Áp dụng các phương pháp thống kê kinh tế và giám sát đánh giá có sự tham gia để xử lý số liệu và đánh giá kết quả đảm bảo yêu cầu khách quan và độ chính xác cho phép với sự hỗ trợ của
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
DIÊM ĐĂNG HOẠT
GIẢI PHÁP HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC CỦA
CỘNG ĐỒNG TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
TẠI HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Ngô Thị Thuận
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, các số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ bất kỳ một học vị nào
Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn
và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Diêm Đăng Hoạt
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Bộ môn Phân tích định lượng; cảm ơn các thầy, cô giáo đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết
ơn sâu sắc tới PGS.TS Ngô Thị Thuận đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo Huyện uỷ - UBND huyện Tân Yên, Ban chỉ đạo thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng Nông thôn mới huyện Tân Yên, Ban quản lý xây dựng Nông thôn mới ở các xã Liên Sơn, Quang Tiến, Cao Xá, Cao Thượng, Quế Nham và Lam Cốt; .cùng các cán bộ thuộc Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên và người dân trong huyện đã tiếp nhận và nhiệt tình giúp, cung cấp các thông tin, số liệu cần thiết phục vụ cho quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn này
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, người thân, bạn bè đã chia sẻ, động viên, khích lệ và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn này
Trong quá trình nghiên cứu, mặc dù đã có nhiều cố gắng để hoàn thành luận văn,
đã tham khảo nhiều tài liệu và đã trao đổi, tiếp thu ý kiến của thầy, cô và bạn bè Song,
do điều kiện về thời gian và trình độ nghiên cứu của bản thân còn nhiều hạn chế nên nghiên cứu khó tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự quan tâm đóng góp ý kiến của các thầy, cô và các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Diêm Đăng Hoạt
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt v
Danh mục bảng vi
Danh mục hình và hộp viii
Trích yếu luận văn ix
Thesis Abstract xi
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
1.4 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.5 Đóng góp của đề tài 4
Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn 5
2.1 Cơ sở lý luận về huy động nguồn lực để xây dựng nông thôn mới 5
2.1.1 Khái niệm và phân loại nguồn lực 5
2.1.2 Nông thôn mới và yêu cầu nguồn lực cho nông thôn mới 9
2.1.3 Nội dung nghiên cứu giải pháp huy động nguồn lực của cộng đồng trong XDNTM 17
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới huy động nguồn lực của cộng đồng cho xây dựng nông thôn mới 20
2.2 Thực tiễn về huy động nguồn lực để xây dựng nông thôn mới trên thế giới và Việt Nam 23
2.2.1 Thực tiễn về huy động nguồn lực để xây dựng nông thôn mới trên thế giới 23
2.2.2 Thực tiễn về huy động nguồn lực để xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam 28
Trang 5Phần 3 Phương pháp nghiên cứu 34
3.1 Đặc điểm cơ bản huyện Tân Yên 34
3.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên 34
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 35
3.1.3 Kết quả phát triển kinh tế - xã hội 37
3.2 Phương pháp nghiên cứu 39
3.2.1 Phương pháp chọn điểm khảo sát 39
3.2.2 Phương pháp thu thập dữ liệu 39
3.2.3 Phương pháp xử lý và phân tích thông tin 42
3.2.4 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 43
Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 44
4.1 Thực trạng huy động nguồn lực của cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang 44
4.1.1 Tổng quan về chương trình xây dựng nông thôn mới huyện Tân Yên 44
4.1.2 Thực trạng huy động nguồn lực của cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang 48
4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến huy động nguồn lực của cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang 75
4.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội của huyện 75
4.2.2 Các yếu tố thuộc về phía cộng đồng 76
4.2.3 Yếu tố thuộc về cơ chế chính sách và Ban quản lý XDNTM 79
4.3 Các giải pháp tăng cường huy động nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới tại huyện Tân Yên trong thời gian tới 85
4.3.1 Các căn cứ đề ra giải pháp 85
4.3.2 Định hướng xây dựng nông thôn mới của huyện Tân Yên 86
4.3.3 Các giải pháp tăng cường huy động nguồn lực cho XDNTM 87
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 92
5.1 Kết luận 92
5.2 Kiến nghị 93
Tài liệu tham khảo 94
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nghĩa tiếng việt
BCĐ Ban chỉ đạo
BHTN Bảo hiểm thất nghiệp
BHXH Bảo hiểm xã hội
BHYT Bảo hiểm y tế
BTCQG Bộ tiêu chí quốc gia
BTXM Bê tông xi măng
MTQG Mục tiêu quốc gia
N-LN-TS Nông lâm nghiệp thủy sản
TNTN Thanh niên tình nguyện
TTCN Tiểu thủ công nghiệp
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Thu thập số liệu thứ cấp 39 Bảng 3.2 Đối tượng và số phiếu điều tra ở các nhóm đối tượng 40 Bảng 4.1 Tổng hợp kết quả thực hiện các tiêu chí xây dựng nông thôn mới tại
huyện Tân Yên đến năm 2015 47 Bảng 4.2 Quy định về vốn và nguồn vốn thực hiện chương trình xây dựng NTM 48
Bảng 4.3 Kế hoạch tài chính cho XDNTM năm 2014 – 2015 49 Bảng 4.4 Kế hoạch tài chính cho 6 xã điểm thực hiện chương trình xây dựng
nông thôn mới 50 Bảng 4.5 Phương pháp huy động nguồn lực cho XDNTM 52 Bảng 4.6 So sánh kế hoạch và kết quả thực hiện huy động vốn ngân sách cho xây
dựng nông thôn mới huyện Tân Yên 53 Bảng 4.7 So sánh kế hoạch và kết quả thực hiện huy động vốn ngân sách cho xây
dựng nông thôn mới ở các xã 55 Bảng 4.8 Vốn ngân sách huy động cho xây dựng cơ sở hạ tầng tại các xã điểm
trong chương trình xây dựng nông thôn mới (2014 – 2015) 56 Bảng 4.9 Kết quả huy động vốn ngân sách thực hiện các mô hình phát triển sản
xuất thuộc chương trình xây dựng nông thôn mới (2014 và 2015) 57 Bảng 4.10 Kết quả huy động vốn ngân sách thực hiện chương trình xây dựng
nông thôn mới giai đoạn 2014 – 2015 của huyện Tân Yên 58 Bảng 4.11 Đánh giá kết quả huy động nguồn lực từ ngân sách Nhà nước cho xây
dựng nông thôn mới 60 Bảng 4.12 Kết quả huy động vốn đối ứng của nhân dân cho xây dựng cơ sở hạ
tầng thuộc chương trình xây dựng nông thôn mới 66 Bảng 4.13 Đánh giá kết quả huy động nguồn tài chính cho xây dựng NTM 69 Bảng 4.14 Kết quả huy động vốn từ các chương trình phối hợp và lồng ghép cho
xây dựng nông thôn mới 61 Bảng 4.15 Đánh giá việc huy động nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới tại
huyện Tân Yên thời gian qua 62 Bảng 4.16 Đánh giá kết quả sử dụng nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới tại
huyện Tân Yên 64
Trang 8Bảng 4.17 Đánh giá kết quả huy động nguồn lực đất đai cho xây dựng NTM so
với kế hoạch đề ra 70 Bảng 4.18 Kết quả huy động nguồn nhân lực cho xây dựng nông thôn mới 71 Bảng 4.19 Kết quả huy động ngày công lao động từ Hội Nông dân cho xây dựng
NTM 72 Bảng 4.20 Kết quả huy động ngày công lao động từ Đoàn Thanh niên cho XD
NTM 74 Bảng 4.21 Ý kiến của cán bộ người dân về huy động nguồn nhân lực cho xây
dựng NTM 75 Bảng 4.22 Trình độ dân trí của người dân 76 Bảng 4.23 Ảnh hưởng của các yếu tố về phía cộng đồng đến huy động nguồn lực
cho xây dựng nông thôn mới 78 Bảng 4.24 Ảnh hưởng của thu nhập của người dân đến kết quả huy động vốn cho
xây dựng nông thôn mới 79 Bảng 4.25 Ảnh hưởng của nhóm các yếu tố về cơ chế, chính sách và năng lực ban
quản lý chương trình xây dựng NTM 81 Bảng 4.26 Trình độ chuyên môn của cán bộ huyện 83 Bảng 4.27 Phân tích SWOT trong huy động các nguồn lực xây dựng NTM của
huyện Tân Yên 85
Trang 9DANH MỤC HÌNH VÀ HỘP
Hình 3.1 Bản đồ hành chính huyện Tân Yên 34
Hình 3.2: Cơ cấu GTSX theo ngành kinh tế theo giá hiện hành năm 2015 37
Hộp 4.1: Xuất phát điểm của huyện là một xã nghèo 76
Hộp 4.2 Thiếu cán bộ chuyên trách 82
Hộp 4.3 Thu chi chưa được công khai minh bạch 84
Trang 10TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên đề tài: Giải pháp huy động nguồn lực của cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang
Học viên : Diêm Đăng Hoạt
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế Mã số: 60.34.04.10
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Ngô Thị Thuận
Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Sau 4 năm triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, nhiều xã trên địa bàn huyện Tân Yên đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn nhiều vấn đề phát sinh trong quá trình huy động các nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới Xuất phát từ những yêu cầu thực tế về phát triển nông thôn mới tại địa phương tác giả tiến hành nghiên cứu đề tài: “Giải pháp huy động nguồn lực của cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang”
Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá thực trạng việc huy động nguồn lực của cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Tân Yên tỉnh Bắc Giang Từ đó, đề xuất một số giải pháp tăng cường huy động nguồn lực để đẩy nhanh công tác xây dựng nông thôn mới tại huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang theo hướng hiệu quả, bền vững và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề
lý luận và thực tiễn huy động nguồn lực cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Tân Yên tỉnh Bắc Giang; đề tài chỉ nghiên cứu trên 6 xã điểm gồm: Liên Sơn, Quang Tiến, Cao Thượng, Ngọc Lý, Quế Nham và Lam Cốt
Các phương pháp nghiên cứu đã sử dụng
Sử dụng phương pháp chọn điểm khảo sát thực tế kết hợp với và phân tích các
dữ liệu thu thập được
Áp dụng các phương pháp thống kê kinh tế và giám sát đánh giá có sự tham gia
để xử lý số liệu và đánh giá kết quả đảm bảo yêu cầu khách quan và độ chính xác cho phép với sự hỗ trợ của phần mềm Excel
Đề tài đã nghiên cứu được những kết quả chính sau:
Thứ nhất, nghiên cứu đã hệ thống hóa được một số vấn đề lý luận và thực tiễn
về huy động nguồn lực cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới: khái niệm và phân loại nguồn lực, nông thôn mới và yêu cầu nguồn lực cho nông thôn mới, huy động
Trang 11nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm thực tiễn của các nước trên thế giới và kinh nghiệm ở một số tỉnh thành ở Việt Nam về việc huy động nguồn lực; vận dụng vào nghiên cứu việc huy động nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới tại huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang
Thứ hai, nghiên cứu đánh giá thực trạng huy động nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới tại huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang thời gian qua, bao gồm các nội dung: huy động nguồn lực từ ngân sách Nhà nước, nguồn lực từ sức dân, từ các tổ chức đoàn thể trong xã hội, nguồn lực từ các chương trình phối hợp lồng ghép; và việc sử dụng nguồn lực; đánh giá kết quả huy động nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới
Thứ ba, nghiên cứu có đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả huy động nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới tại huyện Tân Yên trong thời gian tới, bao gồm: đa dạng hóa các hình thức huy động, huy động nguồn vốn, cần minh bạch công khai trong việc thu chi, tạo sự công bằng trong hưởng lợi từ chương trình, phát động các phong trào thi đua khen thưởng, cần có cơ chế huy động các nguồn lực từ địa phương,đào tạo nâng cao chất lượng cán bộ cơ sở
Trang 12THESIS ABSTRACT
Project title: Solution to mobilize community resources in the construction of new countryside in Tan Yen district, Bac Giang province
Students: Hell Post Forum
Specialization: Economic Management Code: 60.34.04.10
Scientific Instructor: Assoc Ngo Thi Thuan
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)
The aim and object of study
Objective: To assess the state of the mobilization of community resources in building a new countryside in Tan Yen district, Bac Giang province Since then, proposed a number of measures to enhance resource mobilization to accelerate the work
of building a new countryside in Tan Yen district, Bac Giang province towards efficiency, sustainability and improve the quality of life of people
Object and scope of the study: The object of this research is to study the theoretical issues and practical mobilize community resources in building a new countryside in Tan Yen district, Bac Giang province; only research topic over 6 communes including Lien Son, Quang Tien, Cao Thuong, Ngoc Ly, Que Nham and Lam Cot
The research methods used
• Use the method of selecting the actual survey and analysis combined with the data collected
• Application of economic statistical methods and monitoring and evaluation with the participation to process data and evaluate the results against the requirements
of objectivity and accuracy allows for the support of Excel
The main results and conclusions
First, research has codified a number of theoretical issues and practical for the community to mobilize resources in building new countryside: the concept and classification of resources, new rural and resource requirements for new countryside, mobilizing resources for new rural construction Based on the research experience of the countries of the world and experience in a number of provinces in Vietnam on resource mobilization; applied research on the mobilization of resources for new rural construction in Tan Yen district, Bac Giang province
Trang 13Second, studies assessing the situation to mobilize resources for the construction
of a new countryside in Tan Yen district, Bac Giang province over time, including the following contents: mobilization of resources from the state budget and resources from people power, from the mass organizations in society, resources from the integrated coordination programs; and the use of resources; evaluating the results of mobilizing resources for new rural construction
Third, researchers have proposed a number of measures to improve the efficiency of resource mobilization for the construction of a new countryside in Tan Yen district in the near future, including the diversification of forms of mobilization, mobilization capital, need public transparency in the collection and spending, create fairness in the benefit from the program, launched the movement of emulation and commendation, should be a mechanism to mobilize local resources, training the quality
of local staff
Trang 14PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Chương trình xây dựng nông thôn mới là chương trình mục tiêu quốc gia nhằm thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về nông nghiệp, nông thôn, nông dân Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương khoá X đã ra Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn nhấn mạnh: “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Ngày 04/6/2010 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 800/QĐ-TTg, phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020, với mục tiêu: “Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa” nhằm giải quyết các vấn đề trên và tạo bước phát triển mới về nông thôn Trong những năm qua mô hình phát triển nông thôn mới đã và đang được triển khai và thực hiện ở nhiều địa phương trong cả nước, có rất nhiều thành tựu đã đạt được: Diện mạo nông thôn thay đổi, cơ sở hạ tầng kỹ thuật được cải tạo và xây dựng mới, cơ cấu sản xuất dần chuyển dịch theo hướng tiến bộ, đặc biệt, đời sống người dân nông thôn được cải thiện và nâng cao cả về tinh thần và vật chất Tuy nhiên, trong quá trình triển khai, nhiều địa phương gặp không ít khó khăn, bất cập Từ phương pháp, cách làm đến các bước triển khai còn lúng túng Các nguồn lực để thực hiện xây dựng nông thôn mới còn thiếu và yếu, nên kết quả đạt được chưa cao Bên cạnh đó, một số tiêu chí trong bộ tiêu chí đặt ra còn cứng nhắc, không phù hợp với mỗi địa phương, mỗi vùng, miền Chính vì vậy, cần có
sự tìm hiểu, nghiên cứu một cách cụ thể, khoa học để tìm ra các giải pháp đồng
bộ, phù hợp, khắc phục khó khăn, thực hiện chương trình một cách có hiệu quả
Sau khi triển khai thành công tại 11 xã điểm, hiện chương trình đang được nhân rộng ra tại nhiều địa phương trong cả nước và huyện Tân Yên hiện đã có 6/22 xã đã được chọn để triển khai thực hiện mô hình xây dựng nông thôn mới
Trang 15(trong đó 4 xã tỉnh và 2 xã huyện) Xác định xây dựng nông thôn mới là nhiệm
vụ trọng tâm, UBND huyện Tân Yên đã tập trung chỉ đạo các cấp, các ngành huy động mọi nguồn lực đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn góp phần xây dựng nông thôn mới
Sau 4 năm triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, nhiều xã trên địa bàn huyện Tân Yên đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn nhiều vấn đề phát sinh trong quá trình huy động các nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới Điều này đã làm ảnh hưởng tới việc hoàn thành mục tiêu xây dựng nông thôn mới ở huyện và Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới của cả nước
Để hiểu rõ hơn về thực trạng huy động nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới ở huyện Tân Yên đã được triển khai như thế nào? Các nguồn lực sau khi được huy động có thật sự được sử dụng một cách có hiệu quả? Việc huy động các nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới của các địa phương trong huyện chịu ảnh hưởng của những yếu tố nào? Cần có giải pháp gì góp phần nâng cao hiệu quả huy động nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới ở huyện Tân Yên trong thời gian tới Xuất phát từ những yêu cầu thực tế về phát triển nông thôn mới tại địa phương tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Giải pháp huy động nguồn lực của cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang”
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng việc huy động nguồn lực của cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang, từ đó, đề xuất một số giải pháp tăng cường huy động nguồn lực để đẩy nhanh công tác xây dựng nông thôn mới tại huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang theo hướng hiệu quả, bền vững và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân
Trang 16- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến huy động nguồn lực của cộng đồng
để xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang
- Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường huy động nguồn lực của cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang trong những năm tới
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghien cứu của đề tài là lý luận và thực tiễn về các hoạt động huy động nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới được thể hiện ở các đối tượng khảo sát sau:
- Các nguồn lực: đất đai, vốn, tài sản, công lao động
- Các tác nhân chủ yếu: Người dân,ban chỉ đạo thực hiện chương trình NTM
- Dữ liệu thứ cấp phục vụ cho nghiên cứu này được thu thập từ 2011-2015
- Dữ liệu sơ cấp phục vụ cho nghiên cứu này được thu thập từ 2015
- Các giải pháp đề xuất đến 2020
* Về nội dung: Đề tài tập trung làm rõ thực trạng, các yếu tố ảnh hưởng, giải pháp để huy động nguồn lực của cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang
1.4 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
- Nội dung của huy động nguồn lực của cộng đồng để xây dựng nông thôn mới là gì?
- Thực trạng huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang ra sao?
Trang 17- Những yếu tố nào ảnh hưởng đến huy động nguồn lực của cộng đồng để xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang?
- Trong những năm tới cần thực hiện những giải pháp nào để tăng cường huy động nguồn lực của cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang?
1.5 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài đã chỉ ra được các nguồn lực cần huy động, vai trò của nguồn lực
và cách thức huy động các nguồn lực trong xây dựng nông thôn mới
Tìm hiểu, đánh giá được thực trạng huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang
Chỉ ra được các yếu tố ảnh hưởng đến huy động nguồn lực của cộng đồng
để xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang trong những thời gian qua
Từ đó đề ra những giải pháp nhằm tăng cường huy động nguồn lực của cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Tân Yên tỉnh, Bắc Giang
Trang 18PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC ĐỂ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
2.1.1 Khái niệm và phân loại nguồn lực
a Khái niệm và phân loại nguồn lực
* Khái niệm nguồn lực
Theo quan điểm hệ thống, “Nguồn lực là tất cả những yếu tố và phương tiện mà hệ thống có quyền chi phối, điều khiển, sử dụng để thực hiện mục tiêu của mình Đối với hệ thống kinh tế - xã hội, có thể chia nguồn lực ra các bộ phận khác nhau như: nguồn nhân lực, nguồn tài lực, nguồn vật lực và nguồn thông tin”
Những thứ được coi là nguồn lực phải là những thứ được sử dụng hoặc có khả năng sử dụng trong thời kỳ dự kiến phát triển Tiềm năng chưa đưa được vào
sử dụng hoặc chưa có khả năng đưa vào sử dụng thì chưa được xem xét là nguồn lực (Trương Văn Tuyển, 2007)
* Phân loại nguồn lực
Các nguồn lực được xem xét ở nhiều góc độ Có nghĩa là dưới nhiều góc
độ, người ta chia các nguồn lực thành các loại khác nhau để có thái độ đúng đắn
và có cách ứng xử với chúng thích hợp Với cách nhận thức như thế và trên quan điểm thiết thực, việc phân chia các nguồn lực được tiến hành Theo Phạm Huỳnh Thanh Vân (2007) phân loại nguồn lực dựa vào các căn cứ sau
+ Căn cứ vào nguồn gốc
- Vị trí địa lý: tạo ra thuận lợi hay khó khăn cho việc trao đổi, tiếp cận hay cùng phát triển giữa các vùng trong một nước hay giữa các quốc gia với nhau
- Nguồn lực tự nhiên: là cơ sở tự nhiên của quá trình sản xuất
- Nguồn lực kinh tế - xã hội: có vai trò quan trọng trong việc lựa chọn chiến lược phát triển phù hợp với điều kiện cụ thể của từng vùng, từng quốc gia
+ Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ
- Nguồn lực trong nước (có ý nghĩa quyết định): nguồn lực trong nước còn gọi là nội lực, bao gồm các nguồn lực tự nhiên, nhân văn, hệ thống tài sản quốc gia, đường lối chính sách đang được khai thác
Trang 19- Nguồn lực nước ngoài (có vai trò quan trọng): nguồn lực nước ngoài còn được gọi là nguồn ngoại lực, bao gồm khoa học, kỹ thuật và công nghệ, nguồn vốn, kinh nghiệm về tổ chức và quản lý sản xuất… từ nước ngoài
+ Căn cứ vào tính chất
Nguồn lực còn được chia thành nguồn nhân lực và nguồn vật lực; trong
đó, nguồn nhân lực được hiểu là nguồn lực từ con người như sức mạnh, trí óc… nguồn vật lực được hiểu là các nguồn lực từ tiền bạc, vật chất… khi con người làm nên tất cả và quyết định tất cả nên nguồn lực con người được gọi là nguồn lực của mọi nguồn lực
Nguồn vật lực là những phần đất dành cho xây dựng nông thôn mới như xây dựng đường giao thông nông thôn Đó có thể là những hỗ trợ về vật chất trang thiết bị cho văn phòng UBND các xã, các thiết bị hay phương tiện phục vụ
sự phát triển nông thôn ở các xã
Nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển Do đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của
xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố
về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động
Nguồn tài lực (nguồn lực tài chính) là toàn bộ quá trình huy động và sử dụng vốn được thể hiện dưới hình thức giá trị Mọi hoạt động đều cần phải có một nguồn lực tài chính nhất định để thực hiện các mục tiêu của hoạt động đó (Phạm Huỳnh Thanh Vân, 2007)
Nguồn vật lực (nguồn lực vật chất)
Nguồn lực vật chất gồm có tài nguyên thiên nhiên (tài nguyên đất đai, tài nguyên rừng, tài nguyên biển, tài nguyên thủy điện, tài nguyên nước, tài nguyên khí hậu, vị trí địa lý kinh tế ) và cơ sở vật chất kỹ thuật đã tạo dựng: nhà cửa, công trình công cộng, đường sá, hệ thống cung cấp và thoát nước, hệ thống viễn thông và truyền thông, hệ thống xử lý chất thải (Phạm Huỳnh Thanh Vân, 2007)
Đối với một quốc gia, nguồn lực là tổng thể vị trí, các nguồn tài nguyên thiên nhiên, hệ thống tài sản quốc gia, nguồn nhân lực, đường lối chính sách,
Trang 20vốn, thị trường… ở cả trong nước và ngoài nước có thể được khai thác nhằm phục vụ cho việc phát triển kinh tế của một lãnh thổ nhất định
b Khái niệm nguồn lực của cộng đồng cho xây dựng nông thôn mới
Nguồn lực của cộng đồng chi cho xây dựng nông thôn mới được hiểu là tập hợp các yếu tố mà chương trình xây dựng nông thôn mới sử dụng để thực hiện các mục tiêu của chương trình Nguồn lực của cộng đồng cho XDNTM bao gồm: Nguồn nhân lực, nguồn vật lực và thể hiện trong đó nguồn nhân lực đóng vai trò quyết định
Thuật ngữ nguồn nhân lực (hurman resourses) xuất hiện vào thập niên 80 của thế kỷ XX khi mà có sự thay đổi căn bản về phương thức quản lý, sử dụng con người trong kinh tế lao động Nếu như trước đây, phương thức quản trị con người (personnel management) với đặc trưng coi con người là lực lượng thừa hành, phụ thuộc, và cần khai thác tối đa sức lao động của họ với chi phí tối thiểu thì từ năm 80 đến nay với phương thức mới, quản lý nguồn nhân lực (hurman resourses management) với tính chất mềm dẻo hơn, linh hoạt hơn, tạo điều kiện tốt hơn để người lao động có thể phát huy ở mức cao nhất các khả năng tiềm tằng, vốn có của họ thông qua tích lũy tự nhiên trong quá trình lao động phát triển Có thể nói sự xuất hiện của thuật ngữ “Nguồn nhân lực” là một trong những biểu hiện cụ thể cho sự thắng thế của phương thức quản lý mới đối với phương thức quản lý cũ trong việc sử dụng nguồn lực con người (Phạm Huỳnh Thanh Vân, 2007)
Có khá nhiều định nghĩa khác nhau về “nguồn nhân lực”:
- Nguồn nhân lực là nguồn lực con người của những tổ chức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, khu vực, thế giới Cách hiểu này về nguồn nhân lực xuất phát từ quan niệm coi nguồn lực với các yếu tố vật chất, tinh thần tạo nên năng lực, sức mạnh phục vụ cho sự phát triển nói chung của tổ chức;
- Nguồn nhân lực là tổng thể các yếu tố bên trong và bên ngoài của mỗi cá nhân bảo đảm nguồn sáng tạo cùng các nội dung khác cho sự thành công, đạt được mục tiêu của tổ chức (Bùi văn Hưng và cs., 2009)
Tuy có những định nghĩa khác nhau tùy theo giác độ tiếp cận nghiên cứu nhưng điểm chung mà ta có thể dễ dàng nhận thấy qua các định nghĩa trên vê nguồn nhân lực là:
Trang 21- Số lượng nhân lực Nói đến nguồn nhân lực của bất kỳ một tổ chức, một địa phương hay một quốc gia nào câu hỏi đầu tiên đặt ra là có bao nhiêu người và
sẽ có thêm bao nhiêu người nữa trong tương lai Đây là những câu hỏi cho việc xác định số lượng nguồn nhân lực Sự phát triển về số lượng nguồn nhân lực dựa trên hai nhóm yếu tố bên trong (ví dụ: nhu cầu thực tế công việc đòi hỏi phải tăng
số lượng lao động) và những yếu tố bên ngoài của tổ chức như sự gia tăng về dân
số hay lực lượng lao động do di dân (Ban chỉ đạo Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, 2014)
- Chất lượng nhân lực Chất lượng nhân lực là yếu tố tổng hợp của nhiều yếu tố bộ phận như trí tuệ, trình độ, sự hiểu biết, đạo đức, kỹ năng, sức khỏe, thẩm mỹ… của người lao động Trong các yếu tố trên thì trí lực và thể lực là hai yếu tố quan trọng trong việc xem xét đánh giá chất lượng nguồn nhân lực (Trương Văn Tuyển, 2007)
- Cơ cấu nhân lực Cơ cấu nhân lực là yếu tố không thể thiếu khi xem xét đánh giá về nguồn nhân lực Cơ cấu nhân lực thể hiện trên các phương diện khác nhau như cơ cấu trình độ đào tạo, giới tính, độ tuổi… Cơ cấu nguồn nhân lực của một quốc gia nói chung được quyết định bởi cơ cấu đào tạo và cơ cấu kinh tế theo đó sẽ có một tỷ lệ nhất định nhân lực Chẳng hạn như cơ cấu nhân lực lao động trong khu vực kinh tế tư nhân của các nước trên thế giới phổ biến là 5 – 3 –
1 cụ thể là 5 công nhân kỹ thuật, 3 trung cấp nghề và 1 kỹ sư; đối với nước ta cơ cấu này có phần ngược tức là số người có trình độ đại học, trên đại học nhiều hơn
số công nhân kỹ thuật Hay cơ cấu nhân lực về giới tính trong khu vực công của nước ta cũng có những biểu hiện của sự mất cân đối (Trương Văn Tuyển, 2007)
Tóm lại, nguồn nhân lực là khái niệm tổng hợp bao gồm các yếu tố về số lượng, chất lượng và cơ cấu phát triển người lao động nói chung cả ở hiện tại cũng như trong tương lai, là tiềm năng của mỗi tổ chức, mỗi địa phương, mỗi quốc gia, khu vực và thế giới
c Khái niệm về huy động nguồn lực của cộng đồng cho XDNTM
Huy động nguồn lực: là tất cả các hoạt động, chính sách và các quyết định quản lý liên quan và có ảnh hưởng số lượng và chất lượng nguồn lực Huy động nguồn lực đòi hỏi phải có tầm nhìn chiến lược và gắn với các hoạt động cụ thể (Tạ Đăng Giang, 2013)
Huy động nguồn lực: Là một quá trình trong đó sử dụng cách thức nhất
Trang 22định nhằm phát huy tối đa các nguồn lực tài chính phục vụ mục tiêu phát triển Các hoạt động huy động bao gồm: Xây dựng kế hoạch huy động, tăng cường đề nghị hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước, ngân sách tỉnh, hoạt động tuyên truyền nang cao nhận thức của con người trong XDNTM, vận động người dân địa phương tham gia đóng góp nguồn lực cho XDNTM, tăng cường huy động hỗ trợ từ các doanh nghiệp (Vũ Hà Thanh, 2013)
d Giải pháp huy động nguồn lực của cộng đồng cho XDNTM
Theo Tạ Đăng Giang (2013) giải pháp huy động nguồn lực của cộng đồng cho XDNTM gồm:
(1) Huy động nguồn lực tài chính hộ gia đình (từ người dân địa phương): Tài chính của các hộ gia đình chủ yếu được sử dụng cho mục đích tiêu dùng của gia đình Một phần của quỹ này có thể tham gia vào quỹ Ngân sách nhà nước dưới hình thức nộp thuế, phí, lệ phí; tham gia vào các quỹ bảo hiểm theo các mục đích bảo hiểm khác nhau; tham gia vào các quỹ tín dụng dưới hình thức gửi tiền tiết kiệm,… Phần tài chính tạm thời nhàn rỗi của quý này có thể được sử dụng để đầu tư vào sản xuất kinh doanh trong phạm vi kinh tế hộ gia đình, tham gia thị trường tài chính ( góp cổ phần, mua cổ phiếu, trái phiếu,…)
(2) Huy động nguồn lực tài chính từ các doanh nghiệp: Tài chính doanh nghiệp là khâu cơ sở trong hệ thống tài chính quốc gia TCDN có các nhiệm vụ:
+ Bảo đảm vốn và phân phối vốn hợp lý cho các nhu cầu của sản xuất kinh doanh
+ Tổ chức cho vốn chu chuyển một cách liên tục và có hiệu quả
+ Phân phối thu nhập và lợi nhuận của doanh nghiệp theo đúng quy định của Nhà nước
+ Kiểm tra mọi quá trình vận động của các nguồn tài chính trong doanh nghiệp, đồng thời, kiểm tra mọi hoạt động sản xuất kinh doanh gắn liền với các quá trình đó
2.1.2 Nông thôn mới và yêu cầu nguồn lực cho nông thôn mới
2.1.2.1 Giới thiệu nội dung và mục tiêu chương trình xây dựng nông thôn mới
Xây dựng nông thôn mới thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia, là một chương trình tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội, chính trị và an ninh quốc phòng, bao gồm 11 nội dung
Trang 23(1) Quy hoạch xây dựng nông thôn mới
* Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí số 01 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới Đến năm 2011, cơ bản phủ kín quy hoạch xây dựng nông thôn trên địa bàn
cả nước làm cơ sở đầu tư xây dựng nông thôn mới, làm cơ sở để thực hiện mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020
(2) Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội
Theo Ban chỉ đạo Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới (2014) gồm những nội dung sau:
* Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí số 2; 3; 4; 5; 6; 7; 8; 9 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới
* Nội dung
- Hoàn thiện đường giao thông đến trụ sở UBND xã và hệ thống giao thông trên địa bàn xã Đến 2015 có 35% số xã đạt chuẩn (các trục đường xã được nhựa hoá hoặc bê tông hoá) và đến 2020 có 70% số xã đạt chuẩn (các trục đường thôn, xóm cơ bản cứng hoá);
- Hoàn thiện hệ thống các công trình đảm bảo cung cấp điện phục vụ sinh hoạt và sản xuất trên địa bàn xã Đến 2015 có 85% số xã đạt tiêu chí NTM và năm 2020 là 95% số xã đạt chuẩn;
- Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ nhu cầu về hoạt động văn hoá thể thao trên địa bàn xã Đến 2015 có 30% số xã có nhà văn hoá xã, thôn đạt chuẩn, đến 2020 có 75% số xã đạt chuẩn;
- Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn hoá về y tế trên địa bàn xã Đến 2015 có 50% số xã đạt chuẩn và đến 2020 có 75% số xã đạt chuẩn;
- Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn hoá về giáo dục trên địa bàn xã Đến 2015 có 45% số xã đạt tiêu chí và năm 2020 có
Trang 2475% số xã đạt chuẩn;
- Hoàn chỉnh trụ sở xã và các công trình phụ trợ Đến 2015 có 65% số xã đạt tiêu chí và năm 2020 có 85% số xã đạt chuẩn;
- Cải tạo, xây mới hệ thống thủy lợi trên địa bàn xã Đến 2015 có 45% số
xã đạt chuẩn (có 50% kênh cấp 3 trở lên được kiên cố hoá) Đến 2020 có 77% số
xã đạt chuẩn (cơ bản cứng hoá hệ thống kênh mương nội đồng theo quy hoạch)
(3) Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập
Theo Ban chỉ đạo Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới (2015) gồm những nội dung sau:
* Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí số 10, 12 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới Đến năm 2015 có 20% số xã đạt, đến 2020 có 50% số xã đạt
* Nội dung
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng phát triển sản xuất hàng hoá, có hiệu quả kinh tế cao;
- Tăng cường công tác khuyến nông; đẩy nhanh nghiên cứu ứng dụng tiến
bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp;
- Cơ giới hoá nông nghiệp, giảm tổn thất sau thu hoạch trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp;
- Bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống theo phương châm "mỗi làng một sản phẩm", phát triển ngành nghề theo thế mạnh của địa phương;
- Đẩy mạnh đào tạo nghề cho lao động nông thôn, thúc đẩy đưa công nghiệp vào nông thôn, giải quyết việc làm và chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động nông thôn
(4) Giảm nghèo và an sinh xã hội
Theo Ban chỉ đạo Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới (2015) gồm những nội dung sau:
* Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí số 11 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới
* Nội dung:
- Thực hiện có hiệu quả Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững cho
62 huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao (Nghị quyết 30a của Chính phủ) theo Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới;
Trang 25- Tiếp tục triển khai Chương trình MTQG về giảm nghèo;
- Thực hiện các chương trình an sinh xã hội
(5) Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở nông thôn
Theo Ban chỉ đạo Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới (2014) gồm những nội dung sau:
* Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí số 13 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới Đến 2015 có 65% số xã đạt chuẩn và đến 2020 có 75% số xã đạt chuẩn
* Nội dung:
- Phát triển kinh tế hộ, trang trại, hợp tác xã;
- Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn;
- Xây dựng cơ chế, chính sách thúc đẩy liên kết kinh tế giữa các loại hình kinh tế ở nông thôn
(6) Phát triển giáo dục – đào tạo ở nông thôn
Theo Hội đồng nhân dân tỉnh Bắc Giang khóa XVIII, kỳ họp thứ 4 (2015), phát triển giáo dục – đào tạo ở nông thôn như sau:
* Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí số 5 và 14 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới Đến 2015 có 45% số xã đạt chuẩn và đến 2020 có 80% số xã đạt chuẩn
* Nội dung:
Tiếp tục thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới
(7) Phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe cư dân nông thôn
Theo Thủ tướng chính phủ (2010) về Phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe cư dân nông thôn như sau:
* Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí số 5 và 15 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới Đến 2015 có 50% số xã đạt chuẩn và đến 2020 có 75% số xã đạt chuẩn
* Nội dung:
Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia trong lĩnh vực Y tế, đáp ứng yêu cầu Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới
(8) Xây dựng đời sống văn hóa, thông tin và truyền thông nông thôn
Theo Thủ tướng chính phủ (2010) về Phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe cư
Trang 26dân nông thôn như sau:
* Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí số 6 và 16 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới Đến 2015 có 30% số xã có nhà văn hóa xã, thôn và 45% số xã có bưu điện và điểm internet đạt chuẩn Đến 2020 có 75% số xã có nhà văn hóa xã, thôn
và 70% có điểm bưu điện và điểm internet đạt chuẩn
(9) Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
Theo Ban chỉ đạo Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới (2014) gồm những nội dung sau:
* Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí số 17 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới; đảm bảo cung cấp đủ nước sinh hoạt sạch và hợp vệ sinh cho dân cư, trường học, trạm y tế, công sở và các khu dịch vụ công cộng; thực hiện các yêu cầu về bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái trên địa bàn xã Đến 2015 có 35%
cư, phát triển cây xanh ở các công trình công cộng…
(10) Nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, Chính quyền, đoàn thể chính trị -
xã hội trên địa bàn
Theo Ban chỉ đạo Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới (2014) gồm những nội dung sau:
* Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí số 18 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới Đến 2015 có 85% số xã đạt chuẩn và năm 2020 là 95% số xã đạt chuẩn
Trang 27* Nội dung:
- Tổ chức đào tạo cán bộ đạt chuẩn theo quy định của Bộ Nội vụ, đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới;
- Ban hành chính sách khuyến khích, thu hút cán bộ trẻ đã được đào tạo,
đủ tiêu chuẩn về công tác ở các xã, đặc biệt là các vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn để nhanh chóng chuẩn hoá đội ngũ cán bộ ở các vùng này;
- Bổ sung chức năng, nhiệm vụ và cơ chế hoạt động của các tổ chức trong
hệ thống chính trị phù hợp với yêu cầu xây dựng nông thôn mới
(11) Giữ vững an ninh, trật tự xã hội nông thôn
Theo Ban chỉ đạo Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới (2014) gồm những nội dung sau:
* Mục tiêu: Đạt yêu cầu tiêu chí số 19 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới Đến 2015 có 85% số xã đạt chuẩn và năm 2020 là 95% số xã đạt chuẩn
2.1.2.2 Đặc điểm và yêu cầu nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới
a Các loại nguồn lực cần thiết cho xây dựng nông thôn mới
Theo Nguyễn Văn Tiến (2015).Nguồn lực có vai trò vô cùng quan trọng trong thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới Hiểu và đánh giá đúng, phát huy tối đa các nguồn lực sẽ góp phần thúc đẩy quá trình thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới ở các địa phương/vùng miền
Các nguồn lực cần thiết cho xây dựng nông thôn mới bao gồm:
- Nguồn nhân lực cần thiết cho xây dựng nông thôn mới là lực lượng cán
bộ có kiến thức, kỹ năng là sức người lao động để cùng hoàn thành các công trình công ích
Trong 19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới, quan niệm về nguồn nhân lực đang là nhiệm vụ của ngành giáo dục và đào tạo Thực tế cho thấy, một mình ngành giáo dục và đào tạo làm sao đủ sức đột phá vào nguồn nhân lực với mục
Trang 28tiêu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, mà lại ở nông thôn? Nguồn nhân lực, cái lõi là nguồn lao động, lực lượng lao động, gồm có thể lực, trí lực, tâm lực
và có phẩm chất chính trị, đạo đức, thẩm mỹ Ngành giáo dục và đào tạo cứ cho
là theo triết lý giáo dục toàn diện “trí, đức, thể mỹ” thì trên thực tế chỉ lo được phần trí lực của con người, phần thể lực do ngành y tế chăm lo, phần tâm lực thực sự phải được toàn xã hội chăm lo Nông thôn hiện tại thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao, do vậy, một phương thức cực kỳ quan trọng là phải thu hút lao động chất lượng cao bằng những dự án phát triển tam nông (nông nghiệp, nông dân và nông thôn)
- Nguồn vật lực cần thiết cho xây dựng nông thôn mới hiện nay chủ yếu là đất đai để phục vụ cho các hoạt động xây dựng đường giao thông nông thôn, giao thông nội đồng mở rộng hệ thống kênh mương nội đồng
- Nguồn tài lực cần thiết cho xây dựng nông thôn mới chính là kinh phí tài chính đầu tư cho xây dựng nông thôn mới Hiện tại, kinh phí để thực hiện xây dựng nông thôn mới được chia làm 3 phần: một phần ngân sách Nhà nước hỗ trợ, một phần là doanh nghiệp bên ngoài đầu tư, phần thứ ba là huy động nguồn vốn trong nhân dân, hay còn được gọi là “vốn xã hội hoá” Đối với 11 xã thí điểm cấp quốc gia thì nguồn vốn tài chính khoảng 200 tỷ/xã (Nguyễn Thị Lan Hương, 2012)
Có thể nói, xã nào được chọn làm xã điểm sẽ có quá trình thực hiện nhanh nhất và có điều kiện thực hiện hơn cả Quan điểm chỉ đạo hiện nay chủ yếu là
“Nguồn vốn căn bản là huy động nội lực”, rất khó thực hiện bởi chủ yếu chỉ có thể huy động nội lực từ những xã giàu, những xã có làng nghề Trong khi phần lớn nông thôn Việt Nam là xã nông nghiệp, nguồn nội lực còn hạn chế
b Đặc điểm các nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới
- Nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới một phần được Nhà nước phân bổ; kinh phí tỉnh, huyện, xã và của người dân đóng góp
- Phần lớn nguồn lực còn lại phải do huy động từ các nguồn khác: Hai nguồn chính (từ cộng đồng người dân tại địa phương và từ các tổ chức)
Một trong những nguồn lực không thể thiếu và có ý nghĩa quyết định tới
sự thành công của chương trình xây dựng nông thôn mới chính là sự huy động nguồn lực từ cộng đồng (Tạ Đăng Giang, 2013)
+ Huy động nguồn lực từ cộng đồng
Trang 29Sự tham gia của cộng đồng, không phải là sự ban ơn hay nhờ vào lòng tốt của lãnh đạo địa phương, chủ dự án mà là quyền có tính pháp lí của họ Nếu các địa phương, các chủ dự án không thực hiện thì vi phạm pháp luật Cộng đồng nên tham gia quy hoạch từ dưới lên, được tự chủ quyết định, chi tiêu tài chính trong xây dựng hạ tầng trong khu dân cư, thôn bản, được quyền quyết định các vấn đề trong phạm vi cộng đồng cả về tổ chức
Nội lực cộng đồng, chính là khả năng tham gia của cộng đồng trong giải quyết các vấn đề của họ, tính đến khả năng tự tổ chức, khả năng ra quyết định tập thể, khả năng giám sát, tạo ra sự năng động từng thành viên… những yếu tố đó chính là vốn xã hội Nội lực cộng đồng, không nên bị hiểu sai chỉ dựa trên sự tham gia tài chính của người dân, nhiều nơi đã bắt dân đóng góp quá nhiều trong xây dựng nông thôn mới, để thể hiện nội lực cộng đồng nơi đó cao Điều quan trọng là tạo ra sự năng động thường xuyên của cộng đồng trong thảo luận, ra quyết định, tổ chức triển khai các hành động tập thể trong xây dựng nông thôn mới, kể cả khi không có sự trợ giúp của Nhà nước (Nguyễn Văn Tiến, 2015)
+ Huy động nguồn lực từ các tổ chức đoàn thể: đoàn thanh niên, các tổ chức chuyên nghiệp, hội nông dân và các thành phần kinh tế khác
Chúng ta có thể học tập, lựa chọn những nhóm thanh niên tiêu biểu từng địa phương, tổ chức đào tạo, hỗ trợ tín dụng, khoa học công nghệ,… để họ trở thành những nhà tư vấn, quản lí địa phương, chủ trang trại và chủ doanh nghiệp quản lí chuyên nghiệp hiện đại, áp dụng công nghệ mới thích hợp, xây dựng các
tổ chức kinh tế nông thôn mới… Những thanh niên này, sẽ trở thành những chủ nhân tương lai, là chủ thể xây dựng nông thôn mới có tính năng động (Nguyễn Hùng Minh, 2014)
Tất cả các nước có nông thôn phát triển, ở đó người dân thực sự năng động trong phát triển kinh tế và tổ chức xã hội, đều có các tổ chức chuyên nghiệp năng động trong phát triển nông thôn Việc hình thành các HTX, hiệp hội, nghiệp đoàn theo ngành nghề cho phép tạo ra các cộng đồng chuyên nghiệp có tổ chức, cùng xây dựng các hành động tập thể trong sản xuất kinh doanh Sự lớn mạnh của các tổ chức nghề nghiệp, tại nhiều nước, Nhà nước đã ủy thác cho các tổ chức nghề nghiệp đảm nhiệm các vấn đề quản lí tài nguyên, dịch vụ công, quản lí chất lượng nông sản, đại diện thương mại cho nông dân, đại diện cho nông dân trong đàm phán kinh doanh… Nhà nước có thể phi tập trung hóa quản lí của mình, quản lí tốt hơn nông nghiệp và nông thôn, mâu thuẫn xã hội nông thôn
Trang 30giữa các cộng đồng nông thôn được trao đổi, thỏa thuận và giải quyết giữa họ với trọng tài là Nhà nước
- Nguồn lực cho XDNTM rất đa dạng:
+ Nguồn nhân lực được huy động từ sức lao động của người dân
+ Nguồn lực đất đai trong quá trình huy động có thể gặp khó khăn do quỹ đất ở nông thôn còn ít, giá trị cao, ít có thể huy động được
+ Nguồn tài lực cũng là một trong những nguồn lực khó huy động do thu nhập của người dân nông thôn còn thấp (Nguyễn Văn Tiến, 2015)
2.1.3 Nội dung nghiên cứu giải pháp huy động nguồn lực của cộng đồng trong XDNTM
2.1.3.1 Nghiên cứu quan điểm huy động nguồn lực từ cộng đồng cho XDNTM
a Huy động nguồn lực của địa phương
- Huy động tối đa các nguồn lực
Huy động tối đa các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) của địa phương (tỉnh, huyện, xã) để tổ chức thực hiện xây dựng nông thôn mới Riêng về huy động nguồn tài lực cho xây dựng nông thôn mới, ở các xã có thể tận dụng nguồn vốn thu được từ đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất trên địa bàn xã (sau khi đã trừ đi chi phí), đề nghị UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương báo cáo Hội đồng nhân dân cùng cấp xem xét, quyết định để lại 100% cho ngân sách xã, nhằm tạo nguồn vốn cho xây dựng nông thôn mới (Nguyễn Văn Tiến, 2015)
- Huy động sức dân (nhân lực, vật lực) đóng góp tự nguyện, tích cực để xây dựng làng quê của mình với phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm
b Huy động nguồn lực từ doanh nghiệp
Chủ yếu là huy động vốn đầu tư của các doanh nghiệp đối với các công trình có khả năng thu hồi vốn trực tiếp, doanh nghiệp được vay vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước hoặc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được ngân sách Nhà nước hỗ trợ sau đầu tư (nếu vay vốn tại ngân hàng thương mại để thực hiện) và được hưởng ưu đãi theo quy định của pháp luật (Bộ tài chính, 2004)
c Huy động nguồn lực từ các ban ngành
Các Bộ, ngành và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải ưu
Trang 31tiên bố trí vốn và lồng ghép các nguồn vốn từ chương trình mục tiêu của Trung ương cho các dự án, chương trình trên địa bàn các xã thực hiện xây dựng nông thôn mới (Nguyễn Văn Tiến, 2015)
2.1.3.2 Các nguồn lực huy động cho xây dựng nông thôn mới
Theo Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn (2004) về phương pháp huy động nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới gồm:
- Huy động nguồn nhân lực: trong xây dựng nông thôn mới, nguồn nhân lực chủ yếu được huy đông bằng việc đóng góp sức lao động của người dân thông qua các tổ chức đoàn thể ở địa phương như Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên
- Các nguồn lực huy động được cho xây dựng nông thôn mới gồm có: nguồn nhân lực được huy động từ sức dân thông qua việc đóng góp ngày công lao động để thực hiện các công trình công ích trong xây dựng nông thôn mới như xây dựng nhà văn hoá, trường học, trạm y tế, làm đường, nạo vét kênh mương
- Huy động nguồn vật lực trong xây dựng nông thôn mới chủ yếu là những đóng góp về đất đai, nguồn lực này được huy động trực tiếp từ nông dân thông qua các hình thức tuyên truyền phổ biến nâng cao nhận thức của người dân về vai trò của xây dựng nông thôn mới, về những giá trị đóng góp của người dân trong xây dựng các công trình giao thông nông thôn, giao thông nội đồng và các công trình mở rộng kênh mương nội đồng
- Nguồn vật lực được huy động chủ yếu là đất đai thông qua việc hiến đất của người dân để làm các công trình chủ yếu như đường giao thông nông thôn hay mở rộng đường giao thông nội đồng, mở rộng kênh mương phục vụ sản xuất Nguồn lực tài chính huy động được chủ yếu là phần vốn đối ứng của người dân trong thực hiện đầu tư xây dựng các hạng mục công trình và các chương trình sản xuất nông nghiệp, ngoài ra một phần được huy động từ doanh nghiệp thông qua các chương trình, dự án đầu tư, và phần còn lại được huy động
từ các chương trình lồng ghép đầu tư cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn đang được triển khai thực hiện trên địa bàn
- Huy động nguồn lực tài chính: một phần tài chính cho xây dựng nông thôn mới được Nhà nước phân bổ, phần còn lại được huy động từ sức dân, từ sự
Trang 32đầu tư vốn của các doanh nghiệp và vốn từ các chương trình, dự án lồng ghép đang đầu tư cho nông nghiệp, nông dân và nông thôn (Nguyễn Văn Tiến, 2015) 2.1.3.3 Phương pháp huy động nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới
Theo Tạ Thị Thủy (2013), phương pháp huy động nguồn lực cho XDNTM bao gồm:
- Huy động nguồn nhân lực: trong xây dựng nông thôn mới, nguồn nhân lực chủ yếu được huy đông bằng việc đóng góp sức lao động của người dân thông qua các tổ chức đoàn thể ở địa phương như Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên
- Huy động nguồn vật lực trong xây dựng nông thôn mới chủ yếu là những đóng góp về đất đai, nguồn lực này được huy động trực tiếp từ nông dân thông qua các hình thức tuyên truyền phổ biến nâng cao nhận thức của người dân về vai trò của xây dựng nông thôn mới, về những giá trị đóng góp của người dân trong xây dựng các công trình giao thông nông thôn, giao thông nội đồng và các công trình mở rộng kênh mương nội đồng
- Huy động nguồn lực tài chính: một phần tài chính cho xây dựng nông thôn mới được Nhà nước phân bổ, phần còn lại được huy động từ sức dân, từ sự đầu tư vốn của các doanh nghiệp và vốn từ các chương trình, dự án lồng ghép đang đầu tư cho nông nghiệp, nông dân và nông thôn
2.1.3.4 Sử dụng nguồn lực huy động cho xây dựng nông thôn mới
Theo Vũ Đức Lập (2008), sử dụng nguồn lực xây dựng nông thôn mới theo nguyên tắc sau
Để việc xây dựng NTM được thành công cần sử dụng hợp lý các nguồn lực, tránh để tình trạng sử dụng lãng phí, sai mục đích, thất thoát tài sản Để việc
sử dụng nguồn lực được hiệu quả cần có cơ chế quản lý và sử dụng các nguồn lực phù hợp
- Quản lý chặt chẽ nguồn vốn của chương trình tránh thất thoát lãng phí, đảm bảo chi đúng các mục đích đầu tư: Nguồn lực xây dựng NTM rất lớn với nhiều loại nguồn lực khác nhau để quản lý được nguồn lực này cần phải có cơ chế quản lý hợp lý
- Sử dụng vốn ưu tiên cho các hạng mục đầu tư quan trọng (trên cơ sở họp bàn xác định các hạng mục cần ưu tiên đầu tư): Xây dựng NTM đòi hỏi xây dựng
Trang 33một số lượng lớn các công trình kinh tế - văn hóa- xã hội, nhưng do nguồn vốn hạn chế vì vậy việc ưu tiên vốn cho các công trình quan trọng đáp ứng yêu cầu hiện tại là rất quan trọng Trong đó, 6 lĩnh vực ưu tiên gồm hỗ trợ sản xuất nông nghiệp để tăng thu nhập cho cư dân nông thôn; các hoạt động nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho người dân nông thôn; các biện pháp bảo vệ môi trường, tài nguyên, phòng chống biến đổi khí hậu; hỗ trợ các hoạt động xóa đói giảm nghèo thông qua các giải pháp tạo sinh kế và việc làm; các hoạt động đổi mới về tổ chức thông qua việc huy động liên kết công tư, thu hút đầu tư doanh nghiệp vào nông thôn; hỗ trợ các hoạt động nâng cao chất lượng chính sách thông qua công tác nghiên cứu, phân tích, rút kinh nghiệm từ các mô hình thực tế
- Phân loại các công trình theo tỷ lệ được đầu tư hỗ trợ để từ đó có kế hoạch giám sát và thực hiện chi đủ, chi đúng cho từng loại công trình: Trong xây dựng cơ sở vật chất cần phải thực hiện phân loại theo tỷ lệ đầu tư, một công trình
có các bên tham gia góp vốn thì phải phân công người của các bên tham gia giám sát, quản lý và sử dụng để việc quản lý và sử dụng được hiệu quả Thực hiện chi đúng theo tỷ lệ đầu tư để việc quản lý được thuận lợi dễ dàng hơn
- Thực hiện các thủ tục quyết toán theo đúng quy định, đúng hướng dẫn quyết toán trong thực hiện xây dựng NTM
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới huy động nguồn lực của cộng đồng cho xây dựng nông thôn mới
2.1.4.1 Yếu tố thuộc điều kiện KT – XH của huyện
a Yếu tố kinh tế địa phương
Điều kiện kinh tế địa phương cũng ảnh hưởng tới mức độ huy động các nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới Các địa phương khác nhau có mức độ kinh tế khác nhau và có sự huy động nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới khác nhau Đối với các địa phương có điều kiện kinh tế mạnh, cũng là những địa phương còn ít khó khăn trong xây dựng nông thôn mới và việc huy động nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới cũng trở nên dễ dàng hơn Ngược lại, đối với các địa phương còn nhiều khó khăn, đồng nghĩa với việc có nhiều hạng mục công trình cần phải đầu tư xây dựng mới và sửa chữa; đòi hỏi nguồn lực huy động phải lớn, trong khi kinh tế địa phương có hạn, do đó gặp phải nhiều khó khăn trong việc huy động nguồn lực
Trang 34Năng lực lập kế hoạch và điều phối kinh phí trong sử dụng nguồn lực là yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến việc sử dụng nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới Lập kế hoạch và điều phối kinh phí được tiến hành một cách hợp lý thì việc sử dụng vốn mới được hiệu quả và hợp lý giữa các hạng mục đầu tư, hay giữa các thời điểm đầu tư Ngược lại, nếu việc lập kế hoạch và điều phối kinh phí không được thực hiện một cách hợp lý sẽ gây ra hiện tượng lãng phí trong sử dụng nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới, việc sử dụng nguồn lực sẽ không đúng mục đích và kém hiệu quả (Trịnh Quang Hưng, 2013)
b Yếu tố kinh tế hộ
Trong nhiều nghiên cứu khác cũng cho thấy điều kiện hộ gia đình ảnh hưởng đến sự huy động các nguồn lực của người dân trong các họat động phát triển nói chung và việc thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới nói riêng Trong khuôn khổ nghiên cứu về sự tham gia Cohen và Uphoff (1979) đã liệt kê các đặc trưng hộ gia đình ảnh hưởng tới sự tham gia Đó là : độ tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân, điều kiện kinh tế, quan hệ xã hội, và vv Trong nghiên cứu khác, W Alters và các cộng sự (1999) thấy rằng lịch
sử di dân và định cư của hộ gia đình cũng ảnh hưởng tới sự tham gia đóng góp của cộng đồng vào các hoạt động trong xây dựng nông thôn mới (Phạm Huỳnh Thanh Vân, 2007)
Các đặc trưng tự nhiên của bất kì của dự án nào cũng không đủ để huy động sự tham gia của người dân, nếu không có cơ sở nghiên cứu về các yếu tố chính trị, kinh tế và văn hóa xã hội, lịch sử và nếu không thuyết phục và cho phép người dân tham gia phát triển
Poudyal (1990) trong luận án của ông về " liên quan của người dân với phát triển huyện thông qua việc phân cấp ở Nêpan", kết luận rằng có 6 yếu tố là: điều kiện kinh tế, giáo dục/đào tạo, địa vị, cấu trúc tuổi, số nguời trong hộ, thuộc tổ chức nào có ảnh hưởng tới năng lực tham gia của người dân Mô hình trong nghiên cứu của ông giả thiết rằng sự tham gia bị tác động bởi phạm vi, năng lực, nhu cầu và những lợi ích (Dịch bởi Phạm Huỳnh Thanh Vân, 2007)
2.1.4.2 Yếu tố thuộc về cộng đồng
Ý thức cộng đồng tại các địa phương được thể hiện bằng việc tự nguyện tham gia vào các hoạt động tập thể của cộng đồng Khái niệm ý thức cộng đồng
Trang 35có tính lý thuyết hơn, dựa vào quyền lợi của những thành viên và các nhà nghiên cứu trong tương quan giữa ý thức cộng đồng với mức độ tham gia của người dân địa phương trong quản lý phát triển Cộng đồng là khái niệm có 2 khía cạnh tự nhiên và tinh thần mà các thành viên cộng đồng đã từng trải Khái niệm các hoạt động phát triển ở nông thôn dựa vào lãnh thổ, hoặc dưới tên gọi khác là các hoạt động phát triển ở nông thôn dựa vào cộng đồng, dẫn tới việc phân cấp các hoạt động phát triển ở cấp địa phương
Cộng đồng cũng thể hiện những kinh nghiệm được chia sẻ kết nối cuộc sống của người dân trong cùng một không gian Điều này dẫn tới tình cảm và
sự gắn kết về tinh thần Ý thức của từng cá thể cộng đồng ảnh hưởng tới việc
tự nguyện tham gia vào các hoạt động để trợ giúp và hoàn thiện cộng đồng Ý thức cộng đồng được hình thành qua lịch sử cộng đồng Nó bao gồm sự tự nguyện ở lại cộng đồng, thăm hỏi lẫn nhau, có cùng cảm xúc với các thành viên cộng đồng, tranh thủ hoặc trao đổi tình cảm với nhau vv (Nguyễn Hùng Minh, 2014)
2.1.4.3 Yếu tố thuộc về Ban chị đạo và cơ chế chính sách XDNTM
a Năng lực của Ban chỉ đạo/Ban quản lý xây dựng nông thôn mới
Năng lực của Ban chỉ đạo/Ban quản lý xây dựng nông thôn mới là một trong những yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến việc huy động nguồn lực Năng lực của Ban chỉ đạo ảnh hưởng đến việc lập kế hoạch huy động, xây dựng phương pháp huy động và chỉ rõ các nguồn lực cần phải huy động cho xây dựng nông thôn mới’ trên cơ sở đó xác định mức độ có khả năng huy động và định mức từng hạng mục đầu tư sử dụng nguồn lực huy động Năng lực của Ban chỉ đạo ảnh hưởng đến việc tổ chức thực hiện triển khai việc huy động nguồn lực, qua đó ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của việc huy động các nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới (Trịnh Quang Hưng, 2013)
b Cơ chế và chính sách trong huy động nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới
Việc huy động các nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới chịu sự chi phối của nhiều yếu tố, trong đó không thể tính đến các yếu tố về chính sách và cơ chế hoạt động của chương trình xây dựng nông thôn mới để tạo điều kiện cho việc huy động các nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới Bên cạnh đó, trong các hoạt động ở từng lĩnh vực cần có những cơ chế phù hợp để làm thế nào thu
Trang 36hút được sự tham gia đóng góp của cộng đồng và khi đã thu hút được cộng đồng tham gia đóng góp rồi thì ý kiến của họ phải được tôn trọng và các kế hoạch hay quyết định trước khi đưa vào triển khai cần phải được họ đồng ý
Ngoài ra, sự tham gia đóng góp của các cá nhân hay tổ chức trong cộng đồng còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố về điều kiện tự nhiên như đất canh tác, nguồn nước tưới và các yếu tố khác cũng ảnh hưởng tới sự tham gia đóng góp
Hệ thống cơ sở hạ tầng như hệ thống giao thông, điện, thông tin liên lạc, và vv
hỗ trợ người dân địa phương tiếp xúc với cộng đồng bên ngoài có được thông tin
và trao đổi hàng hóa, củng cố năng lực và lòng tin cho họ Nhìn chung, do cơ sở
hạ tầng còn nghèo ở các vùng nông thôn, đặc biệt là các vùng sâu, vùng xa đã cô lập các cộng đồng làm cho việc phát triển kinh tế xã hội gặp nhiều khó khăn, và điều này đã ảnh hưởng tới sự tham gia của người dân địa phương (Trương Văn Tuyển, 2007)
2.2 THỰC TIỄN VỀ HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC ĐỂ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
2.2.1 Thực tiễn về huy động nguồn lực để xây dựng nông thôn mới trên Thế giới
2.2.1.1 Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Cuối thập niên 60 của thế kỷ XX, GDP bình quân đầu người của Hàn Quốc chỉ có 85 USD; phần lớn người dân không đủ ăn; 80% dân nông thôn không có điện thắp sáng và phải dùng đèn dầu, sống trong những căn nhà lợp bằng lá Là nước nông nghiệp trong khi lũ lụt và hạn hán lại xảy ra thường xuyên, mối lo lớn nhất của chính phủ khi đó là làm sao đưa đất nước thoát khỏi đói, nghèo (Vũ Đức Lập, 2008)
Phong trào Làng mới (SU) ra đời với 3 tiêu chí: cần cù (chăm chỉ), tự lực vượt khó, và, hợp tác (hiệp lực cộng đồng) Năm 1970, sau những dự án thí điểm đầu tư cho nông thôn có hiệu quả, Chính phủ Hàn Quốc đã chính thức phát động phong trào SU và được nông dân hưởng ứng mạnh mẽ Họ thi đua cải tạo nhà mái lá bằng mái ngói, đường giao thông trong làng, xã được mở rộng, nâng cấp; các công trình phúc lợi công cộng được đầu tư xây dựng Phương thức canh tác được đổi mới, chẳng hạn, áp dụng canh tác tổng hợp với nhiều mặt hàng mũi nhọn như nấm và cây thuốc lá để tăng giá trị xuất khẩu Chính phủ khuyến khích
Trang 37và hỗ trợ xây dựng nhiều nhà máy ở nông thôn, tạo việc làm và cải thiện thu nhập cho nông dân
Ông Kim Goung Mihn, cố vấn đặc biệt của Chính phủ Hàn Quốc về nông, lâm, ngư nghiệp cho biết, Chính phủ hỗ trợ một phần đầu tư hạ tầng để nông thôn
tự mình vươn lên, xốc lại tinh thần, đánh thức khát vọng tự tin Thắng lợi đó được Hàn Quốc tổng kết thành 6 bài học lớn
Thứ nhất, phát huy nội lực của nhân dân để xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn - phương châm là nhân dân quyết định và làm mọi việc, “nhà nước bỏ
ra 1 vật tư, nhân dân bỏ ra 5-10 công sức và tiền của” Dân quyết định loại công trình, dự án nào cần ưu tiên làm trước, công khai bàn bạc, quyết định thiết kế và chỉ đạo thi công, nghiệm thu công trình
Thứ hai, phát triển sản xuất để tăng thu nhập Khi kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất được xây dựng, các cơ quan, đơn vị chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, giống mới, khoa học công nghệ giúp nông dân tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, xây dựng vùng chuyên canh hàng hóa Chính phủ xây dựng nhiều nhà máy ở nông thôn để chế biến và tiêu thụ nông sản cũng như có chính sách tín dụng nông thôn, cho vay thúc đẩy sản xuất Từ năm 1972 đến năm 1977, thu nhập trung bình của các hộ tăng lên 3 lần
Thứ ba, đào tạo cán bộ phục vụ phát triển nông thôn Hàn Quốc, xác định nhân tố quan trọng nhất để phát triển phong trào SU là đội ngũ cán bộ cơ sở theo tinh thần tự nguyện và do dân bầu Hàn Quốc đã xây dựng 3 trung tâm đào tạo quốc gia và mạng lưới trường nghiệp vụ của các ngành ở địa phương Nhà nước đài thọ, mở các lớp học trong thời gian từ 1-2 tuần để trang bị đủ kiến thức thiết thực như kỹ năng lãnh đạo cơ bản, quản lý dự án, phát triển cộng đồng
Thứ tư, phát huy dân chủ để phát triển nông thôn Hàn Quốc thành lập hội đồng phát triển xã, quyết định sử dụng trợ giúp của chính phủ trên cơ sở công khai, dân chủ, bàn bạc để triển khai các dự án theo mức độ cần thiết của địa phương Thành công ở Hàn Quốc là xã hội hóa các nguồn hỗ trợ để dân tự quyết định lựa chọn dự án, phương thức đóng góp, giám sát công trình
Thứ năm, phát triển kinh tế hợp tác từ phát triển cộng đồng Hàn Quốc đã thiết lập lại các hợp tác xã (HTX) kiểu mới phục vụ trực tiếp nhu cầu của dân, cán
bộ HTX do dân bầu chọn Phong trào SU là bước ngoặt đối với sự phát triển của HTX hoạt động đa dạng, hiệu quả trong dịch vụ tín dụng, cung cấp đầu vào cho
Trang 38sản xuất, tiếp thị nông sản, bảo hiểm nông thôn và các dịch vụ khác Trong vòng
10 năm, doanh thu bình quân của 1 HTX tăng từ 43 triệu won lên 2,3 tỉ won
Thứ sáu, phát triển và bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường bằng sức mạnh toàn dân Chính phủ quy hoạch, xác định chủng loại cây rừng phù hợp, hỗ trợ giống, tập huấn cán bộ kỹ thuật chăm sóc vườn ươm và trồng rừng để hướng dẫn
và yêu cầu tất cả chủ đất trên vùng núi trọc đều phải trồng rừng, bảo vệ rừng Nếu năm 1970, phá rừng còn là quốc nạn, thì 20 năm sau, rừng xanh đã che phủ khắp nước, và đây được coi là một kỳ tích của phong trào SU
Phong trào SU của Hàn Quốc đã biến đổi cộng đồng vùng nông thôn cũ thành cộng đồng nông thôn mới ngày một đẹp hơn và giàu hơn Khu vực nông thôn trở thành xã hội năng động có khả năng tự tích lũy, tự đầu tư và tự phát triển Phong trào SU, với mức đầu tư không lớn, đã góp phần đưa Hàn Quốc từ một nước nông nghiệp lạc hậu trở nên giàu có
2.2.1.2 Kinh nghiệm của Nhật Bản
Từ thập niên 70 của thế kỷ trước, ở tỉnh Oita (miền tây nam Nhật Bản) đã hình thành và phát triển phong trào “Mỗi làng một sản phẩm”, với mục tiêu phát triển vùng nông thôn của khu vực này một cách tương xứng với sự phát triển chung của cả nước Nhật Bản Trải qua gần 30 năm hình thành và phát triển, Phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” ở đây đã thu được nhiều thắng lợi rực rỡ
Sự thành công của phong trào này đã lôi cuốn sự quan tâm không chỉ của nhiều địa phương trên đất nước Nhật Bản mà còn rất nhiều khu vực, quốc gia khác trên thế giới Một số quốc gia, nhất là những quốc gia trong khu vực Đông Nam Á đã thu được những thành công nhất định trong phát triển nông thôn của đất nước mình nhờ áp dụng kinh nghiệm phong trào “Mỗi làng một sản phẩm”
Những kinh nghiệm của phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” được những người sáng lập, các nhà nghiên cứu đúc rút để ngày càng có nhiều người, nhiều khu vực và quốc gia có thể áp dụng trong chiến lược phát triển nông thôn, nhất là phát triển nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa đất nước mình (Trịnh Quang Hưng, 2013)
2.2.1.3 Kinh nghiệm của Thái Lan
Thái Lan vốn là một nước nông nghiệp truyền thống với dân số nông thôn chiếm khoảng 80% dân số cả nước Để thúc đẩy sự phát triển bền vững nền nông nghiệp, Thái Lan đã áp dụng một số chiến lược như: Tăng cường vai
Trang 39trò của cá nhân và các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp; đẩy mạnh phong trào học tập, nâng cao trình độ của từng cá nhân và tập thể bằng cách mở các lớp học và các hoạt động chuyên môn trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn; tăng cường công tác bảo hiểm xã hội cho nông dân, giải quyết tốt vấn đề
nợ trong nông nghiệp; giảm nguy cơ rủi ro và thiết lập hệ thống bảo hiểm rủi ro cho nông dân
Đối với các sản phẩm nông nghiệp, Nhà nước đã hỗ trợ để tăng sức cạnh tranh với các hình thức, như tổ chức hội chợ triển lãm hàng nông nghiệp, đẩy mạnh công tác tiếp thị; phân bổ khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách khoa học và hợp lý, từ đó góp phần ngăn chặn tình trạng khai thác tài nguyên bừa bãi
và kịp thời phục hồi những khu vực mà tài nguyên đã bị suy thoái; giải quyết những mâu thuẫn có liên quan đến việc sử dụng tài nguyên lâm, thủy hải sản, đất đai, đa dạng sinh học, phân bổ đất canh tác Trong xây dựng kết cấu hạ tầng, Nhà nước đã có chiến lược trong xây dựng và phân bố hợp lý các công trình thủy lợi lớn phục vụ cho nông nghiệp Hệ thống thủy lợi bảo đảm tưới tiêu cho hầu hết đất canh tác trên toàn quốc, góp phần nâng cao năng suất lúa và các loại cây trồng khác trong sản xuất nông nghiệp Chương trình điện khí hóa nông thôn với việc xây dựng các trạm thủy điện vừa và nhỏ được triển khai rộng khắp cả nước…
Về lĩnh vực công nghiệp phục vụ nông nghiệp, chính phủ Thái Lan đã tập trung vào các nội dung sau: Cơ cấu lại ngành nghề phục vụ phát triển công nghiệp nông thôn, đồng thời cũng xem xét đến các nguồn tài nguyên, những kỹ năng truyền thống, nội lực, tiềm năng trong lĩnh vực sản xuất và tiếp thị song song với việc cân đối nhu cầu tiêu dùng trong nước và nhập khẩu
Thái Lan đã tập trung phát triển các ngành mũi nhọn như sản xuất hàng nông nghiệp, thủy, hải sản phục vụ xuất khẩu, thúc đẩy mạnh mẽ công nghiệp chế biến nông sản cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, nhất là các nước công nghiệp phát triển Ngành công nghiệp chế biến thực phẩm ở Thái Lan phát triển rất mạnh nhờ một số chính sách sau:
Chính sách phát triển nông nghiệp: Một trong những nội dung quan trọng nhất của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 2000-2005 là kế hoạch cơ cấu lại mặt hàng nông sản của Bộ Nông nghiệp Thái Lan, nhằm mục đích nâng cao chất lượng và sản lượng của 12 mặt hàng nông sản, trong đó có các mặt
Trang 40hàng: gạo, dứa, tôm sú, gà và cà phê Chính phủ Thái Lan cho rằng, càng có nhiều nguyên liệu cho chế biến thì ngành công nghiệp chế biến lương thực thực phẩm mới phát triển và càng thu được nhiều ngoại tệ cho đất nước Nhiều sáng kiến làm gia tăng giá trị cho nông sản được khuyến khích trong chương trình Mỗi làng một sản phẩm và chương trình Quỹ làng
Chính sách bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm: Chính phủ Thái Lan thường xuyên thực hiện chương trình quảng bá vệ sinh an toàn thực phẩm Năm
2004, Thái Lan phát động chương trình “Năm an toàn thực phẩm và Thái Lan là bếp ăn của thế giới” Mục đích chương trình này là khuyến khích các nhà chế biến và nông dân có hành động kiểm soát chất lượng vệ sinh thực phẩm để bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Bên cạnh đó, Chính phủ thường xuyên hỗ trợ cho doanh nghiệp cải thiện chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm Do đó, ngày nay, thực phẩm chế biến của Thái Lan được người tiêu dùng ở các thị trường khó tính, như Hoa Kỳ, Nhật Bản và EU, chấp nhận
Mở cửa thị trường khi thích hợp: Chính phủ Thái Lan đã xúc tiến đầu tư, thu hút mạnh các nhà đầu tư nước ngoài vào liên doanh với các nhà sản xuất trong nước để phát triển ngành công nghiệp chế biến thực phẩm, thông qua việc
mở cửa cho các quốc gia dù lớn hay nhỏ vào đầu tư kinh doanh Trong tiếp cận thị trường xuất khẩu, Chính phủ Thái Lan là người đại diện thương lượng với chính phủ các nước để các doanh nghiệp đạt được lợi thế cạnh tranh trong xuất khẩu thực phẩm chế biến Bên cạnh đó, Chính phủ Thái Lan có chính sách trợ cấp ban đầu cho các nhà máy chế biến và đầu tư trực tiếp vào kết cấu hạ tầng như: Cảng kho lạnh, sàn đấu giá và đầu tư vào nghiên cứu và phát triển; xúc tiến công nghiệp và phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ Xúc tiến công nghiệp là trách nhiệm chính của Cục Xúc tiến công nghiệp thuộc Bộ Công nghiệp, nhưng việc xúc tiến và phát triển công nghiệp chế biến thực phẩm ở Thái Lan do nhiều
cơ quan cùng thực hiện (Trịnh Quang Hưng, 2013)
Một số kinh nghiệm trong phát triển nông nghiệp, nông thôn nêu trên cho thấy, những ý tưởng sáng tạo, khâu đột phá và sự trợ giúp hiệu quả của nhà nước trên cơ sở phát huy tính tự chủ, năng động, trách nhiệm của người dân để phát triển khu vực này, có ý nghĩa và vai trò hết sức quan trọng đối với việc công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành công nông nghiệp - tạo nền tảng thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước