Từ đây đặt ra yêu cầu cấp thiết là phải tạo sản phẩm chất lượng có thương hiệu và chỗ đứng trên thị trường trong, ngoài nước Trong quá trình sản xuất một số vấn đề khó khăn đã đặt ra cho
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN NGỌC TUÂN
PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT QUÝT VÀNG TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN BẮC SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Ngọc Tuân
Trang 3Tôi trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Lạng Sơn, UBND, các phòng ban mà trực tiếp là phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Thống kê huyện Bắc Sơn, các xã Quỳnh Sơn, Bắc Sơn, Chiến Thắng đã tạo điều kiện cho tôi thu thập số liệu, những thông tin cần thiết để hoàn thành luận văn
Hà nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Ngọc Tuân
Trang 4TÓM TẮT LUẬN VĂN
Tên tác giả: Nguyễn Ngọc Tuân
Tên luận văn: Phát triển sản xuất quýt vàng trên địa bàn huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn Ngành: Quản lý kinh tế Mã số: 60.34.04.10
Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
1 Xu thế hội nhập của nền kinh tế thị trường ngày càng đòi hỏi các sản phẩm có chất lượng cao, bảo đảm về chất lượng Từ đây đặt ra yêu cầu cấp thiết là phải tạo sản phẩm chất lượng có thương hiệu và chỗ đứng trên thị trường trong, ngoài nước
Trong quá trình sản xuất một số vấn đề khó khăn đã đặt ra cho các hộ trồng quýt của huyện như: Kỹ thuật sản xuất quýt vàng của nông dân còn hạn chế, cơ sở hạ tầng trang thiết bị còn thô sơ, sản phẩm quýt vàng Bắc Sơn chưa có thương hiệu…Do
đó chúng tôi đi nghiên cứu đề tài:“Phát triển sản xuất quýt vàng trên địa bàn huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn”
2 Tôi nghiên cứu đề tài trên với mục tiêu chính là: Trên cơ sở đánh giá thực trạng, các yếu tố ảnh hưởng tới sản xuất quýt vàng trên địa bàn huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn từ đó đề xuất định hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển sản xuất quýt vàng của huyện đạt hiệu quả cao và bền vững về kinh tế - xã hội và môi trường
Đối tượng khảo sát chính là các hộ nông dân sản xuất quýt vàng huyện Bắc Sơn Điều tra trên địa bàn ba xã: Bắc Sơn, Quỳnh Sơn và Chiến Thắng với mẫu điều tra 75
hộ Qua đó có sự so sánh một số chỉ tiêu nghiên cứu với nhóm hộ sản xuất và theo vùng sản xuất trong huyện Phân tích những yếu tố ảnh hưởng tới việc sản xuất quýt vàng Bắc Sơn
3 Diện tích quýt vàng trong giai đoạn 2013 – 2015 có xu hướng giảm về diện tích trong huyện Bắc Sơn nguyên nhân do nạn khai phá rừng ảnh hưởng đến thảm thực vật và hệ sinh thái, do thay đổi diện tích cây già cội
Trong sản xuất quýt, không có sự chênh lệch lớn về đầu tư chi phí cũng như chi phí sản xuất kinh doanh của nhóm hộ sản xuất theo quý mô và theo vùng sản xuất
Về giá thì phụ thuộc khá nhiều vào thị trường và thương lái ép giá Tuy nhiên sản phẩm ngon và chất lượng cũng đã được khẳng định qua một nhóm người đã được sử dụng Hiện tại giá quýt buôn là 12 nghìn đồng/kg, giá bán lẻ trên thị trường năm 2015 dao động từ 22 nghìn đồng/kg đến 25 nghìn đồng/kg
Giá trị sản xuất quýt của nhóm hộ sản xuất phân theo quy mô và theo vùng sản xuất cũng tương đương nhau
Trang 5Bình quân trên 1ha quýt thì chi phí sản xuất bình quân là 67,03 triệu đồng/ha và
có thay đổi theo vùng và quy mô sản xuất quýt
Để phát triển sản xuất quýt vàng các hộ nông dân đều chịu nhiều ảnh hưởng tác động từ môi trường bên trong và bên ngoài, trong đó có những yếu tố thuận lợi những yếu tố cản trở Ngoài những ảnh hưởng chung, mỗi hộ nông dân cũng có những khó khăn thuận lợi riêng, trong đó khó khăn nhất là từ nhận thức đến điều kiện sản xuất Trong đó một số yếu tố chính như: Các nhân tố chủ quan: 1 Trình độ kỹ thuật của người sản xuất; 2 Áp dụng khoa học kỹ thuật, 3 Hiệu quả kinh tế…Các nhân tố khách quan: 1.Các yếu tố tự nhiên; 2 Thị trường tiêu thụ; 3 Các tác động của các cơ quan ban ngành có liên quan
4 Từ việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất quýt vàng Bắc Sơn và phân tích SWOT, có thể đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất quýt vàng
- Định hướng: Tập trung sản xuất ổn định diện tích quýt vàng hiện có, tập trung cải tạo, nâng cao chất lượng thâm canh để tăng năng suất, chất lượng sản phẩm
- Giải pháp: 1 Chất lượng giống; 2 Phân vùng quy hoạch ; 3 Giải pháp về vốn;
4 Khoa học công nghệ và công tác khuyến nông; 5 Giải pháp thị trường và xây dựng thương hiệu; 6 Về chính sách và thể chế
Trang 6THESIS ABSTRACT
Author: Nguyen Ngoc Tuan
Thesis title: Development of yellow citrus production in the district, Bac Son, Lang Son Province
Sector: Economic Management
Code: 60.34.04.10
Training Facility Name: Vietnam Agriculture Institute
1 The trend of economic integration of markets increasingly demanding high-quality products, quality assurance From here poses urgent requirement is to create quality products with brand and market position in the domestic and foreign
In the process of producing a number of problems were posed to the citrus growers of the district such as yellow citrus production technique by farmers is limited, infrastructure facilities are rudimentary, the tangerine Bac Son gold brand no So we went to study the topic: "developing a yellow citrus production Bac Son district, Lang Son province"
2 I researched the subject on the main objectives are: Based on the situation analysis, the factors affecting gold tangerine production Bac Son district, Lang Son province which proposed orientations and main measures to develop the district's golden tangerine production effectively and economically sustainable - socially and environmentally
Respondents are farmers producing citrus yellow Bac Son District Investigation in the province three communes of Bac Son, Quynh Son and Victory with a sample of 75 households Thereby there is a comparative study indicators with producer groups and regional production in the district Analysis of the factors affecting the production of citrus yellow Bac Son
3 The area of gold tangerine period 2013-2015 tended to decrease in area in Bac Son District accidents caused by deforestation affects vegetation and ecosystems, due to changes in the area of old trees
In citrus production, no significant differences in investment cost as well as the cost of production and business of the quarterly producer group production model and by region
About the price depends largely on the market and price pressure traders But delicious and quality products has also been confirmed by a group of people have been using
Trang 7Current wholesale price of citrus is 12 thousand VND / kg, the retail price in the market
in 2015 ranged from 22 thousand VND / kg to 25 thousand VND / kg
The production value of the producer group citrus by size and by region also produced equivalent
On average, the cost of 1 ha citrus production averaged 67.03 million / ha and can vary
by region and citrus production scale
To develop gold production tangerine farmers are influenced environmental impacts from inside and outside, including the favorable factors hindering factors In addition to the overall effect, each household has its own difficulties and advantages, which is the most difficult of perception to production conditions In which a number of key factors such as subjective factors: 1 The technical level of the production; 2 Application of science and technology, economic efficiency 3 The objective factors: 1 The natural elements; 2 The consumer market; 3 The impact of the agencies involved
4 From the analysis of the factors affecting gold tangerine production efficiency Bac Son and SWOT analysis, can provide some solutions to improve the efficiency of production citrus yellow
- Orientation: Focus production steady yellow tangerine existing area, concentrating its efforts, improve the quality of intensive farming to increase productivity, product quality
- Solution: 1 Quality seed; 2 Zoning; 3 capital solutions; 4 Science and technology and extension work; 5 Market solutions and branding; 6 policies and institutions
Trang 8MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Tóm tắt luận văn iii
Mục lục vii
Danh mục chữ viết tắt ix
Danh mục bảng x
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
1.4 Câu hỏi nghiên cứu 3
Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển sản xuất quýt vàng 5
2.1 Lý luận cơ bản về phát triển sản xuất quýt vàng 5
2.1.1 Lý luận về sản xuất 5
2.1.2 Phát triển sản xuất quýt 7
2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển sản xuất 8
2.1.4 Đặc điểm về giống, kỹ thuât, chăm sóc cây quýt 9
2.2 Thực tiến phát triển sản xuất quýt vàng trên thế giới và ở Việt Nam 13
2.2.1 Tình hình phát triển sản xuất quýt trên Thế giới 13
2.2.2 Tình hình sản xuất quýt ở việt Nam 15
2.2.3 Cây quýt đối với nền kinh tế của địa phương 15
Phần 3 Phương pháp nghiên cứu 18
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 18
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 18
3.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội 25
3.1.3 Đánh giá chung về địa bàn nghiên cứu 29
Trang 93.2 Phương pháp nghiên cứu 30
3.2.1 Phương pháp tiếp cận 30
3.2.2 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 31
3.2.3 Phương pháp thu thập dữ liệu và thông tin 33
3.2.4 Phương pháp xử lý số liệu 34
3.2.5 Phương pháp thống kê 34
3.2.6 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 34
3.2.7 Cách tính toán một số chỉ tiêu cụ thể trong nghiên cứu này 35
Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 37
4.1 Thực trạng phát triển sản xuất quýt vàng trên địa bàn huyện Bắc Sơn 37
4.1.1 Khái quát cơ cấu sản xuất quýt của huyện Bắc Sơn 37
4.1.2 Biến động diện tích, năng suất và sản lượng quýt vàng huyện Bắc Sơn giai đoạn 2012 – 2015 42
4.1.4 Tình hình chi phí, kết quả và hiệu quả sản xuất của các hộ điều tra 48
4.2 Các yếu tố ảnh hướng đến phát triển sản xuất quýt của hộ nông dân 60
4.2.1 Điều kiện tự nhiên 60
4.2.2 Nhóm yếu tố kinh tế - xã hội 60
4.2.3 Đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong phát triển sản xuất quýt vàng tại huyện Bắc Sơn 65
4.3 Định hướng và những giải pháp chủ yếu phát triển sản xuất và tiêu thụ quýt vàng 67
4.3.1 Định hướng phát triển 67
4.3.2 Giải pháp cho phát triển sản xuất quýt trên địa bàn huyện Bắc Sơn 68
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 79
5.1 Kết luận 79
5.2 Kiến nghị…… 80
5.2.1 Đối với người sản xuất 80
5.2.2 Đối với Nhà nước và chính quyền địa phương 81
5.2.3 Đối với các cơ quan liên quan 82
Tài liệu tham khảo 83
Trang 10Opportunities-Cơ hội, Threats-Thách thức
Trang 11DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Diện tích quýt cho thu hoạch của một số nước trên thế giới 14
Bảng 2.2 Tình hình sản xuất quýt ở Việt Nam giai đoạn 2013 – 2015 15
Bảng 3.1 Tình hình thời tiết các tháng trong năm 2015 của huyện Bắc Sơn 20
Bảng 3.2 Tình hình đất đai huyện Bắc Sơn giai đoạn 2013-2015 23
Bảng 3.3 Tổng hợp diện tích nhóm đất và loại đất huyện Bắc Sơn năm 2015 24
Bảng 3.4 Tình hình dân số và lao động của huyện Bắc Sơn qua 3 năm 2013 - 2015 27
Bảng 3.5 Một số thông tin các xã trong vùng nghiên cứu 31
Bảng 3.6 Số hộ chọn điều tra tại 3 xã 32
Bảng 4.1 Cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp phân theo ngành của huyện Bắc Sơn 38
Bảng 4.2 Diện tích, sản lượng một số cây ăn quả chính của huyện Bắc Sơn 39
Bảng 4.3 Diện tích cây ăn quả phân theo các xã của huyện Bắc Sơn 42
Bảng 4.4 Tình hình biến động diện tích, năng suất, sản lượng quýt vàng huyện Bắc Sơn giai đoạn 2012 – 2015 44
Bảng 4.6 Tình hình cơ bản của các hộ được điều tra năm 2015 45
Bảng 4.7 Diện tích, năng suất, sản lượng quýt của các hộ điều tra huyện Bắc Sơn 46
Bảng 4.8 Tình hình đầu tư chi phí sản xuất giai đoạn kiến thiết phân theo vùng sản xuất 48
Bảng 4.9 Tình hình đầu tư chi phí sản xuất giai đoạn kiến thiết phân theo quy mô sản xuất 49
Bảng 4.10 Chi phi sản xuất phân theo vùng sản xuất 51
Bảng 4.11 Chi phí giai đoạn kinh doanh phân theo quy mô 52
Bảng 4.12 Tổng hợp chi phí cho sản xuất quýt của các nhóm hộ điều tra 53
Bảng 4.13 Hiệu quả kinh tế của các hộ điều tra theo vùng sản xuất 54
Bảng 4.14 Hiệu quả kinh tế của hộ theo vùng sản xuất 55
Bảng 4.15 Hình thức tiêu thụ sản phẩm quýt của hộ điều tra tại huyện Bắc Sơn năm 2015 57
Bảng 4.16 Ý kiến người dân về tiếp cận chính sách 62
Bảng 4.17 Định hướng phát triển sản xuất quýt ở hộ điều tra 64
Trang 12PHẦN 1 MỞ ĐẦU1.1 TÍNH CẤP THIẾT
Việt Nam nằm trong vành đai nhiệt đới gió mùa, khí hậu có nhiều nét độc đáo và đa dạng, tài nguyên đất phong phú… Điều kiện tự nhiên đó đã ưu đãi cho nước ta rất nhiều loại cây trái đặc trưng của từng vùng khác nhau
Cây ăn quả có vai trò quan trọng trong đời sống con người sản phẩm hoa quả là nguồn dinh dưỡng quý cho con người về chất khoáng, đặc biệt chứa nhiều vitamin A và vitamin C rất cần cho cơ thể Cũng như trong nền kinh tế quốc dân cây ăn quả có giá trị kinh tế cao Hiện nay, cây ăn quả trở thành một trong những loại cây là thế mạnh kinh tế ở Việt Nam, sản phẩm cây ăn quả ngoài cung cấp cho thị trường trong nước còn là nguồn xuất khẩu sang các nước trong khu vực; Cùng với sự phát triển của ngành công nghiệp, sản phẩm cây ăn quả ngoài sử dụng ăn tươi còn là nguyên liệu cho ngành chế biến nước giải khát, đóng hộp, mứt Trong những năm qua, nghề trồng cây ăn quả đã trở thành một bộ phận quan trọng không thể thiếu đối với nền nông nghiệp, là cây góp phần tích cực vào việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, góp phần xóa đói giảm nghèo và tăng thu nhập Một trong số loại cây ăn quả đó là cây quýt
Quýt là cây ăn quả dài ngày thích hợp với các vùng đất trung du và miền núi bởi đó mà cây quýt không chỉ mang lại giá trị kinh tế cao mà còn góp phần cải thiện môi trường sinh thái, góp phần phủ xanh đất trống đồi trọc Những năm gần đây sản phẩm quýt trở thành hàng hóa được nhiều người tiêu dùng biết đến với màu vàng tươi, mùi thơm, vị ngọt đặc trưng được nhiều người ưa chuộng, cây cho quả sớm, sản lượng cao dễ tiêu thụ nên cây quýt đã chiếm vị trí quan trọng trong sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế của tỉnh Lạng Sơn nói chung và của huyện Bắc Sơn nói riêng Cây quýt đem lại thu nhập cao cho đồng bào dân tộc trong vùng đồng thời đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế của địa phương
Bắc Sơn có điều kiện tự nhiên khí hậu, đất đai thuận lợi cho cây quýt sinh trưởng phát triển tốt So với những cây trồng khác cây quýt là cây trồng cho thu nhập chủ yếu của người dân trong một số xã Năm 2015, có hơn 70 ha quýt được trồng mới ở các xã Chiến Thắng, Bắc Sơn và Quỳnh Sơn và chuyện thu về mấy chục triệu đồng từ quýt đã không còn là chuyện xa lạ đối với người trồng quýt nơi đây nữa (Phòng thống kê huyện Bắc Sơn, 2015)
Trang 13Theo đánh giá sơ bộ về hiệu quả kinh tế của huyện Bắc Sơn thì cây quýt là cây đem lại thu nhập tương đối cao và ổn định so với cây trồng khác Tuy nhiên, năng suất và chất lượng quả chưa thực sự cao so với tiềm năng thế mạnh của địa phương bởi gần đây do ảnh hưởng của khí hậu , suy thoái rừng đầu nguồn, giá cả nhiều lúc bấp bênh Mặt khác người dân sản xuất còn nhỏ lẻ, chưa mạnh dạn đầu
tư, cây quýt mới chỉ phát triển ở một số hộ trong xã chứ chưa mở rộng ra toàn xã
Để sản xuất quýt thực sự có hiệu quả đòi hỏi sự vào cuộc của các cấp ngành
Từ chính những lý do trên tôi quyết định thực hiện đề tài “Phát triển sản xuất quýt vàng trên địa bàn huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn” góp phần đánh giá đúng thực trạng, hiệu quả kinh tế của việc sản xuất quýt đồng thời thấy được những tồn tại trong sản xuất từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng, các yếu tố ảnh hưởng tới sản xuất quýt vàng trên địa bàn huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn từ đó đề xuất định hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển sản xuất quýt vàng của huyện đạt hiệu quả cao và bền vững về kinh tế - xã hội và môi trường
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Các vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển sản suất cây ăn quả nói chung
và về phát triển sản xuất quýt vàng
Trang 141.3.2 Phạm vi nghiên cứu
1.3.2.1 Phạm vi nội dung:
Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng sản xuất và kết quả trồng quýt vàng Các yếu tố ảnh hưởng tới sản xuất quýt vàng Sau đó đề ra các giải pháp phát triển mở rộng vùng sản xuất quýt vàng tại huyện cho giai đoạn 2016 – 2020.1.3.2.2 Phạm vi không gian
Đề tài được thực hiện trên địa bàn huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn
1.3.2.3 Phạm vi thời gian
- Số liệu thứ cấp sử dụng trong đề tài được thu thập trong thời gian từ năm
2011 đến năm 2015
- Số liệu sơ cấp sẽ khảo sát trong gian đoạn 2015
- Các giải pháp đề xuất cho năm 2016 – 2020
1.4 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
1 Biến động sản xuất quýt ở huyện Bắc Sơn trong những năm qua như thế nào: diện tích, cơ cấu, năng suất, sản lượng…?
2 Hoạt động sản xuất quýt của hộ nông dân như thế nào?
3 Hiệu quả kinh tế sản xuất quýt ở hộ nông dân như thế nào và xu hướng biến động?
4 Các yếu tố nào ảnh hưởng tới phát triển sản quýt tại huyện Bắc Sơn?
5 Những giải pháp nào khắc phục các khó khăn, các vấn đề hạn chế nhằm phát triển sản xuất quýt tại huyện trong những năm tới?
1.5 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC MỚI
Luận văn đã có được một số những đóng góp mới sau:
Vận dụng và bổ sung vào lý luận về các khái niệm, phương pháp phân tích, đánh giá hiệu quả kinh tế trong sản xuất cây quýt Đây là nguồn tham khảo hữu ích và quan trọng cho các nhà nghiên cứu phát triển sản xuất nông nghiệp trong nước
Những kết quả nghiên cứu của luận văn được tổng kết lại là sự bổ sung và làm phong phú thêm tài liệu về phát triển sản xuất cây ăn quả nói riêng và sản xuất nông nghiệp nói chung ở các địa phương trong cả nước
Trang 15Đề tài đã phân tích được thực trạng và đánh giá các yếu tố ảnh hưởng trong phát triển sản xuất quýt vàng với sự kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu truyền thống và hiện đại; các phương pháp nghiên cứu phù hợp với điều kiện, đặc điểm tình hình sản xuất của huyện Bắc Sơn và mục tiêu, nội dung thực hiện của đề tài
Trang 16PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN SẢN
XUẤT QUÝT VÀNG 2.1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT QUÝT VÀNG
Theo MalcomGills – Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương: phát triển bao gồm sự tăng trưởng và thay đổi cơ bản trong cơ cấu của nền kinh tế, sự tăng lên của sản phẩm quốc dân do ngành công nghiệp tạo ra, sự đô thị hóa, sự tham gia của các dân tộc của một quốc gia trong quá trình tạo ra các thay đổi trên (MalcomGills, 2010)
Theo tác giả Raaman Weitz: “Phát triển là quá trình thay đổi liên tục làm tăng trưởng mức sống của con người và phân phối công bằng những thành quả tăng trưởng trong xã hội”
Tuy nhiên các ý kiến đều cho rằng: Phát triển được hiểu là một phạm trù triết học dùng để chỉ quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật Quá trình đó diễn ra vừa dần dần, vừa nhảy vọt, đưa tới sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ Sự phát triển là kết quả của quá trình thay đổi dần dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, là quá trình diễn ra theo đường xoáy ốc và hết mỗi chu kỳ sự vật lặp lại dường như sự vật ban đầu nhưng ở cấp độ cao hơn (Nguyễn Ngọc Long
và cs, 2009)
2.1.1.1 Khái niệm về sản xuất
Theo Trần Văn Đức và cs (2006) đã đưa ra các nội dung sau:
Sản xuất là quá trình phối hợp và điều hòa các yếu tố đầu vào (tài nguyên hoặc các yếu tố sản xuất) để tạo ra sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ (đầu ra) Nếu giả thiết sản xuất sẽ diễn biến một cách có hệ thống với trình độ
Trang 17sử dụng đầu vào hợp lý, người ta mô tả mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra bằng một hàm sản xuất:
Q = f (X1, X2, , Xn) Trong đó Q biểu thị số lượng một loại sản phẩm nhất định, X1, X2, , Xn là lượng của một yếu tố đầu vào nào đó được sử dụng trong quá trình sản xuất
Có 2 phương thức sản xuất là:
- Sản xuất mang tính tự cung tự cấp: quá trình này thể hiện trình độ dân trí còn thấp của chủ thể sản xuất, sản phẩm sản xuất ra chỉ nhằm mục đích đảm bảo chủ yếu cho các nhu cầu của chính họ, không có sản phẩm dư thừa cung cấp cho thị trường
- Sản xuất cho thị trường: tức là phát triển hướng sản xuất hàng hóa, sản phẩm sản xuất ra chủ yếu trao đổi trên thị trường, thường được sản xuất trên quy
mô lớn, khối lượng sản phẩm nhiều Sản xuất này mang tính tập trung chuyên canh và tỷ lệ sản phẩm hàng hóa cao
Phát triển kinh tế thị trường phải theo phương thức thứ 2 Nhưng cho dù sản xuất theo mục đích nào thì người sản xuất cũng phải trả lời được 3 câu hỏi cơ bản là: Sản xuất cái gì ? Sản xuất cho ai ? Sản xuất như thế nào ?
Tóm lại sản xuất là quá trình tác động của con người vào các đối tượng sản xuất, thông qua các hoạt động để tạo ra các sản phẩm, hàng hóa dịch vụ phục vụ đời sống con người
2.1.1.2 Khái niệm về phát triển sản xuất
Trang 18Phát triển sản xuất là yêu cầu tất yếu trong quá trình tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia trên thế giới Phát triển sản xuất càng có vai trò quan trọng hơn nữa khi nhu cầu về các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ ngày càng được nâng cao, đặc biệt hiện nay với xu thế tăng mạnh nhu cầu về chất lượng sản phẩm (Đỗ Đình Ca, 1995)
*Phát triển sản xuất hàng hóa
Hàng hóa là sản phẩm của lao động có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người và có thể dùng trao đổi với hàng hóa khác Hàng hóa là một phạm trù kinh tế phản ánh những mối quan hệ xã hội giữa người sản xuất và trao đổi hàng hóa Sản phẩm lao động mang hình thái hàng hóa khi nó trở thành đối tượng mua bán trên thị trường Hàng hóa có thể ở dạng hữa hình và ở dạng phi vật thể (Bùi Thị Thanh Tâm, 2006)
Quá trình sản xuất nhỏ đi lên sản xuất lớn là quá trình chuyển hóa nền kinh tế mang nặng tính tự cấp tự túc thành nền kinh tế hàng hóa mà đỉnh cao là kinh tế thị trường
Kinh tế hàng hóa không phải là một hình thái kinh tế xã hội riêng biệt trong lịch sử, mà kinh tế hàng hóa là phương thức phát triển kinh tế chung của loài người, của nhiều phương thức sản xuất là một bước tiến của lịch sử Ngày nay nhân loại chưa biết đến phương thức kinh tế nào tiến bộ hơn phương thức hàng hóa
Phát triển sản xuất hàng hóa toàn diện, chuyên môn hóa là phát triển một cách hợp lý hay vùng kinh tế toàn diện, đa dạng Thực hiện chuyên môn hóa gắn với công nghiệp chế biến, thị trường tiêu thụ sản phẩm phù hợp với đặc điểm tự nhiên, kinh tế - Xã hội
Phát triển sản xuất hàng hóa có giá trị kinh tế cao, an toàn về sử dụng và sạch về môi trường sinh thái
2.1.2 Phát triển sản xuất quýt
Quýt Bắc Sơn là cây trồng có hiệu quả kinh tế cao nhưng cũng đòi hỏi người sản xuất đầu tư một lượng vốn khá lớn và kỹ thuật chăm sóc cao hơn một
số loại cây ăn quả khác Vì vậy, việc phát triển sản xuất quýt sẽ đưa giá trị của ngành nông nghiệp tăng lên, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về loại quả chất lượng cao của người tiêu dùng; dẫn đến cơ cấu chuyển dịch kinh tế trong nông nghiệp là tỷ trọng các nông sản có giá trị cao, tỷ trọng hàng hóa lớn tăng lên
Trang 19Phát triển sản xuất cây ăn quả nói chung, cây quýt nói riêng góp phần làm tăng cho ngành công nghiệp chế biến phát triển, tạo thêm công ăn việc làm cho một phần lao động nông nghiệp dôi dư ở khu vực nông thôn trở thành công nhân, thực hiện chủ trương chuyển dịch lao động nông nghiệp sang làm công nghiệp của Đảng và Nhà nước; đồng thời cung cấp nguồn quả nhanh, chất lượng, quanh năm cho nhân dân
Phát triển sản xuất quýt còn góp phần tạo quan, môi trường sinh thái thúc đẩy ngành du lịch dịch vụ nông nghiệp phát triển như tham quan mô hình,
du lịch miệt vườn, nghỉ dưỡng
Chính vì những ý nghĩa to lớn nêu trên, cùng với việc áp dụng những thành tựu khoa học trong sản xuất cây ăn quả đã tạo ra nhiều sản phẩm phục vụ cho nhu cầu của người tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, đem lại lượng ngoại tệ lớn cho đất nước
2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển sản xuất
Vốn sản suất: là những tư liệu sản xuất như máy móc, thiết bị, các phương tiện vận tải, kho tàng, cơ sở hạ tầng và kỹ thuật Vốn đối với quá trình phát triển sản xuất là vô cùng quan trọng Trong điều kiện năng suất lao động không đổi thì tăng tổng số vốn sẽ dẫn đến tăng thêm sản lượng sản phẩm hàng hóa Tuy nhiên, trong thực tế việc tăng thêm sản lượng hàng hóa còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nữa, như chất lượng lao động, trình độ khoa học kỹ thuật
Lực lượng lao động: là yếu tố đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển sản xuất Mọi hoạt động của sản xuất đều do lao động của con người quyết định, nhất là người lao động có trình độ kỹ thuật, kinh nghiệm và kỹ năng lao động Do đó chất lượng lao động quyết định kết quả và hiệu quả của quá trình phát triển sản xuất
Đất đai: là yếu tố sản xuất không chỉ có ý nghĩa quan trọng với ngành nông nghiệp, mà còn rất quan trọng với sản xuất công nghiệp Đất đai là yếu tố
cố định lại bị giới hạn về quy mô, nên người ta phải đầu tư thêm vốn và lao động trên một đơn vị diện tích nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai Các loại tài nguyên khác trong lòng đất như khoáng sản,tài nguyên rừng, biển và tài nguyên thiên nhiên đều là những đầu vào quan trọng trong quá trình phát triển sản xuất
Khoa học và công nghệ: quyết định đến sự thay đổi năng suất lao động
và chất lượng sản phẩm Những phát minh sáng tạo mới được ứng dụng trong sản
Trang 20xuất đã giải phóng được lao động nặng nhọc, độc hại cho người lao động và tạo
ra sự tăng trưởng nhanh chóng, góp phần vào sự phát triển kinh tế của xã hội và
đó là nhân tố quan trọng thúc đẩy nhanh quá trình phát triển sản xuất
Ngoài ra còn một số yếu tố khác: các hình thức tổ chức sản xuất, mối quan hệ cân đối tác động qua lại lẫn nhau giữa các ngành, giữa các thành phần kinh tế, các yếu tố về thị trường nguyên liệu, thị trường tiêu thụ sản phẩm, các chủ chương, chính sách của Đảng và Nhà nước liên quan đến phát triển sản xuất cũng có quyết định tới quá trình phát triển sản xuất
2.1.4 Đặc điểm về giống, kỹ thuât, chăm sóc cây quýt
2.1.4.1 Đặc điểm về giống
Quýt có tên khoa học là Citrus reticulata thuộc họ rutaceae Là loài cây
ăn quả cùng họ với bưởi Nó có quả nhỏ hơn bưởi, vỏ mỏng, khi chin thường có màu vàng, có vị ngọt hoặc hơi chua Nó là cây nhỏ, cao đến khoảng 10m có cành gai và là thường xanh dài khoảng 4–10 cm Quýt bắt nguồn từ Đông Nam Á, có thể từ Ấn Độ, Việt Nam hay miền Nam Trung Quốc Trên thế giới cũng có nhiều loại Quýt, sau đây là một số loại chính:
Quýt Satsuma: Chịu rét tốt, trồng nhiều ở Nam Nhật Bản, Trung Quốc
và một số nước khác Giống quýt này không hạt, ngon, chín sớm và có rất nhiều loại phụ
Quýt Ponkan: Gồm nhiều loại quýt trồng ở các nước Đông Nam Á nhưng mỗi nước có một tên gọi khác nhau
Quýt Dancy: Vỏ đỏ tươi, rất đẹp, là loại quýt Tiều vì nguồn gốc ở tỉnh Phúc Kiến (Trung Quốc) Quýt Tiều không được ngọt lắm nhưng vỏ đỏ như son, rất được ưa chuộng để cúng giỗ Tết, trang trí
Quýt Tangrin: có vỏ vàng cam, trồng nhiều ở Maroc Bắc Phi
Quýt Kinh: quả to, vỏ dầy, hơi khó bóc Thịt qủa khi chín màu đỏ vàng rất đẹp, nước quả làm nước giải khát có màu rất đẹp Quýt Kinh được trồng nhiều ở Việt Nam, Campuchia, Thái Lan Ở nước ta, Quýt Kinh là giống Cam sành phổ biến rộng rãi cả nước Các nhà khoa học thế giới cho rằng Quýt Kinh (Cam sành)
là cây lai giữa cam và quýt nên quả có cả đặc tính của cam, quýt Họ xếp là quýt nhưng ở ta lại gọi là cam (Vũ Công Hậu, 2000)
Ở nước ta có một số giống quýt điển hình như: Quýt vàng Bắc Sơn (Lạng Sơn); Quýt đường Canh; Quýt Tích Giang; Quýt Đỏ; Quýt vàng Bắc
Trang 21Quang (Hà Giang) ; Quýt chum Bắc Quang (Hà Giang) ; Quýt Đường ; Quýt Hồng Lai Vung
Ghép mắt:
Gieo gốc ghép (hạt) khoảng 10-12 tháng có đường kính 1 cm là tiến hành ghép được Gốc ghép phải mọc thẳng,không dị dạng và sâu bệnh (hạt giống làm gốc ghép có thể là cam mật, cam 3 lá , volkameriana, citrange carrizo, quýt cleopatra…)
Chọn nhánh ghép là chọn cây mẹ tốt, tương đối sạch bệnh, chọn nhánh mọc ngoài trảng, sau đó tách mắt ghép có kích thước vừa nhỏ hơn miệng ghép, chú ý không để mắt ghép bị dơ, dập bể
Hiện nay cam quýt thường được nhân giống bằng 2 phương pháp trên Tuy nhiên một so bệnh như: Tristeza, greening, virus đều lây lan qua mắt ghép, cành chiết Vì vậy để cây giống được sạch bệnh và khõe mạnh chúng ta cần phải sản xuất cây giống bằng phương pháp vi ghép đỉnh sinh trưởng (shoot tip-grafting):
Vi ghép: là một kỹ thuật đòi hỏi sự chính xác, trong đó mắt ghép và gốc ghép đều được nhân lên trong ống nghiệm và thực hiện trong điều kiện vô trùng
b Kỹ thuật trồng và chăm sóc
Thời vụ trồng: Cây quýt có thể trồng quanh năm, đầu hoặc cuối mùa mưa (nếu trồng trong mùa nắng mà đủ nước tưới cây sẽ phát triển tốt hơn và ít bị sâu bệnh tấn công)
Khoảng cách trồng: Cây quýt nên trồng với khoảng cách 4mx4m, 4mx5m
Đắp mô trồng: Đất làm mô có thể từ đất mặt ruộng, đất bãi bồi ven sông, mô trồng cao khoảng 20-40cm và đường kính ban đầu là 60-80cm Trước
Trang 22khi trồng nên trộn tro trấu, phân chuồng hoai mục vào mô, xử lý đất bằng Furadan để trừ côn trùng
Trồng cây chắn gió và cây che mát: Quýt thích hợp ánh sáng tán xạ, do
đó phải trồng cây che mát, đồng thời phải trồng cây chắn gió để hạn chế sự thiệt hại do gió bão, cũng như sự lây lan của côn trùng, mầm bệnh
Tụ gốc giữ ẩm: Đa số rễ hấp thu dinh dưỡng của quýt mọc cạn, nhiệt
độ của đất vào mùa nắng cao, ảnh hưởng đến bộ rễ, do đó cần phải tụ gốc giữ ẩm bằng rơm rạ (cách gốc 20cm), biện pháp nầy cũng tránh cỏ dại phát triển,khi cây quýt còn tơ có thể trồng xen hoa màu (ngô, đậu, khoai)
Phân bón: Khi cây quýt còn nhỏ (năm I, II ) có thể dùng Urê pha nước
để tưới ( 40g Urê/8 lít nước) gốc và cây phát triển mạnh, khoảng 3 tháng tưới một lần Ở thời kỳ kinh doanh ( cây trên 5 năm tuổi ) phân bón cho quýt trên những vườn thâm canh cao : từ 400-900g N, 200-460g P2O5, 100-200g
K2O/cây/năm theo tỷ lệ N:P2O5:K2O = 3:1:0,2
Dạng phân sử dụng : Nên sử dụng ở dạng phân Urê, phân Super Lân nên bón sau thu hoạch, các dạng phân có chứa lân khác NPK nên bón vào giai đoạn nuôi quả Phân chuồng : 5-20 kg/gốc/năm
Đối với cây trưởng thành, ở giai đoạn kinh doanh cần chú ý bón phân vào các thời kỳ sau :
+ Sau thu hoạch ( bón phục hồi ) 1/5 N + 2/5P + hữu cơ
+ Sau khi xiết nước ( tưới trở lại)1/5 N + 1/5 P + 1/5 K
+ Sau khi quả đậu 1/5 N + 1/5 P + 1/5 K
+ Giai đoạn phát triển nhanh (*) 2/5 N + 1/5 P
+ Một tháng trước thu hoạch 3/5 K
Liều lượng phân bón tùy theo loại đất, giống , giai đoạn sinh trưởng mà lượng phân cung cấp cho cây thích hợp
Cách bón : Dựa theo hình chiếu của tán cây mà cuốc rảnh xung quanh gốc sâu 10-20cm, rộng 20-30cm, cho phân vào, lấp đất lại và tưới nước
Khi cây giao tán nên dùng cuốc xúp nhẹ lớp đât xung quanh cây theo hình chiếu của tán, và phải cách gốc 50 cm Hoặc có thể rải phân thẳng lên mặt liếp, tốt nhất là tưới ẩm liếp trước, sau đó mới bón phân (Vũ Công Hậu, 2000)
Trang 23c Xử lý phòng ngừa sâu bệnh
- Hàng năm nên quét vôi, xử lý thuốc trừ nấm bệnh cho gốc quýt
- Tránh tưới nước, bón phân hoặc vét sình thẳng vào gốc
- Cần phun thuốc phòng ngừa sâu bệnh các đợt đọt non và giai đoạn mang trái
- Để hạn chế mầm bệnh trong đất gây hại bộ rễ quýt (nhất là trong mùa mưa) nên dùng Zineb rải gốc, trung bình 40 kg/ha và chia làm 2 lần vào tháng 5
âm lịch và tháng 9 âm lịch
- Phát hiện sớm những cây có triệu chứng bệnh greening để kịp thời loại bỏ
Các loại sâu bệnh thường gặp ở cây quýt:
Sâu vẽ bùa:(Phyllocnistis citrella Stainton) Sâu đục dưới lớp biểu bì lá thành những dường ngoằn nghèo Sự phá hại của sâu làm cho lá co cúm, quăn queo, hạn chế quang hợp Ngoài ra, các vết thương do sâu to nên trên lá, chồi to điều kiện cho bệnh loét phát triển
Rầy mềm: (Toxoptera sp) Thường chích hút nhựa ở đầu ngọn làm chồi và
lá non không phát triển được, co rúm lại, đồng thời phân của chúng thải ra tạo điều kiện cho nấm bồ hóng cộng sinh và phát triển Rầy mềm còn là môi giới truyeền bệnh Tristeza trên cây có múi
Rầy chống cánh: (diaphorina citri Kuwayama)
- Là côn trùng truyền bệnh vàng lá greening trên cam quýt
- Trực tiếp gây hại bằng cách chích hút trên đọt non, làm đọt non bị chết Nhện đỏ: Cả ấu trùng và thành trùng đều rất nhỏ, màu nâu, vàng lợt hoặc trắng trong tùy loại, thường bu chích hút bên ngoài vỏ trái non khoảng 1-2 tháng tuổi, ít khi trái bị rụng nhưng thường làm cho vỏ trái sần sùi như cám, nên thường gọi là trái da cám, làm giảm giá trị thương phẩm
Bệnh vàng lá: Bệnh vàng lá do vi khuẩn gram âm tên là Liberobacter asiaticum (châu á) sống trong mạch dẫn libe của cây, lây lan qua mắt ghép hoặc
do rầy chổng cánh truyền qua Vi khuẩn gây xáo trộn sinh lý, làm tắt nghẽn quá trình vận chuyển dinh dưỡng Do đó làm thiệt hại đến năng suất,phẩm chất trái Bệnh mang tính hủy diệt vì không có tổ hợp gốc ghép-mắt ghép nào kháng được
Trang 24Bệnh thối gốc chảy nhựa:
Do nấm Phytopthora sp gây ra Lúc đầu bệnh làm vỏ của thân cây ở vùng gốc bị úng nước, thối nâu thành những vùng bất dạng, sau đó khô, nứt dọc, chảy
mủ hôi Cây bệnh ít rễ mảnh, rễ ngắn, vỏ rễ thối rất dễ tuột, nhất là ở các rễ con,
lá bị vàng Nấm gây bệnh này cũng làm thối trái, nhất là trái ở gần mặt đất và thường thấy ở các vườn trồng dầy
Ở Việt Nam theo thống kê bước đầu đã có khoảng trên 80 giống quýt, được trồng ở các nhà vườn, trong các trang tại, trung tâm nghiên cứu, các giống này thường theo tên các địa phương chúng sinh sống hoặc theo hương vị
Do nguồn gốc á nhiệt đới quýt không chịu được nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp, trên 360C hoặc dưới 50C thì các hoạt động sinh lý hoá đã ngừng hẳn, nhiệt độ thích hợp để phát triển cây quýt là từ 130C - 330C, thích hợp nhất là từ
230C - 280C Quýt là cây ưa độ ẩm trung bình, thích hợp với những vùng có lượng mưa từ 1.200 - 1.600 mm Quýt là cây mẫn cảm với sự dao động của độ
ẩm trong đất khi thì cao, khi thì thấp dễlàm cho quýt ra quả trái vụ lãng phí dinh dưỡng, loạn nhịp sinh trưởng, hơn nữa khi quả đã lớn, dù chưa chín nếu độ ẩm đất thay đổi thất thường quả quýt dễ bị nứt đôi cho nên đất rồng phải tương đối dày, độ mùn hơn 2% tơi xốp, thoát nước, tầng canh tác dày từ 70 cm trở lên, giữ được ẩm (Trần Đình Tuấn, 2003)
2.2 THỰC TIẾN PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT QUÝT VÀNG TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM
2.2.1 Tình hình phát triển sản xuất quýt trên Thế giới
Quýt là cây ăn quả có múi được trồng và phát triển ở nhiều nơi trên thế giới Các vùng trồng quýt hiện nay trên thế giới chủ yếu nằm ở những vùng khí hậu khá ôn hòa thuộc vùng á nhiệt đới hoặc vùng ven biển chịu ảnh hưởng chính của khí hậu đại dương Những nước trồng quýt quýt nổi tiếng hiện nay phải kể đến là vùng biển Địa Trung Hải và châu Âu như Tây Ban Nha, Italya,
Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ; Vùng Bắc Mỹ như Hoa Kỳ, Mêhicô; Vùng Nam Mỹ như Braxil, Venezuela, Achentina; Các hòn đảo châu Mỹ như Cu Ba, Jamaica, cộng hòa Đôminica; Các nước Châu Á có diện tích trồng quýt lớn hiện nay như Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam (Viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp, 1993)
Trang 25Bảng 2.1 Diện tích quýt cho thu hoạch của một số nước trên thế giới
ha chiếm hơn nửa diện tích cho thu hoạch của thế giới, tiếp đến là Braxil, Achentina , Italya có diện tích thu hoạch lần lượt là 51.841 ha, 36.000 ha, 35.515
ha và nước có diện tích thu hoạch nhỏ nhất là Cu Ba 2.006 ha
Vùng Châu Mỹ sản xuất quýt nhiều phải kể đến là Hoa Kỳ, Mêhicô, Braxil, Achentina các nước này có diện tích tương đối lớn, năng suất tương đối cao bởi có điều kiện khí hậu thuận lợi và khoa học kỹ thuật phát triển
Vùng Châu Á được coi là quê hương của quýt, hầu hết các nước này đều trồng quýt Diện tích lớn nhất là Trung Quốc, Nhật Bản tuy nhiên năng suất sản xuất quýt của các nước Châu Á vẫn còn thấp do điều kiện kinh tế, xã hội chưa phát triển đồng đều, canh tác theo phương pháp truyền thống
Trang 262.2.2 Tình hình sản xuất quýt ở việt Nam
Là nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa, đất đai màu mỡ thuận lợi cho phát triển nghề trồng cây ăn quả Ở Việt Nam cây quýt là một trong những cây ăn quả dài ngày có năng suất cao, dễ khai thác, được trồng nhiều ở nhiều nơi trong cả nước như Bắc Sơn, Bắc Sơn (Lạng Sơn), Trà Vinh, Nghệ An, Từ sản xuất quýt
bà con nông dân đã có thêm công ăn việc làm và có thu nhập cao Sản phẩm từ quýt chủ yếu được dùng để ăn tươi và cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến và một số được xuất khẩu sang nước khác
Bảng 2.2 Tình hình sản xuất quýt ở Việt Nam giai đoạn 2013 – 2015
là 11,85 tấn/ha đến năm 2015 là 12,13 tấn/ha chứng tỏ người dân có sự đầu tư chăm sóc, áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất để đem lại hiệu quả kinh tế cao và tiếp tục mở rộng diện tích trồng quýt trong những năm tới là một trong những hướng phát triển sản xuất của người dân
2.2.3 Cây quýt đối với nền kinh tế của địa phương
Quýt vàng Bắc Sơn của tỉnh Lạng Sơn là một trong những giống quýt có hương vị ngon nhất hiện nay Quýt vàng Bắc Sơn là giống cây ăn quả bản địa Cây ưa ánh sáng tán xạ, độ ẩm vừa phải, sinh trưởng tốt trong các khe núi, thung lũng thuộc vùng núi đá huyện Bắc Sơn - vùng có nền nhiệt với biên độ chênh lệch giữa ngày và đêm khá lớn Từ hàng chục năm nay, giống quýt vàng Bắc Sơn
đã nổi tiếng bởi màu vàng của nắng, vị ngọt của núi, hương thơm của gió rừng,
Trang 27dường như bao tinh tuý của núi rừng Bắc Sơn đã dồn vào, tạo cho quả quýt có một hương vị đặc biệt thơm ngon mà không một nơi nào có thể sánh được Thạc
sĩ Lê Thị Mỹ Hà (Viện NC Rau quả) đánh giá: "Quýt Bắc Sơn có màu sắc rất hấp dẫn, mã quả vàng sáng, múi quả căng mọng màu vàng sẫm, ít hạt, ăn có vị ngọt đậm hơi chua, hương vị rất đặc trưng mà quýt ở nơi khác không có được…" Thực tế, quýt vàng Bắc Sơn đã từng được xuất khẩu sang nước bạn Liên Xô (cũ)
từ những năm 80 của thế kỷ XX Có giá trị kinh tế và mang tính hàng hoá cao, giống quýt vàng đã thực sự trở thành loại cây xoá đói giảm nghèo cho phần lớn đồng bào các dân tộc ở Bắc Sơn Nhiều hộ chỉ với vườn quýt 400 cây nhưng đã đạt mức thu nhập đều hàng năm từ 110 đến 130 triệu đồng như gia đình ông Dương Hữu Lên, dân tộc Tày, ở thôn Gia Hoà I, xã Nhất Hoà Ngay cả với những nơi thuộc vùng sâu vùng xa, sau mỗi vụ quýt nhiều hộ vẫn đạt mức thu nhập gần 100 triệu đồng Điển hình như gia đình bà Đặng Thị Nảy, dân tộc Dao,
ở thôn Đồng Tiến, xã Nhất Tiến có thu nhập khoảng 80 - 90 triệu đồng Có cây quýt đã 67 năm tuổi nhưng vẫn cho thu hoạch tới gần 2 tạ quả với mẫu mã rất đẹp như ở vườn bà Hoàng Thị Nhớ ở thôn Tiên Đáo I, xã Long Đống…
Hiện toàn huyện Bắc Sơn có tổng cộng 974,1ha quýt, trong đó diện tích đã cho thu hoạch quả là 542,9 ha, sản lượng hàng năm đạt trên 1.600 tấn Cây quýt tập trung nhiều nhất tại một số xã như: Nhất Hoà, Nhất Tiến, Quỳnh Sơn, Bắc Sơn, Tân Lập, Chiến Thắng, Vũ Sơn và Đồng ý Có thời điểm cao nhất, diện tích cây quýt trên toàn huyện đã đạt tới trên 1.300 ha Có một thực tế là hiện nay cây quýt ngày càng bị giảm cả về diện tích và phẩm cấp hàng hoá (Viện khoa học nông nghiệp Việt Nam, 2009)
Hiện nay, Bắc Sơn đã được cấp giấy chứng nhận chỉ dẫn địa lý “Quýt Bắc Sơn” một cơ hội để khẳng định giá trị của quýt Bắc Sơn, đồng thời góp phần tích cực vào việc quảng bá, giới thiệu sản phẩm từ đó nâng cao giá trị, hiệu quả kinh
tế cho bà con nông dân
Cây quýt góp phần thúc đẩy nền kinh tế của huyện phát triển nhanh, bền vững, thu nhập từ quýt chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng thu nhập của huyện
Cây quýt góp phần tạo môi trường sinh thái trong lành, phủ xanh đất trống đồi trọc, chống xói mòn, rửa trôi nâng tỷ lệ độ che phủ rừng hàng năm của địa phương
Trang 28Thúc đẩy phát triển cơ sở hạ tầng nông nghiệp nông thôn, các công trình phúc lợi nông thôn hàng năm tăng khá nhanh như: Đường giao thông, hệ thống kênh mương thuỷ lợi, tưới tiêu các công trình thiết chế văn hoá, công trình công cộng
Thu nhập từ sản xuất quýt góp phần ổn định chung đời sống nhân dân trên địa bàn các xã, người dân có khả năng chi trả nhiều hơn cho cuộc sống hàng ngày, có điều kiện tham gia văn hóa, vui chơi giải trí; Đến nay trên địa bàn không còn hộ đói, tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện giảm, số hộ giàu, số hộ khá tăng lên
Sản phẩm từ cây quýt đã tạo ra nguồn thu nhập khá ổn định cho nhân dân, cải thiện cơ bản đời sống đại bộ phận nhân dân, từng bước nâng cao mức sống dân cư nông thôn
Có thu nhập ổn định, nhân dân đã tạo dựng được cơ sở vật chất phục vụ cho đời sống và sinh hoạt như tivi, tủ lạnh, phương tiện đi lại như xe máy, phương tiện sản xuất như máy gặt, máy tuốt; Mở mang phát triển văn hoá xã hội, giáo dục góp phần thúc đẩy nền kinh tế nông nghiệp nông thôn của địa phương Tác động cùng các ngành dịch vụ khác phát triển, tạo ý thức trong nhân dân về quản lý, tu bổ phát triển rừng trồng, góp phần thiết thực, hiệu quả trong công tác xoá đói giảm nghèo trên địa bàn (Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Bắc Sơn, 2015)
Trang 29PHẦN 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU3.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Huyện Bắc Sơn là một huyện miền núi nằm trên trục quốc lộ 1B và tỉnh lộ 241 chạy qua, là vùng cao về phía Tây tỉnh Lạng Sơn Phía Đông Bắc Sơn giáp 2 huyện Văn Quan, Chi Lăng Phía Tây giáp huyện Võ Nhai (tỉnh Thái Nguyên) Phía Bắc giáp huyện Bình Gia Phía Nam giáp huyện Hữu Lũng Là cửa ngõ giao lưu kinh tế, văn hóa giữa tỉnh Lạng Sơn với tỉnh Thái Nguyên và các tỉnh miền xuôi
Sơ đồ 3.1 Bản đồ hành chính huyện Bắc Sơn
Nguồn: UBND huyện Bắc Sơn (2015)
Trang 30Huyện Bắc Sơn có diện tích tự nhiên 69.786 ha trong đó 40% diện tích là núi đá và đồi núi Dân số có 66.100 người Mật độ dân cư phân bố không đều (mật độ dân cư cao ở gần các trung tâm huyện lỵ, trung tâm xã cao, và mật độ thưa ở các vùng sâu vùng xa thuộc các xã vùng núi cao)
Trung tâm huyện lỵ đặt tại thị trấn Bắc Sơn nằm trên trục đường quốc lộ 1B, là vị trí thuận lợi cho sự phát triển giao lưu văn hóa, kinh tế Đông – Tây Hầu hết các xã thuộc huyện Bắc Sơn nằm trong cánh cung đá vôi Bắc Sơn (trừ 2 xã Tân Tri và Vạn Thủy) Toàn huyện có 19 xã và 01 thị trấn
Nhìn chung Bắc Sơn tuy là huyện miền núi nhưng có vị trí địa lý tương đối thuận lợi để giao lưu với các trung tâm kinh tế, xã hội quan trọng trong vùng, qua đó có thể tiếp cận nhanh chóng với thị trường khu vực phía Bắc, Đông Bắc
Bộ và các địa phương khác trong cả nước
3.1.1.2 Khí hậu, thuỷ văn
Bắc Sơn nằm trọn trong vùng Đông Bắc Việt Nam nên chịu ảnh hưởng của vùng nhiệt đới gió mùa, khí hậu mang nét đặc trưng của của vùng miền núi Theo tài liệu của trạm khí tượng thủy văn cho thấy: Lượng mưa trung bình hàng năm là 1500 - 1600mm, lượng mưa cao nhất 1780mm vào các tháng 6, 7, 8 Lượng mưa thấp nhất 912mm, tháng có ngày mua ít nhất là tháng 12 và tháng 1 Độ ẩm trên 82 % So với các vùng khác trong tỉnh Lạng Sơn, Bắc Sơn thường có lượng mưa ít hơn Đây là khó khăn cho việc phát triển cây trồng vật nuôi
Nhiệt độ trung bình cả năm bình quân khoảng 20,80C, vào tháng 6 cao nhất là 26,80C, tháng 1 và tháng 2 nhiệt độ thấp nhất 13.80C
Bức xạ nhiệt trung bình so với các vùng khí hậu nhiệt đới, số giờ nắng bình quân cả năm là 1729 giờ, số giờ nắng bình quân trong ngày là 4,4 giờ Vớ đặc điểm bức xạ như vậy là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nhiều loại cây trồng Độ ẩm không khí trung bình 81%, cao nhất 85% và thấp nhất 72%
Bắc Sơn nằm trong vòng cung đá vôi Bắc Sơn nên ít bị ảnh hưởng của gió bão Tình hình khí hậu thời tiết tạo nhiều điều kiện để phát triển cây quýt vàng, tuy nhiên vẫn có những khó khăn nhất định cho phát triển cây quýt như: Bắc Sơn có một mùa đông lạnh nên thường chịu sự ảnh hưởng các đợt rét đậm, rét hại
Trang 31Bảng 3.1 Tình hình thời tiết các tháng trong năm 2015 của huyện Bắc Sơn
Ẩm độ không khí trung bình
Nguồn: Phòng Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Bắc Sơn (2015)
Được hình thành từ một nền nhiệt cao của đới chí tuyến và sự thay thế của các hoàn lưu lớn theo mùa, kết hợp với điều kiện địa hình nên mùa đông (từ tháng 10 năm trước đến tháng 4 năm sau) giá lạnh, nhiệt độ không khí thấp, khô hanh, có sương muối; mùa hè (từ tháng 5 đến tháng 9) nóng ẩm, mưa nhiều Nhiệt độ không khí trung bình năm 22,1oC Các tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất là tháng 6, 7 và tháng 8 (28oC -29oC), nhiệt độ trung bình thấp nhất vào các tháng 1 và 2 (13oC -14 oC ) Mặc dù nhiệt độ còn bị phân hoá theo độ cao và hướng núi, nhưng không đáng kể
Ngoài chênh lệch về nhiệt độ theo các mùa trong năm, khí hậu Bắc Sơn còn có những đặc trưng khác như sương mù Một năm bình quân có khoảng 87 -
Trang 3288 ngày sương mù Vào các tháng 10, 11 số ngày sương mù thường cao hơn Về mùa đông các xã vùng núi đá vôi thường xuất hiện sương muối; từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau bình quân xuất hiện 1 - 2 đợt, mỗi đợt kéo dài 1-3 ngày Mưa đá
là hiện tượng xảy ra không thường xuyên, trung bình 2-3 năm một lần vào các tháng 5 và 6
Lượng mưa thuộc loại thấp, bình quân 1.620mm/năm Các tháng có lượng mưa lớn là tháng 6 và 7 là 340mm; thấp nhất là vào tháng 12 và tháng 1 năm sau 15mm Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và chiếm tới 75-80% lượng mưa cả năm Độ ẩm không khí trung bình 84%, thấp nhất vào tháng 2 với 81% và cao nhất vào tháng 7 tới 88%
Chế độ gió thịnh hành là gió mùa Đông Bắc kèm theo không khí lạnh và gió mùa Đông Nam mang theo hơi nước từ biển Đông, tạo ra các trận mưa lớn về mùa hè
Những đặc điểm trên rất thích hợp cho trồng các loại cây nhiệt đới và á nhiệt đới, cụ thể là cây quýt là điều kiện để đa dạng hoá cây trồng, tăng vụ; tuy nhiên cũng cần đề phòng mưa lũ và hạn hán
Huyện Bắc Sơn có hệ thống sông suối khá dày đặc nhưng đa số là các nhánh thượng nguồn với đặc điểm chung là đầu nguồn, lòng sông ngắn, dốc, thuỷ chế thất thường Giao thông đường sông ít phát triển do sông suối dốc, lắm thác ghềnh Một số suối cạn nước vào mùa khô nhưng mùa mưa nước dồn nhanh có thể xảy ra lũ quét ảnh hưởng xấu đến đời sống nhân dân
Nhìn chung nguồn cung cấp nước chủ yếu hiện nay của huyện là nước mặt song do tập quán sinh hoạt và sản xuất nên chất lượng nước chưa tốt, cần phải xử
lý trước khi sử dụng trong sinh hoạt Đồng thời cần bảo vệ, phát triển rừng đầu nguồn để bảo vệ nguồn sinh thuỷ
3.1.1.3 Môi trường
Cảnh quan môi trường của huyện Bắc Sơn mang vẻ đẹp của vùng núi phía Bắc với các dãy núi xen kẽ, dưới là những cánh đồng trồng lúa, trồng màu và hệ thống các khe, suối kết hợp một cách hài hòa, tạo nên một bức tranh thiên nhiên phong phú, đa dạng
Trong quá trình khai thác sử dụng đất đai, tài nguyên thiên nhiên và tập quán sinh hoạt của người dân chưa thực sự hợp lý gây ảnh hưởng đến môi trường sinh thái Trong một thời gian dài, việc bảo vệ rừng không được quan
Trang 33tâm đúng mức dẫn đến diện tích đất rừng, các loại động thực vật quý hiếm giảm sút nghiêm trọng Cân bằng sinh thái bị phá vỡ làm ảnh hưởng đến việc tạo nguồn sinh thủy, điều hòa nguồn nước, xói mòn đất Song mức độ ô nhiễm chưa nhiều và đến mức nghiêm trọng, về cơ bản môi trường tự nhiên của huyện còn giữ được sắc thái tự nhiên
Để đạt được sự phát triển bền vững trong tương lai, cần tiếp tục đẩy mạnh các biện pháp bảo vệ môi trường sinh thái như: Chú trọng phát triển rừng, có những chính sách khuyến khích nhân dân thay đổi nếp sống sinh hoạt, giữ gìn vệ sinh sạch sẽ trong từng thôn, bản
3.1.1.4 Đất đai
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá của quốc gia, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn xây dựng và phát triển dân sinh, kinh tế - xã hội, an ninh và quốc phòng
Theo thống kê năm 2010, huyện Bắc Sơn có tổng diện tích tự nhiên là 69.786 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp là 11.631,51 ha chiếm 16,66% diện tích tự nhiên Qua 3 năm diện tích đất nông nghiệp giảm bình quân 0,17%/năm, nguyên nhân là do được chuyển sang đất dãn dân, đất xây dựng các cụm, điểm tiểu thủ công nghiệp, quy hoạch xây dựng nông thôn Tuy nhiên, đất trồng cây ăn quả có xu hướng tăng là do điều kiện diện tích đất nông nghiệp có hạn nên chủ trương của huyện và mong muốn của người dân muốn chuyển một phần đất trồng cây hàng năm kém hiệu quả, thích hợp sang trồng cây ăn quả cho thu nhập cao
Theo kết quả đánh giá đất đai phục vụ cho việc phát triển cây quýt đặc sản
ở Huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng sơn của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam và Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông Nghiệp năm 2004 cho thấy: Trên lãnh thổ của huyện có 5 nhóm đất với 10 loại đất chính, trong đó đất đỏ vàng trên đá phiến sét có diện tích lớn nhất với 18.653,5 ha, chiếm 26,7% diện tích tự nhiên Trong khi đó đất đen trên sản phẩm bồi tụ cỏa cácbonnát chỉ có 121,7 ha, chiếm 0,2% diện tích tự nhiên
Kết quả tổng hợp về diện tích loại đất theo dộ dốc và tầng dày cho thấy, phần lớn đất trong huyện có tần mỏng, một số diện tích tầng dày lại phân bố ở độ dốc lớn, không có khả năng sản xuất nông nghiệp
Trang 34Bảng 3.2 Tình hình đất đai huyện Bắc Sơn giai đoạn 2013-2015
Trang 35Diện tích có đọ dốc < 150 và độ dày tầng đất mịn > 70 cmcó 14.099,3 ha; chiếm 35,17% DTĐ và 20,20% DTTN Với những diện tích này có thể bố trí trồng các loại cây lâu năm trong đó có quýt
Bảng 3.3 Tổng hợp diện tích nhóm đất và loại đất huyện Bắc Sơn năm 2015
Nguồn: Phòng Tài nguyên môi trường huyện Bắc Sơn (2015)
Về độ phì tụ nhiên: Đa số diện tích đất của huyện Bắc Sơn có phản ứng chua (pHKCL < 5) chỉ có một diện tích nhỏ đất ít chua gần trung tính Độ phì tự nhiên của đất rất biến động phụ thuộc vào nhiều yếu tố Hạn chế chung là đất nghèo lân và kali dễ tiêu
Kết quả phân hạng mức độ thích hợp của đất đai với cây quýt cho thấy: Diên tích đất thích hợp cao có 570,5 ha; thích hợp trung bình co 822,2 ha; ít thích hợp có 15.323,1 ha; không thích hợp có 23.300,7 ha
Đất đai của Bắc Sơn thích hợp trồng các loại cây như: quýt, lê, mận, mơ, ngô, khoai, sắn, hồi, quế…
3.1.1.5 Tài nguyên nhân văn
Huyện Bắc Sơn có bảy dân tộc cùng sinh sống phân bố trong 22 xã, thị trấn gồm các dân tộc như: Tày, Nùng, Dao, Mông, Hoa, Sán Chỉ, Kinh Do các dân tộc
Trang 36cùng sống trên địa bàn nên tập quán, bản sắc tương đối đa dạng và phong phú Vào các dịp lễ tết và các ngày hội người dân thường tổ chức vui chơi thể thao, văn nghệ, làm lễ thờ cúng tổ tiên, tảo mộ và sum họp gia đình Nhân dân trong huyện luôn thể hiện tinh thần tương thân, tương ái, vượt qua khó khăn, thử thách trong công cuộc xây dựng, bảo vệ tổ quốc và phát triển kinh tế - xã hội
Trong những năm gần đây, được sự quan tâm của Huyện uỷ, UBND huyện, UBND các xã và nhân dân các xã đã cùng nhau vượt khó đi lên, bước đầu đạt được những thành tựu quan trọng về kinh tế, văn hóa và giữ vững trật tự an ninh xã hội, được tỉnh tặng nhiều bằng khen, giấy khen về công tác thi đua trong thời kì đổi mới
3.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội
Tình hình kinh tế xã hội của huyện Bắc Sơn tương đối ổn định, sản xuất nông nghiệp đóng vai trò chủ đạo mặc dù vẫn còn nhiều hạn chế như phát triển chưa đồng đều nhưng là ngành chủ đạo đem lại hiệu quả kinh tế nhất, cung cấp
đủ lương thực và đáp ứng được các nhu cầu khác của người dân, tỷ lệ hộ nghèo giảm, năm 2015 số hộ nghèo là 1.328 hộ giảm 34,13% so với năm 2012 Được các cấp ngành quan tâm và hỗ trợ nên kinh tế xã hội huyện Bắc Sơn dần ổn định
và phát triển bền vững hơn
3.1.2.1 Điều kiện kinh tế
a Lĩnh vực sản xuất nông lâm nghiệp, thuỷ sản năm 2015
* Nông nghiệp: Mặc dù trong năm 2015 thời tiết diễn biến phức tạp, lũ lụt hạn hán, sâu bệnh hại lúa xảy ra ở một số nơi; giá cả thị trường biến động; giá vật
tư nông nghiệp, giống , phân bón tăng nhưng sản xuất nông lâm nghiệp vẫn phát triển theo chiều hướng tích cực, năng xuất lúa, ngô và một số cây trồng khác đều tăng, đảm bảo an ninh lương thực trong vùng
* Lâm nghiệp: Ngoài tăng cường sản lượng lương thực vùng còn quan tâm đến đầu tư phát triển rừng, phủ xanh đất trống đồi trọc, hoạt động này đã đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn kế hoạch đã đề ra
Diện tích rừng qua các năm liên tục được trồng thêm nhằm mục đích rừng sản xuất và rừng phòng hộ giảm ô nhiễm môi trường, chống xói mòn đất, phủ xanh đất trống đồi trọc Trồng rừng hàng năm đều đạt và vượt chỉ tiêu kế hoạch
* Thủy sản: Ngành thủy sản ở huyện cũng đang được chú trọng phát triển tổng diện tích nuôi trồng thủy sản của huyện là 405,99 ha Ở các xã đã tiến hành triển khai mô hình chăn nuôi cá theo hướng thâm canh, tổ chức các lớp tập huấn
Trang 37về nuôi trồng thủy sản, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào chăn nuôi thủy sản đã thu hút nhiều hộ nông dân tham gia Tuy nhiên, phần lớn diện tích nuôi trồng thủy sản đều là các ao hồ nhỏ nằm phân tán trong các hộ gia đình nên năng suất, hiệu quả kinh tế chưa cao
* Chăn nuôi: Tại một số địa phương đã xảy ra bệnh lở mồm long móng, tụ huyết trùng ở trâu, bò, bệnh Lép tô ở lợn, gà, nhưng với sự cố gắng nỗ lực của bà con nông dân, tích cực chủ động tiêm phòng chống dịch bệnh, phát hiện bệnh sớm, chữa trị kịp thời, nên đã duy trì được đàn gia súc, gia cầm
b Tình hình sản xuất tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ
Những năm gần đây giá cả thị trường biến động làm ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất và gây ra không ít khó khăn cho ngành tiểu thủ công nghiệp Nhưng được sự hỗ trợ của các cấp các ngành và các doanh nghiệp, sản xuât tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn vẫn ổn định và phát triển đáng kể, các ngành nghề phụ và các cơ sở kinh doanh dịch vụ thương mại trên địa bàn ngày càng phát triển đa dạng, phong phú
Huyện Bắc Sơn là vùng có tiềm năng lớn về tài nguyên khoáng sản cả về quy mô và sản lượng Đây là một thế mạnh của vùng góp phần vào việc giải quyết việc làm tại chỗ cho người lao động địa phương và tăng thu ngân sách đồng thời góp phần xây dựng các công trình phúc lợi công cộng Tuy nhiên các hoạt động khai thác đang làm nảy sinh những vấn đề về ô nhiễm môi trường và làm xuống cấp nhanh chóng hệ thống đường giao thông
3.1.2.2 Điều kiện xă hội
a Tình hình dân số và lao động
Dân số và lao động là những yếu tố ảnh hưởng đến trật tự xã hội, việc làm, quyết định đến chất lượng cũng như số lượng trong sản xuất của các hộ trong huyện bởi đó mà các cơ quan và chính quyền địa phương cùng người dân luôn điều tiết sự ổn định của dân số không tăng quá nhanh hoặc quá chậm, mỗi
hộ chỉ sinh từ một đến hai con, tạo công ăn việc làm cho lao động tránh tình trạng thất nghiệp tuy nhiên dân số huyện Bắc Sơn phân bố chưa đều, phần lớn dân cư tập trung ở những thôn gần đường giao thông, trung tâm huyện, trung tâm
xã Lao động trong độ tuổi tương đối dồi dào, chịu khó, ham làm giàu nhưng chủ yếu là lao động phổ thông không được đào tạo nghề Trong sản xuất quýt cần một lực lượng lao động lớn để đáp ứng kịp thời nhu cầu sinh trưởng, phát triển của cây quýt trong cả thời kỳ sản xuất
Trang 38Bảng 3.4 Tình hình dân số và lao động của huyện Bắc Sơn qua 3 năm 2013 - 2015
Chỉ tiêu
IV Chỉ tiêu bình quân:
Nguồn: Phòng Lao động thương binh và xã hội huyện Bắc Sơn (2015)
Trang 39Đến năm 2015 tổng dân số toàn huyện là 50.735 người, phân bố tại 22 xã, thị trấn chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, nghề đem lại nguồn thu nhập chính của người dân trong huyện Bắc Sơn Để thấy được sự phân bố dân số lao động trên địa bàn huyện ta nghiên cứu bảng 3.3
Về tổng số nhân khẩu: nhân khẩu của huyện năm 2013 là 66.100 người, bình quân 3 năm tăng 1,4%, trong đó nhân khẩu nông nghiệp là 62.087 người chiếm 93,93% và nhân khẩu phi nông nghiệp chiếm 6,07%
Trình độ văn hóa của nhân dân Bắc Sơn đã từng bước được nâng lên Năm
2013 20 xã, thị trấn đã có trường tiểu học, 20 xã, thị trấn đã được cộng nhận xóa
mù chữ và phổ cập tiểu học
Trình độ lao động từng bước được nâng lên, thông qua các hoạt động khuyến nông, đa số đã tiếp thu được kiến thức và kinh nghiệm về trồng trọt và chăn nuôi Các hộ trồng quýt được tập huấn kỹ thuật trồng cây và chăm sóc, nên năng suất và chất lượng quả quýt ngày càng cao Một số hộ đã mạnh dạn đầu tư khoa học kỹ thuật như áp dụng cơ giới hóa vào trồng trọt, chăm bón, thu hoạch, chế biến và bảo quản hoa quả
Trình độ cán bộ cấp xã nhìn chung chưa đáp ứng được yêu cầu công tác quản lý nhà nước cấp cơ sở
Đội ngũ các bộ cấp huyện nói chung được đào tạo cơ bản qua các trường lớp Đa số các bộ chủ chốt của huyện đều có trình độ Đại học, đã và đang phát huy tốt năng lực hiện có vào công tác lãnh đạo quản lý nhà nước của huyện Tuy nhiên vào những năm tới sự phát triển khoa học công nghệ ngày càng cao thì huyện còn thiếu một số cán bộ có trình độ Đại học về các chuyên ngành quản lý dự án, kỹ sư xây dựng, kỹ sư gia thông, thủy lợi và các ngành kinh tế kỹ thuật khác
Về tổng số hộ: toàn huyện có 15.331 hộ, bình quân 3 năm tăng 2,23%, trong đó hộ nông nghiệp năm 2009 là 14.379 hộ chiếm 93,91% và hộ phi nông nghiệp là 934 hộ chiếm 6,69%
Về tổng số lao động: năm 2013 có 33.380 lao động, bình quân 3 năm tăng 0,91%, trong đó lao động nông nghiệp tăng 0,61% và lao động phi nông nghiệp tăng tới 3,59%
Các chỉ tiêu bình quân Nhân khẩu nông nghiệp/hộ nông nghiệp và Lao động nông nghiệp /hộ nông nghiệp đều giảm 0,01%
Với 87% lao động Bắc Sơn là người có sức khỏe, cần cù và có kinh nghiệm sản xuất các cây công nghiệp lâu đời, nếu được trang bị kiến thức khoa
Trang 40học về trồng trọt, chăm sóc cây trồng thì đây là một nguồn lực để phát triển nông nghiệp trong đó có phát triển sản xuất cây quýt
* Về mạng lưới giao thông
Mạng lưới đường bộ của huyện đến nay có tổng số 599,05km Trong đó,
có 35,5km quốc lộ 1B qua địa bàn; 123,2km đường tỉnh, huyện; 430,35km đường xã Từ năm 2006 đến nay, phong trào làm đường GTNT của huyện được triển khai đồng bộ và rộng khắp Hầu hết các tuyến đường liên huyện, liên xã, thôn được đầu tư mở mới, phục vụ ngày càng tốt hơn nhu cầu đi lại của nhân dân
và lưu thông hàng hóa
* Mạng lưới điện
Bắc Sơn là huyện miền núi nên việc đưa điện về các xã vùng cao gặp nhiều khó khăn, song huyện đã cố gắng đầu tư cho mạng lưới điện ngày càng mở rộng, tăng dung lượng các trạm biến áp Đến nay 19/19 xã đã có điện lưới tới trung tâm xã, trên 90% số thôn bản trong toàn huyện được dùng điện Cùng với sự quan tâm của các cấp Ủy Đảng chính quyền, sang năm 2011 huyện quyết tâm phủ mạng lưới điện tời khắp các thôn bản ở vùng sâu, vùng xa, giúp người dân mà chủ yếu là bà con dân tôc thiểu số ổn định cuộc sống, nâng cao đời sống dân sinh
* Hệ thống thủy lợi
Toàn huyện có 6 công trình thủy nông với hơn 80km kênh mương Đáp ứng nhu câu tưới tiêu cho 3.365 ha trồng lúa, và hoa mầu các loại
* Nước sinh hoạt
Ở các xã vùng cao chủ yếu vẫn dùng nước suối tự chảy, còn ở các các
xã vùng thấp chủ yếu dùng nước giếng đào Chưa có hệ thống nước sạch cung cấp cho dân Tại thị trấn Bắc Sơn, hệ thống cung cấp nước sạch đã có nhưng công suất còn nhỏ
3.1.3 Đánh giá chung về địa bàn nghiên cứu
3.1.3.1 Những thuận lợi
- Huyện có quỹ đất dồi dào, có điều kiện tương đối thuận lợi cho việc