1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tăng cường quản lý thu thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng sản trên địa bàn huyện yên thế, tỉnh bắc giang

130 319 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 8,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý thu thuế TN và phí BVMT trong KTKS được thể hiện ở các đối tượng khảo sát sau: - Cơ

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN QUANG TUẤN

TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ THU THUẾ TÀI NGUYÊN

VÀ PHÍ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG KHAI THÁC KHOÁNG SẢN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN YÊN THẾ,

TỈNH BẮC GIANG

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Ngô Thị Thuận

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng:

Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi; số liệu và kết quả nghiên cứu được trình bầy trong luận văn này là hoàn toàn trung thực, khách quan và chưa từng dùng bảo vệ để lấy bất kỳ học vị nào

Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng 10 năm 2016

Tác giả luận văn

Nguyễn Quang Tuấn

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn thạc sĩ Quản lý kinh tế của mình, ngoài sự nỗ lực

cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của nhiều tập thể và

cá nhân

Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của các thầy, cô giáo khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Bộ môn Phân tích định lượng - Học viện Nông nghiệp Việt Nam; đặc biệt là sự quan tâm, chỉ dẫn tận tình của cô giáo PGS.TS Ngô Thị Thuận đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn

thể lãnh đạo và cán bộ công chức Chi cục Thuế huyện Yên Thế, các cơ quan, phòng ban đơn vị của huyện Yên Thế; UBND các xã, thị trấn, doanh nghiệp, hộ gia đình trên địa bàn huyện Yên Thế, đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và thu thập tài liệu phục vụ làm luận văn

Qua đây tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đối với gia đình và bạn bè đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi xin gửi lời chúc sức khoẻ và chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng 10 năm 2016

Tác giả luận văn

Nguyễn Quang Tuấn

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục chữ viết tắt vi

Danh mục bảng vii

Trích yếu luận văn viii

Thesis Abstract x

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 3

1.5 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học hoặc thực tiễn 4

Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý thu thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng sản 6

2.1 Lý luận về quản lý thu thuế 6

2.1.1 Một số khái niệm 6

2.1.2 Đặc điểm, vai trò của thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường 11

2.1.3 Phương pháp tính thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng sản 13

2.1.4 Nội dung và quy trình quản lý thu thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng sản 17

2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thu thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng sản 24

2.2 Cơ sở thực tiễn về công tác quản lý thu thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng sản 29

Trang 5

2.2.1 Kinh nghiệm thực tế quản lý thu thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi

trường trong khai thác khoáng sản của một số nước trên thế giới 29

2.2.2 Kinh nghiệm quản lý thu thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng sản tại một số địa phương ở Việt Nam 31

2.2.3 Bài học kinh nghiệm cho quản lý thu thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng sản trên địa bàn huyện Yên Thế 34

Phần 3 Phương pháp nghiên cứu 36

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 36

3.1.1 Đặc điểm cơ bản của huyện Yên Thế 36

3.1.2 Đặc điểm của Chi cục Thuế huyện Yên Thế 45

3.2 Phương pháp nghiên cứu 48

3.2.1 Phương pháp thu thập tài liệu 48

3.2.2 Phương pháp xử lý và tổng hợp dữ liệu 49

3.2.3 Phương pháp phân tích thông tin 49

3.2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 49

Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 51

4.1 Thực trạng quản lý thu thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng sản trên địa bàn huyện Yên Thế 51

4.1.1 Tổng quan tình hình khai thác khoáng sản trên địa bàn huyện Yên Thế 51

4.1.2 Thực trạng thực hiện các nội dung quản lý thu thuế Tài nguyên và phí bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng sản 54

4.1.3 Đánh giá kết quả, hạn chế trong quản lý thu thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng sản trên địa bàn huyện Yên Thế 72

4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thu thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng sản 78

4.2.1 Yếu tố thuộc về cơ quan thuế quản lý 78

4.2.2 Yếu tố thuộc về người nộp thuế 81

4.2.3 Yếu tố thuộc về cơ chế chính sách nhà nước 84

4.3 Giải pháp tăng cường quản lý thu thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường trên địa bàn huyện Yên Thế 88

4.3.1 Căn cứ đề xuất 88

4.3.2 Định hướng quản lý thu thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng sản trên địa bàn huyện Yên Thế 89

Trang 6

4.3.3 Các giải pháp 91

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 97

5.1 Kết luận 97

5.2 Kiến nghị 98

Tài liệu tham khảo 101

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Mức thu các loại tài nguyên khoáng sản tại Trung Quốc 30 Bảng 3.1: Tình hình dân số và lao động của huyện Yên Thế qua 3 năm 2013 - 2015 38 Bảng 3.2: Diện tích các loại đất trên địa bàn huyện Yên Thế 39 Bảng 3.3: Giá trị và cơ cấu giá trị sản xuất của huyện Yên Thế qua 3 năm 2013

- 2015 43 Bảng 4.1: Số lượng và trữ lượng các loại khoáng sản trên địa bàn huyện Yên

Thế 51 Bảng 4.2: Số lượng DN, hộ và khối lượng các khoáng sản khai thác hàng năm

trên địa bàn huyện Yên Thế 52 Bảng 4.3: Số lượng DN và hộ gia đình phải nộp thuế TN và phí BVMT trên địa

bàn huyện Yên Thế (2013-2015) 56 Bảng 4.4: Số lượng tập huấn, giải đáp vướng mắc và cung cung cấp tin cho

NNT tài nguyên và phí BVMT ở huyện Yên Thế (2013-2015) 58 Bảng 4.5: Ý Kiến đánh giá mức độ hài lòng của NNT đối với công tác tuyên

truyền hỗ trợ tại Chi cục Thuế huyện Yên Thế 60 Bảng 4.6: Số lượng hồ sơ đăng ký, nộp và đảm bảo quy định trong thu thuế TN

và phí BVMT trên địa bàn huyện Yên Thế 61 Bảng 4.7: Số lượng chứng từ nộp thuế và tiền thu thuế TN và phí BVMT trong

KTKS trên địa bàn huyện Yên Thế 63 Bảng 4.8: Ý kiến đánh giá của người nộp thuế TN và phí BVMT về mức độ hài

lòng trong công tác kế toán thuế tại Chi cục thuế huyện Yên Thế 64 Bảng 4.9: Kết quả xử lý hồ sơ khai thuế và tiền thuế TN, phí BVMT trên địa

bàn huyện Yên Thế 67 Bảng 4.10: Kết quả kiểm tra thuế tại trụ sở người nộp thuế TN, phí BVMT trên

địa bàn huyện Yên Thế 68 Bảng 4.11: Kết quả kiểm tra và truy thu thuế tại trụ sở NNT không đăng ký nộp

thuế TN, phí BVMT trên địa bàn huyện Yên Thế 69 Bảng 4.12: Số đơn vị và số thuế TN, phí BVMT nợ đọng trên địa bàn huyện Yên

Thế 71 Bảng 4.13: Tổng hợp kết quả hạn chế trong quản lý thu thuế TN và phí BVMT

trong KTKS trên địa bàn huyện Yên Thế (2013 - 2015) 73 Bảng 4.14: Ý kiến của DN và hộ gia đình trên địa bàn huyện Yên Thế về hiểu

biết thuế TN và phí BVMT trong KTKS 82

Trang 9

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tài nguyên khoáng sản là tài sản quý giá do thiên nhiên ban tặng, có vai trọng quan trọng đối với con người Nhà nước ta đã có nhiều công cụ để quản lý hoạt động khai thác khoáng sản (KTKS) nhằm sử dụng hiệu quả và hợp lý nguồn tài nguyên khoáng sản (TNKS) trong đó thuế tài nguyên (thuế TN) và phí bảo vệ môi trường (BVMT) là công cụ hết sức quan trọng Tuy nhiên trong thực tế, các quy định của Pháp luật liên quan còn có điểm chưa theo kịp thực tế, ý thức chấp hành pháp luật của một số tổ chức, cá nhân KTKS chưa cao, công tác quản lý thu của cơ quan thuế còn có những tồn tại,… Vì vậy, việc tăng cường quản lý thu thuế TN và phí BVMT trong KTKS từ đó quản lý chặt hoạt động KTKS, tăng thu NSNN là vấn đề cấp thiết đặt ra cho nước ta nói chung và mỗi địa phương nói riêng trong đó có huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang Điều đó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng khi chưa có một nghiên cứu nào chuyên sâu về nội dung tăng cường quản lý thu thuế TN và phí BVMT trong KTKS trên địa bàn huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang

Đề tài luận văn nhằm: Hệ thống hoá lý luận và thực tiễn về quản lý thuế

TN và phí BVMT trong KTKS; Đánh giá thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thu thuế TN và BVMT trong KTKS trên địa bàn huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang Từ đó đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường quản lý thu thuế TN và phí BVMT trong KTKS trên địa bàn huyện Yên Thế trong những năm tới

Đề tài đã tiến hành điều tra 60 doanh nghiệp và hộ gia đình có hoạt động KTKS trên địa bàn huyện kết hợp với phỏng vấn một số cán bộ quản lý TNKS và quản lý thu thuế TN, phí BVMT tại UBND xã, thị trấn và Chi cục Thuế huyện Yên Thế Các số liệu thứ cấp và thông tin liên quan khác được tổng hợp từ các cơ quan như: Văn phòng UBND huyện, Chi cục Thống kê, phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng Tài chính kế hoạch, Ban quản lý dự án, Chi cục Thuế, sách báo và tạp chí chuyên ngành Số liệu được tổng hợp và xử lý theo phương pháp kết hợp xử lý số liệu thủ công với xử lý số liệu bởi các phần mềm tin học như Excel, SPSS

Để phân tích thông tin, đề tài đã sử dụng các phương pháp: Phương pháp thống kê mô tả; Phương pháp đối chiếu chính sách; Phương pháp so sánh để mô

tả hiện trạng đang tồn tại, nhằm so sánh, đánh giá, từ đó có định hướng để đề xuất các giải pháp giải quyết vấn đề

Trang 10

Kết quả cho thấy trên địa bàn huyện Yên Thế có các loại TNKS chính như: quặng sắt, vàng sa khoáng, chì, kẽm, than đá, đất sét, đất san lấp mặt bằng,

đá, cát, sỏi xây dựng Năm 2015, toàn huyện có 48 DN và 20 hộ gia đình có hoạt động KTKS với các loại TNKS khai thác chủ yếu là đất san lấp mặt bằng, than

đá, đất sét và quặng sắt Trong 3 năm (2013-2015), khối lượng quặng sắt, than đá khai thác giảm, khối lượng khai thác của tài nguyên đất để san lấp mặt bằng và đất sét làm gạch tăng Việc quản lý thu thuế TN, phí BVMT đối với các DN, hộ gia đình có KTKS đã được Chi cục Thuế huyện Yên Thế làm tương đối tốt Hàng năm số DN, hộ KTKS được quản lý đều tăng; Công tác tuyên truyền hỗ trợ NNT được nhiều NNT đánh giá hài lòng; Tỷ lệ số hồ sơ khai và nộp thuế đúng quy định tăng đều theo từng năm; Năm 2015, số tiền thuế TN thu được là 450 triệu đồng (đạt 87,2% số phải nộp), số phí BVMT là 756 triệu đồng (đạt 93,7% số phải nộp); Công tác Kiểm tra và Quản lý nợ thuế cũng được tập trung làm tốt

Qua nghiên cứu cho thấy 3 nhóm yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc thu thuế TN và phí BVMT trong KTKS trên địa bàn huyện Yên Thế gồm: các yếu tố thuộc về cơ quan thuế như: số lượng và chất lượng cán bộ thuế, cơ sở vật chất phục vụ công tác quản lý thu, sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng; các yếu tố thuộc về NNT như: trình độ và sự tuân thủ pháp luật, kết quả SXKD, điều kiện SXKD; Nhóm các yếu tố thuộc về cơ chế chính sách Nhà nước như: hệ thống văn bản pháp luật, quy định cách tính, cơ chế thực hiện

Qua phân tích, đề tài đã đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm tăng cường công tác quản lý thu thuế TN và phí BVMT trong KTKS trên địa bàn huyện Yên Thế bao gồm: Nâng cao năng lực cán bộ thu thuế; Trang bị cơ sở vật chất; Tăng cường tuyên truyền, hỗ trợ NNT; Tăng cường công tác kiểm tra, phối hợp

tổ chức thu; Đổi mới cơ chế chính sách

Trang 11

THESIS ABSTRACT

Mineral resources are precious gift given from the nature, which have important role in the human’s life Vietnamese Government has issued many instruments and tools to manage the mineral exploitation in order to reasonable and efficiently use this resource Of which, natural resource tax and environment protection charges are the most important However in the reality, the legislation

is still not follow the real situation, the awareness of people to abide by the laws

is still low, the revenue management of the taxation body is not efficient Therefore, enhancing the management of natural resource tax and environment protection charges are essential for the country in general and for Yen The district in particular

The research of the author aimed to synthesize the theoretical and practical problems of managing the natural resource tax and environment protection charge, to assess the real situation and to analyze the influent factors on the management of these problems in Yen The district, Bac Giang province Then, the author try to propose some solutions to strengthen the management of collecting natural resource tax and environment protection charge in exploiting mineral at Yen The district in the years in the future

The research group has investigated 60 businesses and households which has mineral exploitation at the district areas Besides, the author has interviewed several management officers at district and communal government organization including natural resource management officers, tax management officers The secondary information was collected and synthesized from different bodies: district people committee office, district statistic office, natural resource and environment department, finance and planning department, project management board, district tax office, as well as from books and reports The data was synthesized and classified using computer software such as: M.Excels, SPSS

In order to analyze the information, the author has applied description and comparison method to present the real situations then to propose some solutions

to tackle with the difficulties and limitation

Research results present that in the whole Yen The district, there are many types of minerals including: iron, placer gold, lead, zinc, coal, clay, land leveling,

Trang 12

stone, sand and gravel for construction In 2015, whole district had 48 companies and 20 households working in mineral industry focus on exploiting soil for land levelling, coal, clay and iron ore In the period from 2013 to 2015, the volume of iron, coal has declined while the volume of soil for land levelling and clay for brick production has increased dramatically The collection management of tax and charge related to minerals has been done quite well by the Yen The district tax office Annually, the number of registered businesses and households working in mineral exploitation has been increasing The propaganda activities to support the taxpayer has been rated satisfied by most taxpayer; the percentage of tax declaration and tax payment according to the regulations has been increasing over the years In 2015, the amount of natural resource tax collected was 450 million VND (reached 87.2% of the total must be collected), the amount of environment protection fee was 756 million VND (account for 93.7% of the total payable); Audit and Tax Debt Management are also well done

The research result pointed out that there are 3 main group of factors that affect the collection management of natural resource tax and environment protection fee at Yen The district including: factors belong to the tax office (quantity and quality of tax management officers, facilities to support the management, coordination between authorized offices), factors belong to the taxpayers (awareness and attitude of taxpayer of abiding by the laws, business outcomes, business conditions), factors relating to the government policy (regulation on the measurement and implementation mechanism)

Through analyzing the real situation, the author propose some main solutions to strengthen the collection management of natural resource tax and environment protection fee at Yen The district including: improving the quality

of tax collection officers, investing in infrastructure, strengthening the propaganda activities to support the taxpayer, fostering the audit and coordination in collection, reforming the policy

Trang 13

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Tài nguyên thiên nhiên là tài sản quý giá do thiên nhiên ban tặng, có vai trọng quan trọng đối với con người Trong điều kiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá như hiện nay, nhu cầu sử dụng tài nguyên cho phát triển kinh tế quốc dân ngày càng trở thành vấn đề cấp thiết đối với mỗi quốc gia, nhất là các loại tài nguyên khoán sản như: Dầu khí, than, đá,

Tài nguyên thiên nhiên nói chung và tài nguyên khoáng sản nói riêng là tài sản quan trọng của quốc gia, có hạn nên cần phải khai thác, sử dụng một cách có hiệu quả Hoạt động khai thác TNKS là hoạt động vừa tác động trực tiếp đến nguồn tài nguyên vì làm suy giảm trữ lượng tài nguyên vừa ảnh hưởng trực tiếp , nặng nề đến đất , nước, môi sinh, môi trường ta ̣i khu vự c diễn ra hoạt động khai

có nhiều công cụ để bảo vệ, quản lý khai thác, sử dụng tiết kiệm hiệu quả nguồn lực tài nguyên trong đó chính sách thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường đối với KTKS là những công cụ tài chính quan trọng

Việc quản lý thu thuế TN và phí BVMT trong KTKS đã được thực hiện từ nhiều năm trở lại đây và đến nay đã đạt được những kết quả nhất định, góp phần quản lý và sử dụng hiệu quả TNKS, tăng thu NSNN Mặc dù số thu thuế TN, phí BVMT còn nhỏ so với tổng thu NSNN nhưng đã đóng góp phần tăng thu, tạo sự công bằng giữa những NNT và đã phần nào đảm bảo kinh phí cho các địa phương đầu tư trở lại nhằm khắc phục hậu quả môi trường do hoạt động KTKS gây ra

Chính sách pháp luật về thuế TN và phí BVMT trong KTKS đến nay đã qua nhiều lần sửa đổi bổ sung song vẫn còn những hạn chế ảnh hưởng tới việc quản lý, khai thác, sử dụng nguồn TNKS của đất nước Nền kinh tế đất nước đang trong giai đoạn phát triển đã làm gia tăng về cả số lượng và loại hình DN, trong đó có nhiều DN tham gia hoạt động KTKS Nhiều nơi, nhiều DN được cấp phép hoạt động KTKS, song việc thực thi pháp luật, nhất là chính sách thuế TN

và phí BVMT còn nhiều yếu kém; hoạt động khai thác bừa bãi, chạy đua vì mục đích lợi nhuận mà không nghĩ tới việc BVMT, khai thác, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nguồn tài nguyên và thực hiện nghĩa vụ với NSNN Từ đó dẫn đến tàn phá, hủy hoại môi trường và thất thu cho NSNN

Trang 14

Yên Thế là một huyện trung du miền núi, nằm ở phía Đông bắc của tỉnh Bắc Giang Mặc dù không có nhiều về số lượng, trữ lượng TNKS và mới chỉ có một số loại TNKS được khai thác (như: quặng sắt, vàng; đất làm gạch ngói, đất san lấp mặt bằng, cát sỏi) nhưng để thực hiện chính sách pháp luật về thuế và phí trong KTKS, những năm qua UBND huyện đã chỉ đạo các cơ quan liên quan phối hợp cùng Chi cục Thuế quản lý hoạt động KTKS; đồng thời ban hành nhiều văn bản chỉ đạo triển khai thực hiện nhằm quản lý các hoạt động khai thác, sử dụng hiệu quả TNKS trên địa bàn Kết quả của các biện pháp được thể hiện qua

số thuế TN, phí BVMT thu được đã tăng dần qua các năm Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực và những thành quả đã đạt được thì việc áp dụng, thực thi Luật thuế TN và Nghị định về phí BVMT trong KTKS vẫn còn nhiều bất cập như: nhiều tổ chức, cá nhân có KTKS nhưng không chấp hành nghĩa vụ thuế, phí theo quy định; số lượng cán bộ thuế ít, trình độ còn hạn chế; sự phối hợp giữa cơ quan thuế và các cơ quan liên quan còn ở mức độ nhất định, từ đó dẫn đến số vụ

vi phạm và số tiền thuế, phí thất thu vẫn còn lớn

Các nghiên cứu trước đây về quản lý thuế và phí đã có nhưng là nghiên cứu về các sắc thuế và loại phí khác, nghiên cứu về quản lý thuế thu TN và phí BVMT trong KTKS thì có rất ít và đặc biệt trên địa bàn huyện Yên Thế thì chưa

có một nghiên cứu nào

Xuất phát từ các vấn đề đã được nêu ở trên, việc nghiên cứu về quản lý thu thuế TN, phí BVMT trong KTKS trên địa bàn huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang là

rất cần thiết Với những lý do nêu trên, tôi thực hiện đề tài: “Tăng cường quản lý

thu thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng sản trên địa bàn huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang”

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.1 Mục tiêu chung

Đánh giá thực trạng các yếu tố ảnh hưởng, các giải pháp tăng cường quản

lý thu thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng sản nhằmnâng cao hiệu quả quản lý, chống thất thu NSNN và khai thác, sử dụng tài nguyên khoáng sản một cách hợp lý trên địa bàn huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hoá lý luận và thực tiễn về quản lý thuế tài nguyên và phí bảo

vệ môi trường trong khai thác khoáng sản;

Trang 15

- Đánh giá thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thu thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng sản trên địa bàn huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang;

- Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường quản lý thu thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng sản trên địa bàn huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang trong những năm tới

1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

- Quản lý thu thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng sản gồm các nội dung nào?

- Việc quản lý thu thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng sản trên địa bàn huyện Yên Thế đang được thực hiện như thế nào?

- Những yếu tố nào ảnh hưởng đến kết quả quản lý thu thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng sản trên địa bàn huyện Yên Thế?

- Để tăng cường quản lý thu thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng sản trên địa bàn huyện Yên Thế cần áp dụng các giải pháp nào?

1.4 ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý thu thuế TN và phí BVMT trong KTKS được thể hiện ở các đối tượng khảo sát sau:

- Cơ quan quản lý thu thuế TN và phí BVMT trong KTKS (UBND huyện, Chi cục Thuế, phòng Tài nguyên và Môi trường, …)

- Các doanh nghiện, hộ gia đình KTKS: đã được cấp phép, chưa được cấp phép, ở địa bàn khác đến KTKS, …

- Các cơ chế chính sách có liên quan

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu

* Về nội dung

Đề tài tập trung nghiên cứu về các chính sách thuế TN và phí BVMT, công tác quản lý thu thuế TN và phí BVMT trong KTKS và các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả thu thuế TN và phí BVMT, các giải pháp tăng cường quản lý

Trang 16

thu thuế TN và phí BVMT trong KTKS trên địa bàn huyện Yên Thế

* Về không gian

Đề tài nghiên cứu trên địa bàn huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang Một số nội dung chuyên sâu được khảo sát ở một số xã đại diện

* Về thời gian

- Dữ liệu thứ cấp: thu thập từ năm 2013 đến hết năm 2015

- Dữ liệu sơ cấp: thu thập năm 2016

- Các giải pháp đề xuất cho đến năm 2020

1.5 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC HOẶC THỰC TIỄN

Tác giả đề tài có thể khẳng định rằng, đề tài là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách tổng quát và chuyên sâu về tăng cường quản lý thu thuế TN và phí BVMT trong KTKS trên địa bàn huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang cả ở góc độ lý luận lẫn góc độ thực tiễn Cụ thể, đề tài có đóng góp những điểm mới và ý nghĩa khoa học quan trọng sau đây:

- Lần đầu tiên vấn đề tăng cường quản lý thu thuế TN và phí BVMT trong KTKS trên địa bàn huyện Yên Thế được tiếp cận và nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện với tư cách là một công trình nghiên cứu khoa học

- Đề tài đã giải quyết một cách trực tiếp và cụ thể những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý thuế TN và phí BVMT trong KTKS như: khái niệm về tài nguyên khoán sản, về thuế TN, về phí BVMT trong KTKS và về quản lý thu thuế TN và phí BVMT trong KTKS;

- Đề tài đã tập trung đi sâu nghiên cứu các quy định của Pháp luật cụ thể hiện hành và từ đó làm rõ hơn nội dung các quy định, quy trình về quản lý thu thuế TN và phí BVMT trong KTKS Trên cơ sở các nghiên cứu so sánh được thực hiện, đề tài đã đưa ra những đánh giá, nhận định một cách khách quan, khoa học về thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thu thuế TN và phí BVMT trong KTKS trên địa bàn huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang Từ đó đưa ra những đề xuất, kiến nghị phù hợp nhằm tăng cường quản lý thu thuế TN và phí BVMT trong KTKS trên địa bàn huyện Yên Thế

- Về các kiến nghị, đề xuất, đề tài đã mạnh dạn đưa ra những kiến nghị, đề xuất với các cấp quản lý, trong đó điển hình như:

Trang 17

+ Kiến nghị với Bộ Tài chính, Tổng cục thuế về việc cần tiếp tục rà soát các quy định trong hệ thống pháp luật cần làm rõ về một số loại tài nguyên trong đối tượng chịu thuế, phí để tránh xung đột pháp luật và phù hợp với tính chất, giá trị sử dụng của tài nguyên; Cần tăng cường quản lý sản lượng tài nguyên khai thác từ khâu cấp phép, cho đến quá trình tổ chức khai thác, tiêu thụ để chống thất thoát, trốn sản lượng tính thuế, phí

+ Kiến nghị với Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Tài nguyên và Môi trường, các

cơ quan liên quan: tăng cường tuyên truyền phổ biến quy định của pháp luật về

thu thuế TN, phí BVMT trong KTKS; Kiểm tra và quản lý chặt chẽ việc cấp giấy

phép khai thác và hoạt động khai thác TNKS; Xây dựng và ban hành quy chế phối hợp đồng nhất giữa các sở ban ngành có liên quan để tạo thuận lợi cho công tác phối hợp quản lý giữa các cơ quan trong việc quản lý có hiệu quả nguồn tài nguyên; Các cơ quan thông tin truyền thông cần tăng cường phối hợp cùng cơ quan thuế để tuyên truyền về chính sách pháp luật liên quan đến thuế TN và phí BVMT trong KTKS, đặc biệt là các chính sách, quy định mới

+ Kiến nghị với Chi cục Thuế, UBND huyện, Phòng Tài nguyên và Môi trường, và Đài Truyền thanh – truyền hình huyện: Chi cục Thuế cần bố trí, bổ sung cán bộ có trình độ làm công tác quản lý thuế TN, phí BVMT Từ đó chủ động tham mưu để UBND huyện chỉ đạo các cơ quan liên quan quản lý chặt NNT và hoạt động KTKS, kiên quyết xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm Chi cục thuế thường xuyên phối hợp cùng Đài truyền thanh truyền hình huyện để tuyên truyền phổ biến pháp luật và phản ánh kịp thời những việc làm sai trái, vi phạm pháp luật của các đơn vị hoạt động khai thác TNKS trên địa bàn huyện

Trang 18

PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ TÀI NGUYÊN VÀ PHÍ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG

KHAI THÁC KHOÁNG SẢN

2.1 LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ

2.1.1 Một số khái niệm

2.1.1.1 Khoáng sản, khai thác khoáng sản, môi trường và bảo vệ môi trường

- Theo Luật Khoáng sản của Việt Nam, khoáng sản là khoáng vật, khoáng chất có ích được tích tụ tự nhiên ở thể rắn, thể lỏng, thể khí tồn tại trong lòng đất, trên mặt đất, bao gồm cả khoáng vật, khoáng chất ở bãi thải của mỏ (khoản 1, Điều 2, Luật Khoáng sản số 60/2010/QH12)

- Theo Luật Khoáng sản của Việt Nam, khai thác khoáng sản là hoạt động nhằm thu hồi khoáng sản, bao gồm xây dựng cơ bản mỏ, khai đào, phân loại, làm giàu và các hoạt động khác có liên quan (khoản 7, Điều 2, Luật Khoáng sản số 60/2010/QH12)

- Theo Luật Bảo vệ môi trường của Việt Nam, Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật (khoản 1, Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường năm 2014)

- Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế

các tác động xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ môi trường trong lành (khoản 3, Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường năm 2014)

Trong nghiên cứu này, chúng tôi dựa vào các khái niệm mà các văn bản pháp luật của Việt Nam đã nêu ra trên đây

2.1.1.2 Thuế, thuế tài nguyên

Trang 19

của bộ máy Nhà nước, là thủ đoạn đơn giản để kho bạc thu được tiền hay sản vật mà người dân phải đóng góp để dùng vào mọi việc chi tiêu của Nhà nước" (Mác – Ăng Ghen tuyển tập, 1961) Ăng-ghen cũng đã viết: "Để duy trì quyền lực công cộng, cần phải có sự đóng góp của công dân cho nhà nước, đó là thuế" (Ăng Ghen – Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và Nhà nước, 1962)

Bên cạnh đó, cũng có các quan điểm khác nhau về thuế, được nhìn nhận trên các bình diện khác Trong cuốn từ điển kinh tế của hai tác giả người Anh Chrisopher Pass và Bryan Lowes, đứng trên góc độ đối tượng chịu thuế đã cho rằng: "Thuế là một biện pháp của chính phủ đánh trên thu nhập của cải và vốn nhận được của các cá nhân hay doanh nghiệp (thuế trực thu), trên việc chi tiêu về hàng hoá và dịch vụ (thuế gián thu) và trên tài sản"

Một khái niệm khác về thuế tương đối hoàn thiện dựa trên cơ sở đối giá của hai nhà kinh tế Mỹ Makkollhell và Bruy như sau như sau: "Thuế là một khoản chuyển giao bắt buộc bằng tiền (hoặc chuyển giao bằng hàng hoá, dịch vụ) của các công ty và các hộ gia đình cho chính phủ, mà trong sự trao đổi đó họ không nhận được trực tiếp hàng hoá, dịch vụ nào cả, khoản nộp đó không phải là tiền phạt mà toà án tuyên phạt do hành vi vi phạm pháp luật" (Economic, Makkollhell and Bruy-M.1993, tr14 Tiếng Nga)

Dù trải qua nhiều giai đoạn và được nhận định trên nhiều góc độ khác nhau, nhưng hiện nay một định nghĩa về thuế theo xu hướng cổ điển vẫn còn đang được áp dụng phổ biến, đặc biệt trong cơ chế kinh tế thị trường, điển hình là khái niệm về thuế của Gaston Jèze đưa ra trong Giáo trình Tài chính công Theo nhà kinh tế học Gaston Jèze, “ Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của Nhà Nước.” (Gaston Jeze “Finances Publiques”, 1934)

Ở nước ta, đến nay cũng chưa có một khái niệm thống nhất về thuế Trên góc độ phân phối thu nhập: Thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành các quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước Trên góc độ NNT: Thuế là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước theo luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà

Trang 20

nước Trên góc độ kinh tế học: Thuế là một biện pháp đặc biệt, theo đó, Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công nhằm thực hiện các chức năng kinh tế – xã hội của Nhà nước Còn theo từ điển tiếng việt, trung tâm từ điển học (1998) thì: “Thuế là khoản tiền hay hiện vật mà người dân hoặc các tổ chức kinh doanh, tuỳ theo tài sản, thu nhập, nghề nghiệp… buộc phải nộp cho nhà nước theo mức quy định.”

Dựa vào những định nghĩa trên, có thể đưa ra một khái niệm tổng quát về thuế phù hợp với giai đoạn hiện nay như sau: Thuế là một khoản nộp bằng tiền

mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện theo Luật đối với Nhà nước; không mang tính chất đối khoản, không hoàn trả trực tiếp cho NNT và dùng để trang trải cho các nhu cầu chi tiêu công cộng

- Thuế tài nguyên

Tài nguyên thiên nhiên là nguồn tài sản của quốc gia, thuộc quyền sở hữu của Nhà nước, do Nhà nước thống nhất quản lý Đối với các quốc gia có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, nếu quản lý khai thác, sử dụng hiệu quả thì nó

là nguồn lợi lớn và lâu dài cho sự phát triển của quốc gia đó Ngược lại, nếu việc quản lý khai thác, sử dụng tài nguyên bừa bãi, lãng phí, sẽ gây ra hậu quả xấu không chỉ cho sự phát triển kinh tế mà còn ảnh hưởng xấu đến môi trường sống của quốc gia đó Để bảo đảm việc bảo vệ khai thác, sử dụng tài nguyên đạt hiệu quả, tránh việc khai thác, sử dụng bừa bãi, lãng phí, gây ảnh hưởng xấu đến môi trường sống, các quốc gia thường sử dụng nhiều công cụ và biện pháp quản lý khác nhau Bên cạnh các công cụ quản lý hành chính như: Cấp phép thăm dò, khai thác, chế biến, thì thuế TN là công cụ hữu hiệu để Nhà nước kiểm soát hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên, tăng thu NSNN, định hướng sử dụng tài nguyên tiết kiệm, hiệu quả, bảo vệ nguồn tài nguyên và môi trường

Thuế TN là loại thuế gián thu, thu vào hoạt động khai thác tài nguyên của các tổ chức, cá nhân, nhằm khuyến khích các tổ chức, cá nhân khai thác sử dụng tài nguyên hợp lý, tiết kiệm, có hiệu quả góp phần bảo vệ tài nguyên đất nước, bảo đảm nguồn thu cho NSNN để bảo vệ, tái tạo, tìm kiếm, thăm dò tài nguyên

Xét về mặt bản chất, thuế TN là loại thuế gián thu, thu vào người tiêu dùng, vì thuế TN đã được tính trong giá thành sản phẩm tài nguyên Người khai thác chỉ là người nộp hộ cho người tiêu dùng Tuy nhiên, xét ở góc độ quan hệ sở hữu, nó mang tính chất là một khoản thu về từ việc chuyển nhượng tài nguyên giữa một bên là Nhà nước, một bên là các tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên

Trang 21

Bản chất của vấn đề này tương tự như việc các tổ chức, cá nhân trả tiền để mua tài nguyên từ các quốc gia khác về để sản xuất, kinh doanh

2.1.1.3 Phí và phí bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng sản

Như vậy, Phí là khoản thu mang tính chất bù đắp chi phí thường xuyên hoặc bất thường như phí về xây dựng, bảo dưỡng, duy tu của Nhà nước đối với những hoạt động phục vụ người nộp phí Phí liên quan trực tiếp đến lợi ích của người nộp, cơ sở để thu phí là việc chủ thể được nhận phí đã cung cấp cho chủ thể nộp phí một lợi ích nhất định thông qua dịch vụ của mình Ví dụ: hưởng lợi

từ dịch vụ thuỷ nông thì phải nộp thuỷ lợi phí, hưởng lợi từ việc sử dụng cây cầu

để qua sông thì phải nộp phí cầu, v.v

- Phí BVMT trong KTKS là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân có hoạt động KTKS phải nộp vào NSNN nhằm đầu tư lại hoạt động BVMT

2.1.1.4 Đối tượng chịu thuế tài nguyên và người nộp thuế

Đối tượng chịu thuế TN được quy định tại Thông tư 152/2015/TT-BTC ngày 02/10/2015 của Bộ Tài chính là các tài nguyên thiên nhiên trong phạm vi đất liền, hải đảo, nội thuỷ, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh

tế và thềm lục địa thuộc chủ quyền và quyền tài phán của nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định, bao gồm:

- Khoáng sản kim loại;

- Khoáng sản không kim loại;

- Sản phẩm của rừng tự nhiên, bao gồm các loại thực vật và các loại sản phẩm khác của rừng tự nhiên, trừ động vật và hồi, quế, sa nhân, thảo quả do NNT trồng tại khu vực rừng tự nhiên được giao khoanh nuôi, bảo vệ;

- Hải sản tự nhiên, gồm động vật và thực vật biển;

Trang 22

- Nước thiên nhiên, bao gồm: Nước mặt và nước dưới đất; trừ nước thiên nhiên dùng cho nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp và nước biển

2.1.1.5 Đối tượng chịu phí bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng sản

Đối tượng chịu phí BVMT đối với KTKS là dầu thô, khí thiên nhiên, khí than, khoáng sản kim loại và khoáng sản không kim loại (Điều 2 Nghị định số 74/2011/NĐ-CP)

2.1.1.6 Quản lý

Quản lý là sự tác động có định hướng và tổ chức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý bằng các công cụ và phương pháp nhất định để đạt tới những mục tiêu nhất định (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2014)

Quản lý nhà nước là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước do các cơ quan nhà nước tiến hành đối với tất cả mọi cá nhân và tổ chức trong xã hội, trên tất cả các mặt đời sống xã hội bằng cách sử dụng quyền lực nhà nước có tính cưỡng chế đơn phương nhằm mục tiêu phục vụ lợi ích chung của cả cộng đồng, duy trì ổn định, an ninh trật tự và thúc đẩy xã hội phát triển theo một định hướng thống nhất của Nhà nước (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2014)

2.1.1.7 Quản lý thuế

Thuế là công cụ của Nhà nước, Quản lý thuế là quản lý Nhà nước

Quản lý thuế là hoạt động tổ chức, điều hành và giám sát của cơ quan thuế nhằm đảm bảo NNT chấp hành nghĩa vụ thuế theo quy định của pháp luật

Quản lý thuế có vai trò bảo đảm cho chính sách thuế được thực thi nghiêm trong thực tiễn đời sống Chính sách thuế được thiết kế nhằm thực hiện những chức năng của thuế như điều tiết kinh tế vĩ mô phục vụ mục tiêu tăng trưởng của đất nước hay phân phối thu nhập nhằm bảo đảm sự công bằng giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội Tuy nhiên, các mục tiêu này chỉ được hiện thực hoá nếu như công tác quản lý thuế thực hiện điều hành, giám sát để ai là NNT thì phải nộp thuế và NNT phải nộp đúng, nộp đủ và nộp đúng hạn số thuế phải nộp vào

Trang 23

NSNN Vì vậy, có thể khẳng định Quản lý thuế có vai trò quyết định cho sự thành công của từng chính sách thuế

2.1.1.8 Cơ quan quản lý thuế

Cơ quan quản lý thuế bao gồm hệ thống cơ quan thuế và cơ quan hải quan

Cơ quan thuế được tổ chức theo ngành dọc thống nhất từ Trung ương đến địa phương để quản lý thu các khoản thuế, thu NSNN phát sinh trong nội địa Cơ quan hải quan được tổ chức tập trung tại cấp trung ương và khu vực địa bàn hải quan để quản lý thu các khoản thuế, thu NSNN phát sinh tại cửa khẩu hải quan Pháp luật giao cho cơ quan quản lý thuế các chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn nhất định để tổ chức thực thi chính sách thuế hiệu lực, hiệu quả

2.1.2 Đặc điểm, vai trò của thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường

2.1.2.1 Đặc điểm và chức năng

- Đặc điểm của thuế tài nguyên

Thuế TN có một số đặc điểm sau:

+ Là một khoản thu của NSNN đối với người khai thác tài nguyên thiên nhiên do Nhà nước quản lý;

+ Thu trên sản lượng và giá trị thương phẩm của tài nguyên khai thác mà không phụ thuộc vào mục đích khai thác tài nguyên;

+ Được cấu thành trong giá bán tài nguyên mà người tiêu dùng tài nguyên hoặc sản phẩm được tạo ra từ tài nguyên thiên nhiên phải trả tiền thuế TN

- Chức năng của thuế tài nguyên

các hoạt động điều tiết xã hô ̣i khác nhau;

+ Cũng giống như các loại thuế khác, thuế TN cũng có chức năng phân phối các nguồn lực; tái phân phối thu nhập; và ổn định nền kinh tế;

+ Thuế TN là công cụ góp phần ổn định giá, chống lạm phát qua đó tạo việc làm, tăng thu nhập cho lao động, đồng thời nâng cao đời sống nhân dân

- Đặc điểm của phí BVMT: Là khoản thu của Nhà nước nhằm bù đắp một

phần chi phí thường xuyên và không thường xuyên để xây dựng, bảo dưỡng môi trường và tổ chức quản lý hành chính của Nhà nước đối với hoạt động của NNT

- Chức năng của phí BVMT: Là nguồn thu của NSNN nhằm đầu tư trực

Trang 24

tiếp trở lại cho hoạt động BVMT như: Phòng ngừa và hạn chế tác động xấu đối với môi trường nơi có hoạt động KTKS; Khắc phục suy thoái và ô nhiễm môi trường do hoạt động KTKS gây ra; Giữ gìn vệ sinh, bảo vệ và tạo cảnh quan nơi

có hoạt động KTKS

2.1.2.2 Vai trò

- Vai trò của thuế tài nguyên

Tài nguyên thiên nhiên thuộc quyền sở hữu của Nhà nước, do Nhà nước thống nhất quản lý Nền kinh tế càng phát triển thì nhu cầu về tài nguyên ngày càng tăng, dẫn đến nguy cơ cạn kiệt các nguồn tài nguyên chắc chắn sẽ xảy ra nhất là các loại tài nguyên không có khả năng tái tạo Vì vậy, yêu cầu đặt ra là phải khai thác, sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên sẵn có, nuôi dưỡng, bảo

vệ các nguồn tài nguyên tái sinh Nhà nước thông qua nhiều công cụ khác nhau

để bảo vệ và sử dụng hiệu quả nguồn lực tài nguyên, trong đó chính sách thuế

TN Chính vì thế, thuế TN có vai trò:

- Đảm bảo nguồn thu cho NSNN để chi phí cho việc cải tạo môi trường, đầu tư cơ sở hạ tầng nơi khai thác tài nguyên và các khoản chi khác

- Là một công cụ để phân phối lại, đảm bảo công bằng xã hội

- Đảm bảo khoản chi phí đầu vào của quá trình sản xuất cho nên nó có vai trò điều tiết sản xuất, tiêu dùng

- Khuyến khích các DN, hộ đổi mới công nghệ khai thác, chế biến

- Tác động tới khuynh hướng tiêu dùng Trong điều kiện các yếu tố khác không đổi thì khi Thuế tăng thì tiêu dùng giảm và ngược lại

- Vai trò của phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản

Chỉ thị 36-CT/TW, ngày 25/6/1998 của Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam “Về tăng cường công tác BVMT trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” đã chỉ rõ: “Bảo vệ môi trường là một vấn đề sống còn của đất nước, của nhân loại; là nhiệm vụ có tính xã hội sâu sắc, gắn liền với cuộc đấu tranh xóa đói giảm nghèo ở mỗi nước, với cuộc đấu tranh vì hòa bình

và tiến bộ xã hội trên phạm vi toàn thế giới” Mục tiêu của công tác BVMT là

“Ngăn ngừa ô nhiễm môi trường, phục hồi và cải thiện môi trường ở những nơi, những vùng đã bị suy thoái, bảo tồn đa dạng sinh học, từng bước nâng cao chất lượng môi trường ở các khu công nghiệp, đô thị và nông thôn, góp phần phát

Trang 25

triển KT-XH bền vững, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, tiến hành thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước”

Phí BVMT đối với KTKS được thực hiện từ năm 2006, thu vào các hoạt động KTKS gồm khoáng sản kim loại và khoáng sản phi kim loại Số thu từ phí BVMT được dùng cho mục đích hỗ trợ cho công tác bảo vệ và đầu tư cho môi trường; phòng ngừa và hạn chế các tác động xấu đối với môi trường, khắc phục suy thoái, ô nhiễm môi trường do hoạt động KTKS gây ra, giữ gìn vệ sinh, bảo

vệ và tái tạo cảnh quan môi trường tại địa phương nơi có hoạt động KTKS

Việc thu phí BVMT góp phần nâng cao nhận thức của tổ chức, cá nhân đối với môi trường Phí BVMT góp phần hạn chế sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm gây ô nhiễm; khuyến khích người tiêu dùng sử dụng sản phẩm thay thế Từ

đó, tiết kiệm cá nhân, tiết kiệm xã hội, giảm ô nhiêm môi trường, giảm chi phí xử

lý ô nhiễm Nâng cao ý thức BVMT trong đầu tư, sản xuất và tiêu dùng của các

tổ chức, cá nhân; khuyến khích sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, giảm bớt các tác động tiêu cực của sản xuất, tiêu dùng đến môi trường, giảm thiểu ô nhiễm

và suy thoái về môi trường Hơn nữa, phí BVMT mang lại nguồn thu nhất định cho NSNN để đầu tư cải tạo môi trường Thay đổi nhận thức của người dân về vai trò của môi trường là mục tiêu lớn nhất mà các chính sách hướng tới

2.1.3 Phương pháp tính thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng sản

2.1.3.1 Thuế tài nguyên

a) Phạm vi áp dụng chính sách

Chính sách thuế TN quy định về đối tượng chịu thuế; NNT; Căn cứ tính thuế; Miễn, giảm thuế TN và tổ chức thực hiện theo quy định tại các Nghị định của Chính phủ: Nghị định số 50/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 quy định chi tiết thi hành Luật Thuế TN số 45/2009/QH12; Nghị định số 12/2015/NĐ-CP ngày 12/2/2015 hướng dẫn thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật Thuế; Thông tư số 152/2015/TT-BTC ngày 02/10/2015 của Bộ Tài chính Hướng dẫn về thuế TN

b) Căn cứ tính thuế

Căn cứ tính thuế tài nguyên là sản lượng tài nguyên tính thuế, giá tính thuế

TN và thuế suất thuế TN

Trang 26

Xác định thuế TN phải nộp trong kỳ:

Trường hợp được cơ quan nhà nước ấn định mức thuế TN phải nộp trên một đơn vị tài nguyên khai thác thì số thuế TN phải nộp được xác định như sau:

Việc ấn định thuế TN được thực hiện theo quy định của pháp luật về thuế

c) Xác định sản lượng tài nguyên, giá tính thuế, thuế suất thuế tài nguyên

* Sản lượng tài nguyên tính thuế

- Đối với loại tài nguyên khai thác xác định được số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng thì sản lượng tài nguyên tính thuế là số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng của tài nguyên thực tế khai thác trong kỳ tính thuế

- Đối với tài nguyên không xác định được số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng thực tế của tài nguyên khai thác do chứa nhiều chất, tạp chất khác nhau và được bán ra sau khi sàng tuyển, phân loại thì sản lượng tài nguyên tính thuế được xác định như sau:

+ Đối với tài nguyên sau khi sàng tuyển, phân loại thu được từng chất riêng thì sản lượng tài nguyên tính thuế được xác định theo số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng loại tài nguyên hoặc từng chất có trong tài nguyên thu được sau khi sàng tuyển, phân loại

+ Đối với tài nguyên khai thác có chứa nhiều chất khác nhau (quặng đa kim) qua sàng tuyển, phân loại mà không xác định được sản lượng từng chất có trong tài nguyên khai thác (quặng) thì sản lượng tài nguyên tính thuế được xác định đối với từng chất căn cứ sản lượng tài nguyên thực tế khai thác (quặng) và

tỷ lệ của từng chất có trong tài nguyên

+ Đối với tài nguyên khai thác không bán ra mà phải qua sản xuất, chế biến mới bán ra (tiêu thụ trong nước hoặc xuất khẩu) thì sản lượng tài nguyên tính thuế là sản lượng tài nguyên khai thác được xác định bằng cách quy đổi từ sản lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ để bán ra theo định mức sử dụng tài

Trang 27

nguyên tính trên một đơn vị sản phẩm

- Cơ chế phối hợp giữa cơ quan thuế, Cơ quan Tài nguyên và môi trường

để quản lý hoạt động KTKS tại địa phương như sau:

Căn cứ kê khai của NNT về sản lượng tài nguyên thực tế khai thác trong năm theo từng mỏ tại Bảng kê được nộp cùng với Tờ khai quyết toán thuế TN khi kết thúc năm tài chính, trong vòng 05 ngày làm việc, cơ quan thuế có trách nhiệm chuyển cơ quan Tài nguyên và Môi trường thông tin chi tiết về sản lượng khai thác tài nguyên trong năm theo từng mỏ của các đơn vị trong địa bàn

Cơ quan Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm đối chiếu sản lượng tài nguyên đã khai thác tại từng mỏ do đơn vị khai thác khai, nộp thuế với dữ liệu đã

có tại cơ quan tài nguyên và môi trường; Trường hợp sản lượng khai thuế không phù hợp sản lượng được phép khai thác ghi trên Giấy phép khai thác hoặc có dấu hiệu vi phạm pháp luật thì cơ quan Tài nguyên và môi trường sẽ thực hiện các biện pháp nghiệp vụ để xác định sản lượng khai thác thực tế của đơn vị

Trong vòng 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông tin do cơ quan thuế chuyển đến, Cơ quan Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm chuyển thông tin cho cơ quan thuế để xử lý theo quy định của Luật Quản lý thuế

* Giá tính thuế

Giá tính thuế TN là giá bán đơn vị sản phẩm tài nguyên của tổ chức, cá nhân khai thác chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng nhưng không được thấp hơn giá tính thuế TN do UBND cấp tỉnh quy định; Trường hợp giá bán đơn vị sản phẩm tài nguyên thấp hơn giá tính thuế TN do UBND cấp tỉnh quy định thì tính thuế TN theo giá do UBND cấp tỉnh quy định

* Thuế suất thuế tài nguyên

- Thuế suất thuế TN làm căn cứ tính thuế TN đối với từng loại tài nguyên khai thác được quy định tại Biểu mức thuế suất thuế TN ban hành kèm theo Nghị quyết số 712/2013/UBTVQH13 ngày 16/12/2013 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và các văn bản sửa đổi, bổ sung (nếu có) (Chi tiết tại Phụ lục 01)

2.1.3.2 Phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản

a) Cách tính phí

Theo quy định tại Thông tư số 158/2011/TT-BTC ngày 16/11/2011 của

Trang 28

Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 74/2011/NĐ-CP ngày 25/8/2011 của Chính phủ về phí BVMT đối với khai thác khoáng sản, phí BVMT đối với khai thác khoáng sản phải nộp trong kỳ nộp phí được tính như sau:

Phí BVMT đối với

KTKS trong kỳ

Số lượng từng loại khoáng sản khai thác

+ Đối với khoáng sản kim loại

Số lượng khoáng sản kim loại khai thác trong kỳ để xác định số phí BVMT phải nộp là số lượng quặng khoáng sản kim loại nguyên khai khai thác thực tế trong

kỳ nộp phí, không phân biệt mục đích khai thác và công nghệ khai thác hoặc vùng, miền, điều kiện khai thác Trường hợp quặng khoáng sản kim loại khai thác phải qua sàng, tuyển, phân loại, làm giàu trước khi bán ra, căn cứ điều kiện thực tế khai thác

và công nghệ chế biến khoáng sản trên địa bàn, Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với Cục thuế địa phương để trình UBND cấp tỉnh quy định cụ thể tỷ lệ quy đổi từ số lượng quặng khoáng sản kim loại thành phẩm ra số lượng quặng khoáng sản kim loại nguyên khai làm căn cứ tính phí BVMT đối với từng loại khoáng sản kim loại cho phù hợp với tình hình thực tế của địa phương

- Trường hợp tổ chức, cá nhân KTKS làm vật liệu xây dựng thông thường trong diện tích đất ở thuộc quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân để xây dựng các công trình của hộ gia đình, cá nhân trong diện tích đó; trường hợp đất

Trang 29

khai thác để san lấp, xây dựng công trình an ninh, quân sự thì không phải nộp phí BVMT đối với KTKS đó

- Đồng tiền nộp phí BVMT đối với KTKS là đồng Việt Nam

b) Mức thu phí

Mức thu phí BVMT đối với KTKS được nêu tại khoản 2 Điều 4 Nghị định

74/2011/NĐ-CP (Chi tiết tại phụ lục số 02)

Mức phí BVMT đối với KTKS tận thu bằng 60% mức phí của loại khoáng sản tương ứng quy định tại khoản 2 Điều 4 Nghị định 74/2011/NĐ-CP

2.1.4 Nội dung và quy trình quản lý thu thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng sản

Thuế TN và phí BVMT đối với KTKS cũng như nhiều loại thuế, phí khác được thực hiện quản lý theo các quy trình thống nhất toàn ngành thuế, do Tổng cục Thuế ban hành

Nội dung quản lý thuế TN, phí BVMT đối với KTKS gồm các hoạt động chính được sắp xếp theo một trình tự thống nhất như sau:

2.1.4.1 Xác định đối tượng chịu thuế, phí; người nộp thuế, phí và số thuế, phí phải nộp

Căn cứ chính sách thuế TN được quy định tại Nghị định số

50/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một

số điều của Luật Thuế tài nguyên số 45/2009/QH12; Nghị định số

12/2015/NĐ-CP ngày 12/02/2015 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật Thuế và sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định

về thuế; Nghị định số 74/2011/NĐ-CP ngày 25/8/2011 của Chính phủ về phí bảo

vệ môi trường đối với KTKS và các văn bản hướng dẫn thi hành; Căn cứ điều kiện thực tế của các địa phương trong khai thác tài nguyên, Cục Thuế, Chi cục Thuế cấp huyện cần xác định cụ thể các loại khoáng sản nào đã, đang khai thác

để xác định thuế TN, phí BVMT và đôn đốc các tổ chức, cá nhân KTKS thực hiện kê khai thuế, phí theo quy định hoặc ấn định số thuế phải nộp

Công việc này thường tiến hành hàng năm vào đầu quý I hoặc ngay khi phát sinh hoạt động khai thác TNKS

2.1.4.2 Công tác tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế

Theo đúng chức năng, nhiệm vụ được quy định, hiện tại Đội tuyên truyền

hỗ trợ NNT Chi cục Thuế đảm nhận công tác tuyên truyền hỗ trợ NNT

Trang 30

Nội dung chính của công tác tuyên truyền, hỗ trợ là: Phổ biến, hướng dẫn, tuyên truyền Pháp luật thuế nói chung trong đó có TN, phí BVMT đối với KTKS, đồng thời hướng dẫn, giúp đỡ NNT thực hiện quyền và nghĩa vụ thuế

Hình thức tuyên truyền: thông qua Hội nghị tập huấn, hướng dẫn trực tiếp; qua tin bài, phóng sự chuyên đề được phát trên Đài truyền thanh, truyền hình huyện hoặc trang web ngành thuế; tuyên truyền lưu động tại các khu dân cư, khu điểm mỏ khai thác, … hoặc truyền hỗ trợ trực tiếp, qua điện thoại với NNT

Về thời gian tuyên truyền, hỗ trợ: Việc tuyên truyền, hỗ trợ được tổ chức định kỳ mỗi quý 01 lần theo từng chuyên đề hoặc trong các chiến dịch thu thuế Ngoài ra, có thể thực hiện trực tiếp, đột xuất theo vụ việc hoặc yêu cầu phát sinh

2.1.4.3 Đăng ký, kê khai, nộp thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường

a) Về thuế tài nguyên

Việc đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, quyết toán thuế được thực hiện theo quy định của Luật Quản lý thuế, các văn bản hướng dẫn thi hành

Riêng việc khai thuế, nộp thuế, quyết toán thuế đối với hoạt động KTKS, ngoài việc thực hiện theo quy định chung, còn thực hiện theo quy định tại Điều 9

Thông tư 152/2015/TT-BTC ngày 2/10/2015 của Bộ Tài chính

Tại chi cục thuế, Đội Kê khai kế toán thuế và Tin học có nhiệm vụ quản lý việc đăng ký, kê khai và nộp thuế của NNT, cụ thể bao gồm các nội dung sau:

(1) Quản lý đăng ký, kê khai thuế của NNT

- Đăng ký thuế: Người nộp thuế có trách nhiệm thực hiện đăng ký thuế theo đúng thời hạn quy định tại Điều 22 Luật quản lý thuế, cụ thể: phải thực hiện đăng ký thuế trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày ghi trên Giấy phép thành lập hoặc từ ngày có hoạt động KTKS thuộc đối tượng phải chịu thuế TN

- Khai thuế: Khai thuế TN là loại khai theo tháng và khai quyết toán năm hoặc khai quyết toán đến thời điểm chấm dứt hoạt động KTKS, chấm dứt hoạt động kinh doanh, chấm dứt hợp đồng, tổ chức lại doanh nghiệp

Theo quy định, DN, hộ KTKS có trách nhiệm thông báo với cơ quan thuế

về phương pháp xác định giá tính thuế đối với từng loại tài nguyên khai thác, kèm theo hồ sơ khai thuế TN của tháng đầu tiên có khai thác Trường hợp thay đổi phương pháp xác định giá tính thuế thì thông báo lại với cơ quan thuế trực tiếp quản lý trong tháng có thay đổi Hàng tháng, NNT thực hiện khai thuế đối

Trang 31

với toàn bộ sản lượng tài nguyên khai thác trong tháng (không phân biệt tồn kho hay đang trong quá trình chế biến)

- Nộp hồ sơ khai thuế TN: Người nộp thuế nộp hồ sơ khai thuế TN cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp bằng hình thức gửi trực tiếp hoặc gửi qua mạng internet Theo quy định tại Điểm 4 Luật số 21/2012/QH13, kể từ ngày 1/7/2013, các doanh nghiệp đóng trụ sở tại các tỉnh/thành phố có cơ sở hạ tầng về công nghệ thông tin bắt buộc kê khai thuế qua mạng

- Thời hạn nộp tờ hồ sơ khai thuế TN: Chậm nhất là ngày ngày 20 của tháng tiếp theo đối với tờ khai tháng và chậm nhất là ngày thứ 90, kể từ ngày kết thúc năm tài chính đối với tờ khai quyết toán năm Thời hạn nộp thuế chậm nhất

là ngày cuối cùng của thời hạn nộp hồ sơ khai thuế

- Đôn đốc NNT phải nộp hồ sơ khai thuế: Hàng tháng, trước thời hạn nộp

hồ sơ khai thuế của NNT, Bộ phận Kê khai kế toán thuế thực hiện tra cứu, rà soát danh sách NNT phải nộp hồ sơ khai thuế để xác định số lượng hồ sơ khai thuế phải nộp và theo dõi, đôn đốc tình trạng kê khai của NNT

- Người nộp thuế thay đổi về kê khai thuế: Khi NNT thay đổi thông tin NNT, kỳ kê khai thuế, niên độ kế toán, phương pháp tính thuế, thì Bộ phận Kê khai kế toán thuế yêu cầu NNT nộp đầy đủ hồ sơ theo quy định và chuyển bộ phận kiểm tra, xác minh (nếu có) Sau khi có kết quả kiểm tra, xác minh, bộ phận

Kê khai kế toán thuế cập nhật vào hệ thống quản lý thuế và ra thông báo chấp nhận hoặc không chấp nhận thay đổi của NNT gửi NNT

* Xử lý hồ sơ khai thuế

- Cung cấp thông tin hỗ trợ NNT thực hiện kê khai thuế: Bộ phận Hỗ trợ NNT thực hiện cung cấp thông tin, mẫu biểu kê khai thuế, phần mềm hỗ trợ và hướng dẫn NNT thực hiện khai thuế, tính thuế và nộp hồ sơ khai thuế đúng quy định của Luật Quản lý thuế, các Luật thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành

- Tiếp nhận hồ sơ khai thuế: Hệ thống khai thuế điện tử tự động tiếp nhận

hồ sơ khai thuế điện tử của NNT và tự động xác minh tính hợp pháp, hợp lệ của

hồ sơ, tự động kết xuất Thông báo xác nhận kết quả nộp hồ sơ khai thuế và gửi cho NNT thông qua địa chỉ thư điện tử NNT Đối với những tờ khai hợp lệ được nhận, hệ thống khai thuế điện tử tự động lưu và thực hiện hạch toán nghĩa vụ thuế kê khai của NNT vào hệ thống sổ thuế trên phần mềm Quản lý thuế

(2) Xử lý vi phạm về việc nộp hồ sơ khai thuế

Trang 32

- Đôn đốc NNT nộp hồ sơ khai thuế: Tuỳ theo tình hình cụ thể của cơ quan thuế, Bộ phận Kê khai kế toán thuế lập Thư nhắc nộp hồ sơ khai thuế gửi NNT trước thời hạn phải nộp theo quy định Sau hạn nộp hồ sơ khai thuế, Bộ phận Kê khai kế toán thuế căn cứ danh sách NNT chưa nộp hồ sơ khai thuế để lập Thông báo yêu cầu nộp hồ sơ khai thuế gửi NNT trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc thời hạn nộp

- Ấn định số thuế phải nộp đối với NNT không nộp hồ sơ khai thuế: Bộ phận Kê khai kế toán thuế căn cứ Danh sách NNT không nộp hồ sơ khai thuế trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày kết thúc thời hạn nộp hoặc kết thúc thời hạn gia hạn nộp để thực hiện ấn định thuế theo quy định Quá thời hạn 90 ngày kể từ ngày kết thúc thời hạn nộp hồ sơ khai thuế hoặc kết thúc thời hạn gia hạn nộp hồ

sơ khai thuế, Bộ phận Kê khai kế toán thuế lập Danh sách NNT không nộp hồ sơ chuyển cho bộ phận Kiểm tra thuế để thực hiện xử lý theo quy định

- Xử lý vi phạm hành chính đối với NNT nộp hồ sơ khai thuế quá thời hạn quy định: Bước 1: Bộ phận “Một cửa” Chi cục Thuế lập biên bản vi phạm hành chính thuế đối với NNT nộp hồ sơ khai thuế sau thời hạn quy định (lập ngay khi nhận được hồ sơ khai thuế của NNT) rồi chuyển Bộ phận Kê khai kế toán thuế; Bước 2: Bộ phận Kê khai kế toán thuế lập Quyết định xử phạt trình Thủ trưởng

cơ quan ký ban hành, gửi NNT và các bộ phận có liên quan trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày biên bản vi phạm được lập giữa cơ quan thuế và NNT

(3) Miễn giảm thuế

Tài nguyên thiên nhiên là tài sản quốc gia và ngày càng có nguy cơ cạn kiệt, cần phải khai thác sử dụng tiết kiệm, hiệu quả Vì vậy không khuyến khích khai thác sử dụng tài nguyên bằng chính sách miễn, giảm thuế Việc miễn, giảm thuế TN chỉ được áp dụng trong một số trường hợp đặc biệt, cụ thể như sau:

- Miễn thuế TN đối với tổ chức, cá nhân khai thác hải sản tự nhiên

- Miễn thuế TN đối với tổ chức, cá nhân khai thác cành, ngọn, củi, tre, trúc, nứa, mai, giang, tranh, do cá nhân được phép khai thác phục vụ sinh hoạt

- Miễn thuế TN đối với tổ chức, cá nhân khai thác nước thiên nhiên dùng cho hoạt động sản xuất thuỷ điện để phục vụ sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân; nước thiên nhiên do hộ gia đình, cá nhân khai thác phục vụ sinh hoạt

- Miễn thuế TN đối với đất do tổ chức, cá nhân được giao, được thuê khai thác và sử dụng tại chỗ trên diện tích đất được giao, được thuê; đất khai thác để san lấp, xây dựng công trình an ninh, quân sự, đê điều

Trang 33

Trường hợp khác được miễn thuế TN, Bộ Tài chính chủ trì phối hợp báo cáo Chính phủ để trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định

- Giảm thuế: Người nộp thuế TN gặp thiên tai, hoả hoạn, tai nạn bất ngờ gây tổn thất đến tài nguyên đã kê khai, nộp thuế thì được xét miễn, giảm thuế phải nộp cho số tài nguyên bị tổn thất Trường hợp khác, Bộ Tài chính chủ trì phối hợp báo cáo Chính phủ để trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định

b) Về phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản

Tổ chức, cá nhân KTKS phải nộp hồ sơ khai phí BVMT với cơ quan Thuế quản lý trực tiếp cùng nơi kê khai nộp thuế TN Trường hợp trong tháng không phát sinh phí BVMT đối với KTKS, NNT vẫn phải kê khai và nộp tờ khai với cơ quan Thuế Trường hợp tổ chức thu mua gom khoáng sản phải đăng ký nộp thay người khai thác thì tổ chức đó có trách nhiệm nộp hồ sơ khai phí BVMT với cơ quan thuế quản lý cơ sở thu mua khoáng sản Người nộp phí phải kê khai đầy đủ, đúng mẫu và chịu trách nhiệm về tính chính xác của việc kê khai

Phí BVMT đối với KTKS là loại khai theo tháng và quyết toán năm Thời hạn kê khai chậm nhất là ngày thứ 20 của tháng tiếp theo, quyết toán theo năm tài chính hoặc thời điểm chấm dứt hoạt động KTKS, chấm dứt hoạt động thu mua gom khoáng sản, chấm dứt hoạt động kinh doanh hoặc tổ chức lại doanh nghiệp

Hồ sơ khai phí BVMT đối với KTKS theo tháng là tờ khai theo mẫu 01/BVMT, tờ khai quyết toán là mẫu 02/BVMT ban hành kèm theo Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 6/11/2013 của Bộ Tài chính Ngoài ra, việc khai phí, nộp phí, quyết toán phí BVMT đối với KTKS được thực hiện theo quy định của Luật Quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn

2.1.4.4 Thu và quyết toán thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường

a) Tiếp nhận và xử lý chứng từ nộp tiền của NNT

Cuối ngày, hoặc đầu giờ ngày làm việc tiếp theo, KBNN truyền dữ liệu về

số thuế đã thu vào hệ thống cơ sở dữ liệu thu, nộp thuế; đồng thời lập Bảng kê kèm chứng từ đã thu trong ngày, chuyển cơ quan thuế quản lý NNT làm chứng từ hạch toán, kế toán quản lý thu Bộ phận Kê khai kế toán thuế thực hiện nhận tệp

dữ liệu và chuyển vào cơ sở dữ liệu quản lý thuế Hàng ngày, Bộ phận Kê khai

kế toán thuế thực hiện đối chiếu số thuế đã thu giữa bảng kê chứng từ nộp và dữ liệu chuyển bằng đường truyền, và hạch toán số tiền thuế đã nộp vào các Sổ thuế

- Xử lý đối với chứng từ nộp tiền không đúng quy định: khi kiểm tra các chỉ tiêu trên chứng từ nộp tiền của NNT, nếu phát hiện các chỉ tiêu trên chứng từ

Trang 34

nộp tiền không đầy đủ, không rõ ràng, nộp sai tài khoản, sai mục lục NSNN hoặc không ghi mã số thuế của NNT thì Bộ phận kê khai yêu cầu NNT điều chỉnh

b) Hoàn trả, bù trừ, thu hồi hoàn tiền thuế, tiền phạt

Trong thời hạn 01 ngày làm việc kể từ ngày nhận được Quyết định hoàn thuế, Bộ phận Kê khai kế toán thuế lập Lệnh hoàn trả khoản thu NSNN theo Quy trình gửi KBNN đồng cấp để thực hiện chi tiền hoàn thuế hoặc hoàn trả kiêm bù trừ thu NSNN cho NNT

c) Theo dõi thu nộp thuế của người nộp thuế

- Bộ phận Kê khai kế toán thuế tiếp nhận các văn bản liên quan đến xử lý tiền thuế của NNT do Bộ phận “Một cửa”, Bộ phận hành chính văn thư hoặc các

bộ phận chức năng chuyển đến (như: Quyết định xử phạt vi phạm pháp luật về thuế; Quyết định ấn định số thuế phải nộp; Quyết định bãi bỏ Quyết định ấn định

số thuế phải nộp; Thông báo phạt nộp chậm tiền thuế;…), thực hiện kiểm tra, hạch toán và nhập vào hệ thống máy tính ngay trong ngày làm việc

- Tính sổ thuế: Bộ phận Kê khai kế toán thuế kiểm tra, đối chiếu toàn bộ

số liệu trên Sổ theo dõi thu nộp thuế theo từng NNT, tài khoản thu nộp thuế và từng loại thuế, bao gồm: số thuế còn phải nộp đầu kỳ, số thuế nộp thừa hoặc còn khấu trừ kỳ trước chuyển sang, số thuế phải nộp phát sinh trong kỳ, số thuế đã nộp trong kỳ, số thuế còn phải nộp chuyển kỳ sau, số thuế nộp thừa hoặc còn được khấu trừ tiếp chuyển kỳ sau, … đảm bảo chính xác, đầy đủ, kịp thời

- Khoá Sổ theo dõi thu nộp thuế: Chậm nhất ngày 10 tháng sau, Bộ phận

Kê khai kế toán thuế thực hiện chốt sổ và khoá Sổ theo dõi thu nộp thuế tháng trước Sau khi khoá sổ, mọi số liệu trên Sổ theo dõi thu nộp thuế các tháng trước

sẽ không được điều chỉnh, bổ sung Nếu phát hiện sai sót về số liệu liên quan đến nghĩa vụ thuế của NNT, Bộ phận Kê khai kế toán thuế phối hợp với các bộ phận

có liên quan và với KBNN để xác định lý do sai sót, hướng dẫn NNT điều chỉnh hoặc thực hiện lập Phiếu đề nghị điều chỉnh thu nộp NSNN theo quy định

- Đối chiếu nghĩa vụ thuế với NNT: định kỳ mỗi quý một lần hoặc 6 tháng một lần, Bộ phận Kê khai kế toán thuế lập và gửi Phiếu đề nghị đối chiếu nghĩa

vụ thuế của NNT gửi các bộ phận chức năng (thanh tra, kiểm tra, quản lý nợ, quản lý thuế TNCN,…) để rà soát, đối chiếu nghĩa vụ thuế của NNT Trường hợp kết quả đối chiếu là sai sót và đã xác định được nguyên nhân, Bộ phận Kê khai

kế toán thuế phải điều chỉnh lại số liệu theo kết quả kiểm tra, đối chiếu của các

Trang 35

bộ phận chức năng trên Sổ theo dõi thu nộp thuế

- Kết thúc theo dõi thu nộp của NNT trong trường hợp NNT chấm dứt hoạt động và đóng mã số thuế: Bộ phận Kê khai kế toán thuế thực hiện kết thúc theo dõi thu nộp của NNT trong trường hợp NNT chấm dứt hoạt động và đóng

mã số thuế cho NNT sau khi đã hoàn thành đầy đủ nghĩa vụ thuế với NSNN

- Lưu Sổ theo dõi thu nộp thuế: Sổ theo dõi thu nộp được lập theo tháng bao gồm sổ chi tiết và sổ tổng hợp Trường hợp Sổ theo dõi thu nộp được lập trên

hệ thống ứng dụng quản lý thuế, hàng tháng, in Sổ theo dõi thu nộp thuế tổng hợp tháng, Thủ trưởng cơ quan thuế ký duyệt, lưu sổ; kết thúc năm, in Sổ tổng hợp theo dõi thu nộp thuế năm, Thủ trưởng cơ quan thuế ký duyệt, lưu sổ Thời hạn in, lưu: Sổ tổng hợp tháng là trước ngày 15 tháng sau, Sổ tổng hợp năm là trước ngày 20 tháng 1 năm sau

2.1.4.5 Công tác kiểm tra thuế, phí

Mục đích là nhằm chống thất thu thuế qua việc kê khai thuế; ngăn chặn và

xử lý kịp thời những vi phạm về thuế; Nâng cao tính tự giác tuân thủ pháp luật thuế của NNT trong việc thực hiện kê khai thuế, tính thuế và nộp thuế

Việc kiểm tra thuế TN, phí BVMT trong KTKS do Đội Kiểm tra thuế của Chi cục thuế thực hiện với những công việc chính bao gồm:

- Kiểm tra hồ sơ khai tại trụ sở cơ quan thuế: Thời gian kiểm tra: hàng tháng; phương pháp kiểm tra: Kiểm tra hồ sơ khai thuế của DN, hộ KTKS đã được Đội Kê khai kế toán thuế nhận vào ứng dụng Quản lý thuế

- Kiểm tra tại trụ sở của NNT: Thời gian kiểm tra: Theo kế hoạch kiểm tra

đã được Cục Thuế tỉnh phê duyệt từ đầu năm; Phương pháp kiểm tra: Chi cục trưởng Chi cục Thuế ra Quyết định kiểm tra, Quyết định thành lập tổ kiểm tra và

Tổ kiểm tra tiến hành kiểm tra tại trụ sở NNT theo đúng nội dung, thời gian và thành phần trên Quyết định

- Tổng hợp báo cáo và lưu giữ tài liệu kiểm tra thuế

2.1.4.6 Công tác quản lý nợ thuế, phí

Hiện tại, công tác quản lý nợ thuế TN và phí BVMT đối với KTKS tại các Chi cục Thuế cũng được thực hiện theo quy định và quy trình quản lý nợ chung cho các sắc thuế khác đó là Luật quản lý thuế và Quy trình quản lý nợ thuế ban hành kèm theo Quyết định số 2379/QĐ-TCT ngày 22/12/2014 của Tổng cục

Trang 36

trưởng Tổng cục Thuế Công tác này do Đội Quản lý nợ và Cưỡng chế nợ thuế Chi cục Thuế thực hiện Các nội dung chính trong công tác quản lý nợ bao gồm:

- Xây dựng chỉ tiêu thu tiền thuế nợ: Chi cục Thuế căn cứ vào chỉ tiêu thu

nợ do Cục Thuế giao, giao chỉ tiêu thu tiền thuế nợ cho Đội quản lý nợ, các đội tham gia thực hiện quy trình và báo cáo kết quả về Cục Thuế

- Quản lý, đôn đốc thu và xử lý tiền thuế nợ: Đội quản lý nợ thực hiện phân công, phân loại nợ và tổ chức đôn đốc thu, xử lý tiền thuế nợ theo đúng quy định

2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thu thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng sản

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến kết quả thu thuế TN và phí BVMT trong KTKS, trong đó có các yếu tố khách quan và chủ quan xuất phát từ NNT, từ cơ quan thuế, từ bản thân chính sách của nhà nước Việc tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả thu thuế TN và phí BVMT trong KTKS là hết sức quan trọng

và cần thiết để có căn cứ nghiên cứu, đề ra các biện pháp hữu hiệu, thiết thực nhằm tăng cường quản lý và chống thất thu trong lĩnh vực này Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả thu thuế TN và phí BVMT đối với KTKS có thể chia thành ba

Những quy định về thuế TN, phí BVMT đối với KTKS được tuyên truyền rộng rãi và phổ biến đến NNT để NNT nắm rõ và thực hiện Tuy nhiên, trong thực tế thực hiện, NNT hoặc do sự thiếu quan tâm hiểu biết, hoặc do cố tình trốn, gian lận thuế nên phát sinh nhiều tình huống mà nếu thiếu cán bộ hoặc cán bộ thuế không vững về chuyên môn nghiệp vụ sẽ không thể hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra, phát hiện và xử lý vi phạm

Lĩnh vực KTKS là lĩnh vực hoạt động phức tạp, địa bàn quản lý rộng, có tính đặc thù do TNKS luôn gắn liền với tự nhiên, việc khai thác sử dụng là khó kiểm soát, đặc biệt là khai thác và sử dụng nhỏ lẻ Các đơn vị khai thác tài nguyên cũng luôn tìm cách lách luật để trốn tránh nghĩa vụ thuế, càng đòi hỏi phải có đủ cán bộ thuế và người cán bộ thuế phải am tường luật pháp và trau dồi

Trang 37

kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ để xử lý kịp thời và triệt để, tránh thất thu NSNN, mặt khác đem lại hiệu quả quản lý về mặt xã hội

Trình độ của cán bộ quản lý thuế được hiểu bao quát về cả tài, cả đức Nói như Bác Hồ, người cán bộ phục vụ quần chúng nhân dân phải “vừa hồng vừa chuyên”, để không chỉ thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị mà phải được lòng dân, dân trong giác độ quản lý thuế chính là NNT, người trực tiếp đóng góp vào số thu NSNN để có nguồn chi cho phát triển KT-XH, phát triển đất nước

Xã hội luôn phát triển vận động không ngừng, chủ trương đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước cũng có những thay đổi cho phù hợp với thực tế

Về phương diện quản lý thuế trong đó có quản lý thuế TN và phí BVMT, các chính sách cũng luôn được cập nhật, bổ sung ngày càng hoàn thiện để quản lý có hiệu quả hơn Cán bộ thuế, người trực tiếp đại diện Nhà nước thi hành pháp luật

về thuế cũng luôn phải cập nhật, trau dồi, học hỏi chính sách pháp luật cũng như nghiệp vụ chuyên môn để truyền đạt, hướng dẫn cho NNT cũng như kiểm tra, giám sát NNT thực hiện đúng đắn nghĩa vụ thuế của mình

b) Cơ sở vật chất

Nhân tố này có ảnh hưởng mạnh mẽ tới công tác quản lý thuế nói chung

và công tác quản lý thu thuế TN và phí BVMT trong KTKS nói riêng Những quy định trong chính sách về việc kê khai, nộp thuế, quyết toán thuế, việc quản

lý, phân tích, đánh giá NNT,… phụ thuộc rất nhiều vào khả năng đáp ứng của ngành thuế Khả năng này lại phụ thuộc rất lớn vào cơ sở vật chất của ngành thuế Cũng như vậy, một hệ thống thu thuế được kết nối bằng mạng nội bộ sẽ là một nhân tố rất hữu ích cho cơ quan thuế trong việc quản lý thu thuế hiệu quả, chính xác, kịp thời và tiết kiệm chi phí Việc đầu tư máy móc, thiết bị và xây dựng mạng thông tin nội bộ để quản lý cơ sở dữ liệu sẽ đòi hỏi những chi phí bước đầu tương đối lớn, nhưng xét về dài hạn thì điều này sẽ tiết kiệm chi phí hơn rất nhiều so với việc quản lý dữ liệu theo kiểu thủ công

c) Sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng

Bộ máy hoạt động của cơ quan thuế bao gồm các đội thuế chuyên môn, thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công của tổ chức, đứng đầu là người lãnh đạo Công tác quản lý thuế cũng được quản lý theo từng đội chuyên môn, chịu trách nhiệm công việc tương ứng với các quy trình quản lý thuế Để tạo thành một thể thống nhất, quản lý hiệu quả thuế nói chung và thuế TN, phí BVMT trong KTKS nói riêng, nhất thiết phải có sự phối hợp giữa các đội thuế trong cơ quan thuế

Trang 38

Công tác quản lý thuế theo quy trình quy định rõ nhiệm vụ của từng bộ phận, từng bước công việc trong quá trình quản lý thuế, bước công việc nào phối hợp cùng với đội thuế nào và đội thuế nào có chức năng nhiệm vụ cùng phối hợp thực hiện Điều này tạo ra sự tương tác, gắn kết giữa các đội thuế, để vừa có sự chuyên sâu trong quản lý, vừa có sự liên kết giữa các bộ phận để cùng nhau thực hiện nhiệm vụ chính trị chung là thực hiện tốt công tác quản lý thuế

Quản lý KTKS tạo ra mối liên hệ giữa rất nhiều các cơ quan tổ chức, không chỉ cơ quan thuế Các cơ quan khác cùng tham gia, tác động vào để quản

lý KTKS như UBND huyện, xã; Phòng Tài nguyên và Môi trường, Do đó, trong công tác quản lý thuế TN, phí BVMT trong KTKS, phải có sự phối hợp giữa cơ quan thuế với các cơ quan hữu quan để cùng đưa ra các giải pháp vừa đảm bảo đúng quy định pháp luật, vừa đảm bảo phù hợp với điều kiện KT-XH và các quy định cụ thể của địa phương Điều này tạo sự nhất quán giữa cơ quan thuế

và các cơ quan trên địa bàn Bởi thuế TN và phí BVMT trong KTKS là nguồn thu ngân sách địa phương được hưởng 100% (theo Luật NSNN 2002 và 2015)

2.1.5.2 Yếu tố thuộc về người nộp thuế

a) Trình độ và sự tuân thủ pháp luật

Người nộp thuế là người trực tiếp đóng góp, tạo số thu NSNN thông qua việc thực hiện nghĩa vụ thuế khi hoạt động SXKD Người nộp thuế là người bạn đồng hành của cơ quan thuế trong công tác quản lý thuế, cơ quan thuế không thể quản lý thuế tốt nếu như không có sự hợp tác của NNT

Với cơ chế “tự khai, tự nộp, tự chịu trách nhiệm” và trong giai đoạn ngành Thuế đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho NNT thực hiện nghĩa vụ thuế thì NNT có nhiều hơn sự chủ động trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế Tuy nhiên, đi cùng với đó là việc phát sinh nhiều tình huống vi phạm pháp luật về thuế do NNT hoặc không am hiểu tường tận quy định pháp luật về thuế, hoặc do trình độ hạn chế, hoặc do cố tình trốn thuế, gian lận thuế Đòi hỏi cơ quan thuế phải sát sao hơn trong công tác phổ biến, hướng dẫn các quy định về thuế, kiểm tra và giám sát việc khai thuế, nộp thuế của NNT

Thuế TN, phí BVMT đối với KTKS là loại thuế, phí đặc thù do đối tượng chịu thuế là TNKS lấy từ thiên nhiên và thuộc sở hữu của Nhà nước Với mô hình Nhà nước là của dân nên người KTKS vẫn thường tự cho mình quyền được khai thác và thu lợi nhuận từ TNKS đó trong khi lơ là nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước Để phù hợp với thực tiễn, Thuế TN, phí BVMT luôn được xem xét để bổ

Trang 39

sung, sửa đổi, chính vì vậy, bản thân NNT một mặt không cập nhật kịp thời và đầy đủ quy định, một mặt vẫn giữ thói quen lấy từ thiên nhiên không phải trả phí, nên gây rất nhiều khó khăn trong công tác quản lý Số thu từ thuế và phí trong lĩnh vực này không lớn, NNT không nhiều (so với các loại thuế, phí khác), nhưng công tác quản lý thuế TN và phí BVMT luôn đòi hỏi sự đầu tư, quan tâm và giám sát quản lý chặt chẽ của cơ quan thuế

Rõ ràng là trình độ và ý thức của NNT trong việc tuân thủ quy định về thuế là rất quan trọng đối với công tác quản lý thu thuế TN và phí BVMT trong KTKS

b) Kết quả sản xuất, kinh doanh

Hiệu quả của công tác quản lý thu thuế phụ thuộc không nhỏ vào kết quả SXKD của NNT Cùng một đơn vị thu thuế trên một khu vực, số NNT nhiều sẽ giảm bớt chi phí trên một đồng thuế thu được, ngược lại có ít NNT và số thuế thu được ít thì chi phí cho một đồng thuế thu được sẽ cao Khi NNT đang gặp khó khăn trong việc SXKD thì việc thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước cũng sẽ

bị ảnh hưởng, sẽ khó khăn và ngược lại

c) Điều kiện sản xuất, kinh doanh

Điều kiện SXKD của NNT nói chung và của người nộp thuế TN và phí BVMT trong KTKS nói riêng cũng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc chấp hành nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước và đồng nghĩa với việc ảnh hưởng đến kết quả thu thuế của cơ quan thuế Khi NNT được SXKD trong một môi trường thuận lợi về cơ sở hạ tầng (giao thông, sự phát triển của các ngành nghề phụ trợ,

…), cơ chế chính sách, việc thực hiện các thủ tục hành chính,… sẽ nhanh chóng phát triển, tăng trưởng và khi đó sẽ nộp thuế, phí nhanh, đầy đủ hơn và ngược lại

Sự phát triển kinh tế sẽ đồng hành với sự phát triển của cơ sở hạ tầng phục

vụ cho công tác quản lý nói chung và công tác quản lý thuế nói riêng, khi cơ sở

hạ tầng tốt thì khả năng quản lý thuế cũng sẽ được đơn giản và hiệu quả hơn

2.1.5.3 Yếu tố thuộc về cơ chế chính sách Nhà nước

a) Hệ thống văn bản pháp luật

Sự thay đổi về hệ thống chính sách thuế TN, phí BVMT trong KTKS là tác động mang tính vĩ mô và sự tác động này mang ý nghĩa đối với công tác quản

lý thuế TN và phí BVMT

Trang 40

Thời điểm bắt đầu có quy định về thuế TN là năm 1990 với Pháp lệnh về thuế TN, những quy định mang tính chất khởi đầu và bao quát, tất yếu trong quá trình thực hiện nảy sinh nhiều vướng mắc, bất cập và yêu cầu được sửa đổi, bổ sung Năm 1998, Pháp lệnh thuế TN sửa đổi ra đời, có quy định chi tiết hơn, rõ ràng hơn về loại TNKS thuộc sở hữu của Nhà nước, về đối tượng chịu thuế, về căn cứ tính thuế, Tuy nhiên, trong quá trình thực thi vẫn phát sinh những vấn

đề vướng mắc, bất cập cần được bổ sung, sửa đổi, rất nhiều các Nghị định, Thông

tư hướng dẫn thi hành sửa đổi bổ sung và cho đến khi Luật thuế tài nguyên ra đời năm 2009 Sự ra đời của Luật thuế TN đánh dấu việc hệ thống hóa đối với chính sách pháp luật về thuế TN Và sau khi Luật thuế TN có hiệu lực, Bộ Tài chính cũng ra các văn bản hướng dẫn thi hành để hướng dẫn chi tiết

Với phí BVMT trong KTKS: Năm 2001 Pháp lệnh phí và lệ phí được ban hành Với 12 nhóm phí và 5 nhóm lệ phí, cơ bản Pháp lệnh đã bao quát được các loại phí, lệ phí phát sinh trong thực tiễn cuộc sống và hoạt động SXKD Tuy nhiên, tại thời điểm ra đời, Pháp lệnh không quy định về phí BVMT đối với KTKS Phải đến năm 2011, Chính phủ mới ban hành Nghị định số 74/2011/NĐ-

CP để quy định về phí BVMT đối với KTKS Mặc dù có nhiều văn bản hướng dẫn và đã nhiều lần được bổ sung, nhưng với diễn biến phức tạp của hoạt động khai thác TNKS, nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi TNKS ngày càng khan hiếm thì Nghị định số 74 và các văn bản hướng dẫn đã bộc lộ những điểm không hợp lý, chưa khuyến khích bảo vệ khoáng sản, BVMT và tạo kẽ hở để các đối tượng khai thác và trốn thuế Để vừa bảo vệ được TNKS, BVMT trong khi NSNN vẫn có số thu, được đảm bảo, tháng 2/2016, Chính phủ đã ban hành nghị định số 12/2016/NĐ-CP thay thế nghị định số 74/2011/NĐ-CP

Mỗi lần bổ sung, sửa đổi chính sách về thuế TN và phí BVMT là một lần giúp công tác quản lý thuế được hoàn thiện hơn Có những thay đổi tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan thuế nhưng lại thắt chặt các quy định trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế của NNT; có những thay đổi giúp cho NNT thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ thuế tốt hơn Nhưng nhìn chung, sự thay đổi về hệ thống chính sách có tác động đến cách thức quản lý thuế của cơ quan thuế

b) Quy định cách tính

Khoản thu thuế TN và phí BVMT trong KTKS chủ yếu dựa trên sản lượng, chất lượng, giá bán và thuế suất của TNKS Tuy nhiên, sản lượng tính thuế do tổ chức, cá nhân khai thác tự tính toán và kê khai Ngoài ra, giá bán thuế

Ngày đăng: 17/11/2018, 00:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w