gióng (Hội chính) 42
Sơ đồ 4.2 Công tác tổ chức thực hiện lễ hội Đền Nguyên phi Ỷ Lan 45
Trang 9TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
1 Tên tác giả: Nguyễn Hoàng Giang
2 Tên luận văn: “Quản lý các lễ hội truyền thống trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội”
3 Ngành: Quản lý kinh tế Mã số: 60.34.04.10
4 Cơ sở đào tạo: Học Viện Nông nghiệp Việt Nam
Lễ hội truyền thống là hiện tượng lịch sử, hiện tượng văn hóa có mặt ở Việt Nam
từ lâu đời và có vai trò không nhỏ trong đời sống xã hội Bên cạnh những mặt tích cực, tốt đẹp trong phục hồi và phát huy lễ hội cổ truyền trong đời sống xã hội đương đại, thì cũng không ít các vấn đề nảy sinh khiến những nhà quản lý và cả xã hội cần xem xét việc tổ chức các lễ hội dân gian phải làm sao vừa giữ gìn được những nét văn hóa truyền thống, vừa đảm bảo văn minh, trật tự, từ đó nâng cao hơn nữa giá trị của lễ hội truyền thống, làm phong phú hơn đời sống văn hóa của Việt Nam Gia Lâm, một vùng đất địa linh nhân kiệt hiện nay đang sở hữu nhiều lễ hội thu hút được số lượng lớn khách thập phương Tuy nhiên công tác quản lý các lễ hội trên địa bàn vẫn còn nhiều bất cập, đặt ra yêu cầu phải tăng cường hơn nữa các giải pháp thiết thực nhằm đưa công tác quản lý lễ hội truyền thống trở nên hiệu quả, phù hợp với xu thế chung và không làm ảnh hưởng đến những giá trị truyền thống vốn có của lễ hội Trong điều kiện giới hạn của luận văn, tôi tập trung phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý các lễ hội truyền thống trên địa bàn huyện Gia Lâm, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý các lễ hội truyền thống đó trong thời gian tới Tương ứng với đó là mục tiêu cụ thể bao gồm: (1) Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản
lý lễ hội truyền thống; (2) Đánh giá thực trạng công tác quản lý các lễ hội truyền thống trên địa bàn huyện Gia Lâm trong thời gian qua; (3) Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý các lễ hội truyền thống trên địa bàn huyện Gia Lâm cho những năm tiếp theo Trong nghiên cứu này tôi kết hợp việc sử dụng số liệu thứ cấp và sơ cấp để đưa ra các phân tích nhận định Trong đó, số liệu thứ cấp thu thập
từ thông tin, các văn bản của Nhà nước, các Bộ, ngành có liên quan, của Thành phố, Huyện và địa phương về công tác quản lý và tổ chức lễ hội truyền thống Số liệu sơ cấp được thu thập bằng các phương pháp điều tra, phỏng vấn đối tượng cán bộ văn hóa xã, thị trấn, ban quản lý di tích đền, chùa, người dân địa phương và khách du lịch Đề tài có
sử dụng các phương pháp phân tích như phương pháp mô tả, phương pháp phân tổ thống kê để đánh giá thực trạng công tác quản lý các lễ hội, cũng như phân tích các yếu
tố ảnh hưởng đến công tác quản lý các lễ hội truyền thống trên địa bàn huyện Gia Lâm
Trang 10Qua đánh giá thực trạng công tác quản lý các lễ hội truyền thống tại huyện Gia Lâm cho thấy việc tổ chức, quản lý các lễ hội đã thực hiện đúng các nội dung theo quy định của Nhà nước, địa phương; nhân dân được giáo dục nhận thức về giữ gìn giá trị văn hóa lịch sử và thực hiện tốt nếp sống văn mình nơi lễ hội Các yếu tố chính ảnh hưởng đến công tác quản lý lễ hội trên địa bàn huyện Gia Lâm bao gồm: (1) Vị trí địa
lý, tình hình kinh tế - xã hội của huyện và địa phương có lễ hội; (2) Kinh phí và công tác xã hội hóa để tổ chức lễ hội; (3) Thành phần dân cư, phong tục tập quán và trình độ dân trí của Huyện và các địa phương nói riêng; (4) Cơ chế chính sách, văn bản chỉ đạo của cấp trên đối với công tác quản lý lễ hội; (5) Cơ sở hạ tầng, vật chất của di tích lịch
sử nơi tổ chức lễ hội; (6) Công tác tuyên truyền, quảng bá lễ hội, giáo dục nhận thức; (7) Công tác xây dựng kịch bản, tổ chức lễ hội; (8) Năng lực tổ chức, quản lý hoạt động
lễ hội Trong những yếu tố này theo đánh giá chủ quan của tác giả thì yếu tố năng lực tổ chức, quản lý hoạt động lễ hội là yếu tố có ảnh hưởng nhất tới công tác tổ chức các lễ hội truyền thống trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội
Thông qua nghiên cứu, tôi đưa ra những giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý các lễ hội truyền thống của huyện Gia Lâm như sau: (1) Đẩy mạnh công tác thông tin, giáo dục; quan tâm tuyên truyền quảng bá với các lễ hội truyền thống quy mô nhỏ nhưng có giá trị lịch sử lâu đời trên địa bàn; (2) Các cơ quan chức năng về quản lý văn hóa cần nhanh chóng nghiên cứu, điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành theo hướng phù hợp với yêu cầu của thực tiễn; (3) Quản lý chặt chẽ việc quy hoạch, sắp xếp các hoạt động dịch vụ, vui chơi giải trí hợp lý; (4) Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ văn hóa và cán bộ làm công tác quản lý lễ hội; (5) Kịp thời quan tâm cải tạo cơ sở hạ tầng, vật chất đồng bộ đáp ứng nhu cầu của nhân dân; (6) Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra đối với công tác tổ chức lễ hội Trong
đó, giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ văn hóa và cán bộ làm công tác quản
lý lễ hội là giải pháp then chốt, nhằm tăng cường công tác quản lý các lễ hội truyền thống trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội một cách bền vững
Trang 11THESIS ABSTRACT
1 Author: Nguyen Hoang Giang
2 Thesis title: “Management of traditional festivals in Gia Lam district, Hanoi city”
4 Training institution: Vietnam National University of Agriculture
Traditional festivals are historical and cultural phenomena which have been in Vietnam for a long time They have played an important role in social life such as recovery and promotion of traditional festivals in contemporary social life However, a serious problem has arisen in recent years which related to festival organization process Gia Lam district is a well-know land with many attractive festivals Currently, these festivals have faced difficulties in management that requires real solutions to strengthen the efficiency and suitability of management of traditional festivals Hence, the objectives of this study are: (1) to synthesize the theoretical basis and practical problems
of management of traditional festivals; (2) to evaluate the real situation of management
of traditional festivals in Gia Lam district; (3) to propose some solutions to strengthen management of traditional festivals in Gia Lam district in coming years
In order to get these purposes, the authors have combined the use of both secondary and primary data Secondary data on management of traditional festivals is gathered from Ministries and other relevant authorities A sample of local people, historical monument management, local authorities and tourists are also selected for direct interviewing Descriptive statistics method and comparative analysis method are used to describe the status of management of traditional festivals, as well as to analyze the factors affecting management of traditional festivals in Gia Lam district
The study revealed that the organization and management of traditional festivals have obeyed all State and local regulations People are educated about awareness of preserving the cultural and historical values as well as fulfilling the civilized lifestyle during festivals There were eight factors affecting management of traditional festivals
in Gia Lam district including: (1) geographical location and local socio-economic situation; (2) funds for festival organization and socialization activities; (3) residential component, customs and educated population; (4) management mechanisms and policies; (5) infrastructure, historical monument facilities; (6) propaganda and festival promotion, awareness of the people; (7) construction of festival script; and (8) the capacity of staff which is the most important factor
Based on the situation, the research also proposed some solutions to improve the
Trang 12efficiency of management of traditional festivals such as: (1) promoting information about traditional festivals to people, especially the valuable traditional festivals; (2) improving mechanisms, policies and enhancing the system of legal documents based on the context of new reality; (3) keeping tight control on planning, organizing entertainment activities suiting traditional festivals; (4) improving quality by training for managerial festival staffs; (5) improving the festival infrastructure; (6) strengthening inspection of the festival organization Among those, the fourth solution is much more important and should be given priority in order to intensify the efficiency of
Trang 13PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Lễ hội truyền thống là hiện tượng lịch sử, hiện tượng văn hóa có mặt ở Việt Nam từ lâu đời và có vai trò không nhỏ trong đời sống xã hội Thông qua lễ hội, con người thể hiện tình cảm, trí tuệ, lẽ sống, khuynh hướng thẩm mỹ và khát vọng vươn tới các giá trị chân – thiện mỹ Lễ hội còn là phương tiện hữu hiệu nhất để biểu hiện những đặc trưng văn hóa của từng dân tộc, những giá trị tốt đẹp đôi khi bị mất đi hay biến đổi trong đời sống sinh hoạt hàng ngày nhưng bằng cách nào đó, chúng vẫn được tái hiện trong các lễ hội truyền thống Những năm gần đây, trong bối cảnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập quốc tế của nước
ta, văn hóa truyền thống nói chung, trong đó có lễ hội truyền thống đã được phục hồi và phát huy, làm phong phú hơn đời sống văn hóa của Việt Nam Tuy nhiên, cùng với sự phát triển về quy mô các lễ hội đã dần làm mất đi những nét đặc trưng riêng, tạo nên bản sắc văn hóa của từng vùng; hay những hành vi làm sai lệch đi giá trị của tâm linh, nét văn hóa tín ngưỡng trong mỗi lễ hội như tệ rải tiền lẻ, nạn bán hàng tràn lan, lấn át di tích hay đến lễ hội theo trào lưu chứ chưa hiểu được hết giá trị truyền thống của lễ hội mà mình tham gia… Những vấn đề này hiện đã và đang có xu hướng gia tăng đặt ra yêu cầu cho những người làm văn hóa cần phải nhìn nhận lại và tìm cách khắc phục để những mặt tinh hoa của
lễ hội cổ truyền được đẩy mạnh và phát huy, khắc phục dần các hạn chế, tiêu cực Để đạt được những mục tiêu đó, việc quản lý các lễ hội dân gian phải làm sao vừa giữ gìn được những nét văn hóa truyền thống, vừa đảm bảo văn minh, trật tự, từ đó nâng cao hơn nữa giá trị của lễ hội truyền thống, làm phong phú hơn đời sống văn hóa của Việt Nam
Gia Lâm - vùng đất địa linh nhân kiệt, nằm ở cửa ngõ phía Đông của Thủ
đô Hà Nội ngàn năm văn hiến, nơi giao thoa của dòng văn hoá Thăng Long và Kinh Bắc, hiện nay đang sở hữu nhiều lễ hội thu hút được số lượng lớn khách thập phương như: lễ hội đền Gióng tại xã Phù Đổng, lễ hội đền bà Tấm tại xã Dương Xá, lễ hội Bông Sòng ở xã Phú Thị, Hội làng Nành ở Ninh Hiệp, Tuy nhiên công tác quản lý các lễ hội trên địa bàn hiện nay vẫn còn nhiều bất cập, đặt
ra yêu cầu phải tăng cường hơn nữa các giải pháp thiết thực nhằm đưa công tác quản lý lễ hội truyền thống trở nên hiệu quả, phù hợp với xu thế chung và không
Trang 14làm ảnh hưởng đến những giá trị truyền thống vốn có của lễ hội, để những thế hệ sau này dù có đi đâu vẫn luôn có một chỗ dựa vững chắc về tinh thần và nhớ về nguồn cội của mình
Xuất phát từ những vấn đề trên tác giả lựa chọn đề tài “Quản lý các lễ hội truyền thống trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội” làm luận văn thạc sỹ kinh tế của mình Đề tài sử dụng các phương pháp: tra cứu tài liệu, khảo sát thực tế, tổng hợp và phân tích dữ liệu để làm rõ được nội dung được đề cập, cung cấp cho người đọc có một cái nhìn tổng quát về công tác gìn giữ, quản lý và phát triển lễ hội truyền thống trên địa bàn huyện Gia Lâm, đóng góp một phần công sức của mình cho sự phát triển văn hóa lễ hội quê hương
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng công tác quản lý các lễ hội truyền thống tại địa bàn huyện Gia Lâm trong những năm qua, từ đó đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường công tác quản lý các lễ hội truyền thống trên địa bàn cho đến năm 2020
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường công tác quản lý các
lễ hội truyền thống trên địa bàn huyện Gia Lâm cho những năm tiếp theo
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
- Quản lý lễ hội truyền thống bao gồm những nội dung, nguyên tắc nào? Sử dụng phương pháp nào?
- Thực trạng quản lý các lễ hội truyền thống trên địa bàn huyện Gia Lâm hiện nay đang diễn ra như thế nào? Có ưu điểm gì? Còn những tồn tại, hạn chế gì? Những yếu tố khách quan, chủ quan nào ảnh hưởng đến công tác quản lý?
- Giải pháp nào giúp tăng cường công tác quản lý các lễ hội truyền thống trên địa bàn huyện Gia Lâm?
Trang 151.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề quản lý liên quan tới lễ hội truyền thống: các cơ chế chính sách liên quan đến bảo tồn phát huy giá trị lễ hội truyền thống; quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về công tác quản lý lễ hội truyền thống hiện nay, các nội dung của công tác quản lý lễ hội (công tác lãnh đạo, chỉ đạo; tổ chức thực hiện nếp sống văn minh trong lễ hội; đảm bảo an toàn, an ninh trật tự trong lễ hội; quản lý tài chính; công tác thanh tra, kiểm tra,
xử lý vi phạm…)
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
* Phạm vi về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng công tác quản lý các lễ hội truyền thống; phân tích ưu điểm, những tồn tại, hạn chế, các yếu tố khách quan, chủ quan ảnh hưởng đến công tác quản lý; qua đó đưa ra các giải pháp tăng cường công tác quản lý các lễ hội truyền thống đó
* Phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu tại huyện Gia Lâm - thành phố
Hà Nội
* Phạm vi về thời gian:
- Các dữ liệu thứ cấp phục vụ cho nghiên cứu này được lấy từ năm 2012 đến 2015
- Các dữ liệu sơ cấp được thu thập vào năm 2015, 2016
- Các giải pháp đề xuất cho 2020
1.5 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài đã góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý lễ hội truyền thống, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm trong quá trình quản lý các lễ hội truyền thống Đề tài đã đánh giá thực trạng công tác quản
lý các lễ hội truyền thống của huyện Gia Lâm trong thời gian qua Theo đó đã đánh giá một cách khá chi tiết việc thực hiện các nội dung của công tác quản lý lễ hội truyền thống Trên cơ sở phân tích những yếu tố khách quan, chủ quan ảnh hưởng đến công tác quản lý đã đề xuất một số giải pháp chủ yếu tăng cường công tác quản lý các lễ hội truyền thống trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội cho những năm tiếp theo
Trang 16PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ
QUẢN LÝ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1 Một số khái niệm có liên quan về lễ hội và quản lý lễ hội
- Lễ hội: là sự kiện văn hóa mang tính cộng đồng, bao gồm 2 phần: Lễ và Hội + Lễ: là hệ thống những hành vi, động tác nhằm biểu hiện sự tôn kính của con người với thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện được (Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển bách khoa Việt Nam, 2005)
Các nghi lễ trong lễ hội được tiến hành theo một trình tự chặt chẽ, nghiêm ngặt từ khi chuẩn bị lễ hội cho đến khi hết lễ hội Thông thường một lễ hội có các nghi lễ: lễ mộc dục, lễ tế gia quan, lễ rước, lễ tế khai hội và tế giã đám
Từ bao đời nay, lễ hội luôn giữ vai trò như sợi dây gắn kết cộng đồng, tạo dựng không gian văn hóa vừa trang trọng, linh thiêng, vừa tưng bừng náo nức Phần lễ trong lễ hội chính là thể hiện sự trang trọng, linh thiêng đó Những nghi
lễ được tiến hành trong lễ hội giúp cho nhân dân được đến với lịch sử cha ông, trở về với cội nguồn của dân tộc, tưởng nhớ lại những công ơn của người đi trước, cầu mong những điều tốt lành
+ Hội: là sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng xuất phát từ như cầu cuộc sống, sự tồn tại và phát triển của cộng đồng, xuất phát từ nhu cầu cuộc sống, từ sự tồn tại và phát triển của cộng đồng, sự bình yên cho từng cá nhân, hạnh phúc cho từng gia đình, sự vững mạnh cho từng dòng họ, sự sinh sôi nảy nở của gia súc, sự bội thu của mùa màng mà từ bao đời nay quy tụ niềm mơ ước chung vào bốn chữ "Nhân khang, vật thịnh" (Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển bách khoa Việt Nam, 2005)
Hội được thể hiện qua các trò chơi dân gian, những màn diễn xướng, thi tài đầy tính khéo léo vừa rộn rã đầy ắp tiếng cười vừa nêu cao tinh thần thượng võ, tính đoàn kết của cộng đồng
Trong lễ hội không thể không nhắc tới những trò chơi dân gian, được coi là nét đặc trưng tiêu biểu làm phong phú đời sống văn hóa tinh thần các vùng miền
Sự tái hiện các trò chơi dân gian là sự kết tinh của nhận thức và việc giữ gìn văn
Trang 17hóa Việt muốn tìm về cội nguồn dân tộc vốn có, muốn mọi người được quay về với các trò chơi đã có từ lâu đời Bên cạnh đó là những màn hát lễ nghi cầu mong những điều tốt đẹp, cầu cho mùa màng bội thu, mưa thuận gió hòa
- Lễ hội là hoạt động tập thể thường có liên quan đến tôn giáo, tín ngưỡng (nhất là lễ hội cổ truyền) Tôn giáo thông qua lễ hội để phô trương thanh thế, lễ hội nhờ tôn giáo để thần linh hóa những thứ trần tục Thông qua lễ hội, con người bày tỏ niềm mong ước của mình vào các vị thần linh trên trời, đồng thời thỏa mãn khát vọng trở về cội nguồn và đáp ứng nhu cầu văn hóa tâm linh cũng như nhu cầu giao lưu trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng
Lễ hội truyền thống là một bộ phận những giá trị tốt đẹp trong lễ hội cổ truyền của dân tộc được các thế hệ sau nối tiếp các thế hệ trước tái tạo và khẳng định để bảo tồn và phát huy theo hướng tích cực trong đời sống xã hội Như vậy,
lễ hội truyền thống được coi như là một thành tố quan trọng cấu thành nên hình thái sinh hoạt văn hóa lịch sử tương ứng với những mô hình xã hội được tổ chức theo những giai đoạn lịch sử khác nhau Trong Hán Việt từ điển, Đào Duy Anh (2005) đã định nghĩa truyền thống như sau: "Thống gồm có nghĩa là mối tỏ, đường mối, đầu gốc; còn truyền là trao lại, trao cho và chúng luôn đi liền với nhau mang ý nghĩa đời nọ truyền xuống đời kia"
Có nhiều định nghĩa khác nhau về lễ hội truyền thống, tùy thuộc vào các tác giả tiếp cận ở khía cạnh nào và theo phương thức nào Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu văn hóa đều cho rằng, lễ hội truyền thống là hình thái văn hóa có tính chất hai mặt trong một chỉnh thể thống nhất Lễ hội truyền thống là một hệ thống hành
vi nghi thức biểu đạt thế ứng xử của cộng đồng hướng tới một đối tượng thần linh nhất định và những hoạt động văn hóa để minh họa cho các hành vi nghi lễ
Lễ càng thiêng thì hội càng đông, hội càng đông thì lễ càng thiêng Lễ hội truyền thống là hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian phổ biến của cộng đồng cư dân nông nghiệp nước ta Tính nguyên hợp của lễ hội thể hiện ở chỗ lễ hội vừa là hoạt động tín ngưỡng thờ cúng các vị thần linh, vừa là hoạt động vui chơi giải trí,
là sinh hoạt văn hóa tinh thần gắn bó trực tiếp với hoạt động sản xuất vật chất Như vậy, có thể hiểu: Lễ hội truyền thống là lễ hội được sáng tạo và lưu truyền theo phương thức dân gian, được hình thành trong các hình thái văn hóa lịch sử, được truyền lại trong các cộng đồng nông nghiệp với tư cách một phong tục tập quán
Trang 18Gần đây trong các lễ hội tính tôn giáo giảm bớt, chỉ mang nặng tính văn hóa Theo thống kê đến năm 2015 cả nước có 8.902 lễ hội, trong đó có: 7.069
lễ hội dân gian; 409 lễ hội lịch sử; 1.399 lễ hội tôn giáo; 25 lễ hội du nhập vào Việt Nam
Một số lễ hội chi phối trên mọi miền như Tết Nguyên Đán, lễ Vu Lan, tết Trung thu, lễ hội Đền Hùng, lễ hội chùa Bái Đính, Giáng sinh, Phật đản Một số
lễ hội ảnh hưởng cả vùng lớn như Hội Gióng, lễ hội Chùa Hương, lễ hội bà chúa
Xứ (An Giang), gần đây là lễ hội pháo hoa (Đà Nẵng), lễ hội hoa Đà Lạt…
- Lễ hội truyền thống: là lễ hội mang một nghi thức tôn giáo - tâm linh, được ra đời do nhu cầu tinh thần của một cộng đồng nông thôn Nó được vận hành bởi tính tự nguyện và các 'luật lệ' cộng đồng, đáp ứng nhu cầu tinh thần và cũng được coi là một thương hiệu tạo bản sắc
- Quản lý: Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa vào sự nỗ lực của một tổ chức, từ một nhóm nhỏ đến phạm vi rộng lớn hơn ở tầm quốc gia ,quốc tế và đều phải thừa nhận, chịu một sự quản lý nào đó Như vậy, quản lý là một khái niệm được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực khác nhau như: kinh tế, luật học, điều khiển học… Vì thế, các nhà nghiên cứu ở từng lĩnh vực đã đưa ra những quan niệm khác nhau về quản lý
Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được những mục tiêu nhất định trong điều kiện biến động của môi trường
+ Chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra những tác động quản lý nhằm dẫn dắt đối tượng quản lý đi đến mục tiêu (có thể là một người, một bộ máy quản lý gồm nhiều người)
+ Đối tượng quản lý tiếp nhận các tác động của chủ thể quản lý
Có nhiều cách định nghĩa khái niệm quản lý khác nhau tùy theo cách tiếp cận khác nhau Nhìn chung, quản lý là một khái niệm gắn với quyền lực ở một mức độ nhất định Trong Từ điển Tiếng Việt (2002) có nêu: Quản lý là “tổ chức
và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” Khái niệm quản lý ở đây là muốn nói đến quản lý con người, quản lý xã hội và biểu hiện cụ thể nhất là
ở quản lý nhà nước
Theo Paul Hersey và Ken Blanc Hard (1995), “Quản lý là một quá trình
Trang 19cùng làm việc giữa nhà quản lý và người bị quản lý nhằm thông qua hoạt động của cá nhân, của nhóm, huy động các nguồn lực khác nhau để đạt mục tiêu của
tổ chức”
Ở Việt Nam, tác giả Trần Kiểm (2006) cho rằng: ”Quản lý là những hoạch định của chủ thể quản lý trong việc huy động, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” Cho dù cách tiếp cận thế nào thì bản chất của hoạt động quản lý là cách thức tác động (tổ chức, điều khiển, kiểm tra) hợp quy luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt hiệu quả mong muốn và đạt mục tiêu đã đề ra Quản lý vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật
- Dưới góc độ quản lý, việc bảo tồn lễ hội truyền thống là làm thế nào để lễ hội và những giá trị văn hóa đặc sắc của lễ hội tồn tại và phát huy tác dụng trong đời sống đương đại Tuy nhiên, trong thực tiễn, việc này ở Việt Nam đứng nhiều thách thức, đòi hỏi các nhà quản lý phải xác định rõ nguyên nhân và giải pháp phù hợp để lễ hội truyền thống được bảo tồn và phát triển
2.1.2 Giá trị của lễ hội truyền thống và vai trò của công tác quản lý các lễ hội truyền thống
2.1.2.1 Giá trị của lễ hội truyền thống
Thứ nhất, lễ hội truyền thống thực hiện chức năng liên kết cộng đồng, dù dưới hình thức nào lễ hội truyền thống vẫn là một kiểu sinh hoạt tập thể của nhân dân, là “cuộc vui chơi đông người” được tổ chức sau thời gian lao động, sản xuất hay nhân dịp kỷ niệm một sự kiện xã hội quan trọng liên quan đến sự tồn tại của một cộng đồng hoặc để quần chúng tìm đến một cái gì đó Người đi hội không cảm thấy mình là người ngoài cuộc, chính điều đó đã đem lại niềm an ủi, sự xúc động thật sự và là nguồn động viên sâu sắc cho những thân phận nhỏ bé ngày thường trong xã hội phong kiến xa xưa Ta thấy hầu như toàn bộ lễ hội truyền thống nào cũng đều phản ánh chức năng này, từ lễ hội chùa Hương (Hà Tây), lễ hội Nghinh Ông (Bình Thuận) đến lễ hội Bà Chúa Xứ (An Giang)… (Bùi Hoài Sơn, 2009) Thứ hai, lễ hội truyền thống có chức năng phản ánh, bảo lưu và truyền bá các giá trị văn hóa truyền thống, thể hiện ở sự ngưỡng mộ tổ tiên, ôn lại truyền thống đã qua (như lễ hội Đền Hùng, lễ hội Gióng…) (Bùi Hoài Sơn, 2009)
Trang 20Thứ ba, lễ hội truyền thống còn thể hiện chức năng đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần, tâm linh, giải quyết những khát khao, những ước mơ của cộng đồng các dân tộc ở địa phương như lễ hội Dinh Thầy Thím, Cầu Ngư (Bình Thuận), Chùa Bà (Bình Dương), Núi Bà Đen (Tây Ninh)… Thông qua đó, lễ hội truyền thống tạo cho con người niềm lạc quan yêu đời, yêu chân lý, trọng cái thiện và làm cho tâm hồn, nhân cách mỗi con người như được sưởi ấm tình nhân đạo, nhân văn để rồi thẩm thấu vào cuộc sống đời thường, đáp ứng nhu cầu đời sống văn hóa tinh thần, tâm linh về giao lưu, làm cho đời sống có ý nghĩa hơn, tốt đẹp hơn (Bùi Hoài Sơn, 2009)
Thứ tư, chức năng hưởng thụ và giải trí là chức năng cuối cùng của lễ hội truyền thống Đến với lễ hội truyền thống ngoài sự “hòa nhập” hết mình trong các hoạt động của lễ hội, được “hóa thân” đóng một vai trong hội hay “nhập thân” vào một trò chơi, tất cả mọi người đều được hưởng những lễ vật mà mình dâng cúng, đều được tham gia vào các hoạt động vui chơi, giải trí trong quá trình
tổ chức hoạt động lễ hội Trong lễ hội truyền thống, người dân không chỉ hưởng thụ mà còn là người sáng tạo văn hóa, là chủ nhân thực sự trong đời sống văn hóa của chính bản thân mình (Bùi Hoài Sơn, 2009)
2.1.2.2 Vai trò của công tác quản lý các lễ hội truyền thống
Theo Bùi Quang Thanh (2016), quản lý lễ hội truyền thống ở Việt Nam đóng vai trò quan trọng xuất phát từ hiện trạng không gian văn hóa lễ hội đa dạng
và phức tạp lâu nay Cụ thể vai trò của công tác quản lý lễ hội truyền thống đó là: Thứ nhất, nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa tâm linh, tín ngưỡng của người dân Lễ hội nước ta rất đa dạng và phong phú Mỗi lễ hội mang một nét tiêu biểu và giá trị riêng, nhưng bao giờ cũng hướng tới một đối tượng linh thiêng cần được suy tôn như những vị anh hùng chống ngoại xâm, những người
có công dạy dỗ truyền nghề, chống thiên tai, diệt trừ ác thú, giàu lòng cứu nhân
độ thế Với tư tưởng uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ người trồng cây, những
lễ hội trên khắp cả nước được diễn ra sôi động bằng những sự tích, công trạng, là cầu nối giữa quá khứ với hiện tại, làm cho thế hệ trẻ hôm nay hiểu được công lao
tổ tiên, thêm tự hào về truyền thống quê hương, đất nước mình Trong vòng 10 năm qua, thông qua chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa, Bộ VH, TT&DL
và chủ trương xã hội hóa hoạt động lễ hội mà nhiều lễ hội cổ truyền được phục dựng nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa tâm linh, tín ngưỡng của người dân và bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc (Bùi Quang Thanh, 2016)
Trang 21Thứ hai, góp phần định hướng, điều chỉnh sự phát triển của các lễ hội truyền thống Trong nhiều năm vừa qua, lễ hội truyền thống ở Việt Nam có những thăng trầm, có khi lắng xuống, có khi lại phát triển ồ ạt, thiếu tính tổ chức Trong những nguyên nhân của thời kỳ lắng xuống ấy có thể kể đến những nguyên nhân khách quan như chiến tranh hay kinh tế nước nhà còn nhiều khó khăn; trong những nguyên nhân chủ quan phải kể đến nhận thức và cách thức quản lý của các nhà quản lý văn hóa-xã hội Họ đã có lúc coi lễ hội là một sự lãng phí, tốn kém tiền của của nhân dân, là mê tín dị đoan… nên đã đưa ra những quyết định quản lý lễ hội nặng về cấm đoán hành chính, thiếu căn cứ khoa học Chính vì thế, nhiều lễ hội truyền thống không được vận hành theo đúng quy luật của văn hóa, nhiều giá trị văn hóa đặc sắc của lễ hội theo đó cũng bị mai một Trong những năm gần đây, tình hình dường như có xu hướng ngược lại, lễ hội phát triển ồ ạt, không được định hướng, và hàng loạt các yếu tố ngoại lai đi kèm xuất hiện trong lễ hội Các nhà quản lý văn hóa đã nhận thức được đây là nhu cầu thực, khách quan của nhân dân Nhu cầu này phải được thỏa mãn một cách chính đáng Từ đó, việc quản lý các lễ hội truyền thống dân tộc đòi hỏi các nhà quản lý văn hóa phải đưa ra những quyết định giúp định hướng, điều chỉnh tình trạng phát triển ồ ạt của lễ hội hiện nay; để đạt được sự "tồn tại và phát triển bền vững" hàng nghìn lễ hội dân gian ở Việt Nam, phát huy được mặt tích cực và xử lý triệt
để những tiêu cực, phản văn hóa trong hoạt động lễ hội hiện tại và lâu dài (Bùi Quang Thanh, 2016)
Thứ ba, góp phần thúc đẩy sự phát triển về kinh tế, chính trị của đất nước, đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân:
Thúc đẩy sự phát triển kinh tế: Trong kho tàng di sản văn hóa của Việt Nam, lễ hội là một thành tố văn hóa đặc biệt có giá trị du lịch rất lớn bởi lễ hội được coi như một bảo tàng văn hóa dân gian, nơi chứa đựng, lưu giữ nhiều hình thức sinh hoạt văn hóa do các thế hệ tiền nhân để lại Du khách đến lễ hội không chỉ để tham gia lễ hội mà còn tham gia vào hàng loạt các hoạt động khác như hội chợ, triển lãm văn hóa lịch sử và các dịch vụ giải trí đi kèm Điều này có lợi cho
cả du khách và cư dân bản địa Những quan hệ kinh tế sẽ xuất hiện, đem đến sự tăng thu nhập cho mỗi cá nhân khi tham gia vào hoạt động phục vụ khách, tạo việc làm cho các ngành có liên quan đến du lịch (như thủ công mỹ nghệ, cung cấp thực phẩm, phương tiện vận chuyển, nhà hàng…), tăng ngân sách địa phương và cải thiện cơ sở hạ tầng Lễ hội tạo lợi thế cho địa phương, khu/điểm
Trang 22du lịch: giúp nhiều du khách biết tới điểm du lịch, tạo ra nguồn du khách cho riêng lễ hội, từ đó tạo dựng hình ảnh về một cộng đồng, một khu vực, một đất nước; tạo giá trị quảng cáo rất lớn cho điểm đến, địa phương và quốc gia Các lễ hội được tổ chức còn giúp kéo dài mùa du lịch tại các điểm, giúp khai trương một mùa du lịch mới hoặc trở thành một dạng du lịch thay thế/tiêu biểu của điểm du lịch hay của các địa phương (Bùi Quang Thanh, 2016)
Tuy nhiên, khi khai thác các lễ hội truyền thống phục vụ du lịch hiện nay,
để tạo sức hút đối với du khách và thoả mãn những nhu cầu của khách, phần lớn các lễ hội truyền thống đã biến đổi những giá trị gốc và bản chất vốn có của nó Những hình thức văn hóa và di sản không thể thay thế được sẽ bị mất đi do mong muốn hiện đại hóa phục vụ nhu cầu thực tại Đây là một thách thức mà các lễ hội truyền thống đang phải đối mặt Thương mại hóa di sản văn hóa luôn có hai mặt Đối với lễ hội truyền thống, nếu các hoạt động lễ hội được quản lý tốt, có thể đem lại những lợi ích cho cộng đồng, nhưng nếu không được quản lý, điều hành tốt, những vấn đề nảy sinh sẽ gia tăng Bản chất lễ hội sẽ mất đi, sự hỗ trợ từ phía cộng đồng và những đóng góp tự nguyện sẽ không còn, lễ hội truyền thống dần trở thành lễ hội hiện đại với những diễn viên đóng thế do những chủ nhân của nó không muốn tham dự Lễ hội sẽ như một chương trình chạy tự động, “đến hẹn lại lên” để phục vụ du khách, không còn là lễ hội cộng đồng (Bùi Quang Thanh, 2016)
Mối quan hệ giữa di sản và du lịch tốt hay xấu tuỳ thuộc vào cách chúng
ta xử lý chúng như thế nào Sẽ rất lý tưởng nếu lễ hội truyền thống kết hợp được hai mục tiêu: phát triển du lịch và bảo tồn văn hóa Cách thức quản lý của con người đóng vai trò quyết định xem du lịch có lợi hay có hại trong vấn đề bảo tồn
và phát huy giá trị di sản văn hóa Đối với quản lý lễ hội, điều cơ bản là làm sao phát triển du lịch khi vẫn giữ gìn được bản sắc của lễ hội; làm cho du lịch và lễ hội không xung đột nhau mà bổ trợ, phục vụ lẫn nhau
Phát triển bền vững đất nước, nâng cao vị thế của quốc gia trên trường chính trị: Sự vận động của xã hội luôn luôn chi phối và tác động mạnh mẽ đến các hoạt động xã hội như chính trị Từ khi ra đời, vấn đề văn hóa và con người luôn được Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức coi trọng Đảng ta nhận định tình hình trong nước và thế giới có nhiều thay đổi, mặt trái của cơ chế thị trường
và hội nhập quốc tế đã tác động to lớn, sâu sắc đến nhiều lĩnh vực, trong đó có văn hóa Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII đã nhấn mạnh tầm quan
Trang 23trọng của việc xây dựng, phát triển văn hóa, con người Việt Nam với nhiệm vụ tổng quát “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, con người Việt Nam phát triển toàn diện đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa” (Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, 2016) Là một bộ phận của văn hóa Việt Nam, lễ hội truyền thống mang trong mình những giá trị của dân tộc Việc quản lý các lễ hội không chỉ góp phần xây dựng và phát triển văn hóa dân tộc mà còn đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XII của Đảng; trên cơ sở đó xây dựng văn hóa trong chính trị, góp phần xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh (Bùi Quang Thanh, 2016)
Trong quá trình phát triển thì du lịch là mục tiêu đáng quan tâm của Đảng
và Nhà nước ta Du lịch mang lại một nguồn thu lớn đóng góp cho sự phát triển
về kinh tế, thu hút khách du lịch không chỉ trong nước mà cả quốc tế, tạo điều kiện thể hiện sự ổn định chính trị của quốc gia Lễ hội mang tính đối ngoại, là một phần trong chương trình hoạt động của chính phủ với khẩu hiệu "Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trên thế giới" Trong giai đoạn hội nhập kinh tế hiện nay, đặt ra những yêu cầu, thách thức đối với Nhà nước ta về công tác quản
lý, phát triển các lễ hội truyền thống, để có cơ hội đưa lễ hội truyền thống quảng
bá đến bạn bè quốc tế, giới thiệu về nét tinh hoa văn hóa của dân tộc, để lại ấn tượng tốt đẹp trong lòng du khách quốc tế, từ đó nâng tầm vị thế của Việt Nam trên bản đồ thế giới
Nâng cao đời sống văn hóa - tinh thần của nhân dân: Lễ hội không chỉ là tấm gương phản chiếu nền văn hóa dân tộc, mà còn là môi trường bảo tồn, làm giàu và phát huy nền văn hóa dân tộc ấy; lễ hội đã xóa nhòa những cách biệt xã hội, mọi người chan hòa trong không khí thiêng liêng, hứng khởi, cùng sáng tạo
và hưởng thụ những giá trị văn hóa của mình Trong tâm thức của mỗi người dân Việt, đến với lễ hội trước hết để thể hiện lòng thành kính, biết ơn đối với công đức tiền nhân, tôn trọng những giá trị đạo đức, văn hóa, tâm linh, tín ngưỡng; bên cạnh đó là cầu mong mọi điều may mắn, tốt đẹp đến với bản thân, gia đình, quê hương, đất nước Tuy nhiên, hiện nay nhiều người đi lễ hội dường như không hiểu điều này nên đã vô tình biến những hành vi văn hóa mang ý nghĩa hướng tới chân - thiện - mỹ thành việc “mua bán” với thần thánh Tín ngưỡng của một bộ phận người dân đang bị biến tướng thành mê tín dị đoan dẫn tới những lệch lạc trong hành vi, nhận thức, tạo điều kiện cho một số thành phần lợi dụng để kiếm
Trang 24tiền, trục lợi Để khắc phục tình trạng trên, cần thiết phải có chỉ đạo, kế hoạch hành động cụ thể cùng những chế tài xử phạt nghiêm khắc của các cấp, các ngành có liên quan đối với các hành vi phản cảm, để lễ hội phát huy được giá trị văn hóa tâm linh, góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc (Bùi Quang Thanh, 2016)
2.1.3 Nội dung của công tác quản lý lễ hội truyền thống
Theo Quyết định số 486/QĐ-BVHTTDL ngày 12/02/2015 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành tiêu chí, thang điểm đánh giá thực hiện công tác quản lý và tổ chức lễ hội dân gian bao gồm các nội dung sau:
2.1.3.1 Công tác lãnh đạo, quán triệt các văn bản chỉ đạo
Các địa phương tổ chức phổ biến, quán triệt nghiêm túc các Chỉ thị, Nghị quyết, Nghị định, Quyết định của Trung ương, của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Hà Nội về tăng cường công tác quản lý, tổ chức hoạt động lễ hội Trên cơ sở đó các cơ quan, ban, ngành chuyên môn tham mưu cho cấp ủy, chính quyền ban hành các văn bản chỉ đạo, tổ chức thực hiện, thanh tra, kiểm tra đối với công tác quản lý, tổ chức các hoạt động lễ hội trên địa bàn; tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng đối với công tác tổ chức, quản lý lễ hội đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật, thiết thực, hiệu quả, tiết kiệm, phù hợp với thuần phong mỹ tục và các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, 2015)
2.1.3.2 Công tác tuyên truyền
Tuyên truyền, giới thiệu giá trị lịch sử, văn hóa của di tích, lễ hội; những nét đẹp truyền thống trong hoạt động lễ hội, gắn với bảo tồn di sản văn hóa dân tộc Quảng bá xây dựng thương hiệu, phối hợp với các phương tiện thông tin đại chúng phát sóng, đưa tin, bài, phóng sự, phim tài liệu… tuyên truyền về lịch sử, văn hóa, du lịch của địa phương Đối với những lễ hội có quy mô lớn, tổ chức dài ngày và thu hút đông người tham gia, Ban Tổ chức lễ hội phải tổ chức họp thông báo về kế hoạch tổ chức và cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác cho cơ quan báo chí theo quy định của pháp luật
Tuyên truyền các văn bản chỉ đạo của cấp trên và của huyện về quản lý lễ hội và thực hành nếp sống văn minh trong lễ hội: Tuyên truyền các văn bản luật, dưới luật về tổ chức lễ hội; thực hiện nếp sống văn minh tại các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo; các quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công
Trang 25cộng;… Hướng dẫn nhân dân thực hiện nếp sống văn minh trong sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng và lễ hội (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, 2015)
2.1.3.3 Công tác tổ chức nội dung hoạt động lễ hội
Công tác xây dựng kế hoạch: chủ động xây dựng kế hoạch tổ chức và quản
lý lễ hội đối với các hoạt động lễ hội diễn ra trên địa bàn; ban hành quyết định thành lập Ban tổ chức lễ hội để quản lý, điều hành lễ hội đúng quy chế, phù hợp với quy mô, tính chất của lễ hội; quy hoạch, quản lý và tổ chức tốt các dịch vụ
cháy nổ, đảm bảo công tác an ninh trật tự, an toàn và công tác vệ sinh môi trường trước, trong và sau lễ hội
Công tác tổ chức đảm bảo trang nghiêm, thành kính, tiết kiệm, hiệu quả Ban Tổ chức có trách nhiệm quản lý, điều hành lễ hội theo đúng chương trình đã thông báo hoặc xin phép; thực hiện nghiêm túc các quy định hiện hành của Nhà nước về quản lý và tổ chức lễ hội; báo cáo kết quả tổ chức lễ hội gồm công tác chỉ đạo điều hành, công tác tổ chức, thực hiện, đánh giá ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân, những kiến nghị, đề xuất (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, 2015) 2.1.3.4 Quản lý tài chính trong lễ hội
Người phụ trách (trụ trì), Ban Tổ chức lễ hội, Ban Quản lý di tích phải có phương thức thu, nhận, quản lý và sử dụng tiền công đức, tiền được huy động từ nguồn xã hội hóa, tài trợ để tổ chức lễ hội đảm bảo công khai, minh bạch, có sổ sách rõ ràng, chi tiêu đúng mục đích theo quy định tại Thông tư liên tịch số 04/2014/TTLT-BVHTTDL-BNV ngày 35/5/2014 của Bộ Văn hóa, Thể thao và
Du lịch và Bộ Nội vụ về hướng dẫn thực hiện nếp sống văn minh tại cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo và các quy định khác có liên quan về tài chính (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, 2015)
2.1.3.5 Công tác đảm bảo an ninh trật tự, môi trường an toàn tổ chức lễ hội Thực hiện các nội dung đảm bảo an ninh trật tự, môi trường an toàn tổ chức lễ hội theo Thông tư số 15/2015/TT-BVHTTDL về Quy định tổ chức lễ hội; Thông tư liên tịch số 04/2014/TTLT-BVHTTDL hướng dẫn việc thực hiện nếp sống văn minh tại các cơ sở tín ngưỡng, cơ sở tôn giáo; Quyết định
số 486/QĐ0BVHTTDL của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành tiêu chí, thang điểm đánh giá thực hiện công tác quản lý và tổ chức lễ hội dân gian, bao gồm:
Trang 26- Việc đổi tiền lẻ và đặt tiền tại di tích, lễ hội
- Công tác phòng ngừa thảm họa, phòng, chống cháy nổ, hỏa hoạn
- Công tác đảm bảo an ninh trật tự, bảo vệ di tích, danh thắng, tài sản nhà nước, tài sản cá nhân, đảm bảo an toàn tuyệt đối cho du khách dự lễ hội
- Đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm
- Đảm bảo vệ sinh cảnh quan môi trường nơi tổ chức lễ hội
- Việc lưu hành ấn phẩm văn hóa trái phép không phù hợp với thuần phong,
mỹ tục, nếp sống văn hóa của dân tộc
- Công tác quy hoạch các điểm hoạt động, vui chơi, giải trí trong khu vực
lễ hội
- Thực hiện việc quản lý, đốt hàng mã đúng quy định
2.1.3.6 Công tác tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử
Thực hiện tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử theo Quy chế bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh (Ban hành kèm theo Quyết định số 05/2003/QĐ-BVHTT ngày 06/02/2003 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa
- Thông tin, nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) Yêu cầu công tác tu bổ, tôn tạo phải đáp ứng các mục đích: bảo vệ các di tích lịch sử trước những tác động xấu của môi trường thiên nhiên và môi trường xã hội; giữ gìn tối đa các yếu tố nguyên gốc và các giá trị chân xác của di tích nhằm bảo vệ và phát huy các giá trị của di tích; đảm bảo sự hài hòa giữa di tích với môi trường cảnh quan (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, 2015)
2.1.3.7 Công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm
Tổ chức kiểm tra định kỳ theo kế hoạch, kiểm tra đột xuất Nội dung kiểm tra tập trung vào việc quản lý Nhà nước theo Luật Di sản gồm kiểm tra các văn bản của các cấp có thẩm quyền công nhận di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh; công tác quản lý hồ sơ; công tác bảo vệ và xử lý vi phạm khu vực công nhận di tích lịch sử; kiểm tra công tác tổ chức lễ hội như đặt hòm công đức, việc thực hiện nếp sống văn minh, công tác quy hoạch sắp xếp hàng quán, nơi trông giữ xe, công tác an ninh trật tự, vệ sinh môi trường, các hoạt động mê tín dị đoan Quá trình kiểm tra nhằm phát hiện, xử lý những hành vi lợi dụng lễ hội vi phạm các quy định Nhà nước trong công tác tổ chức và hoạt động lễ hội; đồng thời nâng cao ý thức tự giác chấp hành pháp luật của các tổ chức, cá nhân trong bảo vệ, giữ
Trang 27gìn các di tích khi tham gia hoạt động và kinh doanh dịch vụ văn hóa tại lễ hội (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, 2015)
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý lễ hội
Theo Bùi Hoài Sơn (2009), công tác quản lý lễ hội truyền thống mang những yếu tố ảnh hưởng như sau:
2.1.4.1 Yếu tố khách quan
- Vị trí địa lý, tình hình kinh tế - xã hội của địa phương nơi có lễ hội: những địa phương có vị trí địa lý thuận lợi, dễ quan sát và tiếp cận (gần đường giao thông lớn, nút giao thông quan trọng) sẽ có điều kiện thu hút khách du lịch đến với lễ hội đó; hoặc địa phương có kinh tế - xã hội phát triển sẽ có lợi thế trong việc đầu tư cơ sở vật chất, hạ tầng của di tích, đóng góp vào chất lượng công tác
tổ chức các lễ hội trên địa bàn (Bùi Hoài Sơn, 2009)
- Cơ sở hạ tầng - vật chất của khu di tích và tổ chức lễ hội: đóng góp một vai trò quan trọng đối với chất lượng tổ chức lễ hội của mỗi địa phương Việc tu
bổ, tôn tạo di tích lịch sử văn hóa là một hoạt động mang ý nghĩa quan trọng, cần đáp ứng được các nhu cầu về giữ lại tối đa những yếu tố nguyên gốc của di tích, trả lại cho di tích hình dáng vốn có mà vẫn đảm bảo di tích có độ bền vững về mặt kết cấu để tồn tại lâu dài trước tác động của điều kiện khí hậu và thử thách thời gian Đây là những nền tảng cơ bản để tổ chức các nghi thức cúng bái và tế
lễ đảm bảo trang trọng, linh thiêng Cơ sở vật chất phục vụ cho việc tổ chức phần
“Hội” cũng rất quan trọng Việc quy hoạch các khu phục vụ lễ hội cần đáp ứng nhu cầu vui, chơi, giải trí của du khách và lượng người đến đông vào những ngày hội chính, ngoài ra cần quan tâm đến chất lượng các công trình phụ trợ đảm bảo phục vụ du khách đến với lễ hội một cách tốt nhất (Bùi Hoài Sơn, 2009)
- Kinh phí và việc xã hội hóa để tổ chức lễ hội: ngoài nguồn thu từ các di tích, các Ban Quản lý di tích còn có nguồn thu từ các hoạt động như trông giữ xe, hàng quán, tiền bán vé, tiền công đức,… từ đó đầu tư trở lại để tu bổ, tôn tạo di tích và đầu tư cơ sở vật chất, lập kế hoạch và tiến hành tổ chức lễ hội vào các năm sau Việc huy động kinh phí tổ chức lễ hội bằng nguồn huy động xã hội hóa
là giải pháp tối ưu trong điều kiện kinh tế của địa phương còn nhiều khó khăn, góp phần thu hút sự quan tâm của đông đảo cá nhân, tổ chức trong vùng cũng như từ các địa phương khác nhau trong nước, nước ngoài đối với việc gìn giữ, bảo tồn các giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc (Bùi Hoài Sơn, 2009)
Trang 28- Cơ chế chính sách, các văn bản chỉ đạo đối với công tác quản lý lễ hội: các luật định, nghị định, chỉ thị, thông báo, kết luận, các văn bản chỉ đạo về lễ hội đều xuất phát từ sự cần thiết của việc tạo hành lang pháp lý cũng như giải quyết các vấn đề có tính điểm nóng trong thực tiễn Điều này thể hiện tính nhạy bén, kịp thời trong công tác quản lý lãnh đạo ở các cấp, kịp thời giải quyết và hạn chế được những vấn đề phát sinh Các cấp, ngành liên quan cần nắm bắt, vận dụng các nội dung về lễ hội, quy định tổ chức lễ hội, quy định cụ thể về chế tài trong
xử lý các vấn đề của thực tiễn; thể hiện tính nhạy bén, kịp thời trong công tác quản lý lãnh đạo ở các cấp, kịp thời giải quyết và hạn chế được những vấn đề phát sinh (Bùi Hoài Sơn, 2009)
- Năng lực của cán bộ, đội ngũ làm công tác quản lý: có ảnh hưởng trực tiếp đến việc tham mưu, tổ chức thực hiện các nội dung của lễ hội Đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý, tổ chức lễ hội có được tập huấn về các nguyên tắc, quy chế, kiến thức chuyên môn về quản lý lễ hội hay không, khả năng tham mưu xây dựng các văn bản mang tính chất quản lý đặc thù, xây dựng chương trình, kế hoạch tổ chức lễ hội, khả năng tập hợp, phát huy đội ngũ tham gia tổ chức, quản lý lễ hội cũng như tuyên truyền, giáo dục tri thức lễ hội cho cộng đồng là những yêu cầu đặt ra đối với các cán bộ, đội ngũ làm công tác quản lý, tổ chức lễ hội (Bùi Hoài Sơn, 2009)
- Công tác tuyên truyền, giáo dục: về ý nghĩa của các di tích lịch sử và các
lễ hội truyền thống tại di tích đó; về ý thức, trách nhiệm gìn giữ, bảo tồn di tích;
ý thức khi tham gia các lễ hội; định hướng nhận thức của nhân dân về tín ngưỡng; tổ chức tập huấn về kỹ năng, kiến thức tổ chức và quản lý lễ hội (Bùi Hoài Sơn, 2009)
Trang 29- Các chế tài xử phạt: chế tài đối với những hành vi vi phạm trong công tác
tổ chức, thực hiện; chế tài đối với những hành vi gây mất trật tự an toàn trong lễ hội, các hành vi mê tín dị đoan (Bùi Hoài Sơn, 2009)
2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
2.2.1 Thực tiễn về công tác quản lý lễ hội ở Việt Nam hiện nay
Mỗi một quốc gia, một dân tộc trên thế giới đều có những lễ hội với những nét đặc trưng riêng biệt mang đậm bản sắc văn hóa của quốc gia, dân tộc ấy Việt Nam là một nước có rất nhiều loại lễ hội, bên cạnh lễ hội truyền thống còn có lễ hội mới (lễ hội gắn với các sự kiện lịch sử hiện đại, cách mạng), lễ hội sự kiện (gắn với du lịch quảng bá du lịch, lễ hội nhân kỷ niệm những năm chẵn thành lập thành phố, tỉnh, huyện ) ; trong đó, lễ hội truyền thống có số lượng nhiều nhất, phạm vi phân bố rộng (cả nông thôn, đô thị, vùng núi các dân tộc), có lịch sử lâu đời nhất Người ta có thể phân loại lễ hội truyền thống theo thời gian các mùa trong năm, trong đó quan trọng nhất là mùa xuân, mùa thu (xuân thu nhị kỳ); phân chia theo phạm vi lớn nhỏ: Lễ hội làng, lễ hội vùng, lễ hội quốc gia; phân loại theo tính chất của lễ hội: Lễ hội nghề nghiệp (nông, ngư, nghề buôn bán ),
lễ hội tôn vinh anh hùng dân tộc, người có công với quê hương, đất nước, lễ hội gắn với các tôn giáo tín ngưỡng cụ thể như lễ hội của Phật giáo, Ki-tô giáo, tín ngưỡng dân gian So với các loại lễ hội khác, lễ hội truyền thống mang 3 đặc trưng cơ bản sau:
- Lễ hội truyền thống gắn với đời sống tâm linh, tôn giáo tín ngưỡng, mang tính thiêng, do vậy nó thuộc thế giới thần linh, thiêng liêng, đối lập với đời sống trần gian, trần tục Có nhiều sinh hoạt, trình diễn trong lễ hội nhìn bề ngoài là trần tục, như các trò vui chơi giải trí, thi tài, các diễn xướng mang tính phồn thực, nên nó mang tính “tục”, nhưng lại là cái trần tục mang tính phong tục, nên nó vẫn thuộc về cái thiêng, như tôn sùng sinh thực khí mà hội Trò trám (Phú Thọ) là điển hình (Nguyễn Chí Bền, 2003)
- Lễ hội truyền thống là một sinh hoạt văn hóa mang tính phức hợp, một hiện tượng văn hóa dân gian tổng thể, bao gồm gần như tất cả các phương diện khác nhau của đời sống xã hội của con người: sinh hoạt tín ngưỡng, nghi lễ, phong tục, giao tiếp và gắn kết xã hội, các sinh hoạt diễn xướng dân gian (hát, múa, trò chơi, sân khấu ), các cuộc thi tài, vui chơi giải trí, ẩm thực, mua bán Không có một sinh hoạt văn hóa truyền thống nào của nước ta lại có thể sánh
Trang 30được với lễ hội cổ truyền, trong đó chứa đựng đặc tính vừa đa dạng, vừa nguyên hợp này (Nguyễn Chí Bền, 2003)
- Chủ thể của lễ hội truyền thống là cộng đồng, đó là cộng đồng làng, cộng đồng nghề nghiệp, cộng đồng tôn giáo tín ngưỡng, cộng đồng thị dân và lớn hơn
cả là cộng đồng quốc gia dân tộc Nói cách khác, không có lễ hội nào lại không thuộc về một dạng cộng đồng, của một cộng đồng nhất định Cộng đồng chính là chủ thể sáng tạo, hoạt động và hưởng thụ các giá trị văn hóa của lễ hội (Nguyễn Chí Bền, 2003)
Ba đặc trưng trên quy định tính chất, sắc thái văn hóa, cách thức tổ chức, thái độ và hành vi, tình cảm của những người tham gia lễ hội, phân biệt với các loại hình lễ hội khác, như lễ hội sự kiện, các loại festival
Với các di tích - lễ hội đón nhận hằng năm từ một triệu lượt khách hành hương trở lên, có thể kể đến các lễ hội Yên Tử, chùa Hương, đền Hùng, đền bà Chúa Xứ, chùa bà Thiên Hậu, Chùa Bái Đính Với các di tích - lễ hội đón hàng trăm nghìn lượt khách trở lên, có thể kể đến các lễ hội đền Trần, Phủ Dầy, Côn Sơn - Kiếp Bạc, hội Lim Ngoài ra (chiếm đa số) là các lễ hội thuộc phạm vi thôn/làng, mang tính tự quản của đại diện các dòng họ, cùng đại diện cộng đồng làng/xã (liên làng) và (thường có sự tham gia) của chính quyền sở tại (xã, phường, thị trấn) Từ “điểm nóng” trong sinh hoạt xã hội cộng đồng này (chủ yếu
là các lễ hội lớn), nhìn vào không gian văn hóa lễ hội tại bất kỳ vùng - miền nào, cũng có thể nhận thấy, bên cạnh sự phục hồi tích cực của các nghi lễ, trò chơi, trò diễn dân gian cùng những giá trị văn hóa phi vật thể có tác động tích cực đến đời sống sinh hoạt xã hội cộng đồng hiện tại, vẫn còn không ít những sự kiện, hiện tượng bất cập, mang tính phản văn hóa của những hành vi/hành động nhuốm màu
mê tín dị đoan (xóc thẻ, bói toán, tung tin thần bí, bịa đặt tín ngưỡng, ), thương mại hóa hoạt động nghi lễ (dịch vụ vàng mã, khấn thuê, đánh bài ăn tiền, ), bất minh hoặc quản lý lỏng lẻo di tích, lễ hội (biển lận tiền công đức, mờ ám trong tài chính, đưa người thân vào hoạt động dịch vụ tư nhân, ), hủy hoại môi trường sinh thái (xả rác bừa bãi, thay đổi cảnh quan, lấn chiếm đất đai di tích, ), gây mất an ninh trật tự (đánh nhau, trộm cắp, lừa đảo, ) Xuất phát từ thực trạng sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng - tâm linh, những năm gần đây, trên các phương tiện truyền thông đại chúng, hàng trăm bài báo, công trình khoa học, hàng chục cuộc hội thảo từ cấp quốc gia đến địa phương đã tập trung phân tích, đánh giá những nguyên nhân dẫn đến sự hiện tồn các hiện tượng tiêu cực trong không gian các di
Trang 31tích văn hóa tín ngưỡng và lễ hội tại các địa phương Tựu trung, từ các nghiên cứu thực tiễn và phản biện văn hóa đó, có thể nhận thấy, mọi phân tích, đánh giá đều chủ yếu hướng đến hai phía hợp thành chủ thể cho một lễ hội: Đó là đội ngũ các nhà quản lý, tổ chức và người dân sở tại cũng như khách hành hương Không phải ngẫu nhiên mà khoảng chục năm qua, nhiều cuộc hội thảo khoa học cấp Trung ương, cấp địa phương (tỉnh - thành, huyện - thị) đã đi sâu nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng lễ hội ở Việt Nam, đặc biệt là vấn đề quản lý, tổ chức và vận hành lễ hội, những mong tìm ra quy luật vận hành và phát triển tích cực của loại hình văn hóa dân gian này, phù hợp với điều kiện xã hội hiện tại và lâu dài Chính vì thế, mục tiêu mà giới khoa học và các nhà hoạt động thực tiễn hướng đến là đồng thuận với các chủ trương, nghị quyết của Đảng và Nhà nước
về văn hóa, về công tác quản lý và tổ chức lễ hội, làm cho các lễ hội được tổ chức nghiêm túc, bảo đảm an ninh trật tự, gìn giữ cảnh quan môi trường
Thực tế cho thấy xu hướng chung của lễ hội ngày nay là sự kết hợp, đan xen giữa các yếu tố truyền thống và đương đại (hiện đại) trong văn hóa, xu hướng này là điều đã, đang và sẽ diễn ra ở mọi dân tộc, mọi thời đại Tất nhiên,
sự kết hợp, đan xen này càng trở nên bức thiết hơn trong bối cảnh xã hội có sự chuyển biến mang tính bước ngoặt từ xã hội nông nghiệp sang xã hội công nghiệp hóa Và Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng đó, chính vì vậy công tác quản lý văn hóa nói chung và quản lý lễ hội truyền thống nói riêng càng phải được chính quyền các cấp, các ngành quan tâm nâng cao hiệu lực hiệu quả bằng nhiều mô hình khác nhau bên cạnh đó phải nghiên cứu và học tập kinh nghiệm của một số quốc gia, vùng miền đã có những thành công nhất định trong công tác quản lý mang đậm tính tinh thần này
2.2.2 Kinh nghiệm quản lý lễ hội truyền thống của một số nước trên thế giới
Trang 32Mặc dù xét về mặt số lượng, lễ hội dân gian của người Thái không nhiều như ở Việt Nam, nhưng khi đánh giá về chất lượng, không khó để nhận ra sự cách biệt rõ ràng Từ hình ảnh hàng ngàn du khách nước ngoài nở những nụ cười
hả hê khi tham gia lễ hội Té nước đón năm mới, một lễ hội truyền thống ở Thái Lan, nhiều người đã phải thán phục tài nghệ làm du lịch của người Thái Tài nghệ ở đây chính là ở chỗ, họ đã biến những lễ hội truyền thống của riêng dân tộc mình thành ngày hội chung của khách thập phương với đầy đủ các dân tộc từ các màu da
Để làm được điều này, theo ThS Dương Thị Hồng Nhung (2013), họ đã có những chiến lược giải pháp bài bản cụ thể Trước hết là công tác xúc tiến, quảng
bá cho lễ hội Tại Thái Lan, trước khi diễn ra các lễ hội, từ nhiều tháng trước, các công ty lữ hành đã nhận được chương trình cụ thể: thời gian, địa điểm hoạt động, kèm theo là các chương trình khuyến mãi Từ đó, hàng loại thông tin về lễ hội, đặc biệt là nội dung và ý nghĩa của lễ hội, đã được các doanh nghiệp lữ hành, hàng không, khách sạn… chuyển đến cho du khách, khiến không ít người đến với
lễ hội chỉ vì tò mò
Bên cạnh đó, trong khâu tổ chức, người Thái xây dựng kịch bản rất chuyên nghiệp, hạn chế những khâu hình thức rườm rà, mất thời gian và không cần thiết, tập trung vào khâu biểu diễn để thu hút du khách Phần lễ được tổ chức trang nghiêm, nhưng không tẻ nhạt, khó hiểu, ngược lại, sử dụng cách dẫn dắt vấn đề vừa thu hút, vừa mang tính đặc trưng văn hóa địa phương (Ví dụ: diễn kịch, miêu
tả nội dung và ý nghĩa của phần lễ với trang phục và đạo cụ truyền thống…) Phần hội được tổ chức trong không gian rộng và mở, tạo điều kiện cho du khách được chiêm ngưỡng và tự mình trải nghiệm
Một yếu tố nữa đó là người dân Thái Lan luôn được biết đến với sự thân thiện, họ sẵn lòng mời khách du lịch cùng tham gia và cùng chia sẻ ý nghĩa của
lễ hội đó Nhờ đó, các lễ hội truyền thống của Thái Lan được bạn bè trên khắp thế giới tôn trọng và yêu thích Đây cũng là cơ sở để du lịch Thái Lan khai thác, phát triển và ngày càng hấp dẫn du khách quốc tế
2.2.2.2 Thành phố Đà Nẵng
Đà Nẵng nằm ở vị trí trung độ của đất nước, có vị trí trọng yếu cả về kinh tế
- xã hội và quốc phòng - an ninh; là đầu mối giao thông quan trọng về đường bộ,
Trang 33đường sắt, đường biển và đường hàng không, cửa ngõ chính ra biển Đông của các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên và các nước tiểu vùng sông Mê Kông Đà Nẵng – miền đất với những con người thân thiện, mến khách luôn là điểm đến thu hút với mọi người Nơi đây lưu giữ nhiều lễ hội – văn hóa đặc sắc Bên cạnh đó, Đà Nẵng cũng sở hữu nhiều địa điểm du lịch nổi tiếng – nơi mà các sự kiện thường xuyên được tổ chức Theo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Đà Nẵng (2016), du lịch đang dần hưởng quả ngọt khi lượng khách đến với
Đà Nẵng ngày càng đông Theo đó, trong năm 2015 tổng lượt khách tham quan,
du lịch Đà Nẵng đạt 4,6 triệu lượt, tăng hơn 22% so với năm 2014, đạt trên 105
% kế hoạch Điều đáng nói, lượng khách quốc tế đến Đà Nẵng tăng mạnh, đạt hơn 1,2 triệu lượt, tăng 32,5% so với năm 2014, khách nội địa cũng tăng 19,3%
so với năm 2014 Tổng thu du lịch đạt trên 12,8 nghìn tỷ đồng, tăng 29,9% so với năm 2014 Những con số trên cho thấy, Đà Nẵng đang trở thành điểm đến
ưa thích của du khách
Thành phố Đà Nẵng là một vùng đất cổ được con người khai phá và cư ngụ
từ rất sớm, là nơi hội tụ, giao thoa của nhiều nền văn hóa khác nhau: Sa Huỳnh, Chăm, Việt và Hoa Ngày nay, di sản văn hóa vật thể và phi vật thể ở Đà Nẵng còn lại khá phong phú Những năm qua, một số di tích lịch sử - văn hóa của Đà Nẵng sau khi trùng tu, tôn tạo đã góp phần không nhỏ vào việc tham quan của du khách trong và ngoài nước như danh thắng Ngũ Hành Sơn, Thành Điện Hải, Hải Vân Quan , nhiều lễ hội cũng thu hút du khách như Lễ hội đình làng Hòa Mỹ, đình làng Túy Loan, Lễ hội cầu ngư Thanh Khê, Mân Thái và Lễ hội Quán Thế
Âm ở danh thắng Ngũ Hành Sơn Cấp ủy và chính quyền thành phố Đà Nẵng xác định gắn liền du lịch với phát triển kinh tế, trong đó đẩy mạnh các hoạt động du lịch lễ hội, văn hóa, lịch sử Các hoạt động xúc tiến, quảng bá du lịch lễ hội đã được triển khai có hiệu quả như: tổ chức các chương trình quảng bá du lịch, phát hành cẩm nang du lịch Đà Nẵng, bản đồ du lịch, phim du lịch bằng nhiều thứ tiếng Việt, Anh, Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan… Nâng cấp và liên kết trang web du lịch thành phố với các trang web uy tín trong và ngoài nước; quảng bá du lịch Đà Nẵng trên phương tiện thông tin đại chúng; xuất bản các ấn phẩm du lịch, xây dựng các quầy tra cứu thông tin du lịch… Tổ chức khai thác tốt các bảo tàng phục vụ khách tham quan, du lịch; tổ chức các lễ hội như lễ hội Quán Thế Âm, lễ hội Cầu Ngư,… diễn ra định kỳ để quảng bá cho khách du lịch và trở thành một thương hiệu hoạt động du lịch không thể thiếu đối với du khách đến Đà Nẵng
Trang 342.2.3 Bài học kinh nghiệm
Theo ThS Dương Thị Hồng Nhung (2013), công tác quản lý và tổ chức lễ hội ở Việt Nam để trở nên chuyên nghiệp hơn cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:
- Cần phải chấn chỉnh lại công tác tổ chức mang tính chuyên nghiệp hơn
- Phải tôn trọng giá trị văn hóa thực chất của lễ hội
- Cần hạn chế tiêu cực và các tệ nạn xã hội trong các lễ hội truyền thống
- Xây dựng sản phẩm du lịch đặc trưng, có chất lượng cao; tổ chức các show diễn nghệ thuật truyền thống; quy hoạch và khuyến khích đầu tư các loại hình dịch vụ, tạo thành khu vực sầm uất phục vụ nhu cầu du khách, nhất là đối với khách quốc tế
- Đẩy mạnh liên kết và tăng cường hoạt động xúc tiến, quảng bá du lịch; nâng tầm các sự kiện thường niên để quảng bá, thu hút du khách Trong quá trình hội nhập chỉ chắt lọc, tiếp thu những tinh hoa của văn hóa thế giới, còn những di sản văn hóa riêng có của mình phải giữ gìn
- Xây dựng môi trường du lịch văn minh, thân thiện và an toàn: thực hiện chiến dịch truyền thông trong cộng đồng, nâng cao nhận thức của cộng đồng xã hội về môi trường và du lịch lễ hội; tổ chức các lớp tập huấn "Nụ cười thân thiện" để nâng cao nhận thức của cộng đồng dân cư, doanh nghiệp về bảo vệ môi trường du lịch; tổ chức lắp đặt hệ thống biển chỉ dẫn về du lịch bằng tiếng Anh
và tiếng Việt cho khách du lịch; lắp đặt nhà vệ sinh công cộng đạt chuẩn quốc tế tại các bãi biển, các khu, điểm du lịch, bến xe, nhà ga
- Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực du lịch có chất lượng nhằm đảm bảo tính chuyên nghiệp trong việc phục vụ khách du lịch; rà soát đánh giá số lượng
và chất lượng nguồn nhân lực để xây dựng định hướng và kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cho phù hợp; xây dựng chương trình giảng dạy ngoại khóa về du lịch cho học sinh, sinh viên, nâng cao nhận thức của cộng đồng, nhất là thanh - thiếu niên, học sinh, sinh viên đối với hoạt động du lịch
- Đầu tư bảo tồn, trùng tu, tôn tạo di tích và xây dựng, điều chỉnh quy hoạch các tuyến, điểm tham quan du lịch gắn với khai thác hệ thống di sản văn hóa
Trang 35PHẦN 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
Gia Lâm là huyện ngoại thành nằm ở cửa ngõ phía Đông thành phố Hà Nội, huyện có vị trí địa lý như sau:
Phía Bắc giáp quận Long Biên, huyện Đông Anh và tỉnh Bắc Ninh
Phía Đông giáp tỉnh Bắc Ninh, tỉnh Hưng Yên
Phía Tây giáp quận Long Biên và quận Hoàng Mai
Phía Nam giáp tỉnh Hưng Yên
Diện tích đất tự nhiên: 114,79 km2
Dân số toàn huyện đến 31 tháng 12 năm 2015 là 271.022 người, tốc độ tăng bình quân giai đoạn 2012 – 2015 là 3.4 % Số hộ gia đình là 77.102 hộ Huyện Gia Lâm bao gồm 20 xã và 02 thị trấn (Phòng Thống kê huyện Gia Lâm, 2015) 3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
3.1.2.1 Đặc điểm về mặt kinh tế
Các cấp các ngành từ Huyện đến cơ sở đã chủ động khắc phục khó khăn, tích cực khai thác tiềm năng, thế mạnh, tranh thủ sự chỉ đạo của Thành ủy - Hội đồng nhân dân (HĐND) – Uỷ ban nhân dân (UBND) thành phố, sự ủng hộ và phối hợp của các sở, ban, ngành Thành phố, các đơn vị đóng trên địa bàn, tập trung có hiệu quả nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh - quốc phòng, tăng cường hoạt động của hệ thống chính trị từ Huyện đến cơ sở Giai đoạn 2010 - 2015, kinh tế tiếp tục phát triển và đạt những thành tựu quan trọng, các mục tiêu về phát triển kinh tế cơ bản hoàn thành: Giá trị sản xuất các ngành kinh tế chủ yếu thuộc Huyện quản lý tăng bình quân hàng năm 11,3% (mục tiêu
14 - 14,5%) (trong đó: năm 2011 tăng 13,62% so với năm 2010; năm 2012 tăng 11,7%; năm 2013 tăng 13,58%; năm 2014 tăng 9,81%) Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng công nghiệp, thương mại - dịch vụ tăng, tỷ trọng nông nghiệp giảm mạnh; trong đó, công nghiệp - xây dựng: 51,81% (mục tiêu 55%); thương mại - dịch vụ: 34,6% (mục tiêu 29,5%); nông, lâm nghiệp - thủy sản: 13,59% (mục tiêu 15,5%)
Trang 36Năm 2015, tổng số thu ngân sách nhà nước đạt 1.136,6 tỷ đồng; loại trừ kết
dư, thu chuyển nguồn, tổng thu ngân sách nhà nước đạt 1.017,5 tỷ đồng bằng 68,6%
dự toán Thành phố giao, bằng 67,8% dự toán Huyện giao và bằng 93,9% so với năm trước (đã loại trừ các khoản thu thuế giãn, hoãn theo quy định); trong đó thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt 453,3 tỷ đồng, bằng 49,2% dự toán Thành phố giao, bằng 48,4% dự toán Huyện giao và bằng 78% so với năm trước Thu nhập bình quân đầu người trên địa bàn Huyện đạt 32,7 triệu đồng/năm (mục tiêu 27 triệu đồng), tăng 5,7 triệu đồng so với mục tiêu đề ra (Huyện ủy Gia Lâm, 2015)
3.1.2.2 Đặc điểm về lịch sử - văn hóa
Gia Lâm là vùng đất cổ, nhiều di chỉ văn hóa người Việt cổ được phát hiện
ở Trâu Quỳ, Dương Xá, Kim Sơn, Ninh Hiệp, Yên Thường qua các dấu vết chứng tỏ từ xã xưa trên mảnh đất Gia Lâm đã có con người sinh sống Gia Lâm nằm cạnh Kinh thành Thăng Long, trải qua hàng nghìn năm lao động với đôi bàn tay khéo léo và sáng tạo, người dân Gia Lâm đã tạo ra những sản phẩm nông nghiệp, thủ công nghiệp truyền thống Sản xuất nông sản với nhiều sản phẩm đã trở thành đặc sản quê hương nổi tiếng khắp vùng: cháo Dương, tương Sủi, cà Hàn, cải Vân, dưa bẹ Đông Dư
Huyện Gia Lâm có nhiều di tích lịch sử - văn hóa, kiến trúc tạo hình, gắn liền với những danh nhân quê hương Hiện nay, trên địa bàn huyện có 317 di tích lịch sử - văn hóa và di tích Cách mạng, trong đó có 64 di tích được xếp hạng cấp Quốc gia đặc biệt (Khu Di tích Đền Phù Đổng)
Vùng đất Gia Lâm lịch sử tự hào có Phù Đổng, nơi sinh ra người anh hùng làng Gióng có công đánh tan giặc Ân, cứu nước thoát khỏi ách xâm lăng; Dương
Xá, nơi đặt quần thể khu di tích Đền thờ Nguyên Phi Ỷ Lan - người đã hai lần nhiếp chính, trông coi việc nước, cùng triều thần lãnh đạo quân dân Đại Việt, tiến hành cuộc kháng chiến chống quân Tống thắng lợi; Văn Đức, quê hương của nhân vật huyền thoại Chử Đồng Tử (một trong "Tứ bất tử" của Việt Nam) Nhân dân Gia Lâm tự hào là quê hương của nhiều danh nhân lỗi lạc, những con người sáng ngời cốt cách Việt Nam như: Lý Thường Kiệt, Nguyễn Biểu, Cao
Bá Quát, Nguyễn Huy Nhuận Những người con của vùng đất Gia Lâm đã hiểu được tâm tư nguyện vọng của nhân dân lao động, đã dũng cảm chống lại những bất công trong xã hội, mưu cầu hạnh phúc cho dân và muôn đời con cháu (Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Gia Lâm, 2015)
Trang 373.1.3 Đánh giá chung về địa bàn nghiên cứu
3.1.3.1 Thuận lợi
Gia Lâm được xác định là vùng kinh tế trọng điểm, là địa bàn quân sự chiến lược ở phía Đông của Thủ đô Hà Nội Trên địa bàn huyện có nhiều tuyến đường giao thông quan trọng đã và đang được đầu tư xây dựng như: quốc lộ 1A; quốc lộ 1B; quốc lộ 3 mới Hà Nội - Thái Nguyên; quốc lộ 5; đường ô tô cao tốc Hà Nội - Hải Phòng; đường Hà Nội - Hưng Yên
Đất và người Gia Lâm gắn liền với truyền thống lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc; kiên cường, bất khuất đánh đuổi giặc ngoại xâm; cần cù, thông minh, sáng tạo trong xây dựng cuộc sống Nối tiếp truyền thống của thế hệ trước, Đảng bộ và nhân dân huyện Gia Lâm ngày nay tiếp tục phát huy truyền thống yêu nước và đấu tranh cách mạng, đoàn kết vượt qua mọi khó khăn, viết tiếp những trang sử mới, góp phần làm rạng rỡ truyền thống hào hùng, làm cho quê hương Gia Lâm ngày càng văn minh, giàu đẹp
Vị trí giao thông thuận lợi; sức hấp dẫn về giá trị văn hóa - lịch sử, tín ngưỡng; sự quan tâm cải tạo, nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng, dịch vụ của các cấp chính quyền là những ưu điểm giúp Gia Lâm từng bước phát triển dịch vụ
du lịch lễ hội trên địa bàn, góp phần vào sự phát triển chung của toàn huyện 3.1.3.3 Khó khăn
Tuy kinh tế của huyện có mức tăng trưởng song chưa tương xứng với vị thế, tiềm năng của huyện ven đô Tốc độ tăng trưởng và cơ cấu kinh tế chưa đạt chỉ tiêu đề ra, một số mục tiêu cụ thể trong các đề án phát triển kinh tế đạt thấp; chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm Mặc dù đã có nỗ lực lớn, nhưng do thiếu vốn nên tốc độ đầu tư còn chậm chưa đáp ứng được nhu cầu của du khách, gây
áp lực lớn đối với hệ thống đường xá và dịch vụ ở một số lễ hội lớn trên địa bàn Một số cấp ủy, chính quyền địa phương chưa thực sự thấy được tầm quan trọng của việc bảo tồn các giá trị truyền thống của dân tộc thông qua việc giữ gìn, phát triển các lễ hội truyền thống, chưa ý thức được giá trị tiềm năng của lễ hội đem lại đối với du lịch và phát triển kinh tế của địa phương; từ đó thiếu quan tâm đến công tác quản lý các lễ hội truyền thống mà địa phương mình lưu giữ
Mức sống của nhân dân một số địa phương chưa cao dẫn đến trình độ nhận thức và dân trí của một bộ phận còn thấp gây khó khăn trong công tác tuyên truyền, quản lý thực hiện nếp sống văn minh trong lễ hội, về giữ gìn bảo vệ các
di sản văn hóa của địa phương
Trang 383.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
Chọn 03 lễ hội có quy mô lớn, giá trị lịch sử lâu đời trên địa bàn: lễ hội đền Gióng (xã Phù Đổng), lễ hội đền Nguyên phi Ỷ Lan (xã Dương Xá), hội Bông sòng (xã Phú Thị)
3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin, số liệu
3.2.2.1 Thu thập thông tin, số liệu thứ cấp
a Thông tin, các văn bản có liên quan công tác quản lý và tổ chức lễ hội truyền thống
+ Luật di sản văn hoá 2001;
+ Quyết định số 486/QĐ0BVHTTDL của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành tiêu chí, thang điểm đánh giá thực hiện công tác quản lý và tổ chức lễ hội dân gian
+ Quyết định số 308/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội; + Thông tư số 15/2015/TT-BVHTTDL về Quy định tổ chức lễ hội;
+ Quyết định số 39/2001/QĐ-BVHTT về việc ban hành Quy chế tổ chức
lễ hội;
+ Công văn số 71/BVHTTDL-VHCS của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VH,TT&DL) về việc tiếp tục chấn chỉnh việc quản lý, sử dụng, lưu thông đồng tiền có mệnh giá nhỏ trong hoạt động văn hóa, tín ngưỡng, lễ hội;
+ Công văn số 199/VHTT&DL-KHTC ngày 17/01/2014 của Sở VH,TT&DL Hà Nội về việc quản lý, sử dụng hợp lý tiền mệnh giá nhỏ trong hoạt động văn hóa, lễ hội, tín ngưỡng;
b Thông tin, số liệu liên quan đến công tác quản lý lễ hội truyền thống trên địa bàn
Liên quan đến công tác quản lý lễ hội truyền thống trên địa bàn có các thông tin, số liệu như: số lễ hội hàng năm, ngày tháng, cách thức tổ chức; quy
mô, cấp độ lễ hội; các báo cáo, thống kê về công tác thu, quản lý, sử dụng tiền công đức, phí các dịch vụ phục vụ tại lễ hội; thông tin về chất lượng công tác quản lý các lễ hội, về thực hiện nếp sống văn minh tại lễ hội; thống kê công tác khen thưởng, biểu dương tổ chức, cá nhân thực hiện tốt công tác quản lý và tổ chức tốt lễ hội…
Trang 393.2.2.2 Thu thập thông tin, số liệu sơ cấp
Thực hiện điều tra bằng phương pháp phỏng vấn đối với cán bộ văn hóa xã, thị trấn; đội ngũ làm công tác quản lý lễ hội; nhân dân địa phương; khách thập phương về mức độ hiểu biết về lễ hội và quản lý lễ hội, việc thực hành các quy định về nếp sống văn hóa ở cơ sở tín ngưỡng, thờ tự; mức độ hài lòng với công tác tổ chức lễ hội, về chất lượng của công tác tổ chức lễ hội và các dịch vụ có trong lễ hội; công tác tu bổ, cải tạo di tích…
- Phương pháp tiến hành khảo sát: thông qua phiếu điều tra, phỏng vấn
- Đối tượng tiến hành khảo sát, nội dung khảo sát:
Bảng 3.1 Đối tượng, nội dung tiến hành khảo sát
2 Ban quản lý di
tích tại 3 địa điểm
nghiên cứu
9
- Mức độ hiểu biết các văn bản, quy định về quản lý và
tổ chức lễ hội; công tác tập huấn;
- Đánh giá công tác tổ chức lễ hội trên địa bàn, công tác tu bổ, tôn tạo di tích,…
3 Người dân của 3
Trang 403.2.3 Phương pháp phân tích số liệu
3.2.3.1 Phương pháp mô tả
Sử dụng các chỉ tiêu số tuyệt đối và tương đối để mô tả thực trạng kết quả công tác quản lý lễ hội truyền thống trên địa bàn huyện Gia Lâm
3.2.3.2 Phương pháp phân tổ thống kê
Được sử dụng để thống kê sơ bộ về lế hội như: số lễ hội truyền thống trên địa bàn; đánh giá kết quả công tác quản lý lễ hội theo các nội dung như: mức độ hài lòng với công tác tổ chức lễ hội, về chất lượng của công tác tổ chức các yếu
tố trong lễ hội và các dịch vụ có trong lễ hội,…
3.3 HỆ THỐNG CÁC CHỈ TIÊU NGHIÊN CỨU
- Chỉ tiêu về thực trạng hoạt động lễ hội truyền thống: Số lễ hội truyền thống trên địa bàn, quy mô tổ chức
- Chỉ tiêu về thực trạng quản lý lễ hội truyền thống: Hệ thống các chính sách, văn bản chỉ đạo của Nhà nước, của Huyện, các quy định của địa phương; mức độ hiểu biết của cán bộ và người dân về các quy định của Nhà nước về công tác quản lý lễ hội, các chỉ tiêu về tổ chức các yếu tố trong lễ hội; đánh giá của cán bộ và người dân về tính hợp lý; mức độ hài lòng của người dân đối với công tác tổ chức lễ hội; đánh giá của cán bộ quản lý về công tác tổ chức trong lễ hội; công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm;
- Chỉ tiêu về yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý lễ hội: nguồn lực, ý thức cộng đồng, sự phát triển kinh tế-xã hội