1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

thành phần côn trùng và nhện lớn bắt mồi sâu cuốn lá đậu tương; đặc điểm sinh học, sinh thái của loài bọ chân chạy chlaenius posticalis motschulsky, vụ xuân và vụ hè thu năm 2015 tại gia lâm, hà nội

91 104 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 19,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM VŨ VĂN TOÀN THÀNH PHẦN CÔN TRÙNG VÀ NHỆN LỚN BẮT MỒI SÂU CUỐN LÁ ĐẬU TƯƠNG; ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI CỦA LOÀI BỌ CHÂN CHẠY CHLAENIUS NĂM 2015 TẠI GIA

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

VŨ VĂN TOÀN

THÀNH PHẦN CÔN TRÙNG VÀ NHỆN LỚN BẮT MỒI SÂU CUỐN LÁ ĐẬU TƯƠNG; ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI CỦA LOÀI BỌ CHÂN CHẠY CHLAENIUS

NĂM 2015 TẠI GIA LÂM, HÀ NỘI

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Đình Chiến

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận văn này được hoàn thành bằng sự nhận thức chính xác của bản thân

Các số liệu trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác

Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được ghi rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Vũ Văn Toàn

Trang 3

Tôi xin chân thành cám ơn các thầy giáo, cô giáo Bộ môn Côn trùng, Khoa nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tạo điều kiện góp ý, chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ sự biết ơn chân thành tới gia đình, đồng nghiệp và các bạn đã luôn bên tôi, giúp đỡ tôi về vật chất cũng như động viên tinh thần trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Vũ Văn Toàn

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục bảng v

Danh mục hình vii

Trích dẫn luận văn ix

Thesis abstract xi

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Phạm vi nghiên cứu 2

1.4 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2

Phần 2 Tổng quan tài liệu 4

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4

2.2 Những nghiên cứu trên thế giới 5

2.2.1 Tình hình sản xuất đậu tương 5

2.2.2 Tình hình gây hại của sâu cuốn lá đậu tương 6

2.2.3 Thành phần thiên địch của sâu cuốn lá đậu tương 7

2.2.4 Những nghiên cứu về bọ chân chạy 8

2.3 Những nghiên cứu trong nước 10

2.3.1 Tình hình sản xuất đậu tương 10

2.3.2 Tình hình gây hại của sâu cuốn lá đậu tương 11

2.3.3 Thành phần thiên địch của sâu cuốn lá đậu tương 12

2.3.4 Những nghiên cứu về bọ chân chạy 14

Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 18

3.1 Địa điểm nghiên cứu 18

3.2 Thời gian nghiên cứu 18

3.3 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 18

3.3.1 Đối tượng nghiên cứu 18

Trang 5

3.3.2 Vật liệu nghiên cứu 18

3.4 Nội dung nghiên cứu 19

3.5 Phương pháp nghiên cứu 19

3.5.1 Phương pháp điều tra thành phần sâu cuốn lá đậu tương, côn trùng và nhện lớn bắt mồi sâu cuốn lá đậu tương 19

3.5.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của loài bọ chân chạy C posticalis 20

3.6 Phương pháp bảo quản, định loại mẫu vật 22

3.7 Phương pháp xử lý số liệu 22

Phần 4 Kết quả và thảo luận 25

4.1 Kết quả nghiên cứu 25

4.1.1 Thành phần sâu cuốn lá đậu tương thuộc bộ cánh vảy Lepidoptera trên đậu tương năm 2015 tại Gia Lâm, Hà Nội 25

4.1.2 Thành phần thiên địch của sâu cuốn lá đậu tương trên vụ đậu tương năm 2015 tại Gia Lâm, Hà Nội 26

4.1.3 Diễn biến mật độ sâu cuốn lá H indicata và bọ chân chạy C posticalis trên đậu tương vụ Xuân, vụ Hè thu tại xã Văn Đức và xã Cổ Bi, Gia Lâm, Hà Nội 28

4.1.4 Đặc điểm hình thái của bọ chân chạy Chlaenius posticalis Motschulsky 40

4.1.5 Đặc điểm sinh học của bọ chân chạy C posticalis 46

4.1.6 Thời gian phát dục các pha và vòng đời của bọ chân chạy C posticalis 48

4.1.7 Sức đẻ trứng của trưởng thành bọ chân chạy C posticalis 50

4.1.8 Nhịp điệu sinh sản của bọ chân chạy C posticalis 51

4.1.9 Sức ăn sâu cuốn lá đậu tương (H indicata) của bọ chân chạy C posticalis 52

4.1.10 Thời gian sống của trưởng thành bọ chân chạy C posticalis 53

4.1.11 Tỷ lệ sống sót qua các pha phát dục của bọ chân chạy C posticalis 54

4.2 Thảo luận 54

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 56

5.1 Kết luận 56

5.2 Đề nghị 57

Tài liệu tham khảo 58

Phụ lục 65

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 4.1 Thành phần sâu cuốn lá đậu tương thuộc bộ cánh vảy trên đậu tương

năm 2015 tại Gia Lâm, Hà Nội 25

Bảng 4.2 Thành phần thiên địch của sâu cuốn lá trên đậu tương năm 2015 tại Gia Lâm, Hà Nội 27

Bảng 4.3 Diễn biến mật độ trưởng thành bọ chân chạy C posticalis trên đậu tương vụ Xuân tại Văn Đức, Gia Lâm, Hà Nội 29

Bảng 4.4 Diễn biến mật độ trưởng thành bọ chân chạy C posticalis trên đậu tương vụ Hè thu tại Văn Đức, Gia Lâm, Hà Nội 30

Bảng 4.5 Diễn biến mật độ sâu non cuốn lá H indicata và ấu trùng bọ chân chạy C posticalis trên ruộng đậu tương vụ Xuân tại Văn Đức, Gia Lâm, Hà Nội 31

Bảng 4.6 Diễn biến mật độ sâu non cuốn lá H indicata và ấu trùng bọ chân chạy C posticalis trên ruộng đậu tương vụ Hè thu tại Văn Đức, Gia Lâm, Hà Nội 32

Bảng 4.7 Diễn biến mật độ trưởng thành bọ chân chạy C posticalis trên đậu tương vụ Xuân tại Cổ Bi, Gia Lâm, Hà Nội 34

Bảng 4.8 Diễn biến mật độ của trưởng thành bọ chân chạy C posticalis trên đậu tương vụ Hè thu tại Cổ Bi, Gia Lâm, Hà Nội 35

Bảng 4.9 Diễn biến mật độ sâu non cuốn lá H indicata và ấu trùng bọ chân chạy C posticalis trên ruộng đậu tương vụ Xuân tại Cổ Bi, Gia Lâm, Hà Nội 36

Bảng 4.10 Diễn biến mật độ sâu non cuốn lá H indicata và ấu trùng bọ chân chạy C.posticalis trên ruộng đậu tương vụ Hè thu tại Cổ Bi, Gia Lâm, Hà Nội 39

Bảng 4.11 Kích thước các pha của bọ chân chạy C poscalis 44

Bảng 4.12 Thời gian phát dục các pha và vòng đời của bọ chân chạy C posticalis 48

Bảng 4.13 Sức đẻ trứng của trưởng thành bọ chân chạy C posticalis 50

Bảng 4.14 Nhịp điệu sinh sản của bọ chân chạy C posticalis 51

Bảng 4.15.Sức ăn sâu cuốn lá đậu tương H indicata của bọ chân chạy C posticalis 52

Trang 7

Bảng 4.16 Thời gian sống của trưởng thành bọ chân chạy C posticalis trong điều

kiện có thức ăn và không có thức ăn 53

Bảng 4.17 Tỷ lệ sống sót các pha phát dục của bọ chân chạy C posticalis 54

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Dụng cụ nghiên cứu 19

Hình 2.2 Khu vực nghiên cứu 19

Hình 4.1 Sâu cuốn lá đầu nâu Hedyleptera indicata Fabr 26

Hình 4.2 Sâu cuốn lá đầu đen Archips asiaticus Walsingham 26

Hình 4.3 Nhện sói Lycosa pseudoannulata B.et Str 28

Hình 4.4 Bọ chân chạy đuôi cánh hình mũi tên Chlaenius micans Fabr 28

Hình 4.5 Bọ chân chạy đuôi cánh 2 chấm vàng Chlaenius poticaliss Chaudoir 28

Hình 4.6 Bọ chân chạy đuôi cánh 2 chấm trắng Chlaenius bioculatus Chaudoir 28

Hình 4.7 Diễn biến mật độ trưởng thành bọ chân chạy C posticalis trên đậu tương vụ Xuân tại Văn Đức, Gia Lâm, Hà Nội 29

Hình 4.8 Diễn biến mật độ trưởng thành bọ chân chạy C posticalis trên đậu tương vụ Hè thu tại Văn Đức, Gia Lâm, Hà Nội 31

Hình 4.9 Mối quan hệ giữa diễn biến mật độ sâu non cuốn lá H indicata và ấu trùng bọ chân chạy C posticalis trên đậu tương vụ Xuân tại Văn Đức, Gia Lâm, Hà Nội 32

Hình 4.10 Mối quan hệ giữa diễn biến mật độ sâu non cuốn lá H indicata và ấu trùng bọ chân chạy C posticalis trên đậu tương vụ Hè thu tại Văn Đức, Gia Lâm, Hà Nội 33

Hình 4.11 Diễn biến mật độ của trưởng thành bọ chân chạy C posticalis trên đậu tương vụ Xuân tại Cổ Bi, Gia Lâm, Hà Nội 35

Hình 4.12 Diễn biến mật độ của trưởng thành bọ chân chạy C posticalis trên đậu tương vụ Hè thu tại Cổ Bi, Gia Lâm, Hà Nội 36

Hình 4.13 Mối quan hệ giữa diễn biến mật độ sâu non cuốn lá H indicata và ấu trùng bọ chân chạy C posticalis trên đậu tương vụ Xuân tại Cổ Bi, Gia Lâm, Hà Nội 37

Hình 4.14 Mối quan hệ giữa diễn biến mật độ sâu non cuốn lá H indicata và ấu trùng bọ chân chạy C posticalis trên đậu tương vụ Hè thu tại Cổ Bi, Gia Lâm, Hà Nội 39

Hình 4.15 Ấu trùng của bọ chân chạy C posticalis đang ăn sấu cuốn lá H indicata 40

Hình 4.16 Trứng của bọ chân chạy C posticalis 40

Trang 9

Hình 4.17 Ấu trùng của bọ chân chạy C posticalis tuổi 1 đang lột xác 42

Hình 4.18 Ấu trùng của bọ chân chạy C posticalis tuổi 2 vừa lột xác 42

Hình 4.19 Nhộng của bọ chân chạy C posticalis 43

Hình 4.20 Trưởng thành của bọ chân chạy C posticalis vừa vũ hóa 43

Hình 4.21 Trứng của bọ chân chạy C posticalis 45

Hình 4.22 Ấu trùng tuổi 1 của bọ chân chạy C posticalis 45

Hình 4.23 Ấu trùng tuổi 2 của bọ chân chạy C posticalis 46

Hình 4.24 Ấu trùng tuổi 3 của bọ chân chạy C posticalis 46

Hình 4.25 Nhộng của bọ chân chạy C posticalis 46

Hình 4.26 Trưởng thành đực của bọ chân chạy C posticalis 46

Hình 4.27 Trưởng thành cái của bọ chân chạy C posticalis 46

Hình 4.28 Trưởng thành bọ chân chạy C posticalis đang giao phối 48

Hình 4.29 Nhộng bọ chân chạy C posticalis đang lột xác 48

Hình 4.30 Vòng đời của bọ chân chạy C posticalis 49

Hình 4.31 Nhịp điệu sinh sản của bọ chân chạy C posticalis 52

Trang 10

TRÍCH DẪN LUẬN VĂN Tên tác giả: Vũ Văn Toàn

Tên luận văn: Thành phần côn trùng và nhện lớn bắt mồi sâu cuốn lá đậu

tương; Đặc điểm sinh học, sinh thái của loài bọ chân chạy Chlaenius posticalis

Motschulsky, vụ Xuân và vụ Hè thu năm 2015 tại Gia Lâm, Hà Nội

Phương pháp nghiên cứu

Điều tra thành phần côn trùng và nhện lớn bắt mồi sâu cuốn lá đậu tương theo phương pháp điều tra cơ bản dịch hại nông nghiệp theo quy chuẩn QCVN 01-168: 2014/BNNPTNT

Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái loài C posticalis thực hiện

trong phòng thí nghiệm và ngoài đồng ruộng theo phương pháp của Trần Đình Chiến (2002)

Kết quả chính và kết luận

Thành phần sâu cuốn lá trên đậu tương vụ Xuân và vụ Hè thu năm 2015 ở Gia Lâm, Hà Nội gồm 2 loài sâu cuốn lá thuộc bộ cánh vảy (Lepidoptera) trong đó sâu cuốn

lá đầu nâu Hedyleptera indicata Fabr là loài gây hại chính

Thành phần côn trùng và nhện lớn bắt mồi sâu cuốn lá đậu tương có 17 loài

thuộc 3 bộ, 9 họ Trong số đó, loài C posticalis, bọ chân chạy đen Hapalus sinicus Hope, loài Lycosa pseudoannulata là những loài phổ biến nhất

Nuôi sinh học loài bọ chân chạy C posticalis ta thu được kết quả về vòng đời của

chúng là trứngtrung bình là 4,07 ± 0,09 ngày, ấu trùng tuổi 1 trung bình là 3,22 ± 0,08 ngày; tuổi 2 trung bình là 3,17 ± 0,07ngày; tuổi 3 trung bình là 9,76 ± 0,15ngày; nhộng trung bình là 4,29 ± 0,11 ngày; vòng đời trung bình là 33,41 ± 0,28 ngày Sức đẻ trứng của một trưởng thành cái trung bình là 43,9 ± 1,27 quả

Trang 11

Tỷ lệ sống sót trung bình qua các pha phát dục ở nhiệt độ trung bình 28,070C, độ

ẩm trung bình là 86,79%: tỷ lệ trứng nở là 80,95%, ấu trùng tuổi 1 là 72,55%,, ấu trùng tuổi 2 là 78,38%,, ấu trùng tuổi 3 là 72,41%, tỷ lệ nhộng vũ hóa trưởng thành là

76,19% Sức ăn sâu cuốn lá đậu tương (H indicata) của ấu trùng bọ chân chạy C

posticalis lớn nhất là ấu trùng tuổi 3 trung bình là 4,01 ± 0,63 con/ngày Trưởng thành

có sức ăn mồi cao nhất, trưởng thành đực là 5,86 ± 0,71con/ngày ít hơn trưởng thành cái

là 6,88 ± 0,75 con/ngày

Trên ruộng đậu tương luôn tồn tại thiên địch của sâu cuốn lá H indicata nên bảo vệ và khích lệ chúng để khống chế số lượng sâu cuốn lá H indicata, C posticalis là loài động vật ăn thịt quan trọng đối với sâu cuốn lá đậu tương H indicata để phát huy

được vai trò của nó chúng ta cần giảm thiểu tối đa thuốc hóa học trên ruộng đậu tương

Trang 12

THESIS ABSTRACT Master candidate: Vu Van Toan

Thesis title: Composition of predacious insects and spiders of soybean leaf folders;

Biological, ecological characteristics of Chlaenius posticalis Motschulsky, spring and

summer in 2015, Gia Lam, Ha Noi

Major: Plant protection Code: 60 62 01 12

Education organization:: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)

Research objectives

Study on biological, ecological characteristics of Chlaenius posticalis

Motschulsky, spring and summer in 2015, Gia Lam, Ha Noi

Materials and Methods

- Monitoring the composition of insect pests was conducted according to the national standard by QCVN 01-168: 2014/BNNPTNT

- Biological, ecological characteristics of C poslicalis according to Tran Dinh

Chien 2002)

- Effect of prey suply on C posticalis according to Tran Dinh Chien (2002)

Main findings and conclusions

The composition of soybean leaf folders in spring-summer in 2015, Gia Lam, Hanoi including 2 species leaf folders of Lepidoptera, in which the leaf folder

Hedyleptera indicata Fabr was the most comon species

The composition of predacious insects and spiders of soybean leaf

including 17 species belong to 3 orders, 9 families Among them, the C posticalis,

Hapalus sinicus Hope, Lycosa pseudoannulata were the most comon predacious species The biological characteristics of C posticalis have resulted: the eggs was

4.07 ± 0.09 days, the 1st instar was : 3.22 ± 0.08 days; the 2nd instar was: 3.17 ± 0,07 days; the 3 rd instar was: 9.76 ± 0,15 days; the pupae was 4.29 ± 0.11 days The lifecycle

of C posticalis was : 33.41 ± 0.28 days The fecundity of female was 43.9 ± 1.27 eggs The survival rates of C poslicalis was: egg was 80.95%; the 1st instar was 72,55%; the 2nd instar was 78,38%; the 3rd instar was 72,41%; the pupae was 76,19%

Trang 13

The C poslicalis to eat soybean leaf folders H indicata of the 3rd instars was average 4,01 ± 0,63 instar/days In which the males adult eated 5,86 ± 0,71 instar/days less than the female adult eated 6,88 ± 0,75 instar/days

The soybean fields always had predacious insects and spiders of soybean leaf

folders H indicata should be protect and encourage them to control the amount soybean leaf folders The C posticalis was an important predator species of soybean leaf folders

Trang 14

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Cây đậu tương (Glycine max (L.) Merril) là cây công nghiệp, cây thực

phẩm quan trọng có giá trị dinh dưỡng cao được các nhà khoa học xếp vào một trong những cây trồng thuộc dạng “thực phẩm chức năng” và đóng vai trò thiết yếu để nâng cao tiêu chuẩn thực phẩm cho con người ở những nước đang phát triển Sản phẩm của cây đậu tương được sử dụng hết sức đa dạng như cung cấp thực phẩm cho người, nguyên liệu cho công nghiệp, mặt hàng xuất khẩu có giá trị, thức ăn cho gia súc và là cây cải tạo đất tốt

Hạt đậu tương là loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng, được đánh giá bằng hàm lượng protein và lipit Với hàm lượng protein từ 38-40%, lipit từ 18-20%, hydrat cacbon từ 15-16%, giàu nguồn sinh tố, muối khoáng Lipit của đậu tương chứa một tỷ lệ cao các axit béo chưa no (khoảng 60 - 70 %), có hệ số đồng hóa cao, mùi vị thơm như axit lionleic chiếm 52-65%, axit oleic chiếm 25-36%, axit lonolenoic chiếm 2-3% Ngoài ra, trong hạt đậu tương còn có nhiều loại vitamin

PP, A, C, E, D, K, đặc biệt là vitamin B1 và B2 Từ hạt đậu tương người ta đã chế biến ra được trên 600 sản phẩm khác nhau, hơn 300 loại thức ăn bằng phương pháp cổ truyền, thủ công, hiện đại dưới các dạng tươi, khô, lên men,… như làm giá, bột, tương, đậu phụ, đậu hũ, pate,… Ngoài ra, đậu tương còn là vị thuốc chữa bệnh có tác dụng tốt cho gan, thận, tim, dạ dày; các chất lexithin, cazein trong hạt đậu tương có thể dùng riêng hoặc phối hợp làm thuốc bổ dưỡng Ở nhiều nước phát triển người ta còn sử dụng đậu tương vào các ngành công nghiệp khác như chế biến cao su nhân tạo, sơn, mực in, xà phòng,… (Phạm Văn Thiều, 2009) Cho đến nay, trên thế giới cũng như ở Việt Nam đều chú trọng phát triển cây đậu tương Đậu tương được trồng trên khoảng 6% diện tích đất canh tác trên thế giới, từ những năm 1970, diện tích sản xuất đậu tương có tỷ lệ tăng cao nhất

so với bất kỳ loại cây trồng chính khác Sản lượng đậu tương là 17 triệu tấn (1960) và tăng lên 230 triệu tấn (2008) Sản xuất đậu tương trong tương lai dự

kiến sẽ tăng hơn các cây trồng khác (Glen et al., 2011)

Do có nhiều công dụng và dễ sử dụng nên cây đậu tương được trồng rộng rãi trong nhân dân Tuy vậy, việc quy hoạch sản xuất tập trung đậu tương gặp

Trang 15

nhiều khó khăn Trong các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất sản lượng đậu tương như: giống, phân bón, kỹ thuật trồng trọt, sâu bệnh hại, điều kiện khí hậu, công nghệ sau thu hoạch,… thì yếu tố sâu hại tác động khá mạnh mẽ, dưới sự biến động thất thường của điều kiện thời tiết, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của nhiều loài sâu hại cây đậu tương như: sâu khoang, ruồi đục thân, sâu xanh, sâu cuốn lá, rệp muội….Trong đó, đối tượng sâu cuốn lá đậu tương là dịch hại quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến năng suất cây đậu tương Hiện nay, phòng trừ đối tượng này chủ yếu bằng phương pháp hóa học, ngoài mặt tích cực là đem lại hiệu quả nhanh nó còn làm ảnh hưởng sâu sắc đến hệ sinh thái, tiêu diệt thiên địch, để lại dư lượng thuốc trên nông sản, ảnh hưởng đến sức khỏe con người Biện pháp được xem là hiệu quả và khắc phục được những nhược điểm riêng lẻ là biện pháp phòng chống dịch hại tổng hợp IPM Một trong những biện pháp tích cực và có xu hướng phát triển hiệ nay là biện pháp sinh học việc sử dụng kẻ thù tự nhiên đã góp phần kiểm soát thành phần sâu hại trên cây đậu tương Để góp phần giải quyết một trong những vấn đề của thực tiễn nói trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Thành phần côn trùng và nhện lớn bắt mồi sâu cuốn lá đậu tương;

Đặc điểm sinh học, sinh thái của loài bọ chân chạy Chlaenius posticalis

Motschulsky, vụ Xuân và vụ Hè thu năm 2015 tại Gia Lâm, Hà Nội”

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Trên cơ sở điều tra xác định thành phần sâu cuốn lá đậu tương và thiên địch (côn trùng và nhện lớn bắt mồi) của chúng, đồng thời nắm được đặc tính sinh học, sinh thái của loài thiên địch phổ biến trên sâu cuốn lá đậu tương từ đó đề xuất biện pháp phòng chống sâu cuốn lá đậu tương đạt hiệu quả kinh tế và môi trường

1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đề tài được nghiên trên đối tượng côn trùng và nhện lớn bắt mồi của sâu

cuốn lá đậu tương Hedylepta indicata Fabr., trong đó đi sâu nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái loài bọ chân chạy đuôi cánh 2 chấm vàng Chlaenius

posticalis Motschulsky

1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN

Bổ sung thêm số liệu khoa học về thành phần loài họ cánh cứng chân chạy (Coleoptera: Carabidae) ở Gia Lâm, Hà Nội tập trung trên quần thể đậu tương Những dẫn liệu khoa học này góp phần nghiên cứu tính đa dạng của họ

Trang 16

Carabidae vùng Gia Lâm, Hà Nội

Đề cập đến một số đặc điểm sinh học, sinh thái học của loài Chlaenius

posticalis Motschulsky - loài bọ chân chạy phổ biến trên sinh quần đậu tương; điều này góp phần làm cơ sở khoa học cho việc xây dựng các biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp trong hệ sinh thái nông nghiệp, bảo vệ cây trồng

Trang 17

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

Như chúng ta đã biết, trong hệ sinh thái đồng ruộng luôn tồn tại nhiều mối quan hệ giữa sinh vật với cây trồng và điều kiện môi trường Chúng có mối quan

hệ khăng khít, không ngừng tác động quan lại lẫn nhau để tồn tại Số lượng quần thể của mỗi loài không thể tăng lên hay giảm đi vô hạn mà được điều hòa bởi các yếu tố vô sinh như nhiệt độ, ẩm độ, ánh sáng, lượng mưa… và các yếu tố hữu sinh như cây trồng, thiên địch,… cũng như các tác động của con người (Phạm Văn Lầm, 2007)

Quần thể sâu hại đậu tương cũng chịu ảnh hưởng như vậy, trong đó tác động của con người có ảnh hưởng đến chúng thông qua việc bố trí thời vụ gieo trồng, kỹ thuật canh tác và đặc biệt là việc sử dụng thuốc BVTV Việc điều khiển quần thể sinh vật theo hướng có lợi cho con người dựa vào sự hiểu biết đầy đủ về đặc điểm sinh học của sâu hại chính cũng như các quy luật tương tác trong quan

hệ của chúng với các nhân tố môi trường xung quanh Số lượng cá thể của nhiều loài côn trùng thường có sự dao động lớn từ thế hệ này sang thế hệ khác (Trần Đình Chiến, 2002)

Trần Văn Điền (2007) đã chỉ ra rằng sâu cuốn lá (Lamprosema indicata) rất

phổ biến ở các vùng trồng đậu tương Sâu phá hại lá bánh tẻ từ giai đoạn cây con cho đến khi có quả non Sâu phá hỏng làm giảm diện tích quang hợp của cây từ

đó làm ảnh hưởng đến năng suất đậu tương

Viện nghiên cứu đậu tương ở Trung Quốc năm 2012 cho biết sâu cuốn lá

(Lamprosema indicata Fabricius) là một trong những loài côn trùng ăn lá lớn có

ảnh hưởng đến cây trồng đậu tương ở miền Trung và miền Nam Trung Quốc

(Xing et al., 2012)

Việc sử dụng thuốc trừ sâu phòng trừ sâu cuốn lá đậu tương thường xuyên

và liên tục dẫn đến việc tiêu diệt phần lớn các loài thiên địch, khiến cho chúng không còn đủ khả năng khống chế sự phát triển của sâu hại nên sâu hại càng phát sinh với mật độ cao hơn trước Đồng thời nhiều loài sâu hại thứ yếu phát triển trở thành đối tượng gây hại chủ yếu

Như vậy, chúng ta cần phải có những nghiên cứu cụ thể về tình hình phát sinh gây biến động mật độ của các loài dịch hại trên đậu tương và các loài thiên

Trang 18

địch của chúng Dựa trên cơ sở đó có các biện pháp phòng trừ hiệu quả mà vẫn đảm bảo sự cân bằng sinh thái và bảo vệ môi trường

2.2 NHỮNG NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI

2.2.1 Tình hình sản xuất đậu tương

Trong những năm 1961-2007 việc sản xuất đậu tương thế giới tăng 4,6% mỗi năm và trong năm 2005-2007 đạt được sản lượng trung bình hàng năm là 217.600.000 tấn Sản thế giới của đậu nành được dự đoán sẽ tăng 2,2% mỗi năm đến 371.300.000 tấn vào năm 2030 (Tadayoshi and Peter, 2009)

Năm 2014 tỷ lệ thu hoạch để trồng diện tích cho tất cả đậu tương của Mỹ được là 98,7%, giảm so với năm 2013 (99,1%), nhưng lớn hơn năm 2011 (98,3%), bằng với năm 2012 (98,7%) Tỷ lệ diện tích trồng đậu tương trung bình của Mỹ trong những năm 2004-2013 đã được 98,7%, cao hơn so với năm 2011 (98,3%), thấp hơn so với năm 2007-2013 (99,1%) (Daniel, 2014)

Mức sử dụng đậu tương trong nước Trung Quốc đã tăng từ 76,2 triệu tấn (2012-2013) đến 80,1 triệu tấn (2013-2014) chiếm 29,3% đậu tương sử dụng của thế giới, dự kiến niên vụ 2014-2015 sẽ tăng lên 85,0 triệu tấn Tuy nhiên, sản xuất đậu tương trong nước chỉ 12,0-13,1 triệu tấn trong 3 năm trở lại đây, nhỏ hơn nhiều so với mức độ sử dụng trong nước Vì vậy, Trung Quốc đã buộc phải chi ra một khoản tiền lớn để nhập khẩu đậu tương phục vụ nhu cầu trong nước (Daniel, 2014)

Nhu cầu về đậu tương trên thị trường thế giới ngày càng tăng cao, do dân số toàn cầu tăng lên, kéo theo sự gia tăng nhu cầu lương thực, thực phẩm, cộng với mức sống, sức mua người tiêu dùng không ngừng được cải thiện, chủ yếu ở các nước kinh tế mới nổi ở châu Á như Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam, các nước ASEAN Nhu cầu nhập khẩu đậu tương trên thị trường thế giới có thể đạt trên

110 triệu tấn vào năm 2015, tăng 10,97% so với năm 2014 (Sở công thương tỉnh

Ninh Bình, 2015)

Theo thống kê của Cơ quan USDA Mỹ thì Braxin là nước đứng đầu về sản lượng đậu tương năm 2013 với 90 triệu tấn, cao hơn sản lượng của Mỹ (89,5 triệu tấn) Năm 2014, Braxin xuất khẩu 45,8 triệu tấn đậu tương, đem lại nguồn thu ngoại tệ trên 31 tỷ USD.Trong vòng 3 thập kỷ gần đây, diện tích gieo trồng đậu tương ở Braxin tăng cao, đạt 30,135 triệu ha, chiếm 49% tổng diện tích gieo trồng ngũ cốc Đậu tương được gieo trồng chủ yếu ở vùng miền Trung, miền Tây

Trang 19

và miền Nam Braxin Hạt đậu tương được chế biến chủ yếu để làm thức ăn gia súc, gần đây đậu tương được sử dụng làm thực phẩm cho người đã tăng lên (Bộ công thương Việt Nam, 2015)

2.2.2 Tình hình gây hại của sâu cuốn lá đậu tương

Nhận thức tầm quan trong của đậu tương, diện tích trồng đậu tương trên thế giới ngày càng được mở rộng, chất lượng, năng suất của đậu tương được cải thiện Tuy nhiên, các loài sâu hại đặc biệt là sâu cuốn lá có ảnh hưởng trực tiếp tới năng suất, phẩm chất đậu tương Vì vậy, việc xác định thành phần sâu cuốn lá đậu tương là một trong những vấn đề hết sức quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả phòng trừ, làm giảm thiệt hại do chúng gây ra Cho đến nay trên thế giới đã

có rất nhiều công trình nghiên cứu về sâu cuốn lá đậu tương

Ching et al (1984) cho biết trong năm 1980 – 1981 sâu cuốn lá Hedylepta

indicata (Fabr.) (Lepidoptera: Pyralidae) rất phổ biến trong các khu vực trồng đậu tương trong Wanfeng, Taichung Mật độ quần thể sâu cuốn lá trong vụ hè ít hơn trong vụ xuân và vụ thu

Mayura (1994) ghi nhận cây đậu tương được trồng thí nghiệm tại bộ môn

Kỹ thuật quản lý dịch hại, Khoa Công nghệ Nông nghiệp, Viện King Mongkut của Bangkok, từ tháng 10 năm 1993 đến tháng 3 năm 1994, tìm thấy một số loài

sâu hại chính là: Ophiomyia phaseoli (Tryon), trong giai đoạn cây con sâu cuốn

lá đậu tương (Lamprosema indicata F.) và (Archips micaceana Walker), sâu khoang (Spodoptera litura Fabr.), Lampides boeticus L., Nezara viridula (L.),

Riptortus linearis Fabr., sâu đục quả đậu (Maruca testulalis Geyer) trong giai đoạn

ra hoa

Tại Nam Kinh năm 1990-1994 đã thấy 49 loài côn trùng thuộc 5 bộ: bộ cánh cứng (Coleoptera), bộ cánh nửa (Hemiptera), Bộ cánh đều (Homoptera), bộ cánh vảy (Lepidoptera), bộ cánh thẳng (Orthoptera) Trong đó, có một số loài

tương đối quan trọng Plusia adnata Saudinger, Cifuna locuples Walker, Clanis

bilineata Walker, Megacopta cribraria Fabricius, Paraluperodes suturalis

nigrobilineatus Motschulsky,…có 3 loài quan trọng nhất làm ảnh hưởng lớn nhất

đến năng suất, chất lượng đậu tương là sâu cuốn lá đậu tương (Lamprosema

indicata Fabricius), sâu đo (Ascotis selenaria), sâu khoang (Prodenia litura

Fabricius) thông qua điều tra thực địa và đặt bẫy trong những năm 1983-1984;

1990-1994 (Cui et al., 1997)

Trang 20

Dựa trên điều tra đậu tương vùng ngoại ô Phúc Châu, Mei et al (2008) đã

xác định được 60 loài sâu hại bao gồm: bộ cánh vảy (Lepidoptera), bộ cánh cứng (Coleoptera), bộ cánh thẳng (Orthoptera), bộ hai cánh (Diptera), bộ cánh đều

(Homoptera) Các loài gây hại quan trọng thứ nhất là: Aphis glycines, Megacopta

cribraria, Bemisia tabaci, Etiella zinckenella Các loài gây hại quan trọng thứ 2

là: Prodenia litura, Autographa nigrisigna, Riptortus pedestris, Porthesia

scintillans, Lamprosema indicata

Phòng thí nghiệm của Trung tâm nghiên cứu hạt có dầu (ORC) tại Viện nghiên cứu Nông nghiệp Bangladesh (BARI), Joydebpur, Gazipur cũng nghiên cứu về sự gây hại cùng biện pháp quản lý sâu cuốn lá đậu tương trong các mùa

vụ của những năm 2007 - 2008; 2008 - 2009 Sâu cuốn lá phá hoại đã được quan sát trong tuần thứ 3 của tháng thứ nhất ở giai đoạn cây ra lá, ra hoa (45-60 ngày sau gieo) và tiếp tục đến trước ngày thu hoạch (125-135 ngày sau khi gieo) Mật

độ quần thể sâu cuốn lá (0,9-1,00 con/cây trong năm 2008,2009) và cuối tháng 2 khi cây hình thành quả (110 - 130 ngày sau gieo) gây hại năm 2008 đối với cây là 90%, năm 2009 là 95 % (Biswas and Rabiul, 2012)

Biswas (2013) ghi nhận trong năm 2010 và 2011 tại khu vực Noakhali của Bangladesh từ tháng 1 đến tháng 5 có 39 loài côn trùng gây hại trên cây đậu tương ở các giai đoạn sinh trưởng, trong số các loài sâu hại được ghi nhận có 6

loài phổ biến là: sâu róm (Spilarctia obliqua Walker); sâu cuốn lá (Lamprosema

indicata F); sâu khoang (Spodoptera litura F.); sâu xanh đục quả cà chua (Helicoverpa armigera Hubner); giòi đục thân (Ophiomyia phaseoli Tryon) và

bọ phấn trắng (Bemisia tabaci Genn.) chúng đều được coi là những loài gây hại

ảnh hưởng lớn đến năng suất, chất lượng đậu tương Hầu hết các loài gây hại xuất hiện trong giai đoạn ra lá, ra hoa (30-50 ngày sau khi gieo)

2.2.3 Thành phần thiên địch của sâu cuốn lá đậu tương

Tại Meghalaya (Ấn Độ) điều tra từ tháng 7 đến tháng 9 năm 1983, đã tìm thấy 8 loài ký sinh và 1 loài côn trùng bắt mồi được ghi nhận là tấn công sâu

hoặc nhộng của 2 loài sâu cuốn lá đậu Hedylepta indicata và Lamprosema

diemenalis Khả năng ký sinh từ 18-21,5% với trung bình 19,7% (Azad, 1985) Chen and Willson (1996) đã nghiên cứu thành phần bọ chân chạy trên cây đậu tương bằng cách đặt bẫy trong năm 1992-1993, tìm thấy 45 loài trong đó có

5 loài chiếm ưu thế, các loài Pterostichus chalcites Say, Anisodactylus

sanctaecrucis F., Scarites substriatus Haldeman, và Agonum punctiforme (Say)

Trang 21

xuất hiện nhiều ở đầu vụ, loài Pterostichus stygicus Say là phổ biến hơn cả ở

cuối vụ Điều kiện thời tiết, các mùa vụ trong năm là yếu tố chính ảnh hưởng đến hoạt động, thành phần loài, sự phong phú của bọ chân chạy từ năm này sang năm khác Mật độ quần thể bọ chân chạy cũng phụ thuộc vào mật độ của sâu cuốn lá đậu tương

Wilis (2000) tiến hành thí nghiệm tại Tatas, Trung Kalimantan và Transmigration, Belawang và Barambai, Nam Kalimantan, từ tháng 6 - tháng 9 năm

1994 Mục tiêu là để xác định loài sâu hại đậu tương và kẻ thù tự nhiên giữ vai trò kiểm soát mật độ sâu hại Kết quả thí nghiệm cho thấy một số loài sâu hại phổ biến

là: sâu khoang (Spodoptera litura F.), sâu cuốn lá đậu tương (Lamprosema

indicata F.) và Plusia chalcites Esp Từ đó tìm được 7 loài côn trùng bắt mồi và

10 loài ký sinh với khả năng ký sinh của Apanteles sp là 23,9-35,6%

Mei et al.(2008) đã điều tra toàn vùng, tìm được 83 loài thiên địch trên cây đậu tương, trong đó có 2 loài ký sinh quan trọng Encarsia sophia và Litomastix

maculates , một số loài côn trùng bắt mồi chủ yếu là: Paederus fuscipes,

Propylaea japonica, Erigonidium graminicolum , Grathonarium dentatum và

Theridion octomaculatum.

Ở Phúc Châu, Trung Quốc sâu cuốn lá Lamprosema indicata Fabricius

(Lepidoptera: Pyralidae) là loài sâu hại ảnh hưởng lớn đến năng suất cây đậu tương, chúng có 4-5 thế hệ Sâu non phát triển vào mùa đông đến giữa hoặc cuối tháng 4 chúng hóa nhộng Mật độ quần thể của sâu non cao nhất vào thế hệ thứ 1

và thứ 5 (cuối tháng 6, giữa hoặc cuối tháng 8, giữa hoặc cuối tháng 10) Mật độ quần thể trưởng thành đạt đỉnh cao vào thế hệ thứ 1, thứ 4 (giữa tháng 6, giữa tháng 7, đầu –cuối tháng 9, đầu tháng 10) Có 4 loài ký sinh chủ yếu: loài

Dolichogenidea sp (họ Braconidae), loài Xanthopimpla punctata Fabr (họ Ichneumonidae), loài Brachymeria lasus Walker và loài Exorista sorbillans Wiedemann Riêng loài Dolichogenidea sp là một kẻ thù tự nhiên chủ yếu của sâu cuốn lá L indicata và khả năng ký sinh cao nhất khoảng 80% nó giữ một vai trò quan trọng trong việc kiểm soát mật độ quần thể L.indicata (Mei et al 2011)

2.2.4 Những nghiên cứu về bọ chân chạy

Bọ chân chạy là một nhóm côn trùng vô cùng đa dạng của bộ cánh cứng (Coleoptera) gồm khoảng 34.000 loài trong số 1.927 chi trên toàn thế giới Chúng xuất hiện gần như tất cả trên các châu lục thu hút bởi hình dạng và màu sắc sặc sỡ Chúng sống và hoạt động mạnh về đêm và sáng sớm, trong những bụi

Trang 22

cỏ, lá cây rậm rạp là nơi trú ẩn tuyệt vời giúp chúng có thể tránh được nguy hiểm

và ánh sáng mặt trời Hầu hết bọ chân chạy sống trên bề mặt đất, trong đó có một

số loài sống trong đất (Anillina), trong các hang động (Trechini, Harpalini), hoặc trên các thảm thực vật (Zolini, Lebiini) (Larochelle and Lariviere, 2013)

Chi Chlaenius đẻ trứng thành từng bọc trong đất sét hoặc bùn, đẻ ở một nơi

cao trên các lá cây và cây bụi (King, 1919)

Kết quả nghiên cứu của Kuwayama and Oshima (1964) thì bọ chân chạy

Calosoma maderae chinense Kby là loài côn trùng bắt mồi quan trọng trong việc kìm hãm mật độ bộ cánh vảy (Lepidoptera) trên khắp nước Nhật, đặc biệt phong phú ở

Hokkaido Họ đã quan sát chúng tấn công ấu trùng của Agrotis ypsilon, A.informis,

A Segetum (fucosa Btlr.), Radinogoes (Athetis) và Mamestra brassicae (L.) tuổi

5-6 Các loại khác nhau của con mồi, trong đó có 42 loài thuộc bộ Lepidoptera, 3 loài thuộc bộ Coleoptera, 5 loài của bộ Orthoptera Trong số 16 loài bọ chân chạy

được tìm thấy có 5 loài chiếm vị trí quan trọng: Chlaenius posticalis Motsch.,

C pallipes Gebl., Carabus tuber culosus Dej.Boisd., C Granulatus yezoensis Bates

và Calathus halensis (Schall)

Katiyar et al (1976) khi nghiên cứu về thức ăn của chân chạy Chlaenius

bioculatus Chaudoir thấy rằng chúng thích ăn nhất loài Polytella gloriosae F Trong thời gian 3 năm (1994-1996) Melnychuk et al (2003) đã sử dụng bẫy

để thu thập các loài bọ chân chạy ở các trang trại phía Tây Canada và bắt được

51 loài trong đó có một số loài phổ biến như: Bembidion quadrimaculatum Leconte, Bembidion obscurellum Motschulsky, Agonum placidum Say, Amara

littoralis Mannerheim, Bembidion nitidum Kirby

Từ năm 1997 đến năm 1999, có 124 loài được tìm thấy tại trang trại trồng

nho ở Quebec, Canada Trong đó xuất hiện một số loài phổ biến chiếm ưu thế

Chlaenius sericeus (Forster), Clivina fossor (L.), Amara latior (Kirby),

và Harpalus herbivagus Hai loài mới định loại ở Châu Âu cũng xuất hiện phổ biến tại Canada giữa những năm 1997, 1999: loài Harpalus rufipes (Duftschmid) và

Pterostichus vernalis (Panzer) (Henri et al., 2004)

Suenaga and Hamamura (1998) chỉ ra rằng loài Chlaenius micans và

Chlaenius posticalis (đặc biệt là ấu trùng) là côn trùng bắt mồi quan trọng đối với

ấu trùng sâu tơ (Plutella xylostella L.), chúng có khả năng tiêu thụ vật mồi cao,

khả năng di chuyển trên các cây cả ở giai đoạn ấu trùng lẫn trưởng thành

Trang 23

Loài Chlaenius velutinus Duftschmid xuất hiện nhiều ở phía nam của bán

đảo Iberia Chúng được nghiên cứu về sinh học trong các phòng thí nghiệm, kết

quả điều tra ở khu vực Arenosillo thu được Chlaenius velutinus thường xuất hiện

nhiều vào mùa xuân, trong khoảng tháng 4 đến tháng 5, khả năng sinh sản một con cái có thể đẻ trung bình 10,05 quả/ngày, vòng đời khoảng 1 tháng khi nuôi

trong điều kiện nhân tạo (Cárdenas et al., 1999)

Hiroshi and Tetsuzo (2000) cho biết các loài bọ chân chạy hoạt động theo mùa vụ trên cây bắp cải trong năm 1994-1995, thấy rằng trưởng thành loài

Chlaenius micans F hoạt động vào tháng 5 - tháng 7 và tháng 9 tuy nhiên ấu trùng chỉ tìm thấy trong tháng 5 - tháng 7 Thời gian hoạt động mạnh của loài

Chlaenius micans F trùng với mật độ cao của ấu trùng sâu hại Như vậy, loài bọ

chân chạy Chlaenius micans F có thể kiểm soát khả năng gây hại của một số loài

sâu hại bắp cải

Zetto et al (2004) đã nghiên cứu hành vi hung hăng và ăn thịt đồng loại của

ấu trùng các loài bọ cánh cứng thuộc chi Chlaenius, đặc biệt là loài Chlaenius

velutinus và Chlaenius spoliatus việc ăn thịt lẫn nhau có thể lên đến 20-50 %,

hành vi này chịu sự chi phối của các yếu tố sinh thái (mật độ quần thể, thức ăn, tần suất bắt gặp)

2.3 NHỮNG NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC

2.3.1 Tình hình sản xuất đậu tương

Năm 2012, sản lượng đậu tương nước ta giảm 34,3% so với cùng kỳ năm trước, xuống còn 175,2 nghìn tấn do thời tiết lạnh khắc nghiệt vào cuối năm 2011

và đầu năm 2012 khiến cho năng suất, diện tích gieo trồng giảm mạnh Quy mô sản xuất vẫn còn tương đối nhỏ, tiếp tục không đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ trong nước USDA dự báo diện tích trồng đậu nành năm 2013 nước ta tăng khoảng 180 nghìn ha so với năm 2011 và sản lượng đạt ở mức 270.000 tấn Theo

số liệu thống kê chính thức, đậu nành đang được trồng tại 25 trong số 63 tỉnh thành cả nước, với khoảng 65% tại các khu vực phía Bắc và 35% tại các khu vực phía Nam Thủ tướng Chính phủ cũng đã phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển sản xuất ngành nông nghiệp đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 Theo

đó, diện tích đất quy hoạch khoảng 100 ngàn ha, tận dụng tăng vụ trên đất lúa để năm 2020 diện tích gieo trồng khoảng 350.000 ha, sản lượng 700.000 tấn; vùng sản xuất chính là đồng bằng sông Hồng, trung du miền núi phía Bắc, Tây Nguyên (Cục xúc tiến thương mại, 2013)

Trang 24

Quy mô sản xuất nhỏ lẻ so với các loại cây trồng khác chính là nguyên nhân khiến ngành đậu tương vẫn không đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ trong nước Tổ chức USDA (Bộ Nông nghiệp Mỹ) dự báo nếu điều kiện thời tiết thuận lợi, diện tích gieo trồng đậu tương năm 2013, 2014 lần lượt đạt 120 nghìn, 130 nghìn héc-

ta, với mức sản lượng tăng nhẹ khoảng 176 và 192 nghìn tấn Khu vực trồng đậu tương chính tập trung ở vùng Đồng bằng sông Hồng, miền Bắc nước ta Điều kiện thời tiết không thuận lợi đã khiến sản lượng đậu tương nước ta năm 2013 giảm 3% so với năm 2012, xuống còn 168 nghìn tấn Theo USDA, sản lượng đậu tương trong những năm tới sẽ tăng và đạt được mục tiêu mà Chính phủ đã đề ra trong Quy hoạch Tổng thể cho ngành hạt có dầu là 350 nghìn héc-ta diện tích trồng trọt, 700 nghìn tấn sản lượng vào năm 2020 Tuy nhiên, năng suất nhìn chung vẫn còn thấp, việc mở rộng diện tích trồng trọt của ngành chưa cao, trong

đó nguyên nhân chính là khả năng cạnh tranh của cây đậu tương (Cục xúc tiến thương mại, 2014)

Việt Nam đi lên từ nông nghiệp, có nhiều lợi thế về sản xuất nông sản và đậu tương Tuy vậy năm 2014 nước ta nhập khẩu khối lượng lớn đậu tương từ thị trường thế giới, trong đó có 538 ngàn tấn đậu tương của Braxin, giá trị đạt 305,2 triệu USD Nước ta có thể tăng cường quan hệ hợp tác với Braxin để trao đổi kỹ thuật chọn giống, canh tác gieo trồng và chế biến đậu tương để từng bước vươn lên tự chủ mặt hàng nông sản quan trọng này, đáp ứng nhu cầu chế biến thực phẩm và thức ăn gia súc ngày một gia tăng trong nước (Bộ công thương việt Nam, 2015)

2.3.2 Tình hình gây hại của sâu cuốn lá đậu tương

Ngô Đức Dương (1988) ghi nhận sâu cuốn lá đậu tương thường xuất hiện phá hại vào khoảng thời gian cuối tháng 6, cuối tháng 7 đến đầu tháng 8, chủ yếu hại đậu tương hè chính vụ

Sự biến động của quần thể sâu cuốn lá (Lamprosema indicata Fabr.) liên

quan đến các giai đoạn sinh trưởng của cây đậu tương Sâu cuốn lá xuất hiện trong suốt mùa vụ từ giai đoạn 1-2 lá kép đến khi thu hoạch, đạt mật độ cao và gây thiệt hại nặng nhất vào giai đoạn 4-5 lá kép, giai đoạn ra hoa tạo quả (Trần Đình Chiến, 1999)

Trần Đình Chiến và Đặng Thị Dung (2000) cho biết thành phần sâu hại trên đậu tương năm 1996-1999 ở Hà Nội và vùng phụ cận rất đa dạng và phong phú, gồm 69 loài thuộc 7 bộ, 28 họ côn trùng khác nhau Bộ có số loài phổ biến phong

Trang 25

phú nhất là bộ cánh vảy (Lepidoptera) trong đó sâu cuốn lá (Hedylepta indicata

Fabr.) là loài gây hại chủ yếu quan trọng nhất

Thành phần sâu cuốn lá đậu tương vùng Hà Nội và phụ cận trong những năm 1996-1999 thu được 6 loài thuộc 2 họ (Pyralidae và Tortricidae) của bộ cánh

vảy, loài chiếm chủ yếu là Hedylepta indicata (Fabricius) chiếm tới 87,92%

trong tổng số cá thể loài cuốn lá thu được (Đặng Thị Dung, 2002)

Nguyễn Văn Liêm và cs (2014) đã thu thập được 60 loài sâu hại đậu tương của 27 họ thuộc 6 bộ côn trùng và 1 bộ nhện nhỏ (Acarina) ở 3 khu vực

điều tra Ở miền Bắc, trong số các loài sâu hại thì sâu cuốn lá đậu Hedylepta

indicata Fabricius, sâu khoang Spodoptera litura Fabr., ruồi đục lá

Japanagromyza tristella Thomson,…là những loài tương đối phổ biến gây hại cho lá và quả đậu tương

2.3.3 Thành phần thiên địch của sâu cuốn lá đậu tương

Ở Việt Nam để đảm bảo lợi nhuận cao nhất mà tiết kiệm thời gian phòng trừ sâu hại đậu tương, nông dân chủ yếu áp dụng biện pháp hóa học ở mọi nơi trên đồng ruộng nên đã ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng tồn tại của các loài thiên địch

Trần Đình Chiến (1997) nghiên cứu thấy rằng thành phần thiên địch bắt mồi sâu hại đậu tương vùng Hà Nội và phụ cận gồm 46 loài thuộc 8 bộ, 17 họ Trong đó, bộ cánh cứng có số loài phong phú nhất (27loài), sau đó là bộ cánh nửa (6 loài), bộ nhện lớn (7 loài) Một số họ phổ biến là họ: Carabidae, Coccinellidae, Staphylinidae,…

Tiến hành nuôi bọ chân chạy Chlaenius bioculatus trong phòng thí nghiệm với nguồn thức ăn là sâu cuốn lá Lamprosema indicata ở nhiệt độ 86-870C độ ẩm

27,1-29,5% thì vòng đời của C.bioculatus là 32.04-33,36 ngày và trung bình 32,64±0,26 ngày Trưởng thành C bioculatus có 3 đợt sinh sản, mỗi đợt diễn ra

trong 3 ngày liên tục thu được trung bình 34,2±2,39 quả trứng Khả năng sinh sản của trưởng thành cái là 102,64 quả trứng (Trần Đình Chiến, 1999)

Đặng Thị Dung (1999) ghi nhận thành phần côn trùng ký sinh sâu hại đậu tương trong những năm 1996-1998 tại Hà Nội và các vùng phụ cận là 51 loài, hầu hết đều thuộc bộ cánh màng (46 loài) chỉ có 5 loài thuộc bộ hai cánh Diptera

Giai đoạn tiền trưởng thành của loài Trathala flavo-orbitalis trên sâu cuốn lá

Lamprosema indicata trong thời gian 19,31 ngày dưới điều kiện nhiệt độ, độ ẩm

Trang 26

trung bình là 26,300C và 83,06% Sự hiện diện của ấu trùng ong ký sinh Trathala

flavo-orbitalis trong cơ thể của ấu trùng sâu cuốn lá khiến giai đoạn sinh trưởng của sâu kéo dài hơn từ 2,1-2,4 lần

Trần Đình Chiến (2002) cho rằng trong một vụ đậu tương phun 4 lần thuốc trừ sâu sẽ ảnh hưởng đến mật độ quần thể nhện lớn bắt mồi, ảnh hưởng tới mật

độ bọ rùa Menochilus sexmaculatus Fabr 1 lần phun thuốc cũng đã ảnh hưởng tới mật độ quần thể loài bọ chân chạy Chlaenilus bioculatus Chaudoir

Trần Đình Chiến (2002) đã chỉ ra trong tổng số 104 loài bắt mồi thu được

có 86 loài côn trùng và 18 loài nhện thuộc 8 bộ côn trùng và 1 bộ nhện lớn Bộ có số loài phong phú nhất là bộ cánh cứng (58 loài) chiếm 55,77% so với tổng số loài điều tra, tiếp theo là bộ nhện lớn (18 loài) chiếm 17,31% sau đó là bộ cánh nửa (12 loài) chiếm 11,54%, bộ cánh da (4 loài) chiếm 3,85%, bộ cánh màng (4 loài) chiếm 3,85%, bộ hai cánh (3 loài) chiếm 2,88%, bộ chuồn chuồn (2 loài) chiếm 1,92%,

bộ bọ ngựa (2 loài) chiếm 1,92%, bộ cánh thẳng (1 loài) chiếm 0,96%

Đỗ Phương Lan (2007) ghi nhận bọ chân chạy 2 chấm trắng chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi thuốc hóa học, công thức đối chứng không phun mật độ: 6,5 con/m2; công thức phun 1 lần: 4,41 con/m2; công thức phun 2 lần: 2,26 con/m2, công thức phun 4 lần mật độ chỉ còn 0,7 con/m2

Hoàng Thị Hằng và Hà Quang Hùng (2007) cho biết thành phần côn trùng bắt mồi trên đậu tương vụ đông – xuân 2005 – 2006 tại Chương Mỹ, Hà Tây khá phong phú: vụ đông 2005 có 26 loài, vụ xuân 2006 có 33 loài, trong đó

bộ cánh cứng xuất hiện nhiều nhất, phổ biến là các loài thuộc họ bọ chân chạy Khả năng ăn sâu cuốn lá của bọ chân chạy đen là rất lớn, trung bình ăn 7,94 con/ngày

Thành phần thiên địch của sâu hại đậu tương tại Gia Lâm, Hà Nội vụ đông

2006 có 25 loài, vụ xuân 2007 có 27 loài, trong cả hai vụ bộ cánh cứng chiếm cao nhất (30,76% ở vụ đông 2006, 33,3% ở vụ xuân 2007) Loài phổ biến là: bọ chân chạy đuôi cánh hình mũi tên, chân chạy 3 khoang 4 chấm trắng, bọ chân chạy đen, bọ chân chạy đuôi hai chấm trắng, ong ký sinh sâu non, nhện linh miêu

và nhện sói (Đỗ Phương Lan, 2007)

Hiện nay biện pháp đấu tranh sinh học trong phòng trừ tổng hợp sâu hại cây trồng đang được sự quan tâm chú ý của nhiều người sản xuất và các nhà nghiên cứu về bảo vệ thực vật trong và ngoài nước Vì vậy việc hiểu biết về thành phần

và vai trò của thiên địch trong điều hòa số lượng sâu hại của mỗi hệ sinh thái

Trang 27

đồng ruộng là hết sức quan trọng và cần thiết Từ đó chúng ta có thể bảo vệ, khích lệ và lợi dụng chúng trong công tác bảo vệ thực vật nhằm bảo vệ môi trường để góp phần xây dựng một nền nông nghiệp sinh thái bền vững

2.3.4 Những nghiên cứu về bọ chân chạy

Trong bộ cánh cứng (Coleoptera) thì họ bọ chân chạy Carabidae có thành phần loài phong phú đa dạng trong đó có nhiều loài bắt mồi có ích cho hệ sinh thái nông nghiệp và giữa vai trò quan trọng trong kiểm soát dịch hại

Nước ta có một lịch sử lâu đời về canh tác, sản xuất nông nghiệp vì thế đã tạo nên một hệ sinh thái đa dạng với một lượng lớn về thành phần thiên địch đặc trưng phong phú Trong nhiều năm qua, công tác nghiên cứu khu hệ thiên địch nói chung và về họ chân chạy (Carabidae) nói riêng đã được nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân quan tâm

Danh lục phân họ Carabidae và họ Brachinidae ở Việt Nam có 29 giống, 76 loài trong đó đã phát hiện 19 giống mới, 24 loài mới cho họ Carabidae Việt Nam Trước đây, tác giả đã xác định được 35 loài thuộc phân họ Carabidae ở Việt Nam (Lê Khương Thúy, 1989)

Một số công trình nghiên cứu bọ chân chạy sống trên sinh quần bông, đay thì bọ chân chạy được xem là thiên địch quan trọng trong khống chế số lượng rầy nâu hại lúa và các loài bướm hại lúa như sâu cuốn lá nhỏ, sâu cắn gié, (Nguyễn Xuân Thành, 1996)

Phạm Văn Lầm (2000) cho thấy rằng có 415 loài thiên địch phát hiện được trên lúa trong đó bộ cánh cứng (165 loài) đứng thứ 2 chiếm 39,7% tổng số loài thiên địch

Lê Khương Thúy (2000) cho biết bọ chân chạy (Carabidae) có 186 loài (45

loài sp.) thuộc 86 giống và gần đây, theo Park et al.(2006) có 178 loài thuộc 74

giống Tuy nhiên, tác giả Nguyễn Đức Hiệp và Nguyễn Hữu Thực (2009) đã bổ

sung thêm 3 loài chân chạy mới cho khu hệ Hành trùng Việt Nam đó là: Sinurus

opcus Chaudoir, S opacus Chaudoir và Tetragonoderus quadrisignatus Quensel

Lê Khương Thúy và Đặng Thị Đáp (2005) nghiên cứu côn trùng vào những năm 1979-1989 ở Gia Lai đã tìm thấy 54 loài thuộc họ Carabidae, 224 loài thuộc

họ Chrysomelidae được ghi nhận Trong số đó có nhiều loài chỉ mới ghi nhận được ở Gia Lai 6 loài (họ Carabidae) và 48 loài (họ Chrysomelidae)

Sau khi sắp xếp và sửa đổi danh mục các thành phần của họ carabidae ta

Trang 28

thu được kết quả là 178 loài thuộc 74 chi của 12 phân họ, Brachininae, Omophroninae, Carabinae, Scaritinae, Bembidion, Trechinae, Pterostichus, Harpalinae, Callistinae, Oodinae, Odacanthinae, và Lebiinae, được ghi nhận tại

Việt Nam Có 4 loài mới được ghi nhận: Abacetus leucocetes Bates, Ago- nom

(Metacolpodes) buchanani Hope, Steno-lopus (Egadroma) difficilis (Hope, 1845), và Phe-ropsophus (Stenaptinus) beckeri Jedlicka Một danh sách kiểm tra

phân loại thông tin với các loại địa phương và trên toàn thế giới được cung cấp

(Park et al., 2006)

Nguyễn Thị Thanh và Nguyễn Thị Huyền (2013) ghi nhận trong số 47 loài côn trùng bắt mồi trên rau họ Cải, bộ cánh cứng (Coleoptera) có 26 loài chiếm 55,32% tổng số loài xác định, chúng thuộc 4 họ: họ bọ chân chạy (Carabidae) có

số loài nhiều nhất lá 12 loài, họ bọ rùa (Coccinellidae) có 7 loài, họ hổ trùng (Cicindeldae) có 3 loài, họ cánh cộc (Staphilinidae) có 2 loài

Nguyễn Văn Liêm và cs (2013) đã thu thập được 43 loài thiên địch của 22

họ thuộc 9 bộ côn trùng, 1 bộ nhện nhỏ, 1 loài vi khuẩn thuộc bộ Bacillales, 1 loài nấm ký sinh côn trùng thuộc bộ Hypocreales Các loài thiên địch của sâu hại đậu tương đã thu thập tập trung chủ yếu thuộc bộ cánh cứng Coleoptera với 12 loài chiếm 27,90 % trong tổng số các loài thu thập được

Trong số 30 loài côn trùng bắt mồi trên rau họ hoa thập tự thì bộ cánh cứng (Coleoptera) có 16 loài chiếm 53,00% tổng số loài xác định, chúng thuộc 4 họ:

họ bọ chân chạy (Carabidae), họ bọ rùa (Cocciniellidae) có số loài nhiều nhất, mỗi họ có 6 loài, họ hổ trùng (Cicindelidae) có 2 loài, họ cánh cộc (Staphilinidae) có 2 loài (Nguyễn Thị Thanh và Nguyễn Thị Huyền, 2014) Theo Lê Anh Sơn và cs (2014b) thì mối quan hệ giữa vật bắt mồi (các loài cánh cứng chân chạy bắt mồi) và con mồi (3 loài sâu hại) là quan hệ tỷ lệ thuận với nhau trong sinh quần Chân chạy bắt mồi tăng dần từ đầu vụ đến cuối vụ mặc dù sâu hại giảm dần về cuối vụ Đến khi sắp thu hoạch lạc, số lượng chân chạy bắt mồi có thể giảm do nguồn thức ăn khan hiếm cũng như điều kiện sinh cảnh không còn phù hợp nên chủ yếu chúng di chuyển đi nơi khác hoặc có thể ăn thịt lẫn nhau

Nguyễn Thị Quyên và cs (2014) nghiên cứu thấy rằng, trên cây rau xen ngô thì

bộ Cánh khác (Heteroptera) có 7 loài, bộ Cánh cứng (Coleoptera) chiếm số lượng loài nhiều nhất với 10 loài và 4 bộ còn lại chỉ có từ 1-4 loài Trong bộ Cánh cứng thì họ

Bọ rùa Coccinellidae chiếm số lượng lớn với 7 loài, họ Chân chạy Carabidae có 2 loài

Trang 29

Chlaenius pallipes Gebler, Drypta japonica Bates Đây cũng là những loài xuất hiện

sớm và có mức độ phổ biến cao từ khi bắt đầu đến khi kết thúc điều tra

Ngoài những nghiên cứu chung về bọ chân chạy thì một số tác giả đã đi nghiên cứu sâu, chi tiết hơn về đặc điểm sinh học, sinh thái một số loài bọ chân chạy phổ biến trên nhiều đối tượng cây trồng như: lạc, đậu tương, ngô,

Trần Đình Chiến (2002) đã nghiên cứu và thấy rằng vòng đời loài bọ chân

chạy Chlaenius bioculatus trung bình 32,70±1,38 ngày ở nhiệt độ 27,9 – 29.3 oC

và ẩm độ 85,4 – 88,7% Trưởng thành cái có khả năng sống 70,19 ngày, đẻ 102,64 quả trứng/con cái Tỷ lệ đực cái là 0.85:1, sức ăn của trưởng thành trung

bình 29,72 sâu con cuốn lá H indicata Chúng có khả năng ăn nhiều loại thức ăn

khác nhau (sâu cuốn lá, sâu khoang, sâu xanh) nhưng thích ăn nhất là sâu cuốn

lá Sức ăn của ấu trùng tăng dần từ tuổi 1 đến tuổi 3, tuổi 3 có sức ăn mạnh nhất,

cả đời ấu trùng tuổi 3 ăn trung bình 31,1 sâu non cuốn lá

Trần Đình Chiến (2009) ghi nhận đặc điểm hình thái và sinh vật học của bọ

chân chạy vân cánh hình mũi tên Chlaenius micans Fabricius thấy rằng loài bọ

chân chạy này có thời gian vòng đời dao động từ 29-35 ngày, trung bình là 30,28

± 1,27 ngày khi nuôi ở nhiệt độ 27,1 – 29,7 oC và độ ẩm là 51,7-73,7 % Trưởng thành cái có thời gian đẻ trứng kéo dài từ 14-17 ngày, trùng bình một trưởng thành cái có thể đẻ 11,38 ± 0,73 trứng/ngày Cả ấu trùng và trưởng thành bọ chân chạy vân cánh hình mũi tên đều có khả năng ăn mồi cao khi con mồi là sâu cuốn

lá đậu tương Trưởng thành có sức ăn cao nhất, trung bình 1 ngày đêm ăn hết 7,27 ± 0,78 sâu cuốn lá đậu tương

Lê Anh Sơn và cs (2013) cho rằng loài bọ chân chạy Chlaenius inops Chaudoir có vai trò trong việc hạn chế số lượng sâu xanh Helicoverpa armigera

Hubner, chúng có 4 giai đoạn phát triển: trứng có màu trắng; ấu trùng có màu đen, đầu màu vàng nâu; hóa nhộng trong đất hoặc ngay trên mặt đất; trưởng thành sau giao phối 5-6 ngày thì đẻ trứng; trưởng thành đẻ trứng rải rác và có 3 đợt đẻ trong một đời, mỗi đợt đẻ 17-30 quả Trung bình một ngày số lượng sâu

xanh bị một C inops ăn hết: giai đoạn ấu trùng tuổi 1 là 1,89 con sâu; ấu trùng

tuổi 2 là 3,72; ấu trùng tuổi 3 là 4,86; trưởng thành là 3,38 con Nghiên cứu cho

thấy số lượng son mồi ảnh hưởng rõ rệt đến phản ứng chức năng của C inops

điển hình ở giai đoạn ấu trùng tuổi 3 và trưởng thành Nhiệt độ, độ ẩm ảnh hưởng

rõ rệt đến sự sinh trưởng và phát triển của C inops: ở điều kiện nhiệt độ 200C, độ

ẩm 82%, vòng đời là 60-75 ngày; ở 280C, 73%: 36-48 ngày

Trang 30

Lê Anh Sơn và cs (2014a, 2014b) chỉ ra rằng bọ cánh cứng chân chạy

Chlaenius inops Chaudoir là loài côn trùng đa thực, phàm ăn chúng ăn nhiều loài

sâu như: sâu cuốn lá đầu đen Archips asiatucus Walsingham, sâu khoang

Spodoptera litura (Fabr), sâu xanh Helicoverpa armigera Hubner Ấu trùng tuổi

3 và trưởng thành có khả năng nhịn đói dài, chứng tỏ khả năng sống tốt trong điều kiện ngoại cảnh thiếu thức ăn, vì vậy, loài thiên địch nà cần phải được phát huy vai trò quan trọng của chúng để kìm hãm sâu hại trên đồng ruộng

Những nghiên cứu trên cho thấy thành phần loài bọ chân chạy khá đa dạng

và phong phú Các nghiên cứu của nhiều tác giả đã khẳng định được vai trò của

bọ chân chạy trong hạn chế sự phát triển của sâu hại cây trồng

Trang 31

PHẦN 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

Địa điểm nghiên cứu: Đề tài được thực hiện tại phòng nuôi sâu ở Bộ môn Côn trùng, Học Viện Nông nghiệp Việt Nam Cánh đồng đậu tương ở các xã Cổ

Bi, xã Văn Đức, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội

3.2 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

Thời gian nghiên cứu: từ tháng 01/2015 tới tháng 12/2015

3.3 ĐỐI TƯỢNG/VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU

3.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Côn trùng và nhện lớn bắt mồi của sâu hại đậu tương, trong đó đi sâu

nghiên cứu loài bọ chân chạy đuôi cánh 2 chấm vàng Chlaenius posticalis Motschulsky

3.3.2 Vật liệu nghiên cứu

a, Vật chủ: Sâu cuốn lá đậu tương: Hedylepta indicata Fabr

b, Cây trồng: Cây đậu tương giống DT96

Giống đậu tương DT96 được lai tạo từ giống DT90 x DT84, do Viện di truyền Nông nghiệp chọn tạo Đây là giống chịu hạn tốt, đạt năng suất cao, chất lượng hạt tốt, thích hợp cả 3 vụ trong năm, được đánh giá đứng đầu về năng suất trong các giống hiện nay Giống DT96 đựơc công nhận giống quốc gia năm 2004 Thời gian sinh trưởng từ 90 – 95 ngày

Hoa tím, lá hình tim nhọn, màu xanh sáng, lông nâu, rốn hạt trắng, hạt màu vàng Cây cao 45- 58 cm, phân cành vừa phải, cây gọn, thích hợp với trồng thuần, quả chín màu vàng, tỷ lệ quả 3 hạt cao, chống đổ khá

Chống chịu sâu bệnh và thời tiết bất thuận tốt

Năng suất cao, trung bình đạt 65 – 75 kg/sào, tốt có thể đạt 120 kg/sào

Trang 32

16,5 cm, đường kính 5,5 cm, panh, kim cắm côn trùng…

Thùng carton xốp trồng đậu tương, đĩa petri, kính hiển vi soi nổi, kính lúp…

Nhật ký thực tập, sổ sách ghi chép

Hình 2.1 Dụng cụ nghiên cứu Hình 2.2 Khu vực nghiên cứu

3.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Điều tra thành phần sâu cuốn lá đậu tương và thành phần thiên địch (côn trùng và nhện lớn bắt mồi) sâu cuốn lá đậu tương

Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của loài bọ chân chạy Chlaenius

posticalis Motschulsky

Điều tra diễn biến mật độ của sâu cuốn lá đậu tương và bọ chân chạy C

posticalis dưới ảnh hưởng của yếu tố sinh thái

3.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.5.1 Phương pháp điều tra thành phần sâu cuốn lá đậu tương, côn trùng và nhện lớn bắt mồi sâu cuốn lá đậu tương

Điều tra thành phần sâu cuốn lá đậu tương, côn trùng và nhện lớn bắt mồi sâu cuốn lá đậu tương theo phương pháp điều tra cơ bản dịch hại nông nghiệp theo quy chuẩn QCVN 01-168: 2014/BNNPTNT

Địa điểm điều tra tại xã Cổ Bi và xã Văn Đức, Gia Lâm, Hà Nội Mỗi xã điều tra 1 ruộng có diện tích 360 m2 Thời gian điều tra, thu thập mẫu 07 ngày/lần Điều tra 10 điểm chéo góc trên 1 ruộng Mỗi điểm điều tra 1m2 Điểm điều tra cách bờ tối thiểu 1m Tính tổng số sâu cuốn lá đậu tương và thiên địch (nhóm bắt mồi)

Trang 33

Đối với côn trùng nhện sống dưới đất dùng bẫy hố để thu bắt Nguyên liệu làm bẫy hố là vỏ chai Lavie 350ml theo chiều từ trên xuống cắt ở vị trí 5cm, lấy phần phía trên úp ngược với phần phía dưới làm miệng phễu, dính 2 phần lại ta được 1 bẫy hố Mỗi ruộng điều tra đặt 10 bẫy cố định theo hình chữ Z, ở giữa các luống đậu tương, mỗi bẫy đặt cách nhau 8m, được chôn ngay dưới mặt đất sao cho miệng bẫy cao bằng mặt đất và ngụy trang thật tự nhiên Thu bẫy định kỳ 7 ngày/1 lần trong suốt vụ trồng đậu tương Ngoài ra có thể thu được bằng cách bới đất ở các bờ ruộng đất tơi xốp hoặc dưới các hòn đất to có độ ẩm cao có phủ cỏ khô hoặc thân cây đậu tương phía trên

Phương pháp quy đổi mật độ bọ chân chạy từ con/hố/ tuần thành con/m2

như sau mỗi ruộng có diện tích 360 m2, đặt 10 bẫy hố Như vậy con/m2 sẽ bằng tổng số bọ chân chạy thu được chia cho 360 m2

3.5.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của

loài bọ chân chạy đuôi cánh 2 chấm vàng C posticalis 3.5.2.1 Nghiên cứu đặc điểm sinh học

Phương pháp nuôi sâu cuốn lá đậu tương: Trồng đậu tương tại địa điểm nghiên cứu Trên ruộng, trồng 4 mảnh đậu tương, thời gian trồng mỗi mảnh cách nhau 10 ngày, để lúc nào cũng có đủ nguồn lá đậu tương tốt hấp dẫn trưởng thành cuốn lá đến đẻ trứng, thu sâu non phục vụ thí nghiệm Trong phòng thí nghiệm trồng đậu tương trong thùng carton xốp hàng ngày tưới nước, bắt trưởng thành và sâu non cuốn lá đậu tương thả vào để nhân nuôi lấy nguồn sâu cuốn lá đậu tương làm thí nghiệm

Để theo dõi thời gian phát dục của bọ chân chạy C posticalis bằng cách thu

thập mẫu trưởng thành và sâu non ngoài tự nhiên đem về phòng nuôi cho chúng giao phối rồi tiến hành theo dõi chúng đẻ trứng

Pha trứng: Quan sát từ khi trứng mới đẻ đến khi trứng nở Từ đó xác định thời gian phát dục của pha trứng, thời gian trứng nở nhiều nhất (n= 63 quả)

Pha ấu trùng: Theo dõi ngày ấu trùng lột xác, lấy ấu trùng lột xác cùng một ngày và tiếp tục theo dõi cho đến khi hóa nhộng

Pha nhộng: Theo dõi những cá thể hóa nhộng đến khi hóa trưởng thành Pha trưởng thành: Ghép đôi trưởng thành và tiến hành theo dõi đến khi trưởng thành đẻ quả trứng đầu tiên để tính thời gian phát dục của trưởng thành, đồng thời nuôi tiếp đến khi chết để tính thời gian sống

Chỉ tiêu theo dõi: hình dạng, kích thước, vòng đời, thời gian phát dục của

Trang 34

từng pha phát dục (ngày): trứng, sâu non, nhộng và trưởng thành

3.5.2.2 Nghiên cứu đặc điểm hình thái của bọ chân chạy đuôi cánh 2 chấm vàng C posticalis

Nghiên cứu thông qua quan sát, đo dưới kính lúp điện có thước chia độ chiều dài, chiều rộng các pha phát dục của bọ chân chạy ngày thứ nhất sau lột xác (n=30)

3.5.2.3 Nghiên cứu khả năng ăn sâu cuốn lá đậu tương của bọ chân chạy đuôi cánh 2 chấm vàng C posticalis

Bố trí thí nghiệm: theo phương pháp của Trần Đình Chiến (2002), theo Hoàng Thị Hằng và Hà Quang Hùng 2007)

Thí nghiệm 1: nuôi 20 ấu trùng C posticalis tuổi 1

Thí nghiệm 2: nuôi 20 ấu trùng C posticalis tuổi 2

Thí nghiệm 3: nuôi 20 ấu trùng C posticalis tuổi 3

Thí nghiệm 4: nuôi 20 trưởng thành đực C posticalis

Thí nghiệm 5: nuôi 20 trưởng thành cái C posticalis

Kết hợp với việc theo dõi nuôi sinh học cá thể Hàng ngày cung cấp sâu cuốn lá đậu tương dư thừa, với tuổi 1 và tuổi 2 cho 5 con tuổi 2-3 sâu cuốn lá, tuổi 3 cho 7 con tuổi 2-3 sâu cuốn lá, trưởng thành cho 10 con tuổi 2-3 sâu cuốn

lá, hàng ngày đếm số lượng sâu bị ăn và bị cắn chết và bổ sung lại như số lượng ban đầu để tiếp tục theo dõi trong 03 ngày liền Và theo dõi cho đến khi vào nhộng

Chỉ tiêu theo dõi: Số sâu cuốn lá bị ăn và bị cắn chết

3.5.2.4 Nghiên cứu thời gian sống của bọ chân chạy đuôi cánh 2 chấm vàng

C posticalis trong điều kiện có và không có thức ăn

Bố trí thí nghiệm: Thả từng trưởng thành mới vũ hóa vào từng hộp có kích thước (20x15cm)

Công thức 1: Bổ sung thức ăn hàng ngày

Công thức 2: Không cho thức ăn

Với n=10, mỗi công thức theo dõi 10 đực và 10 cái Công thức 1 theo dõi hàng ngày cung cấp sâu cuốn lá đậu tương tuổi 2 – 3, cho đến khi chết sinh lý Theo dõi hàng ngày, chỉ tiêu theo dõi số trưởng thành chết sinh lý

3.5.2.5 Theo dõi sức sinh sản của trưởng thành bọ chân chạy đuôi cánh 2 chấm vàng C posticalis

Bố trí thí nghiệm: Thả 1 cặp mới vũ hóa vào hộp kích thước 20 x 15 cm

Trang 35

Cho sâu cuốn lá tuổi 2-3 vào và bổ sung sâu cuốn lá hàng ngày, sau 1 ngày đếm

số trứng đẻ, và thí nghiệm theo dõi cho đến khi trưởng thành chết sinh lý

3.6 PHƯƠNG PHÁP BẢO QUẢN, ĐỊNH LOẠI MẪU VẬT

Bảo quản khô: Những cá thể trưởng thành bộ cánh cứng, bộ cánh nửa có kích thước đủ lớn sau khi làm chết bằng dung dịch cồn 70o rồi dùng kim cắm vào xốp đem sấy trong tủ sấy ở nhiệt độ 50-55 oC cho đến khi mẫu thật khô rồi đem phân loại dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Trần Đình Chiến rồi đem vào bảo quản trong hộp trưng bày mẫu

Bảo quản ướt: Các mẫu sâu non bộ cánh vảy, bộ cánh nửa, nhện lớn bắt mồi và nhiều loài khác nhau thu được đem ngâm vào dung dịch cồn 70o trong quá trình bảo quản cần thay đổi cồn tránh làm hỏng mẫu

Định loại sâu hại và thiên địch theo Habu (1967, 1973,1978), Esaki (1991), Barrion and Litsinger (1995)

3.7 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU

a, Độ thường gặp

Độ thường gặp(%) = Tổng số điểm xuất hiện thiên địch x 100

Tổng số điểm điều tra Đánh giá độ thường gặp theo thang phân cấp:

Ký hiệu Mức độ phổ biến Độ thường gặp (OD)

+++ Xuất hiện nhiều >50% số lần bắt gặp

++ Xuất hiện trung bình >25-50% số lần bắt gặp

+ Xuất hiện ít >5-25% số lần bắt gặp

- Xuất hiện rất ít <5% số lần bắt gặp

b, Mật độ sâu hại và thiên địch

Mật độ sâu hại (con/m2) =

Tổng số sâu điều tra Tổng số m2 điều tra Mật độ thiên địch (con/hố) = Tổng số thiên địch điều tra

Tổng số hố điều tra

Trang 36

Kích thước trung bình một cá thể

= Trong đó: : Giá trị trung bình cơ thể

Xi : Giá trị kích thước cơ thể thứ i

N : Tổng số cá thể theo dõi Khả năng tiêu diệt con mồi

Trong đó : Số lượng con mối bị ăn

N : số cá thể làm thí nghiệm

Sức đẻ trứng trung bình

= Thời gian nhịn đói của trưởng thành

Trong đó: : Thời gian lúc trưởng thành thứ i chết

: Thời gian lần cuối cho trưởng thành thứ i ăn

: Thời gian nhịn đói của con trưởng thành thứ i : Thời gian nhịn đói trung bình của con trưởng thành Thời gian phát dục trung bình của một cá thể

Trong đó: : Thời gian phát dục trung bình

: Thời gian phát dục của cá thể thứ i

: Số cá thể phát dục ở ngày thứ i

: Tổng số cá thể theo dõi

Trang 37

Độ lệch chuẩn:

S = Trong đó: S: Độ lệch chuẩn

: Giá trị trung bình mẫu điều tra

Trang 38

PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1.1 Thành phần sâu cuốn lá đậu tương thuộc bộ cánh vảy Lepidoptera trên đậu tương năm 2015 tại Gia Lâm,

Hà Nội

Một trong những bộ phận quan trọng trên cây đậu tương đó chính là bộ lá chúng quyết định đến khả năng quang hợp, thoát hơi nước làm cho quá trình trao đổi chất diễn ra tốt nhất Chính vì vậy, các loài sâu hại lá có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất cây trong đó loài sâu cuốn lá tác động lớn nhất Để tìm hiểu rõ hơn

về thành phần loài sâu cuốn lá tôi tiến hành điều tra tại vùng sản xuất đậu tương

và thu được kết quả thể hiện tại bảng 4.1

Bảng 4.1 Thành phần sâu cuốn lá đậu tương thuộc bộ cánh vảy

trên đậu tương năm 2015 tại Gia Lâm, Hà Nội

Ghi chú: +++ rất phổ biến (OD> 50%) + ít phổ biến (OD> 5- 25%)

++ phổ biến (OD> 25- 50%) - Rất ít phổ biến (OD < 5%)

Qua bảng 4.1 ta thấy rằng các loài sâu cuốn lá thuộc bộ cánh vảy

(Lepidoptera) có 2 loài thuộc 2 họ trong đó loài có mức độ phổ biến nhất là sâu

cuốn lá đầu nâu Hedyleptera indicata Fabr

Trang 39

Hình 4.1 Sâu cuốn lá đầu nâu Hedylepta indicata Fabricius

Hình 4.2 Sâu cuốn lá đầu đen Archips asiaticus Walsingham

Nguồn: Vũ Văn Toàn (2015)

4.1.2 Thành phần thiên địch của sâu cuốn lá đậu tương trên vụ đậu tương năm 2015 tại Gia Lâm, Hà Nội

Đối với mỗi hệ sinh thái nông nghiệp luôn có những loài thiên địch nhất định giữ vai trò quan trọng trong việc kiểm soát số lượng sâu hại nhằm thiết lập cân bằng sinh thái Nhờ hoạt động tích cực của các loài thiên địch mà mật độ quần thể sâu hại bị khống chế, những loài này là sinh vật có ích và là bạn của nhà nông nên cần tìm hiểu và nhận biết chúng để bảo vệ chúng trên đồng ruộng Trong suốt quá trình điều tra trên ruộng đậu tương năm 2015 tại Gia Lâm, Hà Nội luôn tồn tại các loài thiên địch của sâu cuốn lá đậu tương Kết quả được trình bày ở bảng 4.2

Qua bảng 4.2 ta thấy thành phần thiên địch của sâu cuốn lá đậu tương khá phong phú bao gồm 17 loài của 9 họ thuộc 3 bộ trong đó các loài chủ yếu thuộc

bộ cánh cứng Coleoptera (9 loài) chiếm 52,94%; bộ nhện lớn Araneae (6 loài) chiếm 35,29 %; bộ Dermaptera có 1 loài chiếm 5,88% Loài có mức độ bắt

nhiều nhất là loài bọ chân chạy đuôi cánh 2 chấm vàng Chlaenius posticalis Mostchulsky, bọ chân chạy đen Hapalus sinicus Hope và nhện sói Lycosa

pseudoannulata B.et Str Loài có mức độ bắt gặp ít nhất là loài bọ chân chạy

đuôi cánh hình mũi tên Chlaenius micans Fabr Bọ chân chạy đuôi cánh 2 chấm vàng Chlaenius posticalis Mostchulsky là loài được công bố từ lâu ở

vùng Đồng bằng Sông Hồng, nhưng thời gian qua không thu được mẫu Năm

2015 trong quá trình điều tra chúng tôi thu bắt được và thấy rằng loài này có

Trang 40

mức độ phổ biến nhất tại Gia Lâm, Hà Nội

Bảng 4.2 Thành phần thiên địch của sâu cuốn lá trên đậu tương năm 2015

tại Gia Lâm, Hà Nội

7 Chân chạy đen

nhỏ 4 chấm trắng Tachyura laetifica Bates Carabidae +

8 Chân chạy nâu

nhỏ 5 chấm trắng

Stenolophus quinquepustulatus

12 Nhện linh miêu Oxyopes javanus Thorell Oxyopidae ++

13 Nhện sói Lycosa pseudoannulata

Boes et Strand Lycosidae +++

14 Nhện lưới tròn Araneus inustus L.Koch Arneidae +

17 Nhện bao Clubiona jabonicolla

Boes et Strand Clubionidae +

Ngày đăng: 17/11/2018, 00:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w